Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025
"Bước gió truyền kỳ": Những con đường gió mở lối của Phan Hoàng
"Bước gió truyền kỳ": Những
Trong dòng chảy thi ca Việt Nam hiện đại, Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng đánh dấu một cột mốc quan trọng bằng việc đem đến cho người đọc một tác phẩm trường ca chân thực, đậm đà triết lý, và sâu sắc trong từng điều văn. Hướng gió được nhà thơ chọn làm trung tâm của tác phẩm đã khéo léo kết nối quá khứ và hiện tại, truyền tải những ước mơ, khát vọng, và nỗi niềm của một dân tộc qua thời gian.
Hải âu đi tìm cha - Cuộc hành trình đầy cảm hứng tự do và chan chứa yêu thương
Hải âu đi tìm cha - Cuộc
hành trình đầy cảm hứng tự do
và
chan chứa yêu thương
Hải âu đi tìm cha là tập truyện dài dành cho thiếu nhi của
nhà văn Trần Thu Hằng do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2024. Câu chuyện kể
về cuộc hành trình của chú hải âu theo tàu của các anh chiến sĩ hải quân và
đoàn đại biểu ra thăm Quần đảo Trường Sa.
Chú hải âu có tên là Len. Len vừa sinh ra thì bị một cơn bão
đánh dạt vào bờ và bị thương rất nặng. May thay chú được một trung úy tên Minh
cứu sống và chăm sóc, yêu thương hết mực. Rồi thời gian trôi qua, chú quen với
cuộc sống trên đất liền mà không biết mình có nguồn gốc từ đại dương xa xôi, là
loài chim biểu tượng cho khát vọng và tự do. Thế rồi lúc Len được sáu tháng tuổi
thì tàu của đội anh Minh phải ra quần đảo Trường Sa làm nhiệm vụ. Và chú đã may
mắn được đi theo.
Trong hành trình ấy, Len được gặp một người bạn cũng có hoàn
cảnh giống như chú có tên là Lin, cả hai nhanh chóng kết thân và san sẻ với
nhau mọi điều. Nhờ có Lin, Len được khám phá bao điều mới lạ trên chính quê
hương, nòi giống của mình và cả những điều tuyệt diệu của thế giới con người
cũng như các loài sinh vật khác. Nhưng điều may mắn nhất là chú đã biết đến sự
có mặt của người cha sinh ra mình. Tình phụ tử thiêng liêng chảy tràn trong huyết
quản đã thôi thúc Len tìm kiếm cha mình bằng mọi giá.
Thế rồi, nhờ sự giúp đỡ của bạn bè, chú gặp được cha là một
bác hải âu luống tuổi có tên là Lát. Kể từ đó niềm đam mê khám phá của Len như
được chắp thêm đôi cánh. Dưới sự hướng dẫn, tâm tình chở che của cha, Len và
Lin đã bay khắp mọi nơi, tìm hiểu về quần đảo và hoạt động của con người cũng
như rất nhiều điều lí thú về dòng dõi, gia tộc mình và cả những bạn bè sinh sống
giữa biển khơi. Mỗi một nơi Len đến là một mảng kí ức không thể nào quên về
tình yêu thương giữa con người với con người và giữa con người với hải âu cũng
như tình cảm thân thiết giữa những người bạn gặp nhau trên biển lớn.
Một câu chuyện nhân văn dành cho lứa tuổi thần tiên với đầy đủ
sắc màu, âm thanh và cung bậc cảm xúc khiến người đọc rưng rưng xúc động. Ở đó
vẻ đẹp của tình yêu thương và khát vọng tự do được lấy làm trung tâm của mọi
nguồn cảm hứng. Người đọc như bị cuốn vào câu chữ một cách mê đắm bởi sự hấp dẫn
của các tình tiết truyện, bởi những giá trị nhân văn và cả sự trong sáng, hồn
nhiên của nhân vật như chính tâm hồn các em trong độ tuổi đáng yêu này.
Ấn tượng đầu tiên khi bước vào câu chuyện là tình cảm trìu mến
giữa người lính hải quân và chú chim non. Đó là cử chỉ âu yếm của anh Minh ngay
khi bước vào phòng:
” – Len ở đâu về đấy? Anh sắp được lên tàu đi công tác rồi,
Len có đi cùng anh không?
Len đập đập cánh bay lên tay anh, bám vào vai áo có đeo quân
hàm mới tinh. Đôi chân chưa thật chắc khoẻ, nhưng móng chân dài của Lên bấm vào
đủ làm anh Minh thấy nhột nhột. Len dụi mỏ vào cổ áo anh:
– Len chịu khó ăn nhiều cho khoẻ để đi biển với anh. Anh đưa
Len về nơi Len được sinh ra đấy nhé”
Một đoạn hội thoại ngắn của hai nhân vật đại diện cho hai thế
giới khác nhau ngay lập tức chạm vào trái tim độc giả. Tình cảm ấy bắt nguồn từ
trái tim lương thiện của người lính biển và bản chất hiền lành, đáng yêu của
loài chim hải âu bé nhỏ. Điều ấy không riêng gì Trung úy Minh mà xuyên suốt câu
chuyện ta bắt gặp rất nhiều lần với những nhân vật khác. Đó là những anh nuôi,
là chiến sĩ Khôi, là chị Thúy, đại tá Nghiêm và rất nhiều nhiều nữa. Ánh mắt ai
cũng ánh lên niềm vui khôn xiết khi bắt gặp Len và người bạn đồng hành. Rồi họ
cho ăn, họ ôm ấp vuốt ve, ủ ấm các chú chim hải âu trong vòng tay yêu thương
trìu mến. Còn hải âu lại như đứa trẻ ngoan được sà vào lòng mẹ, cứ dụi dụi mỏ
vào vai áo các anh chiến sĩ mà nũng nịu, thân tình. Thật đúng như câu nói thường
nghe “Chim hải âu đậu trên vai người chiến sĩ”.
Đây là một vỉa tầng của bài học nhân văn. Giáo dục các em nhỏ
tuổi về tình yêu thương con người dành cho loài vật, đặc biệt là khi chúng còn
nhỏ bé, chưa đủ sức tự chăm lo cho bản thân. Hải âu là loài chim báo bão. Vì thế,
yêu thương, chăm sóc, bảo vệ chúng là bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống chúng
ta. Mặt khác, người viết cũng ngầm căn dặn các em, muốn nhận được tình yêu
thương từ người khác, thì mình phải luôn là một đứa trẻ ngoan, ham học hỏi và
biết vâng lời như chú hải âu kia.
Ấn tượng thứ hai là tình bạn vô tư, trong sáng nhưng vô cùng
bền chặt giữa các nhân vật, sẵn sàng chia sẻ cho nhau biết về mọi thứ, sẵn sàng
giúp đỡ nhau khi khó khăn hoạn nạn. Lin và Len tuy mới quen nhau nhưng Lin đã tận
tình chia sẻ cho Len những điều cậu biết, hoảng hốt cầu cứu và đưa Len thoát khỏi
lưỡi hái tử thần trước sức mạnh khổng lồ của quạt gió. Còn Len thì dẫn Lin đi
tìm thức ăn hay hành động Len dũng cảm nhảy lên cao rồi chủ động té xuống sàn để
mọi người trông thấy mà cho ăn khi Lin bị đói lả, và khi được bác đại tá cho
cháo thì Len không nỡ ăn mà vội lao ra cửa nơi Lin đứng khiến mọi người trầm trồ
thốt lên “Chúng thương nhau chưa kìa”. Mỗi chú hải âu dù có khát
khao, lí tưởng riêng nhưng biết tự sức mình không thể làm nên chuyện nên phải dựa
vào nhau, dìu nhau đi từng bước nhỏ như câu nói truyền tai nhau của những người
chiến sĩ “mọi thứ phải dựa vào đồng đội”
Không gian tình bạn được nới rộng ra giữa các nhân vật khác
loài trong thế giới tự nhiên. Đó là giữa chim bói cá với Lin, giữa cá heo với
Len và rất nhiều, nhiều nữa… Nhờ sự hoà đồng, thân thiện và tình cảm mà Len
khám phá được rất nhiều điều, được cứu sống và tìm thấy cha. Hoá ra, trên cuộc
đời này ở bất cứ đâu, bất cứ ai cũng có thể trở thành bầu bạn chỉ cần chúng ta
biết mở cánh cửa tâm hồn, sống chân thành và tử tế. Ngòi bút nhà văn đã thiết kế
nên các tình huống gặp gỡ hết sức thú vị cùng những lời thoại rất hài hước, dễ
thương làm cho độc giả nhí bị cuốn vào câu chữ. Một bài học nhân văn về tình bạn
được lồng ghép thật nhẹ nhàng, tinh tế để người đọc dễ dàng tiếp thu trong một
trạng thái tinh thần thư giãn.
Nội dung trọng tâm của câu chuyện là Hải âu đi tìm cha.
Mặc dù đây là ý tưởng nảy ra bất ngờ qua sự gợi ý của Lin mà trước đó Len chưa
hề biết đến. Thế mà, ngay lập tức, chú bé hải âu bất chấp mọi hiểm nguy, gian
khó để tìm bằng được cha mình vì sự thôi thúc của dòng máu nóng chảy tràn trong
huyết quản, vì sự khát khao được gặp đấng sinh thành, được sống với tình phụ tử
thiêng liêng. Sự ngô nghê khi Len nhận quạt gió làm cha là một điều dễ hiểu, rất
đáng thương và xúc động vô cùng. Hay hành động đêm đêm thao thức nghĩ tưởng tượng
về cha, ngày thì bay hết chỗ nọ, hỏi hết chỗ kia tìm kiếm rồi khi thấy thì bất
chấp hiểm nguy lao vút lên để tiến đến gần cha làm sao nhanh nhất đủ cho người
đọc thấy tình ruột thịt thiêng liêng, vĩ đại đến thế nào. Cha của Len cũng thế,
chỉ vì một phút giây sao nhãng để lạc mất con mà ông trong lòng luôn day dứt,
nhớ thương, phiêu bạt khắp nơi để dò lần tung tích. Phút gặp lại con ông như được
hồi sinh lần nữa, kể cho con nghe về đặc điểm giống loài mình, kể về sự yêu
thương, chăm sóc ông dành cho anh em Len ngày nhỏ, về hòn đảo Tình yêu và
thương nhớ, nơi ghi dấu rất nhiều kỉ niệm của cha mẹ về những đứa con.
Và câu chuyện một nữ chiến sỹ hải quân tên là Thúy khao khát
gặp lại người bố đã hy sinh mới cảm động biết bao. Thúy đã ngồi cặm cụi, nắn
nót gấp từng con hạc giấy, đeo kín khẩu trang để dấu đi dòng lệ nhạt nhòa khi
nghĩ về bố, rồi năn nỉ van xin chỉ huy được theo đoàn cứu trợ đi lên đảo, bất
chấp sóng to, gió lớn, bất chấp hiểm nguy chực chờ. Bố của Thúy hy sinh trong một
cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo khi cô mới lên ba. Nhưng sự gắn kết sâu xa
của tình ruột thịt bao đời vốn thiêng liêng nên chẳng có gì ngăn cản được bước
chân, ngăn cản khát khao gặp lại cha mình dù chỉ còn nắm đất. Câu chuyện xúc động
ấy không chỉ riêng mình Thúy mà của rất nhiều người trên đất nước Việt Nam ta.
Người viết đã lồng ghép hai nghịch cảnh vào trong một chủ đề.
Một là đại diện cho con người, một là đại diện cho loài vật để truyền cho các
em thông điệp về tình yêu bao la và thiêng liêng của tình phụ tử, về lòng biết
ơn với đấng sinh thành và cả với những người chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ chủ
quyền biển đảo cho quốc gia, dân tộc. Các em ắt hẳn sẽ nhớ, sẽ ghi và sẽ thấm để
mang theo trong suốt cuộc đời.
Hành trình tìm cha cũng là hành trình giúp hải âu khám phá ra
bao điều thú vị về biển đảo, về Nhà giàn tổ quốc, về phẩm chất anh dũng, kiên
cường và tận trung tuyệt đối của những người chiến sĩ. Dưới sự dẫn dắt của cha,
Len đã biết được quần đảo Trường Sa có những hòn đảo nào, trực thuộc địa danh
nào. Nhà Giàn tổ quốc được xây dựng ra sao và để làm gì. Những người lính biển
gian khổ như thế nào trong công cuộc bảo vệ biên cương. Hành động bất chấp hiểm
nguy, khẩn trương, tận tụy phục vụ nhân dân và ần cần chăm sóc họ của đại tá
Nghiêm, xung phong lên đảo của trung úy Minh và rất nhiều chiến sỹ trong cặp mắt
quan sát của chim hải âu trở thành biểu tượng hùng hồn và vĩnh cửu về vẻ đẹp của
quân đội nhân dân Việt Nam, của những người chiến sĩ hải quân trấn thủ vùng
biên ải. Tác giả đã đứng ở góc nhìn của loài vật, của cặp mắt non tơ để mà quan
sát và cảm nhận. Điều ấy vừa hồn nhiên, vừa chân thực, vừa gần gũi, dễ chạm đến
thẳm sâu xúc cảm của con người.
Chuyện còn cuốn hút người đọc bởi thể loại truyện đồng thoại
nên thế giới loài vật hiện lên một cách sinh động, hấp dẫn. Các tình huống được
sắp xếp một cách logic cả về không gian, thời gian và diễn biến tâm lý nhân vật.
Hệ thống lời thoại phù hợp với từng đối tượng nhân vật, với hoàn cảnh, đủ các
cung bậc cảm xúc hồn nhiên, vui tươi, nhí nhảnh của trẻ nhỏ và trầm tư, lo lắng
của người trưởng thành. Các đoạn văn miêu tả cảnh, miêu tả nhân vật sinh động,
đủ sắc màu, âm thanh và cảm xúc. Sử dụng nhiều biện pháp tu từ như nhân hoá, so
sánh… tạo ra sức gợi rất hiệu quả. Người viết có vốn kiến thức sâu rộng về biển
đảo, về tính chất công việc của lính hải quân và đặc điểm các loài sinh vật sống
ở đại dương. Đọc xong tập sách, độc giả không chỉ thấm nhuần những bài học nhân
văn giá trị về lẽ sống mà còn được cung cấp một lượng lớn kiến thức về nhiều
lĩnh vực như văn học, địa lý, lịch sử, sinh học… Đây thực sự là một món quà ý
nghĩa dành cho các em ở lứa tuổi thiếu nhi, vừa học hỏi được nhiều điều bổ ích
phục vụ cho việc học và rèn luyện kĩ năng sống.
Viết về chim hải âu và biển cả là viết về biểu tượng của khát
vọng và tự do. Tác giả mong muốn gửi đến các em đang trong độ tuổi thiếu nhi
hãy không ngừng nuôi ước mơ, khát vọng, chinh phục đỉnh cao tri thức để làm chủ
cuộc sống, làm chủ thiên nhiên như đàn hải âu kia sải cánh tung bay giữa bao la
biển biếc mây trời.
6/6/2025
Lê Thị Xuân
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thơ viết về trẻ em của thi hào Rabindranath Tagore
Thơ viết về trẻ em của
thi hào Rabindranath Tagore
Rabindranath Tagore* không chỉ nổi tiếng với các tập thơ như
“Gitanjali” (“Thơ Dâng”), “The Gardener” (“Người làm vườn”)… mà còn được biết đến
với tư cách một nhà thơ viết về trẻ em qua tập “Trăng non”. Tập thơ này ban đầu
được viết bằng tiếng Bengali có tựa đề “Susi” (“Trẻ thơ”) xuất bản năm 1909. Đến
năm 1915, R.Tagore đã dịch tập thơ sang tiếng Anh và đặt tên là “The Crescent
Moon” – “Trăng non”.
Cũng cần nói thêm rằng, trước khi tập thơ ra đời, nhà thơ đã
phải gánh chịu nhiều mất mát, khổ đau: Năm 1904 người con gái thứ hai của nhà
thơ qua đời, đến năm 1907 người con trai đầu lòng cũng lìa bỏ cõi thế mà đi.
Trong một bài thơ, ông đã viết:
“Đã đến lúc con đi, mẹ ơi, con đi đây.
Trong bóng tối nhợt nhạt của bình minh cô đơn, mẹ sẽ vươn đôi
tay tìm bé của mẹ trên giường, con sẽ nói, “Bé không ở đó!” – mẹ ơi, con đi
đây.
Con sẽ thành những luồng gió mát mơn trớn mẹ; con sẽ là sóng
nước lăn tăn khi mẹ tắm, con sẽ hôn mẹ mãi không thôi…”
(“Kết thúc”)
Có thể nói tình yêu thương của người cha đối với các con cùng
nỗi buồn đau vô hạn đã trở thành một động lực thôi thúc R.Tagore viết nên những
vần thơ xúc động trong tập “Trăng non”, để rồi từ đó nhân loại có thêm một nhà
thơ kiệt xuất viết về trẻ em.
Trong thơ của R.Tagore, thế giới trẻ em hiện lên hết sức
phong phú và kì diệu. Những phẩm chất trong sáng, hồn nhiên, ngộ nghĩnh, giàu
tưởng tượng… của trẻ đã được ông khắc họa một cách sinh động trong nhiều bài
thơ. Chẳng hạn:
– “Mẹ ơi, bé con của mẹ thật ngốc! Em bé thật trẻ con.
Em không biết sự khác nhau giữa đèn đường và những vì sao.
Khi chúng con chơi đồ ăn bằng sỏi, em nghĩ chúng thực là thức
ăn, và nhét chúng vào miệng.
Bé con của mẹ muốn bắt lấy vầng trăng. Em thật buồn cười; em
gọi Ganesh là Gaanush.”
(“Lớn hơn”)
– “Em bé ơi, em sung sướng biết bao
Khi em ngồi suốt cả buổi mai trong đất bụi
Chơi với một cành cây gãy.”
(“Đồ chơi”)
– “Nếu con chỉ là con chó con chứ không phải con của mẹ, mẹ
yêu, liệu mẹ có nói “Không” với con khi con gắng ăn từ đĩa thức ăn của mẹ?
Mẹ có đuổi con đi và nói với con, “Đi đi, chó con hư đốn?”
(“Sự thông cảm”)
-“Nếu mọi người biết được cung điện của nhà vua ở đâu, nó sẽ
biến mất khỏi không trung
Những bức tường bằng bạc trắng và mái ngói lấp lánh vàng
Hoàng hậu sống trong cung điện có bảy cái sân, bà đeo đồ
trang sức trị giá bằng của cải bảy vương quốc.
Nhưng con sẽ nói thầm vào tai mẹ, cung điện của nhà vua ở
đâu.
Nó ở góc ban công nhà mình nơi đặt chậu cây tulsi.
Công chúa đang ngủ trên bờ biển xa của bảy biển không thể đến
Không có ai trên thế giới có thể tìm ra nàng ngoài con”.
(“Xứ thần tiên”)
Miêu tả những nét đáng yêu trong tâm hồn trẻ thơ, dường như
R.Tagore muốn khẳng định trẻ em chính là cội nguồn của cái thiện và cái đẹp. Điều
này đối lập với những tham vọng thấp hèn, những bon chen ti tiện đầy rẫy trong
thế giới của người lớn, của những bậc làm cha làm mẹ. Bài thơ “Trên bờ biển” đã
phần nào hé mở quan niệm của ông. Từ các hình ảnh trái ngược: Bọn trẻ hồn nhiên
“cười reo nhảy múa” – “giông tố gầm lên trên bầu trời không có một lối đi /
thuyền bè đắm trên nước không dấu vết / cái chết ở ngoài kia”, “các em nhặt những
viên đá cuội, rồi lại ném đi” – “những người đi tìm ngọc thì lặn xuống mò ngọc
trai / những người lái buôn giong thuyền của họ…” nhà thơ ca ngợi sự hồn
nhiên, vô tư của trẻ nhỏ. Qua đó ông còn muốn nhắc nhở người lớn cần phải sống
tốt hơn.
Bao trùm trong cả tập thơ là tình yêu thương của R.Tagore đối
với trẻ. Tình yêu đó được biểu hiện một cách tập trung bằng tình mẫu tử. Trong
cuộc sống, tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất của con người. M.Gorki đã
từng viết: “Không có người mẹ thì không có nhà thơ lẫn anh hùng”. Hình ảnh “mẹ”
và “con” luôn xuất hiện trong các bài thơ: “Đất của người đi đày”, “Bờ bên
kia”, “Cảm tình”, “Hoa Chăm pa”, “Kết thúc”, “Lớn hơn”, “Mây và sóng”, “Mười
hai giờ”, “Ngày mưa”, “Người hùng”, “Người thủy thủ”, “Sự thông cảm”, “Tác giả”,
“Thương nhân”, “Trường hoa”, “Xứ thần tiên”, “Buổi sơ khai”, “Thế giới của bé”,
“Bao giờ và vì sao”… Là người làm cha nhưng bằng sự nhạy cảm của một thiên tài,
R.Tagore đã thấu hiểu một cách sâu sắc tình mẫu tử. Nhà thơ hiểu rằng đứa con
chính là niềm hạnh phúc, là nguồn vui, lẽ sống của người mẹ. Trong bài thơ “Người
phán xử”, R.Tagore không chỉ miêu tả tình yêu vô bờ của mẹ đối với con mà còn bộc
lộ một quan niệm, một thái độ ứng xử đối với trẻ em: “chỉ ai thương thì người
đó mới có quyền trừng phạt”:
“Tôi yêu nó không phải vì nó ngoan nó giỏi
mà vì nó là đứa con nhỏ của tôi,
Khi tôi trừng phạt nó
thì nó lại càng trở nên một phần của bản thân tôi.
Và khi tôi làm cho nó khóc
thì lòng tôi cũng khóc cùng với nó…”
Theo R.Tagore, sự biện chứng trong tình yêu của mẹ đối với
con là ở chỗ khi người mẹ làm cho con vui, làm cho con hạnh phúc cũng là khi
người mẹ đã đem niềm vui, niềm hạnh phúc đến cho mình:
“Khi mẹ hôn con để làm con cười, con yêu quý của mẹ ơi
Mẹ hiểu chắc chắn niềm vui nào
tự trời cao chảy xuống ánh bình minh
và nỗi khoái lạc nào
làn gió nhẹ mùa hè đã mang đến cho thân thể mẹ
Khi mẹ hôn con để làm con cười, con của mẹ ơi”
(“Bao giờ và vì sao”)
Người mẹ không chỉ đóng vai trò người phán xử công minh mà
trước hết là chỗ dựa vững chắc, đồng thời cũng là người thầy, người bạn của con
mình. Nhiều bài thơ của R.Tagore được cấu trúc bằng hình thức lời trẻ thơ nói với
mẹ. Điều này chứng tỏ trong tình cảm tự nhiên của trẻ, người mẹ luôn luôn là chỗ
dựa tin cậy để trẻ thơ có thể đối thoại, có thể thổ lộ hết mọi chuyện của mình:
– “Mẹ ơi, ánh sáng đã chuyển thành màu xám trên bầu trời, con
không biết đang là mấy giờ”
– “Mẹ ơi, nếu mẹ không phiền lòng, con sẽ trở thành người đưa
đò khi con lớn lên”
– “Tưởng tượng, mẹ ơi, rằng mẹ đang ở nhà còn con đang chu du
ở tận một miền đất lạ”
– “Mẹ ơi, những người sống trên mây đang gọi con” v.v…
Viết về tình mẫu tử, “Mây và sóng” là một trong những bài hay
nhất của tập thơ. Với bút pháp độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và
huyền ảo, R.Tagore đã diễn tả một cách sâu sắc tình cảm của đứa con đối với người
mẹ. Toàn bài thơ là lời kể của em bé với 2 phần tương đối giống nhau. Mỗi phần
được kết cấu theo trình tự: Lời mời gọi – lời từ chối – sáng tạo trò chơi của
bé. Phần đầu bài thơ, em bé kể chuyện mình được “những người sống trên
mây” rủ đi chơi. Dù lời mời hấp dẫn, dù rất muốn đi nhưng em đã từ chối vì: “Mẹ
tôi đang đợi ở nhà / Làm sao tôi có thể bỏ mẹ tôi mà đi được?”. Rồi em đã nghĩ
ra một trò chơi mà em cho là thích hơn:
“Con sẽ là mây và mẹ sẽ là trăng.
Con sẽ lấy hai tay trùm lên người mẹ,
Và mái nhà sẽ là bầu trời xanh thẳm”.
Phần thứ hai là lời mời gọi, rủ rê của “những người sống
trong sóng nước” . Lời mời rất hấp dẫn và dù rất muốn đi, nhưng em bé đã từ chối
bởi: “Buổi chiều, mẹ tôi luôn luôn muốn tôi ở nhà với mẹ / Làm sao tôi có thể bỏ
mẹ tôi mà đi được?” Em lại nghĩ ra một trò chơi mới:
“Con sẽ là sóng, mẹ sẽ là một bờ biển lạ lùng.
Con sẽ lăn, lăn, lăn mãi và vỗ vào gối mẹ, cười vang.
Và không một ai trên cõi đời này biết nơi đâu mẹ con ta đang ở.”
Bằng tư duy nghệ thuật của một thiên tài, R. Tagore đã xây dựng
nên hình tượng “mây” và “sóng” đầy sức biểu cảm để diễn tả một chủ đề không mới
trong văn học – chủ đề tình mẹ con. Qua bài thơ, R.Tagore còn muốn khẳng định rằng
sức mạnh của tình mẫu tử có thể giúp con người vượt qua được mọi thử thách, mọi
cám dỗ trong cuộc đời.
Như thế, những bài thơ trong tập “Trăng non” của R.Tagore
không chỉ là lời ngợi ca thế giới tâm hồn thánh thiện của trẻ em mà còn là những
bài học về tình yêu thương, về thái độ ứng xử dành cho người lớn.
Buổi sơ khai
Bé hỏi mẹ:
“Mẹ ơi, con từ đâu đến vậy.
Mẹ đã nhặt được con ở tận nơi nào ?”
Mẹ ôm chặt bé vào lòng, và trả lời
nửa cười, nửa khóc :
“Con ơi con, con đã được giấu kín trong lòng mẹ
như chính những thèm khát, ước mơ của nó,
Con ở trong con búp bê của những món đồ chơi tuổi nhỏ của mẹ,
Và mỗi buổi sáng khi mẹ lấy đất sét nặn ra
hình ảnh Chúa Đời của mẹ
thì mẹ đã nặn đi nặn lại con rồi.
Con đã ở trên ban thờ nơi thờ vị thổ thần
Và khi thờ thần đó, đồng thời mẹ cũng thờ con.
Con đã sống trong tất cả niềm hy vọng, thương yêu trong đời mẹ,
và trong cuộc đời của mẹ nữa kia.
Con đã được nuôi dưỡng từ đời này qua đời khác
trong lòng của vị thần linh bất tử đã ngự trị ở nhà ta.
Khi trong thời con gái, trái tim mẹ nở xoè như một đoá hoa
Con đã lượn quanh nó như một mùi hương phảng phất.
Vẻ tươi mát nhẹ nhàng của con
nở trên chân tay non trẻ của mẹ
như một ánh hồng
trên trời cao
trước buổi bình minh.
Con là đứa con cưng của Thượng đế
là anh em sinh đôi với ánh bình minh,
Con đã theo dòng nước trôi xuống cuộc đời trần tục này
và cuối cùng con đã được đặt vào lòng mẹ.
Khi mẹ ngây nhìn khuôn mặt của con
mẹ như bị ngập trong bao điều bí ẩn;
Và con, vốn là của chung của tất cả mọi người
đã trở thành của riêng của mẹ.
Sợ mất con đi, mẹ đã siết chặt con trên ngực mẹ,
không biết điều kì diệu nào
đã chiếm lĩnh cái kho vàng trên cõi thế
và đặt vào đôi tay mảnh khảnh của mẹ đây?”.
Chú thích:
* R. Tagore (1861- 1941): Nhà thơ vĩ đại của đất nước Ấn Độ,
Giải Nobel Văn học năm 1913. Di sản của R.Tagore rất đồ sộ với 52 tập thơ, 42 vở
kịch,12 tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, hơn 2000 ca khúc (trong đó có quốc
ca Ấn Độ), 63 tập tiểu luận và gần 3.000 bức tranh.
7/6/2025
Rabindranath Tagore
Đào Xuân Quý dịch
Hoàng Trọng Hà
Nguồn: Báo Lâm Đồng 5.2025
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đỗ Nguyên Thương và hành trình tìm kiếm cái đẹp
Đỗ Nguyên Thương và
hành trình tìm kiếm cái đẹp
Đỗ Nguyên Thương có đi sâu nghiên cứu về thể thơ 1-2-3, thể
thơ mới mang hơi thở cuộc sống đương đại do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng và
thành công. Thơ 1-2-3 không gò bó niêm luật, câu chữ, khiến người viết phóng
túng hơn khi thể hiện ý tưởng, gửi gắm thông điệp cuộc sống. Thể thơ này hiện
đã được khá nhiều người yêu thích và say mê sáng tác. Trong số rất nhiều bài
thơ 1-2-3, Đỗ Nguyên Thương chọn viết về “giáo chủ” Phan Hoàng – người sáng lập
thể thơ 1-2-3 và viết về một nhà văn trẻ của Đất Tổ…
Thiết nghĩ, trong cuộc đời này, ai ai cũng đều yêu quý cái đẹp.
Cái đẹp trong cuộc sống muôn màu, muôn vẻ luôn hiện diện. Nó sẽ đẹp hơn trong
ánh nhìn trân trọng, yêu thương. Cái đẹp trong văn chương, luôn cần đến nhà phê
bình. Hoài Thanh từng nói “Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật; tìm cái đẹp
trong nghệ thuật là phê bình”. Trên quê hương Đất Tổ Vua Hùng, có một cô giáo mải
miết đi tìm vẻ đẹp văn chương. Đó là Nhà giáo Đỗ Nguyên Thương nguyên Chánh
Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ, hiện là hội viên Hội Văn học nghệ
thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học
nghệ thuật tỉnh Phú Thọ, đồng thời chị đang đảm trách nhiệm vụ Chi hội trưởng
Chi hội Lý luận Phê bình và Văn nghệ dân gian thuộc Hội Liên hiệp Văn học Nghệ
thuật Phú Thọ.
Năm 2005 nhà giáo Đỗ Nguyên Thương đã ra mắt bạn đọc cuốn Tiểu
luận – Phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn chương” được giáo viên, học sinh các trường
trung học cơ sở, trung học phổ thông và bạn đọc nồng nhiệt đón nhận. Chính vì vậy
ngay sau đó một năm (2006) cuốn sách đã được tái bản. Năm 2020 Nhà xuất bản Hội
Nhà văn lại cấp phép xuất bản tác phẩm “Cảm ơn cuộc đời” cho tác giả Đỗ Nguyên
Thương. Đây là một tập thơ gồm 50 bài viết về gia đình, thầy cô và mái trường,
tri ân các anh hùng liệt sỹ, tình yêu và các đề tài khác với bút pháp dung dị,
tình cảm chân thành, được bạn đọc đón nhận với tình cảm quý mến, được giới thiệu
trên Truyền hình tỉnh Phú Thọ và Thời báo Văn học nghệ thuật. Năm 2022, Đỗ
Nguyên Thương tiếp tục cho ra mắt cuốn Tiểu luận -Phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn
chương” tập II, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, gồm 33 bài viết, được giải A của Hội
Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ năm 2022. Và năm nay 2024, chị tiếp tục
ra mắt bạn đọc cuốn Tiểu luận- phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn chương” tập III, Nhà
xuất bản Hội Nhà văn, cũng gồm 33 bài viết gọn gàng, nhỏ xinh.
Đi tìm vẻ đẹp văn chương tập III là cuốn sách Lý luận, phê
bình và nghiên cứu văn học; Đi tìm Vẻ đẹp văn chương là đi tìm nét đặc sắc về
nghệ thuật và nội dung của các tác phẩm văn học! Không phải ngẫu nhiên Đỗ
Nguyên Thương liên tiếp đặt tên cho 3 tập sách của mình là Đi tìm vẻ đẹp văn
chương. Rất có thể, chị ý thức sâu sắc về cái đẹp trong hành trình tìm kiếm. Vốn
là học sinh giỏi quốc gia môn Ngữ văn, học sinh chuyên văn khóa đầu tiên của tỉnh
Vĩnh Phú, sau đó, vào thẳng Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSP I) khoa Ngữ văn, rồi
tiếp tục làm Luận văn Thạc sỹ Văn học Việt Nam về đề tài Tiểu luận phê bình của
Chế Lan Viên. Chắc chắn đây được gọi là cái duyên với nghề. Được đọc, được học
và giảng nhiều bài cho học sinh về văn học Việt Nam, chị đã quen với các thao
tác nhận xét, đánh giá…
Thêm nữa, từ khi được giao trọng trách dạy đội tuyển học sinh
giỏi quốc gia, có nhiều học sinh đạt giải quốc gia môn Ngữ văn, Đỗ Nguyên
Thương càng ý thức sâu sắc hơn về nhiệm vụ và trọng trách của mình, luôn có ý
thức tìm tòi cái hay, cái đẹp, sự độc đáo trong mỗi trang văn, trang thơ; tìm
ra và luận giải những nét đặc sắc nghệ thuật cho mỗi tác phẩm và tác giả Văn học
Việt Nam. Bởi thế, chị càng ngày càng gắn bó với công việc này. Từ năm 2005 được
kết nạp vào Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, nhiều năm đảm nhận chức vụ Chi hội trưởng
Chi hội Chi hội Lý luận Phê bình và Văn nghệ dân gian, Đỗ Nguyên Thương luôn ý
thức sâu sắc về việc làm thế nào để nâng cao chất lượng cho công việc lý luận,
phê bình văn học. Cũng từng là giáo viên dạy văn, làm cán bộ quản lý, chỉ đạo
hoạt động dạy và học môn Ngữ văn trong nhà trường nên chị luôn mong muốn mỗi
bài giảng của thầy và bài viết của trò có tính lý luận, khuyến khích các em
phát biểu chính kiến, có quan điểm khen chê, rõ ràng. Bởi thế, tập sách Đi tìm
vẻ đẹp văn chương” tập III được chia 5 phần khá rõ. Trong đó,
Phần thứ nhất, có một số tiểu luận phê bình văn học bàn về việc
làm thế nào để nâng cao chất lượng cho bài phê bình văn học “Hiểu thế nào là một
bài phê bình hay”, “Bàn về chất văn trong bài phê bình văn học”… mỗi trang viết
đều in hằn nỗi niềm mong mỏi của Đỗ Nguyên Thương về việc nâng cao chất lượng
phê bình văn học, mong muốn bạn đọc tiếp nhận bài viết về lý luận, phê bình văn
học như tiếp nhận thơ, truyện ngắn… Bên cạnh đó, Đỗ Nguyên Thương bàn về việc
làm thế nào để gia tăng tính lý luận cho bài giảng của thầy và bài viết của học
trò trong nhà trường (nhất là cấp trung học phổ thông). Đã từng đứng trên bục
giảng, là giáo viên dạy giỏi và tâm huyết, trách nhiệm với nghề, Đỗ Nguyên
Thương nhận thấy có một số thầy cô chưa thật sự say sưa và chưa có ý thức
về việc gia tăng tính lý luận để bài giảng khoa học, chặt chẽ và có chiều sâu;
bài viết của học sinh trung học phổ thông (nhất là lớp đầu cấp) còn non về khả
năng lý luận, lập luận khiến bài thiếu logic và chưa đạt được độ chín như thầy
cô mong muốn.
Phần thứ hai, có nhiều bài viết về các tác phẩm văn học trong
nhà trường- là tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên và học sinh trung học
phổ thông. Độc giả được tiếp cận cách nhìn mới “về một vấn đề đã cũ” khi đọc
bài của Đỗ Nguyên Thương viết về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Sóng của
Xuân Quỳnh; Chí Phèo của Nam Cao…nhận thấy rõ rệt nỗi khắc khoải trong thơ thi
sỹ tài hoa phận mỏng Hàn Mặc Tử; thấy sự xốn xang và biên độ tình yêu đắm say
trong thơ Xuân Quỳnh khi chị diễn tả nỗi nhớ về người yêu “Cả trong mơ còn thức”;
thấy “chênh vênh say tỉnh chênh vênh phận người” khi đọc bài của Đỗ Nguyên
Thương về Chí Phèo của Nam Cao bởi chị đau nỗi đau của nhân vật và đồng cảm với
tác giả Nam Cao trước hiện thực phũ phàng của cuộc sống đối với những thân phận
nhỏ bé như Chí Phèo…
Phần thứ ba, Đỗ Nguyên Thương viết về các tác phẩm của Văn
nghệ sỹ Phú Thọ nói về chiến tranh, về cuộc sống thường nhật với những mâu thuẫn
nội tâm của nhân vật để khái quát bức tranh hiện thực cuộc sống (Về tiểu thuyết
của Nhà văn Vũ Quốc Khánh, về thơ của nhà giáo Đoàn Hải Hưng… để thấy “một thời
hoa lửa” hiện lên thật đẹp đẽ và hào hùng. Qua đó, người Việt Nam có quyền tự
hào chính đáng về truyền thống cha ông. Thơ Nguyễn Hưng Hải đậm chất hiện thực
và có giá trị nhân văn khiến người đọc thêm yêu cuộc sống; nhất là những trang
viết về gia đình với tình cảm ấm áp, yêu thương mà nhà thơ Nguyễn Hưng Hải dành
cho mẹ, cho vợ, cho các con…).
Phần thứ tư bao gồm một số bài viết về các tác phẩm của
các nhà văn, nhà thơ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Văn học nghệ thuật các
dân tộc thiểu số Việt Nam viết về đề tài miền núi: Như sáng tác của nhà
thơ Dương Khâu Luông, nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà, tác giả Quách Đăng Thơ, nhà
thơ Vũ Thanh Thủy… Đỗ Nguyên Thương nhận thấy đề tài văn học miền núi qua các
trang thơ, trang văn thật sinh động, hấp dẫn. Hình ảnh “trăng dịu dàng trên đồng
cỏ mượt” và “con đường yêu dấu tuổi thơ tôi”….trong thơ Dương Khâu Luông; các
trò chơi của ngày hội xuân trong thơ Quách Đăng Thơ trở nên đẹp đẽ hơn qua lời
bình của Đỗ Nguyên Thương và cũng qua “Đi tìm vẻ đẹp văn chương” Tập III, người
đọc thêm yêu “Tiếng chiêng ngân”, tiếng thác kiêu hãnh trong thơ Nông Thị Ngọc
Hòa…
Và đặc biệt, phần thứ năm, Đỗ Nguyên Thương có đi sâu nghiên
cứu về thể thơ 1-2-3, thể thơ mới mang hơi thở cuộc sống đương đại do nhà thơ
Phan Hoàng khởi xướng và thành công. Thơ 1-2-3 không gò bó niêm luật, câu chữ,
khiến người viết phóng túng hơn khi thể hiện ý tưởng, gửi gắm thông điệp cuộc sống.
Thể thơ này hiện đã được khá nhiều người yêu thích và say mê sáng tác. Trong số
rất nhiều bài thơ 1-2-3, Đỗ Nguyên Thương chọn viết về “giáo chủ” Phan Hoàng –
người sáng lập thể thơ 1-2-3 và viết về một nhà văn trẻ của Đất Tổ. Đó là các
bài viết “Cảm nhận về thơ 1-2-3 của Phan Hoàng”, “Có một Phan Hoàng trong say đắm
nước Nga” và “Về tập thơ 1-2-3 Lối sen sương của Vũ Thanh Thuỷ”… những
trang viết của Đỗ Nguyên Thương giúp người đọc vừa cảm nhận nét đẹp, sự sáng tạo
của Thơ 1-2-3 vừa hiểu và thêm yêu thể loại mới, giàu sức sáng tạo này.
Ở đề tài nào, Đỗ Nguyên Thương cũng luôn hướng người đọc tới
giá trị chân – thiện – mỹ và có xu hướng tìm kiếm, phát hiện những giá trị đặc
sắc, độc đáo tiềm ẩn trong mỗi tác phẩm văn học. Điều đó khiến cho các trang viết
cùa Đỗ Nguyên Thương dù viết về phẩm văn học cũ hay mới vẫn luôn luôn không lặp
lại người khác và không lặp lại chính mình. Với Đỗ Nguyên Thương, độc giả dễ
dàng nhận thấy, chị là một người tâm huyết và trách nhiệm với nghề, với đời. Mỗi
trang viết cho thấy chị luôn có ý thức tìm tòi, có lối viết giản dị nhưng lập
luận chặt chẽ, văn phong lô gic, nhiều trang viết có sức cuốn hút đối với độc
giả. Hy vọng, trên hành trình mải miết đi tìm vẻ đẹp con chữ trên cánh đồng văn
chương, chị tiếp tục gặt hái thành công, tương xứng với vị thế Chi hội trưởng
Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian mà chị đang đảm nhiệm.
10/7/2024
Nguyễn Hữu Nhàn
Theo https://vanhocsaigon.com/
Từ chiến tranh về với hòa bình
Từ chiến tranh về với hòa bình
Lê Thành Nghị đăng ký hộ tịch vào làng thơ hiện đại cùng với
nhiều nhà thơ đi vào chiến tranh từ văn khoa tổng hợp Hà Nội. Họ hào hoa phong
nhã và thường rất thích triết lý. Thanh Thảo. Bế Kiến Quốc. Ý Nhi. Lê Thành Nghị.
Nguyễn Duy. Hoàng Nhuận Cầm. Mai Quỳnh Nam. Đặng Huy Giang v.v… Các anh để lại
một đường sáng khó quên trong thơ ca chống Mỹ cứu nước viết trước và sau chiến
tranh…
Vào tháng tư năm 1972, Lê Thành Nghị, thành viên của tổ ba
người lính thông tin đóng quân trong hang núi. Cách thị trấn Đồng Mỏ chừng 3
cây số. Ba người có nhiệm vụ duy trì một đoạn đường dây liên lạc quân sự chừng
vài chục km từ Lạng Sơn về Hà Nội. Cuộc đời người lính trong hang cũng có lúc
tranh thủ ra thị trấn Đồng Mỏ đọc sách tại một cửa hàng sách mậu dịch nơi miền
núi xa xôi này. Thỉnh thoảng đến rồi quen. Nhờ vậy anh được cô gái trông coi cửa
hàng cho mượn 3 quyển tiểu thuyết. Đỏ và Đen. Jenerơ. Đồi gió hú. Sách
theo anh về hang đọc. Xịch một cái. Đơn vị 3 người nhận lệnh gấp rút chuyển
quân. Lê Thành Nghị vội mang 3 quyển tiểu thuyết đến hiệu sách trả lại. Hiệu
sách đóng cửa. Anh đành mang 3 cuốn ấy theo đường hành quân.
Mãi sau năm 1975, khi từ chiến tranh về với hòa bình, Lê
Thành Nghị ngược đường lên Đồng Mỏ. Hiệu sách không còn. Người xưa cũng không
tìm thấy nữa. Cái cơ duyên ấy theo anh đi khắp các nẻo đường đời cho đến hôm
nay. Biết làm sao được. Để ghi nhớ chuyện này, nhà thơ Lê Thành Nghị đã chắp
bút viết bài thơ Trong suốt sông Kỳ Cùng, với bao hoài niệm thật đẹp
của người lính trẻ thông tin năm ấy bước vào chiến tranh, bước vào thơ để trở về
với sông Kỳ Cùng trong suốt nguyên một dải chàm xanh, con sông duy nhất chảy
ngược qua biên thùy lên phía bắc để hoa tím chẳng về xuôi. Chao ơi! Các thi sỹ
của thời đại chúng ta có bao nhiêu kỷ niệm khi từ người trần ở cõi nhân gian bước
tới thi đàn. Nhưng ít ai có được cái tình người tình thơ giản dị mà sâu nặng,
cái vật làm tin chẳng bao giờ trả được như 3 cuốn sách trầm lặng chẳng nói nên
lời kia.
Lê Thành Nghị đăng ký hộ tịch vào làng thơ hiện đại cùng với
nhiều nhà thơ đi vào chiến tranh từ văn khoa tổng hợp Hà Nội. Họ hào hoa phong
nhã và thường rất thích triết lý. Thanh Thảo. Bế Kiến Quốc. Ý Nhi. Lê Thành Nghị.
Nguyễn Duy. Hoàng Nhuận Cầm. Mai Quỳnh Nam. Đặng Huy Giang v.v… Các anh để lại
một đường sáng khó quên trong thơ ca chống Mỹ cứu nước viết trước và sau chiến
tranh. Phần lớn trong số họ ngấp nghé vào cửa văn chương từ hồi là sinh viên ở
thung lũng Đại Từ. Nơi khoa văn sơ tán hồi giữa những năm 60. Sau chiến tranh –
năm 2007, Lê Thành Nghị đã về lại nơi này để viết nên những dòng thơ đầy cảm
kích tưởng như anh trách ai mà tự trách mình, nếu ai đã quên thung lũng mùa rét
cũ, khăn mùa đông giờ đã như mây. Núi Võ núi Văn với ngọn đèn dầu
thao thức vì thơ những năm chiến tranh để rồi một ngày trở lại trong hoài niệm
nhiều hơn là trong hiện thực.
Ta mải đi quên một chiều lau xám
Quên một mùa rét cũ giữa rừng xa.
Bảy tập thơ của Lê Thành Nghị đã lần lượt được xuất bản. Rừng
Tràm cuối mùa đông. 1986. Mưa trong thành phố 1999. Mùa
không gió. 2003. Sông trôi không lời. 2010. Khoảng giữa những giọt
sương. 2016. Trong tĩnh tại và 100 sát na. 2018. Hoa vàng mấy
độ. 2024. Thơ tuyển Lê Thành Nghị in cuối năm 2020 đánh dấu một
chặng đường không mệt mỏi với thi ca từ 1973 đến 2019. 46 năm. 192 bài thơ được
tuyển.
Các thi sỹ sinh ra và trưởng thành nửa sau thế kỷ 20 có một
con đường chung mà lịch sử đã sắp đặt cho họ. Con đường gắn bó đời mình với thời
cuộc. Họ nhúng thơ vào lửa qua mấy cuộc chiến tranh ác liệt để trở về với khát
vọng hòa bình. Lê Thành Nghị cũng như thế và đó là cái bình diện căn cốt của
anh. Chiến tranh ám ảnh đến thơ Lê Thành Nghị tưởng như chẳng bao giờ dứt được.
Đó là trách nhiệm thầm lặng của trái tim thi sỹ. Thơ anh trải dài trên những
con đường nửa thế kỷ bom đạn và hành quân với bao nỗi niềm trắc ẩn, yêu thương
và suy tư.
Đó là Trung du những năm lửa đỏ, Lê Thành Nghị đưa
ta về với sông Lô bom đạn ngày xưa 1947 giờ chỉ là tiếng hát.
Chiều chuyển quân qua đường số 2
Ngày mai đồng bằng vào mùa chiến dịch
Sông Lô giăng một câu hò tha thiết
Nhưng sâu đậm hơn cả là đường ra trận thời kháng chiến chóng
Mỹ cứu nước mà Lê Thành Nghị trực tiếp bước trên những con đường ấy với cầu vai
một anh lính binh nhì, cảm nhận được những nét riêng.
. Đường Trường Sơn trắng xóa ngàn lau
. Mùa đông cứ tắt dần trên lá đỏ
. Đêm tháng chạp lóe lên từng chớp lửa.
Và đây là Tây Nguyên tháng 3-1975, điểm hẹn lịch sử cho việc
chấm dứt chiến tranh.
Đêm truyền lệnh những binh đoàn thần tốc
Đêm tháng 3 giữa Tây Nguyên náo động
Sau phút này rực rỡ mặt trời lên.
Người ở phía dòng sông là một trong những bài thơ hay viết
về chiến tranh. Ở đây Lê Thành Nghị hình dung nghìn đêm chiến tranh nghìn đêm lửa
cháy. Đó là con đường thử thách giữa sống và chết của hàng triệu người lính. Kỳ
diệu thay họ đã trở về, cả theo nghĩa đen và nghĩa bóng của từ ấy. Tôi lặng thấm
trước cảnh một chuyến đò đầy những người ra trận về với quê hương như một lẽ
thường của đời sống; Bởi vì thơ anh mang nợ với đất nước này.
Tôi suốt đời mang nợ với đất đai
Sống ra đi đánh giặc giữ đất này
Chết nằm xuống cùng củ khoai hạt lúa
Như người đi chưa về những người không về nữa
Đang cùng tôi sang một chuyến đò đầy.
Sài Gòn giải phóng 30-4-1945, những tưởng chuyến đó đầy ấy chở
các chiến binh về với hòa bình. Nhưng họ lại lặn lội Qua sông Hồng lên
biên giới. Phía ấy dội lên súng nổ. Thơ Lê Thành Nghị lại lên biên thùy phía Bắc.
Vừa cắm cờ dinh tổng thống Sài Gòn
Lại vượt sông Hồng về nơi súng nổ
Những chàng trai đã hóa thân thành lửa
Đang ngược Hà Giang xứ Lạng Cao Bằng.
Các cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20 dù khốc liệt như thế, những
con đường hành quân dài như thế, đi cuối đất cùng trời như thế mà ở đây vẫn
nghiêng về những niềm vui ra trận.
Ta đi cuối đất cùng trời
Chiến trường xa những niềm vui nghiêng về.
Những niềm vui phải đổi bằng bao nhiêu máu xương liệt sỹ. Thơ
Lê Thành Nghị như lắng lại trước Những đài liệt sỹ vô danh. Ở đó
hương khói cuốn quanh cao hơn trời xanh là mãi mãi. ở đó có Những mặt trời
bé con… gửi tin cho mẹ khi vừa thắng trận sớm nay về sau những một nghìn
đêm nhớ mẹ và ý nghĩ được nung nấu trước giờ nổ súng.
Có thể trận đánh ngày mai vỡ ngực dập đầu, bị đất đá vùi bị
thiêu trong lửa.
Những mặt trời bé con vẫn ngẩng cao đầu.
Thơ Lê Thành Nghị nhiều ý tưởng hoài niệm. Anh là một thi sỹ
hoài niệm trong thơ. Những hồi ức về chiến tranh, về hòa bình, về quê hương và
những người thân làm nên những bài thơ hay đằm thắm ý tình. Kỷ niệm đường
9. Chiến tranh. Mùa lá xanh. Dưới chân cầu. Bến đò Thuận Chân. Sông Nghè gặp lại.
Thu về thảo nguyên. Cha tôi. Ngày xưa. Mưa qua truông vùn. Ở chùa Quang Tự v.v… Hãy
nghe anh nói về Mùa lá xanh đau đáu những bóng hình của ngày tháng
cũ.
Tôi cúi nhặt tháng ngày xa biền biệt
Góp hoang tàn làm lửa trước hoàng hôn
Cái sự siêu hình của thời gian khi Dưới chân cầu, năm
tháng xếp sau lưng, đường dài bày trước mặt. Một sự trở về mang lời hẹn ước
năm xưa ở Bến đò Thuận Chân, không biết người xưa đi đâu mãi mãi, chỉ
thấy cánh buồm nhỏ xíu xa lắc xa lơ. Thăm thẳm mịt mù mưa.
Bờ vắng vẻ chỉ mình ta đứng đợi
Vai mang lời hẹn cũ sáng nay về.
Tại một ngôi chùa ở chốn thật xa xôi, Lê Thành Nghị chợt cảm
thấy sự huyền diệu của giới tự nhiên. Của đức tin con người.
Thoáng một chút hương thơm
Đủ làm mềm cơn gió
Từ chiến tranh về với hòa bình, Lê Thành Nghị trở về nơi cố
hương Hà Tĩnh, mảnh đất nhỏ đã sản sinh ra những thi tài của đất nước ở nhiều
thời đại. Nguyễn Du. Nguyễn Huy Tự. Xuân Diệu. Huy Cận. Chính Hữu… Nhiều địa
danh Hà Tĩnh đã bước vào thơ anh. Chợ huyện. Bến Giang Đình. Hương Sơn.
Sông Lam. Sông Nghè. Hồng Lĩnh. Tiên Điền .v.v… Sâu đậm và đằm thắm hơn cả
là các bài thơ về Tiên Điền và Hồng Lĩnh. Trăng Tiên Điền. Về lại
Tiên Điền. Một nửa vầng trăng trong truyện Kiều của Nguyễn Du đã gần 300
năm còn có người lặn lội đi vớt nửa vầng trăng huyền thoại ấy mà chẳng bao giờ
vớt được trên những dòng sông của thi ca. Cũng như cái siêu hình của tiếng kêu
khan rơi xuống cát Tiên Điền khi chim bay về núi vì sự chia ly của vầng trăng,
của người một xe trong cõi hồng trần.
Người đi mãi trăng theo đi một nửa
Ta lội tìm vớt nửa trăng lên.
Thơ Lê Thành Nghị qua nhiều miền quê đất nước theo cuộc đời
xuôi ngược của anh. Đáng kể nhất là những bài thơ về Hồ Tây, Mùa thu, Hà Nội.
Lê Thành Nghị có cách nói và chỗ đứng riêng của mình. Ký ức về mùa thu Hà
Nội. Chùa Trấn Quốc. Mùa thu đến rồi đi. Hồ Tây v.v… Mùa thu trong anh là
những cảm thức tinh tế về hoa trắng rơi lặng lẽ. Nỗi buồn thu trong như nắng lọc.
Mỗi bước người đi miên man trên hoa sữa rụng. Luyênh loang mặt hồ xanh mùa thu.
Bỗng chốc mùa thu hiện hình như một giấc mơ sau khi tà áo dài thiếu nữ Hà thành
xuất hiện.
Tháng mười nhẹ như cầm trên tay được
Áo dài bay cây đứng ngẩn bên đường.
Ở chùa Trần Quốc khi người ta mơ hồ luân hồi tràng hạt
trôi vô định, một cõi nhân gian kịp hóa vàng, chợt tỉnh giấc giữa một
hoàng hôn không có tuổi của một kiếp người
Tiếng mõ chợt còn rồi chợt mất
Áo nâu làm nhẹ cả hoàng hôn
Tôi không nhớ có bao nhiêu miền quê xứ xở của đất nước Việt
Nam đã vào thơ của anh. Cả Mạc Tư Khoa xa xôi nơi anh từng du học. Ở đâu cũng
thấy một tấm lòng yêu thương và trắc ẩn của con người với lối phô diễn thật
bình dị và điềm đạm.
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) có lần giải nghĩa hai chữ
Trung Tân như sau:
Trung là đứng giữa không chênh lệch. Giữ vẹn được điều thiện
là trung. Tân nghĩa là cái bến. Biết chỗ đáng đậu là bến chính. Không biết chỗ
đáng đậu là bến mê.(1)
Lời giải thích này của bậc đại nho khiến tôi liên tưởng đến
nhân cách và thơ Lê Thành Nghị. Thơ anh giống như con người anh vậy. Điềm
đạm, phong nhã và tri túc. Một sự chừng mực khi trang trải nỗi lòng. Đó là một
điều không phải dễ đối với người làm thơ. Bởi thế cho nên cấu tứ các bài thơ
anh thường chặt chẽ, ý tưởng rõ ràng, khi cần đằm thắm và đang lúc thăng hoa
anh biết ngắt nhịp đúng lúc, làm nên cái điểm rơi của say, của vô thức.
Tôi biết danh xưng Lê Thành Nghị từ năm 1971, khi làm luận
văn tốt nghiệp: Những tìm tòi nghệ thuật của thi ca Việt Nam hiện đại. Giáo
sư Lê Đình Kỵ bảo tôi hãy tham khảo luận án Những thành tựu của thi ca Việt
Nam hiện đại 1945 – 1965 do 3 người thực hiện. Mỗi người viết một phần
riêng. Lê Thành Nghị – Bế Kiến Quốc – Nguyễn Văn Long – Ba chàng thi sỹ choáng
men thơ. Luận văn của Lê Thành Nghị bàn về chất hiện thực và chất trí tuệ
của thơ Việt Nam hiện đại đã đạt điểm xuất sắc. Bản luận án của anh được
viết tay với lối chữ đứng thẳng, ngay ngắn và chuẩn mực. Anh bảo thời sinh viên
mê thơ Lưu Quang Vũ. Vũ ám ảnh anh như một bạn thơ chân thành. Làm thơ cốt
không phải tả cảnh mà ở chỗ tình người tình đời ẩn sâu trong đó. Lê Thành Nghị
sinh ra trong một gia đình nho học có truyền thống ở Can Lộc với 5 đời làm nghề
dạy chữ. Anh vào bộ đội tháng 1/1972 từ Viện văn học. Sau 1975, từ tạp chí Văn
nghệ quân đội, Lê Thành Nghị khăn gói lên tàu liên vận sang Nga làm nghiên cứu
sinh văn học tại trường đại học danh giá nhất Liên Xô thời đó – Đại học tổng hợp
Lômônôsốp – Nơi có ngôi sao đỏ sáng lấp lánh giữa trời đêm Mạc Tư Khoa, đặt
trên đỉnh tháp của lâu đài khoa học như là biểu tượng của trí tuệ và niềm tự
hào Nga. Tại đây, Lê Thành Nghị bảo vệ thành công luận án tiến sỹ văn chương với
đề tài điển hình hóa trong văn học. 1982 từ nước Nga trở về tiếp tục công việc
văn chương trên cương vị là một người lính.
Đối với các nhà thơ dù có nói một ngàn lần cuộc đời là một giấc
mơ cũng chưa đủ. Bởi vì họ thường không mong đợi điều gì ngoài thơ; cao hơn
thơ. Anatole France (1844-1924), người đã miêu tả tuyệt vời vườn Luých xăm bua
vào ngày đầu tháng 10 khi lá vàng rụng từng chiếc từng chiếc trên vai trắng ngần
các pho tượng, có lần nói rằng: Đặc tính của vinh dự là không có ích lợi
gì cả(2). Tôi nghĩ Lê Thành Nghị làm thơ dâng hiến cho đời đâu phải vì một
lợi ích gì. Anh yêu thơ và làm thơ giống như trời thì xanh và mây thì trắng,
như sông Lam và bến Giang Đình nước chảy chẳng bao giờ gầm thét và vơi cạn ở
quê anh.
Lê Thành Nghị đứng chân trên nhiều lĩnh vực văn chương. Nhưng
có lẽ thơ thể hiện rõ nhất tâm tình và bản lĩnh của anh.
Chú thích:
(1) Nguyễn Bỉnh Khiêm: Từ trong di sản, NXB Tác phẩm mới
– 1981 trang 37-38
(2) Anatole France – Sách của bạn tôi, NXB Văn học –
2018 – Trang 98-132.
Hà Nội, 28/4/2025
Khuất Bình Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/
"Thuyền" - Một tiểu thuyết trữ tình suy tưởng
"Thuyền" - Một tiểu thuyết
trữ tình
suy tưởng
Tiểu thuyết “Thuyền” lấy bối cảnh là sự kiện hàng loạt người
Việt di tản vượt biên theo đường biển vào những năm hai thập niên cuối thế kỷ
XX mà người viết tiểu thuyết cũng là người trong cuộc.
1. Nguyễn Đức Tùng được biết đến lâu nay trong vai một nhà
thơ, nhà phê bình, đôi khi có đá qua tản văn, truyện ngắn, biên dịch. Nay ông
thử sức qua địa hạt tiểu thuyết. Hay nói khác đi, tiểu thuyết, một thể loại
dung lượng lớn, với sức chứa những biểu đạt và suy tư lớn về thực tại và chủ thể
đã chờ đợi ông, trao cho ông một hình thức nghệ thuật thích đáng.
Đi qua 55 chương đặt tên dài ngắn khác nhau, tôi nhận thấy,
tác giả chủ yếu tập trung bộc lộ trữ tình, bộc lộ những suy tưởng về đời sống
và về chính chủ thể. Không thấy nhiều những sự kiện biến cố, hoặc nếu có cũng
được làm mờ đi, nới lỏng ra, được biến thành cái cớ để bộc lộ thái độ, cảm xúc,
suy tư, cắt nghĩa, truy vấn, hoang mang… của chủ thể; nghĩa là không có các “bức
tranh” liên tục và rộng dài về đời sống.
Tiểu thuyết “Thuyền” đã dựng lên một cái khung rộng: một con
thuyền chở các thuyền nhân từ Việt Nam đi qua vịnh Thái Lan, gặp cướp biển
hoành hành, cuối cùng được một tên cướp người Thái gốc Việt động lòng lai dắt
con tàu vào khu vực mỏ dầu của người Âu Mỹ, từ đó những thuyền nhân còn sống
sót được đưa vào trại tị nạn, cuối cùng nhân vật “tôi” sang Canada và trở thành
bác sĩ. Trên nền bối cảnh đó là câu chuyện tình giữa nhân vật “tôi” và Liên
Hương, cái chết của Liên Hương như một sự tự giải thoát và những ám ảnh của
nhân vật “tôi” về Hương và những gì xoay quanh câu chuyện tình của hai người. Tất
cả các biến cố đó được tác giả lướt qua rất nhanh, không chủ trương dừng lại
miêu tả hoặc kể về. Một lối viết lược giản, tiết chế kể, tả (trần thuật). Thay
vào đó, tác giả tiểu thuyết dìm nhân vật vào những suy tư, những ám ảnh, những ảo
ảnh, hoang tưởng, cơn mơ, cật vấn, hồ nghi… Đặc biệt, nhân vật “tôi”, chủ thể
được kiến tạo không theo lối “tạo hình” mà theo lối trình hiện (show) nội tâm.
Triền miên nội tâm với muôn vàn cung bậc, trạng thái, sắc thái. Tất cả được diễn
tả với cường độ mạnh, sát ván, căng thẳng, có lúc ngạt thở.
Thế giới bên ngoài nhân vật “tôi” thấp thoáng hiện ra theo
cách bị giảm thiểu, tạo cớ. Không biên niên. Không bức tranh. Thay vào đó là chủ
thể “tôi” trước thế giới và trước bản thể, là thế giới nội tâm của chủ thể trữ
tình và suy tưởng. Tôi gọi tiểu thuyết này thuộc loại tiểu thuyết trữ tình-suy
tưởng.
2. Tiểu thuyết “Thuyền” lấy bối cảnh là sự kiện hàng loạt người
Việt di tản vượt biên theo đường biển vào những năm hai thập niên cuối thế kỷ
XX mà người viết tiểu thuyết cũng là người trong cuộc.
Có hai điểm đáng lưu ý về tâm thế sáng tạo.
Thứ nhất, đây là một tiểu thuyết mang tính tự truyện, tuy
không phải là đặc điểm chính. Tại sao lại có thể nói được như thế? Không hẳn vì
nhân vật chính của tiểu thuyết xưng “tôi” trong vai người kể chuyện từ đầu đến
cuối. Đọc vào tiểu thuyết, có khá nhiều chi tiết thuộc nhân vật, bối cảnh khiến
người đọc không thể không quy chiếu vào tác giả tiểu sử. Hoặc nhìn từ phía con
người tiểu sử Nguyễn Đức Tùng, cũng có khá nhiều điểm hoặc tương đồng, hoặc gần
kề với một số chi tiết có mặt trong tác phẩm. Có thể kể ra đây một số dấu hiệu:
nhân vật “tôi” quê gốc Quảng Trị, là thuyền nhân trong cuộc di tản trên biển,
thuộc nhân vật tị nạn, sau sang Canada theo học ngành y rồi trở thành bác sĩ
(nhiều kiến thức y khoa được huy động vào việc miêu tả nhân vật), một người viết
văn, coi văn chương như là cách lưu giữ ký ức cộng đồng và tham dự đời sống… Vẫn
biết, không nên đồng nhất giữa nhân vật và tác giả tiểu sử, nhưng khi đọc tiểu
thuyết này, khá nhiều chi tiết cho phép quy chiếu vào tiểu sử tác giả, tương đồng
với tiểu sử tác giả. Vì thế, có thể khẳng định tính tự truyện là một trong những
đặc điểm của tiểu thuyết này.
Tính tự truyện nếu được xử lý tốt, hợp lý, tiết chế, vừa đủ để
gợi dẫn đưa lại cho người đọc một niềm tin, một sự “tin cậy” đối với nội dung
tiểu thuyết, tạo nên những hiệu ứng cảm xúc nghệ thuật ở người đọc.
Thứ hai, câu chuyện được kể của tiểu thuyết là một minh chứng
sống động cho dòng văn học chấn thương. Viết về chấn thương có khi là cách phục
sinh nỗi đau trong quá khứ. Có khi là cách hòa giải với những nếm trải để chữa
lành vết nội thương. Cũng có khi để phân tích và cắt nghĩa lại quá khứ như một
nhu cầu lý giải bản chất người… Tôi nghĩ, tiểu thuyết “Thuyền” của Nguyễn Đức
Tùng cơ bản triển khai theo cách thứ ba: đi tìm câu trả lời cho cái ác, khát vọng
tự do, tình yêu, sự hèn nhát, sự sống, cái chết… trong kiếp nhân sinh. Viết về
chấn thương, dù muốn hay không vẫn cứ phải sống lại một lần nữa nỗi đau, thậm
chí là căn bệnh rối loạn lo âu sau sang chấn (PTSD). Những ám ảnh khủng khiếp vẫn
trở lại, can thiệp vào trạng thái sinh tồn của nhân vật “tôi”. Một trong rất
nhiều ví dụ: “Nhiều năm sau, mùa hè, khi tôi về nhà sau một đêm trực ở phòng cấp
cứu bênh viện, tắt hết đèn trong garage, mở cửa, tôi nghe thấy một mùi kỳ lạ
thoảng tới, tựa như mùi của lông thú, hôi, tanh tưởi, buồn nôn, nhưng nó chỉ
thoáng cái qua thật nhạnh, rồi một mùi hương thoang thoảng bay tới, át nó đi.
Tôi đứng lại trong đêm tối, đứng sững ở đó, cố tình đứng thật lâu, im lặng, và
tôi nhận ra cái mùi ấy, từ một đám cỏ dại, những bông tử đinh hương cuối mùa,
mùi từ một sàn thuyền trên mặt biển đen, và tôi nhớ lại từng chi tiết, khuôn mặt
của những tên cướp, những người phụ nữ trần truồng, áo quần của họ vất vung vãi
trên sàn thuyền, đống lửa củi chập chờn, cái nắm tay chặt của Liên Hương, lạnh,
khô, đau xót bồn chồn, như một nhành thông tươi trên đầu tôi vừa mới bị gió
đánh gãy ngang, kêu răng rắc” (chương “Lửa trên thuyền”). Trong tác phẩm, đầy rẫy
những ám ảnh có tính chấn thương tương tự như thế, khủng khiếp hơn thế.
3. Như đã nói, chất liệu tiểu thuyết chủ yếu là trữ tình suy
tưởng. Vì thế, nó kéo theo hai cách xử lý, một thuộc về tình tiết/tình huống, một
thuộc về người kể chuyện xưng “tôi”.
Có thể nói rằng, nếu người viết duy trì trạng thái trữ
tình và suy tưởng triền miên, vô hồi kỳ trận cũng sẽ rất dễ làm người đọc mệt
trí. Trên thực tế ở tiểu thuyết “Thuyền” cũng có một số trường đoạn rơi vào
tình trạng này. Tuy nhiên, tác giả dường như có ý thức về nó, nên thỉnh thoảng
lại cài cắm một số tình tiết đặc biệt ấn tượng và đắt giá, gây hấp dẫn người đọc.
Trường đoạn miêu tả nhân vật “tôi” và một người đàn ông thuyền nhân khác vùng
lên chống lại bọn cướp, liền đó Liên Hương chọn cách lao xuống biển tự vẫn để bảo
toàn phẩm giá… có tính căng thẳng tột độ (chương “Con mắt”). Tình tiết nhân vật
người phụ nữ Sài Gòn tự nguyện cho đứa bé sắp chết đói chết khát vì khóc uống sữa
gây xúc động, chan chứa cảm xúc mẫu tính (chương “Sữa”). Chương “Thủy táng”
miêu tả một nghi lễ thiêng liêng và tràn đầy nhân tính khi những nữ thuyền nhân
chuyền tay nhau cái thi thể bé bỏng của đứa bé chết vì kiệt sức, và đặc biệt
hình ảnh con bé chừng 6-7 tuổi rút đôi dép ở chân để nhường cho đứa bé xấu số
kia đi vào lòng biển… Tôi muốn kể thêm một tình tiết nữa, về nhân vật người đàn
ông lái tàu kiêm nghề cướp biển, có gốc gác người Việt Nam đã động lòng trắc ẩn,
bí mật quay trở lại mang theo dưa hấu, nước cho thuyền nhân và lai dắt con tàu
cho giàn khoan, nơi những người Âu Mỹ đang khai thác nhờ tị nạn để thoát khỏi cửa
tử do đói, khát, bệnh tật và kiệt quệ… Tác giả tiểu thuyết rất giỏi trong việc
tìm kiếm chi tiết, bầy đặt tình huống, sử dụng chúng theo cách tiết kiệm, đích
đáng, gây shock và tìm cách giải tỏa. Nhưng điều đáng nói ở đây là tác giả luôn
biết cách tháo gỡ tình tiết/tình huống theo cách không ngờ nhất, chan chứa lòng
thương người, mang tính nhân bản phổ quát.
Trong trường hợp thứ hai, do chủ trương nhân vật người kể
chuyện ở ngôi thứ nhất, cho nên nhân vật này vừa tự kể về mình lại vừa kể về những
gì ngoài mình trong tầm quan sát được. Tác giả Nguyễn Đức Tùng đã lựa chọn kiểu
nhân vật “bất tự tín” về chính mình, về chính những cái kể của mình. Đây là
cách vừa phản ảnh đúng ưu thế và giới hạn trường nhìn của nhân vật kể chuyện
ngôi “tôi”, nhưng cũng là cách tự thú về những giới hạn bất khả. Nếu nhân vật
thuộc kiểu người “tự tín”, anh ta sẽ tin vào những điều mà anh ta sẽ kể như những
xác quyết. Nhưng không, người kể chuyện này công khai bộc lộ tính “bất tự tín”,
không đoan quyết, không hoàn toàn tin, không dám tin vào chính những cảm xúc và
suy tư của mình về chính mình và nhân thế. Chẳng thế mà trong lời trần thuật,
khi biểu đạt những cảm xúc và suy tư của nhân vật, hoặc khi cho các nhân vật
thoại với nhau, hoặc nửa đối thoại nửa độc thoại, xuất hiện trùng trùng các câu
hỏi, kết thúc câu bằng dấu hỏi (?), có câu được trả lời, có câu treo đấy,
bỏ ngỏ để rồi tiếp tục lại dắt sang nhưng câu hỏi khác; ngay cả những câu trả lời
cũng không hẳn mang tính xác quyết, mà vẫn đang trong mạch suy tư chảy trôi
liên tục, hoang mang. Không mang tính xác quyết, bất tự tín cũng lại kéo theo
khả năng mơ hồ hóa nghệ thuật –một thủ pháp hướng tới sự gợi dẫn cần thiết. Lời
văn của tiểu thuyết Nguyễn Đức Tùng trong nhiều trường đoạn như thể rượt đuổi ý
thức, thả trôi theo dòng ý thức. Câu chữ trong nhiều trang viết tràn bờ, tuôn
chảy, trùng điệp, xóa trắng dấu chấm câu (.), chỉ duy trì dấu phẩy, liên tục,
lúc rỉ rả, khi vần vụ, ràng rịt các chiều cạnh ý tưởng, tâm trạng, cảm xúc. Đỉnh
điểm cho lối viết này thể hiện trong chương “Người kể chuyện”, như một sắp đặt
“tiểu thuyết trong tiểu thuyết”, kết cấu trùng phức. Những suy tư mang tính tiểu
luận, chen lẫn những trường đoạn trữ tình có tính thơ làm nên một lối văn rất
riêng của Nguyễn Đức Tùng. Ở đây, con người lao động nghệ sĩ nhà thơ và nhà phê
bình đồng hiện.
4. Tiểu thuyết “Thuyền” nằm trong khu vực văn học di dân cuối
thế kỷ XX đến nay. Nó là sản phẩm mang tính thời đại. Những tác giả của nó hoặc
là nạn nhân trực tiếp của các cuộc di dân, hoặc nạn nhân gián tiếp như những hệ
lụy thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba. Các tác giả như Linda Lê, Nguyễn Thanh Việt,
Ocean Vương rời Tổ quốc từ khi còn nhỏ. Các dấu vết chấn thương trong đó có câu
chuyện thuyền nhân được nhắc đến như những liên hệ nằm trong một tổng thể đời sống
gắn liền với các số phận cụ thể được miêu tả đây đó trong The Refugees (Người tị
nạn, 2017), The Sympathizer (2015) hoặc Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian
(2019)… Đến tiểu thuyết “Thuyền”, vấn đề thuyền nhân và cuộc di tản theo đường
biển với tất cả tính chất khốc liệt và bi thảm của nó sau 1975 trở thành một đối
tượng quan tâm và miêu tả trực tiếp, nhất quán, bao trùm. Từ sự kiện này, tác
giả tiến hành bộc lộ cảm xúc, suy tư về đời sống và nhân sinh với nhiều tầng bậc,
khía cạnh vừa cụ thể vừa có tính siêu hình.
Xét về mặt lịch sử, tiểu thuyết này là một nỗ lực ghi dấu ký ức,
chống lại sự lãng quên, sự mau quên của giống người. Với lĩnh vực văn học, tiểu
thuyết “Thuyền” là một tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử di dân đường biển của
người Việt sau 1975. Nhà văn Nguyễn Đức Tùng đã chọn một lối viết tự sự trữ
tình suy tưởng. Nhờ vậy, tiểu thuyết trở nên khác biệt(*).
Viết về một tao đoạn lịch sử, lại là một lịch sử ngoại biên,
rất dễ rơi vào tình trạng quy kết, phán xét, thậm chí quy giản vào lập trường ý
thức hệ, theo định kiến đúng- sai… Nguyễn Đức Tùng chọn một tư thế phát ngôn
khác, đó là lập trường nhân bản, theo đuổi những giá trị nhân bản phổ quát. Nhờ
thế, các suy tưởng được đặt ra ở tác phẩm, trong nhiều trường hợp chạm được vào
các vấn đề siêu hình học nhân sinh. Lựa chọn một tư thế phát ngôn như vậy, các
phân tích đời sống trong tiểu thuyết không có bóng dáng của thù hận, oán trách,
quy kết. Tiểu thuyết “Thuyền” đã để lại dư âm sâu xa và khắc khoải về lòng
thương xót con người, về khát vọng tự do, khát vọng sống của con người.
Chú thích:
(*) Trong một trao đổi giữa tôi, người viết bài này với
nhà NCVH Nguyễn Hồng Anh, tác giả công trình “Tác phẩm của Viet Thanh Nguyen về
chiến tranh Việt Nam dưới góc nhìn căn tính” (Nxb ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, 2025) về
tiểu thuyết “Thuyền”, chị cho biết: “ Đây là quyển đầu tiên ở Việt Nam xuất bản
bản gốc tại Việt Nam về đề tài này, với chủ đề trung tâm là cuộc di cư của
“thuyền nhân”. Trước đây chỉ có văn học dịch từ các nhà văn Hải ngoại (nghĩa là
không phải xuất bản gốc trong nước); và khi đề cập đến thuyền nhân thì cũng nằm
trong một chi tiết trong truyện (bên cạnh nhiều chi tiết khác), chứ không tập
trung như cuốn này”.
14/6/2025
Văn Giá
Theo https://vanhocsaigon.com/
Những phận đàn bà mang tên Thị trong thơ
Những phận đàn bà
mang tên Thị trong thơ
Tên tập thơ nghe rất hiền lành “Thị à, thị ơi”. Không hiểu
sao mới nhìn bìa, tôi lại nghĩ chắc nhà thơ viết cho thiếu nhi, lấy sự tích câu
chuyện Tấm Cám với chi tiết bà cụ gọi quả thị có cô Tấm rụng vào bị của mình “Thị
ơi thị, rụng vào bị bà, bà đem bà ngửi chứ bà không ăn”. Sở dĩ nghĩ thế vì tôi
biết nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu có tập thơ “Truyện cổ nước Việt”, đem những truyện
cổ tích viết thành thơ. Nhưng hóa ra hoàn toàn không phải thế.
Toàn bộ tập thơ viết theo kiểu thơ 1-2-3 này là bộ sưu tập
thân phận đàn bà, đủ các lại của thời nay chứ không phải ngày xửa ngày
xưa. Tôi đã đọc và viết bài gới thiệu tập truyện ngắn “Phận đàn bà” của
nhà văn Y Mùi. Tập truyện ngắn ấy gồm 15 truyện, Hầu hết các nhân vật
trong truyện dù có tên hay không tên đều là phụ nữ, dù đó là người già hay trẻ,
thành đạt, hay bình thường, nhưng có thể nói họ đều chung một số phận bất hạnh.
Có hơn một chục thân phận đáng thương. Thế nhưng, trong tập thơ của nhà
thơ Phạm Thị Hồng Thu thì những người phụ nữ chung tên gọi là “Thị” ấy đông đảo
hơn nhiều, đa dạng hơn nhiều.
Đây là chân dung một người đa cảm, đa tình, yêu ngay từ cái
nhìn đầu tiên. Thế nhưng đời chẳng như mơ. Cuộc tình đấy có ai ngờ đắng đót.
Người đàn bà say đắm ấy “ngậm bồ hòn làm ngọt” :
Choáng váng điện giật/Mù quáng thôi miên
Đời không như là mơ, mắt thấy tai nghe thị vẫn không tin
Bão giông ngập lối/ Ngậm bồ hòn làm ngọt
(Họ hớp hồn nhau từ cái nhìn đầu tiên)
Một người đàn bà khác bị “ngứa đau nhức buốt” vì lấy phải gã
chồng chẳng ra gì! Căn bệnh nàng mắc là bởi vì…:
Chả lẽ ở bẩn đến mức để vi khuẩn len lỏi
Khử trùng bằng nước sôi/ Bác sĩ phân tích nguyên nhân
Hiểu ra , hỡi ôi/ Hắn…
(Không hiểu nguyên nhân bệnh ngứa đau nhức buốt)
Không thể ngờ thời đại nam nữ bình đẳng, bình quyền mà có người
phụ nữ bị bạo hành tinh thần đã mất hết niềm tin với gã chồng:
Nỗi ớn lạnh ngấm sâu vào tiềm thức/ Thị sợ hắn như người yếu
bóng vía sợ ma
Trở mặt nhanh hơn trở bàn tay/ Khẩu Phật tâm xà
Niềm tin ngây thơ mù quáng đã vào dĩ vãng
(Dựng tóc gáy)
Cái gã chồng ấy, bạn đọc lại gặp ở một phụ nữ khác. Đó là “Kẻ
hai mặt”, mà “ai cũng khen đạo đức”. Có biết đâu!
Một người đàn bà khác thì cay đắng vì chồng là gã “ ma men” mất
nhân tính. Bên cạnh chị là người phụ nữ có chồng là gã trăng hoa. Đã “dấm mẻ” vụng
trộm, còn cả vú lấp miệng em. Chị theo đến cùng , thành ra Tan đàn xẻ nghé:
Thị biết hắn dấm mẻ/ Về nhà cả vú lấp miệng em
Thị theo tới bến phải làm cho ra nhẽ
Tan đàn xẻ nghé/ Nghĩ thương con thì đã muộn
(Vạch mặt chỉ tên)
Đấy là người đàn bà mạnh mẽ. Còn biết bao người đàn bà đành “Cắn
răng chịu đựng”, “bất lực/ Ngậm ngùi xót cay” (Nhà dột từ nóc). Đành nhận phần
thiệt thòi vì gã chồng nghiện “ khám phá miền đất mới”:
Mùi ngai ngái , nồng nồng/ Hít hà thích thú
Hắn mê khám phá miền đất mới/ Thị đành ôm áo ngủ
Mặn khô
(Như nghiện thuốc phiện)
Dân gian hay đùa “ăn chay ngủ mặn”. Người đàn bà này “ ngủ mặn”
nhưng là “Ngủ Mặn khô”. Thật đáng thương!
Lại còn khổ hơn nữa là người đàn bà có “chồng quan”:
Hắn đổi thị để lấy chức quyền / Mặc thị ê chề nhục nhã
Thị thành quan bà/ Hắn phải cung phụng
Hỡi ơi!…
(Tham thì thâm)
Khổ về tinh thần nhưng thể xác thì được cung phụng.Một kiểu
khổ khác là không được gì cả, dù có tiếng là vợ quan :
Hắn làm quan to bao nhiêu người săn đón
Bổng lộc chạy chơi đâu/ Thị thui thủi như ô sin xó bếp
Chẳng được nở mày/ Tủi phận
(Không có số hưởng)
Trong quan hệ gia đình, tuy cùng là phụ nữ với nhau
nhưng,…gay cấn phức tạp bao giờ cũng là mẹ chồng, nàng dâu. Có mấy người
đã có quan hệ tốt đẹp như trong bài thơ “Mẹ của anh” của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Mẹ
chồng nàng dâu khó mà cơm lành canh ngọt.
Hai bài Mẹ chồng nàng dâu và Nàng dâu thời a
còng @ đã nói về mối quan hệ này:
Bà cho thị cả gia sản cóp nhặt một đời
Thương thị như con gái/ Câu mẹ chồng nàng dâu hằn trong đầu
Thị không mở lòng/ Bà không tồn tại
(Mẹ chồng nàng dâu).
Còn nàng dâu khác thì lười, đùn việc cho mẹ chồng, mặc kệ “bà
ấy”
Hết giờ làm thị cứ ở lại/ Rủ mọi người buôn dưa lê
Để cho bà ấy làm hết việc/ Tắc đường/ Tội gì
Nàng dâu hiện đại bây giờ “Từ ngày làm dâu không một lần lau
nhà rửa bát” (Có biết mình là nô lệ).
Cô dâu khác nữa thì khổ với mẹ chồng vì quan niệm cổ hủ về “nối
dõi tông đường”. Không chịu đựng nổi, cô chấm dứt cuộc hôn nhân:
Cái nguýt của mẹ chồng băm nát trái tim/ Thị để lại tờ đơn lặng
lẽ ra đi
Chấm dứt chuỗi ngày cố gắng vô vọng/ Chân trời có hừng đông?
(Áp lực nỗi dõi quất vào đời thị)
Không chỉ cổ hủ, còn có người mẹ chồng cay nghiệt, đang tâm
đuổi con dâu, rủa xả cô làm cho mẹ cô gái đau buồn, quặn thắt:
Con bị mẹ chồng đuổi/ Rủa cả mẹ con thị
Thị hiểu con tử tế/ Gặp mẹ chồng cay nghiệt/ Quặn thắt
(Thương con quá!)
Có người mẹ theo tinh thần xưa “Cá chuối đắm đuối vì con”,
dành hết tuổi xuân, gia sản tích cóp cho con, nhưng lại nhận lại sự hững
hờ, tệ bạc:
Thị dành cho con cả thanh xuân, gia sản
Một đời khổ tứ lao tâm/ Con mải vui vầy với hạnh phúc riêng
Lễ tết chẳng được một lời động viên/ Tủi thân quá!
( Buồn nẫu ruột)
Có người mẹ thương con quên cả bản thân mình, héo khô
âm thầm lặng lẽ:
Có mụn con nối dõi/ Dốc sức cho ăn học bằng người
Bán gia sản ở quê cho mua nhà phố/Thị héo khô trong bốn bức
tường
Con nào có hay/ (Cá chuối đắm đuối vì con)
Nhưng lại cũng có người mẹ nhẫn tâm vứt bỏ con dứt ruột đẻ
ra. Thật là độc ác và tàn nhẫn , còn thua loài cầm thú:
Thị quấn nịt bụng thật chặt
Mặc áo rộng thùng thình/ Thị vát đứa con đỏ hỏn
Kiến đốt đau, tím tái, khóc ngằn ngặt/ Dã thú
(Hổ dữ chẳng ăn thịt con)
Trong bức tranh những phận người phụ nữ, có loại quan bà rất
kệch cỡm, kiêu sa. Quan bà đi lên bằng “vốn tự có” dù chẳng có tài cán gì, hay
có chỉ là “tài mọn”;
Thị khao khát, si mê/ Sức hút quái đản không cưỡng nổi
Tài mọn, tiền vặt/ Thị gặt hái ước mơ bằng vốn tự có./ Độc
(Danh vọng và quyền lực)
Các bài thơ “Thích đẳng cấp”, “Thích chê”, nhà thơ đã đả
kích, chế giễu loại quan bà “leo nhanh nhờ sắc”, “Trịch thượng/
Loài chuột chù đâu biết mình hôi”. Và đây, cái “hơn người” của loại “quan bà”
đó, chỉ dẻo mỏ hót bề trên và ra oai nạt nộ dưới, thích nịnh:
Bằng mọi giá thị phải lên sếp/ Hót trên nộ dưới
Ai tâng thị khen/ Ai hơn thị diệt/ Mãn nguyện
(Hơn người)
Loại quan bà này là người “Say ganh ghét” là người “Hay kể
công “, một tính xấu, nhỏ nhen.
Không phải mọi chân dung số phận đàn bà đều bi kịch, bi
thương. Vẫn có những người tốt, vẫn có người kiên cường, vẫn có những người
vượt lên chính mình.
Thị ục ịch như thùng phi di động/ Xấu đã đành, ì ạch bệnh
càng tăng
Bao lần cố gắng đều thất bại/ Tạo động lực để quyết tâm và
chiến thắng
Eo thon xinh áo dài bay trong gió dịu dàng thướt tha
(Vượt lên chính mình)
Vẫn có chuyện “Cả nghĩ”, “Cả tin”, nhưng rồi vững vàng tìm niềm
vui trong hòa hợp với thiên nhiên:
Ngao du ngắm cảnh, mắt no đầy/ Thư thái, thanh thản, thăng
hoa
Chắt hồn gửi con chữ ngân nga
(Chân ái)
Tìm niềm vui, sự an nhiên trong thể thao “Say cầu lông”,
trong tập luyện Yoga “Nghiện Yoga”, coi đó như “Thần dược chẳng tốn phí”.
Người đàn bà ấy nhận ra rằng:
Càng yếu đuối càng dễ bị bắt nạt
Sống mạnh mẽ tự tin, vượt lên để chiến thắng
(Sơn ăn từng mặt, ma bắt từng người)
Người đàn bà có lúc bi quan, định đi tu, định li hôn, bề tắc.
Rồi bình tĩnh lại, chị quyết tâm sống. “Phải sống tốt”. Phải vượt lên
chính mình!
Người đàn bà đã tìm thấy bình an, hạnh phúc khi giác ngộ “Cứu
cánh là tình yêu” *:
Yêu trời biển, trăng hoa, khám phá những miền xa
Yêu gia đình bạn bè, đồng loại/ Yêu sâu sắc cuồng nhiệt nàng
thơ
Như khí trời như cơm ăn nước uống/ Quyện nàng thanh xuân ùa về
Nguyễn Du từng kêu lên : “Đau đớn thay phận đàn bà!”. Ở đây
có rất nhiều đàn bà với những thân phận khác nhau: quan trên, dân thường, già ,
trẻ, thị dân, nông dân, chủ nhà, osin, vợ thật, vợ hờ… Với đủ các cung bậc
tình cảm ái, ố, hỉ, nộ,… Có thương xót, có hờn giận, có khinh bỉ, có xấu
hổ, có tự hào, có ngợi ca… Đó là thành công của nhà thơ phụ nữ Phạm Thị Hồng
Thu!
Thể thơ 1-2-3 là thể thơ do nhà thơ Phan Hoàng mới đề xướng
chưa lâu. Có được một tập thơ dày dặn 123 bài “Thị à, thị ơi” như Phạm Thị
Hồng Thu cho thấy sức viết của nhà thơ dồi dào. Chính người đề xướng thể thơ
này đã đánh giá khá cao “ khép lại tứ thơ có sức âm vang. Đây cũng là
nguyên tắc “hô – ứng” quan trọng trong luật thơ 1-2-3 mà nhà thơ Phạm Thị Hồng
Thu áp dụng nhuần nhuyễn trong nhiều bài thơ” ( Lời tựa, tr. 14). Đặc sắc nhất
của tập thơ này chính là những bức chân dung đa dạng, đa diện, đa màu sắc về
“phận đàn bà”. Một bộ sưu tập như thế thật đáng quý, nhất là những
“chân dung” đó chỉ viết bằng sáu câu thơ ngắn kể cả câu nhan đề.
Thật sự khâm phục và chúc mừng nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu!.
Hà Nội, 2/4/2025
Vũ Nho
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chuyện kể bên hồ XXXXXX
Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...
-
Đến với thơ của Bùi Hoàng Linh Tác giả Bùi Hoàng Linh đến với nghiệp văn chương khi còn đang học phổ thông tại Trường Quốc Học Huế. Thơ Bù...






