Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Tóm tắt:
Nói đến nhà thơ Tố Hữu là nói đến một hiện tượng đặc biệt
trong thơ ca cách mạng Việt Nam, Người mà từ lâu đã được được các nhà lý luận,
phê bình định danh là “lá cờ đầu”, là “con chim đầu đàn” của thơ ca cách mang.
Vì vậy, thơ Tố Hữu không chỉ hiện hữu trong đời sống văn học miền Bắc mà còn hiện
hữu trong di sản văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 như một hệ giá trị cần được
khai mở. Bài viết là một minh chứng cho những giá trị của thơ Tố Hữu trong sự
nhìn nhận của các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học miền Nam trước
1975.
1. Mở:
Nói đến nhà thơ Tố Hữu là nói đến một hiện tượng đặc biệt
trong thơ ca cách mạng Việt Nam, người mà từ lâu đã được được các nhà lý luận,
phê bình định danh là “lá cờ đầu” của thơ ca cách mạng. Bởi, Tố Hữu không chỉ
là một nhà thơ mà ông còn là một chiến sĩ cách mạng, một nhà hoạt động chính trị,
một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước. Thế
nên, thơ Tố Hữu không chỉ là tiếng lòng của chính ông trước những nỗi niềm trong
cõi nhân sinh với bao “ấm lạnh tình đời” mà ông đã trải nghiệm và sẻ chia trong
tập thơ cuối đời Một tiếng đờn “Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy /
Khuấy động lòng ta biết mấy buồn”, mà còn là tiếng nói thao thức của chính ông
và của cả dân tộc đứng lên làm cách mạng trong tập thơ đầu đời Từ ấy khi
ông tìm thấy “Mặt trời chân lý chói qua tim”. Bởi, với Tố Hữu sứ mệnh cao cả nhất
của thơ ông là để tuyên truyền lý tưởng cách mạng, nên các nhà nghiên cứu văn học
khi viết về thơ Tố Hữu đã mệnh danh đó là thơ “trữ tình chính trị”. Còn
Tố Hữu trong suy niệm về thơ, ông đã từng xác quyết: “Thơ là chuyện đồng điệu,
tiếng nói đồng ý, đồng tình, là tiếng nói đồng chí”, là “tiếng chim gọi đàn” thức
nhận quần chúng đứng lên làm cách mạng. Điều ấy các nhà nghiên cứu, lý luận phê
bình văn học miền Nam giai đoạn 1954 -1975 và các cơ quan có trách nhiệm quản
lý về in ấn, xuất bản ở miền Nam không phải không biết!? Song, vượt lên tất cả
những rào cản và sự khác biệt về ý thức hệ và khuynh hướng chính trị lúc bấy giờ
giữa hai miền đất nước, Tố Hữu và thơ ông vẫn hiện hữu trong di sản văn học miền
Nam (1954-1975), và được in ấn, xuất bản, phổ biến trong đời sống văn học.
Không những thế, thơ Tố Hữu còn được phổ nhạc và hát công khai trong sinh hoạt
văn nghệ cộng đồng của học sinh, sinh viên trên khắp thành thị miền Nam giai đoạn
1954 -1975 qua phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”. Đó là nhạc phẩm Dậy
mà đi của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Tân dựa trên ý thơ trong bài thơ Dậy mà
đi của nhà thơ Tố Hữu như lời giới thiệu về nhạc sĩ Nguyễn Xuân Tân của Hội
Nhạc sĩ Việt Nam: “Sinh năm 1943 tại Sài Gòn. Trong phong trào “Học sinh - Sinh
viên” rồi “Hát cho đồng bào tôi nghe”, Nguyễn Xuân Tân là một thành viên trụ cột.
Dựa vào bài thơ Dậy mà đi trong tập thơ Từ Ấy của nhà thơ Tố
Hữu, Nguyễn Xuân Tân đã viết một hành khúc đầy thôi thúc tuổi trẻ, xuống đường
đấu tranh. Nhờ lời lẽ đanh thép, khúc thức ngắn ngọn, Dậy mà đi của
Nguyễn Xuân Tân (phỏng thơ Tố Hữu) đã như tiếng kèn xung trận trong phong trào
“Học sinh - Sinh viên” thời kháng chiến chống Mỹ”[1]
Riêng trong lĩnh vực văn học, thơ Tố Hữu xuất hiện khá nhiều ở
các tác phẩm nghiên cứu, phê bình văn học và đã trở thành một phần trong di sản
văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975.
2. Có thể nói, nếu Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 của
thế kỷ XX là một trong những sự kiện lịch sử có ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh
dân tộc và phận số mỗi người dân nước Việt, khi vỹ tuyến 17 đã trở thành
hiện thân của nỗi đau chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy chỉ có ý nghĩa về mặt địa
chính trị còn trong thực tiễn đời sống, nhân dân Việt Nam vẫn còn đó tình dân tộc,
nghĩa đồng bào của những người con cháu Lạc Hồng. Và, dẫu đất nước bị cắt chia
nhưng nền văn học dân tộc vẫn vẹn nguyên. Thế nên, trong di sản văn học miền
Nam (1954-1975), nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam dù sống “phía bên nào của chiến
tuyến” vẫn hiện hữu trong đời sống văn học, vẫn được quan tâm nghiên cứu, vẫn
đưa vào sách giáo khoa Việt văn giảng dạy trong nhà trường, được tôn vinh như
những giá trị cao quí của văn học dân tộc mà không có bất cứ sự kỳ thị nào. Đó
là những sáng tác của Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Chế Lan Viên,
Nguyễn Bính, Tế Hanh, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Hoài Thanh, Nguyễn Xuân Sanh, Tú Mỡ,
Quang Dũng, Hữu Loan, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu…. Vì vậy, trong lời “phi lộ” gởi
độc giả viết ngày 1/5/1967, khi tái bản tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận
tại Sài Gòn, người biên soạn tập thơ đã chia sẻ: “Gần đây một số thi phẩm của
các Thi nhân Tiền chiến được tuyển chọn làm tài liệu tham khảo văn chương cho
chương trình Đại học Văn khoa. Trong số những thi phẩm ấy, có một số của các
thi nhân mà hiện thời, họ đang sinh sống bên kia giới tuyến, nơi phân nửa của
lòng đất mẹ cách ngăn! (…) Đứng trong địa hạt văn chương - đối với thi nhân -
chúng tôi quan niệm rằng: Đây là những bông hoa tươi sắc ngát hương của “Vườn
Hoa Tiền Chiến” thì, không lý nào chúng tôi lại dang tay ngắt bỏ đôi cành! Mà
trái lại, chúng ta còn có cái trách nhiệm vun bồi, và vun bồi mãi mãi để cho Vườn
Hoa Đất Nước ngày càng thêm phô Sắc ngát Hương… Có quan niệm và nhận chân được
như thế, chúng ta mới có thể hy vọng sẽ làm tròn bổn phận của kẻ “chăn Vườn” hiện
đại!”.[2] Vì vậy, trong di sản văn học miền
Nam (1954-1975), không chỉ có sáng tác của những nhà văn sống ở miền Nam mà còn
có cả sáng tác của các nhà văn miền Bắc Việt Nam, mà Tố Hữu là một trường hợp
như thế.
Đọc Thi ca Việt Nam hiện đại (1880 - 1965), (Khai
Trí Xuất bản, Sài Gòn, 1967), một công trình nghiên cứu khá công phu về các nhà
thơ Việt Nam hiện đại của Trần Tuần Kiệt, ông đã giới thiệu về nhà thơ Tố Hữu
khá trân trọng: “Tố Hữu sinh năm 1920 tại Thừa Thiên, tên thật là Nguyễn Kim
Thành, đã học Quốc học, Huế. Thuở nhỏ thích đọc L. Tolstoi, Anatole – France,
Esmile Jola, và các nhà văn xã hội. Chịu ảnh hưởng rất nhiều học thuyết Mác –
Lê. Lúc mười sáu tuổi bỏ học theo cách mạng. Bị bắt năm 1940 giam ở Lao Bảo,
Kon Tum. Vượt ngục lên Việt Bắc. Năm 1945 về Hà Nội. Làm Thứ Trưởng thông tin…
Đã xuất bản: miền Nam (thơ)”. Sau khi giới thiệu tiểu sử và ba bài thơ “Mồ
Côi”, “Tiếng hò trên sông hương” (mà bản chính trong Từ Ấy là Tiếng hát sông
Hương – THA), “Chiều” … cuả nhà thơ Tố Hữu trong tập Từ Ấy với
bạn đọc và một số bài thơ khác ở các giai đoạn cách mạng và kháng chiến của dân
tộc, Trần Tuấn Kiệt đã nêu chủ kiến của mình về sự cảm nhận thơ Tố Hữu mà theo
ông: “Sau hiệp định Genève đáng lẽ ra Tố Hữu nên im tiếng như Huy Cận là hơn.
Đã đến một giai đoạn chiến tranh khác, những lời thư trong tập miền Nam của ông
xuất bản vừa rồi toàn là những lời để tuyên truyền gượng gạo”.[3] Rồi, Trần Tuấn Kiệt xác quyết: “Tôi
chỉ muốn nói đến Tố Hữu của Thời dân tộc kháng chiến đánh bọn ngoại quốc muốn
cùm xích nước ta ngày trước mà thôi”[4]
Những nhận định của Trần Tuấn Kiệt, dù sao cũng chỉ là những cảm nhận của riêng ông, có thể còn chủ quan và chưa thấu hiểu được sứ mệnh của Tố Hữu trong tư cách một chiến sĩ – nghệ sĩ như cách hiểu của chúng ta về nhà thơ Tố Hữu nhưng dẫu sao cũng là những ý kiến cần được nhìn nhận và đánh giá để hiểu rõ quan điểm của các nhà văn miền Nam trong giai đoạn 1954-1975 họ nghĩ gì, cảm gì, viết gì về văn học cách mạng và kháng chiến, trong đó có thơ Tố Hữu. Và qua các nhận định này cùng với việc chọn ba bài thơ “Mồ Côi”, “Tiếng hò trên sông Hương”, “Chiều” … của Tố Hữu để luận bàn, ta thấy Trần Tuấn Kiệt rất đề cao tính nhân văn trong việc thấu cảm nỗi cùng khổ của những con người “dưới đáy xã hội” và tinh thần dấn thân tranh đấu chống thực dân, giành độc lập tự do cho dân tộc trong thơ Tố Hữu.
Và cũng trong dòng chảy nhân văn của cảm thức sẻ chia với cuộc
đời cơ cực của những con người cùng khổ trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy
giờ, cũng như Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Tấn Long – Phan Canh trong công trình
nghiên cứu Khuynh hướng thi ca tiền chiến, biến cố văn học 1932-1945, (Sống
Mới xuất bản, Sài Gòn, 1968), trong phần viết về “Khuynh hướng xã hội
(Socialogíme) của thi ca”, các tác giả đã giới thiệu về nhà thơ Tố Hữu và các
bài thơ Vú em; Tiếng hò Sông Hương; Dững dưng... với những
lời bình khá chân xác, sâu sắc khi cho rằng: “Người thi nhân khuynh hướng xã hội
không có quyền khách quan trước cái khổ của loài người, mà phải đem tình cảm
mình trộn lẫn vào nỗi khổ cực của xã hội. Theo họ, văn nghệ không phải để đùa cợt,
làm thú phong lưu, tiêu khiển, hay dùng để kích thích dục vọng đê hèn của xác
thịt, mà phải dùng nó để xây đời, cải tiến xã hội, phá vỡ những chênh lệch, bất
công, đau khổ của con người. Nguồn thi cảm của họ đi tìm cái đau đớn chan hòa:
Vú em: “Nàng gửi con về nương xóm cũ/ Nghẹn ngào trở lại đẩy xe nôi/ Rồi từ hôm
ấy ôm con ngủ/ Trong cánh tay êm, luống ngậm ngùi” ...[5]. Và đây cũng là những cảm nhận khá thành
thực về thơ Tố Hữu của Huy Trâm trong công trình nghiên cứu Những hàng
châu ngọc trong thi ca hiện đại (1933 -1963) (Tủ sách nghiên cứu văn học,
Nxb. Sáng, Sài Gòn, 1969) ở Chương 5: Những buổi chiều trong thơ qua
việc trích dẫn bài thơ Tâm sự (137-138) Chiều xưa (150) của
Huy Cận; Khi chiều giăng lưới (141-142) của Xuân Diệu và bài
thơ Chiều (153) của Tố Hữu: “Lão ngồi bên cửa sổ/ trong nắng nhạt chiều
thu/ Cong lưng đan chiéc rổ/ Mai bán lấy vài xu/ Bàn tay khô lẫy bẩy/ Kéo mũi lạt
tre vàng/ Theo điệu buồn run rẫy/ Trên làn môi khô khan/ Cho tới khi chiều tắt/
Đôi chiếc lá vàng rơi/ Vô tình qua trước mắt/ Lão buông lạt trông trời…” Tố
Hữu, và nêu nhận xét khá bất ngờ khi Huy Trâm liên tưởng đến thơ của
Victor Hugo: “Một bài thơ viết theo lối tả thực làm chúng tôi nhớ đến bài
“saison de semailles, le soir” của Victor Hugo”[6]. Không những thế, ở Chương 6: Trên sông
khói sóng (156-173) bên cạnh trích dẫn các bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây;
Kẻ ở của Quang Dũng (157-162) Lời về; Phút Linh Cầu của Hồ Dzếnh
(163 -166), Huy Trâm cũng trích dẫn bài thơ Người về của Tố Hữu: “Rồi
một hôm nào cởi áo xanh/ hết cùm hết xích hết roi canh…. Để ngoài sương gió chiều
pha lạnh/ Dưới khóm tre già khách đứng ngây!” với những lời bình khá ấn tượng:
“Quê hương luôn luôn bao gồm ý niệm về sự sum vầy, về gia đình tổ ấm. Nhà thơ Tố
Hữu kể lại dưới đây, bằng một giọng giản dị đầy nghệ thuật, nông nổi tê tái
trong một “Ngày về” của một tù nhân. So với “Ngày về” của Guy de Maupassant, nội
dung câu chuyện trong bài xem ra có phần cay đắng hơn”[7]
Khác với Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Tấn Long – Phan Canh, Huy
Trâm, khi luận bình về thơ Tố Hữu các ông chọn những bài thơ viết về phận số những
con người nghèo khổ như Mồ côi, Vú em; Tiếng hò Sông Hương; Chiều...,Tam
Ích trong tiểu luận Văn nghệ và phê bình, (Nam Việt xuất bản, Sài
Gòn, 1969), khi bàn về một số vấn đề văn học Việt Nam, trong phần “Một vòng
chân trời nghệ thuật” đã chọn bài thơ “Ba tiếng” của Tố Hữu, một bài thơ được
ông viết tại xà lim Qui Nhơn, tháng 8/1941 và in trong tập thơ Từ Ấy để
nói về ý nghĩa nhân sinh và sự dấn thân cho lý tưởng sống cao đẹp của chính Tố
Hữu như một sự chọn lựa hiện sinh của một nhà thơ chiến sĩ trong hoàn cảnh bị
tù đày: “Nghĩa đời trong ba tiếng/ Máy điện giục gầm gừ/ Chuông đạo hát vô tri/
Kiểng tù khua gắt gỏng/ Mỗi tiếng riêng một giọng/ Mỗi giọng riêng một lời …/
Chuông khuyên lời ủy mị/ Con nhận khổ đời con/ Để nhẹ thoát linh hồn/ (…)
Chuông đạo hát vô tư/ Nghĩa đời trong ba tiếng”. Rồi Tam Ích luận bàn: “Có ai
muốn đem phân tách cái chứa đựng của “ba tiếng” thì cũng hoài công: một bài thơ
không phải là một chất hóa học. Chứa đựng tiềm tàng: một bản án của một chế độ,
một hương vị thương xót, một ý nghĩa về cuộc đời con người nằm bên trong song cửa
ngục, một âm thanh vừa dịu dàng như một tiếng chuông chùa, vừa ghê rợn như một
cánh cửa sắt đóng lại trên cuộc đời cá nhân, vừa giữ sự sống thừa, vừa hứa sự
chết, làm con người hết là con người như con người tưởng… Có ai muốn Tố Hữu một
chứa đựng nào đẹp hơn, ghê sợ hơn, hoàn toàn hơn: một bản án, một nét tả tinh
thần, một thứ âm thanh lạ, một nghệ phẩm… một nhất trí đẹp, đẹp một, đẹp riêng…
Tôi chưa hiểu ai sẽ là người làm hơn được Tố Hữu. Đó là chứa đựng”[8]. Ngần ấy sự phẩm bình tuy không nhiều lời
nhưng chứa đựng trong đó chiều sâu của những ý niệm triết học đủ minh chứng cho
thấy tấm lòng và sự trân quí đối với đời và thơ của Tố Hữu của Tam Ích với tư
cách là một người đọc tri âm khi tiếp nhận thơ Tố Hữu trong một bối cảnh xã hội
mà không phải ai cũng kiến tạo được những diễn ngôn như thế về một nhà thơ ở
“phía bên kia” mà nhà thơ đó lại là một lãnh đạo cao cấp của một chính thể đối
lập. Đây là điều, chỉ có thể có ở nền văn học dám chấp nhận những khác biệt mà
thôi. Và đây cũng là sự cảm nhận và lượng giá khá chuẩn xác và trân trọng đối với
thơ Tố Hữu của Lê Văn Siêu ở công trình nghiên cứu Văn học sử thời kháng
Pháp (1858 -1945), (Trí Đăng xuất bản, Sài Gòn, 1974), ở Chương V: Sinh
hoạt văn nghệ đã giới thiệu bài thơ Tiếng hát sông hương với lời
bình: “Dù chế độ kiểm duyệt khe khắt đến đâu trong thời chiến, cũng không thể vịn
cớ gì mà bỏ được một bài thơ như thế. Chứng tỏ người dân Việt Nam sống quen với
áp bức thì lại có những lời nói, lối hiểu cách bức, để tìm thông cảm với nhau.
Trên mặt báo chí công khai vì vậy phải hướng mắt theo dõi ước vọng độc lập của
toàn dân, khi nghiên cứu, mới bắt chợt được những lời xa xôi bóng gió ở bên
trong cái ởm ờ, dấm dớ và vô hại” (…) Nhà thơ vẫn là những con người nhạy cảm,
nên trước thời cuộc đã phản ảnh được tâm tình của nhân dân qua những dòng thơ của
mình”[9].
3. Song không giống như Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Tấn Long
– Phan Canh, Huy Trâm, Tam Ích, Lê Văn Siêu, Uyên Thao trong chuyên luận Thơ
Việt Nam hiện đại 1900 -1960, (Hồng Lĩnh Xb. Sài Gòn, 1969), không tìm hiểu
các bài thơ trong tập Từ Ấy của Tố Hữu viết những năm trước Cách mạng
Tháng Tám mà Uyên Thao lại chú tâm vào phân tích một số bài thơ của Tố Hữu ở tập Việt
Bắc ra đời trong những năm kháng chiến chống Pháp như: Cá nước, Phá
đường, Bầm ơi với những cảm nhận khá tinh tế và chân thật về cuộc kháng
chiến và con người kháng chiến được Tố Hữu phản ánh trong thơ như một sự tiếp nối
về việc giới thiệu thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975) theo sự
vận động của tiến trình lịch sử văn học nước nhà.
Cảm nhận về bài thơ Cá nước của Tố Hữu với trích đoạn:
“Gặp nhau mới lần đầu/ Họ tên nào có biết/ Anh người đâu tôi đâu/ Gần nhau là
thân thiết (…) Tôi nhích lại gần anh/ Người bạn đường anh đây/ Anh chiến sĩ hiền
lành/ Tỳ tay trên mũi súng”, Uyên Thao đã chia sẻ với những lời lẽ không hề hoa
mỹ, sáo rỗng mà đi thẳng vào trong ý nghĩa hiện thực của lời thơ: “Gần gặp nhau
tình cờ, quen nhau tình cờ nhưng thân thiết mau chóng. Không cần biết người nào
nguồn gốc ở đâu mà chỉ biết rằng đối diện với mình là một chiến sĩ. Thế rồi, họ
kể chuyện cho nhau nghe. Lại cũng câu chuyện đánh Tây: Anh kể chuyện tôi
nghe/ trên chợ Đồn, chợ Rã/ Ta đánh giặc chạy re/ hai đứa cười hỉ hả (…) Tàu giặc
đắm sông Lô/ Tha hồ cho uống nước/ Máu tanh đến bây giờ/ Chưa tan mùi bữa trước”
(Tố Hữu)[10]
Bài thơ Phá đường của Tố Hữu cũng là bài thơ gây ấn
tượng sâu sắc trong Uyên Thao và được ông cảm nhận với một niềm trân quí trước
tấm lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu vì công cuộc kháng chiến giành độc lập
tự do cho dân tộc của những người phụ nữ. Điều này được thể hiện qua việc Uyên
Thao chọn bình những câu thơ của Tố Hữu trong bài thơ Phá đường, khi ông
viết: “Đời sống hậu phương của những con người thường cũng chứng minh cái độ
cao ngùn ngụt của tinh thần chiến đấu “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế/ Gió qua
rừng đèo Khế gió sang/ Em là con gái Bắc Giang/ Rét thì mặc rét nước làng em lo
(…) Anh tài thì em cũng tài/ Đường dài ta xẻ sức dai ngại gì/ Đường đi ngoắt
ngóe chữ chi/ Hố ngang, hố dọc, chữ chi, i tờ” (Tố Hữu) Hậu phương tiền tuyến,
chiến binh dù ở trong hàng ngũ nào, người dân cũng chỉ mang một ý nguyện và
nuôi sống nó bằng cái ý chí kiên cường mà thi gia đã tiếp nhau phản ảnh từng
khía cạnh”[11].
Sự hy sinh cao cả của những người mẹ Việt Nam trong cuộc sống
hằng thường cũng như trong những cuộc chiến tranh cách tranh cách mạng thật diệu
kỳ và vĩ đại! Có phải vì thế mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã xây dựng Tượng
đài mẹ Việt Nam bằng nghệ thuật qua tuyệt phẩm Huyền Thoại Mẹ bất
tử của ông!? Và sự hy sinh cao đẹp của những Người mẹ Việt Nam anh hùng đó, ta
cũng bắt gặp trong thơ Tố Hữu mà bài thơ Bầm ơi trong tập Việt Bắc cũng
là một tượng đài đầy tính huyền thoại như thế. Vì vậy, khi giới thiệu bài
thơ Bầm ơi của Tố Hữu trong Thơ Việt Nam hiện đại 1900-1960,
(Hồng Lĩnh xb. 1969), Uyên Thao đã dành những lời phẩm bình khá sâu sắc xét cả
về phương diện tâm cảm và mỹ cảm của tấm lòng Uyên Thao, một người con xứ Bắc đối
với bài thơ Bầm ơi, khác nào như lời tâm tình với người mẹ dấu yêu của
mình ở quê nhà. Hình như Uyên Thao đã tìm thấy hình ảnh của mẹ mình trong
thơ Tố Hữu qua việc ông chọn những câu thơ để thẩm bình: “Những người đi giết
giặc vào một chiều nào, ngồi nhớ quê hương đã thầm nhủ : “Ai về thăm mẹ quê ta/
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm/ Bầm ơi có rét không bầm/ Hiu hiu gió núi râm
râm mưa phùn/ Bầm ra ruộng cấy bầm run/ Chân lội xuống bùn tay cấy mạ non/ Mạ
non bầm cấy mấy đon/ Ruột gan bầm lại thương con mấy lần/ Mưa phùn ướt áo tứ
thân/ Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu” Tôi nghĩ rằng cái thắm son đó có
lẽ chỉ có được trong một khoảng thời gian nào. Vì nó đẹp tới mức không ngờ: “Bầm
ơi sớm sớm chiều chiều/ Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe!/ Con đi trăm núi
ngàn khe/ Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm/ Con đi đánh giặc mười năm/ Chưa bằng
khó nhọc đời bầm sáu mươi”. Người dân trong đất tề, người dân ở hậu phương, người
dân ở tiền tuyến trước những lời nhắn nhủ tránh sao cho khỏi bồi hồi. Đây là tất
cả nỗi lòng của những người chiến sĩ có mẹ già nơi thôn vắng xa xăm”.[12] Cảm thức này, ta cũng bắt gặp ở Vũ
Tiến Phúc trong tiểu luận Hồn thơ nước Việt thế kỷ XX, (Sơn Quang Xuất bản,
Sài Gòn 1970), khi luận bàn về thơ ca kháng chiến 1945 -1954. Trong tiểu luận
này, bên cạnh bàn đến các bài thơ: Tây Tiến (Quang Dũng); Màu
tím hoa sim (Hữu Loan), Viếng bạn (Hoàng Lộc), Vũ Tiến Phúc còn
đề cập đến bài thơ Phá đường của Tố Hữu với một trích đoạn thơ: “Rét
Thái Nguyên rét về Yên Thế/ Gió qua rừng Đèo Khế gió sang (...) Nhà em con bế,
con bồng/ Em cũng theo chồng đi phá đường quan” và luận giải đó là “những bài
thơ đại chúng” gắn với bối cảnh văn hóa xã hội lúc bấy giờ[13]
Song, khác với Vũ Tiến Phúc trong Hồn thơ nước Việt thế
kỷ XX, (Sơn Quang Xuất bản, Sài Gòn 1970), trên Tạp chí Ý Thức số 11
ra ngày 15/3/1971 trong tiểu luận “Thi ca trước tình cảnh cực đoan”, Huỳnh Hữu Ủy
đã đánh giá cao giá trị thơ ca kháng chiến chống Pháp, trong đó có thơ Tố Hữu.
Cảm nhận về hình tượng người phụ nữ trong thơ ca kháng chiến chống Pháp giai đoạn
1945-1954 của Tố Hữu, Huỳnh Hữu Ủy chia sẻ: “Có những người vợ trẻ, những người
chị gái còn chiến đấu tích cực và dũng cảm vô song không thua gì các chiến binh
trai trẻ: “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế/ Gió qua rừng Đèo Khế gió sang/ Em là
con gái Bắc Giang/ Rét thì mặc rét nước làng em lo/ Nhà em phơi lúa chưa khô/
Ngô chửa vào bồ sắn thái chưa xong/ Nhà em con bế con bồng/ Em cũng theo chồng
đi phá dường quan (…) Anh tài thì em cũng tài/ Đường dài ta xẻ sức dai ngại gì”
(Tố Hữu)[14]. Có thể nói, đây không chỉ là một sự cảm
nhận đơn thuần về sự dấn thân tranh đấu của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc
kháng chiến cứu quốc để giành và giữ lấy chủ quyền của dân tộc mà sâu xa hơn đó
còn là sự tri ân đối với những hy sinh cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong
cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc.
Còn đây là những lời luận bàn với thành ý ngưỡng mộ của Huỳnh
Hữu Ủy về tình yêu cũng như sự hy sinh và chịu đựng gian khổ của những chàng
trai ra đi kháng chiến: “Những chàng trai trẻ đang chiến đấu nơi quan san, giữa
rừng núi trùng điệp, bồng bột và nhiệt huyết hiến dâng cho tổ quốc, nhưng mối
tình thơ mộng nặng nợ nơi quê nhà cũng không phai nhòa, mà sắt son cũng một
nghĩa nên hẹn một ngày về trong nụ cười chiến thắng rộn ràng và ngạo nghễ: Em
ơi đợi anh về/ Đợi anh hoài em nhé/ Mưa có rơi dầm dề/ Ngày có dài lê thê/ Em
ơi! Em cứ đợi/ Dù tuyết rơi gió nổi/ Dù nắng cháy em ơi! / Bạn cũ có quên rồi/
Đợi anh hoài em nhé/ Đợi anh anh lại về/ Trong tiếng cười ngạo nghễ” (Tố Hữu, dịch
thơ Simonov). Tình yêu đôi lứa của người lính trong những năm kháng chiến luôn
hài hòa với tình yêu quê hương đất nước qua hình ảnh của những con người kháng
chiến như người mẹ, người em gái, người vợ hiền. Đó là những giá trị mang ý
nghĩa nhân văn trong thơ Tố Hữu được Huỳnh Hữu Ủy chỉ ra với những cảm nhận khá
tinh tế : “Mối tình son sắt đó là nghĩa mặn nồng đối với quê hương, qua thơ văn
kháng chiến thường được biểu hiện bằng hình ảnh thắm thiết của mẹ già, em
gái, vợ hiền… Cho nên những chiến sĩ lên đường đi giết giặc, lúc đăm chiêu mỏi
mắt nhìn lại quê nhà, ẩn hiện bao mối thâm tình não nùng trộn lẫn với hào khí đấu
tranh, là một vẻ đẹp vô cùng thơ mộng, hào tráng mà ngậm ngùi. “Ai về thăm mẹ
quê ta/ Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm/ Bầm ơi có rét không bầm/ Hiu hiu gió
núi râm râm mưa phùn/ Bầm ra ruộng cấy bầm run/ Chân lội xuống bùn tay cấy mạ
non/ Mạ non bầm cấy mấy đon/ Ruột gan bầm lại thương con mấy lần/ Mưa phùn ướt
áo tứ thân/ Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu (Tố Hữu). Cũng chính
trong tình cảm đó, con đường đấu tranh chống giặc giữ nước bấy giờ của đoàn con
trai trẻ đã nghĩa lý gì với một đời còm cõi hy sinh, lao khó của mẹ già, suốt cả
đời là khó nhọc cho đàn con lớn dậy: “Bầm ơi sớm sớm chiều chiều/ Thương con bầm
chơ lo nhiều bầm nghe!/ Con đi trăm núi ngàn khe/ Chưa bằng muôn nỗi tái tê
lòng bầm/ Con đi đánh giặc mười năm/ Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”. Những
dòng thơ tê tái, chân thành trên của một Tố Hữu những ngày kháng chiến tuyệt vời,
gởi niềm rung động sâu xa đến mọi người, cũng từ đó là nền tảng sâu thẳm thiêng
liêng cho cuộc đấu tranh chung càng trở nên quyết liệt và dũng cảm vô cùng.
Chúng tôi muốn xác định rằng đó là một Tố Hữu chiến sĩ - thi sĩ, rung động niềm
rung động chung của dân tộc đang trên đường đi lên đấu tranh diệt thù giải
phóng Tổ Quốc”.[15]
Không chỉ cảm nhận về tình yêu đôi lứa, tình yêu đất nước quê
hương mà Huỳnh Hữu Ủy còn thể hiện những cảm nhận của mình về tình đồng
chí của những người lính trong thơ kháng chiến chống Pháp, trong đó có thơ Tố Hữu
cũng khá chân thành nhưng không kém phần sâu sắc mà nếu không thấu cảm được ý
nghĩa của hai tiếng đồng chí trong tâm cảm của người lính lúc bấy giờ thì khó
có thể luận giải được: “Vừa mới thoáng gặp nhau đã trở thành thân thiết, thương
nhau nơi vẻ giản dị của bộ quần áo nâu đẹp màu chinh chiến, yêu nhau nơi lý tưởng
quật cường mà dân tộc đặt trên tay anh em: Gặp nhau nơi lần đầu/ Họ tên
nào có biết/ Anh người đâu tôi đâu/ Gần nhau là thân thiết/ Một thoáng lặng
nhìn nhau/ Mắt đã tìm hỏi chuyện/ Đôi bộ quần áo nâu/ Đã âm thầm thương mến/
Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ/ Anh vệ quốc quân ơi!/ Sao mà yêu
anh thế/ Tôi nhích lại gần anh/ Người bạn đường anh đây/ Anh chiến sĩ hiền
lành/ Tỳ tay trên mũi súng”. (Tố Hữu) [16]
Nhận định về giá trị của thơ ca kháng chiến chống Pháp, trong
đó có sự đóng góp của Thơ Tố Hữu, Huỳnh Hữu Ủy đã có những luận bàn khá sâu sắc
mang ý nghĩa thực chứng mà chúng ta không nghĩ tại sao một nhà nghiên cứu phê
bình văn học ở “phía bên kia”, “phía đối lập” với cách mạng lại có những suy tư
chân thành đến thế nếu họ không bị sự hấp dẫn từ sức mạnh chính nghĩa của cuộc
kháng chiến chống Pháp quật cường đã làm nên những trang sử vàng của dân tộc:
“Thi ca của giai đoạn kháng chiến (mà những trích dẫn trên chỉ là một phần rất
nhỏ của kho tàng to lớn này) đã đóng góp một phần rất lớn trong việc cổ xúy một
cuộc đấu tranh trường kỳ. Nền thi ca ấy đã hoàn thành sứ mệnh cao đẹp của nó,
đã để lại cho chúng ta những viên hồng ngọc quí giá như minh chứng của một phần
hồn thiêng dũng cảm phi thường của dân tộc, một dân tộc của những người không
khuất chí, luôn sẵn sàng đứng dậy, trước bất cứ hoàn cảnh và chông gai nào. Từ
bao lâu, qua bao thiên niên kỷ, tiếng nói của dân tộc ta vốn vẫn là một đóa hoa
nở ra trên sa mạc, trên đá sỏi, bằng chính mồ hôi và máu đào. Đời sống dân tộc
ta vốn đã là một trường thi hùng dũng, thơ mộng và trữ tình và trường thi ấy vẫn
còn được viết tiếp bởi những hệ đời ngày nay. Thi ca, nói rộng hơn là nghệ thuật
là một đóng góp lớn trong việc làm đẹp và mở cửa đời sống”.[17] Và chính xuất phát từ cảm thức về ý
nghĩa cao đẹp của cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập tự do của dân tộc
mà Huỳnh Hữu Ủy đã dẫn lời thơ của Victor Hugo – Les châtiments 1853 như một sự
đối sánh để ngợi ca thơ kháng chiến chống Pháp của dân tộc, trong đó có thơ Tố
Hữu: “Hỡi nhân dân nô lệ! Nghệ thuật làm cho người trở nên tự do/ Hỡi nhân dân
tự do! Nghệ thuật làm cho người trở nên vĩ đại”. (Victor Hugo – Les châtiments
1853). Thi ca làm lớn dậy con người, làm vĩ đại nhân loại. Thi ca giải phóng
con người” (tháng 2. 1971)” [18]. Thế mới biết sự hiện hữu của thơ Tố Hữu
trong di sản văn học miền Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn như thế nào mà
lâu nay chúng ta không khai phá, tìm hiểu để có một cái nhìn công bằng và khách
quan hơn về di sản văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 mà có một thời chưa xa
do sự ấu trĩ trong nhận thức và giới hạn của lịch sử, chúng ta
đã “vội vàng kết án” Văn học miền Nam là “văn học đồi trụy, phản động” đi ngược
lại lợi quyền của dân tộc, của nhân dân.
Trong di sản văn học miền Nam (1954-1975), khi khám phá về sự
hiện hữu của thơ Tố Hữu, có một điều rất lạ mà ít ai nghĩ đến, đó là Tố Hữu và
thơ của ông, không chỉ xuất hiện trên những tờ báo, tạp chí có xu hướng
khuynh tả hay ở các công trình nghiên cứu văn học thuần túy mang ý nghĩa
khoa học, ngược lại thơ Tố Hữu còn xuất hiện trêm tuần báo Khởi Hành, một
tờ báo Văn học nghệ thuật xuất bản ở miền Nam trước 1975, là cơ quan ngôn luận
của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội do nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng làm Chủ nhiệm
và nhà văn Viên Linh làm thư ký tòa soạn mà bài viết: “Về hai bài thơ tình của
Tố Hữu và Trường Chinh” của nhà nghiên cứu Thanh Hữu là một minh chứng. Trong
bài viết này, khi luận bàn về bài thơ “Bài ca xuân 61” của Tố Hữu qua trích đoạn:
“Tôi viết cho ai/ Bài thơ 1961/ Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt/ ... Rồi hai
đứa nắm tay nhau/ Hai người đồng chí/ Dắt nhau đi cho đến sáng ngày mai/ Xuân đến
rồi – Xuân của tương lai...”, Thanh Hữu cho rằng: “Tố Hữu làm thơ không lạ, vì
dù sao anh cũng còn ít nhiều thực chất của một văn nghệ sĩ (...) Với Tố Hữu
ngoài kỹ thuật thơ tương đối vững vàng. Còn mang một ý nghĩa tích cực. (...) Về
nội dung, Tố Hữu vẫn còn giữ được ít nhiều phẩm chất làm người của anh qua những
ngôn từ “hỡi em yêu”, “Rất say mê từ thuở ban đầu”, “Anh nắm tay em sôi nổi vụng
về” v.v... Chính vì còn giữ được phẩm chất người nên hình ảnh chót sau pha tình
tự “Rồi hai đứa nắm tay nhau... giắt tay nhau đi cho đến sáng ngày mai...” là một
hình ảnh trung thực với tình người. Bởi vì sự kiện dắt nhau đi cho đến sáng
ngày mai” chắc chắn phải là biểu tượng tình yêu của lứa đôi, vì ít ra trong lúc
đó, Tố Hữu cũng phải nghĩ rằng anh chỉ có một trái tim dành cho một người yêu
mà thôi”.[19] Nhận xét này của Thanh Hữu cũng phần
nào cho thấy thiện cảm của nhà phê bình đối với thơ Tố Hữu và sự ghi nhận yếu
tính nhân bản trong thơ Tố Hữu qua một bài thơ cụ thể “Bài ca xuân 1961” mà
Thanh Hữu xếp nó vào loại thơ Tình. Ý kiến của Thanh Hữu dù sao cũng chỉ là ý
kiến của một nhà nghiên cứu và không thể tránh được sự chủ quan nhưng dẫu sao
ta cũng ghi nhận tấm chân tình của người viết đối với thơ Tố Hữu, mà sự xuất hiện
của thơ Tố Hữu đã là một bất ngờ chưa nói là có sự đồng cảm sẻ chia...
4. Thay lời kết
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản
ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến.
Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình
thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không
chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây
quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong
di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê
bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác
biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu. Bởi, vượt
lên tất cả những rào cản về ý thức hệ hay chế độ chính trị, mọi hiện tượng văn
học trong nền văn học nước nhà qua các thời kỳ của tiến trình văn học dân tộc từ
văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại và cả văn học thế giới bất
luận là nước nào đều được các nhà lý luận phê bình văn học ở miền Nam (1954
-1975) khám phá, luận bàn dưới ánh sáng của các hệ hình lý thuyết văn học Đông
- Tây mà thơ Tố Hữu không phải là ngoại lệ. Đây là sự tôn vinh giá trị của thơ
Tố Hữu một cách vô tư, bởi Tố Hữu đối với các nhà lý luận phê bình văn học miền
Nam không có giá trị gì khác, ngoài giá trị thi ca của một thi sĩ, vì thế họ viết
không phải để “hàm ơn”, để “vụ lợi”, nên những đánh giá của họ về thơ Tố Hữu
hoàn toàn trong sáng, chân xác và có độ tin cậy khoa học.
Không những thế việc các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình văn học miền Nam (1954-1975), quan tâm luận bàn về thơ Tố Hữu cũng như văn chương của các nhà văn sống ở miền Bắc lúc bấy giờ đã cho thấy tấm lòng trân quí của họ đối với các giá trị của văn học nước nhà, bất luận là thuộc phía bên nào. Đây phải chăng cũng là những dấu chỉ của tinh thần và khát vọng “Hòa hợp, hòa giải dân tộc” của nhân dân miền Nam lúc bấy giờ. Vì thế, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam 1954 -1975 là một hệ giá trị cần được trân quí và chia sẻ, để hướng đến một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, thịnh vượng, phồn vinh khi bước vào kỷ nguyên mới trong thời kỳ hội nhập và phát triển của xu hướng toàn cầu hóa ....
Chú thích:
[1] Nhạc sĩ Việt Nam – Hội Nhạc sĩ Việt Nam, 2007, tr.1310
[2] Huy Cận, Lửa Thiêng, Tái bản
tại miền Nam, Sài Gòn, 1967, tr.6, 7
[3] Trần Tuần Kiệt, Thi ca Việt
Nam hiện đại (1880- 1965), Khai Trí Xuất bản, 1967, tr.485
[4] Trần Tuần Kiệt, Thi ca Việt Nam hiện đại (1880- 1965), Khai Trí Xuất bản, 1967, tr.485
[5] Nguyễn Tấn Long – Phan
Canh, Khuynh hướng thi ca tiền chiến, biến cố văn học 1932-1945, Sống mới
xuất bản, 1968, tr.540, 543
[6] Huy Trâm, Những hàng châu
ngọc trong thi ca hiện đại (1933 -1963) Tủ sách nghiên cứu văn học, Nxb.
Sáng, Sài Gòn, 1969, tr.153
[7] Huy Trâm, Những hàng châu
ngọc trong thi ca hiện đại (1933 -1963) Tủ sách nghiên cứu văn học, Nxb.
Sáng, Sài Gòn, 1969, tr.169 -170 - 171
[8] Tam Ích, Văn nghệ và phê
bình, Nam Việt xuất bản, Sài Gòn, 1969 tr.149, 150
[9] Lê Văn
Siêu (1974), Văn học sử thời kháng Pháp (1858 -1945), Trí Đăng xuất bản,
Sài Gòn, tr.387, 388
[10] Uyên Thao, Thơ Việt Nam hiện
đại 1900 - 1960, Hồng Lĩnh Xb.1969 tr.341, 342
[11] Uyên Thao, Thơ Việt Nam hiện
đại 1900-1960, Hồng Lĩnh xb.1969, tr.344, 345
[12] Uyên
Thao (1969) Thơ Việt Nam hiện đại 1900-1960, Hồng Lĩnh xb., tr.351
[13] Vũ Tiến Phúc, Hồn thơ nước
Việt thế kỷ XX Sơn Quang Xuất bản, Sài Gòn 1970, tr.196
[14] Huỳnh Hữu Ủy, “Thi ca trước
tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971, tr.18
[15] Huỳnh Hữu Ủy, “Thi ca trước tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971, tr. 17, 18, 19
[16] Huỳnh Hữu Ủy, “Thi ca trước
tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971, tr.20
[17] Huỳnh Hữu Ủy, “Thi ca trước
tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971, tr.22, 23
[18] Huỳnh Hữu Ủy, “Thi ca trước
tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số 11 ra ngày 15/3/1971, tr.23
[19] Thanh Hữu, “Về hai bài thơ tình
của Tố Hữu và Trường Chinh”, Khởi hành, số 2/1968, tr.83, 84
Xóm Đình An Nhơn Gò Vấp, 15/10/2020
Trần Hoài Anh
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét