Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

Tản mạn về thời gian

Tản mạn về thời gian
Có biết bao lần người đời thường van xin thời gian ngừng lại hay trôi mau, trong khổ đau cũng như hạnh phúc. Thế nhưng “Con người phải làm gì để hạnh phúc khi cả cuộc đời chịu áp lực của thời gian?.” Mời quý vị đọc bài viết của chị Lê Khắc Thanh Hoài gởi đến từ Paris. Thanh Hoài là thứ nữ của Thầy Lê Khắc Quyến, cựu khoa trưởng đại học Y Khoa Huế. Chị từng trình bày nhạc phẩm của mình dưới sự bảo trợ của Hội YKH Hải Ngoại, cùng với buổi ra mắt sách A Life Changed của anh Lê Đình Thương và phu nhân Lê Khắc Thanh Túy.
Thành thật cám ơn và ước mong đây chỉ mới là bài giao hảo đầu tiên mà tác giả ưu ái cho phép đưa vào Mục 99 Độ.
BBT 
Tản mạn về thời gian
Ngày trôi, tháng trôi, đời trôi. Rồi đây cỏ cây úa tàn. Thời gian lướt trên màu tóc. Nhạt nhòa phấn son phù du. Hỡi người có nghe Thời gian lướt đi. Vô cùng lặng lẽ. Để ta đừng hay. Nào ngờ một mai sáng kia. Thức giấc ta nghe hai tiếng Thời Gian!
Một đoản khúc trích trong tập nhạc «Hát Cho Đời Thêm Hân Hoan» của LKTH mà lại nghe như man mác một nỗi buồn, một nỗi ngại ngùng khi chợp bắt hai tiếng Thời Gian!.
Thời Gian là gì mà văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ… hầu như ai cũng bị ám ảnh, khắc khoải, ưu tư, và là một đề tài thường tạo nên nhiều cảm hứng cho các mạch nguồn văn, thơ, nhạc tuôn trào?
Thời gian là gì mà chúng ta nghe những cụm từ rất thơ mộng như Hương thời gian, Màu thời gian, Tiếng thời gian, Dòng thời gian, Bước chân thời gian, hay Bước thời gian của Vĩnh Chánh, Bụi thời gian của Hoàng Đức, chắc sẽ còn thêm Tro thời gian, Gió thời gian, Bão thời gian…và cũng đã có rồi những Giọt thời gian, Bóng thời gian, Tiếng thở thời gian, Nhánh cỏ thời gian, Mộng thời gian, Áo thời gian, Dấu thời gian, Con chim thời gian, Tấm thảm thời gian, Quán thời gian, Sóng thời gian… Đếm kể không hết. Trí tưởng tượng của con người quả thật là phong phú. Như vậy thì ở đâu cũng thấy bóng dáng của thời gian len lỏi, trong hương thơm, trong mùi vị, trong âm thanh, trong thiên nhiên và chắc chắn là ngay nơi con người rồi, mái tóc bạc, làn da nhăn, dáng lụm khụm…
Phật giáo thường dùng chữ Vô thường để nói đến thời gian và ngược lại với người đời, chẳng có chút gì thơ mộng, khi đã nhân cách hóa thời gian là « con quỷ vô thường » nghe qua mà rờn rợn cả người, vì ai cũng hiểu khi nó trờ mặt tới là báo hiệu cho buồn đau, chia ly, cách biệt!
Học văn chương Pháp, không ai không mà không biết Lamartine với câu thơ bất hủ:
O Temps! Suspends ton vol, et vous, heures propices
Suspendez votre cours…(1)
Hay câu thơ thản nhiên, lạnh lùng của Charles D’Orléans:
Le temps a laissé son manteau
De vent, de froidure et de pluie…(2)
Ronsard thì thúc giục, hối hả:
Vivez, si m’en croyez, n’attendez à demain
Cueillez dès aujoud’hui les roses de la vie! (3)
Charles Beaudelaire thật chua chát, cay đắng:
Souviens-toi que le temps est un joueur avide
Qui gagne sans tricher, à tout coup! C’est la loi
Le jour décroît, la nuit augmente: souviens-toi
Le gouffre a toujours soif, la clepsydre se vide. (4)….
Ô douleur! Ô douleur Le temps mange la vie
Et l’obscur Ennemi qui nous ronge le cœur…(5)
Verlaine thì lại càng tê tái, nức nở:
Tout suffocant
et blême quand
Sonne l’heure
Je me souviens
des jours anciens
et je pleure…(6)
Nhạc sĩ kiêm ca sĩ Léo Ferré thì hoàn toàn tuyệt vọng:
Avec le temps tout s’en va, tout s’en va… (7)
Học văn chương Việt, mấy ai mà không thuộc Xuân Diệu:
Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất. (8)
Cụ Cao Bá Quát thì than:
Ba vạn sáu ngàn ngày có là bao! (9)
Cụ Nguyễn Du thật cảm động, chân tình khi gặp lại người xưa:
Trăm năm thấm thoát có là bao
Cảm thương việc cũ, nước mắt thấm áo
Tôi từ Nam Hà trở lại, đầu bạc trắng hết
Không trách nhan sắc người đẹp suy tàn! (10)
Và ngậm ngùi rung động với bốn mùa phù du, tuần tự vùn vụt trôi qua:
Cảnh đẹp bốn mùa không được mấy ngày
Thời gian vun vút như thoi đưa, gọi không trở lại
Ngàn dặm, thân trơ trọi, ở đất khách lâu ngày
Một sân lá vàng đưa thu đến
Gió tây lay động bức rèm buông trước gác nhỏ
Ở xóm hẻo lánh, tuyết xuống mịt mù, tiếng tù và buổi mai nghe buồn thảm
Bùi ngùi nỗi thời gian làm cho tóc chóng bạc
Suốt đời mối u sầu chưa hề gỡ ra. (11)
Để nói đến thời gian cụ Nguyễn Du thường hay nhắc đến cái đầu tóc bạc của mình:
Già rồi, làn tóc bạc nầy trông mà đáng thương (12)…
Giữa bãi cát, càng trông rõ mái đầu bạc
Ngoài biển, nghe chim hồng lìa đàn kêu
Bạn bè thân thích đứng ở bến nhìn theo
Vì ta mà nước mắt ướt khăn. (13)
Chúng ta cũng tìm thấy hình ảnh của thời gian qua mái tóc bạc trong nhạc của Trịnh Công Sơn:
Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi…(14)
Hàn Mặc Tử khẩn cầu thời gian:
Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé
Xin đừng luân chuyển để thời gian
Chậm đi, cho kẻ tôi yêu dấu
Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân. (15)
Và muốn sống hạnh phúc thì cố làm lơ:
Cố làm lơ không biết đến thời gian
Đến bông hoa tàn tạ với trăng ngàn (16)
Thời gian là cái chi chi? Không ai không chán ngán, không thở than khi thấy dấu vết thời gian qua mái đầu bạc, qua nhan sắc tàn tạ, nhất là của phụ nữ, phái đẹp, và qua mọi sự việc ở đời, mới sẽ trở thành cũ, một ngày vui rồi cũng hết, mùa xuân hoa nở muôn màu rồi cũng sẽ rụng sẽ tàn, hoa quả đang tươi đang xanh rồi cũng héo cũng úa… Còn lại chăng là một tiếng thở dài não nuột!
Bởi lẽ thời gian là cái mà con người không làm chủ được, vượt ngoài tầm kiểm soát của mình, con người chỉ biết tuân theo tiếng gọi của thời gian, con người bất mãn và đau khổ. Không gian là cái dung chứa, dung nạp, bảo bọc. Không gian thì Tĩnh, nhưng ngược lại, thời gian là Động, đặc tính của nó là luân lưu, chuyển đổi, xê dịch, là cuốn đi, là trôi chảy. Không gian ví như Lòng Mẹ, bao dung, rộng lượng, ôm ấp, che chở. Thời gian ví như bàn tay cứng rắn của Cha, xô đẩy tới trước, bắt buộc phải mạnh dạn, độc lập bước đi và chống chọi với thử thách, gian truân. Không có thời gian thì sẽ không có chuyện gì xảy ra cả! Đứa con cứ ở yên trong lòng mẹ thì không bao giờ trở thành người lớn được. Phải ra khỏi lòng mẹ và chống chọi với thời gian, học những bài học với thời gian, khổ đau cũng như hạnh phúc, thất bại cũng như thành công… Tất cả những bài học mà thời gian dạy cho con người đều có giá trị. Có thể con người chưa hiểu hết mà thôi…
Như đã trình bày ở trên, Phật giáo thường dùng chữ Vô thường để nói đến thời gian. Mặc dù cả hai đều cùng chung một đặc tính là Động. Nhưng chữ vô thường chính xác và rõ nghĩa hơn thời gian khi muốn nói đến sự đổi thay, không cố định, sự luân chuyển của vạn vật, của con người. Từ Có bỗng lại là Không. Nhưng vì là một sự tuần hoàn, luân chuyển không ngừng, chỉ có thay hình đổi dạng, không thực có sự gián đoạn nên từ Không lại trở thành Có,  rồi cái Có này lại hoàn Không, cứ tiếp diễn như thế, gọi đó là luân hồi.
Cái thay đổi của bốn mùa xuân hạ thu đông, theo vận hành tự nhiên của vũ trụ là THỜI. Con người sống TRONG cái nhịp nhàng luân chuyển của bốn mùa, theo đó mà tuần tự trôi qua một đời người, đó là ý nghĩa của chữ GIAN. Cái khoảnh khắc của sự chuyển động được ấn định thành giờ, thành phút, thành giây cũng gọi là Thời Gian. Sinh lão bệnh tử, trình tự này cũng là Thời Gian. Ở nơi đâu không có sự dừng lại, không ở mãi trong tư thế bất động, không thay đổi, chính là Thời Gian. Và cũng là Vô Thường. Một định luật tự nhiên. Thời gian quân bình cho Không gian. Có Tĩnh thì có Động. Có dung chứa thì có đào thải. Có đến thì có đi. Có Âm thì có Dương.
Cả vũ trụ vận hành trong cái thân người nhỏ bé này. Các tế bào sinh ra và già đi rồi chết, thay những tế bào mới và rồi cũng phải rũ bỏ luôn cả cái thân đã hoàn toàn cũ, bại hoại rồi hủy diệt.
Con người bị giới hạn nơi phần vật chất nhưng lại không giới hạn nơi phần tâm linh. Ở cái chỗ mà không thể vật chất hóa, không thể sờ mó, đụng chạm, ở nơi phần hồn thì con người vượt ra ngoài vòng kiểm soát của thời gian. Tạm nghĩ như thế…
Con người chỉ có thể bám vào cái phần vô thể chất, vô hình này để vượt khổ đau. Hình như đó là con đường duy nhất, niềm an ủi và hi vọng của con người nếu không thì con người sẽ mãi mãi bị sức tàn phá của thời gian hay vô thường quật ngã.
Xin coi chừng, thời gian là vô thường mà không gian cũng… vô thường mà thôi! Cái không gian được vật chất hóa như cả vũ trụ này, các hành tinh, ngôi sao, mặt trời, mặt trăng, biển cả, núi non… đều chịu qui luật của thời gian hay vô thường. Nhưng cái không gian hoàn toàn trống rỗng, như hư không thì không có gì để sinh thành hoại diệt cả! Chỉ khi nào có một hình thể được hiện ra, mà mắt có thể thấy, một âm thanh nào đó vọng lên mà tai có thể nghe, một mùi hương nào đó bốc lên mà mũi có thể ngửi, một vị ngọt đắng chua cay nào đó mà lưỡi có thể nếm, biết phân biệt, một đụng chạm nào đó mà da thịt có cảm giác được, đến một ý tưởng nào đó khởi lên mà khối óc có thể tư duy, nghĩ suy, phán xét thì lập tức ở đó sẽ có bóng dáng của thời gian hay vô thường! Ở nơi nào có cái bắt đầu của sự sinh thì cũng có cái bắt đầu của sự diệt. Đời người là một bằng chứng hùng hồn nhất!
Nếu không có gì để bám vào, và trống rỗng như hư không thì thời gian không có nơi để biểu hiện sự có mặt của mình, nhưng một khi có một hình tướng, hình thể hay hình sắc dù vi tế, linh tinh nhỏ nhặt nào thì thời gian lập tức xuất hiện, cùng song hành. Một hạt bụi cũng có sinh ra và chết đi. Một ý tưởng, hình ảnh tạo ra trong đầu cũng có sinh ra và mất đi. Hình như không gì chạy thoát được thời gian, nhưng chắc chắn là phải có một lối thoát cho con người, con người có khả năng và trí thông minh để chạy trốn thời gian, không như loài động vật hay thiên nhiên thì hoàn toàn chịu trận dưới bàn tay hay… bàn chân (vì có bước thời gian) của thời gian.
Thằng bé con không thể không muốn mình trở thành một thanh thiếu niên cường tráng để thụ hưởng những vị ngọt mà thiên nhiên, tạo hóa hay Thượng đế ban cho, một cô bé không thể không mơ mộng mình trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, quyến rũ và cũng thế, thụ hưởng những vị ngọt của thế gian. Tất cả những đổi thay này đều nhờ vào sự luân chuyển, dòng chảy, và xê dịch của thời gian mà có. Lẽ tất nhiên là có sự phát triển tự nhiên của thể chất qua các giai đoạn sinh thành hoại diệt nhưng cũng phải có bàn tay của thời gian nên mới có từ tuổi sơ sinh lên đến tuổi mười tám. Nhưng người thiếu niên hay cô thiếu nữ kia thì lại không thể chấp nhận sự đổi thay từ trẻ đẹp, sung sức đến già yếu, xấu xí. Đó là một nghịch lý hoàn toàn và không «biết ơn» đối với thời gian! Nếu không nhờ thời gian thì cậu bé, cô bé vẫn mãi mãi là một cậu bé, cô bé mà thôi. Nhưng cậu bé hay cô bé chỉ muốn thời gian ngừng lại ở tuổi mười tám kia mà! Tại sao lại đày đọa chúng tôi phải lụm khụm ở tuổi tám mươi?! Nếu phải bán linh hồn cho… quỉ để đổi lấy một thân hình tươi trẻ cường tráng, có ai sẵn sàng không nhỉ?
Tất cả mọi người trên thế gian này đều như cậu bé và cô bé kia, chúng ta không chấp nhận sức tàn phá của thời gian, chúng ta chỉ bị ép buộc phải tuân thủ. Trong bốn giai đoạn Sinh Thành Hoại Diệt, chúng ta không chấp nhận Hoại và Diệt!
Các nhà khoa học ngày đêm tìm tòi liều thuốc trường sinh bất tử để cắt ngang dây chuỗi Sinh Thành mà không có Hoại Diệt. Làm được chăng? Cứ chờ cứ đợi. Nhưng có lẽ chúng ta đã đi qua bên kia thế giới từ lâu rồi… Hãy suy nghĩ lại, thời gian cũng không ác lắm đâu: người già yếu bịnh hoạn đôi lúc cũng chỉ cầu xin thời gian ơi đem tôi đi nhanh! Người đang ở trong tù chỉ cầu mong thời gian qua mau để ra khỏi nhà tù, người suốt đêm không ngủ chỉ mong trời mau sáng! Người đang hẹn hò với tình nhân thì đếm từng giây từng phút mong cho đến giờ hẹn! Và khi môi đã kề môi thì «thời gian ơi xin ngừng trôi»!.
Thật ra thì chúng ta chẳng hề thấy mặt mày diện mạo của thời gian ra sao cả. Thời gian ở đâu? Trong hư không? Trên núi cao chót vót? Dưới biển sâu thăm thẳm? Trong đầu ta? Trong tim ta? Chúng ta chỉ thấy thời gian hiện diện qua bốn giai đoạn của sinh thành hoại diệt. Hết xuân đến hạ, hết thu đến đông, hết hoa mai đến hoa phượng, hết lá xanh đến lá vàng… Hết trẻ con đến người lớn, hết người lớn đến người già, hết già thì chết. Chết là hết. Là biến mất. Là tiêu tan. Chúng ta gọi cái biến dịch, chuyển thay này là thời gian.
Đứng một chỗ và cất chân bước đi một bước, hai bưóc, ba bước, mười bước, một thước, mười thước… Từ nhà chúng ta đi ra chợ, từ chợ chúng ta đi ra trường học… chúng ta xem đồng hồ báo cho biết đi như vậy là mất ba mươi phút. Chúng ta gọi đó là thời gian. Thời gian được ấn định bởi cái kim đồng hồ. Thời gian xem như cùng song hành với động tác bước đi của đôi chân.
Một vị thiền sư ngồi nhắm mắt bất động trong hang tối, một năm, mười năm, ngồi cho đến chết, thân xác rã rời. Thời gian có trôi qua với vị thiền sư này không ? Chúng ta trả lời chắc chắn là có rồi. Thời gian được biểu hiện nơi thân xác rã rời nhưng không biểu hiện qua nơi các động tác của tay chân. Vì thiền sư ngồi bất động nhưng vẫn còn động ở chỗ còn hơi thở vào ra. Còn động là còn có thời gian. Như vậy có thể nói chính xác rằng thời gian không khác với vô thường. Thời gian là sự biến dịch, là sự chuyển động luân lưu không hề chấm dứt, điều tất yếu kéo theo sau là sự hoại diệt. Không tìm thấy trên cõi đời này vật gì mà không thể bị hủy hoại cho dù đó là vàng hay kim cương đi chăng nữa.
Không những ở nơi sự vật mà ngay cả những gì không thuộc phần vật chất mà thuộc phần tâm linh, tâm lý cũng chịu sự thay đổi, biến hóa với thời gian. Hôm nay là bạn, mai thành kẻ thù, hay ngược lại. Hôm nay hoan hô ngày mai đả đảo. Yêu ai tha thiết, quên ăn bỏ ngủ, ngày đêm tương tư, cưới về rồi thì… chán!
Có thời gian vật lý thì cũng có thời gian tâm lý. Chờ người yêu ba tiếng đồng hồ trong mưa gió lạnh lùng thì kiên nhẫn chịu được, nhưng chờ xe buýt ba phút đã thấy quá lâu. Nghe một bản nhạc hay chỉ hai phút mà thấy quá nhanh, và cũng hai phút, nghe một bản nhạc mình không thích thì thấy quá dài lê thê. Hình như ở đây chúng ta bắt đầu chạm tới thuyết tương đối của Einstein rồi?
Thời gian trôi như nước của dòng sông, do đó mà nói dòng thời gian, cũng nói lên được cái mong manh, khó nắm bắt, khó giữ, của mọi sự trên đời. Thời gian dường như cũng chỉ đi có một chiều. Cái gì đang là, đang có thì chỉ cần một tích tắc sau là trở thành cái đã là, đã có, nhường chỗ cho cái gì sẽ là, sẽ có. Và cái gì «sẽ» thì cũng bị đẩy lùi đằng sau để trở thành «đã» thuộc về quá khứ. Chính điều này làm cho con người đau khổ nhất. Con người chỉ còn bám víu vào hoài niệm. Suốt cuộc đời là một nỗi nhớ nhung khôn nguôi. Một khi mà con người chưa thoát ra được vòng tay xiết chặt của thời gian thì con người chỉ còn biết bám vào cái phao của ký ức.
Thi sĩ Bùi Giáng chỉ nói nhẹ nhàng, giản dị mà nghe qua đã thấy chạnh lòng:
Một phút nữa thôi
Và màu sẽ mất
Suối sẽ xa đồi
Như mây xa đất (17)
Xuân Diệu chỉ ao ước:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi (18)
Nhưng rồi cũng chỉ là một ao ước.
Con người phải làm gì để hạnh phúc khi cả cuộc đời phải chịu áp lực của thời gian? Không thiếu câu trả lời của triết gia, hiền nhân, tôn giáo, học thuyết. Chỉ cần biết chọn lựa. Dù không làm chủ được thời gian, ít nhất cũng làm chủ chính mình với sự lựa chọn đúng!.
Chú thích:
1. Le Lac, Lamartine
2. Rondeau, Charles d’Orléans
3. A Hélène, Ronsard
4. L’horloge, Beaudelaire
5. L’ennemi, Beaudelaire
6. Chansons d’automne, Verlaine
7. Avec le temps, Léo Ferré
8. Vội Vàng, Xuân Diệu
9. Uống rượu tiêu sầu, Cao Bá Quát
1O. Long Thành Cầm Giả Ca, Nguyễn Du
11. Thu Chí, Nguyễn Du
12. Thu Dạ, Nguyễn Du
13. Độ Long Vĩ Giang, Nguyễn Du
14. Cát Bụi, Trịnh Công Sơn
15. Thời Gian, Hàn Mặc Tử
16. Đôi Ta, Hàn Mặc Tử
17. Màu Thanh Thiên Nở, Bùi Giáng
18. Vội Vàng, Xuân Diệu.
Tháng sáu 2014
 Lê khắc Thanh Hoài
Theo http://www.ykhoahuehaingoai.com/



Lắng nghe và cảm nhận: Cát bụi

Lắng nghe và cảm nhận: Cát bụi
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, 
để một mai tôi về làm cát bụi”.
ôi yêu thích nhạc Trịnh Công Sơn không chỉ vì nhạc Trịnh lãng mạn, hư hư, ảo ảo đến vô thường mà trong đó còn chứa biết bao những triết lý sâu sắc về tình yêu, về cuộc sống và đời người. Ở nhạc Trịnh, người ta không chỉ bắt gặp những dấu son đẹp trong ca từ, sự tha thiết đến cuồng nhiệt yêu thương hay những lẽ sống trong cuộc đời mà ở đó còn có những hoang hoải, băn khoăn về một kiếp người ngắn ngủi, sinh ra, lớn lên, già đi rồi mất cũng chỉ trong gang tấc. Những trăn trở đó, đã đi vào nhạc Trịnh nhẹ nhàng, lãng đãng như hơi thở nhưng vô cùng sâu lắng.
Dường như ông đã lĩnh hội đủ sâu, đủ thấm thía triết lý nhân sinh của đạo Phật và quy luật sinh lão bệnh tử của tự nhiên. Con người thật nhỏ bé, làm sao có thể chống chọi được sự khắc nghiệt này. Và nghe Cát bụi người ta sẽ cảm nhận được tất cả những tâm tư đó.
Có thể kiếp trước ta cũng chỉ là một hạt bụi vô danh nào đó lơ lửng trong vũ trụ, được tái sinh thành kiếp con người mang hình hài và số phận. 
Con người chỉ là hữu hạn trong thế giới rộng lớn đến vô hạn. Có thể kiếp trước ta cũng chỉ là một hạt bụi vô danh nào đó lơ lửng trong vũ trụ, được tái sinh thành kiếp con người mang hình hài và số phận. Chúng ta sống trong vòng tay yêu thương của người thân, của bạn bè rồi lớn lên trong xã hội, học tập và phấn đấu, trưởng thành.
Tất cả đã cho ta có một cái tên, một vị trí đứng. Nhưng rồi trong một buổi chiều hoàng hôn tắt muộn, ta chợt nhận ra mái đầu xanh kia đã già rồi. Phải chăng đời người mong manh như hạt sương, khẽ chạm vào sẽ tan mất, hay là đám mây lững thững trên bầu trời sớm tan biến nhạt nhòa thành những giọt mưa. Vậy là mây cũng chuyển kiếp và con người lại về với cát bụi, phải chăng? Chính vì thế, Trịnh Công Sơn đã mãi miết viết trong Cát bụi rằng:
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi”.
Nhưng nếu ta chỉ nghe bằng tai mà chẳng cảm nhận Cát bụi bằng con tim và khối óc, thì bài hát chỉ đơn giản là sự hoang mang, lo lắng cho một đời người ngắn ngủi giống bông hoa sớm nở tối tàn tựa như mây như khói. Hãy nghe lâu một chút, nhiều một chút đến thời điểm nào đó, con tim sẽ nhẹ nhàng rung động và vỡ òa lên niềm đồng cảm.
Hóa ra, Cát bụi không chỉ có thế. Cát bụi còn là cuộc sống với nhiều mảnh ghép và những màu sắc khác nhau nhưng có lẽ hai mảng sáng tối là đặc trưng hơn cả. Chính chúng ta sẽ là người lựa chọn cho mình một mảng màu nào đó để tự vẽ nên cuộc sống của mình. Một mảng màu thật đẹp, để khi chúng ta tan vào cát bụi, kết thúc một vòng quay luân hồi, vẫn luôn hãnh diện về một cuộc đời từng sống đầy ý nghĩa.
Cùng lắng nghe và cảm nhận Cát bụi để thêm yêu cuộc sống này.

Cát Bụi - Quang Dũng, Hồng Nhung

Liêu Hà 
Nguồn Khampha.vn/  
Theo http://www.24h.com.vn/

Huế trước mắt - Lối dạo ven sông Hương

Huế trước mắt - Lối dạo ven sông Hương
Mới đó mà một năm sắp hết.
Sắp hết là đang về
Về già xa trẻ.
Với người Mỹ bản xứ, sau mùa Thanksgiving (lễ Tạ Ân) - cuối tháng 11 âm lịch - là không khí "Tết" vui nhộn nhất trong năm bắt đầu với sự chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh. Không khí rộn ràng chuẩn bị Tết Nguyên Đán của ta tương đương với dịp Giáng Sinh của Âu Mỹ.
Cũng đã nhiều năm rồi, cứ mỗi lần đến thời điểm này tôi lại phải dọn mình sẵn sàng để viết báo Xuân như người nông dân chuẩn bị vụ mùa cần mạ non và đất mới. Người nông dân vỡ đất nhìn về tương lai của những vụ mùa sắp tới, sao tôi viết lời, gõ chữ cứ loay hoay hoài về quá khứ không nguôi: nhớ ngày qua, nói chuyện cũ, thương ngày xưa, viết về hoài niệm để gọi hồn ký ức...!
Da diết nhất là mỗi lần viết về Huế. Sống như mơ lửng thửng một phương trời.
Sông Hương nhìn từ đồi Vọng Cảnh
Con nhà Huế khắp nẻo tha phương cũng tình cảm… mít ướt chẳng hơn gì tôi mấy. Đã từng có ý kiến nửa đùa nửa thật rằng: ở đâu có ba người Huế là ở đó có hội Huế, năm người là có hội Quốc Học - Đồng Khánh và chục người là có hội Đồng Hương; rồi cho đó là một cách thể hiện thái quá cảm tính "ta về ta tắm ao ta”. Nhưng tôi lại thấy rằng đó là một cách biểu hiện hồn nhiên và trong sáng tâm tình gắn bó vời quê hương.
Cũng như như những người… rất Huế khác, tôi yêu dáng đan thanh của Huế, thương nét vàng phai của Huế. Nhưng nếu cứ mãi quay về với những gì đã qua thì sẽ đến lúc “loanh quanh cho đời mỏi mệt” theo quá khứ phai trầm của Huế mà lòng ướt sũng những cơn mưa dầm mang cái âm điệu ru hời như nước mắt.
Năm nay, tôi sẽ không quay lui mà nhìn Huế nữa. Phải nhìn Huế trước mặt như ngày xưa người từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong nhìn châu Ô, châu Rí mà mơ tới một Hoàng Thành.
Gần cuối năm nay, có công chuyện riêng nhưng cũng để tạo ra nguồn cảm hứng mới giữa mùa Đông phai cũ, tôi rời Cali đi Texas vào một ngày cuối tháng mười một đến San Antonio. Đây là một thành phố cực Nam lớn thứ ba của Texas, chỉ sau Houston và Dallas, nơi vang bóng một thời hình ảnh quấn “jean” và nón da vành rộng của “cao bồi Texas”. Tôi về đây trong những ngày trời lạnh tím và mưa dầm như Huế.
Chiều cuối tuần đầu tiên trong chuyến về San Antonio, một người bạn dẫn đi chơi nói như một lời nhắn gởi rằng: "Nếu ông có viết chi về Huế thì đừng than thở nữa. Uốn éo mềm nhũn như bánh canh để nhớ nhớ, thương thương hoài dĩ vãng nghe mãi phát rầu. Chi bằng ông đi theo tui tới thăm River Walk mà tui thường dịch rất bụi là 'Lối Tản Bộ Ven Sông' của San Antonio để coi ông có đồng ý với tui không là ước chi mình khiêng được những nét văn minh, văn hóa này về xây dựng cho sông Hương. Ui cha! Cứ tưởng tượng một 'HUONG-RIVER-WALK' của Huế mình cho thế hệ con cháu tương lai làm mình xúc động miên man quá chừng đi ông ạ". 
River Walk San Antonio. 12 - 2016
"Ừ! Thì cứ đi coi thử ra răng..."
Tôi trả lời theo kiểu "mần đày" của Huế như vậy có nghĩa là bằng mặt chứ chưa hẳn đã bằng lòng vì còn nửa tin nửa ngờ.
River Walk của San Antonio là một khung cảnh dạo chơi ven sông đẹp nhất trong 10 River Walk hàng đầu được liệt kê trong cẩm nang du lịch toàn quốc Hoa Kỳ.
Cũng bắt nguồn từ một dòng sông nguyên thủy chạy xuyên qua thành phố - hay nói cho công bằng hơn là thành phố lập nên nhờ con sông - như sông Hương, dòng sông San Antonio được truyền thống địa phương xem là một con sông thiêng liêng. Nó cũng được tin là có mùi thơm thánh thiện và biểu tượng hóa thân của thánh Saint Anthony; tương tự như sông Hương có mùi thơm cây thạch xương bồ và linh cảm đầy huyền thoại của bà tiên Thiên Mụ.
River Walk San Antonio - 2016
Lối Đi Ven Sông nơi đây là một công trình vừa dè dặt tích lũy, vừa cấp tiến sáng tạo và bứt phá về kỹ thuật, mỹ thuật, văn hóa được xây dựng mỗi ngày, mỗi thời kỳ phát triển trải qua hàng trăm năm. Từ những quán ăn uống, các tụ điểm vui chơi, nhiều nhà trưng bày sản phẩm mỹ thuật, nhóm đi bộ, chèo thuyền đầy màu sắc cho đến các nghệ sĩ âm nhạc, hội họa độc diễn bên lề đường, hai bên bờ sông đều toát ra vẻ cảm tình thân ái, đón chào. Họ có dáng vẻ tươi mát, thư nhàn, chiêu cảm của người chưa quen nhưng hiếu khách như sẵn lòng nhẩn nha cùng bạn đi bộ bên bờ sông.
Con đường dạo ven sông của San Antonio River Walk chỉ mất chừng một giờ để đủ giáp vòng vừa đi vừa ngắm nhìn, thưởng thức. Nhưng sự thu hút của nó thật là phong phú. Về mặt lợi nhuận kinh tế du lịch thì lại càng đáng nói hơn: Trung bình hằng năm có khoảng 12 triệu người đến viếng. Mức độ kinh doanh mỗi năm tới 3.5 tỷ đô la. Tạo công ăn việc làm cho khoảng 23 ngàn người phục vụ về mọi mặt sinh hoạt, từ kỹ nghệ khách sạn đến nhiều dịch vụ biểu diễn, vui chơi. Đây thật là một công trình nghệ thuật giữa thiên nhiên xinh đẹp kết hợp với bàn tay cùng tâm hồn và trí tuệ muôn màu muôn vẻ của con người.
Nhìn River Walk San Antonio mà liên tưởng tới Huế. Sông Hương là một quần thế cảnh trí thiên chưa bị lạm dụng bởi kỹ nghệ và máy móc khai thácđầy tham vọng của thời đại. để tạo dựng một hay nhiều công trình "River Walk" ngang tầm hay vượt trội những Lối Dạo Ven Sông hàng đầu thế giới.
Dòng sông Hương và cảnh trí ven sông từ Đồi Vọng Cảnh kéo dài tới Cồn Hến, Bãi Dâu, Vỹ Dạ là cả một khung cảnh kỳ tú cho những công trình du lịch ven sông. 
Dưới chân cầu River Walk San Antonio - 2016
Anh bạn đưa tôi lui tới River Walk San Antonio trong nhiều thời điểm khác nhau. Nơi đây, quê người, sáng uống ly cà phê Starbucks hay chiều nhâm nhi cốc rượu nho đỏ Napa Valley để cùng nhau tưởng tượng một cuộc trà thơ Huế ở đồi Vọng Cảnh rồi xuôi đò về miệt Cồn Hến nhấm ly rượu vang Đà Lạt. Chúng tôi cùng một hướng suy nghĩ rằng: nguồn "kinh tế mềm" đang được toàn cầu khai thác triệt để là du lịch. Du lịch phải đặt vào tầm quốc kế dân sinh ở Huế mới xứng hợp với khung cảnh địa lý thiên nhiên và dấu tích lịch sử của Huế.
Chúng tôi không hẹn mà gặp, cả hai anh em cùng cảm thấy xót xa khi nhắc đến "Lối nhậu ven sông Trịnh Công Sơn". Đó là con đường dọc bờ sông Hương từ cầu Gia Hội chạy về ngã Bãi Dâu mang tên người nhạc sĩ tài hoa xuất thân từ Huế. Con đường ven sông Trịnh Công Sơn chẳng những chả có một chút dáng dấp gì nghệ sĩ mà chỉ toàn những quán nhậu nhếch nhác đến chạnh lòng: "yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau" - Huế ơi!
Du lịch và tổ chức du lịch vừa là một nhu cầu mà cũng vừa là một kỹ-nghệ-thuật cao cấp thời nay. Du khách bốn phương cần được viếng thăm phong cảnh thiên nhiên kỳ tú và lịch sử vang bóng của một vùng đất nước; nhưng họ cũng cần có được cơ hội tiếp cận với những công trình tuyệt tác của những tài năng hay để vinh danh tài hoa lỗi lạc của con người. Như hầu hết du khách có ưu tiên hàng đầu khi đến Ý là được xem những công trình điêu khắc của thiên tài Michangelo; đến Pháp là tháp Eiffel; đến Mỹ là Golden Gate Bridge và tượng Nữ Thần Tự Do...
Nhưng bên cạnh thế giới quá khứ, một vùng đất sống sinh động phải cần đến hiện tại và tương lai.
Huế đã có một thuở huy hoàng dưới vương triều nhà Nguyễn nên đã bị phủ mờ sau lớp rêu phong của nội thành, đền đài và lăng tẩm. Dẫu cho một thời huy hoàng như La Mã, Chiêm Thành thì quá khứ vẫn là quá khứ. Các trọng điểm du lịch trên toàn thế giới đều cần một dòng sống sinh động vươn mình trôi chảy.
Thiên nhiên Huế và sông Hương đều có chung những nét đẹp mơ phai. Nhưng cũng cần những nét đẹp nhân tạo và nghệ thuật do con người khai phá.
Dòng đời đang trôi chảy trên dòng sông, bến cũ.
Yêu đất nước và con người không có nghĩa dừng lại để thương tiếc hoài dĩ vãng mà cần đến những chân trời khai phóng cho một tương lai.
Mùa Giáng sinh 2016 
Trần Kiêm Đoàn
Theo http://www.trankiemdoan.net/


Bờ xanh của Huế

Bờ xanh của Huế 
Ba mươi năm xa Huế, về lại, Huế vẫn còn xanh. Trong lúc nhiều nơi khác thì có nơi đã đổi trắng hay hóa vàng. Đổi trắng, vì quá nhiều tòa nhà vôi gạch mới mọc. Và, vàng đi vì khuynh hướng đô thị hóa “diêm dúa” nửa vời.
“Sân khấu” Ngọ Môn
Con sông xanh mát thường trôi chảy êm đềm là linh hồn của thành phố. Với Huế, sông Hương không phải chỉ là linh hồn mà còn là thể phách tinh anh của thành phố. Núi ấy phải có sông ấy. Sông ấy phải có núi ấy và bầu trời Xuân xanh, Hạ trắng, Thu vàng, Đông tím... mới hội đủ đường nét tạo hình cho một tác phẩm tâm ảnh trong lòng người đi. Phía Nam và phía Bắc, Đà Nẵng và Quảng Trị là hai thành phố đẹp và có thể thay thành phố cũ ra thành phố mới như tái sinh. Đà Nẵng một ngày nào đó có thể đẹp như Hồng Kông. Quảng Trị - Đông Hà có thể đẹp như phố mới. Nhưng Huế thì khó mà có được một sự thay hình đổi dạng tương tự vì Huế đã định hình thành một biểu tượng: Huế tự làm nên Huế mất rồi! Một cặp phạm trù mâu thuẫn và sinh khắc đã làm nên xứ Huế. Ngay điều kiện thiên nhiên và thời tiết cay nghiệt “Tháng tám nắng nám trái bưởi. Giêng hai (lạnh tới mức) cắn tay không ra máu” cũng đã vẽ nên một cảm nhận sinh khắc ngoài tầm thay đổi. Rồi tới cảnh một trú xứ Thần kinh miên mật đến thế mà Huế thơ, Huế mộng; nhưng Huế vẫn “tộng bộng” hai đầu. “Tộng bộng” là một biểu tượng cởi mở thông thoáng, một phong thái tiếp nhận cái mới không cần điều kiện. Nhưng có ai quên được rằng, những người Huế khai phá tiền phong thời chúa Nguyễn Hoàng tiến về Nam là đoàn lữ khách “tới nơi đây đất nước lạ lùng; con chim tê kêu cũng sợ, con cá nớ vẫy vùng cũng run”. Phải chăng vì thế mà cái “đẹp… dễ sợ!” thì chỉ Huế mới có. Huế đã mang số mệnh hy sinh chính mình cho nghĩa lớn của Huyền Trân. Tên gọi cụt ngủn: “Huế, Sịa, Nong, Truồi, Chuồn, Cồn, Hương, Bồ, Dinh, Trò, Độn…” đã không làm cho tình Huế ngắn đi và đất Huế hẹp lại mà cảm xúc mãi dài ra quá tầm một đời người ngắn ngủi.
Có một lối sống, lối nghĩ, lối hành xử theo một phong cách riêng gọi là “văn hóa Huế”. Cũng như có một lối gọi tên, phát âm và diễn đạt riêng gọi là “tiếng Huế” hay phương ngữ Huế. Huế toàn ròn không thể thay bằng một Huế khác như người Việt “Huế xa”… mô đó; không thể thay bằng một người Tây hay người Mỹ trở về! Bà mẹ quê lưng còng tóc bạc, lụm khụm hái mớ rau tập tàng luộc cho con ăn không thể thay bằng một hình ảnh “Amy” mô đó… mặc váy đầm, tóc mi-nhon, dắt chó chạy loăng quăng trên đường Thượng Tứ được.
Ba tuần về với Huế vào cuối tháng Ba, khi những cơn lạnh và cơn mưa bất chợt cuối mùa làm Huế vừa già đi, vừa trẻ lại. Tôi đã bắt gặp và cảm nhận từ trong chính mình một chút co ro của tuổi già và một chút tươi mát của tuổi trẻ khi cỡi xe máy Honda chạy loanh quanh khắp các ngã đường quanh Huế và từ làng lên Huế; từ Huế về làng.
Hơn nửa đời sống với Huế, tôi thường tự hào là mình đã thuộc lòng... từng cái ổ gà trên đường qua Đập Đá, đường về An Cựu, đường xuống Bãi Dâu, đường tới Bao Vinh, đường vô Mang Cá, đường ra An Hòa… hay nhớ rõ màu rêu từng mùa trên những bức tường vôi gạch cổ thành. Thế mà nay về lại, vẫn bị lạc đường hỏi lối loanh quanh. Nghĩa là Huế có mở rộng. Huế thêm nhiều con đường và phố xá lên theo.
Mỗi khi nói đến một thành phố mới, một con đường mới mọc lên thường đồng nghĩa với một khung cảnh thiên nhiên vừa bị biến cải qua bàn tay tái tạo của con người. Tội nhất là những dòng sông rầu đời tuyệt vọng bởi những công trình khai thác không tiếc thương “tình sông nghĩa núi“ của kỹ thuật lạnh lùng. Hình như càng ngày, văn minh nhân loại càng gắn bó tha thiết với những dòng sông. Như châu Mỹ trẻ trung hơn châu Âu nên những con sông không bị biến thành những lạch nước quặn mình làm kiểng cho những công trình xây dựng lâu đài.
Những dòng trường giang như Mississippi, American, Colorado ở Mỹ, Wheaton ở Canada vẫn còn là những bờ xanh lồng bóng nước như hôm nay. Trong khi đó, những con sông nổi tiếng một thời ở châu Âu, vốn đã lên lão từ thời Trung Cổ, như sông Seine ở Paris, sông Thames ở Luân Đôn, sông Brisbane ở Úc, sông Danube ở Đức… đã bị những cơn lũ đô thị hóa biến thành những dòng kênh quặn mình giữa hai bờ thành lũy bê tông và cao ốc. Hy vọng mãi sau nầy rằng, mai tê cô Thắm con nhà Huế có về làng, dẫu có lỡ để cho “hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều” thì cũng vẫn còn thấp thoáng đâu đó đôi nét mặn mà của cô gái chân quê.
Dẫu có đi khắp năm đồng bảy đội, tuổi già trở về Huế, vẫn thấy Huế đẹp với những bờ xanh: Bờ sông, bờ suối, bờ ao, bờ hồ, bờ rào, bờ cỏ… Dòng sông Hương xa tít tắp có thể nhìn thấy trong tầm mắt từ đồi Vọng Cảnh, qua chùa Linh Mụ, chạy dọc theo thành phố, rẽ về Vỹ Dạ, qua ngã Ba Sình trước khi xuôi về biển. Hai bên bờ sông vẫn còn xanh mướt. Dòng nước xanh, lác đác lục bình, đôi cụm lau lách hoang dã vẫn còn thấy nhau và những con đò xuôi ngược. Sông An Cựu, Sông Bồ, sông Đào, hồ Ngự… vẫn còn bờ xanh với mùa Xuân và dây leo đong đưa với mùa Hạ. Nếu Huế mất những bờ xanh, làng tôi mất những bờ cây dại dọc sông Bồ thân ái có lẽ tôi sẽ mất đi những hoài niệm một thời nhưng vẫn còn kéo dài và khắng khít của ngày xưa và bây giờ đã trên 60 năm. Và, trong tâm thức của những người trên 60 tuổi như tôi, đã sống nửa đời ở Huế và một nửa ở quê người, khái niệm về quê hương không còn thuần nhất như xưa. Bạn bè sống một đời ở Huế có lẽ khó tình chia sẻ nỗi niềm phân chia trong lòng người có hai bến bờ để tới. Tôi có Quê Mẹ, đó là quê hương nguồn cội đã sinh tôi ra và nuôi tôi khôn lớn một thời. Nhưng tôi cũng có Quê Người, đó là một quê hương khác đã dang tay cưu mang đời tôi và gia đình – giữa lúc cơn bão tâm lý, tri thức và cuộc sống quay cuồng tới đỉnh điểm – mà không cần điều kiện hay sự đổi chác nào. Trong một trạng thái tâm lý “dùng dằng nửa ở nửa về” như thế, những bờ xanh của Huế đã dang tay đón tôi lại. Sự cuốn hút của thiên nhiên đầy tâm cảm là một sáng tạo tuyệt vời của tình yêu cuộc sống.
Mùa Xuân năm nay, chúng tôi muốn làm một cuộc du lịch “tùy duyên”. Tùy duyên trong du lịch có nghĩa lấy vui làm chính. Còn đi đâu cũng được, miễn sao tìm được thú vị và an lạc trên mỗi bước đi. Lần nầy “tùy duyên về Huế”, trong lứa tuổi về chiều ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp, chúng tôi thường đùa rằng, may thì gặp duyên lành, không may thì gặp duyên chướng. Về Huế tháng Ba. Nắng chưa rát da rát thịt và thời tiết đã qua những tháng mưa Đông… héo úa tâm hồn! Thời điểm nầy Huế có Festival, mùa Phật Đản và vụ gặt Đông Xuân. Festival với những lễ hội rộn ràng đầy màu sắc, Phật Đản với những thuyền hoa rực rỡ trên sông Hương và mùa gặt năm nay nghe bà con nói được mùa với rau cỏ xanh hơn năm ngoái. Nếu Huế không có những bờ xanh của sông núi, ruộng đồng thì lễ hội, thuyền hoa, lúa mùa lấy đâu làm chỗ dựa thiên nhiên cho con người núp bóng.
Chúng tôi cũng có mặt giữa những người Huế gần, Huế xa và khách xem từ bốn phương tám hướng trong buổi mở đầu Huế Festival năm 2012. Có thể nói mà không sợ bị cho là đại ngôn rằng, “sân khấu Ngọ Môn” đêm khai hội là một kiệt tác đẹp hiếm thấy có tầm cỡ toàn cầu, vì đây là dấu tích của một công trình kiến trúc đế vương non hai thế kỷ còn đọng lại trước mắt nhân gian. Tôi chỉ thấy cảnh phế tích đấu trường Colosseum thời đế quốc La Mã ở Ý là nơi có thế gây cảm giác mạnh cho du khách vì lịch sử bi hùng vủa nó. Nhưng Colosseum chưa hề tổ chức… “festival” nên Huế vẫn là nơi xứng đáng cho những lễ hội mang tính văn hóa và truyền thống gây được cảm tình yêu mến cho du khách khó tính vì đã quá từng trãi với bao ngõ ngách địa cầu thời hiện đại.
Lần này tôi về Huế, được gặp lại những người quen, bạn bè ở Huế và từ Pháp, Mỹ, Úc, Canada cùng từ nhiều nơi trong nước “ghé Huế mùa Xuân cho khỏi nóng”. Từ những năm trước, nhiều anh chị em gốc Huế sống xa quê tự động ngồi lại với nhau và góp tay nhau thành một nhóm sinh hoạt từ thiện và văn nghệ, văn hóa Huế gọi là “Huế Xa”. Anh chị em chỉ có một tấm lòng chung là: “Huế Xa mà không xa Huế.”
Chúng tôi ở lại Huế lâu hơn vì được sống với bà con, bạn bè trong màu xanh mùa Xuân tươi mát của Huế. Buổi trưa đi trên Cầu Mới, nhìn về phía cầu Trường Tiền và cầu Bạch Hổ còn ẩn hiện trong màn sương mỏng và nắng mơ phai đầy ẩn dấu như người con gái Huế khi chưa biết “phía bên tê”. Chao ơi là đẹp!.
Bờ xanh sông Hương
Nấn ná ở với Huế lâu lắm cũng chỉ tới ba tuần. Tôi thích về làng ra sau vườn hái rau tươi luộc chấm tương ngon như ngày còn mẹ. Lên thành phố, Huế vẫn còn dáng vẻ phố cổ của một thời; có nghĩa là chưa bị biến dạng sau những bóng dáng “đại gia” nửa quê, nửa tỉnh, nửa thị, nửa thành. Huế bây chừ cũng có những nơi cho bạn bè hẹn nhau đầy hương vị như Vỹ Dạ Xưa, Không Gian Xưa, Ven Đồi, Tân Hương Sen, Hoàng Trúc, cà phê Cây Đa Thành Nội, cà phê Thiên Đường.
Về lại Mỹ, nghe tin Huế “nóng như chảo bắp rang” mà tội Huế quá. Bên nầy trời Cali nhớ Huế, chúng tôi bỗng nhớ bạn bè, làng xóm, người thân quen. Chỉ nhớ lại lớp học nhỏ bé của chúng tôi ở trường Hàm Nghi Huế thôi cũng đủ hình ảnh để tính đời dâu biển. Gặp lại thầy xưa, bạn cũ tưởng như mới chiều hôm trước thôi mà hóa ra đã gần một đời đi qua.

Bốn thế hệ trường Hàm Nghi Huế: Thất1 - Tứ 1 (1959-63)
(Hình chụp trước cổng Di Luân Đường - Quốc Tử Giám;

trường Hàm Nghi cũ. Tháng 4-2012)

Nhớ nhất là tiếng vọng thời gian “mới đó” thảng thốt mà ngậm ngùi của Huế: Mới đó mà đã 53 năm. Mới đó mà thằng Phúc, thằng Ni, thằng Phụ, thằng Lân, thằng Hòa... trong lớp đã ra đi hơn bốn chục năm rồi. Mới đó mà cả lớp đều đã lên hàng ông nội, ông ngoại. Mới đó mà thằng Viêm đã có chắt! Mới đó mà thế hệ những đứa học trò nhỏ chúng tôi ngày nào nay đã thành những “cụ” già gặp nhau với ít nhiều dáng vẻ lụm khụm và những nụ cười vui buồn vui bay tóc trắng. Và, mới đó mà những nàng dâu Hàm Nghi hương sắc một thời bây chừ hoá ra… đẹp lão. Các cụ chỉ còn biết cố níu lại thời gian bằng tiếng xưng hô “thằng, con, mi, tau…”, của những ngày xưa thân ái cho đã cái miệng (không răng) mà thôi.
Xa Huế, người ta có thể quên những mảnh sống vui buồn, những ngày sướng khổ trong một chặng đời nào đò. Nhưng mấy ai quên được những con đường quê hương đã từng quặn mình giữa bao tuồng ảo hóa của thời gian và cuộc thế trùng trùng dâu biển. Càng về già, tâm hồn lại trở thành chơn chất và thanh thản hơn để còn thương nhớ những bờ xanh của Huế. Mong Huế còn mãi những bờ xanh. Màu xanh sớm mai của Huế chính là nền đậm cho Màu tím Huế buổi chiều. Và màu sắc Huế cũng là nhịp cầu thế hệ nối tuổi già vàng phai và tuổi trẻ xanh mướt mượt mà; nối kẻ ra đi và người ở lại- cho dẫu là Huế Xa mà không xa Huế.
Huế, tháng tư đầu mùa hạ 2012
Trần Kiêm Đoàn

Theo http://www.trankiemdoan.net/


Người từng gặp... cảnh chùa

Người từng gặp... cảnh chùa!
Dạo này hay nghĩ về quá vãng, nhớ về những điều đã từng xảy ra một cách mơ hồ, nhớ nhớ quên quên, nhưng nếu không viết ra thì những hoài niệm sẽ như những thước phim đen trắng nhập nhọe, cảm giác không quan trọng mà có thời điểm lại tự nhiên lởn vởn, rè lên đâu đó trong cái CPU cần phải được giải phóng và sắp xếp gọn gàng. Thỉnh thoảng viết lưu lại vài điều trước khi ta cằn cỗi đi và ta quên đi mất...
Thỉnh thoảng ta sẽ nhớ đâu viết đó - những gì có thể viết được cho thế gian xem và cho chính ta lưu, để không vào lãng quên...Và có những điều sẽ không bao giờ được viết ra và không cần phải viết ra, vì bản thân chúng đã đi vào cuộc đời ta mà không thể nào bôi xoá hay lãng quên đi được...
....Người từng gặp (1)
....Cảnh chùa!
Hồi thời gian học cấp 3, nhà tôi ở gần một cái chùa, đẹp lắm. Giờ nghĩ lại chắc cũng khá đẹp thôi, nhưng hồi đó rõ ràng là đẹp. Chùa xây kiên cố, lát đá hoa, xung quanh có ghế đá, có cây, thơm ngát mùi hoa và rất là thoáng mát, yên tĩnh. Cô bé tôi thích lắm, rất hay ôm cặp vở sang lê lết ở chùa, để học bài và có khi chỉ là để trốn nhà, trốn những phiền não dai dẳng, nhọc lòng của cái kiểu tuổi thơ mà "thượng vàng hạ cám" gì cũng phải chứng kiến. Có khi tôi vào lạy Phật, xong ngồi tựa vào những cột đá to mát lạnh của sảnh lớn trong chùa mà ngắm những bức tường được vẽ hình rất đẹp về chư Phật, được viết lên những lời răn dạy mà tôi câu hiểu câu không nhưng thấy thích thú lạ thường. Có khi tôi trải tập vở ra hành lang, bò ra mà làm bài, đến khi học xong, làm xong thì lại thu xếp ra về như rời khỏi cái góc tự học nho nhỏ quen thuộc của mình. Cũng có khi tôi vào chùa chỉ để được ngồi ghế đá, được cảm nhận không gian yên tĩnh, mát mẻ, ngát mùi hoa, và suy nghĩ linh tinh những câu chuyện không đầu không cuối của mình... Trong chùa chỉ lanh quanh vài vị sư già rất ít khi xuất hiện và một số chú tiểu bé con sống trong chùa từ bé... Chẳng ai xua đuổi hay dò xét gì tôi. Chắc họ cũng thấy rằng một cô bé ôm cặp vào chùa học bài cũng không có gì đáng hỏi đến...
Tôi cứ qua chùa chơi và học bài như thế, cho đến một ngày nọ, trong chùa tự nhiên ở đâu xuất hiện một nhà thơ, hay chính xác hơn là một vị sư. Nhà sư mà lại làm thơ, mà làm thơ lại hay và được xuất bản đàng hoàng, thế có lạ không cơ chứ. Thầy là một nhà sư rất trẻ, chắc chỉ khoảng hơn tuổi anh Hai tôi, lúc đó có khuôn mặt rất thanh tú, đẹp trai với sống mũi cao và khuôn mặt khá gầy gò, nhưng ở gương mặt làm cho người ta nhớ nhất đó chính là đôi mắt. Đó là một đôi mắt đẹp như mắt con gái với ánh nhìn rất sâu, đen láy và phảng phất nét cương nghị.
Vô tình gặp tôi trong chùa, thầy cũng hỏi qua về gia đình, và ngạc nhiên là cũng quen biết anh tôi mà ko hề biết tôi trước đó. Thầy cho tôi xem tập thơ "Ngừơi đẹp" mới được xuất bản của thầy - do Hoàng Phủ Ngọc Tường đề tựa. Lạ quá, nhà sư mà lại biết làm thơ, thơ tình hẳn hoi, với những câu thơ khá đẹp và trong trẻo, có bài man mác buồn, có bài viết về thiên nhiên và suy tư về cuộc sống...
"Em làm cho đất thêm xinh
Cho cây nẩy lộc, cho tình nở hoa
Em từ cổ họa bước ra
Em người duy nhất làm ta ngập ngừng"
"...Em chở hoa tươi trong nắng ngời
Ong bướm ngập ngừng bay không nổi
Xuân này anh chới với em ơi"
"...Xuân là xuân của trời
Hoa là hoa của mẹ
Em là em của tôi
Trăng là trăng của Đời"....
"...Nhớ khi trời chiều lên nắng
Ta dìu bước em đi
Qua từng con phố nhỏ
Nay trở về xóm cũ
Nhớ những buổi chiều đầy hoàng hôn
Nắng vàng lên thôn xóm
Ta yêu em như nắng vương thềm..." 

v.v...

Thơ khá nhiều nhưng giờ tôi không còn nhớ rõ, tập thơ được tặng tôi cũng đánh mất tự bao giờ...Thầy tính tình lúc đó trầm lặng, thế nhưng không hiểu sao lại rất hay bắt chuyện với tôi, hỏi tôi nhận xét, cảm nhận về những bài thơ mới của thầy, và tỉ mỉ tâm sự về cách cảm nhận cuộc đời, về những câu chuyện nghệ thuật... Thầy chơi guitar rất giỏi, biết sáng tác nhạc và mỗi lúc tôi qua, thầy lại mang guitar ra đánh cho tôi nghe một vài bài hát mới. Tôi không rành nhạc lý lắm nhưng thi thoảng cũng nhận xét bài nọ bài kia nó hay nó dở chỗ nào, chỗ nào tôi thấy thích và không thích, thơ cũng vậy... Có lúc tôi cũng thắc mắc, là thầy là thầy tu mà làm nhiều thơ tình thế thì có vi phạm luật lệ gì của nhà chùa không, và có gây ảnh hưởng gì đến sự tĩnh tâm không. Thầy trả lời chung chung là cái Đẹp là cái chẳng ai cấm ngợi ca, và thơ tình của thầy là "thơ chỉ để mà thơ" chứ không tục lụy. Và lúc đó cho tới bây giờ, tôi cũng hoàn toàn tin là vậy.
Có điều, tôi hơi ngại là tại sao tôi luôn gọi thầy là "thầy" và luôn xưng "con", nhưng thầy thì chỉ gọi tôi bằng tên và thường xuyên nhầm lẫn xưng tên với tôi nữa. Chắc hay nói chuyện rồi coi tôi là bạn chăng? Nhưng điều đó chưa làm tôi bối rối bằng chuyện càng ngày thầy càng tỏ ra quyến luyến tôi và quý mến tôi quá mức. Lâu tôi bận không qua chùa là khi sang, thầy tự nhiên vui mừng quá trớn và bắt đầu tỏ ra hơi kỳ lạ. Thầy bảo rằng thỉnh thoảng có những bóng hồng trong đời tự nhiên lướt qua, và thầy cảm thấy yêu một tình yêu không tục luỵ, và chỉ để làm thơ, và "Chi cũng là một điều như vậy", và dường như có lúc thầy định chạm tay tôi, nếu tôi ko giật mình rụt lại và xin phép ra về thì...
Và đột nhiên tôi thấy sợ, đột nhiên tôi thấy không còn tự nhiên được nữa. Cô bé tôi lúc đó đột nhiên ý thức rằng hình như mình cũng đã lớn rồi, và vào chùa, gặp một vị sư biết đánh đàn, đọc thơ tự nhiên trở nên... kỳ cục. Và tự nhiên tôi cảm thấy ghét thầy! Tôi mơ hồ nhận thấy một cái gì đó rất đẹp và rất trong sáng mà tôi tin đã trở nên không còn đẹp và đáng tin như vậy nữa...
Từ đó tôi tránh mặt, tôi bỏ hẳn thói quen qua chùa, tôi tự học ở nhà. Có lúc anh tôi báo rằng thầy qua nhà có hỏi tôi, nhưng tôi luôn dặn anh rằng hãy nói là tôi đi vắng...
Cứ như thế rồi tôi vào Đại học, cứ như thế rồi tôi lấy chồng, rồi đi học xa, rồi về nước... Trong suốt quá trình đó, anh Hai bảo với tôi rằng thầy vẫn thỉnh thoảng hỏi thăm, biết tình hình về tôi. Thầy giờ đã chuyển lên Bảo Lộc - Lâm Đồng sống trong một cái am, hay cái chùa nhỏ gì đó, tự trồng lương thực để ăn, và vẫn làm thơ, viết nhạc. Một đôi lần thầy xuất bản tập thơ mới, ra CD ca khúc mới là lại liên lạc với tôi để tặng. Có lúc mời tôi một bữa cơm chay, thực sự như những người bạn gặp lâu ngày. Thời gian và cuộc sống đã khiến thầy trông có vẻ mệt mỏi hơn, trải nghiệm hơn và cũng...lập dị hơn... Lần cuối cùng tôi gặp thầy là lúc tôi đang mang thai Otto, bụng lúp xúp, thầy mời vợ chồng tôi gặp cafê, để nói về một dự định mới của thầy, đó là trồng một rừng sim, làm mật sim và xây dựng một khu sinh thái thiên nhiên ở Bảo Lộc, cho khách thập phương đến ngồi thiền và thưởng thức mật sim, trong đó sẽ làm một "vườn ca dao" bằng những tấm đá do chính tay thầy khắc ca dao Việt Nam lên... Trông thầy già và khắc khổ đi rất rất nhiều so với thời tôi còn là cô bé cấp 3. Thầy kể về những tháng ngày trồng sim vất vả, khiêng từng thùng nước lên đồi, từng tảng đá lên đồi, ngã trật chân một mình một bóng... Kể về những bài thơ mới về mẹ thiên nhiên và về tư tưởng tôn thờ tự nhiên...Thầy mời vợ chồng tôi sau này có dịp thì cả gia đình lên Bảo Lộc nghỉ ngơi ở khu sinh thái của thầy... Thầy bảo rằng tôi vừa mang thai trông lại đẹp hơn xưa, rằng chồng tôi nên chụp cho tôi một tấm hình kỷ niệm, giống như ngày xưa cha thầy đã chụp cho mẹ thầy một tấm hình lúc bà đang mang bầu, và sau này đó là tấm hình đẹp nhất... Chúng tôi vâng dạ, và cười, và chia tay ra về...Và đời cuốn tôi đi đến nỗi có lúc tôi suýt quên là tôi đã từng quen biết một người như thế...
Cho đến một ngày thầy lại gọi cho tôi để thông báo rằng tivi sắp chiếu về đồi sim của thầy. Tôi vâng dạ, bảo là sẽ xem, thế mà lại bận bịu rồi quên mất... Cái CD nhạc thầy tặng (mà thầy là tác giả của tất cả ca khúc trong đó), tôi và chồng tôi cũng chỉ thích nghe bài đầu tiên do chính thầy hát: "Trên những con đường xinh tươi nhất, có ta đi ca hát một mình, đồi cây xanh và rừng cây xanh, ôi những đồi cây xanh ôi những rừng cây xanh, tôi đứng lại để nghe chim hót...". Một giọng hát tự nhiên, ko cần thanh nhạc - hát 'bài hát cuộc đời", lại hay hơn tất cả những bài hát còn lại do toàn ca sĩ nổi tiếng như Quang Dũng, Thanh Ngọc, Thùy Dương, Tạ Minh Tâm...hát. Tôi cũng không hiểu tại sao thầy lại quen biết rất nhiều, có rất nhiều mối quan hệ với rất nhiều những văn nghệ sĩ nổi tiếng, và có lúc tôi bâng quơ cảm nhận được ở thầy cả những khía cạnh của tham vọng rất thực tế và rất "đời"... Và cũng không hiểu vì sao thầy hay nhớ đến tôi khi muốn hồn nhiên "khoe" một sản phẩm mới nào đó...
Và tôi cũng ko hiểu thế nào mà tôi lại rất hay quên. Có lẽ vì tâm hồn tôi đã bị cuộc sống làm cho cằn cỗi đi. Ngay cả những điều này, nếu tôi không viết ra thì chắc cũng có ngày tôi sẽ quên đi mất...
Và tôi hầu như chẳng liên lạc với thầy. Thỉnh thoảng có cuộc gọi nhỡ nhưng có lúc tôi cũng quên gọi lại... Hình như rằng tôi cảm nhận rằng, tôi đã không còn như cô bé học trò trong sáng ngày nào, tôi bắt đầu xa lạ với thế giới trong sạch và... kỳ dị của nghệ thụât. Nhưng tôi cũng xa lạ cả với những mơ hồ trần trụi thực tế của cuộc đời về chữ "danh"... Tôi bâng quơ cảm thấy những mâu thuẫn, nhưng không bao giờ cố hiểu hay phán xét... Nhịp đời cũng đã gõ khác ngày xưa... Vậy nên chúng ta hãy trân trọng kỷ niệm, nhưng chỉ nhìn về nó từ xa, thật xa... Có lẽ bởi vì cái gì cũng nên còn phải có những cái đẹp để mà dư âm...
10/11/2011
Diệp Phương Chi
Theo http://newvietart.com/


Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...