Một tập thơ hướng tới chủ nghĩa nhân văn cao đẹp
Quang Hoài, chàng thi sĩ có sức sáng tạo dồi dào, đã có nhiều vụ mùa gặt hái rất bội thu. Trong hơn 20 năm, từ lúc in tập thơ đầu “Nguyện cầu” (2002) cho tới nay, với tập thơ mới nhất “Miền Hoài Phương” (2023), anh đã cày xới và gieo trồng trên cánh đồng Thơ được tới 13 vụ. Một “năng suất” sáng tác đáng nể trọng, nếu ta nhìn sang cánh đồng Thơ của nhiều nhà thơ “lão làng” chuyên nghiệp, có nhiều người cả một đời, trải qua 50 đến 60 năm thơ, cũng chưa có tới một chục đầu sách.
Tuy nhiên, nói đến Thơ,
điều đáng nể đầu tiên chưa hẳn đã nên tính đến “năng suất”, mà quan trọng hơn
là khi xuất hiện trong làng thơ, một tác giả có thực sự đem lại được điều gì mới
mẻ trong lao động sáng tạo hay không? “Đã mang lấy nghiệp vào thân”, thì làm
sao mỗi nhà thơ phải vắt ra được từ tâm hồn mình một chút “nước cất” tinh hoa
nào đó của riêng mình, thứ nước hoa tinh khiết ấy chiết xuất từ cánh đồng thơ
muôn màu muôn sắc của riêng mình, để rồi sau đó có đủ sức lan toả hương thơm tới
tất thảy mọi người.
Quang Hoài thực sự đã làm
được điều này, và anh đã hoàn thành nó một cách điềm đạm mà phóng khoáng, chân
thành và tự nhiên. Từ nhiều “câu thơ bất chợt lạc vào hồn anh”, anh đã “chưng cất”
nó thành một thứ men say nồng nàn chinh phục lòng người, một dạng “tinh chất” của
ngôn ngữ văn chương đích thực, thứ ngôn ngữ có lúc nửa bình dân như từ ca dao tục
ngữ thoát ra, lại có lúc nửa bác học, nâng lên từ những thử thách dày dạn qua
suốt thời chiến tranh và cả vốn liếng tích luỹ công phu qua nhiều lĩnh vực! Thơ
vốn là niềm say mê của anh từ lúc còn rất trẻ đến khi trở thành duyên nợ của một
đời. Thậm chí, giữa giây phút hiểm nghèo phải chống chọi với bệnh tật khi đã có
tuổi, trước cuộc phẫu thuật căng thẳng, bác sĩ Trần Các – Chủ nhiệm Khoa Tiết
niệu ở Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 còn hóm hỉnh đùa với anh:
“Lúc tôi lên bàn mổ
Bác sĩ Các mỉm cười:
Thơ sẽ là thần dược
Bắt tử thần rút lui!”.
Hiếm có nhà thơ nào,
trong giây phút hiểm nghèo ấy, lại bình thản đánh giá về sức mạnh của Thơ kỳ diệu
đến thế! Mà cũng vẫn với giọng vừa điềm đạm vừa phóng khoáng, chân thành và tự
nhiên vốn có của anh.
Quang Hoài có tài dựng
lên những khung cảnh và tình huống rất đơn giản, tự nhiên, ẩn kín nhiều ý không
nói hết, mà vẫn gây cảm xúc bất ngờ. Đơn cử như trong một bài thơ với lời kể thật
mộc, như bài “Cái thời ấy xa rồi”, viết từ thuở đầu đời, không hề có chi tiết
nào tô vẽ, mà vẫn khiến độc giả cảm động:
“Ngày ấy tôi và em còn trẻ/ Cùng
học một bàn, cùng ăn một mâm/ Những cơn đói cấu cào gan ruột/ Em dúi
nắm cơm cho tôi no lòng/ Những đêm rét xé da cắt thịt/
Chiếc áo em đan cho tôi ấm
lưng…/ Nhớ một đêm mùa đông/ Không phải là chủ nhật/ Trốn buổi học
đêm em rủ tôi đi ra cánh đồng/ Trong vi vu phi lao gọi gió/ Ta lạc
vào một nghĩa trang vắng vẻ/ Ngồi giữa hai hàng bia mộ/ Mắt em buồn
muốn nói điều chi/ Chỉ thở dài bảo tôi còn trẻ quá!
