Thơ ca TPHCM đương đại: Từ bản sắc đô thị đến những chuyển động thẩm mỹ mới
Từ góc nhìn lý luận – phê bình, TS Hà Thanh Vân phác thảo diện mạo thơ ca đô thị TP.HCM đương đại như một không gian thẩm mỹ đang vận động mạnh mẽ giữa truyền thống và hiện đại. Bài viết, đăng trên Tạp chí Văn nghệ TP.HCM số ra ngày 12/3/2026, không chỉ nhận diện những chuyển biến về đề tài, ngôn ngữ và hình thức nghệ thuật, mà còn gợi mở những vấn đề về bản sắc và vai trò của thơ ca trong đời sống đô thị hôm nay. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là trung tâm kinh tế, chính
trị năng động bậc nhất cả nước mà còn là một trung tâm văn hóa rực rỡ, nơi hội
tụ và lan tỏa những luồng tư tưởng, trào lưu nghệ thuật đa dạng. Trong dòng chảy
hối hả của nhịp sống đô thị ấy, thơ ca không hề bị lãng quên hay tan biến; mà
ngược lại, nó đang tự làm mới mình để trở thành tấm gương phản chiếu trung thực
nhất những rung động, ưu tư và cả những rạn nứt trong tâm hồn con người hiện đại.
Nếu như thơ ca giai đoạn trước thường nghiêng về cảm hứng sử thi, những tiếng lòng chung của thời đại, thì thơ ca đô thị TPHCM đương đại lại dấn thân sâu hơn vào những vỉa tầng của đời sống cá nhân và thế sự khách quan. Đó là một không gian nghệ thuật đầy ắp những va đập, giữa truyền thống hào sảng và hiện đại gấp gáp, giữa vẻ hào nhoáng của những tòa cao ốc và nỗi cô đơn sát sườn của những thân phận nhập cư, giữa thực tại trần trụi và thế giới ảo đầy biến động.
Viết về thơ ca đô thị TPHCM hiện nay không chỉ là công việc định
danh các tác giả, tác phẩm, mà còn là nỗ lực nhận diện một hệ sinh thái thẩm mỹ
mới. Ở đó, ngôn ngữ thơ đã thoát ly khỏi những khuôn mẫu ước lệ để khoác lên
mình chiếc áo của đời thường, của hơi thở phố phường và những trải nghiệm sinh
tồn mãnh liệt. Bài viết này mong muốn phác thảo một diện mạo chung về dòng thơ
đô thị phương Nam trong giai đoạn đương đại, qua đó khám phá những chuyển dịch
quan trọng trong tư duy nghệ thuật và bản sắc của người nghệ sĩ giữa lòng một
đô thị không ngủ, bởi vì xét cho cùng, nhà thơ, cho dù sinh sống ở nơi nào, họ
vẫn cứ làm thơ, chỉ là ở đô thị thì sẽ có phần khác biệt.
Thành phố kẻ làm thơ
Đêm mơ tơ nhện
Biển cồn cào giăng lưới trăng sao
(Hoài niệm thành phố tuổi thơ – Lê Thiếu Nhơn).
Không gian đô thị và những chuyển biến trong tâm thế con người
hiện đại
Trong tiến trình vận động của văn học đương đại, không gian
không còn đơn thuần là cái nền địa lý hay bối cảnh khách quan, mà đã trở thành
một không gian ký hiệu mang đậm dấu ấn tư tưởng của tác giả. Với một thực thể đặc
thù như TPHCM, nơi hội tụ của những giao thoa, tiếp biến và cả những đứt gẫy, đổ
vỡ văn hóa, không gian đô thị trong thơ ca khoảng 10-20 năm trở lại đây hiện
lên như một nhân vật đa diện, vừa bao dung, hào sảng, vừa đầy rẫy những áp lực
sinh tồn.
Trước hết, đó là sự kiến tạo một hệ thống biểu tượng đô thị mới.
Thơ ca không còn đắm mình trong những ước lệ truyền thống với những mã biểu tượng
lãng mạn như thời Thơ Mới 1930 – 1945 hay mã biểu tượng anh hùng như trong giai
đoạn 1945 – 1975, mà trực diện đối mặt với thực tại trần trụi của đô thị. Những
con hẻm sâu hút, những dòng xe kẹt cứng dưới cái nắng nung người, những tòa nhà
kính soi bóng xuống dòng kênh đang hồi sinh, những con tàu trên sông nước... tất
cả bước vào thơ với nguyên trạng vẻ bụi bặm và náo nhiệt của nó. Trong thơ của
các tác giả như Phan Hoàng, Lê Thiếu Nhơn, Nguyễn Đăng Khoa… đô thị là một máy
xay khổng lồ, nơi con người vừa nỗ lực hòa nhập, vừa không ngừng chất vấn bản sắc
cá nhân giữa những khối bê tông vô cảm.
Những toà nhà tầng tầng mọc ngược đáy sông
nghiêng nghiêng cười tỏa bóng uy nghi thành phố
Những con tàu khổng lồ úp mặt mây trắng
nghênh ngang nở những tràng cười đập vào bờ xanh
Một đàn chim xuyên qua mặt gương loáng bạc
xuyên qua trăng non sóng sánh ánh đèn
ríu rít tiếng cười trốn tìm thơ dại
(Tiếng cười trên sông Sài Gòn – Phan Hoàng)
Không gian thơ đương đại đô thị là sự đối lập gay gắt giữa vẻ
hoa lệ và những góc khuất thân phận. Đọc thơ TPHCM hôm nay, ta bắt gặp một cái
nhìn nhân văn sâu sắc hướng về phía những vỉa hè sinh kế. Đó là sự va đập giữa
ánh sáng neon rực rỡ của các trung tâm thương mại với bóng tối lặng lẽ trong
căn phòng trọ của người nhập cư. Đô thị hiện lên như một mê lộ mà ở đó, con người
dễ dàng bị choáng ngợp và lạc lối. Các nhà thơ không né tránh những mặt trái của
đô thị hóa; trái lại, họ sử dụng chúng như một chất liệu để tạo nên tính hiện
thực gai góc, buộc người đọc phải suy ngẫm về cái giá của sự phát triển, sự
thay đổi cũng như những góc khuất phận người.
Mỗi ngày đối phó với những nỗi lo vô hình
Bạn châm giùm ta điếu thuốc
Rít giùm ta chút khói
Thổn thức cùng ta những mối đi về
Mình lướt vội từng sợi bê tông
Người ta găm vào chân những mảng màu sắc lạnh
Nhân danh hiện đại - văn minh - đô thị - sinh thái - thiên
nhiên…
Những khái niệm mĩ miều xanh lòng và đau lòng
(Giấc mơ lênh đênh – Nguyệt Phạm)
Một điểm cốt lõi nữa chính là trạng thái cô đơn giữa đám đông
của con người đô thị. Khi không gian vật lý bị nén chặt, con người lại có xu hướng
giãn cách về tâm hồn. Nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh, Trần Lê
Sơn Ý, Nguyễn Phong Việt, Đào Phong Lan… và nhiều nhà thơ khác thường xuất hiện
trong tư thế của một người quan sát cô độc. Họ hiện diện giữa những ngã tư đèn
đỏ, trong những quán cà phê không tên hay trên những ban công nhà cao tầng để tự
đối thoại với chính mình. Nỗi cô đơn ở đây không phải là sự ủy mị, yếu đuối mà
là một phản xạ văn hóa, một nỗ lực để giữ gìn cái tôi nguyên bản trước sức ép của
nhịp sống số và tốc độ vận động chóng mặt của thành phố. Chúng ta thấy một
Inrasara phản biện đầy sắc sảo về quá trình đô thị hóa, một Lê Thiếu Nhơn trăn
trở với sự chật chội của không gian sống, hay một Trần Lê Sơn Ý tĩnh lặng tìm
kiếm những vệt nắng trên ban công chung cư.
Có thể nói, không gian đô thị trong thơ ca TPHCM đương đại đã
có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ không gian miêu tả đô thị sang không gian tâm tưởng
con người. Thành phố không chỉ được nhìn bằng mắt, mà được cảm nhận bằng những
sang chấn của hệ thần kinh, bằng nỗi khao khát được kết nối và được thấu hiểu
giữa một thực tại đầy biến động.
