“Văn học – thế giới mở”
và những gương mặt của nhà phê bình
Là nhà giáo – nhà nghiên
cứu, PGS.TS. Nguyễn Thành Thi đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu văn học
và giáo dục học bộ môn có giá trị. Bên cạnh các chuyên luận, tiểu luận phê bình
văn học, ông cũng viết khá nhiều tài liệu bồi dưỡng, tập huấn giáo viên, tham
gia biên soạn sách sách giáo khoa, sách tham khảo cho giáo viên và học sinh
trong các đợt thay sách, đổi mới chương trình giáo dục môn Ngữ văn ở trường phổ
thông. Với hơn bốn mươi năm nghiên cứu và giảng dạy văn học, cùng với các đồng
nghiệp, ông đã có những đóng góp đáng ghi nhận cho ngành giáo dục và khoa
nghiên cứu văn học nước nhà.
Ông sinh ra trên quê
hương Diễn Châu xứ Nghệ – vùng đất có bề dày “văn hiến, nhân kiệt địa linh,
nhân tài đời đời bối xuất” mà ở đó, mỗi khi nói tới Diễn Châu mấy ai không nhắc
nhớ “Nhà Thánh (làng Vân Tập, xã Minh Châu) thờ những bậc Tiên Thánh, Tiên Sư
nhằm động viên khích lệ việc học hành thi cử; gìn giữ truyền thống Tôn sư trọng
đạo, lề thói thuần phong, mỹ tục”. Và, hẳn nhiên, Nguyễn Thành Thi đã bẩm thụ
khí chất chốn quê nhà, nơi chôn nhau cắt rún của ông. Sau khi tốt nghiệp Đại học
Sư phạm Huế năm 1979,
Nguyễn Thành Thi có vài
chục năm gắn bó với miền thùy dương cát trắng Nha Trang. Vừa dạy học, vừa
nghiên cứu, ông là đồng soạn giả, đồng tác giả một số công trình đáng chú ý gắn
với đời sống văn hóa giáo dục ở địa phương như: Vấn đề chuẩn chính tả đối
với học sinh lớp 4,5 Phú Khánh (chủ nhiệm đề tài, 1985); Truyện
cổ Phú Khánh (đồng sưu tầm, biên soạn, 1986); Khánh Hòa, diện
mạo Văn hóa một vùng đất (đồng tác giả,1998); Văn hóa phi vật
thể Khánh Hòa (đồng tác giả, 1999)… Mặt khác, ông cũng thường có bài
đăng trên một số tạp chí, nguyệt san, bán nguyệt san như Kiến thức ngày nay, Thế
giới mới, Văn hóa và đời sống, Văn nghệ Nha Trang,…
Năm 2000, sau khi hoàn
thành luận án tiến sĩ về sự nghiệp văn học của nhà văn Thạch Lam, ông chuyển về
giảng dạy, nghiên cứu văn học tại khoa Ngữ văn Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh. Thời
gian này, ông quan tâm nhiều đến lý thuyết và lịch sử văn học, dành nhiều tâm
huyết nghiên cứu chuyên sâu về văn học cận hiện đại/ hiện đại, đặc biệt là văn
học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Trong số các công trình
nghiên cứu của ông những năm gần đây, theo chúng tôi, rất đáng lưu ý là tập tiểu
luận, phê bình Văn học – thế giới mở. Đây là tập sách do Nhà xuất bản
Trẻ TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 2010. Văn học – thế giới mở, như cái
tên của nó, không chỉ mang lại cho độc giả những kết quả nghiên cứu cụ thể mà
quan trọng hơn, còn mang lại một quan niệm và hướng tiếp cận các hiện tượng văn
học một cách hiện đại và đầy chủ kiến. Do vậy, khi lật mở dần từng trang viết,
chân dung của tác giả tập sách hiện dần lên trong tâm người đọc. Chân dung ấy
dường như đã hội tụ được nét thông thái của nhà phê bình, nét mực thước của nhà
sư phạm, nét tinh tế, tài hoa của nhà nghệ sĩ,… Theo đó, vẫn là cái nhìn của một
chủ thể, nhưng cái “thế giới mở” trong văn học mà tập sách mang lại cho người đọc
là sự kết hợp cái nhìn từ nhiều phía: phía nhà phê bình, phía nhà sư phạm và cả
phía nhà nghệ sĩ.
1. Thế giới văn học mở từ
góc nhìn nhà nghiên cứu
Với cái nhìn của nhà
nghiên cứu, Nguyễn Thành Thi không nhìn các sự kiện văn học ở bề mặt mà có khát
vọng đi sâu vào bản thể, tìm kiếm quy luật vận động lịch sử văn học. Tức là đi
vào vấn đề mang tính cốt lõi, nguyên lý. Đó là cái nhìn khái quát hóa, trừu tượng
hóa, luận lý hóa của nhà nghiên cứu khi đứng trước một đối tượng “mở” – tức đối
tượng đang trong trạng thái vận động mà xu hướng vận động của nền văn học quốc
ngữ Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nay là một biểu hiện cụ thể, sinh động.
Từ thực tế cụ thể sinh động ấy, ông xác lập cách tiếp cận lịch sử văn học theo
dạng thức “lược đồ” trên nền tảng lý thuyết về thể loại và tương tác thể loại của
M. Bakhtin:
“Việc phác thảo và nghiên
cứu theo “lược đồ” văn học – nhìn từ quá trình vận động, tương tác thể loại là
cách tiếp cận có triển vọng. Xuất phát từ bản thể của văn học nhà nghiên cứu sẽ
đến gần hơn và nắm bắt đúng hơn những sự kiện thuộc về bản thể của lịch sử văn
học. Nhưng cách tiếp cận này thực sự chỉ có ý nghĩa khoa học khi việc xem xét
quá trình hình thành và tương tác thể loại không tách rời các nhân tố “siêu thể
loại” từ bối cảnh văn học như nền tảng văn hóa truyền thống, tiềm năng của văn
học dân tộc, giao lưu văn hóa và vay mượn hình thức từ bên ngoài, tâm thế thời
đại, nhu cầu thực tế về đổi mới tư tưởng và kĩ thuật thể loại của đời sống văn
học đương đại,… Đó là các nhân tố nằm bên ngoài hệ thống thể loại nhưng có ý
nghĩa quyết định, chi phối chiều hướng và kết quả của quá trình tương tác thể
loại” ([1]: tr.44).
Cách viết của PGS.TS.
Nguyễn Thành Thi khiến độc giả nhận thấy ông hầu như không quá “mất sức” vào việc
phác thảo một bối cảnh hay một khung lý thuyết nào, nhưng mọi diễn giải liên
quan đến quy luật vận động nội tại của văn học vẫn bảo đảm một chiều sâu lý
thuyết. Các trang viết không trực tiếp trình bày lý thuyết, song, thông qua việc
phân tích, lý giải về các sự kiện/ hiện tượng văn học cụ thể, những vấn đề lý
thuyết tự nó hiện lên, độc giả không cần nghe giảng giải lý thuyết mà vẫn cảm
thấy tin tưởng về nền tảng lý thuyết đang được vận dụng. Cũng nhờ thế, những
trang trình bày kết quả nghiên cứu của ông ít khi phải bày biện thuật ngữ, khái
niệm lý thuyết. Ở đây nhiều vấn đề sâu sắc, hiện đại đã được truyền tải một
cách nhẹ nhàng, giản dị, gần gũi và thân thiện. Đó là nhờ khả năng phân tích,
minh hoạ giàu sức thuyết phục của tác giả công trình.
Dưới góc nhìn hệ thống của
nhà nghiên cứu, việc phân kỳ lịch sử văn học quốc ngữ Việt Nam – một trong những
vấn đề phức tạp, dễ gây tranh cãi – được tác giả Văn học – thế giới mở đề xuất
phương án điều chỉnh bổ sung. Bên cạnh những cách phân kỳ truyền thống, như
phân kỳ theo các dấu mốc lịch sử xã hội, hay phân kỳ theo sự tiếp nối của các
trào lưu, trường phái,… cách phân kỳ theo quá trình vận động, tương tác qua lại
giữa các thể loại của nền văn học là rất đáng tham khảo. Ông đề xuất: “Từ góc
nhìn thể loại và tương tác thể loại, việc phân kỳ văn học quốc ngữ Việt Nam, phải
được xem xét, điều chỉnh lại. Chẳng hạn, từ góc độ này, không thể xác lập những
chặng đường văn học quen thuộc gần như trùng khít với lịch sử chính trị xã hội
(1900/đầu thế kỷ XX – 1930; 1930-1945; 1945-1975; và sau 1975) mà là sự phân kỳ
xuất phát từ lịch sử thể loại, theo quá trình hình thành và tương tác thể loại”
([1]: tr.44-45). Đó là một góc nhìn lịch sử văn học có tính phản
biện và cảnh tỉnh. Nó có thể tránh cho nhà nghiên cứu trượt theo những đường lối
cũ, quá yên tâm và bằng lòng với những kết quả đã công bố vốn được xem như là
những chân lý mặc nhiên trong hiện tại và quá khứ.
Riêng về vấn đề sự vận động
của văn học theo quá trình tương tác thể loại, tác giả Văn học – thế giới mở
khi cần, cũng chú trọng đúng mức đến vấn đề xác lập nội hàm khái niệm lý thuyết
cơ bản. Chẳng hạn, tương tác thể loại là một khái niệm mới và không dễ diễn giải,
tác giả vẫn đưa ra được định nghĩa khái quát và dễ hiểu: “Tương tác thể loại –
có thể hiểu bao quát hơn – là hiện tượng hai hay nhiều thể loại của một giai đoạn,
một thời kỳ, một nền văn học, thuộc về một hay nhiều hệ thống thể loại, tác động,
ảnh hưởng lẫn nhau, xâm nhập lẫn nhau, mô phỏng nhau,… để cùng biến đổi hoặc
hình thành thể loại mới (với một cấu trúc ít nhiều thay đổi về tố chất thẩm mỹ chủ đạo”, “giọng điệu”, “dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm”) và “Sự
tương tác thể loại có thể diễn ra trên các loại quan hệ khác nhau (giữa loại với
loại, thể với loại, thể với thể, yếu tố với yếu tố)”” ([1]: tr.49).
Cách xác lập khái niệm như thế không chỉ gãy gọn, thuyết phục đối với độc giả
thuộc giới chuyên môn mà còn dung dị, dễ hiểu đối với độc giả là người đọc phổ
thông.
Như tên gọi tập sách đã
chỉ ra, quan niệm và góc tiếp cận của tác giả công trình là mới mẻ và cởi mở.
Quan niệm và góc tiếp cận “mở” này đã tạo cơ hội giúp tác giả làm rõ thực trạng
văn học quốc ngữ Việt Nam, đồng thời nêu lên một số vấn đề còn tồn đọng, những
thành tựu cần phát huy và dự báo đương hướng tương lai,… Nói khác, tính chất “mở”
này cũng gói ghém kỳ vọng của ông đối với sự vận động phát triển văn học nước
nhà nói chung. Bởi, khi bàn tới tính mở, ông động chạm đến hầu hết các thành tố
hữu quan của một thời kỳ văn học như đời sống văn học, chủ thể sáng tạo, bức
tranh thể loại, những kết tinh từ tác phẩm, công chúng văn học và bối cảnh tiếp
nhận, v.v. Đặt vấn đề đa dạng hóa góc nhìn văn học theo tinh thần mở, cũng là một
cách tác giả thể hiện niềm mong mỏi của nhà nghiên cứu, không chỉ nhận diện, mô
tả bức tranh văn học hay tình hình nghiên cứu văn học hiện thời mà còn góp một
tiếng nói thúc đẩy vận động phát triển nền văn học dân tộc; khích lệ ý thức
trách nhiệm của cả lực lượng sáng tác và giới nghiên cứu phê bình. Với niềm tin
vào quy luật vận động nội tại của văn học, ông cho rằng: “Khi một nền văn học,
một sự nghiệp văn học, một thể loại văn học,… không ngừng vận động, biến đổi,
không ngừng tự làm mới, làm giàu; khi nhà văn ý thức cao về nghề, về cá tính
sáng tạo của mình; và, khi độc giả ý thức đầy đủ về chủ kiến của mình trong tiếp
nhận văn học; … đó là những khi văn học mang đầy đủ nhất và có cơ hội phát huy
cao nhất tính chất “mở” của nó” ([1]: tr.5). Tính chất “mở”
cũng cho thấy yêu cầu cập nhật và cái nhín “động” ở nhà nghiên cứu. Ông không bằng
lòng với hiểu biết hiện tại, ông luôn khao khát mở rộng, tự vượt qua chính quan
niệm của mình – tự vượt qua mình để làm mới chính mình! Theo dõi những bước đường
nghiên cứu giảng dạy văn học của nhà nghiên cứu – nhà giáo Nguyễn Thành Thi có
thể thấy phạm vi, đối tượng nghiên cứu của ông ngày một thêm mở rộng và chuyên
sâu các bài viết công trình nghiên cứu của ông sau Văn học – thế giới mở: từ
văn chương của Tự lực văn đoàn đến văn học học quốc ngữ trước 1945; từ văn xuôi
quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ đến văn học đương đại Việt Nam, văn học Nam Bộ đương
đại; từ tác giả Thạch Lam mà ông yêu thích đến hàng loạt tác gả như Nguyễn
Chánh Sắt, Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn
Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Dần, Trần Bảo Định,…; từ vấn đề
về phong cách nghệ thuật, tâm lý – cá tính sáng tạo đến vấn đề văn học đại
chúng hóa, các vấn đề về diễn ngôn tự sự, diễn ngôn chấn thương, diễn ngôn sinh
thái, diễn ngôn trần thuật “nguồn”; từ thể loại đến tương tác thể loại; từ giáo
trình chuyên đề đại học, sau đại học đến sách giáo khoa ngữ văn cho học sinh phổ
thông trong những năm gần đây.
Tinh thần cởi mở trong
nghiên cứu của ông còn thể hiện ở chỗ sẵn sàng tiếp nhận cái mới, cũng như những
ý kiến trái chiều. Đó là, tinh thần của nhà khoa học tôn trọng sự thật. “Bước
vào Thế giới mở, dĩ nhiên không ai có quyền nhân danh bất cứ thế lực nào để đòi
độc quyền xác lập chân lý, và đòi phát biểu lời tối hậu. Tuy nhiên, trong
nghiên cứu phê bình văn học, phàm là tiếng nói có giá trị (hoặc ít ra, có ấn tượng),
phải là tiếng nói có chủ kiến, mang tính quan niệm và tính chủ thể cao” ([1]: tr.6).
Chân lý không độc quyền. Thế nên trước chân lý, mọi người đều bình đẳng. Nhà
nghiên cứu do đó có thể mạnh dạn đưa ra chủ kiến (dựa trên lập luận và khảo cứu
nhiệt thành). Đáng nói, tác giả Nguyễn Thành Thi đặc biệt coi trọng chủ kiến của
nhà nghiên cứu trên trang viết. Đó là, ý thức trách nhiệm của nhà cầm bút chân
chính. Phàm khi viết, tức là thẳng thắn với đối tượng, mà trước hết, đã tự thẳng
thắn với chính bản thân mình. Nhà nghiên cứu trước khi phóng tầm nhìn đến đối
tượng cũng chính là phóng cái nhìn trở lại chính mình. Và, công việc phê bình
văn học, cơ hồ, trở thành con đường tự tìm kiếm chính mình. Trên con đường tìm
kiếm chính mình và minh định đối tượng, nhà nghiên cứu đã tương phùng tất cả mọi
người.
Văn học – thế giới mở trải
rộng từ bình diện lịch sử văn học, đến tâm lý sáng tạo và văn bản tác phẩm, cho
thấy khả năng nhìn và đặt vấn đề với tầm bao quát rộng rãi. Tập sách cho thấy
có sự kết hợp giữa tầm nhìn rộng với ý thức tiên phong và tinh thần phản biện
tinh tế. Sự cởi mở của tập sách này còn thể hiện ở chỗ, nhà nghiên cứu gợi ra
thêm nhiều hướng nghiên cứu khả dĩ đóng góp/ bổ khuyết cho phần còn trống trong
bức tranh nghiên cứu phê bình nói chung. Cho nên tinh thần phản biện gắn liền với
sự gợi mở vấn đề và hướng nghiên cứu khả thi. Chẳng hạn, ông gợi mở:
“Từ góc nhìn thể loại và
tương tác thể loại, dễ dàng nhận thấy còn khá nhiều khoảng trống cần tiếp tục
nghiên cứu kĩ để hoàn chỉnh bức tranh miêu tả lịch sử văn học quốc ngữ Việt
Nam, như nghiên cứu từng thể loại và tương tác thể loại trong từng giai đoạn,
tương tác biến đổi của từng thể loại, tương tác thể loại trong sáng tác của từng
tác giả, nhóm tác giả (trường phái), nghiên cứu tính đứt đoạn và liên tục của sự
hình thành và phát triển thể loại, thể tài văn học. Chẳng hạn: văn học quốc ngữ
(bộ phận công khai hợp pháp) ở phía Nam “giới tuyến” (1954-1975) có phải là một
sự tiếp tục văn học Việt Nam 1932-1945 hay không? Chủ nghĩa thực dân và hậu thực
dân đã tác động đến văn học nói chung, tác động đến sự hình thành, tương tác thể
loại như thế nào? Đâu là sự tiếp nối, đâu là những biến đổi thể loại (nếu có)?
Tương tác thể loại đã có ý nghĩa thế nào trong việc phát triển các thể thơ và
các loại hình câu thơ, hay việc đổi mới trần thuật trong truyện kí hiện đại?
Vai trò “thống soái” của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam đã bộc lộ như thế nào
trong quá trình tương tác thể loại? v.v…” ([1]: tr.45-46).
Người đọc nhiều khi cảm
thấy thích thú trong cách lý giải thả đáng một số hiện tượng lạ trong thực tiễn
sáng tạo của nhà văn, nhà thơ. Chẳng hạn, ông phát hiện và chỉ ra hiện tượng
thú vị của thơ ca tiếng Việt qua bài thơ Nhạc của Bích Khê: một
bài thơ lạ lùng với hàng loạt “cách đọc”, vượt xa cả lối thơ “thuận nghịch độc”
truyền thống. Ông viết: “Cơ sở của việc tạo nhiều cách đọc: (đặc điểm loại hình
của tiếng Việt; đặc điểm cách tạo tác hình ảnh và kết cấu “lỏng” của thơ tượng
trưng, siêu thực; những phẩm chất đặc thù của bài thơ). a/ Tính đơn âm (phân tiết
tính), tính tiềm tàng về nghĩa của tiếng (âm tiết) trong đặc điểm loại hình của
tiếng Việt. Đây cũng là cơ sở của thơ “thuận nghịch độc” hay thơ nhiều cách đọc
trong văn học Trung đại. b/ Tính “hỗn độn”, “bất ngờ” trong kết cấu lơi, “lỏng”
một cách đầy dụng ý nghệ thuật của thơ tượng trưng, siêu thực. c/ Đặc điểm “lắp
ghép” của hình ảnh tượng trưng siêu thực, một nguyên tắc mĩ học mà hình ảnh được
xây dựng trên liên tưởng làm cho “xáp lại gần nhau” hai đối tượng xa nhau nhiều
hoặc ít” ([1]:tr.183). Từ một vấn đề hầu như rất nhỏ, ít ai để ý,
nhà nghiên cứu có khả năng khái quát một vấn đề rộng lớn và sâu sắc vừa liên
quan đến đặc trưng loại hình của tiếng Việt vừa liên quan đến tư duy của nhà
thơ tượng trưng. Trang viết của Nguyễn Thành Thi thường mang lại cái nhìn có
tính phát hiện, và khả năng khái quát vấn đề, cắt nghĩa hiện tượng giản dị,
sáng rõ như thế.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu,
sự vận dụng khái niệm liên ngành một cách đích đáng, chừng mực là rất quan trọng.
Nếu bạn để ý, có thể thấy thể thức nghiên cứu khá phổ biến hiện nay: nhà nghiên
cứu thường lệ thuộc vào khung lý thuyết để xác định và phân tích đối tương. Việc
này ít nhiều dẫn đến khiêng cưỡng. Tuy nhiên, ngay từ đầu, Nguyễn Thành Thi đã
dựa trên thực tiễn để điều chỉnh “hệ quy chiếu”. Do vậy, khi nghiên cứu văn
xuôi Nguyễn Huy Thiệp dưới góc nhìn chủ nghĩa hiện sinh, ông không đưa nhà văn
này vào quỹ đạo của chủ nghĩa hiện sinh. “Thực ra, trong sáng tác, ảnh hưởng và
việc tiếp thu ảnh hưởng của một tư tưởng, một trào lưu triết học, thường mang
tính tổng hợp, lại thường không được phát biểu một cách hiển ngôn, mà bộc lộ đầy
ẩn ý bằng hình tượng nghệ thuật. […] Theo tìm hiểu của chúng tôi, âm hưởng hiện
sinh trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất gần gũi với chủ nghĩa hiện sinh vô
thần” ([1]: tr.197). Nguyễn Thành Thi giữ được mức “trung đạo”,
ông không quá đà trong việc nhìn nhận (dẫu từ phía thực tiễn hay khung lý thuyết).
Có lẽ vì thế, ông sử dụng khái niệm “âm hưởng hiện sinh”/ “ám ảnh hiện sinh”
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Vốn dĩ, văn là đời, hay “văn học là nhân học”
(M.Gorky) thì “văn” với ý nghĩa rộng rãi nhất của nó chẳng phải đã ẩn chứa ý niệm
hiện sinh thuyết rồi hay sao? Và, nếu cố kết đối tượng vào chủ nghĩa hiện sinh
như trào lưu triết học ở Pháp hồi giữa thế kỷ XX, e rằng có thể khập khiễng. Bởi
những quan niệm cơ bản của thuyết hiện sinh vốn đã bàng bạc trong nhiều tư tưởng
học thuyết cổ kim. Đến thời kỳ đổi mới, việc du nhập các hệ thống triết học
khác nhau có lẽ giúp giới nghiên cứu Việt Nam nhận ra những hạn chế trong góc
nhìn của thời kỳ trước đó. Bởi có một thời, hiện sinh trở thành “mode” thời thượng,
trở thành vấn đề rôm rả từ đầu đường ngoài ngõ cho tới buồng the. Mà trên thực
tế và trong thực chất lại sa vào tình trạng “vàng thau lẫn lộn”! Sự đúng mực của
PGS.TS. Nguyễn Thành Thi trong trường hợp này, cũng như của nhiều nhà nghiên cứu
khác gần đây cho thấy sự tái nhận thức đối với chủ nghĩa hiện sinh và sự hiện
diện của nó ở Việt Nam, giúp định vị một cách xác đáng hơn dấu ấn của chủ nghĩa
hiện sinh trong văn chương hiện đại Việt Nam.
Nhìn chung, cách đề xuất
luận điểm khoa học trong những trang viết của tác giả Văn học – thế giới mở cho
thấy sự chuẩn mực trong tác phong, vững vàng trong lập luận, sáng rõ trong tư
duy nghiên cứu. Không hay tham gia vào những vấn đề nghiên cứu có tính chất “thời
thượng”, dường như nhà nghiên cứu này có khuynh hướng xây dựng các công trình
nghiên cứu mang ích lợi lâu dài, vượt qua tính thời sự cấp thời, song vẫn luôn
giàu tính thực tiễn.
2. Thế giới văn học mở từ
góc nhìn nhà sư phạm
Từ tập sách Văn học
– Thế giới mở, nếu bạn đọc để tâm có thể nhận ra sự nghiệp nghiên cứu của
tác giả Nguyễn Thành Thi, về cơ bản, thuộc về ba địa hạt chính: 1) các công
trình nghiên cứu văn học; 2) các công trình nghiên cứu phương pháp dạy-học ngữ
văn trong nhà trường và 3) sách giáo khoa (SGK) và một vài lãnh vực nghiên cứu ứng
dụng khác. Trong đó, số lượng công trình về phương pháp dạy-học ngữ văn và SGK
chiếm số lượng rất lớn[*]. Được biết tác giả Văn học – Thế giới mở đã ba lần
tham gia biên soạn SGK. SGK thí điểm theo chương trình phân ban trước năm 2006,
SGK hiện hành, viết theo chương trình cải cách giáo dục năm 2006, và, SGK viết
theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, ban hành năm 2018. Nhưng, nếu
hai lần trước ông tham gia với tư cách tác giả thì lần này, ông được NXB Giáo dục
Việt Nam mời làm chủ biên bộ sách Chân trời sáng tạo. Theo Chương
trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, nội dung và phương pháp dạy học môn
Ngữ văn có một thay đổi lớn: dựa trên hệ thống văn bản tiêu biểu về thể loại,
tích hợp dạy văn với ngữ, tích hợp phát triển các kĩ năng đọc hiểu văn bản theo
thể loại với thực hành tiếng Việt, tích hợp các kĩ năng đọc – viết – nói và
nghe. Văn học – Thế giới mở ấn hành năm 2010 trên thực tế là kết quả chuẩn bị từ
nhiều năm trước. Đáng lưu ý rằng, đây là công trình tiếp cận văn học từ phương
diện thể loại. Chương trình môn ngữ văn 2018 cũng chủ trương dạy đọc hiểu văn bản
theo thể loại. Phải chăng nhà nghiên cứu – nhà giáo Nguyễn Thành Thi đã có sự kết
nối từ trước giữa công trình nghiên cứu của ông với công việc thiết kế, biên soạn
SGK Ngữ văn mà ông đang đảm nhiệm hiện nay? Những ai từng giảng dạy Ngữ văn ở
trường phổ thông đều thấy rõ, nhiều bài viết trong Văn học – Thế giới mở nhất
là ở phần cuối của tập sách đều là những bài viết về tác phẩm được tuyển chọn để
dạy – học trong nhà trường. Không khó để nhận ra tác giả Văn học – Thế
giới mở không chỉ viết từ tâm thế, tư duy của nhà nghiên cứu mà còn viết
từ tâm thế, tư duy của nhà sư phạm. Như thế, với cương vị nhà giáo, PGS.TS.
Nguyễn Thành Thi đã góp phần thiết thực vào việc đổi mới nội dung phương pháp dạy
và học ngữ văn ở nước ta hiện nay.
Nhiều năm giảng dạy, gắn
bó với mái trường và người học ở bậc phổ thông và đại học, PGS.TS. Nguyễn Thành
Thi hẳn đã nhìn thấy được nhu cầu và đặc điểm tiếp nhận của đối tượng học sinh,
sinh viên. Có lẽ vậy, tuy Văn học – Thế giới mở không phải là
một giáo trình đại học, nhưng cũng là tài liệu học tập tham khảo hữu ích đối với
sinh viên ngữ. Trong cách trình bày trang viết, dường như ông cũng có ý cân nhắc
sắp xếp sao cho phù hợp với người học và bạn đọc là sinh viên ở bước khởi đầu
tìm hiểu văn học quốc ngữ Việt Nam. Trang viết của ông giúp học sinh, sinh viên
và bạn đọc trẻ nói chung dễ dàng hệ thống hóa, hình dung mạch lạc, trật tự chặt
chẽ về quá trình vận động của văn học quốc ngữ dân tộc. Có những trang những đoạn
được viết như một sự tổng hợp, thâu tóm sáng rõ, khúc chiết: “… Theo đó, ta sẽ
có một bản “lược đồ” văn học – nhìn từ quá trình hình thành và tương tác thể loại
– gồm hai thời kỳ và bốn giai đoạn chính: Thời kỳ thứ nhất: Văn học quốc ngữ
“hiện đại hóa” trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông-Tây (nửa cuối thế kỷ XIX đến
1945) [ ….] Thời kỳ thứ hai: Văn học quốc ngữ “hiện đại hóa” trong và sau “chiến
tranh…” (từ 1946 đến nay)” ([1]: tr.45). Những tri thức cơ bản,
nền tảng về lý thuyết và lịch sử văn học thường được trình bày mạch lạc, lập luận
thận trọng, dẫn liệu tin cậy. Đó cũng chính là biểu hiện của tính khoa học và
sư phạm trong công trình.
Cũng chính vì mang tâm thế
nhà sư phạm nên trang nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Thành Thi đầy đủ tính mô phạm.
Đặc trưng này biểu thị ở cấu trúc tập sách. “Phần dầu gồm các bài viết mang
tính khái quát theo hướng tiếp cận lịch sử văn học quốc ngữ Việt Nam từ quá
trình hình thành và tương tác thể loại, cùng các sự kiện, hiện tượng văn học
như là những hệ quả mang dấu ấn của quá trình này. Phần giữa gồm các bài viết về
một số tác giả văn học quốc ngữ Việt Nam hiện đại, chủ yếu xoay quanh vấn đề ý
thức về nghề và về cá tính như là một động lực của niềm khát khao và thực hành
sáng tạo của nhà văn. Phần cuối gồm một số lời bình tác phẩm (hoặc trích đoạn
tác phẩm) văn học quốc ngữ Việt Nam chọn lọc quen thuộc với công chúng, nhất là
công chúng học đường (chủ yếu là các tác phẩm từng được đưa vào chương trình Ngữ
văn ở trường trung học phổ thông)” ([1]:tr.5-6). Khuynh hướng mô phạm
và sự quan tâm đến đối tượng độc giả trong nhà trường, giúp tập sách đáp ứng trực
tiếp yêu cầu học tập của các thầy cô giáo trẻ và học sinh trung học.
Là một người thầy từng trực
tiếp giảng dạy ở nhiều bậc học khác nhau, PGS.TS. Nguyễn Thành Thi đã góp phần
đào tạo nhiều thế hệ người học, từ các cử nhân văn học, đến các thạc sĩ, tiến
sĩ. Nhà sư phạm bao giờ cũng quan tâm đến nội dung, mục đích, phương pháp giáo
dục. Dù bình luận về tác phẩm của bất kỳ ai, Thạch Lam, Nguyên Hồng, Vũ Trọng
Phụng, Bích Khê, Nguyễn Huy Thiệp, … ông đều xác định thành tựu, đóng góp của họ
với giọng văn nhiệt thành, trìu mến để truyền cảm hứng, giúp bạn đọc nhìn nhận
lại tâm thế của họ ở hiện tại. Chẳng hạn qua trường hợp “âm hưởng hiện
sinh”/“ám ảnh hiện sinh” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, nhà nghiên cứu
giúp độc giả nhận ra tiếng vọng thời đại và một sức sống mới đầy hứa hẹn. Một vấn
đề có lẽ không còn mới nữa (âm hưởng hiện sinh) nên nhà nghiên cứu gọi là lần
“vẫy gọi” thứ hai, ở lần này, ông nhận ra “giới nghệ sĩ, trí thức Việt Nam hơn
bao giờ hết cần đến những cơ sở lý luận triết mĩ để phân tích lý giải đời sống,
phát hiện động cơ tâm lý, cắt nghĩa hành vi, tính cách của con người trong đời
sống đương đại. Cũng hơn bao giờ hết, con người phải thường xuyên suy tư về sức
mạnh của đức tin về nguy hại của ngụy tín, về tự do, hạnh phúc cá nhân, và về
thân phận của mình” ([1]: tr.213). Ông không chỉ nhìn thấy đóng
góp của riêng Nguyễn Huy Thiệp mà còn nhìn nhận đóng góp của cả thế hệ nhà văn
thời đổi mới. Đúng như ông viết: “Đưa “những ray rứt hiện sinh” “trở lại bằng
con đường hình tượng”, ám ảnh hiện sinh trong truyện ngắn của anh thật rõ rệt,
sâu sắc, đầy sức ngân vọng. Sẽ không hề quá lời khi cho rằng: chính Nguyễn Huy
Thiệp (cùng thế hệ của anh) đã mang lại một sức sống mới cho chủ nghĩa hiện
sinh – một học thuyết tưởng như đã lỗi thời, già cỗi – trong văn học ở đất nước
này” ([1]: tr.214). Như vậy, vấn đề không phải “cũ” hay “mới”
mà ở khả năng làm mới/ tái tạo. Và trên hết, trong chừng mực nhất định, nhà
nghiên cứu vẫn có thể truyền cảm hứng cho bạn đọc học sinh, sinh viên, giúp họ
nhìn lại chính những “vấn nạn hiện sinh” trong cuộc sống bản thân, khiến họ suy
ngẫm.
Để phù hợp với nhiều đối
tượng bạn đọc, PGS.TS. Nguyễn Thành Thi lựa chọn cách viết uyển chuyển. Với đối
tượng bạn đọc trẻ, ông có khuynh hướng biến những vấn đề phức tạp thành ra đơn
giản, dung dị. Đây không phải là điều dễ dàng. Nhất là đối với những vấn đề
mang tính nguyên lý vận động lịch sử của một giai đoạn văn học. Bằng cái nhìn
sâu sắc, toàn diện, ông phân tích từng khía cạnh vấn đề thông qua cách trình
bày rất dễ nắm bắt. Hình thức liệt lê, gạch đầu dòng, kèm với cụm từ chỉ thứ tự,
… trong việc dẫn dắt, diễn giải rất phù hợp cho người đọc sơ khởi. Chẳng hạn
như khi ông phân tích sự tác động của thể loại tiểu thuyết đối với thể loại
truyện ngắn trong văn học quốc ngữ trước 1945, ông chỉ ra cụ thể: “Kĩ thuật di
chuyển điểm nhìn trần thuật; kĩ thuật phân tích tâm lý, độc thoại nội tâm; kĩ
thuật lắp ghép, lồng truyện, phân rã cốt truyện; kĩ thuật trì hoãn, tạo các khoảng
lặng, khoảng chùng; kĩ thuật liên kết chùm”([1]: tr.57). Đây
cũng là cách Nguyễn Thành Thi lý giải và giúp cho bạn đọc hiểu sâu sắc hơn tác
phẩm của Nguyễn Huy Tưởng – “Vĩnh biệt Cửu Trùng đài”. Không chỉ là mâu thuẫn
giai cấp bộc lộ ở bề mặt tác phẩm, mà ở bề sâu, nhà nghiên cứu đã giúp cho bạn
đọc nhận ra các vấn đề triết mỹ sâu sắc: “Tính đa nghĩa, thâm trầm, giàu sắc
thái triết mĩ của vở kịch liên quan nhiều đến các biểu tượng mà tác giả đã dụng
công tạo ra, hướng độc giả ít nhiều các suy tư về Tự do, Quyền lực, Sắc, Tài,
Tình, Nhân dân, Cái Thiện, Cái Ác, Cái Đẹp, … Trong đó hình tượng đa nghĩa mang
tính biểu tượng nghệ thuật cần phải nói đến trước tiên là Cửu Trùng Đài” ([1]: tr.219).
Từ tâm thế người thầy, góc nhìn và cách diễn giải của ông cũng hướng bạn đọc nhận
ra tính giáo dục của tác phẩm văn học. Tựu trung, sự diễn giải tác phẩm văn học
của ông (Lão Hạc – Nam Cao; Việc làng – Ngô Tất Tố; Tống Biệt Hành – Thâm Tâm;
Tây Tiến – Quang Dũng; …) đều hướng người đọc đến những điều tốt đẹp và đồng thời,
nhận ra chân giá trị muôn đời trong cuộc sống con người.
Trên cương vị người thầy,
PGS.TS. Nguyễn Thành Thi cũng như nhiều thầy cô đã góp phần giữ nền học chân
chính. Thời buổi “lộng giả thành chân” rất cần những “ông từ” giữ đền giáo dục
dám đối diện với “chiêu trò” “thơ thật”-“thơ giả” (như chính cách dùng từ của
Vũ Trọng Phụng đã sử dụng và thầy Nguyễn Thành Thi đã nhắc lại). Nhưng, là nhà
mô phạm, ông không giễu nhại kiểu như nhà văn họ Vũ. “Không chắc Vũ Trọng Phụng
đã giễu cợt các nhà lãng mạn; nhưng chắc chắn hơn là: chuyện hài của họ Vũ năm
xưa, đến bây giờ vẫn còn chưa hết … hài!” ([1]: tr.157). Ông thận
trọng, thắng thắn và cương kiện, không khoan nhượng với vấn đề “thật”-“giả”
trong làng chữ nghĩa. Qua Số đỏ, cơ hồ, nhà giáo Nguyễn Thành Thi
có ý nhắc đến những “người đương thời” chăng!
Điều này, gián tiếp cho
thấy tâm thế nhà nghiên cứu có lẽ đã nhìn thấy và thấy một cách rất thấm thía
những chuyện khôi hài trong làng chữ nghĩa. Trước đã tự nhắc mình rồi, sau nữa
có lẽ cũng nhắc người một cách tế nhị! Bởi, chuyện chữ nghĩa không phải chuyện
tán dóc nơi quán cà phê, nói rồi thôi! Chuyện khôi hài của làng chữ hẳn còn lưu
lại – thậm chí, có thể trở thành bản án chấm hết nghiệp chữ của một người; là vết
nhơ muôn đời không thể gột rửa! Ngay cả khi tấm thân đã vùi dưới lớp cỏ xanh.
Cho nên, ý thức của người cầm bút rất quan trọng vậy! Ý thức sâu sắc về trách
nhiệm chữ nghĩa, trách nhiệm thời đại ở mỗi thế hệ gánh vác, khiến người cầm
bút tránh ngã nghiêng trước các tác động nhất thời của đời sống.
3. Thế giới văn học mở từ
góc nhìn người nghệ sĩ
Đến với văn chương bằng tấm
lòng chân thật – dù với cương vị nhà nghiên cứu nghiêm nhặt hay nhà sư phạm chuẩn
mực – những trang viết của tác giả Nguyễn Thành Thi thường ẩn chứa một tâm hồn
nghệ sĩ, trọng sự học rất đặc trưng “người con Diễn Châu nặng tình chữ nghĩa”.
Mà, cũng phải thôi, bởi xứ sở của ông có truyền thống khoa bảng với những tên
tuổi còn lưu lại đời sau, như: Trại Trạng nguyên Bạch Liêu (làng Nguyễn Xá, nay
thuộc xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu), Tham đốc dũng nghĩa hầu Đại tướng quân Vũ
Trung Lương (làng Đông Xương, Diễn Mỹ), Quản lan hầu Đề đốc Vũ Phác Lược (con
trai cả của Vũ Trung Lương)…
Ngoài ra, có những dòng họ
nhiều người đỗ đạt, như: họ Ngô ở Lý Trai (Diễn Kỷ) liên tiếp 4 đời đỗ 5 tiến
sĩ, họ Đặng ở Nho Lâm (Diễn Thọ). họ Cao ở Tân Bình (Diễn Bình), họ Chu (Diễn
Trường – Diễn Tháp), họ Dương (Diễn Yên), họ Trần (Diễn Hạnh)… Ấy là, chưa kể đến
những đại khoa lưu danh, như: Chu Phúc Cổn, Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa, Đặng Văn
Thụy, Nguyễn Xuân Ôn, Cao Xuân Dục… Đã vậy, nơi PGS.TS. Nguyễn Thành Thi “chôn
nhau cắt rún” lại là nơi được thiên nhiên ưu ái tạo thành danh lam thắng cảnh –
người đời gọi tên “Đông Yên Nhị Châu” -– Trong tám cảnh đẹp, Diễn Châu sở hữu
sáu, đó là: Dạ Sơn linh tích (Dấu thiêng núi Mộ Dạ), Cao Xá long cương (Gò rồng
Cao Xá), Bùng Giang thu nguyệt (Trăng thu trên sông Bùng), Bích Hải quy phàm
(Cánh buồm về cửa Bích), Thiên uy thiết cảng (Kênh sắt oai trời), Diễn Thành thạch
bảo (Thánh đá phủ Diễn Châu). Dông dài vậy, nhằm hiểu sâu thêm về linh khí của
vùng đất hun đúc nên một con người tận tụy với nghề giáo mang trái tim nghệ sĩ.
Quả thật, từ góc nhìn của
người nghệ sĩ, điều sống còn của văn học nghệ thuật nói chung, là vấn đề thẩm
mĩ: cái đẹp, thẩm về cái đẹp. Và cái đẹp, nhà nghiên cứu Nguyễn Thành Thi hướng
tới trong cuộc truy tầm chính là vẻ đẹp đa trị/ đa nguyên. Có lẽ đây cũng là một
trong số nhiều lý do khiến cho tập sách này có tựa đề “Văn học – Thế giới mở”.
“Sự đa dạng ấy trước hết là ở chỗ văn học chấp thuận nhiều vẻ đẹp: có cái đẹp đặc
tuyển – đa trị (như trong sáng tác của Nguyễn Tuân), có cái đẹp đời thường, phổ
thông – mà vẫn “đa trị” (kiểu cái đẹp bình dị trong văn chương Thạch Lam – cái
đẹp tiềm tàng khuất lấp, lệ thuộc ở chủ thể thưởng thức). Nhưng điều quan trọng
hơn là tính đa trị của các phạm trù thẩm mĩ trong một bảng pha màu tạo nên những
hệ giá trị mới. Ở đó có cái đẹp nhiều khi tự thóat ra khỏi cái thiện, cái đạo đức,
bởi nó không còn trùng khít, không đồng nhất với cái thiện, cái đạo đức”([1]: tr.119).
Nhà nghiên cứu phân biệt “loại hình” cái đẹp. Ngược lại, sự phân loại ấy biểu
thị một tâm hồn rộng mở với năng lực thẩm mỹ đa nguyên. Nói khác, tâm hồn người
nghệ sĩ vận động về phía đa nguyên hóa.
Với tâm thế chẳng khác
người trong cuộc, PGS.TS. Nguyễn Thành Thi đã ở trong cuộc tương phùng, tri âm
tri kỷ với văn nhân quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX. Đôi chỗ, ông vừa là người tri
âm tri kỷ, vừa như nhà khảo cổ khai quật để phát hiện giá trị mới, vừa như người
thầy thuốc “bắt mạch bốc thuốc” nhằm chỉ ra những tồn đọng cần khắc phục và hướng
nghiên cứu tiếp theo. Dẫu thế nào, điểm chung ở phần kết luận của các bài viết
đều được chuyển tải bằng giọng điệu hòa nhã, thân tình, trìu mến! Như một người
nghệ sĩ, ông đồng điệu, thấu hiểu nỗi lòng của văn nhân (có lẽ hiểu một cách cặn
kẽ nhất là Thạch Lam). Ông phân tích những khía cạnh nội dung, xoáy sâu vào cả
cách bố cục, trật tự sắp xếp, dụng ý trình bày của nhà văn Thạch Lam trong tập Hà
Nội 36 phố phường. “Hơn 20 mẩu, bài ngắn, tập hợp trong một cái tên
chung Hà Nội 36 phố phường là tập kí “xinh gọn” gồm: 2 bài nói
về không gian công cộng, 2 bài nói về chợ, không khí thương mại, còn bao nhiêu
nói về quà Hà Nội. Phần viết về quà cũng có một bố cục xinh xắn, gọn gàng: mở đầu
là “Quà Hà Nội”, kết: “Quà … tức là người”. Cái lối tổng-phân-hợp, hay diễn dịch
– quy nạp ở đây có cái ý vị riêng của nó” ([1]: tr.149). Ông thấu
hiểu Thạch Lam và sự nghiệp văn học, báo chí của nhà văn này đến mức có thể viết
cả cuốn sách về “Đặc trưng truyên ngắn Thạch Lam” về vẻ đẹp trong “phong cách
văn xuôi nghệ thuật Thạch Lam”. Ở Việt Nam, có lẽ Nguyễn Thành Thi là một trong
số ít người thấu hiểu Thạch Lam, dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu cặn kẽ và
tôn vinh một cách thấu đáo con người và văn chương Thạch Lam.
Với vị trí của người
trong cuộc, nhà nghiên cứu cơ hồ đồng nhất với bản thân chủ thể sáng tạo, cũng
tức là đặt mình ở cùng vị trí/ tâm thế của văn nhân, không phải để phán xét mà
để nói thay tiếng lòng của họ. Nói như vậy cũng tức là nhận thấy nhà nghiên cứu
Nguyễn Thành Thi đã đặt nhà văn Thạch Lam vào điểm nhìn nghiên cứu trong chính
“hệ quy chiếu” thời đại của Thạch Lam để nhìn nhận đóng góp và giá trị tác phẩm.
“Đặt sáng tác của Thạch Lam trong bức tranh toàn cảnh của văn xuôi lãng mạn nói
riêng, văn xuôi nghệ thuật quốc ngữ Việt Nam 1930-1945 nói chung, ta sẽ có một
cái nhìn bao quát và khách quan hơn về những gì mà Thạch Lam và thế hệ của ông
hằng nỗ lực tìm tòi sáng tạo. Trong các nỗ lực ấy, phải ghi nhận trước hết nỗ lực
đổi mới thẩm mĩ, tạo tác các giá trị thẩm mĩ mới, làm cho chúng ngày càng đa dạng
mới mẻ hơn trong văn học nước nhà. Những tìm tòi và đóng góp của Thạch Lam, như
vậy, không phải là cái gì cá biệt, đơn lẻ mà mang tinh thần, cảm quan mới, tinh
thần và cảm quan thế hệ” ([1]: tr.150). Có lẽ, Nguyễn Thành Thi
đã biểu kiến một cách tế nhị: Thạch Lam – một nhà văn tiên phong, vượt trước thời
đại.
Muốn “cảm” phải “đồng” và
ngược lại, nhiều khi bạn đọc thấy nhà nghiên cứu không còn trong tư thế vị quan
tòa mà trong tâm thế một người bạn tâm giao. “Giao” ở “tâm” nên nghe ra và nhìn
thấy những nỗi niềm về nghề, về đời của kẻ cầm bút. Phải chăng, dù nhà nghiên cứu
hay nhà văn, thảy đều là kẻ cầm bút. Mà một khi đã cầm bút, tức là cùng cảm nhận
một cách sâu sắc nỗi niềm thân phận của ngòi bút. Nhà nghiên cứu không tự đặt
mình cao hơn, cũng không đặt mình bên ngoài đối tượng để ngó nhìn “khách quan”.
Bởi rõ ràng, nghiên cứu cũng tức là xông pha vào chốn “trường văn trận bút”, chủ
thể sáng tạo đã nhập cuộc. Nhập cuộc mới nhập tâm, bấy giờ mới có thể tâm giao
làm thành tao ngộ! Nguyễn Thành Thi hẳn đã tao ngộ với nhiều văn nhân: Nam Cao,
Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Huy Thiệp, … và Nguyên Hồng. Có như vậy,
ông mới nhận ra “những làn gió độc” thổi từ xã hội, đã làm tha hóa chí Phèo, và
“những ngọn gió lành” đã níu kéo bản chất hiền lương trong con người Chí Phèo;
nhận ra cuộc theo đuổi “cái đẹp đặc tuyển” trong tác phẩm của Nguyễn Tuân, “cái
đẹp siêu đẳng” trong bi kịch của Nguyễn Huy Tưởng. Đặc biệt, nhận ra một cách
thật giản dị cái “cốt cách nhà văn Nguyên Hồng” “có thể thâu tóm trong mấy nét
nổi bật: 1. Hồn hậu, giàu lòng thương, đặc biệt nhạy cảm với nỗi khổ đau, bất hạnh
của những kiếp người cùng khổ; 2. Viết cũng như nói luôn sôi nổi, nồng nhiệt,
“chân thực và rung cảm”. Cốt cách ấy thể hiện rất nhất quán trong cả đời sống lẫn
văn chương của ông” ([1]: tr.158).
Chất nghệ sĩ còn thể hiện
ở sự đa dạng, linh hoạt ở lối viết và cách trình bày vấn đề. Trong Văn
học – Thế giới mở, nếu như ở phần đầu (Một góc nhìn văn học quốc ngữ Việt
Nam: vận động tương tác) thiên về cái nhìn khách quan của nhà nghiên cứu, khiến
bạn đọc có cảm giác nghiêm cẩn như đang dự cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học, thì
sang phần giữa (Một góc nhìn văn học quốc ngữ Việt Nam: ý thức về nghề và cá
tính sáng tạo) và phần cuối (Một góc nhìn tác phẩm: những trang văn chọn lọc),
tác giả tập sách lại khiến bạn đọc cảm nhận có cái gì đó thân tình, gần gũi và
thấm thía hơn, như thể đang cùng dự một cuộc trà thân tình bên bằng hữu chữ
nghĩa. Bởi chúng ta thấy để chia sẻ đôi lời ruột gan thì Nguyễn Thành Thi đang
cùng ngồi lại với Nguyên Hồng với Nam Cao với Nguyễn Huy Tưởng… Bấy giờ, ông
cho bạn đọc thấy trong trang viết Nguyên Hồng (cũng như nhiều văn sĩ khác) “những
người gánh chịu khổ nạn” hay những “nạn hữu”. Cũng nhờ đó, ông nhận ra sự trong
sáng, hồn nhiên trong văn chương của nhà văn Nguyên Hồng. Cũng như vậy, người đọc
cảm tưởng như ông đang ngồi cạnh Thạch Lam và Nguyên Hồng trong ‘quán văn’
trang giấy. “Thạch Lam, khi viết lời tựa cho tập Những ngày thơ ấu của
Nguyên Hồng đã cho rằng cuốn sách là kết quả của “những rung động cực điểm của
một linh hồn trẻ dại”. Có thể nói như thế về phần lớn những sáng tác của Nguyên
Hồng: Văn xuôi nghệ thuật của ông đúng là những rung động cực điểm của linh hồn
ông”. Ở đây, có một cái gì thật cao độ, mãnh liệt trong cảm xúc” ([1]: tr.162).
Quả thật, cách viết về các tác giả – “chủ thể sáng tạo” như vậy rất khác với
cách viết của ông trong phần trước đó, khi ông trình bày những vấn đề lý thuyết
và lịch sử văn học quốc ngữ. Cơ hồ, bên cạnh tâm thế nhà nghiên cứu, nhà sư phạm
vẫn có hình bóng một người nghệ sĩ yêu cái đẹp tha thiết trong ngòi bút của
ông.
Cũng phải nói thêm rằng,
cái đẹp mà Nguyễn Thành Thi hướng tới với tất cả niềm trân trọng từ trong tác
phẩm của hầu hết các nhà văn được đề cập trong tập sách không phải là cái đẹp
phục vụ cái đẹp, cái đẹp thuần tuý “vị nghệ thuật” mà là cái đẹp của tình
người, của nhân tâm. Cái đẹp ấy không quay lưng với nỗi khổ niềm đau trong cuộc
nhân sinh! Tình thương và cái đẹp hầu như đồng nhất với nhau. Theo đó, ông đã
viết về văn chương Nguyên Hồng: “Lật lại những trang hồi ức, những mẩu giai thoại
trên đây, ta càng thấy rõ hơn sự nhất quán ở con người – nhà văn Nguyên Hồng.
Con người Nguyên Hồng là thế, nên văn Nguyên Hồng tất phải thế. Nhà văn ấy đã
chắt lấy buồn vui trong lửa máu, nước mắt đau thương của bản thân và của người
đời mà vẽ chân dung tự họa của chính mình. Đó cũng chính là nước mắt và tấm
lòng nóng hổi đã lấp lánh suốt một đời văn” ([1]: tr.170). Hoặc cũng như vậy,
viết về hồn thơ Bích Khê: “Nhưng vượt lên trên số phận, bệnh tật của riêng
mình, Bích Khê đã viết nên những vần thơ huyết lệ, châu ngọc để nói thay cho
tình yêu, nỗi đau, niềm đam mê cái đẹp và đam mê sáng tạo của người nghệ sĩ” ([1]: tr.180).
Những nhận định phẩm bình như trên, rõ ràng không phải là lời bàn của một nhà
phê bình “mắt xếch” hay của kẻ cầm trong tay “cái roi phê bình” quyền uy, chực
“quất cho cho con ngựa sáng tác phải lồng lên”! Trái lại, đó là tấm lòng, là
tình thương và sự sẻ chia, thấu cảm, là những lời nồng ấm trìu mến, có sức xoa
dịu những cơn se sắt lạnh lẽo phận người. Phải tiềm ẩn bên trong cái tư chất của
nghệ sĩ, Nguyễn Thành Thi mới đưa vào được trong trang tiểu luận phê bình của
ông một tiếng nói mang hơi thở ấm áp như vậy.
Tạm kết:
Văn học – Thế giới mở của
tác giả Nguyễn Thành Thi, theo chúng tôi, là một tập sách sâu sắc, thú vị và hữu
ích. Thú vị hữu ích không phải chỉ ở chỗ công trình đã giúp độc giả hiểu đầy đủ,
sâu sắc hơn về một vài thời kỳ văn học cụ thể, hay đóng góp thẩm mĩ của một số
tác phẩm, tác giả cụ thể mà còn bởi nó mang lại một cách nhìn đa diện, một hướng
tiếp cận mới mẻ và không kém phần hiện đại.
Đó là một tập tiểu luận
phê bình chỉ hơn vài trăm trang, nhưng lại hội tụ ở đó một sự đa dạng trong lối
viết. Ở đó có cốt cách của một nhà nghiên cứu, cốt cách của một nhà sư phạm và
cả cốt cách của một nghệ sĩ! Hơn một thập niên qua, cuốn sách này, hẳn đã giúp
ích không nhỏ cho công chúng học đường cũng như biết bao độc giả yêu quý văn học
nước nhà. Tuy vậy, hiện nay độc giả chỉ có thể tìm đọc trong các thư viện. Mong
rằng tác giả và nhà xuất bản sớm cho tái bản để cuốn sách tiếp tục đến được với
công chúng, bạn dọc đông đảo hơn.
Chú thích:
[*] Về mảng sách này, tác
giả Nguyễn Thành Thi đã tham gia biên soạn khoảng 35 đầu sách đứng tên tác giả
và đồng tác giả, trong đó đáng chú ý nhất là các bộ sách giáo khoa, sách giáo
viên Ngữ văn lớp 11,12, chương trình phân ban thí điểm (trước năm 2006) và các
bộ sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn lớp 11 soạn theo chương trình Cải
cách giáo dục năm 2006, vẫn lưu hành cho đến năm 2023. Hiện ông đang là đồng chủ
biên SGK Ngữ văn các lớp 7,8,9; Chủ biên SGK Ngữ văn các lớp 10, 11, 12, bộ
sách Chân trời sáng tạo. Tất cả các bộ sách nêu trên đều của NXB
Giáo dục Việt Nam tổ chức biên soạn trong gần 20 năm lại đây.
Tài liệu tham khảo:
[1]. Nguyễn
Thành Thi (2010), Văn học – Thế giới mở (tiểu luận, phê bình),
Nxb. Trẻ, TP.HCM.
[2]. Nguyễn
Thành Thi (đồng tác giả, 2019), Hướng dẫn dạy học môn Ngữ văn THPT theo
chương trình giáo dục phổ thông mới, Nxb. Đại học sư phạm,Hà Nội.
[3]. Nguyễn
Thành Thi 2021 (Chủ biên), Ngữ văn 10, tập một, bộ sách Chân trời sáng
tạo, Nxb. Giáo dục Việt Nam.
[4]. Nguyễn
Thành Thi 2021 (Chủ biên), Ngữ văn 10, tập một, bộ sách Chân trời sáng
tạo, Nxb. Giáo dục Việt Nam.
[5]. Nguyễn
Thành Thi 2022 (Chủ biên), Chuyên đề học tập Ngữ văn 10, bộ sách
Chân trời sáng tạo, Nxb. Giáo dục Việt Nam.
[6]. Nguyễn
Thành Thi 2022 (Chủ biên), Ngữ văn 11, tập một, bộ sách Chân trời sáng
tạo, Nxb. Giáo dục Việt Nam.
[7]. Nguyễn
Thành Thi 2022 (Chủ biên), Ngữ văn 11, tập hai, bộ sách Chân trời sáng
tạo, Nxb. Giáo dục Việt Nam.
[8]. Nguyễn
Thành Thi 2022 (Chủ biên), Chuyên đề học tập Ngữ văn 11, bộ sách Chân
trời sáng tạo, Nxb. Giáo dục Việt Nam.
[9]. Nguyễn
Thành Thi 2021-2022 (Chủ biên), Các bộ sách hướng dẫn dạy học dùng cho
giáo viên (Sách giáo viên) đi kèm với sách giáo khoa các mục [3],
[4], [5], [6], [7], [8].
16/8/2024
Trần Bảo Định
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét