Thế Lữ - Người khai sáng
phong trào Thơ mới
Thế Lữ trước sau vẫn
được coi là người cách tân số một của thơ Việt Nam thế kỷ XX. Có ông, thơ Việt
yên tâm khép lại cổ điển mà mở vào lãng mạn.
Tròn trăm năm tính từ năm
1907, đầu năm (20.1) Tú Xương tạ thế (theo ngày âm là rằm tháng chạp Bính Ngọ,
Thành Thái thứ 18) và gần cuối năm (6.10) Thế Lữ ra đời. Lúc ấy không ai
nghĩ rằng hai con người có năm mất năm sinh kế nhau ấy lại là mối giao nhau
tiêu biểu của hai thời đại thơ ca dân tộc. (Khoảng giữa bài thơ cuối của Tú
Xương và bài thơ đầu của Thế Lữ có thể kể đến các bài thơ của Tản Đà. Tản Đà có
18 năm thở chung khí quyển với Tú Xương và 32 năm chung với thế Lữ).
Thi sĩ Thế Lữ
(1907-1989)Thế Lữ (1907-1989) tên thật là Nguyễn Thứ Lễ. Thứ Lễ đọc lái đi thì
thành Thế Lữ và có nghĩa là cái quán trọ của đời người (coi đời người như quán
trọ?). Sinh ra ở Hà Nội, trải qua tuổi thơ ở Lạng Sơn, nơi cho ông những ấn tượng
thâm u của truyện đường rừng và của thơ nhớ rừng sau này. 9 tuổi về Hải Phòng học
trung học. Năm 23 tuổi thi vào trường Mỹ thuật nhưng thôi học ngay năm đầu. Sau
đó viết truyện và làm thơ. Truyện của ông hấp dẫn vì tính chất bí ẩn và suy luận
trinh thám. Từ năm 1942 ông sang kịch và ở lại đó cho đến khi mất. Đóng góp của
ông cho sân khấu kịch nói là tư cách khai sáng cho bộ môn này.Về thơ, trong khoảng
7 năm sáng tác (1933-1941) chỉ in có hai tập, đúng ra là một tập, Mấy vần
thơ (1935) sau bổ sung thành Mấy vần thơ Tập mới (1941)
nhưng lại có ý nghĩa khai sinh một chặng phát triển mới cho cả nền thơ Việt.
Ông là người khởi xướng thành công phong trào Thơ Mới. Đầu những năm 30, thơ cũ
theo luật Đường không còn đủ sức phô diễn những tình cảm mới. Ngay Tản Đà cũng
đã phải có những yếu tố cách tân. Đến năm 1932 thì một loạt thi sĩ mang vào thơ
những thay đổi cả vể nội dung lẫn hình thức. Những cuộc tranh luận giữa mới cũ
diễn ra sôi nổi. Thế Lữ không tham gia tranh luận mà lặng lẽ làm thơ theo lối mới.
Khi tập Mấy vần thơ của ông ra đời thì phái thơ cũ không còn
lý lẽ để công kích thơ mới nữa. Với Thế Lữ, lần đầu công chúng thơ được nếm một
thi vị hoàn toàn mới mẻ, một dạng xúc động mới, một chất tâm hồn mới. Ngôi thứ
đầu bảng của Thế Lữ đã được công nhận ngay từ những năm ấy và thể hiện khá rõ
khi nhìn lại trình tự xuất hiện các tập thơ tiêu biểu:– Năm 1935: Mấy vần
thơ của Thế Lữ– Năm 1937: Tiếng thu của Lưu Trọng
Lư, Điêu tàn của Chế Lan Viên và bốn bài của TTKh trên Tiểu
thuyết thứ bảy
– Năm 1938: Thơ
thơ của Xuân Diệu
– Năm 1940: Lửa
thiêng của Huy Cận và Thơ say của Vũ Hoàng Chương
Điều có ý nghĩa với hôm
nay, khi thơ đương thời cũng đang có nhu cầu đổi mới, đổi mới trong nội dung và
cả cách làm ra nội dung ấy, là thấy rõ hơn cái khoảng cảm xúc mà Thế Lữ đã mở
ra, cái cách ông nới rộng thêm hồn thơ và từ đó mà thay đổi bút pháp. Cảm hứng
của thơ cổ điển, tạm lấy cụ thể một Tú Xương khi ấy, thường phát sinh từ những
chuyện đời, việc người của cuộc sống vật chất cụ thể bao quanh tác giả. Một cảnh
“Bức sốt mà mình vẫn áo bông”, một nỗi lòng thương vợ dội lên từ
tình cảnh “Quanh năm buôn bán ở mom sông”… Ngay với những đề tài tưởng
đã là tâm trạng lắm, hư ảo lắm như tiếng gọi đò ban đêm bên con sông đã lấp thì
vẫn cứ tựa vào sự kiện thực là con sông Lấp và rộng hơn, là một cõi lòng công
dân vừa mất nước. Thơ cứ phải “Có tích mới dịch nên tuồng”. Và từ
tích nên tuồng, thơ hình thành qua một hệ thống thao tác tư duy hợp lôgíc, hợp
quy luật tâm lý, hướng tới ý tưởng toàn cục, giữ tính nhất quán trên dưới, cân
đối trước sau. Tính quy phạm của bút pháp dù tự nhiên, hồn nhiên vẫn luôn luôn
được tôn trọng. Mà đấy chính là tài năng của các nhà thơ cổ điển. Tú Xương dù
đã là một cá tính phóng túng, một tính cách đã gần lắm với người thị thành hiện
đại, thế mà ngay cả trong những bài thơ bỡn cợt, hóm hỉnh ví dụ như bài Ngày
xuân bỡn làng thơ:
Ngày ba tháng tám thấy
đâu mà
Sao đến ngày xuân lắm thế
a
Ý hẳn thịt xôi lèn chặt dạ
Cho nên con tự mới thòi
ra
vẫn giữ đầy đủ những quy
luật của tư duy thơ quy phạm với cách biểu hiện tung hứng nhân quả, đối ứng tề
chỉnh.
Cảm hứng thơ Thế Lữ không
còn như thế nữa. Ông không phản ánh hiện thực, ông chỉ phản ánh tâm hồn mình.
Mà cái cõi tâm hồn ấy không phải lúc nào cũng cứ phải liên hệ chằng chằng với
hiện thực, như bóng với hình. Nó có những so le, những trái khoáy rất không quy
luật với cái hiện thực cụ thể của khoảnh khắc ấy như thuộc tính vốn có của tâm
hồn con người. Bài thơ cất lên tự một cõi riêng, nhiều khi không dính trực tiếp
một – một với thời sự cơm áo gạo tiền, hay với cõi rộng xa vận nước. Mối liên hệ
của tâm và sự trong Thế Lữ, nếu có cũng cách bức hơn nhiều, biện chứng phức tạp
hơn nhiều. Nhiều lúc ngỡ như chuyện trên giời, xa đời, xa mặt đất, bất ngờ và đầy
biến hoá. Do vậy ở vào thời kỳ nhu cầu dùng thơ làm nhiệm vụ thông tin, cổ động,
tổ chức công chúng thành cấp bách, thì người đời không ưa lắm, thậm chí chế giễu
tính vô dụng của thứ thơ lơ mơ này. Xin đơn cử một ví dụ ngẫu nhiên, bài Tiếng
trúc tuyệt vời. Nghe tiếng sáo trúc tác giả cảm nhận “như khua động nỗi nhớ
nhung, thương tiếc”. Thơ phát triển đến đây thì cả cổ điển lẫn lãng mạn như
nhau. Nhưng khi tác giả “buộc” nỗi nhớ nhung thương tiếc vào cái cô vu vơ nào đứng
bên hồ kia, ông đoán chắc cô đang nghĩ ngày vui sẽ mất, sắc đẹp sẽ tàn phai. Rồi
cô man mác, cô bâng khuâng, cô tê tái, cô thổn thức. Ông tác giả lại muốn nâng
“tấm khăn hồng lau mắt lệ” cho cô. Lau mắt lệ mà không chỉ vì nước mắt, mà
chính “vì ta sợ má đào kia phai” thì đa sự quá, chiếu vào đời thực thì
nó là hành động của anh dở người. Nó phi thực. Đặc điểm chủ yếu của chủ nghĩa
lãng mạn chính là phi thực, phóng túng theo cơn tưởng tượng của tình cảm, không
còn lý trí kiểm tra. Nghe tiếng sáo, thấy buồn thì khóc, thấy người đẹp khóc
thì phải xông vào mà lau nước mắt cho người ta mà khăn tay cứ phải màu hồng (“Khóc
như em mấy khăn hồng chả phai” – Nguyễn Bính). Lau nước mắt cho người rồi
mình cũng mưa gió khóc theo. Những tâm hồn kiểu ấy trước Thế Lữ không có trong
thơ Việt. Thế sao bây giờ lại xuất hiện? Ai đặt hàng những mẫu tâm hồn ấy mà
thơ lại chế tác ra và được xã hội tiếp nhận?
Tiếng súng xâm lược đầu
tiên bắn vào Đà Nẵng 1858. Thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai 1883. Hoà ước mất
nước, triều đình Huế kí năm 1884. Kẻ xâm lược bắt tay vào giai đoạn khai thác. Ở
thành thị, phố chợ, nhịp sống tao loạn chuyển dần sang cuộc sống đời thường lo
ăn lo làm, phát triển, lo thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.
Để cải thiện cuộc sống tinh thần của chính mình, con người tìm mọi cách. Có tôn
giáo và có cả mê tín. Có nghệ thuật và đặc biệt là nghệ thuật mơ mộng. Hình
thành nhu cầu mơ mộng để chí ít hưởng thụ trong cõi tinh thần. Đó cũng là kinh
nghiệm của nhân loại. Xã hội Việt Nam ta lúc đó, hình thành lớp người có nhu cầu
đó thì kinh nghiệm đó nhập vào, tự phát lẫn tự giác nhập vào mà hình thành chủ
nghĩa lãng mạn cho thơ. Tác động của hiện thực tới thơ là tác động qua tâm trạng
và đấy là tác động qua tâm trạng và đấy chính là cái cách đê thơ trở nên nhân
văn hơn, thương xót con người hơn.
Thưởng thức Thế Lữ và
cũng để thấy những khai phá của Thế Lữ trong thơ lãng mạn Việt Nam, chúng ta
nên hình dung lại những đòi hỏi tinh thần của lớp người có học trong các nơi đô
hội thời ấy. Một đòi hỏi mơ hồ nhưng bức thiết. Trong tình cảnh ấy, sự đáp ứng
của chủ nghĩa lãng mạn là có ý nghĩa. Nó có sức giải toả những ngột ngạt bức
bách, nó nâng cấp tâm hồn con người. Không nên coi lãng mạn là bài ca đánh lừa,
ru ngủ cơn đói cơn đau. Lãng mạn làm người ta bớt đau và mở rộng lòng yêu. Yêu
cái đẹp của thiên nhiên, đất nước, lòng người. Cụ Hồ Chí Minh năm 1942-1943
trên đường tội tù xiềng xích cũng đã vận dụng chủ nghĩa lãng mạn để tự vui đời,
bài Trên đường (Lộ thượng), bản dịch:
Mặc dù bị trói chân tay
Chim ca rộn núi, hương
bay ngát rừng
Vui say ai cấm ta dừng
Đường xa âu cũng bớt chừng
quạnh hiu.
Chân tay bị trói thì hãy
tìm chỗ kẻ thù không trói được (ở đây là thính giác, khứu giác, ở chủ nghĩa
lãng mạn là mơ mộng) mà hưởng thụ tinh hoa cuộc sống, mà tự diệt khổ. Thơ Cụ Hồ
ở bài này là cổ điển nhưng lại ca ngợi chủ nghĩa lãng mạn trong cuộc sống, coi
nó như một cánh cửa mở vào tự do.
Thế Lữ đã có cách lắng
nghe kỳ diệu những tiếng vọng mơ hồ đầy gợi cảm trong tâm hồn lớp người tuổi trẻ,
những tiếng vọng hình thành từ những đổi thay của lối sống, của lối nghĩ, cách
vui buồn. Mà những đổi thay này bắt nguồn từ những đổi thay của thời thế, không
cưỡng được. Thế Lữ đã phát hiện và diễn tả được cái tâm trạng bâng khuâng man
mác (cụm từ này xuất hiện trong nhiều câu thơ của Thế Lữ và Xuân Diệu đã tách
nó ra để chỉ thuộc tính của thơ Thế Lữ) của những người vừa tách ra khỏi cái tập
thể chung chung mù mờ cảm giác của chế độ phong kiến già nua để tìm lại cá tính
thiên nhiên, tìm lại cảm xúc riêng tư của con người. Tâm trạng phổ biến của những
con người ấy là nỗi bâng khuâng khi đối diện mình với khoảng xa rộng của không
gian, của đời người, của hạnh phúc lứa đôi. Đó là đòi quyền tồn tại của cái cá
thể dưới mặt trời. Thế Lữ thường kí thác niềm bâng khuâng mơ hồ ấy vào cuộc sống
trôi dạt một khách chinh phu “mũ lợt bốn trời sương nắng gội”, hoặc
vào đời một nghệ sĩ “tìm mộng vàng trên cảnh lộng trời mây” cao quý và
đói khổ. Đừng tìm nguyên nhân những đau khổ trong thơ lãng mạn trực tiếp từ xã
hội. Đau khổ sầu muộn sinh ra từ tâm trạng và nương tựa vào những nhân tố rất
vu vơ bất ngờ, không quy luật: “Hay đâu cơn gió lạ đâu đâu/ Thổi lại cho em
những mối sầu”. Sự lắng nghe những gợn nhỏ bé của tâm trạng ấy chính
là dấu hiệu to lớn của một thời đại thi ca mới.
Thế Lữ đắm say trong những
cảm xúc lãng mạn, ông tạo dựng bồng lai và tự kinh ngạc trước vẻ đẹp thần thoại
do chính hồn mình tạo dựng:
Trời cao xanh ngắt – Ô
kìa!
Hai con hạc trắng bay về
bồng lai.
(Tiếng sáo Thiên Thai)
Và:
Ái ân bờ cỏ ôm chân trúc
Sau trúc, ô kìa! Xiêm áo
ai?
(Vẻ đẹp thoáng qua)
Trời xanh hạc trắng ấy là
phi thực. Xiêm áo trút sau tre ấy cũng chỉ trong cõi mộng. Hãy lấy mơ và mộng,
càng hư ảo càng dễ cảm thụ cõi tinh vi huyền diệu của thơ Thế Lữ. Thói quen cảm
nhận phẩm chất thơ quá câu nệ vào hiện thực, có thể dẫn đến những suy diễn lệch
lạc về thơ Thế Lữ. Tôi xin phép mạnh dạn thú nhận một băn khoăn của riêng mình
về cách hiểu bài thơ vào loại hay nhất của Thế Lữ, bài Nhớ rừng.
Bài thơ mượn lời con hổ ở
vườn Bách thú “gặm một khối căm hờn trong cũi sắt” nằm nhớ cảnh rừng
xưa, thuở hổ tự do tung hoành giữa cõi “sơn lâm bóng cả cây già/ Với tiếng
gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi”. Hình bóng chúa sơn lâm được đặc tả,
đẹp và oai, rất tạo hình, bắt đầu là bàn chân chắc nặng móng vuốt dũng mãnh,
sau là tấm thân sóng cuộn đường hoàng. Cảnh sống oai hùng và thơ mộng của chúa
sơn lâm đầy chi tiết tráng lệ, phi thường trong hơi thơ anh hùng ca âm vang hào
sảng. Nghệ thuật của thi pháp Thơ mới như ở đoạn giữa bài thơ này thì không một
tài năng cổ điển nào bài xích nổi. Say đắm thơ, say đắm tâm hồn yêu tự do của
loài hổ, không ít nhà nghiên cứu khẳng định mối tương quan của thân phận con hổ
trong chuồng sắt với thân phận mất độc lập tự do của dân tộc ta: “Vận vào những
cái “Thời oanh liệt” đầy những chiến công chói lọi của Lý Thường Kiệt, Trần
Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung thì lại càng thấy hùng tráng và tự hào. Càng nhớ
đến “thời oanh liệt” càng thấy uất ức phải bị tù hãm, xung quanh toàn là những
cái tầm thường nhỏ nhen ngang trái của người dân mất nước, và nhiều nhà nghiên
cứu đã có lí khi xếp nó (tức bài Nhớ rừng- VQP) vào xu hướng lãng mạn cách mạng
rất hiếm hoi trước Cách mạng tháng Tám”.
Hãy đọc bài thơ, nếu con
hổ nhớ rừng là biểu hiện khát vọng tự do của dân ta trong cảnh bị người đô hộ,
thì giải thích ra sao tính thống nhất của hình tượng, khi chính con hổ ấy lại đầy
tham vọng thống trị khắc nghiệt tàn bạo cả muôn loài:
Trong hang tối, mắt thần
khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều
im hơi
Ta biết ta chúa tể cả
muôn loài.
Bài Nhớ rừng thực
chất là một tuyên ngôn của chủ nghĩa lãng mạn, không chấp nhận cái tầm thường
(“Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng/ Dải nước đen giả suối chẳng thông
dòng/ Len dưới nách những mô gò thấp kém…”) để đòi cái phi thường, phi
thực (“Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi” hoặc với “những
đêm vàng bên bờ suối/ Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan” và “những ngày
mưa chuyển bốn phương ngàn/ Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”…). Thế giới
lãng mạn của Thế Lữ gần với tiên cảnh, gần với Thiên Thai, với “Tiên nga xoã
tóc bên nguồn”, với “Ngọc nữ uốn mình trong không”. Tạng lãng mạn của
ông là vậy. Người đọc nên nhập gia tuỳ tục, đừng ép ông phải chặt cánh phóng
túng của cơn mơ để vừa với cái khuôn thực dụng của thời mình.
Trong cách kết cấu bài
thơ, cách làm câu, Thế Lữ xuất phát từ nhiều điệu thơ dân tộc lăn lóc trong văn
học dân gian, kết hợp với kỹ thuật thơ Pháp mà dấu tích khá rõ trong lối thơ vắt
dòng để tạo nên thể thơ uyển chuyển biến hoá không cùng theo tâm trạng, đáp ứng
được mong ước của Tản Đà hồi nào “phá cách vứt điệu luật”.
Nghệ thuật ngôn ngữ, âm
điệu, hình ảnh… ở Thế Lữ đã đạt tới độ tinh xảo đủ để chuyên chở cái cõi mộng của
hồn ông. Hơn hai phần ba thế kỷ đi qua, nay đọc lại vẫn còn nguyên mới mẻ.
Tả âm thanh:
Êm như hơi gió thoảng
cung tiên
Cao như thông vút, buồn
như liễu
Nước lặng, mây ngừng, ta
đứng yên
(Tiếng gọi bên sông)
Lưu khoảnh khắc:
Mây hồng ngừng lại sau
đèo
Mình cây nắng nhuộm, bóng
chiều không đi
(Tiếng sáo Thiên Thai)
Thế Lữ không đi tận cùng với thơ. Những nhà thơ xuất hiện sau ông, được ông giới thiệu, nâng đỡ đã có những thành tựu vượt qua ông. Xuân Diệu mơ mộng, say đắm nhưng không cần lên tiên, cứ gắn vào mặt đất mà nồng nàn, càng nồng. Huy Cận vừa thâm trầm vừa rộng xa, từ hoa đại lãng mạn mà nhập vào triết học, lấy cảm xúc đo kích thước của hư vô… Nhưng Thế Lữ trước sau vẫn được coi là người cách tân số một của thơ Việt Nam thế kỷ XX. Có ông, thơ Việt yên tâm khép lại cổ điển mà mở vào lãng mạn. Kinh nghiệm cách tân thành công của ông xuất phát từ đáp ứng yêu cầu đích thực của tâm hồn con người thời ông và kết thúc bằng sức thuyết phục của tài năng ông.
7/11/2022
Vũ Quần Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét