Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

Rumi: Khi thơ ca tuôn chảy, thế gian ngưng đổ máu

Rumi: Khi thơ ca tuôn chảy,
thế gian ngưng đổ máu

Chúng ta thường biết về thế giới Hồi giáo với những cuộc chiến tranh đẫm máu và những chiếc mạng che mặt phụ nữ, nhưng chúng ta ít biết đến một thế giới tư tưởng sâu sắc, phóng khoáng và nhân văn của một thời đại vàng đã bị chìm lấp trong bụi thời gian.
Hãy tưởng tượng về những bậc thầy huyền môn Sufi xoay vòng giữa sa mạc, bên đống lửa to bập bùng dưới đêm trăng trong vắt, và ca lên những vần thơ chiêm nghiệm. Với mỗi một bậc thầy Sufi, khoảnh khắc thăng hoa của tinh thần là khoảnh khắc đạt được sự tĩnh lặng tuyệt đối, trở thành một với toàn thể, đó là lúc thơ ca được ngưng đọng và cất lên – đó là sự vượt thoát ra khỏi khuôn khổ của kinh điển truyền thống Hồi giáo, để đạt tới tinh túy của nhân loại.
Khi thơ của Rumi (1207-1273), bậc thầy Sufi nổi tiếng nhất của thế giới Hồi giáo được giới thiệu ở thế giới phương Tây, các học giả phương Tây đã thốt lên:
“Cuộc đời và cuộc chuyển hóa của Rumi là bằng chứng xác quyết cho thấy rằng mọi người ở mọi tôn giáo và cội nguồn khác nhau đều có thể chung sống trong hòa bình và hòa hợp. Tầm nhìn, ngôn từ, cuộc đời của Rumi đã dạy chúng ta cách đạt tới hòa bình và hạnh phúc nội tại, để rồi chúng ta có thể ngăn chặn dòng chảy xung đột và hận thù, đi tới hòa bình và hợp tác toàn cầu thực sự”.
(Giáo sư Majid M. Naini)
Nơi không có những xung đột đẫm máu của tôn giáo
Quả thật, trong thơ của Rumi, chúng ta không hề tìm thấy sự kì thị khác biệt căn tính. Ông đi vào luận giải những minh triết của người Do Thái, người Hy Lạp cổ đại, các bậc ngôn sứ như Moses, Jesus, Muhhamad…  Rumi đã vượt trên cả sự khác biệt, nhận thức được điểm giao nhau sâu thẳm đằng sau mọi kinh điển, lễ nghi của các tôn giáo:
Nếu bạn chối bỏ một phần của ánh sáng này, bạn giống như con dơi nói “Tôi phản đối mặt trời năm nay, nhưng tôi chấp nhận mặt trời năm ngoái”. Thật vậy, mặt trời năm nay hay năm ngoái thì có khác gì nhau. Nếu bạn nghĩ là bạn cảm thấy sự khác biệt nào thì đó là do bạn chưa thật sự trải nghiệm mặt trời năm ngoái”.
(Trích “Ánh sáng chỉ có một nhưng cửa sổ thì nhiều”, nằm trong tập thơ “Lời dạy của Rumi” do Nguyễn Kim Liên – Trần Thị Ánh Ngọc dịch).
Trong thơ Rumi, cuộc chiến đẫm máu của các tôn giáo ở mảnh đất Trung Đông không tồn tại, mà chỉ có sự hợp nhất trong ánh sáng. Thứ ánh sáng ấy hẳn đã khiến thơ Rumi chinh phục trái tim của người phương Tây hiện đại. Tại Hoa Kỳ, Rumi nằm trong số những nhà thơ được ưa chuộng nhất, những bản ghi âm đọc thơ ông lọt vào danh sách Top 20 Billboard. Các nhà làm phim Hollywood đến nay vẫn ấp ủ thực hiện một bộ phim tiểu sử về Rumi với kinh phí lớn, và tham vọng mời nam diễn viên Leonardo di Caprio thủ vai Rumi (tuy nhiên, dự định này đã bị cản trở bởi chính những xung đột về sắc tộc và tôn giáo). 
Thơ ông được dịch ra nhiều thứ tiếng như Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Nga… và mới đây tại Việt Nam cũng xuất hiện hai bản dịch: “Lời dạy của Rumi” (Nguyễn Kim Liên – Trần Thị Ánh Ngọc dịch) và “Rumi tinh tuyệt” (Lê Duy Nam – Lê Ái dịch). Một điều thú vị đáng ngạc nhiên, đó là dù không xuất hiện nhiều trên các kênh truyền thông về sách, thơ Rumi vẫn được săn tìm bởi những độc giả Việt yêu thơ và đang trong quá trình chuyển hóa tâm thức.
Nếu định danh Rumi là một “nhà thơ”, e rằng có điều thiếu sót. Ông là một nhà huyền môn, một bậc thầy chúng ngộ, và thơ ca là biểu hiện của khoảnh khắc thăng hoa:
Bài thơ này, tôi chưa từng biết trước
Tôi chưa từng lên kế hoạch đời mình
Khi ngôn từ rung động
Tôi lặng im trong vô ngôn
Ta sở hữu cả thùng rượu to nhưng không có chiếc ly nào
Có hề gì. Mỗi ban mai bừng tỉnh
Ta đều hài lòng tới tận hoàng hôn“.
(Trích “Lời tôi ai đã nói” trong tập “Rumi tinh tuyệt” do Lê Duy Nam và Lê Ái dịch).
Rumi không viết thơ, thơ ca cất lên khi vũ trụ tuôn chảy qua ông, khi ông say cơn say toàn thể. “Say” là trạng thái bắt gặp thường xuyên trong thơ của Rumi. Nhưng cơn say của ông không giống cái say ngất quên hết thảy mọi thế sự, không phải cái say buồn chán sầu đời, mà đó là sự bùng nổ của trí tuệ. Trong cơn say ấy, thế gian trở nên đẹp đẽ, diệu kỳ, dù chỉ là trong khoảnh khắc nấu một nồi đậu gà hay là nướng một miếng thịt.
Năm ngoái, tôi khâm phục rượu. Năm nay,
tôi lang thang trong thế giới thẫm đỏ.
Năm ngoái, tôi nhìn chằm chằm vào lửa.
Năm nay tôi là một kabob cháy đen.
Cơn khát đẩy tôi lao xuống nước
và tôi uống ánh trăng
Tôi – con sư tử ngước nhìn lên
say trăng rồi.
Đừng hỏi về mong muốn.
Hãy nhìn vào chính tôi“.
(Trích “Kabob cháy đen” trong tập “Rumi tinh tuyệt” do Lê Duy Nam & Lê Ái dịch).
Giây phút yêu đương dục tình cũng là khoảnh khắc Rumi tìm thấy sự tồn tại vĩnh hằng của Thượng Đế. Khi hai người say đắm trong tình yêu, khoảnh khắc lạc thú ấy đã đưa họ đến trạng thái của chứng ngộ, và tình yêu ấy cũng cao quý giống như tình yêu với toàn thể. Với Rumi, trạng thái này còn quan trọng hơn mọi giáo điều và lề luật của tôn giáo. Ông khẳng định:
…khóc thương trong phút giây đoàn tụ
của người yêu và kẻ được yêu.
Đây chính là tôn giáo đích thực. Vàn điều khác
chỉ là đồ bỏ khi đối sánh“.
(Trích “Ta có năm điều muốn nói” trong tập “Rumi tinh tuyệt” do Lê Duy Nam & Lê Ái dịch)
Rumi mất ngày 17 tháng 12 năm 1273 tại Konya, Thổ Nhĩ Kỳ. Đám tang của ông, kỳ lạ thay, được toàn bộ những người theo Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo tham gia tiễn biệt. Lăng mộ ông được Nữ hoàng Gürcü Hatun, bạn thân của Rumi bảo trợ, biến khu vực này thành thánh đường, nơi thực tập các điệu xoay vòng của các bậc Sufi, nơi hành hương của những người tu tập tâm linh trên khắp thế giới không phân biệt tín ngưỡng và sắc tộc. 
Trên bia mộ của Rumi, một dòng chữ được khắc lên: “Khi ta chết, đừng tìm mộ ta trên mặt đất, hãy tìm mộ ta trong tâm khảm loài người”. Sau hơn 700 năm, thơ Rumi vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ, đã đưa ánh sáng tinh thần của ông chiếu rọi tâm thức của bất cứ ai chạm vào thi giới của ông.
Sufi – Chủ nghĩa huyền bí Hồi giáo và hơn cả thế
Nhà văn nổi tiếng, tác giả của của tuyệt phẩm “Nhà giả kim”, Paulo Coelho đã ghi lại những trải nghiệm của mình khi tham dự nghi lễ của các bậc thầy Sufi như sau:
Trong một căn hộ nhỏ ở Ảrập, tôi được mời tham dự một nghi thức, đèn điện được ngắt đi, nến được thắp sáng và mọi người gõ trống trên các nhạc cụ bộ gõ. Ta có thể thấy được cách thức truyền thống tinh thần này đã gìn giữ được tính thuần khiết của nó cho đến ngày nay.
Nghi lễ diễn ra vào lúc 9 giờ tối. Trong gần nửa giờ đồng hồ, một người đàn ông, dùng một giọng nói có lẽ phát ra từ sâu thẳm linh hồn, ngâm nga. Khi ông ngưng tiếng, các nhạc cụ bắt đầu gõ nhịp theo điệu rất giống với thanh âm ta thường nghe trong lễ kỷ niệm của các tôn giáo Brazil gốc Phi.
Đó là lúc, theo như nghi thức tương tự ở các tôn giáo mà ta đã biết rõ, vài người sẽ đứng dậy và bắt đầu tự xoay vòng.
Toàn bộ nghi thức diễn ra trong một giờ, một giờ ấy các vũ công sẽ cười lên thật lớn, tuôn trào những ngôn từ phi thường, và dường như đang ở trong một cơn mê đắm thần trí sâu sắc. Dần dần họ ngừng quay, tiếng gõ vãn dần và đèn trong phòng khác được bật sáng trở lại. Tôi hỏi một trong số họ xem họ cảm thấy gì.
“Tôi đã ở trong kết nối với năng lượng của vũ trụ,” ông ta trả lời. “Thượng Đế đã đi qua hồn tôi.”
Âm nhạc, sự xoay vòng, thơ ca: đó là 3 yếu tố quan trọng trong nghi thức của một nghi lễ Sufi. Những thầy tu Sufi tin rằng truyền thống Sufi có nguồn gốc từ giới luật đầu tiên mà nhà tiên tri Muhhamad truyền dạy cho Ali bin Abu Talib, người được nhân mặc khải đầu tiên, và nhân vật quan trọng hàng đầu của hệ phái Hồi giáo Sunny. Các bậc thầy Sufi mặc dù coi nhà tiên tri Muhhamad là hình mẫu cho sự chứng ngộ hoàn hảo, nhưng không chấp nhận những giới luật khắt khe mang tính ràng buộc và giam hãm của giáo hội Hồi giáo. 
Chính từ “Sufi” cũng thể hiện những đặc tính của phương thức tu hành này. Một cách phổ biến, “sufi” được cho là có nguồn gốc là “người mặc đồ len”, tức trang phục truyền thống của các thầy tu huyền môn Hồi giáo. Một cách giải thích khác lại cho rằng “sufi” xuất phát từ “safa” trong tiếng Ảrập, có nghĩa là “sự thanh khiết”.
Những bậc thầy Sufi tách biệt bản thân khỏi tôn giáo thế tục, đi sâu vào các trạng thái tinh thần, hướng tới Thượng Đế, và đó là con đường tu luyện khổ hạnh và thanh khiết. Một bậc thầy Sufi al-Rudhabari (mất 322) đã sử dụng cả hai ý nghĩa này để mô tả chung về hình ảnh của Sufi: “Sufi là người mặc len trên con đường thanh khiết”.
13/9/2022
Hà Thủy Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tại sao văn học trinh thám Việt Nam ra đời gần một thế kỷ vẫn bị xem là non trẻ

Tại sao văn học trinh thám Việt Nam ra
đời gần một thế kỷ vẫn bị xem là non trẻ?

Mới đây, tại trụ sở Hội Nhà Văn Việt Nam đã diễn ra tọa đàm “Văn học trinh thám hiện đại: Giao thoa Đông – Tây”. Đây là lần đầu tiên, những vấn đề của văn học trinh thám hiện đại được đem ra mổ xẻ, bình luận và tìm hướng để phát triển.
Văn học trinh thám Việt Nam vẫn quá ít và thiếu
Trong khảo cứu “Nhận diện truyện trinh thám Việt Nam”, tác giả Lê Kỳ đặt vấn đề rằng, truyện trinh thám nhen nhóm ở Việt Nam từ thập niên 30 của thế kỷ XX. Người có công mở đầu cho truyện trinh thám ở Việt Nam chính là Biến Ngũ Nhy. Từ năm 1917 ông đã giữ mục “Mật thám truyện” trên Công Luận báo, chuyên dịch các tác phẩm trinh thám nước ngoài ra tiếng Việt. Song song với việc dịch thuật, tác phẩm hoàn chỉnh đầu tiên của truyện trinh thám được viết bằng chữ Quốc ngữ là “Kim thời dị sử – Ba Lâu ròng nghề đạo tặc” (in trên Công Luận báo từ 1917 đến 1920).
Sau đó, văn đàn miền Nam chứng kiến sự nở rộ của tiểu thuyết trinh thám, đặc biệt là giai đoạn 1930 – 1945 với các tên tuổi như: Nguyễn Chánh Sắt (Gái trả thù cha), Nam Đình Nguyễn Thế Phương (Khép cửa phòng thu, Chén thuốc độc, Giọt lệ má hồng), Sơn Vương (Bát cơm chan máu, Chén cơm lạt, Tướng cướp hào hoa), Bửu Đình (Mảnh trăng thu, Cậu Tám Lọ), Lê Hoằng Mưu (Lá huyết thư, Người bán ngọc), Đức Phú (Châu về Hiệp Phố)…
Thế Lữ với tập truyện đầu tay “Vàng và máu” (1934) cũng được đánh giá là người có công mở đầu cho thể loại văn học trinh thám ở miền Bắc. Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm của Thế Lữ nhanh chóng trở thành “hiện tượng mới lạ” trên văn đàn, gây tò mò và xúc động cho công chúng đương thời bởi lối kể chuyện hấp dẫn, cốt truyện gay cấn, tình tiết li kì, giọng văn thanh thoát, ngôn ngữ tự nhiên, giàu cảm xúc. Phạm Cao Củng cũng được mệnh danh là “vua truyện trinh thám Việt Nam” với nhiều tác phẩm đặc sắc như: Vết tay trên trần (1936), Cái gia tài nhà họ Đặng, Máu đỏ lòng son, Chiếc tất nhuộm bùn (1938), Người một mắt (1940), Nhà sư thọt, Kỳ Phát giết người (1941), Đám cưới Kỳ Phát (1942)…
Từ dòng chảy ấy, đến nay, văn học trinh thám của Việt Nam đã có những bước chuyển mình rõ rệt. Số lượng tác giả viết văn học trinh thám ngày càng trẻ hóa, các đầu sách được xuất bản hàng năm cũng nhiều hơn trước đây. Ngoài ra, có hẳn một group “Hội thích truyện trinh thám” với gần 4 vạn thành viên. Tuy nhiên, văn học trinh thám vẫn được xem là non trẻ và chưa có hướng phát triển đúng tầm.
Phát biểu tại tọa đàm, Nhà văn Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho rằng, ở Việt Nam, số lượng sách văn học trinh thám vẫn quá ít ỏi và tác giả viết văn học trinh thám cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Người nổi bật nhất mà khi nhắc đến văn học trinh thám đương đại là nhà văn Di Li.
“Tôi từng đặt câu hỏi “Tại sao ít người viết về văn học trinh thám như vậy?”, tôi tìm hiểu thì thấy nhiều nhà văn nghiêm trọng hóa tính chất của văn chương. Chính vì thế mà họ đặt vấn đề đầy nghiêm trọng, đầy phức tạp… Ở văn học Việt Nam thiếu hai điều rất quan trọng mà văn học thế giới đã thành công, đó là tính giễu nhại (hay hài hước) và tính trinh thám trong văn học Việt Nam quá ít, quá thiếu.
Trong khi nhiều tác phẩm văn học trinh thám của các tác giả nổi tiếng phương Tây tràn ngập trong các tủ sách của thế giới thì văn học trinh thám Việt Nam vẫn đang rất ít được quan tâm. Tôi hoàn toàn ủng hộ và mong muốn văn học trinh thám Việt Nam phát triển. Nếu người Việt mê đọc thể loại này, nếu có những tác giả viết tốt thì nền văn học nhìn chung sẽ được hưởng lợi. Tôi đang nghĩ tới ý tưởng về tổ chức những cuộc thi riêng cho các thể loại trinh thám tại Việt Nam”, nhà văn Nguyễn Quang Thiều bày tỏ.
Nhu cầu về văn học trinh thám của bạn đọc Việt Nam đã khác xưa
Tại toạ đàm hai diễn giả Di Li và Oystein Torsrud đã chia sẻ về văn nghiệp, đặc biệt làm rõ sự khác biệt của văn học trinh thám Đông – Tây. Nhà văn Di Li cho biết, sự logic, tính cách suy lý của phương Tây là điều giúp cho văn học trinh thám phương Tây phát triển mạnh. Một thực tế là với lượng dân cư không quá lớn, nhưng trinh thám Bắc Âu như Thuỵ Điển, Na Uy, Đan Mạch… có thể bán được hàng triệu bản. Nhà văn trinh thám phương Đông cũng rất mạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… và nền văn học giải trí của Việt Nam vẫn còn non trẻ. Tuy nhiên, điều tích cực là văn học trinh thám đã bước qua thời kì của trinh thám cổ điển. Ngày nay, các vấn đề như bạo lực học đường, tội phạm công nghệ cao, bắt nạt qua mạng xã hội… đều đã phảng phất có trong văn học Việt.
Nhà văn Di Li nhấn mạnh các kỹ thuật điều tra hiện đại sẽ là điểm nhấn để văn học trinh thám trở nên “đúng đắn” hơn trước đòi hỏi và nhu cầu của độc giả. Đặc biệt, các kỹ thuật của thể loại này có thể áp dụng tốt cho mọi dạng tiểu thuyết khác.
“Nếu như cách đây 2 – 3 thập niên, các nhà văn trinh thám chỉ dụng đến kỹ thuật hình sự thì trong những năm trở lại đây, các nhà văn trinh thám thế kỷ 21 bắt đầu sử dụng biện pháp điều tra bằng công nghệ. Công nghệ 4.0 xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm trinh thám, đặc biệt là trinh thám Bắc Âu và trinh thám của Mỹ. Với nền trinh thám của Pháp, họ vẫn đưa những câu truyện mang tính văn hóa, tính nhân văn vào tác phẩm nhưng cơ bản thì kỹ thuật hình sự, giám định pháp y, công nghệ máy tính để điều tra các tội phạm công nghệ cao là điển hình của trinh thám hiện đại.
Đứng trên phương diện cá nhân là một người viết truyện trinh thám, tôi cũng phải nghiên cứu rất nhiều về kỹ thuật hình sự, giám định pháp y và luật. Đặc biệt luật phải là luật mới nhất. Bên cạnh đó về phần công nghệ tôi cũng phải nghiên cứu rất nhiều. Vì thế nên để có thể ra mắt độc giả một tác phẩm trinh thám khoảng 500 – 600 trang, tôi đã phải viết trong nhiều năm”, nhà văn Di Li chia sẻ thêm.
Nhà văn Oystein Torsrud cho biết, lý do văn học trinh thám ở các nước phương Tây phát triển là do các nhà văn quan tâm đến các vấn đề của xã hội bản địa đương đại, cố gắng truyền tải điều ấy qua tác phẩm.
“Các nhà xuất bản Na Uy thường sở hữu những mặt mạnh về thông tin, họ biết cách tạo sự hấp dẫn cho những cuốn sách mới ra, điều đó tạo động lực cho các nhà văn viết các tiểu thuyết mới”, nhà văn Oystein Torsrud nói.
Nhà văn trẻ Đức Anh cho rằng, sự ảnh hưởng của văn học nước ngoài, Phương Tây đến Việt Nam là qua ba yếu tố: văn phong, cách đặt vấn đề và cách tư duy tổ chức cốt truyện. Để có một tương lai mạnh hơn, văn học Việt Nam sẽ phát huy yếu tố bản địa, kết hợp với các kỹ thuật học được từ các nền văn học phát triển. Ngày nay các độc giả trẻ đều mong muốn các tác giả trẻ Việt Nam sẽ mang nhiều cái tình, cách nói chuyện, các bối cảnh và đặc biệt là các vấn đề của đất nước trong quá khứ, và trinh thám như một công cụ để diễn đạt các quan điểm nghệ thuật.
18/9/2022
Hà Tùng Long
Nguồn: Báo Dân Việt 9.2022
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bình: Nhìn lại và bước tiếp

Nhà văn Việt Nam tại Quảng
Bình: Nhìn lại và bước tiếp

Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bình vừa tổ chức Đại hội lần thứ VI, nhiệm kỳ 2022-2027, trong hai ngày 16-17.9.2022, bầu ban lãnh đạo mới gồm 3 thành viên. Nhà văn Nguyễn Thị Lê Na được tín nhiệm bầu giữ chức Chi hội trưởng, nhà thơ – nhà phê bình Hoàng Thuỵ Anh làm Chi hội phó và nhà thơ Đỗ Thành Đồng là Uỷ viên.
Lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam về tham dự có nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội; nhà thơ Phan Hoàng – Uỷ viên Ban Chấp hành, Giám đốc-Chủ biên Vanvn.vn; nhà thơ Lương Ngọc An – Uỷ viên Ban Chấp hành; nhà văn Bảo Ninh – Uỷ viên Hội đồng Văn xuôi. Xin giới thiệu bài viết của nhà văn Hữu Phương nguyên Chi hội trưởng Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bình về hoạt động sáng tạo của các nhà văn vùng đất này…
Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bình là một trong số ít những chi hội ra đời vào hàng sớm nhất của Hội Nhà văn Việt Nam. Chi hội tổ chức Đại hội lần thứ I vào tháng 6.1999. Khi mới thành lập, chi hội có 6 hội viên. Đến Đại hội lần thứ III (9.2007), chi hội có 10 hội viên (5 nhà văn, 5 nhà thơ). Tháng 7.2011, nhà thơ Hải Kỳ mất, chi hội còn 9 hội viên. Tháng 3.2013, nhà thơ Nguyễn Văn Dinh mất, chi hội còn 8 hội viên. Trong nhiệm kỳ 2012-2017, Quảng Bình lần lượt kết nạp thêm nhà thơ Thái Hải và nhà lý luận phê bình Hoàng Thụy Anh, nâng tổng số hội viên của chi hội lên con số 10. Nhiệm kỳ 2017-2022, có thêm ba hội viên được kết nạp là nhà văn Nguyễn Hương Duyên, nhà thơ Đỗ Thành Đồng và nhà văn Nguyễn Thị Lê Na. Nhà văn Hoàng Bình trọng mất, chi hội còn 12 hội viên. Trong đó, độ tuổi trên dưới 75 là 3 hội viên, độ tuổi trên dưới 70 là 4 hội viên, độ tuổi trên 60 là 2 hội viên và độ tuổi dưới 50 là 3 hội viên.
Nhìn lại chặng đường đã qua
Các nhà văn trong chi hội sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất Quảng Bình, nơi có bề dày lịch sử và văn hóa khá phong phú, chứa đựng những nét riêng biệt quý giá. Đó là dải đất hẹp, địa hình dốc, có núi và biển liền kề. Đó là miền đất gió Lào cát trắng, nắng lũ mưa ngàn. Đó là nơi vượng khí đất trời, hồn thiêng sông núi, con người gan góc trải bao thăng trầm của lịch sử. Đó là vùng địa hiểm, những chứng tích ngàn xưa còn đó, với biết bao địa danh chôn vùi xương máu của các thế hệ. Đó là khúc tráng ca bất tử trong lịch sử phát triển dân tộc.
5 năm qua, dù trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn đến đâu, các hội viên trong chi hội vẫn giữ được nhịp độ sáng tác và công bố tác phẩm khá đều đặn. Nhiều hội viên tiếp tục đầu tư thời gian và công sức vào các thể loại dài hơi như tiểu thuyết, trường ca, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh, chuyên luận… Cụ thể, đã có 3 tiểu thuyết được công bố và 2 tiểu thuyết sắp công bố. Có nhiều kịch bản sân khấu truyền thống và sân khấu thực cảnh được dàn dựng. Có 5 tập truyện ngắn và tản văn được công bố. Có 11 tập thơ và trường ca ra mắt bạn đọc. Có 4 tập phê bình tiểu luận, 1 chuyên luận được xuất bản. Và có 2 công trình mang tính tuyển tập ra đời. Ngoài ra, còn một khối lượng truyện ngắn, thơ, bút ký, ghi chép, tản văn, phê bình tiểu luận của các hội viên trong chi hội in rải rác, chưa có điều kiện in thành sách.
Văn xuôi (bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, ghi chép, tản văn, kịch bản văn học) của Quảng Bình xét về lịch sử, ra đời muộn hơn thơ, nhưng đã tỏ rõ thế mạnh đường trường và nội lực khá thâm sâu. Đề tài lịch sử và chiến tranh cách mạng của dân tộc tiếp tục được thể hiện bằng cái nhìn điềm tĩnh, khách quan, khoa học, kiến giải sâu sắc và mới mẻ về mỗi bước đi của lịch sử, giúp người đọc có thêm những phát hiện, khám phá sâu sắc các vỉa tầng của chiến tranh, đồng thời khái quát về thân phận con người và sự sống động của thời cuộc sau chiến tranh.
Từ độ lùi nhất định đối với cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, đa số các tác phẩm đã tránh được lối mòn một chiều và khiên cưỡng thường gặp, làm sáng tỏ những góc khuất, những vẻ đẹp chìm ẩn, lên án sự giả dối thấp hèn, tôn vinh phẩm chất cao quý của con người trong những giai đoạn lịch sử vô cùng khắc nghiệt, từ đó, góp phần làm giàu thêm niềm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước. Mảng đề tài hiện đại cũng được các nhà văn khai thác có chiều sâu và sắc nét, nhất là vấn nạn môi trường sinh thái với cuộc chiến bảo vệ rừng nóng bỏng…
Thơ (bao gồm trường ca) Quảng Bình vẫn tỏ rõ là một thế mạnh xưa nay. Các nhà thơ dù lớn tuổi vẫn không ngừng tìm tòi, cách tân nhằm có nhiều sản phẩm thơ mới lạ và ngời tươi sức sống. Âm hưởng chủ đạo thơ Quảng Bình trong 5 năm qua là sự tiếp tục mạch nguồn đổi mới, với yếu tố nội tâm đa chiều, đa phức, với độ mở và giao cảm với xã hội đa tầng.
Trường ca là thể loại nở rộ từ thời kháng chiến chống Pháp, chục năm nay, nó trở lại với hình thức mới và nội lực khá thâm hậu. Không còn là chất kể chuyện như xưa, trường ca ngày nay là âm hưởng trữ tình, thế sự. Ở đó, có sự luận giải về số phận con người và thời đại, về cuộc sống và cõi chết, về tình yêu và thân phận, về hiện thực và khát vọng. Tất cả được thể hiện bằng các ngòi bút khá trữ tình, nồng nàn…
Lý luận phê bình văn học ở Quảng Bình, mấy năm trước, đều làm bằng tay trái, khá rời rạc. Nghĩa là các nhà thơ, các nhà văn thấy cần phải trao đổi điểm này điểm kia về phong trào sáng tác một thể loại nào đó, một tác phẩm cụ thể nào đó thì viết ý kiến, cảm nghĩ của mình lên. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, lý luận phê bình văn học tỉnh nhà đã bắt đầu có hình hài, có đường nét.
Đặc biệt trong 5 năm qua, xuất hiện nhà lý luận phê bình trẻ, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ngành lý luận phê bình văn học tỉnh nhà như bước sang trang mới. Hiện đã có một số cây bút mới, nhiều hứa hẹn trên lĩnh vực này. Đây là một may mắn, bởi lý luận phê bình thường xuất hiện ở các thành phố lớn, các trung tâm văn hóa, nơi gặp gỡ hội tụ của giới làm nghề văn chương, trong khi Quảng Bình là một tỉnh lẻ, vẫn từng bước xuất hiện vài gương mặt lý luận phê bình văn học, khiến cho văn học Quảng Bình như được cân bằng, được khích lệ…
Ở nhiệm kỳ này, chi hội cũng có một “mùa gặt” đáng trân trọng: Nhà văn Hữu Phương đoạt giải nhì cuộc thi tiểu thuyết lần thứ V (2016-2019) của Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết “Quay đầu lại là bờ” và có truyện ngắn “Gia đình của bố” được chọn trong 10 truyện ngắn hay nhất của Báo Văn Nghệ số xuân 2021, nhà văn Nguyễn Thị Lê Na đoạt giải B (không có giải A) của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học-Nghệ thuật (VHNT) Việt Nam với tập truyện ngắn “Đắng ngọt đàn bà”, nhà thơ Đỗ Thành Đồng đoạt giải C của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam với tập thơ “Đá”, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật đoạt giải thưởng Nguyễn Đình Thi với tập thơ “Một mai gió chở tôi về”.
Cùng với đó, Giải thưởng Văn học nghệ thuật Lưu Trọng Lư của UBND tỉnh Quảng Bình lần thứ VI (2016-2021), các nhà văn trong chi hội cũng đoạt được các giải thưởng quan trọng. Cụ thể, giải A được trao cho: Nhà văn Hữu Phương với tiểu thuyết “Quay đầu lại là bờ”, nhà văn Nguyễn Thế Tường với tập tản văn “Và, gió heo may…”, nhà văn Nguyễn Thị Lê Na với tập truyện ngắn “Đắng ngọt đàn bà”; giải B được trao cho nhà thơ Hoàng Vũ Thuật với “Một mai gió chở tôi về”, nhà thơ Thái Hải với trường ca “Bông nắng cuối ngàn”, nhà văn Nguyễn Hương Duyên với tập truyện ngắn “Viết tặng anh từ căn bếp này”, nhà thơ Đỗ Thành Đồng với tập thơ “Đá”, nhà lý luận phê bình Hoàng Thụy Anh với tập “Phê bình văn học & ý thức cái Khác“; giải C được trao cho cố nhà văn Hoàng Bình Trọng với “Trường ca Hoàng đế Quang Trung”…
Tiếp bước hành trình
Đại hội lần thứ VI, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bình, nhiệm kỳ 2022-2027, là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, VHNT trên vùng đất Quảng Bình. Chi hội tiếp tục nêu cao bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp sáng tạo văn chương, làm tốt vai trò nòng cốt và là lực lượng sáng tác chủ chốt của văn học Quảng Bình, cống hiến tài năng và nhiệt huyết, phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần đắc lực xây dựng văn hóa và con người quê hương, đất nước. Các hội viên hòa mình trong thực tiễn cuộc sống, không ngừng bồi đắp vốn sống, vốn hiểu biết, tình cảm thẩm mỹ, đồng hành sáng tạo cùng những chuyển động to lớn của quê hương, đất nước.
Chi hội đẩy mạnh các hoạt động sáng tác, công bố tác phẩm của hội viên, tập trung ưu tiên cho các đề cương tác phẩm có quy mô, có tầm vóc về văn hóa, lịch sử và chiến tranh cách mạng trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại vừa qua và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay trên quê hương, đất nước; chú trọng việc tổng kết một đời văn của các nhà văn lớn tuổi thông qua xuất bản tuyển tập cá nhân.
Không ngừng củng cố tổ chức chi hội vững mạnh, làm tốt vai trò cầu nối giữa Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam với mỗi nhà văn cơ sở Quảng Bình, quan tâm đời sống các nhà văn hội viên; đồng thời, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng các cây bút trẻ, các tác giả mới tài năng, giới thiệu kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam nhằm bổ sung lực lượng.
Văn học viết từ Quảng Bình đã và đang đồng hành với những bước đi của lịch sử, đắm mình trong những chuyển động to lớn của quê hương, đất nước, làm nên những giá trị văn hóa tinh thần sâu sắc, góp phần hình thành phẩm chất nhân cách con người Việt Nam trên quê hương.
Tuy nhiên, vẫn còn đấy những câu hỏi xoáy vào các thế hệ nhà văn đương đại trong đó có nhà văn Quảng Bình: Làm sao nắm bắt và đồng hành cùng cái mới, lý giải được những cải biến sâu sắc, tinh vi từ gốc rễ của các mặt đời sống xã hội một cách biện chứng? Làm sao bộc lộ hết tâm huyết của nhà văn, lo âu, tìm kiếm, thể nghiệm cái mới, dũng cảm phanh phui, lên án cái ác, cái tha hóa; bộc lộ tận cùng năng lực sáng tạo, được thể hiện hết mình với trách nhiệm và đồng cảm với nhân dân, để được theo đuổi đến cùng những thao thức trong sáng tạo nghệ thuật của mình? Làm sao để văn học phản ánh hết đời sống, thân phận, tiếng nói hơi thở con người trên một vùng đất, vẫn thấm đẫm sinh khí cả nước, tiêu biểu cho dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng được cộng đồng tiến bộ trên thế giới chia sẻ?
Đó là những vấn đề đặt ra cho sự phát triển văn học trên vùng đất quê hương. Nó không chỉ đặt ra cho các nhà văn trong Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bình mà còn cho cả lực lượng sáng tác văn học Quảng Bình và cả Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình.
Đó là một trách nhiệm nặng nề, trong khi các nhà văn chúng ta ngày một tuổi cao sức giảm. Tuy nhiên, với sự quan tâm sâu sắc của Thường trực Tỉnh ủy, sự giúp đỡ tận tình và hiệu quả của UBND tỉnh, sự hỗ trợ tích cực của Hội VHNT tỉnh và các ban, ngành trong tỉnh, cùng với bản lĩnh, tài năng và nhiệt huyết của các hội viên trong chi hội, tin rằng chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn.
Và một mùa gặt mới, nhiều hứa hẹn đang chờ đón chúng ta phía trước.
19/9/2022
Hữu Phương
Nguồn: Báo Quảng Bình 2022
Theo https://vanhocsaigon.com/

Câu chuyện đi tìm bản in đầu tiên tập thơ "Gái quê"

Câu chuyện đi tìm bản in đầu
tiên tập thơ "Gái quê"

Có một việc liên quan đến số phận tập thơ Gái Quê của Hàn Mặc Tử (22.9.1912 – 11.11.1940), ấy là cho đến nay hầu như vẫn chưa tìm lại được bản in lần đầu của tác phẩm này…
Đương nhiên, không ai nghi ngờ tập sách ấy đã từng được in ra, và không ít bạn đọc, không ít nhà văn nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà giáo ở Hà Nội,  Huế,  Sài Gòn… vào những năm từ thập niên 1940 đến nay đã từng nhìn thấy, thậm chí từng sở hữu tập sách mỏng đó. Nhưng đến đầu những năm 1990 thì rõ ra là rất khó tìm ra tập sách cũ ấy.
Gái quê xuất bản năm 1992
Năm 1992, chuẩn bị cho dịp kỷ niệm 60 năm nảy sinh phong trào Thơ mới, chúng tôi ở NXB Hội Nhà văn, phối hợp với Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM. quyết định thực hiện bộ sách Phong trào Thơ mớiNhững tập thơ tiêu biểu. Tôi (Lại Nguyên Ân) và nhà thơ Ý Nhi, người ở phía Bắc, người ở phía Nam, được giao việc sưu tầm tài liệu, tổ chức biên soạn. Dự án này chọn 12 tập thơ của 11 tác giả: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương, Huy Thông – mỗi người một tập, riêng Xuân Diệu 2 tập (Thơ thơ  và Gửi hương cho gió); các tập thơ này sẽ in như những tập sách riêng, nhưng đóng chung vào một hộp giấy, như một bộ ấn phẩm quý.
Về “tác phẩm tiêu biểu” cho từng nhà thơ mới và cho cả phong trào, nhìn chung khi thực hiện, chúng tôi đã chọn đúng được tập thơ như dự định, ví dụ Lửa thiêng (Huy Cận), Điêu tàn (Chế Lan Viên) v.v… nhưng cũng có trường hợp buộc phải thay đổi do không tìm được tài liệu, chẳng hạn, do không tìm được toàn văn tập Tiếng địch sông Ô nên đã phải sử dụng tập Tiếng sóngYêu đương (Huy Thông), hoặc cũng đã phải châm chước dụng ý chọn “tác phẩm đầu tiên” để chọn “tác phẩm tiêu biểu”, ví dụ đã bỏ qua Mấy vần thơ, tập cũ, để chọn Mấy vần thơ, tập mới (Thế Lữ) hoặc vì không tìm được nguyên văn Tâm hồn tôi nên đã chọn Lỡ bước sang ngang (Nguyễn Bính).
Với tập Gái quê, chúng tôi gặp trở lực thật sự.
Các thư viện lớn nhất như Thư viện Quốc gia ở Hà Nội, Thư viện Tổng hợp và Thư viện Khoa học xã hội TP.HCM đều không có tập Gái quê. Ý Nhi viết thư nhờ hỏi những người gần gũi tác giả, thì những hồi âm từ ông Nguyễn Bá Tín (em ruột Hàn Mặc Tử), nhà thơ Quách Tấn (bạn thân Hàn Mặc Tử), nhà thơ Mai Đình – đều trả lời không có đủ toàn văn Gái quê, dù ở dạng sách in hay bản thảo; đăng lời tìm kiếm tập thơ lên báo Sài Gòn Giải phóng (12/10/1992) cũng không thấy hồi âm nào. Sau cùng, Ý Nhi được nguồn tin của nữ sĩ Mộng Tuyết cho biết: hồi nhà thơ Chế Lan Viên soạn Tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử (1987), ông đã chép tay tập Gái quê mượn ở tủ sách riêng của ông Nguyễn Văn Y. Năm ấy, 1992, cả hai người – Chế Lan Viên và Nguyễn Văn Y – đều đã mất; người nhà ông Y hứa tìm trong tủ sách gia đình, nhưng rốt cuộc từ nguồn này không có hồi âm gì. Ý Nhi tìm tới gia đình nhà thơ Chế Lan Viên và được vợ nhà thơ là nhà văn Vũ Thị Thường cung cấp bản chép tay kể trên.
Tập Gái quê ở dạng chép tay của Chế Lan Viên không có bài tựa của Phạm Văn Ký (như báo chí đương thời nói về ấn bản này), tổng số thơ trong tập được chép lại gồm 21 bài; không rõ đó có phải là tất cả số bài trong bản in?, lại cũng không biết có hay không sự sửa chữa, ít nhất là sửa lỗi in, của người chép, bởi … không ai có bản in Gái quê  lần đầu ngõ hầu đối chiếu!
Bộ sách Phong trào Thơ mớiNhững tập thơ tiêu biểu do NXB Hội nhà văn và Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM thực hiện hồi năm 1992, cho đến nay cũng đã là một ấn phẩm vào loại hiếm. Nhưng từ ấy đến nay, nói riêng, chuyện tìm kiếm bản in Gái quê lần đầu vẫn quá ít tin tức lạc quan.
Vẫn chưa tìm thấy bản in đầu tiên của Gái quê
Từ đầu năm 2012 này, qua những thư từ trong giới nghiên cứu, tôi được biết nhà phê bình Đặng Tiến – hiện ở Pháp – đang dò theo một manh mối ít nhiều khả thủ. Ông Đặng Tiến được biết bà Hoàng Thị Quỳnh Hoa, người gốc Huế, hiện ở bang Maryland, Hoa Kỳ, là cháu (gọi bằng cô) bà Hoàng Thị Kim Cúc, người đã được chính Hàn Mặc Tử tặng một tập Gái quê. Bà Quỳnh Hoa hiện còn giữ được một bản sao lại bản đánh máy năm 1969 do một người tên là Trần Như Uyên thực hiện; bản của Trần Như Uyên, trên thực tế cũng được sao lại từ bản đánh máy của nhà thơ Phan Văn Dật ở Huế.
Chính bản sao ở tầng thứ ba trong một quy trình sao lưu bằng máy đánh chữ kể trên, tập Gái quê sẽ được tái xuất hiện trước công chúng trong một ấn bản do Cty Phương Nam và NXB Hội Nhà văn cho ra mắt tháng 9/2012 này, nhân kỷ niệm 100 năm sinh Hàn Mặc Tử, cũng là dịp kỷ niệm 80 năm Phong trào Thơ mới (1932-1945).
Được biết, tập Gái quê ở dạng bản sao tái xuất hiện lần này sẽ gồm 34 bài. Tức là nhiều hơn đến 1/2 so với dung lượng tập Gái quê do Chế Lan Viên sao lại bằng chép tay năm 1987.
Nhưng con đường đi tìm lại bản in lần đầu tập thơ Gái quê chưa thể kết thúc, với ấn bản mới lần này. Bởi vẫn chưa tìm thấy tận mặt tận nơi một tập Gái quê  do nhà sách Tân Dân in lần đầu tại Hà Nội, sách do tác giả Hàn Mặc Tử tự xuất bản, bản in hoàn thành khoảng cuối tháng 10/1936.
Gái quê trên văn đàn thập niên 1930
Nhân niềm vui nho nhỏ lần này của cộng đồng văn chương Việt, tôi xin góp một tài liệu mới tìm được, ghi nhận sự xuất hiện tập Gái quê giữa làng thơ Việt đương thời. Ấy là một đoạn trong một bài điểm sách báo mới của tuần san Hà Nội báo, tòa soạn ở 88 phố Huế, Hà Nội, số ra ngày 11/11/1936, ký tên tòa soạn nhưng thường là do chủ bút Lê Tràng Kiều thực hiện.
Bài điểm sách của Hà Nội báo viết:
“Gái quê là một tập thơ của ông Hàn Mặc Tử, phần nhiều tả những cảnh sắc nhà quê, cây tre, khóm lau, bờ cỏ, hay những tình, những phút yêu, mong, nhớ những cô gái quê. Nó có một cái phong vị, một cái “mùi” quê, nghĩa là một cái phong vị mộc mạc, ngây thơ và thi vị.
Tuy cả tập Gái quê không phải bài nào cũng hay ngang với bài nào, và có nhiều bài dở nữa, nhưng nhiều bài tỏ ra rằng tác giả quả có một tâm hồn đa cảm, nồng nàn của một thi nhân, và vì thế còn ở trên nhiều những ông thợ thơ khác nhiều. Tôi nói hẳn ngay: tác giả là một thi sĩ.”
Trích in toàn bài Tình quê là bài mà mình thích nhất trong tập Gái quê, người điểm sách của Hà Nội Báo bảo rằng: “Đọc lên người ta nghe như tiếng gió rạt rào trong khóm tre một buổi chiều hôm, tiếng nghe văng vẳng buồn, một cái buồn nhè nhẹ. Bài ấy có cái âm điệu như bài Tiếng Thu của ông Lưu Trọng Lư, và có lẽ đã chịu ảnh hưởng của ông Lư. Người ta còn thấy tác giả chịu ảnh hưởng của ông Thế Lữ nữa”.
Người điểm sách của Hà Nội báo còn khen tác giả Gái quê dùng được những “phẩm từ” (tính từ chỉ phẩm chất) rất ý nhị, như cặp má thì đỏ au au, nói “vẻ” thì đó là vẻ ngọt ngào, vẻ ngon v.v…
Đây là bài điểm nhiều sách báo mới khác nhau, nhưng người điểm sách dừng lại lâu hơn, nhiều hơn hết ở tập Gái quê vừa ra mắt mà đương nhiên ông cũng chỉ vừa đọc qua. Dẫu thấy ở tập thơ đầu tay của nhà thơ trẻ này đôi khi còn sa vào cầu kỳ, đẽo gọt v.v… nhưng người điểm sách của Hà Nội báo (mà tôi tin chắc là Lê Tràng Kiều) khẳng định: “Dầu thế nào, tập Gái quê cũng có thể kể là một tập thơ hay!”.
Lời khẳng định ngay lúc tập thơ Gái quê vừa ra mắt ấy, cho thấy nó đã lọt vào cặp mắt xanh của một nhà phê bình.
24/9/2022
Lại Nguyên Ân
Nguồn: TTVH Cuối tuần 9.2012
Theo https://vanhocsaigon.com/

Hình tượng người lính và chiến tranh trong cái nhìn "Nhận thức lại" của một số tác phẩm văn xuôi

Hình tượng người lính và chiến tranh
trong cái nhìn "Nhận thức lại" của
một số tác phẩm văn xuôi

Thay đổi một quan niệm, một nhận định đã tồn tại quen thuộc trong nếp suy nghĩ của mọi ngư­ời không phải là vấn đề dễ. Như­ng qua những tác phẩm thành công viết về đề tài chiến tranh và ng­ười lính của văn xuôi Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới như­ Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu – 1988), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh – 1991), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai 1991),… ngư­ời đọc có thể nhận thấy chiến tranh qua cái nhìn của các nhà văn này đã khác trư­ớc – cụ thể là văn học 1945 – 1975 rất nhiều.
Nhà văn Xuân Thiều từng viết “Một đất n­ước 50 năm không ngớt tiếng súng thì không khí chiến tranh in đậm trên gư­ơng mặt văn học là lẽ đ­ương nhiên”. Hẳn vậy, trong hoàn cảnh đất nư­ớc có chiến tranh, mối quan tâm lớn nhất của mọi ng­ười dân Việt Nam yêu nư­ớc là làm sao chúng ta chiến thắng đ­ược quân thù, làm sao để có cuộc sống hoà bình.
Anh chị em nghệ sĩ – những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá cũng h­ướng ngòi bút của mình vào mục đích cao cả đó. Tác phẩm của họ phải là những bản anh hùng ngợi ca cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta. Mà sự thật, cuộc kháng chiến này, những lớp ngư­ời này muôn đời đáng đ­ược ngợi ca như­ thế. Chính cảm hứng ngợi ca và khuynh hư­ớng sử thi lãng mạn đã khiến cho nhiều tác phẩm văn chư­ơng phát huy đ­ược tính chiến đấu. Biết bao thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên thuộc lòng những bài thơ cách mạng của Tố Hữu, xem Sống nh­ư Anh (tên tác phẩm của Trần Đình Vân) là một lí tư­ởng sống cao cả, thiêng liêng nhất. Mọi cái chết đư­ợc nhắc đến đều là những cái chết hoá thành bất tử, cái chết để khẳng định sự bất diệt của lí tư­ởng cách mạng, của lòng quả cảm hi sinh.
Sau 1975, dẫu chiến tranh đã qua đi như­ng đây vẫn là đề tài lớn trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn này. Như­ng đã bắt đầu xuất hiện những tác phẩm nhìn chiến tranh bằng đôi mắt khác. Các tác phẩm này đã b­ước đầu chạm đến những mất mát hy sinh mà chiến tranh gây cho những con ng­ười, những miền quê. Và phải đến sau Đổi mới, hơn bao giờ hết, chiến tranh mới hiện ra với tất cả sự khốc liệt và phũ phàng của nó. Đọc Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai) hay đặc biệt là Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận của tình yêu) của Bảo Ninh, chúng ta thấy một nỗi kinh hoàng. Kinh hoàng bởi khi bị bóc hết lớp men tráng trữ tình (Nguyễn Minh Châu) bên ngoài ra, chiến tranh thật là khủng khiếp. Nó lấy đi của con ngư­ời tất cả, chỉ để lại nỗi buồn!
Chiến tranh càng lùi xa, chúng ta càng có cơ hội mà bình tâm nhìn lại nó. Ngư­ời đọc hôm nay muốn đuợc biết về một cuộc chiến tranh khác ở Việt Nam. Vẫn là cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ ác liệt ấy như­ng như­ nó đã từng tồn tại trong sự thật lịch sử chứ không phải như­ nó đã tồn tại trong văn học Việt Nam 1945 – 1975. Để đáp ứng nhu cầu bạn đọc, các nhà văn phải lao vào cày xới lại cánh đồng mà tr­ước đây ngư­ời ta đã gieo trồng nhiều cây vững chãi. Để gieo trồng nên những cây mới không chỉ đòi hỏi ng­ười trồng phải đổ mồ hôi công sức mà phải có cả lòng dũng cảm, dám v­ượt qua thử thách. Thay đổi một quan niệm, một nhận định đã tồn tại quen thuộc trong nếp suy nghĩ của mọi ngư­ời không phải là vấn đề dễ. Như­ng qua những tác phẩm thành công viết về đề tài chiến tranh và ng­ười lính của văn xuôi Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới như­ Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu – 1988), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh – 1991), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai 1991),… ngư­ời đọc có thể nhận thấy chiến tranh qua cái nhìn của các nhà văn này đã khác trư­ớc – cụ thể là văn học 1945 – 1975 rất nhiều.
Trư­ớc hết, chiến tranh không phải chỉ có anh hùng chiến đấu để chiến thắng, không phải chỉ là nơi diễn ra nhữ­ng trận đánh hào hùng vang dội mà ở đó mỗi ngư­ời lính đều là những chiến sĩ trung kiên đ­ược ca ngợi, đư­ợc tôn vinh. Chiến tranh trong cái nhìn nhận thức lại của những nhà văn thời kì Đổi mới gây ra nhiều bi kịch hơn niềm vui, thua thiệt, mất mát không ít hơn cái đư­ợc, cái thắng. B­ước vào thế giới của Nỗi buồn chiến tranh, ta  bư­ớc vào thế giới của sầu thảm. Chiến tranh là gì kia chứ? Nó là “Cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con ng­ười!”. Chiến tranh chôn vùi hàng bao con ngư­ời vào một chỗ, biến họ thành những linh hồn lang thang, vật vờ ở truông Gọi Hồn. Chiến tranh dồn người lính vào vùng rừng sâu nư­ớc độc, nơi chim chóc khóc than như­ ngư­ời, nơi ng­ười sống lâu hoá vư­ợn, và nếu ngư­ời ta không chết vì đạn giặc thì cũng chết vì khiếp sợ”. Trong Thân phận của tình yêu cái chết đư­ợc nhắc đến nhiều, toàn là những cái chết kinh hoàng đầy sức ám ảnh.
Và sự thật thì chiến tranh là một l­ưỡi dao phạt ngang cuộc đời của những ngư­ời lính sống sót trở về: “Chiến tranh, kháng chiến, không phải nh­ư một số ng­ười khác, đến bây giờ tôi không hề mảy may hối tiếc đã dốc hết cả tuổi trẻ vào đấy cống hiến cho nó, nh­ưng nó nh­ư một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền lại nh­ư cũ. Như­ng đau đớn là hai nửa cuộc đời tôi cũng không bị cắt lìa hẳn”Đó là lời tâm sự của Lực trong Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu). Anh sống sót trở về sau chiến tranh như­ng chiến tranh đã lấy đi cuộc sống của anh trư­ớc đây, và nó trả cho anh hiện tại thật phũ phàng: Anh em đã mất, ông bố già sống cô độc một mình, vợ đã thành vợ ng­ười ta, và ngay cả bản thân anh ngư­ời ta cũng nghĩ chết rồi. Như­ng anh lại còn sống, sống để mà thấy rằng việc mình sống sót sau chiến tranh chư­a hẳn là điều may mắn… Hùng trong Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai) cũng gặp bi kịch sau chiến tranh. Sau hòa bình anh trở thành kẻ lang thang, thất thểu. Chiến tranh đã lấy đi của anh quá nhiều. Sống trong thời bình,  anh rơi vào lạc lõng.
Tr­ước đây ngư­ời ta thư­ờng vẫn chỉ thấy đư­ợc rằng, chiến tranh là nơi tôi luyện, đào tạo con ngư­ời, làm cho họ kiên gan hơn, anh dũng hơn, sống cao th­ượng và biết hy sinh hơn. Nh­ưng không hoàn toàn như­ vậy, nhiều tác phẩm văn học sau chiến tranh, sau Đổi mới chỉ ra rằng, chiến tranh, nó còn huỷ hoại nhân tính con ngư­ời, lấy đi khát vọng đam mê tuổi trẻ của họ, làm biến đổi con ngư­ời họ.
Sau chiến tranh, Kiên  trong “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh còn lại những gì? Không gì cả ngoài nỗi buồn. Bạo lực chiến tranh đã giết đi Kiên của một thời “cũng ngập lòng ham muốn, cũng biết say s­ưa, si mê.  Ra khỏi cuộc chiến, Kiên “đứng lặng ngắm nhìn toàn cảnh đời mình đang mất đi, đang trôi xa, đang vĩnh biệt chính mình.  Mãi mãi anh không thể tìm lại đư­ợc con ng­ười trư­ớc đây của mình nữa. Kiên của một thời tuổi trẻ đầy si mê nhiệt huyết không còn, chỉ còn lại Kiên bàng hoàng bư­ớc ra khỏi cuộc chiến, mang trong mình nỗi ám ảnh kinh hoàng về chiến tranh. Anh vĩnh viễn không tìm đư­ợc tuổi trẻ và cách nhìn đời trong sáng như­ trư­ớc đây nữa. Những bạo lực, huỷ diệt và t­ương lai mờ mịt bủa vây lấy tâm hồn anh. Kiên luôn tìm thấy trong quá khứ, trong thực tại sự phũ phàng đổ nát và cả ở t­ương lai, anh cũng có dự cảm không yên ổn. Cả tình yêu của anh và Phư­ơng cũng không thể như­ x­ưa đư­ợc nữa, dù hai ngư­ời vẫn mãi mãi yêu nhau. Chiến tranh đã cắm vào lòng họ những vết th­ương, biến họ thành những con ngư­ời khác trư­ớc, khiến họ dù muốn cũng vĩnh viễn không thể tìm về với ngày xư­a.
Văn học viết về đề tài chiến tranh sau Đổi mới cũng có những cách nhìn nhận khác về hình ảnh ngư­ời lính.Văn học của chúng ta trong giai đoạn 1945 – 1975 đã dựng lên những tư­ợng đài sừng sững về hình ảnh ng­ười lính, anh bộ đội, ngư­ời hoạt động cách mạng. Họ là anh giải phóng quân – con ngư­ời đẹp nhất . Họ là chị Út Tịch còn cái lai quần cũng đánh, là chị Lý nh­ư sắt nh­ư đồng, là anh Trỗi kiên gan bất khuất, là Hiên (trong Gieo mầm của Nguyễn Thiều Nam) nguyện lấy cái chết của mình để gieo mầm yêu n­ước, căm thù giặc trong nhân dân. Trong những tác phẩm thuộc thời kỳ Đổi mới, các nhà văn đã xây dựng hình ảnh của ngư­ời lính đa dạng hơn, nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Hình ảnh ng­ười lính hiện ra rất thực, rất đời th­ường với nhiều nỗi niềm, tâm sự, ­ước muốn, bản tính của một con ngư­ời. Họ không hoàn toàn là những ngư­ời anh hùng mẫu mực, chỉ biết một mục đích sống duy nhất là chiến đấu và sẵn sàng hy sinh. Không, họ cũng là những con ng­ời ham sống và đầy những nh­ược điểm đời thư­ờng. Tr­ước súng đạn họ cũng sợ chết. Họ muốn đ­ược là những con ngư­ời có cuộc sống yên ổn thanh bình. Trong Thân phận của tình yêu, thế giới đời sống của ngư­ời lính hiện ra chân thực đến phũ phàng. Bảo Ninh còn chú ý khai thác những uẩn ức tình dục của ngư­ời lính. Họ sa vào những mối tình dị th­ường với những cô gái bị bỏ sót giữa rừng sâu. Tình dục ảm ảnh họ, hành hạ họ. Bảo Ninh đã đi sâu vào thế giới thầm kín của ngư­ời lính và viết về chúng với niềm đồng cảm, đau đớn. Đây là một h­ướng đi mạnh dạn của ông khi viết về ng­ười lính, và đó cũng là một phần giá trị nhân bản trong Thân phận của tình yêu .
Như­ vậy có thể thấy rằng, văn học viết về chiến tranh thời kỳ đầu Đổi mới đã có những cách nhìn nhận, đánh giá mới về chiến tranh, về người lính. Chiến tranh không đơn giản chỉ đư­ợc nhìn nhận ở chiều hư­ớng ngợi ca, và hình ảnh ngư­ời lính cũng đời th­ường hơn với những khát khao riêng tư­, thầm kín, bản năng và họ cũng có những nỗi sợ hãi. Đó là một sự “nhận thức lại” dũng cảm, khách quan, trọn vẹn hơn, chân thực và đầy nhân văn của người cầm bút.
25/7/2022
Nga Trịnh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Lục địa đen bí ẩn và quyến rũ của Isak Dinesen

Lục địa đen bí ẩn và
quyến rũ của Isak Dinesen

Isak Dinesen, tên thật là Karen Blixen (1885 – 1962), cùng chồng sang châu Phi năm 1913, mua một đồn điền dưới chân rặng Ngong thuộc Kenya để sản xuất cà phê hạt. Năm 1931, sau liên tiếp những thất bại trong kinh doanh nông nghiệp tại châu Phi, bà phải bán đồn điền để trở về châu Âu.
Người đọc Việt Nam biết đến châu Phi qua văn chương thật ra không nhiều. Các tiểu thuyết “Giữa lòng đêm tối” của Joseph Conrad, “Rễ trời” của Romain Gary, “Nửa mặt trời vàng” của Chimamanda Ngozi Adichie, một số truyện ngắn của Ernest Hemingway, tập bút ký “Gỗ mun” của Ryszard Kapuscinski… Như thế là quá ít để hiểu về châu Phi, “Một châu lục quá lớn để có thể miêu tả nó”, như nhà văn Ba Lan Ryszard Kapuscinski từng nhận định.
Tuy nhiên, cái khoảng trống ấy đang được lấp dần. Mà cú lấp đáng kể nhất, gần đây, là sự xuất hiện cuốn hồi ức “Châu Phi nghìn trùng” (Out of Africa) của nữ nhà văn Đan Mạch Isak Dinesen (Hà Thế Giang dịch, NXB Phụ nữ Việt Nam, 2021). Bản dịch tiếng Việt của tác phẩm này đã được Hội Nhà văn Việt Nam trao Giải văn học dịch năm 2021.
Isak Dinesen, tên thật là Karen Blixen (1885 – 1962), cùng chồng sang châu Phi năm 1913, mua một đồn điền dưới chân rặng Ngong thuộc Kenya để sản xuất cà phê hạt. Năm 1931, sau liên tiếp những thất bại trong kinh doanh nông nghiệp tại châu Phi, bà phải bán đồn điền để trở về châu Âu. Năm 1935, trong sáu tháng, bà bắt tay vào viết và hoàn thành bản thảo “Châu Phi nghìn trùng” bằng tiếng Anh. Năm 1937, sách xuất bản lần đầu tiên và nhanh chóng được tái bản nhiều lần, được dịch sang nhiều ngữ, đưa tên tuổi Isak Dinesen vào hàng các tác giả cổ điển của văn chương Đan Mạch.
“Châu Phi nghìn trùng”, có thể nói, là sự tái hiện bằng trí nhớ về một châu Phi bí ẩn và đầy quyến rũ mà Karen Blixen đã đắm trong nó suốt mười tám năm ròng, không phải với tư cách một thực dân châu Âu kênh kiệu trên xứ thuộc địa, mà là một dân nhập cư da trắng đến lục địa đen để lao động và kiếm sống như mọi con người bình thường khác.
Bỏ qua nỗi vất vả của cuộc mưu sinh, bà say mê với cảnh sắc mênh mông và đầy huyền diệu của châu Phi: bình minh, hoàng hôn, và đêm tối; bầu trời và mặt đất; những rặng núi và những cánh rừng; đồng cỏ và những buổi trưa mà không khí ngùn ngụt tạo nên vô vàn ảo tượng; rồi những đàn voi, trâu rừng, chó rừng, ngựa vằn, linh dương, nhất là sư tử, con vật biểu tượng cho sức mạnh của châu Phi. Nhưng còn hơn cả cảnh sắc, Karen Blixen say mê con người sống trên đất châu Phi – cả những bộ tộc bản địa và các sắc dân khác, như Arab hay Ấn Độ – cùng những nét đặc sắc, đa dạng trong văn hóa của họ.
Khác với hầu hết các tác giả Âu Mỹ – cho dẫu nhân văn đến mấy thì cũng chỉ xem dân châu Phi thuộc địa như đối tượng của sự thương xót, những chủng tộc thấp kém cần được gượng tay bóc lột và cần được ánh sáng văn minh khai hóa – Karen Blixen trân trọng con người châu Phi, bà nhận thấy ở họ sự cao quý, nhận thấy ở văn hóa của họ những giá trị “khác”, vừa phổ quát vừa đặc dị, và không hề thua sút các giá trị phương Tây. Viết về người châu Phi, dù đó là một thủ lĩnh quyền uy hay chỉ là những người làm công tầm thường trong đồn điền của mình, bà đều đặt họ ở vị thế đồng đẳng, vị thế của những người bạn.
Ví như, ở phần II của tác phẩm, chương “Một thủ lĩnh Kikuyu”, kể chuyện Kinanjui, vị thủ lĩnh tối cao cai quản hơn một trăm ngàn dân Kikuyu, Karen Blixen đã dùng một giọng văn vừa trang trọng vừa thân mật để khắc họa nhân vật này. Trang trọng, bởi sức mạnh tinh thần, uy vọng, tính biểu tượng quyền lực mà Kinanjui đã tạo ra trên cộng đồng của mình, và tạo ra trên chính cảm quan của một người phương Tây như bà.
Thân mật, bởi với tư cách một chủ đồn điền, Karen Blixen được tiếp xúc gần với biểu tượng quyền lực ấy, được suồng sã hóa nhân vật và phát hiện ra, bằng con mắt duy lý châu Âu, những nét “nghịch” vừa tức cười vừa đáng yêu của vị “hoàng đế đen”. Nhưng trên hết, là niềm tự hào của bà khi được làm bạn với Kinanjui. Điều đó thể hiện trên văn tự ghi nhận thỏa thuận đền bù giải quyết một vụ tai nạn súng săn ở đồn điền: sau dấu tay của thủ lĩnh Kinanjui là dòng chữ: “Tôi đã chứng kiến bò mẹ và bê con được giao cho Wainana. Nam tước phu nhân Blixen”. 
Đặc biệt, Karen Blixen có những trang viết thăng hoa và vô cùng kỳ thú khi bà mô tả và nhận định về phong tục, tập quán, thói quen tư duy và các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của người châu Phi bản địa. Trong chương “Những vũ hội lớn” thuộc phần III của tác phẩm, Karen Blixen đã mô tả các “Ngoma”, đại vũ hội, của người Kikuyu ở Nairobi thuộc Kenya, một cách đầy say mê. Không chỉ vì nó lạ – mặc dù lạ là một yếu tố cần thiết để thu hút sự chú ý – mà chủ yếu là vì nó đẹp, trong cảm quan của bà.
Dù “Ngoma” ban ngày hay “Ngoma” ban đêm, bà luôn nhận thấy ở đó, từ cách trang điểm của người dân bản địa tham gia vũ hội, cách họ bài trí không gian, đến những vũ điệu và những giai điệu mà họ thể hiện, một triết lý nhân sinh và một triết lý thẩm mỹ mang tinh thần thượng đẳng chứ không phải trò múa may kỳ dị của đám dân thuộc địa mọi rợ thấp kém. (Cái cảm quan này khiến ta phải nghĩ đến nhà dân tộc học người Pháp Jacques Dournes, một “ông Tây” chính hiệu đã mê mẩn cao nguyên trung phần ở Việt Nam đến mức sống ở Tây Nguyên, tự biến mình thành người Tây Nguyên, và viết về người J’rai Tây Nguyên một cách đầy trân trọng).
Từ một phía khác, với “Châu Phi nghìn trùng”, Karen Blixen còn thể hiện tình  cảm gắn bó thân thuộc của một người châu Âu chính gốc với lục địa đen, như với quê hương thứ hai của mình. Tình cảm này, như đã nói ở trên, được hình thành chủ yếu từ chính sự tác động mạnh mẽ của thiên nhiên, con người và văn hóa châu Phi đến trí tuệ và tâm hồn của Karen Blixen. Nhưng nó cũng còn được bồi đắp bởi những yếu tố khác nữa, nhất là cuộc đời của những người châu Âu bạn bà, những người đã dạt đến châu Phi, đã sống, đã chết và gửi thân xác mình vào đất đai của xứ sở huyền bí này.
Karen Blixen kể với chúng ta về hai con người rất đáng chú ý: già Knudsen, tay phiêu lưu mù lòa người Đan Mạch đã đến tá túc ở đồn điền của Karen Blixen lúc cuối đời, và Denys Finch Hatton, một quý tộc người Anh, bạn thân, và cũng có thể là tình nhân của bà. Hai người khác nhau hoàn toàn về nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, sở thích cá nhân, các phẩm tính ưu trội và cách mà họ tồn tại trên đời.
Già Knudsen là một tay vô sản, vô thần, vô chính phủ, bán giời không văn tự, như tác giả mô tả: “Knudsen là người nổi loạn bẩm sinh, ông nhìn thấy đồng đội ở mọi kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Với ông, một việc làm anh hùng là một hành động bất tuân lề luật. Ông ưa đề cập tới vua chúa cùng hoàng gia, các nghệ sĩ tung hứng, các chú lùn hay kẻ điên loạn, bởi xem họ nằm ngoài vòng luật pháp, cũng như về tội ác, cách mạng, thủ đoạn gian trá và trò chơi khăm, vì chúng bỉ báng mọi thiết chế. Trái lại, các công dân mẫu mực khiến ông hết mực khinh bỉ, và lối sống tôn trọng các giới luật, trong mắt ông, là dấu hiệu của thứ đầu óc ngu muội”.
Còn Denys Finch Hatton lại là một phần tử thuộc tầng lớp trên, một điền chủ giàu có, giàu tâm hồn nghệ sĩ, một nhà thể thao xuất chúng. Cái khác biệt của Denys không phải là đi ngược các quy tắc xã hội, mà là vượt lên trên tất cả để sở hữu sự hoàn hảo đáng ngưỡng mộ. Với già Knudsen, có thể nói, Karen Blixen nhận ra một phiên bản châu Phi ở tầng thấp, tầng của những bản năng bất tuân, chống đối, sục sôi cuồng nộ, luôn sẵn sàng cho những thể nghiệm điên rồ.
Còn với Denys, Karen Blixen lại khám phá một châu Phi ở tầng cao: những chuyến bay cùng Denys trên chiếc máy bay thể thao của ông đã giúp bà có những trải nghiệm tuyệt vời về cái lồng lộng vĩ đại của bầu trời và mặt đất châu Phi, những chuyển động và các sắc độ của không gian, và trên hết là cảm giác tự do, là sự dứt tung mọi ràng buộc kìm nén mà người ta vốn vẫn phải chấp nhận để có thể sống được ở đời.
Hai con người ấy, hai cuộc đời được/ bị đẩy đến châu Phi theo ngọn triều của chủ nghĩa thực dân, rốt cuộc đều vùi xác vào đất cát của lục địa đen. Cái chết của họ để lại cho Karen Blixen những nỗi buồn thương to lớn, nhưng cũng chính vì thế mà nó xiết chặt thêm sự gắn bó của bà với châu Phi, để khi rời xa, nó đã kịp trở thành những di sản vô giá trong ký ức bà.
Châu Phi, nơi Karen Blixen đã đến với một trời hy vọng và đã rời khỏi với một trời thất vọng, cay đắng. Vì thất bại trong cuộc sống. Vì sự sụp đổ của lý tưởng. Nhưng bù lại, bà có mười tám năm trải nghiệm trong lòng châu Phi, một lục địa dù đang bị các đế quốc phương Tây xâu xé, đang bị chiến tranh và khủng hoảng kinh tế tàn phá, đang bị văn minh công nghiệp bóp nghẹt, thì nó vẫn cứ là một thế giới bí ẩn và đầy quyến rũ đối với bà. “Châu Phi nghìn trùng” của Karen Blixen – Isak Dinesen, một thiên hồi ức cảm động, vừa là văn chương, vừa mang dáng dấp một bút ký dân tộc học khác lạ.
26/9/2022
Hoài Nam
Theo https://vanhocsaigon.com/

Viết lách và nơi chốn

Viết lách và nơi chốn

Abdulrazak Gurnah sinh năm 1948 ở Zanzibar và đến Anh năm 1968 như một người tị nạn. Là tác giả của mười cuốn tiểu thuyết, ông được trao giải Nobel văn chương năm 2021. Ông cũng là một nhà phê bình văn học và là giáo sư hưu trí tại Đại học Kent. Trong tiểu luận dưới đây, đăng lần đầu trên tờ Wasafiri năm 2004, Gurnah miêu tả quá trình ông trở thành nhà văn trong và sau khi thoát khỏi hỗn loạn và bạo lực ở Zanzibar sau khi chế độ thực dân chấm dứt và khám phá những mánh lới không thể đoán trước mà ký ức có thể bày trên người di dân.
Những năm đầu sống ở Anh, hồi đâu 21 tuổi, đó là khi tôi bắt đầu viết. Nói một cách nào đó nó là thứ mà tôi vấp phải hơn là sự hoàn thành một kế hoạch. Trước đó tôi có viết, khi còn là một cậu học sinh ở Zanzibar, nhưng những cố gắng tập tọe ấy là những trò đùa vui, bông phèng, để giải trí cho bạn bè và đọc trong các buổi ôn tập ở trường, làm theo ý thích, hoặc để lấp đầy những lúc rảnh rỗi hoặc để khoe khoang. Tôi chưa bao giờ nghĩ đó là mào đầu cho bất cứ điều gì, hay nghĩ về bản thân mình như một người khao khát trở thành một nhà văn.
Tiếng mẹ đẻ của tôi là Kiswahili, và không như nhiều thứ tiếng châu Phi khác, nó là một ngôn ngữ viết có trước thời thực dân châu Âu, tuy nói thế không có nghĩa đây là phương thức văn chương chủ đạo. Những ví dụ đầu tiên của loại chữ viết này có từ cuối thế kỷ 17, và hồi tôi còn thiếu niên, chữ viết ấy vẫn có ý nghĩa, vẫn được dùng làm chữ viết cũng như là một phần của ngôn ngữ truyền miệng. Song các tác phẩm đương đại viết bằng tiếng Kiswahili duy nhất mà tôi biết là những bài thơ ngắn đăng trên báo, hay các chương trình đọc truyện phổ biến trên đài phát thanh, họa hoằn lắm mới có một tập truyện. Nhiều tác phẩm trong số đó có một khía cạnh đạo đức hay hoạt kê nhằm mục đích phục vụ cho sự tiêu dùng đại chúng. Những người viết chúng cũng làm những công việc khác: họ làm giáo viên hay có lẽ công chức. Đó không phải là thứ mà tôi nghĩ mình có thể làm, hay nên làm. Từ đó trở đi đã có những bước phát triển mới trong sáng tác bằng tiếng Kiswahili, nhưng tôi đang nói về nhận thức của mình khi ấy. Tôi chỉ có thể nghĩ về việc viết như là hoạt động không thường xuyên và khô khan một cách mơ hồ này, và tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc thử sức với nó ngoài cái cách bá láp mà tôi vừa nói.
Dẫu sao, cái lúc rời bỏ quê hương, tham vọng của tôi rất đơn giản. Đó là khoảng thời gian của khó khăn và lo lắng, của sự khủng bố nhà nước và những sự sỉ nhục có tính toán, và ở tuổi 18, tất cả những gì tôi muốn là bỏ đi và tìm sự an toàn và no đủ ở một nơi khác. Tôi không thể xa rời cái ý tưởng viết lách hơn thế. Bắt đầu suy nghĩ khác đi về việc viết ở Anh mấy năm sau đó phần nào là do già đi, suy nghĩ và lo lắng về những thứ tưởng chừng như không phức tạp trước đây, nhưng phần lớn là do cảm giác xạ lạ và khác biệt choáng ngợp mà tôi cảm thấy ở đó.
Quá trình này có một cái gì đó ngần ngừ và mò mẫm. Không phải tôi nhận thức được chuyện gì đang xảy ra với mình mà quyết định viết về nó. Tôi bắt đầu viết một cách linh tinh, trong một chút khổ sở, không có tí kế hoạch nào mà bị thúc ép bởi cái ham muốn phải nói nhiều hơn. Dần dà, tôi tự hỏi cái mình đang làm là cái gì, nên tôi phải dừng lại và cân nhắc. Rồi tôi nhận ra mình đang viết từ ký ức, cái ký ức ấy mới sống động và choáng ngợp biết bao, xa rời sự tồn tại nhẹ bỗng một cách xa lạ những năm đầu tôi ở Anh biết bao. Sự xa lạ ấy càng nhấn mạnh cảm giác về một cuộc sống bị bỏ lại phía sau, về những con người bị bỏ lại một cách ngẫu nhiên và vô tâm, một nơi chốn, một cách sống bị mất đi đối với tôi mãi mãi, lúc đó nó là như thế.
Khi mới viết, cuộc sống đã mất là cái mà tôi viết về, chốn đã mất và tôi nhớ được gì về nó. Một cách nào đó, tôi cũng viết về việc sinh sống ở Anh, hay ít nhất, một nơi nào đó không có gì giống như cái nơi chốn trong ký ức của tôi, một nơi đủ an toàn và đủ xa xôi khỏi những gì tôi đã bỏ lại để lấp đầy tôi bằng những tội lỗi và những tiếc nuối không sao hiểu nổi. Viết, lần đầu tiên tôi thấy mình bị đè nặng dưới nỗi cay đắng và vô ích của những quãng thời gian gần đây mà chúng tôi đã sống qua, dưới tất cả những gì chúng tôi đã làm khiến quãng thời gian ấy đổ lên chính mình, và dưới cái mà khi ấy có vẻ là một cuộc sống phi thực một cách kỳ lạ ở Anh.
Có một logic quen thuộc trong ngã rẽ này. Đi xa nhà đem lại khoảng cách và phối cảnh, cũng như một mức độ biên độ và sự giải phóng. Nó khuếch trương hồi ức, vùng đất nội địa của nhà văn. Khoảng cách cho phép nhà văn có sự giao tiếp gọn ghẽ với cái tôi bên trong, và kết quả là một cuộc chơi tự do hơn của trí tưởng tượng. Đây là một lập luận xem nhà văn như một vũ trụ tự cung tự cấp, tốt nhất là nên được bỏ lại làm việc trong sự cô lập. Một ý tưởng lỗi thời, bạn có thể nghĩ như vậy, một sự tự cường điệu hóa, bi kịch hóa kiểu lãng mạn thế kỷ 19, nhưng nó là một ý tưởng vẫn còn sức hấp dẫn, và vẫn tồn tại theo nhiều cách khác nhau.
Nếu một cách xem khoảng cách là hữu ích cho nhà văn hình dung họ như một thế giới đóng thì một lập luận khác cho rằng sự dời chỗ là cần thiết, rằng nhà văn tạo ra tác phẩm có giá trị trong cô lập vì khi đó anh ta được giải phóng khỏi những trách nhiệm, những sự gần gũi làm câm lặng và pha loãng những gì cần nói, nhà văn như là anh hùng, như là kẻ nhìn thấu sự thật. Nếu cách nhìn thứ nhất về mối quan hệ giữa nhà văn với nơi chốn mang âm hưởng của chủ nghĩa lãng mạn thế kỷ 19, thì cách thứ hai gợi nhớ các nhà hiện đại chủ nghĩa của các thập niên đầu đến giữa thế kỷ 20. Nhiều nhà văn lớn của chủ nghĩa hiện đại Anh đã viết xa nhà để viết trung thực hơn như là họ thấy, để thoát khỏi bầu không khí văn hóa mà họ xem là làm người ta u mê.
Cũng có một lập luận theo cách khác, rằng khi bị cô lập giữa những người xa lạ, nhà văn sẽ đánh mất đi cảm giác về sự cân bằng, về con người cũng như về mức độ liên quan và sức nặng trong nhận thức của nhà văn về họ. Điều này được cho là đặc biệt đúng trong thời đại hậu đế quốc của chúng ta, và đúng đối với các nhà văn từ các nước thuộc địa cũ của châu Âu. Chủ nghĩa thực dân tự hợp thức hóa bản thân bằng cách viện đến một hệ thống thứ bậc giữa các chủng tộc, vốn tìm được hình thức cho mình trong nhiều câu chuyện kể về văn hóa, kiến thức và sự tiến bộ. Nó cũng làm những gì có thể để thuyết phục người dân ở các nước thuộc địa tin vào câu chuyện ấy. Có vẻ như mối nguy đối với nhà văn hậu thuộc địa là nó có thể đã có tác dụng, hoặc có thể sẽ có tác dụng trong sự xa lánh và cô lập của cuộc sống của một người xa lạ ở châu Âu. Nhà văn đó khi ấy rất có thể sẽ trở thành một émigré đầy phẫn uất, chế giễu những kẻ bị bỏ lại phía sau, được cổ vũ bởi các nhà xuất bản và những độc giả vẫn chưa từ bỏ một thái độ thù địch không thừa nhận đối với các dân tộc thuộc địa, những người sẵn lòng tưởng thưởng và ca ngợi bất cứ tình cảnh ngặt nghèo nào ở thế giới ngoài châu Âu. Theo lập luận này, viết giữa những người xa lạ có nghĩa là phải viết một cách nghiệt ngã để có được sự tin cậy, lấy sự tự khinh miệt làm thước đo sự thật, hoặc không sẽ bị xem là một kẻ lạc quan sến súa.
Cả hai lập luận – khoảng cách là sự giải phóng, khoảng cách là sự bóp méo – đều là những sự đơn giản hóa, tuy điều đó không có nghĩa là chúng không chứa những dấu vết của sự thật. Tôi đã sống cả cuộc đời trưởng thành xa đất nước tôi sinh ra, bây giờ tôi không thể hình dung mình có thể đã có một cuộc sống khác như thế nào nữa. Có những lúc cố làm như vậy, tôi thất bại bởi không thể giải quyết các lựa chọn giả định mà tôi bày ra cho chính mình. Thành thử, viết trong lòng nền văn hóa của mình, lịch sử của mình, không phải là một khả năng, và có lẽ nó không phải là một khả năng đối với bất cứ nhà văn nào theo bất cứ ý nghĩa sâu xa nào. Tôi biết tôi đã đến với việc viết lách ở Anh, trong sự xa lánh, và giờ tôi nhận ra cái tình cảnh xa một nơi và sống ở một nơi khác chính là chủ đề của tôi trong nhiều năm, không phải như một kinh nghiệm duy nhất mà tôi đã trải qua, mà như một trong những câu chuyện của thời đại chúng ta.
Cũng chính ở Anh mà tôi có cơ hội đọc rộng. Ở Zanzibar, sách thì đắt, có rất ít hiệu sách và chúng thì cũng nghèo nàn. Các thư viện cũng rất ít, sơ sài và cũ kỹ. Trên hết, tôi không biết mình muốn đọc gì, và cứ thế đọc những gì lọt vào mắt theo cái cách lộn xộn của nó. Ở Anh, cơ hội đọc dường như là vô tận, và dần dần tiếng Anh đến với tôi như một ngôi nhà rộng rãi và nhiều phòng, chứa đựng sự viết và kiến thức với lòng vô tư hiếu khách. Đây cũng là một con đường khác đến với việc viết. Tôi tin rằng các nhà văn đến với việc viết thông qua việc đọc, rằng từ quá trình tích lũy và bồi tụ, từ những tiếng vọng và sự lặp lại, mà họ tạo nên một chất giọng. Chất giọng này là một vấn đề tế nhị và tinh tế, không phải lúc nào cũng là một phương pháp có thể miêu tả được. Phê bình văn học giáo dục chúng ta về những văn bản và những ý tưởng đằng sau đó, nhưng tôi không nghĩ rằng thông qua phê bình mà nhà văn tìm thấy cái giọng viết mà tôi đang nói. Cái đó đến từ những nguồn khác, mà trọng tâm là đọc.
Nền giáo dục mà tôi thụ hưởng ở Zanzibar là một nền giáo dục thuộc địa Anh, cho dù đến những giai đoạn cuối của nó chúng tôi đã có một thời gian ngắn là một nhà nước độc lập, thậm chí một nhà nước cách mạng. Có lẽ đúng là hầu hết những người trẻ đi học đều tiếp thu và lưu trữ những kiến thức không có ý nghĩa gì đối với họ vào thời điểm đó. Tôi nghĩ nó có lẽ còn khó hiểu hơn đối với chúng tôi. Quá nhiều điều chúng tôi được học khiến chúng tôi trông như là những người tiêu dùng ngẫu nhiên của thứ vật chất vốn dành cho người khác. Nhưng cũng như đối với những học sinh khác, từ tất tật những cái đó cũng cho ra một điều gì hữu ích. Những gì mà tôi học được từ ngôi trường này cũng là cách mà người Anh nhìn thế giới và cách họ nhìn tôi. Tôi không nhận ra được điều này ngay lập tức, mà theo thời gian và hồi ức, và dưới việc học tập khác. Nhưng đó cũng không phải là việc học tập duy nhất của tôi.
Tôi cũng học từ nhà thờ, từ kinh Koran, từ đường phố, từ nhà và từ cách đọc loạn của chính mình. Và những gì tôi học được ở những nơi khác đôi khi hoàn toàn trái ngược với những gì tôi đã học ở trường. Nghe có vẻ khập khiễng thế thôi nhưng nó không đến thế đâu, tuy đôi lúc nó cũng đầy đau đớn và tủi hổ. Theo thời gian, việc giải quyết những câu chuyện mâu thuẫn theo cách ấy đối với tôi đã trở thành một quá trình đầy động lực. Từ đó mà có năng lượng để từ chối và chối bỏ, để học cách giữ lấy sự nghi ngờ. Từ đó mà có một cách để thích nghi và tính đến sự khác biệt, một cách chứng thực cái khả năng là có những cách hiểu biết phức tạp hơn.
Vì vậy, khi đến với việc viết, tôi không thể cứ thế hòa vào đám đông và hy vọng rằng với may mắn và thời gian, giọng nói của tôi có thể sẽ được lắng nghe. Tôi phải viết với sự hiểu biết rằng đối với một số độc giả tiềm tàng, có một cách nhìn nhận về tôi mà tôi phải tính đến. Tôi nhận thức được rằng tôi sẽ bày mình ra trước những độc giả mà có lẽ coi bản thân họ là chuẩn mực, không dính dáng đến văn hóa hay sắc tộc, không có sự khác biệt. Tôi tự hỏi phải kể bao nhiêu, phải giả định bao nhiêu kiến thức, câu chuyện của tôi có thể hiểu được đến đâu nếu tôi không làm như thế. Tôi tự hỏi làm thế nào để làm tất cả những điều này và viết tiểu thuyết.
Lẽ dĩ nhiên, tôi không phải độc nhất trong cái kinh nghiệm này, dẫu những chi tiết thì luôn luôn cảm giác như là độc nhất khi bạn nghiền ngẫm chúng. Những vấn đề mà tôi nêu ra không phải những vấn đề mới. Song nếu chúng không phải là mới thì nhất định chúng đã bị ảnh hưởng bởi cái đặc thù, bởi chủ nghĩa đế quốc, bởi sự trật chỗ, bởi những thực tế của thời đại chúng ta. Và một trong những thực tế của thời đại chúng ta là sự bán xới của rất nhiều người lạ đến châu Âu. Những vấn đề ấy thành ra không chỉ là mối quan tâm của tôi. Trong khi tôi chật vật với chúng thì những người khác, cũng là những người lạ ở châu Âu, đang giải quyết những vấn đề tương tự với thành công vang dội. Thành công lớn nhất của họ là giờ đây chúng ta đã có một hiểu biết tinh tế và tế nhị hơn về câu chuyện và cách mà nó dịch chuyển và chuyển dịch, và hiểu biết ấy đã làm cho thế giới trở nên ít khó hiểu hơn, đã làm nó nhỏ bé hơn phần nào.
27/9/2022
Abdulrazak Gurnah
Nguyễn Huy Hoàng dịch
Nguồn: Tuổi Trẻ cuối tuần
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chi tiết - Yếu tố quyết định truyện ngắn hay

Chi tiết - Yếu tố quyết định truyện ngắn hay Những người làm công tác biên tập ở các tờ báo văn nghệ thường hay nhận được những câu hỏi từ...