Những cách tân về hình thức nghệ thuật và sự biến đổi của
ngôn ngữ thơ
Nếu như nội dung của thơ ca đô thị TPHCM đương đại là một cuộc
dấn thân vào những vỉa tầng tâm lý phức tạp, thì hình thức nghệ thuật chính là
cuộc cách mạng để chuyển tải trọn vẹn những xáo động đó. Ở giai đoạn này, chúng
ta chứng kiến sự phá vỡ các khuôn mẫu cổ điển để nhường chỗ cho những cấu trúc
tự do, phóng khoáng và giàu tính trải nghiệm.
Có sự xâm lấn của ngôn ngữ đời thường và chất liệu văn hóa đại
chúng vào thơ ca đương đại. Ngôn ngữ thơ ca TPHCM hôm nay rũ bỏ vẻ đài các, ước
lệ để khoác lên mình lớp áo của đời sống thực tại. Đó là sự xuất hiện của các
khẩu ngữ, từ lóng, thuật ngữ công nghệ và cả những từ ngữ mang đậm phong vị
phương Nam, bình dân, giản dị, thậm chí bộc tuệch nhưng đầy sức sống. Các nhà
thơ không ngần ngại đưa vào tác phẩm những âm thanh của đường phố, những mẩu đối
thoại rời rạc hay những ký hiệu của thời đại số. Việc phi thơ hóa ngôn ngữ này
không làm thơ rẻ rúng hay kém đi, mà trái lại, nó tạo ra một cầu nối trực diện,
giúp thơ chạm sát vào da thịt của đời sống đô thị, biến mỗi bài thơ thành một
lát cắt chân thực của hiện thực khách quan.
Anh tặng em bản đồ lô cốt
để cho em di chuyển được đúng giờ
đường Sài Gòn dạo này đang thẩm mỹ
chạm chỗ nào cũng nhạy cảm, rất khó… yêu.
(Lô cốt tình yêu – Ngô Thị Hạnh)
Bên cạnh đó là sự lên ngôi của các cấu trúc thơ tự do và thơ
văn xuôi. Đô thị với nhịp sống gấp gáp, những va đập ngẫu nhiên và sự đứt gãy
trong tư duy đã không còn phù hợp với những thể thơ có vần luật chặt chẽ. Thơ
đương đại TPHCM có xu hướng tìm đến thơ tự do, thơ văn xuôi hoặc những cấu trúc
phi tuyến tính. Những câu thơ ngắn dài bất nhất, những khoảng trắng cố ý, hay
cách xuống dòng đột ngột chính là sự mô phỏng nhịp thở hổn hển của phố phường
và sự bất an trong tâm trí con người. Trong các thể nghiệm của một số nhà thơ,
ta thấy sự phá vỡ ranh giới giữa thơ và văn xuôi, giữa thơ và các loại hình nghệ
thuật khác, tạo ra một không gian diễn xướng của ngôn từ hơn là một văn bản đọc
truyền thống.
Tư duy thơ và hình ảnh thơ trong đô thi đương đại còn mang
tính trực giác và điện ảnh. Ảnh hưởng của văn hóa thị giác đã tác động sâu sắc
đến cách kiến tạo hình ảnh trong thơ đô thị. Hình ảnh thơ không còn dừng lại ở
mức độ biểu tượng tĩnh mà mang tính động, giống như những cú cắt cảnh trong điện
ảnh. Người đọc bắt gặp những hình ảnh gai góc, lạ hóa, đôi khi là những liên tưởng
bạo liệt về cơ thể con người, về sự đổ nát hay sự tái cấu trúc của các không
gian đô thị. Điều này cho thấy tư duy nghệ thuật đã chuyển từ cảm nhận bằng tâm
hồn sang quan sát bằng thị giác và phân tích bằng lý trí.
Nhưng bên cạnh đó, vẫn có chỗ đứng cho ngôn ngữ thơ ca mang vẻ
đẹp lãng mạn truyền thống, như để thấy rằng, mọi đổi thay vẫn bắt đầu từ những
nền tảng. Mùa đông là tứ thơ quen thuộc, song để có một lát cắt mùa đông mỏng
thì lại cần đến sự thấu cảm tinh tế của nhà thơ.
Mùa đông như dải lụa
Về trên thành phố rồi…
Bên đường nhặt chiếc lá
Chợt thấy mỏng bàn tay
(Mùa đông mỏng – Trần Lê Khánh)
Cuối cùng là sự xuất hiện của thơ đa phương tiện (Multimedia
Poetry) và sự tương tác số. Trong lòng một đô thị công nghệ như TPHCM, thơ
không chỉ nằm trên giấy. Nó hiện diện trên các nền tảng mạng xã hội, kết hợp với
hình ảnh đồ họa, âm nhạc đương đại và nghệ thuật trình diễn. Sự thay đổi về
phương thức tiếp cận này đã làm thay đổi cả cấu trúc bên trong của bài thơ, ngắn
gọn hơn, giàu tính biểu tượng hơn và có độ mở tối đa để bạn đọc tham gia vào
quá trình đồng sáng tạo.
Như vậy, những cách tân về nghệ thuật của thơ ca đô thị TPHCM
hiện nay không chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật, mà chính là sự tự thân vận động
để tương thích với một thời đại mới, thời đại mà con người không chỉ sống trong
không gian vật lý, mà còn sống trong một mạng lưới các ký hiệu và dòng chảy
không ngừng của thông tin.
Điểm tựa cho thơ ca đô thị đương đại
Trong dòng chảy hối hả của những khối bê tông, những đại lộ rực
rỡ và cả những con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo, thơ ca đô thị đương đại đã nảy mầm và
vươn lên như một nhu cầu tự thân để cân bằng lại đời sống tinh thần của con người
hiện đại. Ở đó, vai trò của Hội Nhà văn TPHCM cùng các hoạt động văn học trọng
điểm đã trở thành máy điều hòa và trạm tiếp năng lượng không thể thay thế.
Hội Nhà văn TPHCM không chỉ dừng lại ở vai trò một tổ chức
nghề nghiệp, mà còn là một thực thể văn hóa sống động, giúp định hình diện mạo
thơ ca đô thị. Giữa một không gian đô thị dễ làm con người cảm thấy bị nuốt chửng
bởi tốc độ và sự phân mảnh, Hội đã tạo ra những diễn đàn để các thế hệ cầm bút
kết nối. Cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất phương Nam” lần 1 và 2 do Hội Nhà văn
TPHCM phát động là một minh chứng hùng hồn cho việc thơ ca không hề xa rời thực
tại. Cuộc thi đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một giải thưởng văn chương thông
thường để trở thành một liệu pháp tinh thần quý giá.
Thông qua những vần thơ của các tác giả, hình ảnh thành phố
hiện lên không chỉ có kẹt xe và khói bụi, mà còn ngời sáng vẻ đẹp của sự bao
dung, tính nghĩa hiệp. Những bữa cơm 0 đồng, những chuyến xe nghĩa tình đi vào
thơ ca một cách tự nhiên, khẳng định rằng giữa nhịp sống nghiệt ngã nhất, lòng
trắc ẩn chính là sợi dây liên kết bền chặt nhất của cộng đồng đô thị. Đây chính
là chất liệu đô thị nhân văn, một đặc sản văn hóa riêng biệt của vùng đất
phương Nam. Cũng từ cuộc thi thơ này và các hoạt động khác của Hội Nhà văn
TPHCM, các tuyển tập thơ “Tay người đô thị đầy dấu nắng khuya”, “Thơ phổ nhạc -
50 năm thành phố Hồ Chí Minh”… cùng nhiều tuyển thơ khác ra đời, góp phần
khắc họa chân dung một đội ngũ nhà thơ đô thị.
Bên cạnh các cuộc thi, Ngày thơ Việt Nam tại TPHCM đã biến
thơ ca thành một lễ hội văn hóa đại chúng. Việc đưa thơ ra khỏi các trang sách
để trình diễn tại các không gian mở đã giúp mềm hóa những khối bê tông vô hồn.
Sự kết hợp giữa thơ với âm nhạc, hội họa và nghệ thuật sắp đặt đã thu hút đông
đảo công chúng trẻ. Tại đây, ranh giới giữa tác giả và độc giả bị xóa nhòa, thơ
ca trở thành một phương thức giao tiếp hiện đại, giúp con người đô thị định vị
bản sắc cá nhân giữa dòng xoáy của toàn cầu hóa. Sự hiện diện của những nhà thơ
lão thành như Hoài Vũ, Nguyễn Duy, Tần Hoài Dạ Vũ… bên cạnh những cây bút Gen Z
cho thấy một mạch ngầm văn hóa bền bỉ, chưa bao giờ đứt gãy của thành phố này.
Thơ ca đô thị TPHCM đương đại, dưới sự dẫn dắt và tiếp sức của
Hội Nhà văn TP, đã và đang thực hiện tốt sứ mệnh của mình, đó là giữ gìn phần hồn
cho thành phố. Nó chứng minh rằng, dù đô thị có phát triển đến đâu, con người vẫn
luôn cần những khoảng lặng nhân văn để trú ngụ, để thấu cảm và để yêu thương.
Những cuộc thi, những ngày hội thơ chính là lời khẳng định: Sài Gòn – TPHCM
không chỉ sống bằng hơi thở công nghiệp, mà còn sống bằng nhịp đập của những
trái tim biết rung động trước cái đẹp và lòng nhân ái.
Thơ ca đô thị TPHCM đương đại không chỉ là một hiện tượng văn
học khu vực mà còn là bộ phận tiên phong, nhạy bén nhất trong việc phản ánh những
biến chuyển của đời sống Việt Nam. Thơ ca đã định vị được một hệ giá trị thẩm mỹ
mới gắn liền với đô thị. Đó không còn là cái nhìn lãng mạn hóa hay sử thi hóa,
mà là cái nhìn hiện thực, đa chiều và trực diện. Thành phố Hồ Chí Minh hiện lên
trong thơ không chỉ như một đối tượng để ngợi ca mà như một không gian để đối
thoại, nơi con người không ngừng nỗ lực tìm kiếm sự cân bằng giữa những áp lực
của tốc độ, công nghệ và những giá trị nhân bản cốt lõi.
Sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân đa dạng cũng phải được kể đến.
Thơ ca đô thị giai đoạn này đã cho thấy một phổ biên độ rộng lớn của cảm xúc, từ
nỗi đơn độc sâu thẳm của các nhà thơ nữ, tính phản biện xã hội quyết liệt của
các cây bút nam, đến sự phá cách, phóng khoáng của thế hệ trẻ. Chính sự đa dạng
này đã làm nên sức sống bền bỉ và sự hấp dẫn riêng biệt của văn học phương Nam,
góp phần làm phong phú thêm diện mạo của thơ ca cả nước.
Sự dấn thân vào những thể nghiệm hình thức táo bạo là điều
đáng ghi nhận. Việc phá vỡ các khuôn mẫu vần luật truyền thống, đưa ngôn ngữ đời
thường vào thơ và tận dụng sức mạnh của các phương tiện truyền thông hiện đại
đã giúp thơ ca rút ngắn khoảng cách với độc giả. Thơ trở nên gần gũi, trở thành
tiếng nói đồng hành cùng con người trong những thăng trầm của cuộc sống hằng
ngày.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, dòng thơ này cũng đứng
trước những thách thức về sự vụn vặt hóa, tầm thường hóa, hay nguy cơ đánh mất
bản sắc trong cơn lốc thời hội nhập. Nhưng nhìn chung, thơ ca đô thị TPHCM vẫn
đang giữ vững vai trò là nơi khởi phát của những thể nghiệm mới, là nơi khởi
phát cho những ý tưởng nghệ thuật giàu tính sáng tạo.
Có thể khẳng định rằng thơ ca đô thị TP.HCM chính là bản hòa âm đầy bản sắc của một vùng đất không bao giờ ngủ. Nó là minh chứng cho thấy, dù trong bất kỳ thời đại nào, dù phố phường có ồn ã hay bụi bặm đến đâu, con người vẫn luôn cần thơ ca như một khoảng lặng để thấu hiểu và yêu thương chính mình cũng như nơi mình đang sống.
20/3/2026
Hà Thanh Vân
Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP.HCM số 199, ra ngày 12/3/2026
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét