Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

"Bước gió truyền kỳ": Những con đường gió mở lối của Phan Hoàng

"Bước gió truyền kỳ": Những
con đường gió mở lối của Phan Hoàng

Trong dòng chảy thi ca Việt Nam hiện đại, Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng đánh dấu một cột mốc quan trọng bằng việc đem đến cho người đọc một tác phẩm trường ca chân thực, đậm đà triết lý, và sâu sắc trong từng điều văn. Hướng gió được nhà thơ chọn làm trung tâm của tác phẩm đã khéo léo kết nối quá khứ và hiện tại, truyền tải những ước mơ, khát vọng, và nỗi niềm của một dân tộc qua thời gian.
Ngay từ những trang mở đầu, Bước gió truyền kỳ đã khẳng định một ngôn ngữ đậm chất huyền thoại và đồng dao, mà qua đó, nhà thơ dựng dậy một bức tranh sinh động về lịch sử và tâm hồn Việt Nam. “Người ơi từ đâu theo gió bay đi/ Từ đâu hồn thiêng bay về cùng gió” – những câu thơ mở đầu như một lời thì thầm dẫn dắt người đọc bước vào hành trình kỳ ảo của những ngọn gió vô danh. Từ đó, các phần của trường ca như “Gió tiếp sức ước mơ” và “Gió khẩn hoang” dẫn dắt người đọc qua một chuyến hành trình nghệ thuật đắm đà nỗi niềm và đối thoại.
“Gió” như biểu tượng nghệ thuật
Hình tượng “gió” trong Bước gió truyền kỳ không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà còn là biểu tượng nghệ thuật giàu tầng nghĩa. Trước hết, gió được nhà thơ khắc họa như linh hồn của đất đai và con người, là sợi dây nối liền quá khứ và hiện tại. Tác phẩm miêu tả gió như một nhịp cầu đưa người đọc trở về với những trang sử vẻ vang nhưng cũng đầy đau thương của dân tộc: “Mỗi con đường lao đi bí ẩn như ngọn gió/Mạnh mẽ và thơ ngây”. Ở đây, gió không chỉ là sức mạnh vô hình của thiên nhiên mà còn mang trong mình ý chí và khát vọng.
“Gió” trong tác phẩm còn là biểu hiện của cảm xúc, có khi dịu dàng như lời ru quê mẹ, có khi mạnh mẽ như tiếng gọi của chiến trường, lại có lúc trầm mặc đầy suy tư. “Bay đường nào con người bớt khổ đau? /Bay đường nào con người tin được nhau?” – Những câu thơ như tiếng vọng từ sâu thẳm tâm hồn, đặt ra những câu hỏi về nhân sinh, về niềm tin và hi vọng trong cuộc sống.
Hơn nữa, “gió” còn là biểu tượng của sự chuyển động không ngừng nghỉ, như hành trình của những người mở đất và bảo vệ quê hương: “Những ngọn gió mở đường trĩu nặng ước mơ/Khởi từ tình yêu bùn lầy sỏi đá dựng ruộng dựng nương”. Gió chính là hiện thân của sức lao động, của niềm tin bền bỉ vào ngày mai.
Không chỉ vậy, “gió” trong Bước gió truyền kỳ còn là biểu tượng của sự tự do, phiêu lãng, vượt thoát khỏi mọi giới hạn. Những con đường gió mở lối không chỉ mang ý nghĩa thực tế mà còn là con đường tinh thần, là nơi con người tìm về bản ngã, hướng đến những giá trị cao cả hơn trong cuộc sống.
Bước gió truyền kỳ – Sự hòa quyện giữa lịch sử và hiện thực
Lịch sử trong Bước gió truyền kỳ không được tái hiện bằng những dòng sự kiện khô khan mà sống động qua từng hình ảnh, cảm xúc và câu chuyện. Những ngọn gió trong tác phẩm gợi nhớ đến hình bóng những đoàn người mở cõi, những người dân cần lao, và cả những người lính anh hùng đã ngã xuống để bảo vệ quê hương. Gió không chỉ thổi qua những miền đất, mà còn mang theo những dấu tích của bao cuộc đời đã từng sống, từng hi sinh trên đó. “Những ngọn gió mở đường trĩu nặng ước mơ/Khởi từ tình yêu bùn lầy sỏi đá dựng ruộng dựng nương” – câu thơ ấy là minh chứng rõ ràng cho sự gian khó và tinh thần vượt lên của dân tộc.
Phan Hoàng khéo léo đưa những trang sử hào hùng vào hiện thực bằng cách làm sống lại tinh thần của quá khứ trong mỗi hình ảnh và cảm xúc. Gió trong tác phẩm là hiện thân của những nỗ lực không ngừng nghỉ, là sự kế thừa và tiếp nối của các thế hệ. Lịch sử không còn là những gì đã qua, mà trở thành một phần của hiện tại, là nền tảng để xây dựng tương lai.
Điều đặc biệt ở đây là cách nhà thơ kết nối sự hi sinh của những người đã khuất với niềm hi vọng của những người còn sống. Gió không chỉ thổi đi những ký ức buồn đau mà còn mang lại sự an ủi và động lực cho thế hệ hôm nay. “Gió mang linh hồn đất đai/ Gió thổi niềm tin về tương lai” – đó là cách mà lịch sử và hiện thực hòa quyện, làm nên sức sống mạnh mẽ của tác phẩm.
Gió cũng mang đến những câu hỏi lớn lao và nhức nhối về trách nhiệm của con người với lịch sử: “Bay đường nào con người bớt phản trắc?/ Bay đường nào con người tin được nhau?” – những câu hỏi ấy không chỉ thuộc về quá khứ mà còn là lời nhắc nhở cho hiện tại, rằng chúng ta cần học từ lịch sử để sống tốt hơn.
Bằng sự kết hợp tài tình giữa hình tượng gió và chiều sâu cảm xúc, Bước gió truyền kỳ tạo nên một dòng chảy liên tục giữa lịch sử và hiện thực, khiến người đọc không chỉ cảm nhận mà còn suy tư về trách nhiệm của mình trong hành trình chung của dân tộc.
Bước gió truyền kỳ – Cấu trúc mở và sức lan tỏa mạnh mẽ
Bước gió truyền kỳ không chỉ hấp dẫn bởi nội dung mà còn bởi cấu trúc mở, mang tính tương tác mạnh mẽ. Mỗi khúc, mỗi đoạn trong tác phẩm được xây dựng như một câu chuyện hoặc một bài thơ độc lập, mang đầy đủ ý nghĩa riêng. Tuy nhiên, khi các phần được kết nối, chúng tạo nên một bức tranh toàn cảnh đầy cảm hứng và liền mạch, giống như những cơn gió hòa quyện để vẽ nên chân dung dân tộc qua các thời kỳ.
Nhờ cấu trúc này, người đọc có thể cảm nhận tác phẩm từ nhiều góc độ khác nhau, dù tiếp cận từng đoạn lẻ hay toàn bộ trường ca. Cách viết này tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, bởi nó không chỉ gợi lên cảm xúc mà còn kích thích trí tưởng tượng và suy tư. Mỗi phần như một mảnh ghép, khi kết hợp lại, chúng khơi mở một không gian đa chiều về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam.
Cấu trúc mở cũng giúp Bước gió truyền kỳ vượt qua giới hạn của lối viết truyền thống, đưa trường ca trở thành một hình thức nghệ thuật hiện đại và gần gũi hơn. Nhà thơ không áp đặt một lối tư duy cố định, mà trao quyền cho độc giả tự mình cảm nhận và đồng sáng tạo. Qua từng câu chữ, người đọc không chỉ thấy được câu chuyện của dân tộc mà còn tìm thấy bóng dáng của chính mình, với những ước mơ, trăn trở và khát vọng.
Đặc biệt, chính sự mở rộng về cấu trúc này khiến tác phẩm trở thành một nguồn cảm hứng lâu dài. Người đọc có thể trở lại với Bước gió truyền kỳ nhiều lần, mỗi lần lại khám phá thêm một tầng nghĩa mới, một cảm xúc mới. Sức lan tỏa ấy không chỉ dừng lại ở phạm vi cá nhân mà còn mở rộng ra cộng đồng, khơi dậy những giá trị tinh thần chung, kết nối những tâm hồn yêu nước và yêu văn hóa dân tộc
Bước gió truyền kỳ – Những thông điệp vượt thời gian
Bước gió truyền kỳ mang trong mình những thông điệp vượt thời gian, thấm đẫm tinh thần nhân văn sâu sắc. Trước hết, tác phẩm nhắc nhở con người về giá trị của sự đồng cảm và đoàn kết: “Không phải ở đâu cũng rừng vàng biển bạc/Không phải ở đâu cũng đẹp cũng giàu” – lời thơ như tiếng chuông cảnh tỉnh, kêu gọi sự trân trọng và nỗ lực không ngừng để gìn giữ những giá trị cốt lõi.
Tác phẩm còn gửi gắm thông điệp về lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm với lịch sử. Qua hình tượng gió, nhà thơ khơi dậy trong lòng người đọc ý thức về sự kế thừa và bảo vệ di sản văn hóa, tinh thần dân tộc: “Gió mang linh hồn đất đai/Gió thổi niềm tin về tương lai” – đây là lời nhắn nhủ rằng mỗi cá nhân đều là một phần của dòng chảy lịch sử, với sứ mệnh làm giàu thêm giá trị cho quê hương.
Một thông điệp quan trọng khác mà tác phẩm truyền tải là sức mạnh của hi vọng và niềm tin. Dẫu qua bao thử thách, những ngọn gió vẫn thổi, mang theo khát vọng vươn lên và vượt qua khó khăn: “Bay đường nào con người bớt khổ đau?/ Bay đường nào con người tin được nhau?” – câu hỏi đặt ra không chỉ cho thế hệ hiện tại mà còn cho những thế hệ mai sau, như một lời kêu gọi hướng tới hòa bình, tình yêu thương và sự hòa hợp.
Cuối cùng, Bước gió truyền kỳ còn là một lời khẳng định mạnh mẽ về giá trị của nghệ thuật. Trường ca không chỉ là một câu chuyện về lịch sử hay cảm xúc mà còn là một phương tiện để truyền tải những giá trị bất biến, vượt qua thời gian và không gian, gắn kết tâm hồn con người lại gần nhau hơn.
Tóm lại, Bước gió truyền kỳ không chỉ là một tác phẩm trường ca đơn thuần mà là một bức tranh nghệ thuật đa chiều, nơi lịch sử, hiện thực và những khát vọng của con người giao thoa và tỏa sáng. Với những tầng ý nghĩa sâu sắc và cấu trúc sáng tạo, tác phẩm đã vượt qua biên giới của một câu chuyện thơ để trở thành tuyên ngôn văn hóa, gợi mở những suy tư và đồng hành cùng tâm hồn Việt qua mọi thời đại. Tác phẩm không chỉ lưu giữ những giá trị quá khứ mà còn truyền cảm hứng mạnh mẽ để mỗi người tự tìm thấy trách nhiệm của mình trong việc kế thừa và làm giàu thêm di sản tinh thần dân tộc. Những ngọn gió trong Bước gió truyền kỳ không chỉ kể chuyện mà còn thổi bừng sức sống, gắn kết những trái tim yêu quê hương và đốt lên ngọn lửa hi vọng mãnh liệt về một tương lai tươi sáng hơn.
4/6/2025
Hà Vinh Tâm
Nguồn: Tạp Chí Sông Lam
Theo https://vanhocsaigon.com/

Hải âu đi tìm cha - Cuộc hành trình đầy cảm hứng tự do và chan chứa yêu thương

Hải âu đi tìm cha - Cuộc
hành trình đầy cảm hứng tự do
và chan chứa yêu thương

Hải âu đi tìm cha là tập truyện dài dành cho thiếu nhi của nhà văn Trần Thu Hằng do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2024. Câu chuyện kể về cuộc hành trình của chú hải âu theo tàu của các anh chiến sĩ hải quân và đoàn đại biểu ra thăm Quần đảo Trường Sa.
Chú hải âu có tên là Len. Len vừa sinh ra thì bị một cơn bão đánh dạt vào bờ và bị thương rất nặng. May thay chú được một trung úy tên Minh cứu sống và chăm sóc, yêu thương hết mực. Rồi thời gian trôi qua, chú quen với cuộc sống trên đất liền mà không biết mình có nguồn gốc từ đại dương xa xôi, là loài chim biểu tượng cho khát vọng và tự do. Thế rồi lúc Len được sáu tháng tuổi thì tàu của đội anh Minh phải ra quần đảo Trường Sa làm nhiệm vụ. Và chú đã may mắn được đi theo.
Trong hành trình ấy, Len được gặp một người bạn cũng có hoàn cảnh giống như chú có tên là Lin, cả hai nhanh chóng kết thân và san sẻ với nhau mọi điều. Nhờ có Lin, Len được khám phá bao điều mới lạ trên chính quê hương, nòi giống của mình và cả những điều tuyệt diệu của thế giới con người cũng như các loài sinh vật khác. Nhưng điều may mắn nhất là chú đã biết đến sự có mặt của người cha sinh ra mình. Tình phụ tử thiêng liêng chảy tràn trong huyết quản đã thôi thúc Len tìm kiếm cha mình bằng mọi giá.
Thế rồi, nhờ sự giúp đỡ của bạn bè, chú gặp được cha là một bác hải âu luống tuổi có tên là Lát. Kể từ đó niềm đam mê khám phá của Len như được chắp thêm đôi cánh. Dưới sự hướng dẫn, tâm tình chở che của cha, Len và Lin đã bay khắp mọi nơi, tìm hiểu về quần đảo và hoạt động của con người cũng như rất nhiều điều lí thú về dòng dõi, gia tộc mình và cả những bạn bè sinh sống giữa biển khơi. Mỗi một nơi Len đến là một mảng kí ức không thể nào quên về tình yêu thương giữa con người với con người và giữa con người với hải âu cũng như tình cảm thân thiết giữa những người bạn gặp nhau trên biển lớn.
Một câu chuyện nhân văn dành cho lứa tuổi thần tiên với đầy đủ sắc màu, âm thanh và cung bậc cảm xúc khiến người đọc rưng rưng xúc động. Ở đó vẻ đẹp của tình yêu thương và khát vọng tự do được lấy làm trung tâm của mọi nguồn cảm hứng. Người đọc như bị cuốn vào câu chữ một cách mê đắm bởi sự hấp dẫn của các tình tiết truyện, bởi những giá trị nhân văn và cả sự trong sáng, hồn nhiên của nhân vật như chính tâm hồn các em trong độ tuổi đáng yêu này.
Ấn tượng đầu tiên khi bước vào câu chuyện là tình cảm trìu mến giữa người lính hải quân và chú chim non. Đó là cử chỉ âu yếm của anh Minh ngay khi bước vào phòng:
” – Len ở đâu về đấy? Anh sắp được lên tàu đi công tác rồi, Len có đi cùng anh không?
Len đập đập cánh bay lên tay anh, bám vào vai áo có đeo quân hàm mới tinh. Đôi chân chưa thật chắc khoẻ, nhưng móng chân dài của Lên bấm vào đủ làm anh Minh thấy nhột nhột. Len dụi mỏ vào cổ áo anh:
– Len chịu khó ăn nhiều cho khoẻ để đi biển với anh. Anh đưa Len về nơi Len được sinh ra đấy nhé”
Một đoạn hội thoại ngắn của hai nhân vật đại diện cho hai thế giới khác nhau ngay lập tức chạm vào trái tim độc giả. Tình cảm ấy bắt nguồn từ trái tim lương thiện của người lính biển và bản chất hiền lành, đáng yêu của loài chim hải âu bé nhỏ. Điều ấy không riêng gì Trung úy Minh mà xuyên suốt câu chuyện ta bắt gặp rất nhiều lần với những nhân vật khác. Đó là những anh nuôi, là chiến sĩ Khôi, là chị Thúy, đại tá Nghiêm và rất nhiều nhiều nữa. Ánh mắt ai cũng ánh lên niềm vui khôn xiết khi bắt gặp Len và người bạn đồng hành. Rồi họ cho ăn, họ ôm ấp vuốt ve, ủ ấm các chú chim hải âu trong vòng tay yêu thương trìu mến. Còn hải âu lại như đứa trẻ ngoan được sà vào lòng mẹ, cứ dụi dụi mỏ vào vai áo các anh chiến sĩ mà nũng nịu, thân tình. Thật đúng như câu nói thường nghe “Chim hải âu đậu trên vai người chiến sĩ”.
Đây là một vỉa tầng của bài học nhân văn. Giáo dục các em nhỏ tuổi về tình yêu thương con người dành cho loài vật, đặc biệt là khi chúng còn nhỏ bé, chưa đủ sức tự chăm lo cho bản thân. Hải âu là loài chim báo bão. Vì thế, yêu thương, chăm sóc, bảo vệ chúng là bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống chúng ta. Mặt khác, người viết cũng ngầm căn dặn các em, muốn nhận được tình yêu thương từ người khác, thì mình phải luôn là một đứa trẻ ngoan, ham học hỏi và biết vâng lời như chú hải âu kia.
Ấn tượng thứ hai là tình bạn vô tư, trong sáng nhưng vô cùng bền chặt giữa các nhân vật, sẵn sàng chia sẻ cho nhau biết về mọi thứ, sẵn sàng giúp đỡ nhau khi khó khăn hoạn nạn. Lin và Len tuy mới quen nhau nhưng Lin đã tận tình chia sẻ cho Len những điều cậu biết, hoảng hốt cầu cứu và đưa Len thoát khỏi lưỡi hái tử thần trước sức mạnh khổng lồ của quạt gió. Còn Len thì dẫn Lin đi tìm thức ăn hay hành động Len dũng cảm nhảy lên cao rồi chủ động té xuống sàn để mọi người trông thấy mà cho ăn khi Lin bị đói lả, và khi được bác đại tá cho cháo thì Len không nỡ ăn mà vội lao ra cửa nơi Lin đứng khiến mọi người trầm trồ thốt lên “Chúng thương nhau chưa kìa”. Mỗi chú hải âu dù có khát khao, lí tưởng riêng nhưng biết tự sức mình không thể làm nên chuyện nên phải dựa vào nhau, dìu nhau đi từng bước nhỏ như câu nói truyền tai nhau của những người chiến sĩ “mọi thứ phải dựa vào đồng đội”
Không gian tình bạn được nới rộng ra giữa các nhân vật khác loài trong thế giới tự nhiên. Đó là giữa chim bói cá với Lin, giữa cá heo với Len và rất nhiều, nhiều nữa… Nhờ sự hoà đồng, thân thiện và tình cảm mà Len khám phá được rất nhiều điều, được cứu sống và tìm thấy cha. Hoá ra, trên cuộc đời này ở bất cứ đâu, bất cứ ai cũng có thể trở thành bầu bạn chỉ cần chúng ta biết mở cánh cửa tâm hồn, sống chân thành và tử tế. Ngòi bút nhà văn đã thiết kế nên các tình huống gặp gỡ hết sức thú vị cùng những lời thoại rất hài hước, dễ thương làm cho độc giả nhí bị cuốn vào câu chữ. Một bài học nhân văn về tình bạn được lồng ghép thật nhẹ nhàng, tinh tế để người đọc dễ dàng tiếp thu trong một trạng thái tinh thần thư giãn.
Nội dung trọng tâm của câu chuyện là Hải âu đi tìm cha. Mặc dù đây là ý tưởng nảy ra bất ngờ qua sự gợi ý của Lin mà trước đó Len chưa hề biết đến. Thế mà, ngay lập tức, chú bé hải âu bất chấp mọi hiểm nguy, gian khó để tìm bằng được cha mình vì sự thôi thúc của dòng máu nóng chảy tràn trong huyết quản, vì sự khát khao được gặp đấng sinh thành, được sống với tình phụ tử thiêng liêng. Sự ngô nghê khi Len nhận quạt gió làm cha là một điều dễ hiểu, rất đáng thương và xúc động vô cùng. Hay hành động đêm đêm thao thức nghĩ tưởng tượng về cha, ngày thì bay hết chỗ nọ, hỏi hết chỗ kia tìm kiếm rồi khi thấy thì bất chấp hiểm nguy lao vút lên để tiến đến gần cha làm sao nhanh nhất đủ cho người đọc thấy tình ruột thịt thiêng liêng, vĩ đại đến thế nào. Cha của Len cũng thế, chỉ vì một phút giây sao nhãng để lạc mất con mà ông trong lòng luôn day dứt, nhớ thương, phiêu bạt khắp nơi để dò lần tung tích. Phút gặp lại con ông như được hồi sinh lần nữa, kể cho con nghe về đặc điểm giống loài mình, kể về sự yêu thương, chăm sóc ông dành cho anh em Len ngày nhỏ, về hòn đảo Tình yêu và thương nhớ, nơi ghi dấu rất nhiều kỉ niệm của cha mẹ về những đứa con.
Và câu chuyện một nữ chiến sỹ hải quân tên là Thúy khao khát gặp lại người bố đã hy sinh mới cảm động biết bao. Thúy đã ngồi cặm cụi, nắn nót gấp từng con hạc giấy, đeo kín khẩu trang để dấu đi dòng lệ nhạt nhòa khi nghĩ về bố, rồi năn nỉ van xin chỉ huy được theo đoàn cứu trợ đi lên đảo, bất chấp sóng to, gió lớn, bất chấp hiểm nguy chực chờ. Bố của Thúy hy sinh trong một cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo khi cô mới lên ba. Nhưng sự gắn kết sâu xa của tình ruột thịt bao đời vốn thiêng liêng nên chẳng có gì ngăn cản được bước chân, ngăn cản khát khao gặp lại cha mình dù chỉ còn nắm đất. Câu chuyện xúc động ấy không chỉ riêng mình Thúy mà của rất nhiều người trên đất nước Việt Nam ta.
Người viết đã lồng ghép hai nghịch cảnh vào trong một chủ đề. Một là đại diện cho con người, một là đại diện cho loài vật để truyền cho các em thông điệp về tình yêu bao la và thiêng liêng của tình phụ tử, về lòng biết ơn với đấng sinh thành và cả với những người chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ chủ quyền biển đảo cho quốc gia, dân tộc. Các em ắt hẳn sẽ nhớ, sẽ ghi và sẽ thấm để mang theo trong suốt cuộc đời.
Hành trình tìm cha cũng là hành trình giúp hải âu khám phá ra bao điều thú vị về biển đảo, về Nhà giàn tổ quốc, về phẩm chất anh dũng, kiên cường và tận trung tuyệt đối của những người chiến sĩ. Dưới sự dẫn dắt của cha, Len đã biết được quần đảo Trường Sa có những hòn đảo nào, trực thuộc địa danh nào. Nhà Giàn tổ quốc được xây dựng ra sao và để làm gì. Những người lính biển gian khổ như thế nào trong công cuộc bảo vệ biên cương. Hành động bất chấp hiểm nguy, khẩn trương, tận tụy phục vụ nhân dân và ần cần chăm sóc họ của đại tá Nghiêm, xung phong lên đảo của trung úy Minh và rất nhiều chiến sỹ trong cặp mắt quan sát của chim hải âu trở thành biểu tượng hùng hồn và vĩnh cửu về vẻ đẹp của quân đội nhân dân Việt Nam, của những người chiến sĩ hải quân trấn thủ vùng biên ải. Tác giả đã đứng ở góc nhìn của loài vật, của cặp mắt non tơ để mà quan sát và cảm nhận. Điều ấy vừa hồn nhiên, vừa chân thực, vừa gần gũi, dễ chạm đến thẳm sâu xúc cảm của con người.
Chuyện còn cuốn hút người đọc bởi thể loại truyện đồng thoại nên thế giới loài vật hiện lên một cách sinh động, hấp dẫn. Các tình huống được sắp xếp một cách logic cả về không gian, thời gian và diễn biến tâm lý nhân vật. Hệ thống lời thoại phù hợp với từng đối tượng nhân vật, với hoàn cảnh, đủ các cung bậc cảm xúc hồn nhiên, vui tươi, nhí nhảnh của trẻ nhỏ và trầm tư, lo lắng của người trưởng thành. Các đoạn văn miêu tả cảnh, miêu tả nhân vật sinh động, đủ sắc màu, âm thanh và cảm xúc. Sử dụng nhiều biện pháp tu từ như nhân hoá, so sánh… tạo ra sức gợi rất hiệu quả. Người viết có vốn kiến thức sâu rộng về biển đảo, về tính chất công việc của lính hải quân và đặc điểm các loài sinh vật sống ở đại dương. Đọc xong tập sách, độc giả không chỉ thấm nhuần những bài học nhân văn giá trị về lẽ sống mà còn được cung cấp một lượng lớn kiến thức về nhiều lĩnh vực như văn học, địa lý, lịch sử, sinh học… Đây thực sự là một món quà ý nghĩa dành cho các em ở lứa tuổi thiếu nhi, vừa học hỏi được nhiều điều bổ ích phục vụ cho việc học và rèn luyện kĩ năng sống.
Viết về chim hải âu và biển cả là viết về biểu tượng của khát vọng và tự do. Tác giả mong muốn gửi đến các em đang trong độ tuổi thiếu nhi hãy không ngừng nuôi ước mơ, khát vọng, chinh phục đỉnh cao tri thức để làm chủ cuộc sống, làm chủ thiên nhiên như đàn hải âu kia sải cánh tung bay giữa bao la biển biếc mây trời.
6/6/2025
Lê Thị Xuân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ viết về trẻ em của thi hào Rabindranath Tagore

Thơ viết về trẻ em của
thi hào Rabindranath Tagore

Rabindranath Tagore* không chỉ nổi tiếng với các tập thơ như “Gitanjali” (“Thơ Dâng”), “The Gardener” (“Người làm vườn”)… mà còn được biết đến với tư cách một nhà thơ viết về trẻ em qua tập “Trăng non”. Tập thơ này ban đầu được viết bằng tiếng Bengali có tựa đề “Susi” (“Trẻ thơ”) xuất bản năm 1909. Đến năm 1915, R.Tagore đã dịch tập thơ sang tiếng Anh và đặt tên là “The Crescent Moon” – “Trăng non”.
Cũng cần nói thêm rằng, trước khi tập thơ ra đời, nhà thơ đã phải gánh chịu nhiều mất mát, khổ đau: Năm 1904 người con gái thứ hai của nhà thơ qua đời, đến năm 1907 người con trai đầu lòng cũng lìa bỏ cõi thế mà đi. Trong một bài thơ, ông đã viết:
“Đã đến lúc con đi, mẹ ơi, con đi đây.
Trong bóng tối nhợt nhạt của bình minh cô đơn, mẹ sẽ vươn đôi tay tìm bé của mẹ trên giường, con sẽ nói, “Bé không ở đó!” – mẹ ơi, con đi đây.
Con sẽ thành những luồng gió mát mơn trớn mẹ; con sẽ là sóng nước lăn tăn khi mẹ tắm, con sẽ hôn mẹ mãi không thôi…”
(“Kết thúc”)
Có thể nói tình yêu thương của người cha đối với các con cùng nỗi buồn đau vô hạn đã trở thành một động lực thôi thúc R.Tagore viết nên những vần thơ xúc động trong tập “Trăng non”, để rồi từ đó nhân loại có thêm một nhà thơ kiệt xuất viết về trẻ em.
Trong thơ của R.Tagore, thế giới trẻ em hiện lên hết sức phong phú và kì diệu. Những phẩm chất trong sáng, hồn nhiên, ngộ nghĩnh, giàu tưởng tượng… của trẻ đã được ông khắc họa một cách sinh động trong nhiều bài thơ. Chẳng hạn:
– “Mẹ ơi, bé con của mẹ thật ngốc! Em bé thật trẻ con.
Em không biết sự khác nhau giữa đèn đường và những vì sao.
Khi chúng con chơi đồ ăn bằng sỏi, em nghĩ chúng thực là thức ăn, và nhét chúng vào miệng.
Bé con của mẹ muốn bắt lấy vầng trăng. Em thật buồn cười; em gọi Ganesh là Gaanush.”
(“Lớn hơn”)
– “Em bé ơi, em sung sướng biết bao
Khi em ngồi suốt cả buổi mai trong đất bụi
Chơi với một cành cây gãy.”
(“Đồ chơi”)
– “Nếu con chỉ là con chó con chứ không phải con của mẹ, mẹ yêu, liệu mẹ có nói “Không” với con khi con gắng ăn từ đĩa thức ăn của mẹ?
Mẹ có đuổi con đi và nói với con, “Đi đi, chó con hư đốn?”
(“Sự thông cảm”)
-“Nếu mọi người biết được cung điện của nhà vua ở đâu, nó sẽ biến mất khỏi không trung
Những bức tường bằng bạc trắng và mái ngói lấp lánh vàng
Hoàng hậu sống trong cung điện có bảy cái sân, bà đeo đồ trang sức trị giá bằng của cải bảy vương quốc.
Nhưng con sẽ nói thầm vào tai mẹ, cung điện của nhà vua ở đâu.
Nó ở góc ban công nhà mình nơi đặt chậu cây tulsi.
Công chúa đang ngủ trên bờ biển xa của bảy biển không thể đến
Không có ai trên thế giới có thể tìm ra nàng ngoài con”.
(“Xứ thần tiên”)
Miêu tả những nét đáng yêu trong tâm hồn trẻ thơ, dường như R.Tagore muốn khẳng định trẻ em chính là cội nguồn của cái thiện và cái đẹp. Điều này đối lập với những tham vọng thấp hèn, những bon chen ti tiện đầy rẫy trong thế giới của người lớn, của những bậc làm cha làm mẹ. Bài thơ “Trên bờ biển” đã phần nào hé mở quan niệm của ông. Từ các hình ảnh trái ngược: Bọn trẻ hồn nhiên “cười reo nhảy múa” – “giông tố gầm lên trên bầu trời không có một lối đi / thuyền bè đắm trên nước không dấu vết / cái chết ở ngoài kia”, “các em nhặt những viên đá cuội, rồi lại ném đi” – “những người đi tìm ngọc thì lặn xuống mò ngọc trai / những người lái buôn giong thuyền của họ…”  nhà thơ ca ngợi sự hồn nhiên, vô tư của trẻ nhỏ. Qua đó ông còn muốn nhắc nhở người lớn cần phải sống tốt hơn.
Bao trùm trong cả tập thơ là tình yêu thương của R.Tagore đối với trẻ. Tình yêu đó được biểu hiện một cách tập trung bằng tình mẫu tử. Trong cuộc sống, tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất của con người. M.Gorki đã từng viết: “Không có người mẹ thì không có nhà thơ lẫn anh hùng”. Hình ảnh “mẹ” và “con” luôn xuất hiện trong các bài thơ: “Đất của người đi đày”, “Bờ bên kia”, “Cảm tình”, “Hoa Chăm pa”, “Kết thúc”, “Lớn hơn”, “Mây và sóng”, “Mười hai giờ”, “Ngày mưa”, “Người hùng”, “Người thủy thủ”, “Sự thông cảm”, “Tác giả”, “Thương nhân”, “Trường hoa”, “Xứ thần tiên”, “Buổi sơ khai”, “Thế giới của bé”, “Bao giờ và vì sao”… Là người làm cha nhưng bằng sự nhạy cảm của một thiên tài, R.Tagore đã thấu hiểu một cách sâu sắc tình mẫu tử. Nhà thơ hiểu rằng đứa con chính là niềm hạnh phúc, là nguồn vui, lẽ sống của người mẹ. Trong bài thơ “Người phán xử”, R.Tagore không chỉ miêu tả tình yêu vô bờ của mẹ đối với con mà còn bộc lộ một quan niệm, một thái độ ứng xử đối với trẻ em: “chỉ ai thương thì người đó mới có quyền trừng phạt”:
“Tôi yêu nó không phải vì nó ngoan nó giỏi
mà vì nó là đứa con nhỏ của tôi,
Khi tôi trừng phạt nó
thì nó lại càng trở nên một phần của bản thân tôi.
Và khi tôi làm cho nó khóc
thì lòng tôi cũng khóc cùng với nó…”
Theo R.Tagore, sự biện chứng trong tình yêu của mẹ đối với con là ở chỗ khi người mẹ làm cho con vui, làm cho con hạnh phúc cũng là khi người mẹ đã đem niềm vui, niềm hạnh phúc đến cho mình:
“Khi mẹ hôn con để làm con cười, con yêu quý của mẹ ơi
Mẹ hiểu chắc chắn niềm vui nào
tự trời cao chảy xuống ánh bình minh
và nỗi khoái lạc nào
làn gió nhẹ mùa hè đã mang đến cho thân thể mẹ
Khi mẹ hôn con để làm con cười, con của mẹ ơi”
(“Bao giờ và vì sao”)
Người mẹ không chỉ đóng vai trò người phán xử công minh mà trước hết là chỗ dựa vững chắc, đồng thời cũng là người thầy, người bạn của con mình. Nhiều bài thơ của R.Tagore được cấu trúc bằng hình thức lời trẻ thơ nói với mẹ. Điều này chứng tỏ trong tình cảm tự nhiên của trẻ, người mẹ luôn luôn là chỗ dựa tin cậy để trẻ thơ có thể đối thoại, có thể thổ lộ hết mọi chuyện của mình:
– “Mẹ ơi, ánh sáng đã chuyển thành màu xám trên bầu trời, con không biết đang là mấy giờ”
– “Mẹ ơi, nếu mẹ không phiền lòng, con sẽ trở thành người đưa đò khi con lớn lên”
– “Tưởng tượng, mẹ ơi, rằng mẹ đang ở nhà còn con đang chu du ở tận một miền đất lạ”
– “Mẹ ơi, những người sống trên mây đang gọi con” v.v…
Viết về tình mẫu tử, “Mây và sóng” là một trong những bài hay nhất của tập thơ. Với bút pháp độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và huyền ảo, R.Tagore đã diễn tả một cách sâu sắc tình cảm của đứa con đối với người mẹ. Toàn bài thơ là lời kể của em bé với 2 phần tương đối giống nhau. Mỗi phần được kết cấu theo trình tự: Lời mời gọi – lời từ chối – sáng tạo trò chơi của bé.  Phần đầu bài thơ, em bé kể chuyện mình được “những người sống trên mây” rủ đi chơi. Dù lời mời hấp dẫn, dù rất muốn đi nhưng em đã từ chối vì: “Mẹ tôi đang đợi ở nhà / Làm sao tôi có thể bỏ mẹ tôi mà đi được?”. Rồi em đã nghĩ ra một trò chơi mà em cho là thích hơn:
“Con sẽ là mây và mẹ sẽ là trăng.
Con sẽ lấy hai tay trùm lên người mẹ,
Và mái nhà sẽ là bầu trời xanh thẳm”.
Phần thứ hai là lời mời gọi, rủ rê của “những người sống trong sóng nước” . Lời mời rất hấp dẫn và dù rất muốn đi, nhưng em bé đã từ chối bởi: “Buổi chiều, mẹ tôi luôn luôn muốn tôi ở nhà với mẹ / Làm sao tôi có thể bỏ mẹ tôi mà đi được?” Em lại nghĩ ra một trò chơi mới:
“Con sẽ là sóng, mẹ sẽ là một bờ biển lạ lùng.
Con sẽ lăn, lăn, lăn mãi và vỗ vào gối mẹ, cười vang.
Và không một ai trên cõi đời này biết nơi đâu mẹ con ta đang ở.”
Bằng tư duy nghệ thuật của một thiên tài, R. Tagore đã xây dựng nên hình tượng “mây” và “sóng” đầy sức biểu cảm để diễn tả một chủ đề không mới trong văn học – chủ đề tình mẹ con. Qua bài thơ, R.Tagore còn muốn khẳng định rằng sức mạnh của tình mẫu tử có thể giúp con người vượt qua được mọi thử thách, mọi cám dỗ trong cuộc đời.
Như thế, những bài thơ trong tập “Trăng non” của R.Tagore không chỉ là lời ngợi ca thế giới tâm hồn thánh thiện của trẻ em mà còn là những bài học về tình yêu thương, về thái độ ứng xử dành cho người lớn.
Buổi sơ khai
Bé hỏi mẹ:
“Mẹ ơi, con từ đâu đến vậy.
Mẹ đã nhặt được con ở tận nơi nào ?”
Mẹ ôm chặt bé vào lòng, và trả lời
nửa cười, nửa khóc :
“Con ơi con, con đã được giấu kín trong lòng mẹ
như chính những thèm khát, ước mơ của nó,
Con ở trong con búp bê của những món đồ chơi tuổi nhỏ của mẹ,
Và mỗi buổi sáng khi mẹ lấy đất sét nặn ra
hình ảnh Chúa Đời của mẹ
thì mẹ đã nặn đi nặn lại con rồi.
Con đã ở trên ban thờ nơi thờ vị thổ thần
Và khi thờ thần đó, đồng thời mẹ cũng thờ con.
Con đã sống trong tất cả niềm hy vọng, thương yêu trong đời mẹ,
và trong cuộc đời của mẹ nữa kia.
Con đã được nuôi dưỡng từ đời này qua đời khác
trong lòng của vị thần linh bất tử đã ngự trị ở nhà ta.
Khi trong thời con gái, trái tim mẹ nở xoè như một đoá hoa
Con đã lượn quanh nó như một mùi hương phảng phất.
Vẻ tươi mát nhẹ nhàng của con
nở trên chân tay non trẻ của mẹ
như một ánh hồng
trên trời cao
trước buổi bình minh.
Con là đứa con cưng của Thượng đế
là anh em sinh đôi với ánh bình minh,
Con đã theo dòng nước trôi xuống cuộc đời trần tục này
và cuối cùng con đã được đặt vào lòng mẹ.
Khi mẹ ngây nhìn khuôn mặt của con
mẹ như bị ngập trong bao điều bí ẩn;
Và con, vốn là của chung của tất cả mọi người
đã trở thành của riêng của mẹ.
Sợ mất con đi, mẹ đã siết chặt con trên ngực mẹ,
không biết điều kì diệu nào
đã chiếm lĩnh cái kho vàng trên cõi thế
và đặt vào đôi tay mảnh khảnh của mẹ đây?”.
Chú thích:
* R. Tagore (1861- 1941): Nhà thơ vĩ đại của đất nước Ấn Độ, Giải Nobel Văn học năm 1913. Di sản của R.Tagore rất đồ sộ với 52 tập thơ, 42 vở kịch,12 tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, hơn 2000 ca khúc (trong đó có quốc ca Ấn Độ), 63 tập tiểu luận và gần 3.000 bức tranh.
7/6/2025
Rabindranath Tagore
Đào Xuân Quý dịch
Hoàng Trọng Hà
Nguồn: Báo Lâm Đồng 5.2025
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đỗ Nguyên Thương và hành trình tìm kiếm cái đẹp

Đỗ Nguyên Thương và
hành trình tìm kiếm cái đẹp

Đỗ Nguyên Thương có đi sâu nghiên cứu về thể thơ 1-2-3, thể thơ mới mang hơi thở cuộc sống đương đại do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng và thành công. Thơ 1-2-3 không gò bó niêm luật, câu chữ, khiến người viết phóng túng hơn khi thể hiện ý tưởng, gửi gắm thông điệp cuộc sống. Thể thơ này hiện đã được khá nhiều người yêu thích và say mê sáng tác. Trong số rất nhiều bài thơ 1-2-3, Đỗ Nguyên Thương chọn viết về “giáo chủ” Phan Hoàng – người sáng lập thể thơ 1-2-3 và viết về một nhà văn trẻ của Đất Tổ…
Thiết nghĩ, trong cuộc đời này, ai ai cũng đều yêu quý cái đẹp. Cái đẹp trong cuộc sống muôn màu, muôn vẻ luôn hiện diện. Nó sẽ đẹp hơn trong ánh nhìn trân trọng, yêu thương. Cái đẹp trong văn chương, luôn cần đến nhà phê bình. Hoài Thanh từng nói “Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật; tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình”. Trên quê hương Đất Tổ Vua Hùng, có một cô giáo mải miết đi tìm vẻ đẹp văn chương. Đó là Nhà giáo Đỗ Nguyên Thương nguyên Chánh Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ, hiện là hội viên Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ, đồng thời chị đang đảm trách nhiệm vụ Chi hội trưởng Chi hội Lý luận Phê bình và Văn nghệ dân gian thuộc Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Phú Thọ.
Năm 2005 nhà giáo Đỗ Nguyên Thương đã ra mắt bạn đọc cuốn Tiểu luận – Phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn chương” được giáo viên, học sinh các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và bạn đọc nồng nhiệt đón nhận. Chính vì vậy ngay sau đó một năm (2006) cuốn sách đã được tái bản. Năm 2020 Nhà xuất bản Hội Nhà văn lại cấp phép xuất bản tác phẩm “Cảm ơn cuộc đời” cho tác giả Đỗ Nguyên Thương. Đây là một tập thơ gồm 50 bài viết về gia đình, thầy cô và mái trường, tri ân các anh hùng liệt sỹ, tình yêu và các đề tài khác với bút pháp dung dị, tình cảm chân thành, được bạn đọc đón nhận với tình cảm quý mến, được giới thiệu trên Truyền hình tỉnh Phú Thọ và Thời báo Văn học nghệ thuật. Năm 2022, Đỗ Nguyên Thương tiếp tục cho ra mắt cuốn Tiểu luận -Phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn chương” tập II, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, gồm 33 bài viết, được giải A của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ năm 2022. Và năm nay 2024, chị tiếp tục ra mắt bạn đọc cuốn Tiểu luận- phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn chương” tập III, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, cũng gồm 33 bài viết gọn gàng, nhỏ xinh.
Đi tìm vẻ đẹp văn chương tập III là cuốn sách Lý luận, phê bình và nghiên cứu văn học; Đi tìm Vẻ đẹp văn chương là đi tìm nét đặc sắc về nghệ thuật và nội dung của các tác phẩm văn học! Không phải ngẫu nhiên Đỗ Nguyên Thương liên tiếp đặt tên cho 3 tập sách của mình là Đi tìm vẻ đẹp văn chương. Rất có thể, chị ý thức sâu sắc về cái đẹp trong hành trình tìm kiếm. Vốn là học sinh giỏi quốc gia môn Ngữ văn, học sinh chuyên văn khóa đầu tiên của tỉnh Vĩnh Phú, sau đó, vào thẳng Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSP I) khoa Ngữ văn, rồi tiếp tục làm Luận văn Thạc sỹ Văn học Việt Nam về đề tài Tiểu luận phê bình của Chế Lan Viên. Chắc chắn đây được gọi là cái duyên với nghề. Được đọc, được học và giảng nhiều bài cho học sinh về văn học Việt Nam, chị đã quen với các thao tác nhận xét, đánh giá…
Thêm nữa, từ khi được giao trọng trách dạy đội tuyển học sinh giỏi quốc gia, có nhiều học sinh đạt giải quốc gia môn Ngữ văn, Đỗ Nguyên Thương càng ý thức sâu sắc hơn về nhiệm vụ và trọng trách của mình, luôn có ý thức tìm tòi cái hay, cái đẹp, sự độc đáo trong mỗi trang văn, trang thơ; tìm ra và luận giải những nét đặc sắc nghệ thuật cho mỗi tác phẩm và tác giả Văn học Việt Nam. Bởi thế, chị càng ngày càng gắn bó với công việc này. Từ năm 2005 được kết nạp vào Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, nhiều năm đảm nhận chức vụ Chi hội trưởng Chi hội Chi hội Lý luận Phê bình và Văn nghệ dân gian, Đỗ Nguyên Thương luôn ý thức sâu sắc về việc làm thế nào để nâng cao chất lượng cho công việc lý luận, phê bình văn học. Cũng từng là giáo viên dạy văn, làm cán bộ quản lý, chỉ đạo hoạt động dạy và học môn Ngữ văn trong nhà trường nên chị luôn mong muốn mỗi bài giảng của thầy và bài viết của trò có tính lý luận, khuyến khích các em phát biểu chính kiến, có quan điểm khen chê, rõ ràng. Bởi thế, tập sách Đi tìm vẻ đẹp văn chương” tập III được chia 5 phần khá rõ. Trong đó,
Phần thứ nhất, có một số tiểu luận phê bình văn học bàn về việc làm thế nào để nâng cao chất lượng cho bài phê bình văn học “Hiểu thế nào là một bài phê bình hay”, “Bàn về chất văn trong bài phê bình văn học”… mỗi trang viết đều in hằn nỗi niềm mong mỏi của Đỗ Nguyên Thương về việc nâng cao chất lượng phê bình văn học, mong muốn bạn đọc tiếp nhận bài viết về lý luận, phê bình văn học như tiếp nhận thơ, truyện ngắn… Bên cạnh đó, Đỗ Nguyên Thương bàn về việc làm thế nào để gia tăng tính lý luận cho bài giảng của thầy và bài viết của học trò trong nhà trường (nhất là cấp trung học phổ thông). Đã từng đứng trên bục giảng, là giáo viên dạy giỏi và tâm huyết, trách nhiệm với nghề, Đỗ Nguyên Thương  nhận thấy có một số thầy cô chưa thật sự say sưa và chưa có ý thức về việc gia tăng tính lý luận để bài giảng khoa học, chặt chẽ và có chiều sâu; bài viết của học sinh trung học phổ thông (nhất là lớp đầu cấp) còn non về khả năng lý luận, lập luận khiến bài thiếu logic và chưa đạt được độ chín như thầy cô mong muốn.
Phần thứ hai, có nhiều bài viết về các tác phẩm văn học trong nhà trường- là tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên và học sinh trung học phổ thông. Độc giả được tiếp cận cách nhìn mới “về một vấn đề đã cũ” khi đọc bài của Đỗ Nguyên Thương viết về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Sóng của Xuân Quỳnh; Chí Phèo của Nam Cao…nhận thấy rõ rệt nỗi khắc khoải trong thơ thi sỹ tài hoa phận mỏng Hàn Mặc Tử; thấy sự xốn xang và biên độ tình yêu đắm say trong thơ Xuân Quỳnh khi chị diễn tả nỗi nhớ về người yêu “Cả trong mơ còn thức”; thấy “chênh vênh say tỉnh chênh vênh phận người” khi đọc bài của Đỗ Nguyên Thương về Chí Phèo của Nam Cao bởi chị đau nỗi đau của nhân vật và đồng cảm với tác giả Nam Cao trước hiện thực phũ phàng của cuộc sống đối với những thân phận nhỏ bé như Chí Phèo…
Phần thứ ba, Đỗ Nguyên Thương viết về các tác phẩm của Văn nghệ sỹ Phú Thọ nói về chiến tranh, về cuộc sống thường nhật với những mâu thuẫn nội tâm của nhân vật để khái quát bức tranh hiện thực cuộc sống (Về tiểu thuyết của Nhà văn Vũ Quốc Khánh, về thơ của nhà giáo Đoàn Hải Hưng… để thấy “một thời hoa lửa” hiện lên thật đẹp đẽ và hào hùng. Qua đó, người Việt Nam có quyền tự hào chính đáng về truyền thống cha ông. Thơ Nguyễn Hưng Hải đậm chất hiện thực và có giá trị nhân văn khiến người đọc thêm yêu cuộc sống; nhất là những trang viết về gia đình với tình cảm ấm áp, yêu thương mà nhà thơ Nguyễn Hưng Hải dành cho mẹ, cho vợ, cho các con…).
Phần thứ tư bao gồm một số bài viết về các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số  Việt Nam viết về đề tài miền núi: Như sáng tác của nhà thơ Dương Khâu Luông, nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà, tác giả Quách Đăng Thơ, nhà thơ Vũ Thanh Thủy… Đỗ Nguyên Thương nhận thấy đề tài văn học miền núi qua các trang thơ, trang văn thật sinh động, hấp dẫn. Hình ảnh “trăng dịu dàng trên đồng cỏ mượt” và “con đường yêu dấu tuổi thơ tôi”….trong thơ Dương Khâu Luông; các trò chơi của ngày hội xuân trong thơ Quách Đăng Thơ trở nên đẹp đẽ hơn qua lời bình của Đỗ Nguyên Thương và cũng qua “Đi tìm vẻ đẹp văn chương” Tập III, người đọc thêm yêu “Tiếng chiêng ngân”, tiếng thác kiêu hãnh trong thơ Nông Thị Ngọc Hòa…
Và đặc biệt, phần thứ năm, Đỗ Nguyên Thương có đi sâu nghiên cứu về thể thơ 1-2-3, thể thơ mới mang hơi thở cuộc sống đương đại do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng và thành công. Thơ 1-2-3 không gò bó niêm luật, câu chữ, khiến người viết phóng túng hơn khi thể hiện ý tưởng, gửi gắm thông điệp cuộc sống. Thể thơ này hiện đã được khá nhiều người yêu thích và say mê sáng tác. Trong số rất nhiều bài thơ 1-2-3, Đỗ Nguyên Thương chọn viết về “giáo chủ” Phan Hoàng – người sáng lập thể thơ 1-2-3 và viết về một nhà văn trẻ của Đất Tổ. Đó là các bài viết “Cảm nhận về thơ 1-2-3 của Phan Hoàng”, “Có một Phan Hoàng trong say đắm nước Nga” và “Về tập thơ 1-2-3 Lối sen sương của Vũ Thanh Thuỷ”… những trang viết của Đỗ Nguyên Thương giúp người đọc vừa cảm nhận nét đẹp, sự sáng tạo của Thơ 1-2-3 vừa hiểu và thêm yêu thể loại mới, giàu sức sáng tạo này.
Ở đề tài nào, Đỗ Nguyên Thương cũng luôn hướng người đọc tới giá trị chân – thiện – mỹ và có xu hướng tìm kiếm, phát hiện những giá trị đặc sắc, độc đáo tiềm ẩn trong mỗi tác phẩm văn học. Điều đó khiến cho các trang viết cùa Đỗ Nguyên Thương dù viết về phẩm văn học cũ hay mới vẫn luôn luôn không lặp lại người khác và không lặp lại chính mình. Với Đỗ Nguyên Thương, độc giả dễ dàng nhận thấy, chị là một người tâm huyết và trách nhiệm với nghề, với đời. Mỗi trang viết cho thấy chị luôn có ý thức tìm tòi, có lối viết giản dị nhưng lập luận chặt chẽ, văn phong lô gic, nhiều trang viết có sức cuốn hút đối với độc giả. Hy vọng, trên hành trình mải miết đi tìm vẻ đẹp con chữ trên cánh đồng văn chương, chị tiếp tục gặt hái thành công, tương xứng với vị thế Chi hội trưởng Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian mà chị đang đảm nhiệm.
10/7/2024
Nguyễn Hữu Nhàn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Từ chiến tranh về với hòa bình

Từ chiến tranh về với hòa bình

Lê Thành Nghị đăng ký hộ tịch vào làng thơ hiện đại cùng với nhiều nhà thơ đi vào chiến tranh từ văn khoa tổng hợp Hà Nội. Họ hào hoa phong nhã và thường rất thích triết lý. Thanh Thảo. Bế Kiến Quốc. Ý Nhi. Lê Thành Nghị. Nguyễn Duy. Hoàng Nhuận Cầm. Mai Quỳnh Nam. Đặng Huy Giang v.v… Các anh để lại một đường sáng khó quên trong thơ ca chống Mỹ cứu nước viết trước và sau chiến tranh…
Vào tháng tư năm 1972, Lê Thành Nghị, thành viên của tổ ba người lính thông tin đóng quân trong hang núi. Cách thị trấn Đồng Mỏ chừng 3 cây số. Ba người có nhiệm vụ duy trì một đoạn đường dây liên lạc quân sự chừng vài chục km từ Lạng Sơn về Hà Nội. Cuộc đời người lính trong hang cũng có lúc tranh thủ ra thị trấn Đồng Mỏ đọc sách tại một cửa hàng sách mậu dịch nơi miền núi xa xôi này. Thỉnh thoảng đến rồi quen. Nhờ vậy anh được cô gái trông coi cửa hàng cho mượn 3 quyển tiểu thuyết. Đỏ và Đen. Jenerơ. Đồi gió hú. Sách theo anh về hang đọc. Xịch một cái. Đơn vị 3 người nhận lệnh gấp rút chuyển quân. Lê Thành Nghị vội mang 3 quyển tiểu thuyết đến hiệu sách trả lại. Hiệu sách đóng cửa. Anh đành mang 3 cuốn ấy theo đường hành quân.
Mãi sau năm 1975, khi từ chiến tranh về với hòa bình, Lê Thành Nghị ngược đường lên Đồng Mỏ. Hiệu sách không còn. Người xưa cũng không tìm thấy nữa. Cái cơ duyên ấy theo anh đi khắp các nẻo đường đời cho đến hôm nay. Biết làm sao được. Để ghi nhớ chuyện này, nhà thơ Lê Thành Nghị đã chắp bút viết bài thơ Trong suốt sông Kỳ Cùng, với bao hoài niệm thật đẹp của người lính trẻ thông tin năm ấy bước vào chiến tranh, bước vào thơ để trở về với sông Kỳ Cùng trong suốt nguyên một dải chàm xanh, con sông duy nhất chảy ngược qua biên thùy lên phía bắc để hoa tím chẳng về xuôi. Chao ơi! Các thi sỹ của thời đại chúng ta có bao nhiêu kỷ niệm khi từ người trần ở cõi nhân gian bước tới thi đàn. Nhưng ít ai có được cái tình người tình thơ giản dị mà sâu nặng, cái vật làm tin chẳng bao giờ trả được như 3 cuốn sách trầm lặng chẳng nói nên lời kia.
Lê Thành Nghị đăng ký hộ tịch vào làng thơ hiện đại cùng với nhiều nhà thơ đi vào chiến tranh từ văn khoa tổng hợp Hà Nội. Họ hào hoa phong nhã và thường rất thích triết lý. Thanh Thảo. Bế Kiến Quốc. Ý Nhi. Lê Thành Nghị. Nguyễn Duy. Hoàng Nhuận Cầm. Mai Quỳnh Nam. Đặng Huy Giang v.v… Các anh để lại một đường sáng khó quên trong thơ ca chống Mỹ cứu nước viết trước và sau chiến tranh. Phần lớn trong số họ ngấp nghé vào cửa văn chương từ hồi là sinh viên ở thung lũng Đại Từ. Nơi khoa văn sơ tán hồi giữa những năm 60. Sau chiến tranh – năm 2007, Lê Thành Nghị đã về lại nơi này để viết nên những dòng thơ đầy cảm kích tưởng như anh trách ai mà tự trách mình, nếu ai đã quên thung lũng mùa rét cũ, khăn mùa đông giờ đã như mây. Núi Võ núi Văn với ngọn đèn dầu thao thức vì thơ những năm chiến tranh để rồi một ngày trở lại trong hoài niệm nhiều hơn là trong hiện thực.
Ta mải đi quên một chiều lau xám
Quên một mùa rét cũ giữa rừng xa.
Bảy tập thơ của Lê Thành Nghị đã lần lượt được xuất bản. Rừng Tràm cuối mùa đông. 1986. Mưa trong thành phố 1999. Mùa không gió. 2003. Sông trôi không lời. 2010. Khoảng giữa những giọt sương. 2016. Trong tĩnh tại và 100 sát na. 2018. Hoa vàng mấy độ. 2024. Thơ tuyển Lê Thành Nghị in cuối năm 2020 đánh dấu một chặng đường không mệt mỏi với thi ca từ 1973 đến 2019. 46 năm. 192 bài thơ được tuyển.
Các thi sỹ sinh ra và trưởng thành nửa sau thế kỷ 20 có một con đường chung mà lịch sử đã sắp đặt cho họ. Con đường gắn bó đời mình với thời cuộc. Họ nhúng thơ vào lửa qua mấy cuộc chiến tranh ác liệt để trở về với khát vọng hòa bình. Lê Thành Nghị cũng như thế và đó là cái bình diện căn cốt của anh. Chiến tranh ám ảnh đến thơ Lê Thành Nghị tưởng như chẳng bao giờ dứt được. Đó là trách nhiệm thầm lặng của trái tim thi sỹ. Thơ anh trải dài trên những con đường nửa thế kỷ bom đạn và hành quân với bao nỗi niềm trắc ẩn, yêu thương và suy tư.
Đó là Trung du những năm lửa đỏ, Lê Thành Nghị đưa ta về với sông Lô bom đạn ngày xưa 1947 giờ chỉ là tiếng hát.
Chiều chuyển quân qua đường số 2
Ngày mai đồng bằng vào mùa chiến dịch
Sông Lô giăng một câu hò tha thiết
Nhưng sâu đậm hơn cả là đường ra trận thời kháng chiến chóng Mỹ cứu nước mà Lê Thành Nghị trực tiếp bước trên những con đường ấy với cầu vai một anh lính binh nhì, cảm nhận được những nét riêng.
. Đường Trường Sơn trắng xóa ngàn lau
. Mùa đông cứ tắt dần trên lá đỏ
. Đêm tháng chạp lóe lên từng chớp lửa.
Và đây là Tây Nguyên tháng 3-1975, điểm hẹn lịch sử cho việc chấm dứt chiến tranh.
Đêm truyền lệnh những binh đoàn thần tốc
Đêm tháng 3 giữa Tây Nguyên náo động
Sau phút này rực rỡ mặt trời lên.
Người ở phía dòng sông là một trong những bài thơ hay viết về chiến tranh. Ở đây Lê Thành Nghị hình dung nghìn đêm chiến tranh nghìn đêm lửa cháy. Đó là con đường thử thách giữa sống và chết của hàng triệu người lính. Kỳ diệu thay họ đã trở về, cả theo nghĩa đen và nghĩa bóng của từ ấy. Tôi lặng thấm trước cảnh một chuyến đò đầy những người ra trận về với quê hương như một lẽ thường của đời sống; Bởi vì thơ anh mang nợ với đất nước này.
Tôi suốt đời mang nợ với đất đai
Sống ra đi đánh giặc giữ đất này
Chết nằm xuống cùng củ khoai hạt lúa
Như người đi chưa về những người không về nữa
Đang cùng tôi sang một chuyến đò đầy.
Sài Gòn giải phóng 30-4-1945, những tưởng chuyến đó đầy ấy chở các chiến binh về với hòa bình. Nhưng họ lại lặn lội Qua sông Hồng lên biên giới. Phía ấy dội lên súng nổ. Thơ Lê Thành Nghị lại lên biên thùy phía Bắc.
Vừa cắm cờ dinh tổng thống Sài Gòn
Lại vượt sông Hồng về nơi súng nổ
Những chàng trai đã hóa thân thành lửa
Đang ngược Hà Giang xứ Lạng Cao Bằng.
Các cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20 dù khốc liệt như thế, những con đường hành quân dài như thế, đi cuối đất cùng trời như thế mà ở đây vẫn nghiêng về những niềm vui ra trận.
Ta đi cuối đất cùng trời
Chiến trường xa những niềm vui nghiêng về.
Những niềm vui phải đổi bằng bao nhiêu máu xương liệt sỹ. Thơ Lê Thành Nghị như lắng lại trước Những đài liệt sỹ vô danh. Ở đó hương khói cuốn quanh cao hơn trời xanh là mãi mãi. ở đó có Những mặt trời bé con… gửi tin cho mẹ khi vừa thắng trận sớm nay về sau những một nghìn đêm nhớ mẹ và ý nghĩ được nung nấu trước giờ nổ súng.
Có thể trận đánh ngày mai vỡ ngực dập đầu, bị đất đá vùi bị thiêu trong lửa.
Những mặt trời bé con vẫn ngẩng cao đầu.
Thơ Lê Thành Nghị nhiều ý tưởng hoài niệm. Anh là một thi sỹ hoài niệm trong thơ. Những hồi ức về chiến tranh, về hòa bình, về quê hương và những người thân làm nên những bài thơ hay đằm thắm ý tình. Kỷ niệm đường 9. Chiến tranh. Mùa lá xanh. Dưới chân cầu. Bến đò Thuận Chân. Sông Nghè gặp lại. Thu về thảo nguyên. Cha tôi. Ngày xưa. Mưa qua truông vùn. Ở chùa Quang Tự v.v… Hãy nghe anh nói về Mùa lá xanh đau đáu những bóng hình của ngày tháng cũ.
Tôi cúi nhặt tháng ngày xa biền biệt
Góp hoang tàn làm lửa trước hoàng hôn
Cái sự siêu hình của thời gian khi Dưới chân cầu, năm tháng xếp sau lưng, đường dài bày trước mặt. Một sự trở về mang lời hẹn ước năm xưa ở Bến đò Thuận Chân, không biết người xưa đi đâu mãi mãi, chỉ thấy cánh buồm nhỏ xíu xa lắc xa lơ. Thăm thẳm mịt mù mưa.
Bờ vắng vẻ chỉ mình ta đứng đợi
Vai mang lời hẹn cũ sáng nay về.
Tại một ngôi chùa ở chốn thật xa xôi, Lê Thành Nghị chợt cảm thấy sự huyền diệu của giới tự nhiên. Của đức tin con người.
Thoáng một chút hương thơm
Đủ làm mềm cơn gió
Từ chiến tranh về với hòa bình, Lê Thành Nghị trở về nơi cố hương Hà Tĩnh, mảnh đất nhỏ đã sản sinh ra những thi tài của đất nước ở nhiều thời đại. Nguyễn Du. Nguyễn Huy Tự. Xuân Diệu. Huy Cận. Chính Hữu… Nhiều địa danh Hà Tĩnh đã bước vào thơ anh. Chợ huyện. Bến Giang Đình. Hương Sơn. Sông Lam. Sông Nghè. Hồng Lĩnh. Tiên Điền .v.v… Sâu đậm và đằm thắm hơn cả là các bài thơ về Tiên Điền và Hồng Lĩnh. Trăng Tiên Điền. Về lại Tiên Điền. Một nửa vầng trăng trong truyện Kiều của Nguyễn Du đã gần 300 năm còn có người lặn lội đi vớt nửa vầng trăng huyền thoại ấy mà chẳng bao giờ vớt được trên những dòng sông của thi ca. Cũng như cái siêu hình của tiếng kêu khan rơi xuống cát Tiên Điền khi chim bay về núi vì sự chia ly của vầng trăng, của người một xe trong cõi hồng trần.
Người đi mãi trăng theo đi một nửa
Ta lội tìm vớt nửa trăng lên.
Thơ Lê Thành Nghị qua nhiều miền quê đất nước theo cuộc đời xuôi ngược của anh. Đáng kể nhất là những bài thơ về Hồ Tây, Mùa thu, Hà Nội. Lê Thành Nghị có cách nói và chỗ đứng riêng của mình. Ký ức về mùa thu Hà Nội. Chùa Trấn Quốc. Mùa thu đến rồi đi. Hồ Tây v.v… Mùa thu trong anh là những cảm thức tinh tế về hoa trắng rơi lặng lẽ. Nỗi buồn thu trong như nắng lọc. Mỗi bước người đi miên man trên hoa sữa rụng. Luyênh loang mặt hồ xanh mùa thu. Bỗng chốc mùa thu hiện hình như một giấc mơ sau khi tà áo dài thiếu nữ Hà thành xuất hiện.
Tháng mười nhẹ như cầm trên tay được
Áo dài bay cây đứng ngẩn bên đường.
Ở chùa Trần Quốc khi người ta mơ hồ luân hồi tràng hạt trôi vô định, một cõi nhân gian kịp hóa vàng, chợt tỉnh giấc giữa một hoàng hôn không có tuổi của một kiếp người
Tiếng mõ chợt còn rồi chợt mất
Áo nâu làm nhẹ cả hoàng hôn
Tôi không nhớ có bao nhiêu miền quê xứ xở của đất nước Việt Nam đã vào thơ của anh. Cả Mạc Tư Khoa xa xôi nơi anh từng du học. Ở đâu cũng thấy một tấm lòng yêu thương và trắc ẩn của con người với lối phô diễn thật bình dị và điềm đạm.
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) có lần giải nghĩa hai chữ Trung Tân như sau:
Trung là đứng giữa không chênh lệch. Giữ vẹn được điều thiện là trung. Tân nghĩa là cái bến. Biết chỗ đáng đậu là bến chính. Không biết chỗ đáng đậu là bến mê.(1)
Lời giải thích này của bậc đại nho khiến tôi liên tưởng đến nhân cách  và thơ Lê Thành Nghị. Thơ anh giống như con người anh vậy. Điềm đạm, phong nhã và tri túc. Một sự chừng mực khi trang trải nỗi lòng. Đó là một điều không phải dễ đối với người làm thơ. Bởi thế cho nên cấu tứ các bài thơ anh thường chặt chẽ, ý tưởng rõ ràng, khi cần đằm thắm và đang lúc thăng hoa anh biết ngắt nhịp đúng lúc, làm nên cái điểm rơi của say, của vô thức.
Tôi biết danh xưng Lê Thành Nghị từ năm 1971, khi làm luận văn tốt nghiệp: Những tìm tòi nghệ thuật của thi ca Việt Nam hiện đại. Giáo sư Lê Đình Kỵ bảo tôi hãy tham khảo luận án Những thành tựu của thi ca Việt Nam hiện đại 1945 – 1965 do 3 người thực hiện. Mỗi người viết một phần riêng. Lê Thành Nghị – Bế Kiến Quốc – Nguyễn Văn Long – Ba chàng thi sỹ choáng men thơ. Luận văn của Lê Thành Nghị bàn về chất hiện thực và chất trí tuệ của thơ Việt Nam hiện đại đã đạt điểm xuất sắc. Bản luận án của anh được viết tay với lối chữ đứng thẳng, ngay ngắn và chuẩn mực. Anh bảo thời sinh viên mê thơ Lưu Quang Vũ. Vũ ám ảnh anh như một bạn thơ chân thành. Làm thơ cốt không phải tả cảnh mà ở chỗ tình người tình đời ẩn sâu trong đó. Lê Thành Nghị sinh ra trong một gia đình nho học có truyền thống ở Can Lộc với 5 đời làm nghề dạy chữ. Anh vào bộ đội tháng 1/1972 từ Viện văn học. Sau 1975, từ tạp chí Văn nghệ quân đội, Lê Thành Nghị khăn gói lên tàu liên vận sang Nga làm nghiên cứu sinh văn học tại trường đại học danh giá nhất Liên Xô thời đó – Đại học tổng hợp Lômônôsốp – Nơi có ngôi sao đỏ sáng lấp lánh giữa trời đêm Mạc Tư Khoa, đặt trên đỉnh tháp của lâu đài khoa học như là biểu tượng của trí tuệ và niềm tự hào Nga. Tại đây, Lê Thành Nghị bảo vệ thành công luận án tiến sỹ văn chương với đề tài điển hình hóa trong văn học. 1982 từ nước Nga trở về tiếp tục công việc văn chương trên cương vị là một người lính.
Đối với các nhà thơ dù có nói một ngàn lần cuộc đời là một giấc mơ cũng chưa đủ. Bởi vì họ thường không mong đợi điều gì ngoài thơ; cao hơn thơ. Anatole France (1844-1924), người đã miêu tả tuyệt vời vườn Luých xăm bua vào ngày đầu tháng 10 khi lá vàng rụng từng chiếc từng chiếc trên vai trắng ngần các pho tượng, có lần nói rằng: Đặc tính của vinh dự là không có ích lợi gì cả(2). Tôi nghĩ Lê Thành Nghị làm thơ dâng hiến cho đời đâu phải vì một lợi ích gì. Anh yêu thơ và làm thơ giống như trời thì xanh và mây thì trắng, như sông Lam và bến Giang Đình nước chảy chẳng bao giờ gầm thét và vơi cạn ở quê anh.
Lê Thành Nghị đứng chân trên nhiều lĩnh vực văn chương. Nhưng có lẽ thơ thể hiện rõ nhất tâm tình và bản lĩnh của anh.
Chú thích:
(1) Nguyễn Bỉnh Khiêm: Từ trong di sản, NXB Tác phẩm mới – 1981 trang 37-38
(2) Anatole France – Sách của bạn tôi, NXB Văn học – 2018 – Trang 98-132.
Hà Nội, 28/4/2025
Khuất Bình Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Thuyền" - Một tiểu thuyết trữ tình suy tưởng

"Thuyền" - Một tiểu thuyết
trữ tình suy tưởng

Tiểu thuyết “Thuyền” lấy bối cảnh là sự kiện hàng loạt người Việt di tản vượt biên theo đường biển vào những năm hai thập niên cuối thế kỷ XX mà người viết tiểu thuyết cũng là người trong cuộc.
1. Nguyễn Đức Tùng được biết đến lâu nay trong vai một nhà thơ, nhà phê bình, đôi khi có đá qua tản văn, truyện ngắn, biên dịch. Nay ông thử sức qua địa hạt tiểu thuyết. Hay nói khác đi, tiểu thuyết, một thể loại dung lượng lớn, với sức chứa những biểu đạt và suy tư lớn về thực tại và chủ thể đã chờ đợi ông, trao cho ông một hình thức nghệ thuật thích đáng.
Đi qua 55 chương đặt tên dài ngắn khác nhau, tôi nhận thấy, tác giả chủ yếu tập trung bộc lộ trữ tình, bộc lộ những suy tưởng về đời sống và về chính chủ thể. Không thấy nhiều những sự kiện biến cố, hoặc nếu có cũng được làm mờ đi, nới lỏng ra, được biến thành cái cớ để bộc lộ thái độ, cảm xúc, suy tư, cắt nghĩa, truy vấn, hoang mang… của chủ thể; nghĩa là không có các “bức tranh” liên tục và rộng dài về đời sống.
Tiểu thuyết “Thuyền” đã dựng lên một cái khung rộng: một con thuyền chở các thuyền nhân từ Việt Nam đi qua vịnh Thái Lan, gặp cướp biển hoành hành, cuối cùng được một tên cướp người Thái gốc Việt động lòng lai dắt con tàu vào khu vực mỏ dầu của người Âu Mỹ, từ đó những thuyền nhân còn sống sót được đưa vào trại tị nạn, cuối cùng nhân vật “tôi” sang Canada và trở thành bác sĩ. Trên nền bối cảnh đó là câu chuyện tình giữa nhân vật “tôi” và Liên Hương, cái chết của Liên Hương như một sự tự giải thoát và những ám ảnh của nhân vật “tôi” về Hương và những gì xoay quanh câu chuyện tình của hai người. Tất cả các biến cố đó được tác giả lướt qua rất nhanh, không chủ trương dừng lại miêu tả hoặc kể về. Một lối viết lược giản, tiết chế kể, tả (trần thuật). Thay vào đó, tác giả tiểu thuyết dìm nhân vật vào những suy tư, những ám ảnh, những ảo ảnh, hoang tưởng, cơn mơ, cật vấn, hồ nghi… Đặc biệt, nhân vật “tôi”, chủ thể được kiến tạo không theo lối “tạo hình” mà theo lối trình hiện (show) nội tâm. Triền miên nội tâm với muôn vàn cung bậc, trạng thái, sắc thái. Tất cả được diễn tả với cường độ mạnh, sát ván, căng thẳng, có lúc ngạt thở.
Thế giới bên ngoài nhân vật “tôi” thấp thoáng hiện ra theo cách bị giảm thiểu, tạo cớ. Không biên niên. Không bức tranh. Thay vào đó là chủ thể “tôi” trước thế giới và trước bản thể, là thế giới nội tâm của chủ thể trữ tình và suy tưởng. Tôi gọi tiểu thuyết này thuộc loại tiểu thuyết trữ tình-suy tưởng.
2. Tiểu thuyết “Thuyền” lấy bối cảnh là sự kiện hàng loạt người Việt di tản vượt biên theo đường biển vào những năm hai thập niên cuối thế kỷ XX mà người viết tiểu thuyết cũng là người trong cuộc.
Có hai điểm đáng lưu ý về tâm thế sáng tạo.
Thứ nhất, đây là một tiểu thuyết mang tính tự truyện, tuy không phải là đặc điểm chính. Tại sao lại có thể nói được như thế? Không hẳn vì nhân vật chính của tiểu thuyết xưng “tôi” trong vai người kể chuyện từ đầu đến cuối. Đọc vào tiểu thuyết, có khá nhiều chi tiết thuộc nhân vật, bối cảnh khiến người đọc không thể không quy chiếu vào tác giả tiểu sử. Hoặc nhìn từ phía con người tiểu sử Nguyễn Đức Tùng, cũng có khá nhiều điểm hoặc tương đồng, hoặc gần kề với một số chi tiết có mặt trong tác phẩm. Có thể kể ra đây một số dấu hiệu: nhân vật “tôi” quê gốc Quảng Trị, là thuyền nhân trong cuộc di tản trên biển, thuộc nhân vật tị nạn, sau sang Canada theo học ngành y rồi trở thành bác sĩ (nhiều kiến thức y khoa được huy động vào việc miêu tả nhân vật), một người viết văn, coi văn chương như là cách lưu giữ ký ức cộng đồng và tham dự đời sống… Vẫn biết, không nên đồng nhất giữa nhân vật và tác giả tiểu sử, nhưng khi đọc tiểu thuyết này, khá nhiều chi tiết cho phép quy chiếu vào tiểu sử tác giả, tương đồng với tiểu sử tác giả. Vì thế, có thể khẳng định tính tự truyện là một trong những đặc điểm của tiểu thuyết này.
Tính tự truyện nếu được xử lý tốt, hợp lý, tiết chế, vừa đủ để gợi dẫn đưa lại cho người đọc một niềm tin, một sự “tin cậy” đối với nội dung tiểu thuyết, tạo nên những hiệu ứng cảm xúc nghệ thuật ở người đọc.
Thứ hai, câu chuyện được kể của tiểu thuyết là một minh chứng sống động cho dòng văn học chấn thương. Viết về chấn thương có khi là cách phục sinh nỗi đau trong quá khứ. Có khi là cách hòa giải với những nếm trải để chữa lành vết nội thương. Cũng có khi để phân tích và cắt nghĩa lại quá khứ như một nhu cầu lý giải bản chất người… Tôi nghĩ, tiểu thuyết “Thuyền” của Nguyễn Đức Tùng cơ bản triển khai theo cách thứ ba: đi tìm câu trả lời cho cái ác, khát vọng tự do, tình yêu, sự hèn nhát, sự sống, cái chết… trong kiếp nhân sinh. Viết về chấn thương, dù muốn hay không vẫn cứ phải sống lại một lần nữa nỗi đau, thậm chí là căn bệnh rối loạn lo âu sau sang chấn (PTSD). Những ám ảnh khủng khiếp vẫn trở lại, can thiệp vào trạng thái sinh tồn của nhân vật “tôi”. Một trong rất nhiều ví dụ: “Nhiều năm sau, mùa hè, khi tôi về nhà sau một đêm trực ở phòng cấp cứu bênh viện, tắt hết đèn trong garage, mở cửa, tôi nghe thấy một mùi kỳ lạ thoảng tới, tựa như mùi của lông thú, hôi, tanh tưởi, buồn nôn, nhưng nó chỉ thoáng cái qua thật nhạnh, rồi một mùi hương thoang thoảng bay tới, át nó đi. Tôi đứng lại trong đêm tối, đứng sững ở đó, cố tình đứng thật lâu, im lặng, và tôi nhận ra cái mùi ấy, từ một đám cỏ dại, những bông tử đinh hương cuối mùa, mùi từ một sàn thuyền trên mặt biển đen, và tôi nhớ lại từng chi tiết, khuôn mặt của những tên cướp, những người phụ nữ trần truồng, áo quần của họ vất vung vãi trên sàn thuyền, đống lửa củi chập chờn, cái nắm tay chặt của Liên Hương, lạnh, khô, đau xót bồn chồn, như một nhành thông tươi trên đầu tôi vừa mới bị gió đánh gãy ngang, kêu răng rắc” (chương “Lửa trên thuyền”). Trong tác phẩm, đầy rẫy những ám ảnh có tính chấn thương tương tự như thế, khủng khiếp hơn thế.
3. Như đã nói, chất liệu tiểu thuyết chủ yếu là trữ tình suy tưởng. Vì thế, nó kéo theo hai cách xử lý, một thuộc về tình tiết/tình huống, một thuộc về người kể chuyện xưng “tôi”.
Có thể nói rằng,  nếu người viết duy trì trạng thái trữ tình và suy tưởng triền miên, vô hồi kỳ trận cũng sẽ rất dễ làm người đọc mệt trí. Trên thực tế ở tiểu thuyết “Thuyền” cũng có một số trường đoạn rơi vào tình trạng này. Tuy nhiên, tác giả dường như có ý thức về nó, nên thỉnh thoảng lại cài cắm một số tình tiết đặc biệt ấn tượng và đắt giá, gây hấp dẫn người đọc. Trường đoạn miêu tả nhân vật “tôi” và một người đàn ông thuyền nhân khác vùng lên chống lại bọn cướp, liền đó Liên Hương chọn cách lao xuống biển tự vẫn để bảo toàn phẩm giá… có tính căng thẳng tột độ (chương “Con mắt”). Tình tiết nhân vật người phụ nữ Sài Gòn tự nguyện cho đứa bé sắp chết đói chết khát vì khóc uống sữa gây xúc động, chan chứa cảm xúc mẫu tính (chương “Sữa”). Chương “Thủy táng” miêu tả một nghi lễ thiêng liêng và tràn đầy nhân tính khi những nữ thuyền nhân chuyền tay nhau cái thi thể bé bỏng của đứa bé chết vì kiệt sức, và đặc biệt hình ảnh con bé chừng 6-7 tuổi rút đôi dép ở chân để nhường cho đứa bé xấu số kia đi vào lòng biển… Tôi muốn kể thêm một tình tiết nữa, về nhân vật người đàn ông lái tàu kiêm nghề cướp biển, có gốc gác người Việt Nam đã động lòng trắc ẩn, bí mật quay trở lại mang theo dưa hấu, nước cho thuyền nhân và lai dắt con tàu cho giàn khoan, nơi những người Âu Mỹ đang khai thác nhờ tị nạn để thoát khỏi cửa tử do đói, khát, bệnh tật và kiệt quệ… Tác giả tiểu thuyết rất giỏi trong việc tìm kiếm chi tiết, bầy đặt tình huống, sử dụng chúng theo cách tiết kiệm, đích đáng, gây shock và tìm cách giải tỏa. Nhưng điều đáng nói ở đây là tác giả luôn biết cách tháo gỡ tình tiết/tình huống theo cách không ngờ nhất, chan chứa lòng thương người, mang tính nhân bản phổ quát.
Trong trường hợp thứ hai, do chủ trương nhân vật người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, cho nên nhân vật này vừa tự kể về mình lại vừa kể về những gì ngoài mình trong tầm quan sát được. Tác giả Nguyễn Đức Tùng đã lựa chọn kiểu nhân vật “bất tự tín” về chính mình, về chính những cái kể của mình. Đây là cách vừa phản ảnh đúng ưu thế và giới hạn trường nhìn của nhân vật kể chuyện ngôi “tôi”, nhưng cũng là cách tự thú về những giới hạn bất khả. Nếu nhân vật thuộc kiểu người “tự tín”, anh ta sẽ tin vào những điều mà anh ta sẽ kể như những xác quyết. Nhưng không, người kể chuyện này công khai bộc lộ tính “bất tự tín”, không đoan quyết, không hoàn toàn tin, không dám tin vào chính những cảm xúc và suy tư của mình về chính mình và nhân thế. Chẳng thế mà trong lời trần thuật, khi biểu đạt những cảm xúc và suy tư của nhân vật, hoặc khi cho các nhân vật thoại với nhau, hoặc nửa đối thoại nửa độc thoại, xuất hiện trùng trùng các câu hỏi,  kết thúc câu bằng dấu hỏi (?), có câu được trả lời, có câu treo đấy, bỏ ngỏ để rồi tiếp tục lại dắt sang nhưng câu hỏi khác; ngay cả những câu trả lời cũng không hẳn mang tính xác quyết, mà vẫn đang trong mạch suy tư chảy trôi liên tục, hoang mang. Không mang tính xác quyết, bất tự tín cũng lại kéo theo khả năng mơ hồ hóa nghệ thuật –một thủ pháp hướng tới sự gợi dẫn cần thiết. Lời văn của tiểu thuyết Nguyễn Đức Tùng trong nhiều trường đoạn như thể rượt đuổi ý thức, thả trôi theo dòng ý thức. Câu chữ trong nhiều trang viết tràn bờ, tuôn chảy, trùng điệp, xóa trắng dấu chấm câu (.), chỉ duy trì dấu phẩy, liên tục, lúc rỉ rả, khi vần vụ, ràng rịt các chiều cạnh ý tưởng, tâm trạng, cảm xúc. Đỉnh điểm cho lối viết này thể hiện trong chương “Người kể chuyện”, như một sắp đặt “tiểu thuyết trong tiểu thuyết”, kết cấu trùng phức. Những suy tư mang tính tiểu luận, chen lẫn những trường đoạn trữ tình có tính thơ làm nên một lối văn rất riêng của Nguyễn Đức Tùng. Ở đây, con người lao động nghệ sĩ nhà thơ và nhà phê bình đồng hiện.
4. Tiểu thuyết “Thuyền” nằm trong khu vực văn học di dân cuối thế kỷ XX đến nay. Nó là sản phẩm mang tính thời đại. Những tác giả của nó hoặc là nạn nhân trực tiếp của các cuộc di dân, hoặc nạn nhân gián tiếp như những hệ lụy thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba. Các tác giả như Linda Lê, Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vương rời Tổ quốc từ khi còn nhỏ. Các dấu vết chấn thương trong đó có câu chuyện thuyền nhân được nhắc đến như những liên hệ nằm trong một tổng thể đời sống gắn liền với các số phận cụ thể được miêu tả đây đó trong The Refugees (Người tị nạn, 2017), The Sympathizer (2015) hoặc Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian (2019)… Đến tiểu thuyết “Thuyền”, vấn đề thuyền nhân và cuộc di tản theo đường biển với tất cả tính chất khốc liệt và bi thảm của nó sau 1975 trở thành một đối tượng quan tâm và miêu tả trực tiếp, nhất quán, bao trùm. Từ sự kiện này, tác giả tiến hành bộc lộ cảm xúc, suy tư về đời sống và nhân sinh với nhiều tầng bậc, khía cạnh vừa cụ thể vừa có tính siêu hình.
Xét về mặt lịch sử, tiểu thuyết này là một nỗ lực ghi dấu ký ức, chống lại sự lãng quên, sự mau quên của giống người. Với lĩnh vực văn học, tiểu thuyết “Thuyền” là một tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử di dân đường biển của người Việt sau 1975. Nhà văn Nguyễn Đức Tùng đã chọn một lối viết tự sự trữ tình suy tưởng. Nhờ vậy, tiểu thuyết trở nên khác biệt(*).
Viết về một tao đoạn lịch sử, lại là một lịch sử ngoại biên, rất dễ rơi vào tình trạng quy kết, phán xét, thậm chí quy giản vào lập trường ý thức hệ, theo định kiến đúng- sai… Nguyễn Đức Tùng chọn một tư thế phát ngôn khác, đó là lập trường nhân bản, theo đuổi những giá trị nhân bản phổ quát. Nhờ thế, các suy tưởng được đặt ra ở tác phẩm, trong nhiều trường hợp chạm được vào các vấn đề siêu hình học nhân sinh. Lựa chọn một tư thế phát ngôn như vậy, các phân tích đời sống trong tiểu thuyết không có bóng dáng của thù hận, oán trách, quy kết. Tiểu thuyết “Thuyền” đã để lại dư âm sâu xa và khắc khoải về lòng thương xót con người, về khát vọng tự do, khát vọng sống của con người.
Chú thích:
(*) Trong một trao đổi giữa tôi, người viết bài này với nhà NCVH Nguyễn Hồng Anh, tác giả công trình “Tác phẩm của Viet Thanh Nguyen về chiến tranh Việt Nam dưới góc nhìn căn tính” (Nxb ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, 2025) về tiểu thuyết “Thuyền”, chị cho biết: “ Đây là quyển đầu tiên ở Việt Nam xuất bản bản gốc tại Việt Nam về đề tài này, với chủ đề trung tâm là cuộc di cư của “thuyền nhân”. Trước đây chỉ có văn học dịch từ các nhà văn Hải ngoại (nghĩa là không phải xuất bản gốc trong nước); và khi đề cập đến thuyền nhân thì cũng nằm trong một chi tiết trong truyện (bên cạnh nhiều chi tiết khác), chứ không tập trung như cuốn này”.
14/6/2025
Văn Giá
Theo https://vanhocsaigon.com/

Những phận đàn bà mang tên Thị trong thơ

Những phận đàn bà
mang tên Thị trong thơ

Tên tập thơ nghe rất hiền lành “Thị à, thị ơi”. Không hiểu sao mới nhìn bìa, tôi lại nghĩ chắc nhà thơ viết cho thiếu nhi, lấy sự tích câu chuyện Tấm Cám với chi tiết bà cụ gọi quả thị có cô Tấm rụng vào bị của mình “Thị ơi thị, rụng vào bị bà, bà đem bà ngửi chứ bà không ăn”. Sở dĩ nghĩ thế vì tôi biết nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu có tập thơ “Truyện cổ nước Việt”, đem những truyện cổ tích viết thành thơ. Nhưng hóa ra hoàn toàn không phải thế.
Toàn bộ tập thơ viết theo kiểu thơ 1-2-3 này là bộ sưu tập thân phận đàn bà, đủ các lại của thời nay chứ không phải ngày xửa ngày  xưa. Tôi đã đọc và viết bài gới thiệu tập truyện ngắn “Phận đàn bà” của nhà văn Y Mùi. Tập truyện ngắn  ấy gồm 15 truyện,  Hầu hết các nhân vật trong truyện dù có tên hay không tên đều là phụ nữ, dù đó là người già hay trẻ, thành đạt, hay bình thường, nhưng có thể nói họ đều chung một số phận bất hạnh. Có hơn một chục thân phận đáng thương.  Thế nhưng, trong tập thơ của nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu thì những người phụ nữ chung tên gọi là “Thị” ấy đông đảo hơn nhiều, đa dạng hơn nhiều.
Đây là chân dung một người đa cảm, đa tình, yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên. Thế nhưng đời chẳng như mơ. Cuộc tình đấy có ai ngờ đắng đót. Người đàn bà say đắm ấy “ngậm bồ hòn làm ngọt” :
Choáng váng điện giật/Mù quáng thôi miên
Đời không như là mơ, mắt thấy tai nghe thị vẫn không tin
Bão giông ngập lối/ Ngậm bồ hòn làm ngọt
(Họ hớp hồn nhau từ cái nhìn đầu tiên)
Một người đàn bà khác bị “ngứa đau nhức buốt” vì lấy phải gã chồng chẳng ra gì! Căn bệnh nàng mắc là bởi vì…:
Chả lẽ ở bẩn đến mức để vi khuẩn len lỏi
Khử trùng bằng nước sôi/ Bác sĩ phân tích nguyên nhân
Hiểu ra , hỡi ôi/ Hắn…
(Không hiểu nguyên nhân bệnh ngứa đau nhức buốt)
Không thể ngờ thời đại nam nữ bình đẳng, bình quyền mà có người phụ nữ bị bạo hành tinh thần đã mất hết niềm tin với gã chồng:
Nỗi ớn lạnh ngấm sâu vào tiềm thức/ Thị sợ hắn như người yếu bóng vía sợ ma
Trở mặt nhanh hơn trở bàn tay/ Khẩu Phật tâm xà
Niềm tin ngây thơ mù quáng đã vào dĩ vãng
(Dựng tóc gáy)
Cái gã chồng ấy, bạn đọc lại gặp ở một phụ nữ khác. Đó là “Kẻ hai mặt”,  mà “ai cũng khen đạo đức”. Có biết đâu!
Một người đàn bà khác thì cay đắng vì chồng là gã “ ma men” mất nhân tính. Bên cạnh chị là người phụ nữ có chồng là gã trăng hoa. Đã “dấm mẻ” vụng trộm, còn cả vú lấp miệng em. Chị theo đến cùng , thành ra Tan đàn xẻ nghé:
Thị biết hắn dấm mẻ/ Về nhà cả vú lấp miệng em
Thị theo tới bến phải làm cho ra nhẽ
Tan đàn xẻ nghé/ Nghĩ thương con thì đã muộn
(Vạch mặt chỉ tên)
Đấy là người đàn bà mạnh mẽ. Còn biết bao người đàn bà đành “Cắn răng chịu đựng”, “bất lực/ Ngậm ngùi xót cay” (Nhà dột từ nóc). Đành nhận phần thiệt thòi vì gã chồng nghiện “ khám phá miền đất mới”:
Mùi ngai ngái , nồng nồng/ Hít hà thích thú
Hắn mê khám phá miền đất mới/ Thị đành ôm áo ngủ
Mặn khô
(Như nghiện thuốc phiện)
Dân gian hay đùa “ăn chay ngủ mặn”. Người đàn bà này “ ngủ mặn” nhưng là  “Ngủ Mặn khô”. Thật đáng thương!
Lại còn khổ hơn nữa là người đàn bà có “chồng  quan”:
Hắn đổi thị để lấy  chức quyền / Mặc thị ê chề nhục nhã
Thị thành quan bà/ Hắn phải cung phụng
Hỡi ơi!…
(Tham thì thâm)
Khổ về tinh thần nhưng thể xác thì được cung phụng.Một kiểu khổ khác là không được  gì cả, dù có tiếng là vợ quan :
Hắn làm quan to bao nhiêu người săn đón
 Bổng lộc chạy chơi đâu/ Thị thui thủi như ô sin xó bếp
Chẳng được nở mày/ Tủi phận
(Không có số hưởng)
Trong quan hệ gia đình, tuy cùng là phụ nữ với nhau nhưng,…gay cấn phức tạp bao giờ cũng là  mẹ chồng, nàng dâu. Có mấy người đã có quan hệ tốt đẹp như trong bài thơ “Mẹ của anh” của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Mẹ chồng nàng dâu khó mà cơm lành canh ngọt.
Hai bài Mẹ chồng nàng dâu và Nàng dâu thời a còng @ đã nói về mối quan hệ này:
Bà cho thị cả gia sản cóp nhặt một đời
Thương thị như con gái/ Câu mẹ chồng nàng dâu hằn trong đầu
Thị không mở lòng/ Bà không tồn tại
(Mẹ chồng nàng dâu).
Còn nàng dâu khác thì lười, đùn việc cho mẹ chồng, mặc kệ “bà ấy”
Hết giờ làm thị cứ ở lại/ Rủ mọi người buôn dưa lê
Để cho bà ấy làm hết việc/ Tắc đường/ Tội gì
Nàng dâu hiện đại bây giờ “Từ ngày làm dâu không một lần lau nhà rửa bát” (Có biết mình là nô lệ).
Cô dâu khác nữa thì khổ với mẹ chồng vì quan niệm cổ hủ về “nối dõi tông đường”. Không chịu đựng nổi, cô chấm dứt cuộc hôn nhân:
Cái nguýt của mẹ chồng băm nát trái tim/ Thị để lại tờ đơn lặng lẽ ra đi
Chấm dứt chuỗi ngày cố gắng vô vọng/ Chân trời có hừng đông?
(Áp lực nỗi dõi quất vào đời thị)
Không chỉ cổ hủ, còn có người mẹ chồng cay nghiệt, đang tâm đuổi con dâu,  rủa xả cô làm cho mẹ cô gái đau buồn, quặn thắt:
Con bị mẹ chồng đuổi/ Rủa cả mẹ con thị
Thị hiểu con tử tế/ Gặp mẹ chồng cay nghiệt/ Quặn thắt
(Thương con quá!)
Có người mẹ theo tinh thần xưa “Cá chuối đắm đuối vì con”, dành hết tuổi xuân, gia sản  tích cóp cho con, nhưng lại nhận lại sự hững hờ, tệ bạc:
Thị dành cho con cả thanh xuân, gia sản
Một đời khổ tứ lao tâm/ Con mải vui vầy với hạnh phúc riêng
Lễ tết chẳng được một lời động viên/ Tủi thân quá!
( Buồn nẫu ruột)
Có người mẹ thương con quên cả bản thân mình,  héo khô âm thầm lặng lẽ:
Có mụn con nối dõi/ Dốc sức cho ăn học bằng người
Bán gia sản ở quê cho mua nhà phố/Thị héo khô trong bốn bức tường
Con nào có hay/  (Cá chuối đắm đuối vì con)
Nhưng lại cũng có người mẹ nhẫn tâm vứt bỏ con dứt ruột đẻ ra. Thật là độc ác và tàn nhẫn , còn thua loài cầm thú:
Thị quấn nịt bụng thật chặt
Mặc áo rộng thùng thình/ Thị vát đứa con đỏ hỏn
Kiến đốt đau, tím tái, khóc ngằn ngặt/ Dã thú
(Hổ dữ chẳng ăn thịt con)
Trong bức tranh những phận người phụ nữ, có loại quan bà rất kệch cỡm, kiêu sa. Quan bà đi lên bằng “vốn tự có” dù chẳng có tài cán gì, hay có chỉ là “tài mọn”;
Thị khao khát, si mê/ Sức  hút quái đản không cưỡng nổi
Tài mọn, tiền vặt/ Thị gặt hái ước mơ bằng vốn tự có./ Độc
(Danh vọng và quyền lực)
Các bài thơ “Thích đẳng cấp”, “Thích chê”, nhà thơ đã đả kích, chế giễu loại quan bà “leo nhanh nhờ sắc”,   “Trịch thượng/ Loài chuột chù đâu biết mình hôi”. Và đây, cái “hơn người” của loại “quan bà” đó, chỉ dẻo mỏ hót bề trên  và ra oai nạt nộ dưới, thích nịnh:
Bằng mọi giá thị phải lên sếp/ Hót  trên nộ dưới
Ai tâng thị khen/ Ai hơn thị diệt/ Mãn nguyện
(Hơn người)
Loại quan bà này là người “Say ganh ghét” là người “Hay kể công “, một tính xấu, nhỏ nhen.
Không phải mọi chân dung số phận đàn bà đều bi kịch, bi thương. Vẫn có những người tốt,  vẫn có người kiên cường, vẫn có những người vượt lên chính mình.
Thị ục ịch như thùng phi di động/ Xấu đã đành, ì ạch bệnh càng tăng
Bao lần cố gắng đều thất bại/ Tạo động lực để quyết tâm và chiến thắng
Eo thon xinh áo dài bay trong gió dịu dàng thướt tha
(Vượt lên chính mình)
Vẫn có chuyện “Cả nghĩ”, “Cả tin”, nhưng rồi vững vàng tìm niềm vui trong hòa hợp với thiên nhiên:
Ngao du ngắm cảnh, mắt no đầy/ Thư thái, thanh thản, thăng hoa
Chắt hồn gửi con chữ ngân nga
(Chân ái)
Tìm niềm vui, sự an nhiên trong thể thao “Say cầu lông”, trong tập luyện Yoga “Nghiện Yoga”, coi đó như “Thần dược chẳng tốn phí”.  Người đàn bà ấy nhận ra rằng:
Càng yếu đuối càng dễ bị bắt nạt
Sống mạnh mẽ tự tin, vượt lên để chiến thắng
(Sơn ăn từng mặt, ma bắt từng người)
Người đàn bà có lúc bi quan, định đi tu, định li hôn, bề tắc. Rồi bình tĩnh lại, chị  quyết tâm sống. “Phải sống tốt”. Phải vượt lên chính mình!
Người đàn bà đã tìm thấy bình an, hạnh phúc khi giác ngộ “Cứu cánh  là tình yêu” *:
Yêu trời biển, trăng hoa, khám phá những miền xa
Yêu gia đình bạn bè, đồng loại/ Yêu sâu sắc cuồng nhiệt nàng thơ
Như khí trời như cơm ăn nước uống/ Quyện nàng thanh xuân ùa về
Nguyễn Du từng kêu lên : “Đau đớn thay phận đàn bà!”. Ở đây có rất nhiều đàn bà với những thân phận khác nhau: quan trên, dân thường, già , trẻ, thị dân, nông dân, chủ nhà, osin, vợ  thật, vợ hờ… Với đủ các cung bậc tình cảm ái, ố, hỉ, nộ,… Có thương xót, có hờn giận, có khinh bỉ, có  xấu hổ, có tự hào, có ngợi ca… Đó là thành công của nhà thơ phụ nữ Phạm Thị Hồng Thu!
Thể thơ 1-2-3 là thể thơ do nhà thơ Phan Hoàng mới đề xướng chưa lâu. Có được một tập thơ dày dặn 123 bài  “Thị à, thị ơi” như Phạm Thị Hồng Thu cho thấy sức viết của nhà thơ dồi dào. Chính người đề xướng thể thơ này đã đánh giá khá cao “ khép lại tứ thơ có sức âm vang. Đây cũng là nguyên tắc “hô – ứng” quan trọng trong luật thơ 1-2-3 mà nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu áp dụng nhuần nhuyễn trong nhiều bài thơ” ( Lời tựa, tr. 14). Đặc sắc nhất của tập thơ này chính là những bức chân dung đa dạng, đa diện, đa màu sắc về “phận đàn bà”. Một bộ sưu tập  như thế thật đáng quý, nhất là  những “chân dung” đó chỉ viết bằng sáu câu thơ ngắn kể cả câu nhan đề.
Thật sự khâm phục và chúc mừng nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu!.
Hà Nội, 2/4/2025
Vũ Nho
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...