…
Ba mươi năm trôi
qua/ Gặp lại em cứ nhớ hoài đêm ấy/ Tôi mạnh bạo nhìn vào mắt em và
nói:/ Có một nụ hôn dại khờ/ Anh cất mãi đến giờ…/ Em thản nhiên
mỉm cười:/ Sao anh không thể/ Hãy quên đi/ Cái thời ấy xa rồi!”.
Cùng cách nói rất mộc
không chút gì màu mè ấy, khi còn là người lính từng bươn chải trên những con đường
mòn chiến trận, từ Tây Bắc tới tận vùng Tây Nam Bộ, anh đúc rút ra một điều tâm
niệm, là món nợ chẳng bao giờ trả được, chính là “Tình đồng đội”, điều không gì
thay thế nổi bao giờ. Câu thơ bộc trực, lặng lẽ mà nén chặt một triết lý sống:
“Có món nợ không
vay/ Không ai đòi phải trả…/ Là nợ tình đồng đội/ Sống vì nhau,
cho nhau
…
Đồng đội ơi, đồng đội/ Hài
cốt người ở đâu/ Mối tình cao cả ấy/ Lẽ nào mãi vùi sâu?”.
Và tác giả đối chiếu với
hôm nay:
“Sống giữa thời mở cửa/ Trong cơn khát làm giàu/ Nhớ về tình đồng đội/ Lòng tôi lại nhói đau!”.
Triết lý sống tự nhiên,
chân thật, thậm chí có phần xót xa, còn xuất hiện trong nhiều bài thơ khác,
trong những phút giây tư lự, “nói mà như không nói” của anh:
“Ta thương một ngày dở
mưa/ Một ngày dở nắng như chưa bao giờ…/ Ta thương một đêm hững hờ/ Một
đêm rét giả ấm vờ một đêm…/ Mưa hay lá rụng ngoài thềm/ Sương hay giọt
nắng phơi trên chái nhà?/ Kiếp này ta chửa thương ta/ Làm sao thương
nổi kiếp hoa bọt bèo!”. (Kiếp này ta chửa thương ta)
Quang Hoài còn lặng lẽ gửi
gắm được triết lý nhân văn của mình vào những bài thơ vừa trữ tình vừa trào lộng,
vẫn với cách nói bộc trực và kiệm lời của anh, ở trên là “nói mà như không
nói”, ở đây thì lại có cách nói tưng tửng cợt đùa:
“Linh hồn bán có ai
mua/ Để anh gửi hiệu cầm đồ nhà em/ May ra kiếm được chút tiền/ Đem
cho bọn trẻ ăn xin chợ Vồ…”. (Linh hồn bán có ai mua)
Biết đùa cợt trào lộng đấy,
nhưng động đến những lời thơ về thân phận con người, thì anh luôn lẳng lặng và
tinh tế lùi sâu vào trong tâm tưởng, giống như một câu Kiều “Khư khư mình
buộc lấy mình vào trong!”. Chỉ đến khi hạ màn, mọi thứ kết thúc, thì tâm tư ấy
mới hé mở, vừa đủ cho chúng ta biết tâm trạng tinh tế giàu hàm ý ấy là gì, như
trong bài “Dịu dàng”:
“Dịu dàng là dịu dàng
ơi/ Dịu dàng giăng mắc một trời tơ vương/ Cho tôi sợi nắng cuối vườn/ Cho
tôi tơ nhện vương sương cỏ bờ…/ Dịu dàng ơi, đến bao giờ/ Dịu dàng
thôi thả thẫn thờ cho tôi?/ Dịu dàng tóc xoả bờ vai/ Dịu dàng trăng
khuyết giữa hai vùng đồi…”.
Cuối cùng, mọi băn khoăn
sẽ đến lúc kết thúc:
“Một đời tôi ước tôi
mong/ Dịu dàng sao vẫn dửng dưng vô tình?/ Sao không san bóng sẻ
hình/ Cho tôi thoát cảnh một mình xót xa?”.
Thì ra: “Dịu dàng là
của người ta/ Mà tôi cứ ngỡ như là của tôi…”. Câu thơ chốt lại ấy, lại được
tác giả chủ ý buông thả ra thật lửng lơ!
Cái cách nói nội tâm thầm
thĩ và đầy ẩn ý này rất “đắc địa” với thể thơ lục bát. Và quả thực, Quang Hoài
là một người làm thơ lục bát rất tài hoa. Hai bài thơ “Chợ Viềng 1” và “Chợ Viềng
2” của anh đã có nhiều nhà thơ phân tích kỹ rồi, nên tôi muốn nói đến một bài
khác cũng ở ngay cạnh nó: bài “Khúc ru”. Lạ một điều là một nhà thơ đầy chất
nam tính, lại mượn lời hát ru để san sẻ tâm sự mình. Ấy vậy mà lời ru ấy lại ảo
diệu, biến hoá và bay bổng đến mức không để một tâm hồn phụ nữ nào đã dễ bắt
theo kịp:
“À ơi! Tôi hát ru người/ Ru
cho hạt nắng đừng phơi chợ tàn/ Ru cho sương giá mau tan/ Đừng rơi trắng
dải non ngàn hoang vu/ Ru cho lớp lớp mây mù/ Đừng giăng kín nẻo âm u
một người…/ À ơi! Tôi hát ru tôi/ Ru cho nắng quái đừng phơi chiều gầy/ Ru
cho bão cuốn chân mây/ Cũng không cuốn nổi tháng ngày nấu nung/ Ru
cho cạn kiệt dòng sông/ Cũng không tàn héo cõi lòng đa đoan…”.
Những lời ru vừa cho người,
vừa cho mình, thương người cũng tự thương mình, tưởng bất chợt mà sâu xa, tưởng
ngẫu hứng mà vô cùng tinh tế.
Cách nói ngẫu hứng bất chợt
ấy của Quang Hoài thực ra là một cách viết cực khó, chỉ dành cho những ai nói
ít hiểu nhiều. Không đọc kỹ, tưởng như đó chỉ là những câu chữ vu vơ chợp bắt
được, khi đọc kỹ thì mới hiểu ra trong đó có cả một tầm sâu triết học (thực
không phải ngẫu nhiên mà tác giả vốn đã từng có bằng Cử nhân Triết học). Thử ví
dụ một bài này:
“Phía sau hồ sóng mênh
mông/ Nhìn về phía trước người trông thấy gì?/ Bắc phương mây kéo sầm
sì/ Biển Đông chớp loé ầm ì sấm ran!/ Ơi người đứng tựa lan
can/ Thấy chăng một mảnh trăng tàn cuối thu?/ Mảnh trăng lặn dưới đáy
hồ/ Nước xưa trong, nước bây giờ còn trong?!”.(Gửi người đứng tựa lan can
Tây Hồ)
Chúng ta nên chú ý các ẩn
ý về tư thế của người đứng trước Hồ Tây lịch sử, người đó muốn nhìn thấy gì, vì
sao có chi tiết Biển Đông ở đây, vì sao lại so sánh nước Hồ Tây từ xưa đến nay,
mà Hồ Tây thời Hai Bà Trưng có tên là hồ Lãng Bạc đã từng được miêu tả cùng các
chiến công của Hai Bà.
Càng tới những bài thơ về
sau, chất triết lý trong thơ Quang Hoài càng hàm súc hơn, đồng thời có tính biểu
tượng khái quát hơn.
Chúng ta hãy chú ý tới
bài này:
“Đã lạc lối vào/ Lẽ
nào lạc nốt lối ra?/ Mịt mùng vây bủa quanh ta/ Ai người/ chỉ lối/ giùm
ta/ ra – vào?/ Ngước lên thăm thẳm trời cao/ Hốt nhiên thấy Phật
chỉ vào trán ta!”.(Lối)
Để hiểu ý bài này, trước
tiên chúng ta hãy nhớ lời dặn dò của đồng chí Nguyễn Văn Linh trước thời Đổi Mới:
“Hãy biết tự mình cứu lấy mình, trước khi trông chờ Trời, Phật nào cứu!”.
Còn đây là một bài thơ, nếu
không có dòng lạc khoản của tác giả ở dưới đầu đề, thì chúng ta có lẽ cũng chưa
kịp nghĩ ra một kiểu “ý tại ngôn ngoại” tuy sâu mà lại rất mở, tuy cụ thể nhưng
lại rất bao quát:
“ Gió buồn không thổi nữa/ Nằm
khàn giữa bến sông/ Có con thuyền mắc cạn/ Chết trước mùa nước dâng!“ (Trước
mùa nước dâng)
Dòng lạc khoản là trích
câu thơ Nguyễn Trãi: “Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” (Lật thuyền mới biết
dân là nước). Con thuyền này không có diễm phúc gặp mùa nước hay là chưa gặp được
nước đã tự chết rồi? Vì sao bị mắc cạn? Mắc cạn do bất lực hay do sự ngu dốt,
vô duyên của chính mình? Chết như thế đáng thương hay đáng giận? Các ý này đều ẩn
chứa những suy diễn cực kỳ sâu sắc và rộng lớn về bài học đường đời và trong xã
hội.
Nhìn lại toàn bộ thơ
Quang Hoài, chúng ta còn thấy thú vị vì có nhiều khái niệm thường vẫn như đối
chọi và khác biệt nhau rất xa, nhưng dưới bàn tay của tác giả, chúng lại vẫn có
thể kết hợp được hài hoà và nhuần nhuyễn bên nhau, đơn cử như các khái niệm: điềm
tĩnh và phóng túng; trữ tình và hài hước; bộc trực mà triết lý; hồn nhiên mà
sâu xa; thiết thực mà bao quát; v. v… Và cùng với những bài thơ hay, Quang Hoài
còn có cách cấu tứ độc đáo, thể hiện ngay trong cách tìm đặt đầu đề thơ của
anh.
Chúng ta không bất ngờ
khi bắt gặp hàng loạt bài thơ có đầu đề độc đáo của tác giả, dẫn tới cách dắt dẫn
tứ thơ trong từng bài cũng độc đáo và tạo nên phong cách riêng, ví dụ các
bài: Thư viết cho con từ hầm chốt; Linh hồn bán có ai mua; Lời yêu rượu đắng;
Kiếp này ta chửa thương ta; Em nguyệt thực và anh nhật thực; Người yêu mình vợ
người ta; Ghé hàng em bán quan tài; Vai diễn đời tôi; Trên ngai thời gian; Một
chiều chưa tới hoàng hôn; Khi ra ngoài vỏ bọc; v.v…
Quang Hoài cũng có nhiều
bài thơ viết về các văn nhân, nghệ sĩ của nhiều thời. Anh thương cảm cái cốt
cách “Chân quê” của nông thôn Việt Nam như trong thơ Nguyễn Bính từ những năm
30 – 40 của thế kỷ trước và mong nó sẽ còn lại mãi với thời gian, dù xã hội đã
sang thời hội nhập. Anh có cả những bài viết tràn đầy tâm sự, sẻ chia với Văn
Cao, với Nguyễn Khải, với những nhà thơ cùng lứa như Trúc Thông, và đặc biệt với
Dương Kiều Minh, anh đã có những câu thơ tâm sự nhói lòng, những câu thơ gan ruột
về thân phận phù du của kiếp con tằm rút ruột làm thơ, ngày Dương Kiều Minh vừa
qua đời. Có lẽ đây cũng là những câu thơ khóc bạn thành tâm và hay nhất của một
thế hệ thơ rất hiểu nhau:
“Hà Đông trưa nay nắng gắt/ Cơn
giông dùng dắng chiều nào/ Người đi như là chẳng thể/ Như là chẳng thể
chiêm bao!/ Vẫn biết trời xanh mây trắng/ Trời sao trắng vội tiễn
xanh?/ Vẫn biết thơ vừa sâu rễ/ Lá sao vội rụng đầu cành?/ Thế
là lá thành sương khói/ Thế là thơ cũng khói sương/ Còn đâu mà nhanh
mà chậm/ Trống không quán lá ven đường!/ Trống không quán lá bên cầu/ Gió
sông cầu Đen cầu Trắng/ Bao giờ còn nữa bên nhau/ Nhấp li nước chiều
khát đắng?/ Sông ơi! Đi đâu, về đâu?…”.
Hình ảnh “Trống không
quán lá” (cũng là đầu đề của bài thơ khóc Dương Kiều Minh), như vận vào thân phận
của các thi nhân nhiều thời, thực sự mang đầy tính biểu tượng cay đắng và xót
xa.
Hơn 20 năm Thơ của Quang
Hoài xứng đáng cần có một sự tổng kết công phu và hệ thống. Tôi thực sự ngợp
trước tập “Thơ Quang Hoài tuyển chọn” rất dày dặn, lớn lao và phong phú của
anh, không chỉ vì số trang hay số bài, mà vì những cảm xúc và suy tưởng tràn ngập
tình yêu đời, yêu con người trong đó, mở ra một lối bồi bổ tâm hồn và dung dưỡng
tinh thần cho con người vươn lên tầm vóc một chủ nghĩa nhân văn thiêng liêng và
cao cả. Xin được chia vui và chúc mừng thành tựu của anh.
Hà Nội, 7/3/2024
Bằng Việt
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét