Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

Bây giờ gương vỡ lại lành

Bây giờ gương vỡ lại lành
Sau 15 năm lưu lạc, Kiều được sum họp gia đình. Thúy Vân trước đã nhận lời thay Kiều làm vợ Kim Trọng và cũng được cha mẹ chấp nhận. Nhưng trong buổi tiệc đoàn viên, Vân đứng lên khuyên Kiều và Kim Trọng nối lại duyên xưa. Có câu:
Những là ràng ước mai ao
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình
Bây giờ gương vỡ lại lành
Khuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi
Còn duyên nay lại còn người
Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa
(câu 3069 đến 3074)
"Tình sử" Trung Hoa chép:
Nước Trần đời Xuân Thu có chàng nho sĩ tên Từ Ðức Ngôn theo hầu cận Thái tử có tình với công chúa Nhạc Xương. Cả hai tha thiết yêu nhau vừa được kết duyên chồng vợ.
Gặp lúc nước Tần có loạn, giặc đánh vào kinh thành, tình thế nguy ngập. Công chúa bảo Từ:
- Thế ta yếu, chạy loạn có thể vợ chồng ta có lúc phải xa nhau. Nếu tình duyên chưa dứt tất có ngày tái hợp. Ðể lấy làm tin, chàng giữ một mảnh gương này. Cứ ngày rằm tháng giêng, chàng sẽ đem ra chợ Trường An bán để làm tin gặp nhau.
Ðoạn, công chúa cầm lấy chiếc gương của vợ chồng hằng ngày thường soi mặt, đập vỡ làm hai, chia nhau mỗi người giữ một mảnh.
Giặc đột nhập kinh thành. Từ chạy thoát. Công chúa thất lạc, bị tướng giặc là Việt Công cưỡng bách làm vợ. Công chúa đau khổ vô cùng, muốn tự tử. Nhưng Việt Công cho người canh giữ nghiêm nhặt. Vả lại, Công chúa còn đặt hy vọng tìm cách báo tin cho chồng biết, hay chờ tin chồng sống chết thế nào trước khi nàng chết.
Từ Ðức Ngôn từ khi chạy loạn, lưu lạc khắp nơi, không biết vợ ở chốn nào, nhưng nhớ lại lời dặn của vợ, nên đến rằm tháng giêng, đem mảnh gương ra chợ Trường An bán để tìm nhau. Người đi chợ thấy Từ bán mảnh gương vỡ thì ai cũng bật cười, cho là người mất trí.
Ở TRONG CUNG CẤM, CÔNG CHÚA NHỚ LỜI DẶN TRƯỚC NÊN ĐẾN NGÀY RẰM tháng Giêng, nhờ đứa hầu thân tín đem nửa mảnh ra chợ, xem người nào có bán nửa mảnh gương, đem so vào hợp thành một cái gương lành thì bảo người ấy cho nàng biết tin tức ra sao.
Thế là Từ biết vợ còn sống, hiện giờ làm vợ tướng giặc nên vô cùng đau đớn. Từ liền viết vào hai mảnh gương một bài thơ, nhờ đứa hầu trở về trao lại cho vợ:
Người đi gương cũng đi
Gương về người chưa về
Hằng Nga đâu chẳng thấy
Chỉ thấy trăng sáng thôi!
Nguyên văn:
Cảnh dữ nhân câu khứ
Cảnh quy nhân vị quy
Vô phục Hằng Nga ảnh
Không lưu minh nguyệt luỵ!
Tiếp được gương và thơ, Công chúa biết chồng còn sống, lòng đau như cắt, úp mặt vào gương khóc lóc bi thiết. Việt Công lấy làm lạ hỏi. Công chúa kể lại sự tình, và quyết chết để trọn tình chồng vợ mà thôi. Việt Công xem bài thơ, biết mình không giữ được Công chúa nên thả Công chúa trở lại cùng chồng.
"Gương vỡ lại lành" (phá cảnh trùng viên) có ý nghĩa là sau khi ly tán được sum họp lại.
Dùng điển cố rất sát ý.
Lời nói thực chân tình của một con người trung thực, mộc mạc. "Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi", trời đã chọn lọc, quyết định cho cả hai (tức Kiều và Kim Trọng) kết thành chồng vợ với nhau rồi; vả lại hai người trước đã có lời thề nguyền với nhau thì cần phải giữ, cần phải thực hiện khi được gặp nhau, vì trước "gương kia đã vỡ nay gắn lại cho lành" là lẽ tất nhiên.
Vân nói gọn gàng, vắn tắt.
Vâng lời chị chung thân với Kim Trọng, Vân có buồn tủi thân phận chăng? Nay chị trở về, trả chồng lại cho chị tất chịu thân phận mình làm thứ thiếp, Vân có ganh tị, ghen tuông, hờn mát mà nói "lẫy" không?
Vân, con người trầm lặng, khô khan, khó hiểu.
Bút pháp của tác giả "Truyện Kiều" diễn tả tâm lý, tình cảm của nhân vật trong truyện rất điêu luyện, nhưng đối với Thuý Vân- được coi là nhân vật phụ nên tác giả diễn tả ở phần đầu đơn sơ quá. Phải chăng vì Vân là nhân vật phụ với bản tính mộc mạc, trầm lặng, một nhân vật tầm thường, không cần thiết nên không cần phải lưu ý?
Ca dao ta có câu:
ỚT NÀO LÀ ỚT CHẲNG CAY
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng
Vôi nào là vôi không nồng
Gái nào là gái có chồng không ghen
Hay là:
Có thương nên mới có ghen
Không thương ai ở bạc đen mặc lòng
Hoạn Thư, nhân vật của truyện qua bút pháp của tác giả- đã trở thành một nhân vật điển hình của một người vợ ghen sâu hiểm, có tri thức, có "tầm cở". Nàng bảo thẳng trước mặt Kiều:
Lòng riêng riêng những kính yêu
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai
(câu 2369 và 2370)
Cho nên đối với tình địch:
Làm cho nhìn chẳng được nhau
Làm cho đày đoạ cất đầu chẳng lên
Làm cho trông thấy nhãn tiền
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay
(câu 1549 đến 1552)
Và:
Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho coi
Trước cho bõ ghét những người
Sau cho để một trò cười về sau
(câu 1617 đến 1620)
Dùng một loạt điệp từ "cho", ta có thể tưởng tượng một người đàn bà ghen đương đưa tay xỉa xói, vừa nghiến răng trèo trẹo hét vào mặt tình địch với một giọng đanh đá "cho mày chết, cho mày chết"!
Tâm lý, tình cảm chung của đàn bà. Tất cả đều có máu ghen. Nhiều hay ít. Có trí thức hay vụng về. Có nghệ thuật ghen hay không mà thôi.
Ngược lại- cũng qua bút pháp của tác giả- Vân với Hoạn Thư là hai thái cực. Vân không biết ghen là gì chăng? Vân biết an phận tuỳ duyên "hồng nhan bạc phận" hay Vân là một người đần độn?
"Trai năm thê bảy thiếp..." là một lẽ thường. Có chồng chung với chị hay chị chết thay chị làm vợ... cũng chả có sao. Phong kiến Trung Hoa đã chấp nhận, khuyến khích. Nhưng chế độ tàn khốc đối với nữ giới đó làm sao thống trị được tình cảm, tâm lý hay tiếng đập của con tim. Một nhà văn lãng mạn Pháp cũng đã bảo: "Trái tim có những lý lẽ mà lý trí không biết được" (Le coeur a ses raisons que la raison ne conait pas)
Nếu đi sâu vào bản chất con người và sự việc, ta có thể nhận thấy Vân là một vai trò phụ, nhưng có lúc nàng trở nên một nhân vật chính yếu có tính cách quan trọng trong cuộc đời tình ái giữa Kim Trọng và Thuý Kiều.
Kiều đã tuyệt vọng vì lỡ làng duyên tơ tóc với Kim Trọng nên xin Vân thay mình làm vợ Kim Trọng "gọi là trả chút nghĩa người", nhưng dẫu sao người đọc có thể nghĩ rằng: Kiều cũng có ý không muốn để mất Kim Trọng vào tay của một phụ nữ xa lạ nào khác. Vân đã làm tròn được vai trò này. Ví phỏng không có Vân thì tình tiết dẫn đến đoạn Kiều được sum họp với gia đình và đối với Kim Trọng sẽ ra sao một khi hoàn cảnh đã thay đổi khác: Kim Trọng kết hôn với một người phụ nữ không phải là Vân.
Tuy ở một chế độ gia trưởng, nhưng kẻ làm cha mẹ có ai dám can đảm đứng ra tuyên bố rứt Kim Trọng trong tay Vân để trả lại cho Kiều? Tự Kim Trọng đương nhiên dám mở lời xin Kiều tái hợp duyên xưa với câu hết sức tán tụng Kiều "hoa tàn mà lại thêm tươi; trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa", để rồi "hai thân thì cũng quyết theo một bài"?
Ai? Chỉ có Vân.
"Gương vỡ lại lành", Vân là một nhân vật "mở gút" tuyệt đẹp, một nhân vật cần thiết, hy sinh tình cảm uẩn khúc của mình, thà mang tiếng mà nhà thơ nữ Hồ Xuân Hương đã nguyền rủa một cách căm hờn cay đắng:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Và:
Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong!
Chửi cái kiếp lấy chồng chung, phải chăng nữ sĩ họ Hồ có ngụ ý chửi cả chế độ.
Vân đem lại cho người đọc nhiều cảm tình. Tác giả Truyện Kiều diễn tả đơn giản quá, chỉ cho người một khái niệm: Vân mộc mạc, chất phác, con người chỉ sống bình lặng, hưởng thụ... đến độ xem như ngô nghê, ngốc nghếch không xa lắm... nhưng đó chỉ là ở giai đoạn đầu. Nay đến giai đoạn cuối, vai trò này lại nổi bật lên một cách bất ngờ, không giống các nhân vật khác mà tác giả đã diễn tả.
Ðể nhân vật (Vân) dùng lời nói rất văn chương bóng bẩy theo ý định cương quyết (chịu làm phận lẻ mọn) được cho là nhiều nhất trong đoạn đời nàng, có thể để người đọc nhận xét, đánh giá một con người chất phác gần như ngô nghê đó vẫn chan chứa một tâm lý uẩn khúc, một trí thức biết người biết mình và một tình cảm rất đẹp... dành cho gia đình: cho cha mẹ, cho chị, cho chồng.
Trong "Tam quốc diễn nghĩa", tác giả La Quán Trung diễn tả hành động của Ðiêu Thuyền, thực hiện "Liên hoàn kê" thành công, giết được tên ác bạo khát máu Ðổng Trác, về ở với Lữ Bố. Nhưng sau thất bại trận Hạ Bì, Lữ Bố bị Tào Tháo bắt giết chết đâu còn thấy bóng dáng Ðiêu Thuyền ở chỗ nào? Nhà phê bình Thánh Thán có lời cho rằng: "Nàng chính là con Rồng thiêng, chỉ lộ cái đầu, cái mình với đời mà không cho đời sau biết cái đuôi mình ẩn ở đâu hết. Có thể danh tiếng mới không bị tổn thương".
Ở ĐÂY, TÁC GIẢ TRUYỆN KIỀU CÓ KHÁC. BẰNG VÀI NÉT CHẤM PHÁ ĐƠN giản cái đầu Rồng dẫn đến thân Rồng, cuối cùng cái đuôi Rồng rất sung mãn, làm tăng vẻ uy nghiêm cho toàn bộ con Rồng.
Thúy Vân tất nhiên không phải là Ðiêu Thuyền đóng vai trò "con Rồng" đời Tam quốc, nhưng muốn nói đến tính cách diễn tả vai trò Vân qua bút pháp của tác giả Truyện Kiều. Vì giấu đuôi để "có thể danh tiếng mới không bị tổn thương" là một điều hay. Nhưng để lộ đuôi mà làm tăng danh tiếng mới là tuyệt diệu?
Tất cả 14 câu. Trong truyện, đến bây giờ mới được nghe Vân nói nhiều nhất.
(Theo Ðiển tích Truyện Kiều, NXB Ðồng Tháp)
Theo http://vuhuu.edu.vn/




Nào hồn Tinh vệ biết theo chốn nào

Nào hồn Tinh vệ biết theo chốn nào
Kim Trọng và Vương Quan đã thi đỗ làm quan. Khi Kim và Vương được cải nhậm người ở Nam Bình, kẻ ở Phú Dương; nên cả hai cùng đem gia đình theo. Nhân tiện đường sang Hàng Châu mong dò la tin tức tìm Kiều, thì cả gia đình được tin đích xác là Kiều đã trầm mình tại sông Tiền Ðường. Ðinh ninh Kiều đã chết, nên gia đình lập đàn tràng bên sông làm lễ chiêu hồn:
Chiêu hồn thiết vị lễ thường
Giải oan lập một đàn tràng bên sông
Ngọn triều non bạc trùng trùng
Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo.
Tình thâm bể thẳm lạ điều
Nào hồn Tinh vệ biết theo chốn nào?

(câu 2967 đến 2972)
Kiều chết oan.
Từ Hải cũng chết oan.
Từ Hải bị Hồ Tôn Hiến lừa dối, uất ức, căm hờn chết đứng "khí thiêng khi đã về thần". Kiều bị Hồ cưỡng bách, uất ức, căm hờn gieo mình "sông Tiền Ðường đó ấy mồ hồng nhan". Công luận kết án Hồ Tôn Hiến đê tiện, lừa dối giết Từ Hải xong lại bức tử Kiều. Vợ chồng Kiều bị chết oan. Kẻ anh hùng giang hồ mã thượng quật khởi "thắng làm vua thua làm giặc", cô thân, vô gia đình, oan hồn vẫn còn bất hạnh; riêng Kiều dầu sao cũng còn gia đình lập đàn tràng bên sông để giải nỗi oan tình!
"Chiêu hồn" là gọi hồn. Ðối với người chết trên đất có mồ mả thì người ta làm lễ phục hồn, nghĩa là làm cho hồn trở lại nhà để thờ. Ðối với người chết đuối hay trầm mình dưới sông tự tử thì làm lễ chiêu hồn tức gọi hồn trở về, vì hồn bị lạc lõng trên sông.
Ðây khác với cầu hồn. Càng đi sâu vào dị đoan mê tín, cầu hồn là để hồn nhập vào xác một người ngồi đồng nào đó, để kể chuyện gia đình thân nhân cầu về.
Chết oan là bị bức chết, có nghĩa là chưa tới số chết, nên hồn không có chỗ ở, không lên thiên đường được mà cũng không vào địa ngục được hay đi đầu thai được, hồn còn phảng phất, lảng vảng ở không không.
Theo đạo Lão cũng như đạo Phật, đối với những người chết oan như thế, cần lập một đàn lễ để giải nỗi oan cho người chết oan, cho linh hồn được tiêu thăng tịnh độ, tức là cõi thanh tĩnh hư vô của Phật.
Nhìn trên sông, sóng bạc đầu của thuỷ triều trùng trùng xô nhau đuổi bắt hết lớp nọ đến lớp kia, dõi trông xa xa như có bóng hồng (Kiều) gieo mình xuống nước. Rồi vì mối tình thâm ruột thịt, vì nhìn thấy sông nước sâu thẳm mênh mông mà cảm thấy có hồn oan chim Tinh vệ, lẩn quất bảng lảng đâu đây cũng như không biết từ đâu đến, từ đâu về...
Theo cổ tích Trung Hoa, con gái vua Viêm đế đi thuyền trên biển Ðông. Chẳng may gặp cơn bão dữ dội, thuyền bị chìm. Nàng chết đuối. Vì lòng căm thù, uất ức hoá thành chim Tinh vệ bay tới bay lui, miệng ngậm đá núi Tây đến biển Ðông, để nhả dá như muốn lấp biển Ðông cho thoả nỗi căm hờn bất tận. Tên chữ gọi là "Tinh Vệ hàm thạch".
Tuồng "Kim Thạch kỳ duyên" của cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, đoạn Giải thị tuẫn tiết theo chồng có câu:
Oan kết theo hồn Tinh Vệ- luỵ rơi hoá huyết Ðỗ quyên.
Minh mông sóng thảm bủa đầu thuyền (còn) lai láng gió sầu xao mặt nước"
Cụ Phan Chu Trinh chết, cụ Phan Bội Châu có câu đối ai điếu:
Thương hải vi điền, Tinh vệ hàm thạch
Chung Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyên
Nghĩa:
Biển thẳm chưa bằng, Tinh vệ còn ngậm đá
Chung Kỳ đã mất, Bá Nha đứt dây đàn.
Căm hờn chế độ thực dân, nước mất nhà tan, chưa san bằng được chế độ thuộc địa, chưa giải phóng được đất nước, nhà cách mạng vẫn kiên trì tranh đấu như chim Tinh vệ ngậm đá quyết lấp cạn biển Ðông để thoả mối căm hờn.
"Chiêu hồn", giải oan đều mượn điển tích "hồn Tinh vệ" chẳng những để chỉ nỗi oan ức. Vì chết oan mà còn chất chứa nỗi căm thù sâu sắc và mãi mãi với kẻ đã gây nên tội ác làm chết oan người.
Có thể tác giả dùng "hư bút" để kết án tên Tổng đốc đểu giả Hồ Tôn Hiến cũng nên.
(Ðiển tích Truyện Kiều, NXB Ðồng Tháp)
Theo http://vuhuu.edu.vn/




Cầm đường ngày tháng thanh nhàn

Cầm đường ngày tháng thanh nhàn
Thể theo lời căn dặn của Kiều, Kim Trọng lấy Thuý Vân làm vợ. Nhân hội chế khoa, Kim Trọng và Vương Quan đều thi đỗ "cùng chiếm bảng xuân một ngày". Kim Trọng được bổ làm tri huyện:
Vâng ra ngoại nhậm Lâm tri
Quan sơn nghìn dặm thê nhi một đoàn
Cầm đường ngày tháng thanh nhàn
Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao
(câu 2873 đến 2876)
"Cầm đường" nghĩa đen là đánh đàn; nghĩa bóng là nha quan huyện. Nguyên sách "Lữ thị xuân thu" có câu: "Bật Tử Tiện trị đơn phủ đàn minh cầm, thân bất hạ đường nhi Ðơn phủ trị". Nghĩa là Bật Tử Tiện cai trị huyện Ðơn phủ, gảy đàn cầm, THÂN KHÔNG XUỐNG KHỎI THỀM CÔNG ĐƯỜNG VÀ HUYỆN ĐƠN PHỦ ĐƯỢC YÊN TRỊ. Ý KHEN CHÍNH lịnh của Bật Tử Tiện.
Bật Tử Tiện là học trò của đức Khổng Tử, làm quan nước Tấn đời Xuân Thu, giữ chức Tri huyện. Khổng Miệt là cháu đức Khổng Tử cùng làm quan một thời với Bật Tử Tiện. Một hôm Khổng Tử đến viếng Khổng Miệt, hỏi:
- Từ khi ngươi ra làm quan được những điều gì, mất những điều gì?
Khổng Miệt thưa:
- Từ khi tôi ra làm quan chưa được điều gì mà mất ba điều: việc quan bận, không còn thì giờ học tập, vì thế mà học vấn không tiến; bổng lộc ít không đủ chu cấp cho họ hàng, vì thế mà họ hàng không thân thiết; công việc nhiều không thể đi thăm người đau, viếng người chết, vì thế mà ăn ở với bầu bạn không trọn vẹn.
Nghe nói, Khổng Tử không bằng lòng.
Khi đến viếng Bật Tử Tiện, Khổng Tử cũng hỏi như thế. Bật Tử Tiện thưa:
- Từ khi tôi ra làm quan chưa có điều gì mất mà có ba điều được. Những điều trước học nay đem ra thực hành, vì thế mà sự học càng rõ; bổng lộc dầu bạc cũng có thể chu cấp ít nhiều cho họ hàng, vì thế mà họ hàng càng gần; việc quan tuy bận nhưng cũng bớt được ít nhiều thì giờ đi thăm người đau, viếng người chết, vì thế mà bầu bạn càng thân.
Khổng Tử nghe, khen cho là bực quân tử.
Bật Tử Tiện giữ chức tri huyện, hằng ngày thường gẩy đàn rất thanh nhã mà công việc cai trị vẫn chạy đều, dân trong huyện được yên ổn làm ăn, đời sống vẫn no ấm. Về sau, ông được thăng bổ đi nơi khác, có Vu Mã Tử Kỳ đến thay. Tử Kỳ lại tất bật công việc ngày đêm, không lúc nào được thanh thản nghỉ ngơi, trong huyện mới được yên ổn. Tử Kỳ lấy làm lạ, thân đến hỏi Tử Tiện:
- Tôi làm việc không nghỉ, đầu tắt mặt tối, công việc được thanh thản đã đành. Còn ông chỉ ngồi gảy đàn, uống trà, chẳng phải bận rộn gì mà công việc vẫn được chu tất là nghĩa làm sao?
Bật Tử Tiện đáp:
- Tôi chia việc và điều khiển những kẻ khác làm, còn ông tự làm lấy nên việc khó nhọc. Vả, việc cai trị là việc lớn cần phải có nhiều người làm. Ta cần biết dùng người tuỳ tài sức, tuỳ công việc mà giao trách nhiệm. Ðối với việc công có ích lợi cho nước, ích lợi cho mình, ai lại chẳng muốn gánh vác, riêng mình bao biện là tranh lấy việc người, tạo lòng căm ghét cho người thì mình cá nhân làm sao nên được việc. Ðó là tự mình gây mối loạn và gây khổ lấy mình.

Tử Kỳ chắp tay bái phục:
- Như thế quả tôi không bằng được ông
"Cầm đường ngày tháng thanh nhàn" là thế.
Triệu Biện, người đời nhà Tống khi được bổ làm quan Huyện chỉ đem theo một con hạc, một cây đàn mà không đem vợ con theo. Hằng ngày thường ngồi gảy đàn cho hạc múa xem rất thong dong, nhưng công việc trong huyện vẫn điều hoà, đời sống của dân được yên ổn, sung túc. Vì Triệu Biện biết dùng người để phân bố công việc.
"Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao" là thế.
Cả hai câu chứng tỏ Kim Trọng có tài cai trị như Bật Tử Tiện và Triệu Biện danh tiếng ngày xưa. Gảy đàn uống trà, gảy đàn cho hạc múa mà trị an đất nước, tạo được ấm no hạnh phúc cho dân.
Gảy đàn ở đây có tính cách quan trọng. Nho gia vốn chú trọng về Nhạc và Lễ. Và đây cũng là cách lập giáo của Khổng Tử ở phần Hình nhi hạ học. Vì theo đạo Nho, nhạc cũng như lễ rất có ảnh hưởng về phương diện chính trị. Khổng Tử cho rằng: "Ðạo thanh âm thông với chính trị vậy" (Thanh âm chi đạo, dữ chính thông hĩ- Nhạc Ký, XIX); và "Xét cho kỹ âm nhạc để biết chính trị hay dở" (Thẩm nhạc dĩ tri chính- Nhạc Ký, XIX). Nhạc để khiến người ta đồng vui, đồng thương. Nhưng vui hay thương vẫn phải lấy sự điều hoà làm chủ. Do đó, Khổng Tử nói: "Vui mà không dâm, thương mà không hại" (Lạc nhi bất dâm, ai nhi bất thương- Luận ngữ: Bát dật, III)
Như vậy, gảy đàn tức âm nhạc vốn có tính cách chính trị an nước an dân.
(Theo Ðiển tích Truyện Kiều, NXB Ðồng Tháp)
Theo http://vuhuu.edu.vn/




Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Kim Trọng về hộ tang chú ở Liêu Dương thì nửa năm sau, chàng trở về đến chốn cũ tìm Kiều, nhìn thấy cảnh đã khác xưa:
Ðầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rả rời
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Xập xè én liệng lầu không
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày
(câu 2745 đến 2750)
Thôi Hộ, một danh sĩ đời nhà Ðường trẻ tuổi đẹp trai, nhân dự hội Ðạp Thanh đến một xóm trồng toàn hoa đào (Ðào hoa trang), gõ cửa một nhà xin giải khát. Bên cửa cổng, một thiếu nữ thập thò đưa nước cho chàng. Nàng đẹp, duyên dáng, e lệ. Chàng đưa tay tiếp lấy bát nước. Hai bàn tay trai gái chạm nhau. Nàng ngượng ngùng, cúi mặt xuống. Ðôi má hây hây đỏ như đoá hoa đào. Chàng rụt rè, ngượng nghịu đoạn từ giã ra đi.
Nhưng rồi đèn sách và mộng công hầu không xoá mờ hình bóng giai nhân. Xóm hoa đào và con người đẹp vẫn gợi lên một hình ảnh đầm ấm trong trí não, khiến nhà thơ lãng mạn chan chứa biết bao tình cảm lưu luyến mặn nồng. Rồi năm sau, ngày hội du xuân đến, Thôi Hộ tìm đến xóm hoa đào. Cảnh cũ còn đó nhưng người xưa lại vắng bóng. Cửa đóng then cài. Chỉ có ngàn hoa đào rực rỡ, phe phẩy theo gió xuân như mỉm cười chào đón khách du xuân.
Ngẩn ngơ, thờ thẩn trước cảnh cũ quạnh hiu, Thôi Hộ ngậm ngùi:
- Hay là nàng đã về nhà chồng?
Từng bước một, chàng quay gót trở ra. Lòng cảm xúc vô hạn, rồi muốn ghi lại mấy dòng tâm tư của mình, Thôi Hộ lấy bút mực trong bị ra, đề mấy câu thơ trên cửa cổng.
Chiều đến, nàng thiếu nữ họ Ðào cùng thân phụ viếng người thân trở về. Nàng theo sau cha, chợt nhìn trên cổng thấy bốn câu thơ:
Khứ niên kim nhựt thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Ðào hoa y cựu tiếu đông phong
Nghĩa:
Năm ngoái ngày này vẫn cửa trong
Hoa đào mặt ngọc gợn ánh hồng
Mặt người nay biết đi đâu vắng
Chỉ thấy hoa đào cợt gió đông

Nét chữ tinh xảo, ý tứ dồi dào chan chứa một tình cảm đậm đà khiến nàng thiếu nữ họ Ðào cảm thấy lòng xao xuyến và quả tim tình bắt đầu vỗ đập theo một nhịp yêu đương. Nàng ngậm ngùi thở dài, luyến tiếc duyên vừa gặp gỡ lại khéo bẽ bàng.
Rồi ngày này sang ngày khác, nàng vẫn tựa mình bên cửa cổng mong đợi và hy vọng gặp lại người khách tài hoa xin nước năm xưa. Nhưng ngày lại ngày qua, mấy lần bóng chiều tắt lịm sau dãy đồi xa mà bóng người xưa chẳng thấy, chỉ thấy vài cánh chim chiều lẻ bạn, bạt gió từ ngàn phương kêu bạn đổ về với một giọng não nùng.
Rồi từ đó, nàng bỏ ăn bỏ ngủ, thân hình tiều tuỵ, dung nhan võ vàng. Thân phụ nàng ngày đêm lo lắng, tìm thầy thuốc thang nhưng vô hiệu.
Biết không sống được, nàng đành thuật lại tâm sự của mình cho cha già và xin tha tội bất hiếu. Nhìn đứa con thiêm thiếp trên giường bệnh như chờ đợi tử thần, ông lão thương con, nóng lòng  chạy tìm người đề thơ trên cổng. Nhưng hạc nội mây ngàn, tìm đâu cho thấy.
Người cha đau khổ ấy bối rối, cứ chạy ra chạy vào, lòng mang một mong mỏi yếu đuối. Trong giờ phút cuối cùng, mong gặp chàng thi sĩ trẻ tuổi xa lạ đã gây sóng gió, bão tố trong gia đình ông, thì giờ phút này, ông cho là một vị cứu tinh của gia đình, nên ông lại chạy tìm nữa. Ông chạy tìm một cách cầu may!
Vừa ra khỏi cổng nhà một quãng, bỗng chạm phải một người, ông ngẩng mặt nhìn. Ðó là một thư sinh tuấn tú. Thấy ông mặt mày ràn rụa nước mắt, cử chỉ hốt hoảng, chàng thư sinh lấy làm lạ hỏi. Ông vừa bươn bả đi vừa kể lể thành thực sự tình. Nghe kể chưa hết câu chuyện, chàng thư sinh bỗng bưng mặt khóc. Ông lão bấy giờ lấy làm ngạc nhiên, chưa kịp hỏi rõ thì chàng thư sinh nói:
- Tôi là Thôi Hộ, người đã đề thơ trên cổng...
Ông lão mừng rú lên, rồi lôi xềnh xệch chàng vào nhà, đưa thẳng đến phòng.
Nhưng người thiếu nữ vừa trút hơi thở cuối cùng.
Nhìn người mang nặng tình yêu đã vì chàng mà phải vóc liễu tiều tuỵ, chết một cách đau đớn, chàng quá cảm động, quỳ bên giường, cầm lấy tay nàng. Chàng áp mặt chàng vào mặt nàng, khóc nức nở... không ngờ nước mắt và hơi ấm của chàng thi sĩ rỏ trên mặt và ủ ấp người nàng có mãnh lực kỳ diệu thế nào, khiến nàng từ từ mở mắt ra, đăm đăm tha thiết nhìn chàng. Nàng thiếu nữ Ðào Hoa trang sống lại, và kết duyên với chàng thi sĩ tài danh Thôi Hộ.
"Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông"
Năm năm trước có người có hoa đào
Năm nay vắng người chỉ còn có hoa đào
Hoa đào còn đó phe phẩy trước gió như cười với gió. Cảnh cũ nhưng lại vắng người xưa, nhà thơ Thôi Hộ đã ghi lại xúc cảm của mình bằng bốn câu thơ. Liêu Dương cách trở nửa năm, Kim Trọng quay lại tìm người yêu thì người yêu vắng bóng, trước cảnh đìu hiu, quạnh quẽ, hoa đào vẫn mơn mởn tươi cười
Sao lại có hoa đào cười?
Sao lại có nụ cười ở đây?
Nhìn người đương buồn bã đau khổ mà lại cười, phải chăng là nụ cười vô duyên đến quái dị!
Trước cảnh bất công của xã hội, giữa lúc nơi lầu son gác tía lại rượu thịt ê hề, thừa thải đến hôi thối thì ngoài đường xương kẻ chết vì đói lạnh chất chồng phơi trắng ra, Ðỗ Phủ, một thi hào đời nhà Ðường cực tả bằng hai câu:
Chu môn tửu nhục xú
Lộ hữu đống tử cốt
Hai cảnh tượng tương phản.
Tình cảm thương nhớ, hy vọng của Kim Trọng mong gặp lại Kiều ở một nơi mà ngày xưa được gọi là "thiên thai", "động Ðào"... thực hạnh phúc biết mấy; thế mà nay "vách mưa rã rời", "rêu phong mặt đất"... thì cái tình cảm hy vọng đột nhiên trở thành tuyệt vọng. Cực tả trạng thái tình cảm tuyệt vọng này, tác giả dùng lối nhân hình hoá với thế tương phản "hoa đào cười" thì không còn gì tuyệt diệu hơn là làm tăng nỗi đau đớn, tuyệt vọng thêm lên.
Tác giả Truyện Kiều dùng điển tích bằng hai câu thơ cuối của Thôi Hộ, nhưng không phải làm một việc "nhai lại"mà vốn chuyển hoá điển tích này một cách có khác hơn để phù hợp với hoàn cảnh, tâm tình của Kim Trọng có một ý tình khá sâu sắc.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Ðào hoa y cựu tiếu đông phong
(Mặt người nay biết đi đâu vắng
Chỉ thấy hoa đào cợt gió đông)
Với Thôi Hộ, thì "người không biết đi đâu" tức tác giả nhận định tình trạng dĩ nhiên như thế một cách khách quan. Và, "hoa đào như cũ, cười với gió đông" tức tả cái cảnh thấy đó, chớ thiếu hẳn một ý tình chứa chan sâu sắc.
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Ðối với Nguyễn Du, qua những từ "trước, sau, nào" đã cho ta thấy một hình ảnh của một con người đương chăm chú, để ý nhìn trước nhìn sau tìm kiếm, cuối cùng hoàn toàn tuyệt vọng... nào thấy bóng người xưa. Và, những từ "năm ngoái", "còn" khiến cho người đọc có thể nhận thức được chàng Kim nhìn hoa đào cười mà chỉ thấy hoa đào năm ngoái là cái hoa đào có Kiều đứng ở bên còn đó, và nụ cười của người yêu xưa cùng với hoa đào xưa, sao nay chỉ còn có hoa phe phẩy nụ cười với gió... Trong một thời gian ngắn ngủi xa cách mà hoa vẫn còn đó nhưng người xưa lại đâu rồi!
Có khác hơn nhà thơ Thôi Hộ, tác giả Truyện Kiều tả cảnh phối hợp tình, nhưng đi sâu vào tâm tình của đối tượng với tính chủ quan hơn. Tuy cùng mong nhớ một giai nhân, nhưng mối tình của nhà thơ Thôi Hộ đối với cô gái vườn đào không giống mối tình giữa chàng Kim và nàng Kiều. Tình cảm mong nhớ một giai nhân không giống được tình cảm mong nhớ một tình nhân. Mối tình đầu giữa chàng Kim và nàng Kiều đã gắn bó, đương gắn bó.... mà điều này Thôi Hộ chưa có- nên đã tạo được một tình cảm sâu sắc biến động trong tâm tư trước cảnh vật, tất nhiên chất liệu của thơ đã được phát huy- hay tiếng lòng của đương sự đã được rung động với một nhịp độ dồn dập lên cao. Tác giả cực tả cái trạng thái tình cảm và tâm lý chủ quan này.
Bài thơ của Thôi Hộ cũng như của bao nhiêu bài thơ trữ tình khác. Nhưng sở dĩ còn được người đời nhắc nhở, truyền tụng phải chăng một phần lớn quyết định là do bút pháp điêu luyện, sáng tạo của tác giả Truyện Kiều tạo nên. Cũng như không có tác phẩm Ðoạn trường tân thanh hay Truyện Kiều của Nguyễn Du thì quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Trung Hoa, hẳn không ai tìm biết làm gì?
Mượn của người xưa mà không làm nô lệ của người xưa, trái lại làm sáng danh cho người xưa mới thực là tuyệt diệu.
Tuy nhiên, ở đoạn miêu tả này có điểm đem lại nhiều thắc mắc. Tác giả Truyện Kiều đã xác định:
Từ ngày muôn dặm phù tang
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà
Vội sang vường Thuý dò la
Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa
(câu 2741 đến 2744)
Như vậy, chỉ thời gian trong vòng nửa năm mà gia đình của Vương ông (đã vắng Kiều) lại tàn lụi đến thế sao? Phải chăng đây là một kẽ hở còn có thể phê bình được.
"Ðiển tích Truyện Kiều" chỉ chú trọng về điển tích và chỉ phát triển hay giải thích ý nghĩa sự việc có liên hệ đến phần điển tích, chớ không phê phán đi sâu vào những sự kiện do tác giả Truyện Kiều sắp xếp trong truyện. Những điểm trên được trích lại, xin làm tư liệu cho phần tham khảo được phong phú, ngoài phạm vi của quyển biên khảo này. Hay nhà thơ giàu cảm nhìn cảnh vật bằng tâm hồn, và đây mới là cái thực chất đặc biệt của nhà thơ?.
(theo Ðiển tích Truyện Kiều, NXB Ðồng Tháp)
Theo http://vuhuu.edu.vn/




Quá quan nầy khúc Chiêu Quân

Quá quan nầy khúc Chiêu Quân
Qua "khúc Quảng Lăng" thánh thót, man mác như nước chảy mây bay, Kiều chuyển sang:
"Quá quan nầy khúc Chiêu Quân
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia"
(câu 479 đến 480)
Chiêu Quân tên Vương Tường, người đất Tỷ Quy thuộc Nam quận, được tiếng là "trầm ngư", một trong "Tứ đại mỹ nhân" ở cổ Trung Hoa. Nàng bị tuyển vào cung đời Hán Nguyên đế (48- 33 trước DL). Lúc bấy giờ vua Hán có đến 3.000 mỹ nữ trong cung nên không thể nào biết mặt hết được. Vua truyền tên thị vệ Mao Diên Thọ bảo hoạ sĩ vẽ hình tất cả những cung nữ, để vua xem và chọn làm hậu cung khi cần đến.
Mao Diên Thọ thừa nước đục thả câu để ăn hối lộ cung nữ. Nếu ai đút lót tiền thì truyền thần mặt xinh đẹp càng lộng lẫy để dâng lên nhà Vua. Cung nữ đành bằng lòng vì nghĩ rằng biết đâu nhờ đó mà được hưởng chút ơn mưa móc của quân vương, cho cuộc đời tài sắc của mình không phải quá phủ phàng ghẻ lạnh. Riêng Chiêu Quân đã có một sắc đẹp hơn các cung phi, lại có tính tự trọng, ghét bọn tham quan nên không chịu đút lót tiền mà còn xỉ vả nặng lời Mao Diên Thọ trước mặt đông người. Mao Diên Thọ xấu hổ càng căm giận, tìm cách ác độc trả thù. Do đó, khi nhận bức ảnh Chiêu Quân do hoạ sĩ trao cho, hắn lấy viết lén chấm dưới khoé mắt ảnh Chiêu Quân một chấm làm thành nốt ruồi.
Nhìn bức ảnh Chiêu Quân, Hán Nguyên đế rất hài lòng. Nhưng Mao Diên Thọ lại sàm tấu cho rằng Chiêu Quân tuy đẹp nhưng vì có nốt ruồi dưới khoé mắt mà sách tướng gọi là "thương phu trích lệ", đó là nốt ruồi sát chồng. Nhà Vua nghe lời nên chẳng nghĩ gì đến Chiêu Quân.
Chiến tranh giữa nhà Hán và Hung Nô.
Hán đại bại cầu hoà. Thiền Vu, chúa Hung Nô buộc Hán Nguyên đế phải cống phẩm vật và một cung phi tuyệt sắc mới chịu bãi binh. Trong tình thế nguy của đất nước, Nguyên Ðế phải đồng ý.
Mao Diên Thọ vừa ghét Chiêu Quân vừa sợ việc làm đòi ăn hối lộ và dối vua bị bại lộ, nên mưu với bọn gian thần tâu với nhà vua, đem Chiêu Quân đi cống. Nguyên Ðế bằng lòng.
Nhưng đến lúc Chiêu Quân vào triều bái yết nhà vua để theo sứ giả Hung Nô ra đi, thì nhà vua bấy giờ mới trông rõ mặt. Nốt ruồi đâu chẳng thấy mà chỉ là một tuyệt thế giai nhân, một trang quốc sắc thiên hương, còn hơn hình ảnh trong bức hoạ truyền thần qua nét bút kỹ xảo của một hoạ sĩ. Nhà vua vừa luyến tiếc, vừa tức giận, bấy giờ mới rõ mưu mô gian xảo, thâm độc của Diên Thọ, định đem trị tội. Thọ hay được, vượt biên trốn sang đầu hàng Hung Nô.
Sự thực chán chường rồi, không thể thay người khác được vì sứ giả Hung Nô đã nhận được mặt của Chiêu Quân.
Luyến tiếc người ngọc, xót thương phận liễu bồ bao năm giam mình trong cung lạnh, âm thầm với số kiếp phủ phàng, nhưng vì thế nước yếu hèn nên Hán Nguyên Ðế đành cắt đứt mối tình, trao người ngọc cho kẻ khác. Nhà vua chỉ còn bước xuống ngai vàng đến sân chầu, run run cầm lấy tay Chiêu Quân nghẹn ngào nói qua dòng nước mắt trong buổi chia ly:
- Ta có lỗi với nàng. Ta có tội với nàng! Vô tình ta trở thành con người tệ bạc.
Chiêu Quân cảm động, hai hột lệ đọng trên khoé mắt, ngậm ngùi:
- Thần thiếp đội ơn Bệ hạ. Hồng nhan bạc phận là một lẽ thường. Kiếp này duyên đã lỡ, kiếp khác nguyện đền bồi. Thần thiếp bao giờ cũng ghi lòng tạc dạ đối với tình nghĩa của đấng quân vương!

Thế là Chiêu Quân từ biệt nhà vua, xứ sở quê hương, lên xe theo đoàn quân hậu vệ Hung Nô, để vượt qua ải biên thuỳ Nhạn Môn sang Hồ. Nỗi thương nước nhớ nhà, nỗi giận kẻ gian thần, xót xa thân bồ liễu, có lúc trên đường dài thăm thẳm, bầu trời man mác khói toả mây trắng chập chùng, nàng truyền dừng xe, quay mặt hướng về cố quốc, gảy một khúc đàn ly biệt. Tiếng đàn tỳ bà não nuột ai oán. Những kẻ theo đưa ai cũng đau lòng sa nước mắt. Cây cỏ bên đường cũng héo tàn gục xuống mặt đất như để xớt thảm chia sầu.
Chiêu Quân chẳng những có sắc mà còn có tài đàn hay thơ giỏi. Nhìn một cánh chim lẻ bạn bạt gió về chiều, nàng xót xa cảm cho thân thế mình cất giọng ngâm:
Cánh én cô đơn đượm tủi sầu
Ngang trời gió cuốn bạt về đâu?
Quan san ngàn dặm vương thương nhớ
Hồ, Hán từ đây cách biệt nhau
Và:
Mây trắng trời trong gió ngạt ngào
Hồn hoa mờ mịt dưới trăng sao
Ðêm đêm thổn thức đêm đêm mộng
Có phải trời xanh cợt má đào!
Và, khi mùa thu đến. Nhìn trời thu, mây thu, sắc thu nhuộm úa lá vàng, dưới bầu trời ảm đảm, lá vàng rơi lả tả, bài "Thu phong oán" của Chiêu Quân còn truyền tụng do một tình cảm dạt dào sâu đậm của một kỹ nữ ly hương:
Thu mộc thê thê
Kỳ diệp huy hoàng
Hữu điểu xử sơn
Tập ư bào tang
Dưỡng dục mao vũ
Hình dung sinh quang
Kỳ đắc thanh vân
Thượng du khúc phường
Ly cung tuyệt khoáng
Thân thể tồi tàng
Chí niệm ức chẫm
Bất đắc hiệt ngoan
Tuy đắc ẩm thực
Tâm hữu hồi hoàng
Y hà ngã độc
Vãng lai biến thường
Thiên phiên chi yếu
Viễn tập Tây Khương
Cao sơn nga nga
Hà thuỷ ương ương
Phụ hề mẫu hề
Ðạo lý du trường
Ô hô ai tai
Ưu tâm trắc thương!
Tạm dịch:
Cảnh thu hiu hắt lá thu vàng
Trên đỉnh non cao đó rõ ràng
Có một chim kia hay đáo để
Ở ăn tự lúc mới ra giàng
Ra giàng đã đủ cánh lông bay
Thấy rõ hình dung quý giá thay
Trên nóc lầu cao đà đổ xuống
Chín từng mây thẳm đã tung bay
Tung bay nhưng khốn biết sao rày
Sự thế than ôi nỗi nước này
Nỗi nọ đường kia khôn tả xiết
Gan sầu ruột héo ngỏ ai hay!
Ai hay cho khúc đoạn trường này
Cho nỗi quan hoài ở chốn đây
Uống uống ăn ăn khôn đáp lại
Những hờn những oán những sầu cay!
Sầu cay riêng nghĩ xiết bàng hoàng
Biết đến bao giờ hận mới tan 
én nọ tung bay xập xè cánh
Ðường xa mấy mấy dặm quan san
Quan san thăm thẳm nỗi lòng đau
Biển rộng non cao chất tủi sầu

Vòi vọi đường xa muôn dặm cách
Mưa nắng sân Lai xót dãi dầu!
Dãi dầu ai hỡi thấu cho chăng?
Lấp đặng cho ai những bất bằng
Những nhớ những thương tầy núi biển
Tình thu chan chứa hận sầu vương
(Bản dịch của Thái Bạch)
Khi đến đài Lạc nhạn, Chiêu Quân bắt được chim nhạn, liền xé lụa cắn móng tay lấy máu viết thư, buộc vào chân nhạn rồi thả cho bay đi, mong nhờ chim mang tin về cố quốc. Nhìn cánh nhạn bay, nhìn dòng sông Hắc Thủy âm thầm trôi chảy, nàng tê tái lòng, thở dài:
Thủy hà sóng lạnh gió đìu hiu
Cánh nhạn lê thê giải nắng chiều
Thấp thoáng mây về nơi lữ thứ
Mơ màng một giấc mộng cô liêu
Ngâm thơ xong, nàng lao mình xuống sông Hắc Thủy!
Trong tác phẩm "Lục Vân Tiên" của cụ Nguyễn Ðình Chiểu, có câu:
Chiêu Quân xưa cũng cống Hồ
Bởi người Diên Thọ hoạ đồ cho nên
"Quá quan nầy khúc Chiêu Quân" tức là khúc đàn của Chiêu Quân gảy khi qua cửa ải của biên giới hai nước Trung Hoa (Hán) và Hồ (Hung Nô) trên đường sang cống Hồ
Một khúc đàn buồn não ruột, ai oán để kết thúc cuộc hội ngộ của đôi bạn tình vừa tưng bừng rộn rã, êm đềm thánh thót lại chan chứa hận chia ly!.
(Theo Ðiển tích Truyện Kiều- NXB Ðồng Tháp)
Theo http://vuhuu.edu.vn/




Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...