Thế Tâm Nguyễn Khắc
Dương:
Thương người như thể thương thân
Đến giữa đời với đôi bàn tay trắng và đến cùng, Thế Tâm vẫn trắng đôi bàn tay giữa đời. Song, người thật sự là “Người lữ hành hạnh phúc”. Tha nhân nhìn thấy hạnh phúc hồng ân ở Thế Tâm cũng như đã nhận được hồng ân kia từ tấm lòng Thế Tâm mang lại. Dẫu đôi bàn tay trắng – mỗi bàn tay có năm ngón tay, thụ đắc bởi mười bốn lóng – Thế Tâm, hoàn toàn tắm mát cuộc đời mình nơi hồng ân nhiệm màu không thể nghĩ tả, không thể lý giải nổi…
Mai sau cát bụi hoàn
nguyên thể
Nguyện lót êm chân khách
vỉa hè
(Thế Tâm Nguyễn Khắc
Dương)
Bước đường đời trải qua
thế sự, lăn trở giữa nhân tâm thời tao loạn cho đến khi thoát khỏi cảnh ngộ
“Chim chiều lữ thứ cô đơn/Về đâu giữa chốn hoàng hôn quê người”(1),
tài sản riêng của GS. Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương (Khoa trưởng Trường Đại học Văn
khoa, Viện Đại học Đà Lạt) chỉ có chiếc radio đã cũ (mua lại của GS. Lý Chánh
Trung), vài bộ quần áo nhàu nhĩ bạc thếch màu thời gian. Nhưng, người giáo sư
Triết học ấy, đã gieo hạt bác ái lẫn mầm từ bi cho những môn sinh nghèo khó,
cho giới lao động bình dân khốn cùng. Để rồi, “Trải qua một cuộc bể dâu”(Truyện
Kiều – Nguyễn Du), hạt giống khiêm nhường bác ái lẫn mầm từ bi triển nở
giữa đời thường trong cuộc sống muôn nơi. Và, có lẽ, Thế Tâm, hạnh phúc
nhất – Người gieo hạt – , theo nghĩa lý căn cơ của từ ngữ đó. Niềm lạc phước bất
tận… bất tận giữa bác ái bốn phương kết quả!
Cùng giở từng trang hồi ức,
người đọc sẽ nhận thấy, chất giọng ôn tồn, điềm đạm, chân tình, và cũng rất nhẹ
nhàng của Thầy dạy học – vỏn vẹn ba mùa xuân nữa là bước vào cõi trăm năm – người
đọc hồi ức cơ hồ như nghe lời người viết thì thầm truyền cảm hứng từng chặng đường
đời khổ đau và hạnh phúc; nỗi thăng trầm, được mất; đường tu và nẻo thế tục…
Dòng hồi ức hòa và quyện theo dòng thời gian tiệp màu trời Tây cùng dải đất Việt
Nam ngót nghét một thế kỷ. Đời sống xô bồ, nhịp sống hối hả… sẽ giúp người đọc
thú vị và sâu lắng khi có thể nhập cuộc với tâm tư Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương
qua từng trang hồi ức mà trăm năm sau, chắc gì được tái hiện lại!?.
1. Tình thương với tha
nhân
Từ thơ ấu, cảm nghiệm đầu
đời dưới mái cổ tự khiến lòng trẻ khắc khoải nỗi niềm siêu hình. Trên đường tìm
một đường tu khả dĩ, Thế Tâm đến với hồng ân và tắm mình trong tình yêu thương
trọn vẹn. Tình yêu thương ấy vừa có khía cạnh “thương người như thể thương
thân” của dân tộc Việt, vừa có tính cách từ bi với cả chúng sinh vạn vật, lại
có có nét mầu nhiệm mà chính Thế Tâm cũng không cắt nghĩa được rõ ràng. Yêu
thương, gồm có thương người và yêu người. Với Thế Tâm, “yêu người đây là một
thái độ tương tự như thái độ với người tình duy nhất, có cái gì trìu mến, yêu
thương, đằm thắm, thiết tha, làm cho người ta có cảm tưởng mình được xem như là
một giá trị duy nhất vô nhị và không thể thay thế của một người yêu”
(tr.45)[1]. Quả thực, tha nhân chính là “người tình duy nhất” mà
lòng dạ Thế Tâm đã phụng hiến trọn đời. Yêu thương trước hết, chính là yêu
thương dành cho tha nhân, sống cũng nghĩa là vì tha nhân mà trải rộng yêu
thương. Nghĩa lý cuộc đời Thế Tâm phải chăng vì lòng yêu thương ấy mà thành ra
hữu lý. Hiểu được quan niệm “yêu người” của Thế Tâm, bạn sẽ hiểu vì sao người sẵn
lòng tương trợ, giúp đỡ tha nhân trong mọi hoàn cảnh. Có lẽ bạn đọc nên hiểu
tình yêu thương này như là sự kết hợp tình yêu người của tín hữu Ki-tô và đức
thương người vốn có của dân tộc Việt! “Tình yêu này là một động thái bộc
phát từ tâm lý đã nhuần nhuyễn bởi một cái gì đối với mỗi một tha nhân. Còn “đức
thương người” có thể nói như kết quả dày công tu tập về luân lý đạo đức và cái
nhìn về loài người nói chung” (tr.48). Hóa ra, tình yêu người của Thế Tâm
phát xuất từ sự gặp gỡ đối với mỗi tha nhân cụ thể, hài hòa trong đức lý tôi
luyện giữa lòng xã hội, mang ý nghĩa phổ quát của nhân loại, vượt qua tính chất
giới hạn vốn có của chủ thể tính. Nghĩ vậy, bạn sẽ hiểu tình yêu người, yêu tha
nhân của Thế Tâm vừa có giá trị phổ biến nhưng không cứng nhắc rập khuôn, ngược
lại rất thiết thực cụ thể. Có phải vậy, người vẫn nghĩ mình vừa là một người cần
mẫn, siêng năng, tận tụy nhưng cũng là một người rất phóng khoáng và tài tử! Dầu
gì, người đã sống với người, sống giữa những người dưng khác họ bằng cách thế của
tình thương mến ruột thịt.
Tha nhân là gia
đình ruột thịt. Hình như Thế Tâm đã đặt lòng mình
vào tha nhân. Sự đặt lòng này, người vẫn nói: “yêu người”!
Và, người mong muốn thế nhân sống với nhau trong tình thân ái gia đình. Người với
người hãy sống với nhau như cha mẹ với con cái, như anh em ruột thịt, như thân
bằng quyến thuộc. Tình thân ái giữa người với người như gia đình ruột thịt, vừa
là điều mà Thế Tâm tìm kiếm để sưởi ấm nỗi hiu quạnh trong cõi lòng, nỗi bơ vơ
từ tiềm thức; vừa là đường hướng người vẫn hằng đem ra chia sớt với mọi người.
Niềm mong mỏi và phong cách sống ấy, Thế Tâm vẫn gìn giữ suốt cuộc đời. Dầu ở
đâu, hoàn cảnh nào, thời đại nào, người vẫn sống với tha nhân bằng tình gia
đình ấm áp. Có lẽ vậy, người nhận thấy sau khi chuyển sang học Triết tại Trường
Trung học Khải Định, có vẻ gì đó hơi lạnh lẽo thờ ơ chứ không ấm áp trong tình
thương mến của mái gia đình Thiên Hựu (tr.78). Từ đó, Thế Tâm nhận ra “tương
quan liên-ngã-vị (relation intersubjective, interpersonnelle) cũng đậm đà hơn”
(tr.78), và cố nhiên điều này cũng có “nghĩa là dù tốt hay xấu đều có nhau,
đều có tương quan liên-ngã-vị, hữu ngã và hữu tha với nhau” (tr.79).
Quả thực, đây là nhận thức sâu sắc, ảnh hưởng mạnh mẽ quan niệm sống của Thế
Tâm. Hẳn nhiên, phép lập thành tương quan liên ngã-vị không không phải phép cộng/sự
gán ghép đơn thuần, mà hơn thế, tương quan liên ngã vị lập thành bởi bác ái đại
đồng và sau khi lập thành thì sản tạo thêm lượng tính yêu thương trong sáng thuần
khiết, cũng tức là siêu vượt trên phép cộng chủ thể tính đơn thuần. Quả thực,
quan niệm sống Thế Tâm khởi nguồn từ một vấn đề hết sức căn cơ: Hữu Thể!
Và, ““Hữu thể là gì?” thì phải thưa “Hữu thể là cái tương quan lập hữu
(relation subsistante)” (tr.79). Vậy người có thể thành ra như là hữu thể
xét như duy chỉ ngã vị? Bất khả! Người thành người khi người sống với người, sống
vì người, sống yêu người và chan hòa ngã vị vào tha thể, lập thành liên ngã vị!
Bạn có nhận thấy mình chợt hiểu ra tầm vóc tâm hồn Thế Tâm không!
Một khi sống không vì người,
sống thờ ơ, cạn cợt hoặc ngăn cách với tha thể, Thế Tâm thấy mình chẳng khác gì
con cá mắc cạn. “Đối với tôi, bao giờ bị rơi vào một môi trường thiếu cái
khí quyển tương giao liên ngã vị ấy, tôi có cảm tưởng như cá bị lên cạn…. Tôi sợ
nhất là cái hờ hững lãnh đạm quay cuồng của những cơ chế quay như guồng máy một
cách phi nhân tính (inhumain). Thậm chí tôi còn cho rằng thà còn có tương quan
vô nhân đạo còn hơn là phi nhân tính một cách hoàn toàn, hoặc còn hơn là phi
ngã vị một cách có thể nói là trừu tượng mông lung” (tr.79-80). Từ hơn nửa
thế kỷ trước, Thế Tâm đã ưu tư về tính cách “phi nhân” của con người trong xã hội.
Hôm nay, những vấn đề ấy vẫn được giới học giả quan tâm, tìm hiểu[2].
Có lẽ đó là những ưu tư rất căn bản về nhân tính trong cõi người. Thế Tâm còn
lưu ý người yêu người trong giây phút hiện tại, qua từ “cận nhân” (người bên cạnh
– le prochain) trong câu “Hãy yêu thương người bên cạnh như chính mình”
(tr.80). Quan niệm yêu người thể như “cận nhân” của Thế Tâm dường như có nét gần
gũi với “chánh niệm” của dòng Tiếp Hiện[3]. Bởi tình thương yêu con
người gần gũi ấy, cũng tức là ý thức/thức/chánh niệm trong giây phút hiện tại.
Ý thức một cách sâu sắc về sự hiện diện trong giây phút hiện tại của chính
mình, của tha nhân và tương liên ngã vị ấy trong khoảnh khắc tại hiện. Khi ấy,
liên ngã vị này đã thực sự triển nở như là “tại thế thể” (Dasein). Hẳn là, những
ai từng gặp gỡ gần gũi với Thế Tâm đều cảm nhận mình là “cận nhân” thụ hưởng hồng
ân mà trước đó chính Thế Tâm đã cảm thọ sự mầu nhiệm ấy. Lời nhắc nhở của Thế
Tâm cũng khiến ta nhận ra bao nhiêu con người bằng xương bằng thịt cụ thể đã phải
hy sinh vì những danh từ trừu tượng: nhân danh!
Cảm thụ hồng ân và chia sớt
hồng ân với tha nhân, trong cách thế người Thầy! Từ bóng hình những người Thầy
đáng kính, Thế Tâm cũng đã trở thành người Thầy đáng kính trong tâm tưởng nhiều
thế hệ người học về sau. Thế Tâm nhớ lại và cho rằng điều quý giá nhất mà người
đã học được từ lớp cử nhân và quá trình làm luận án Triết ở Sorbonne không chỉ
có kiến thức về lịch sử triết học Tây phương, hơn hết chính là cung cách giảng
dạy của các thầy. Ở đó, Thế Tâm học được cách thế sống rất chân thành, hòa ái với
tha nhân. “Gần 30 năm xa cách, dáng dấp các vị thầy ấy như vẫn còn in rõ
trong tâm trí tôi. Và tôi tự hỏi, thái độ khiêm nhường ấy phải chăng bắt nguồn
từ sự khiêm nhường của vị đã tự xưng mình là chân lý, nhưng lại cúi xuống rửa
chân cho môn đệ trong một bữa tiệc thân tình mà điều san sẻ lại là chính “bản
thân mình” sắp hiến tế để nuôi sống tâm hồn môn đệ mình. Ngoài ra, thái độ hướng
về chân lý như đáp lại một lời mời gọi đòi hỏi sự quên mình hiến thân cho chân
lý, chứ không phải là tranh đua chiếm hữu độc quyền khai thác và phân phối,
cũng bắt nguồn từ cái thái độ đối với chân lý tuyệt đối đã thể hiện nơi một con
người vốn là chân lý, là đường, là sự sáng: Giêsu Kitô”(tr.190-191). Chẳng
đã có câu ngạn ngữ, “bông lúa chín là bông lúa cúi đầu”! Tấm lòng từ
ái chân thành khiến lòng người đặt mình xuống thấp để cùng nâng vớt tha nhân,
đưa tha nhân cùng trọn vẹn tắm mình trong tình bác ái rộng mở.
Nhiều thế hệ sinh viên từng
theo học với Thầy Thế Tâm có thể thấy cung cách các Thầy Triết ở Sorbonne đã ảnh
hưởng đến phương pháp giảng dạy và quan niệm sư phạm của Thế Tâm những năm dạy
học ở một nơi được gọi là Thụ Nhân, tức Viện Đại học Đà Lạt.
“Ngoài giờ học, thầy trò
quay quần quanh quán phở, cà phê cũng là thường, không tổ chức thường xuyên,
nhưng tôi cố gắng thực hiện cái cung cách của con người cùng với anh em trẻ đi
tìm Chân Lý, như tôi đã học được nơi các thầy ở Sorbonne, chứ giáo trình của
tôi thì cũng xoàng thôi. Tôi có quan niệm rằng, không có ai dạy triết cho ai,
không có ai học triết với ai được cả! Chỉ là kẻ trước người sau lên đường đi
tìm triết lý cho mình, do mình; gặp nhau thì giúp đỡ nhau, khuyến khích nhau,
nâng đỡ trao đổi kinh nghiệm với nhau mà thôi. Do đó, thi cử tôi cho là phản
triết học, chỉ là chuyện vạn bất đắc dĩ!” (tr.205).
Có lẽ, Thế Tâm quan niệm,
triết học phải vươn đến chỗ triết lý, và học triết nên chăng chính là quá tình
tự bản thân mỗi con người tự mình đi trên con đường tìm kiếm chân lý. Và, đó phải
là cuộc tìm kiếm tự thân đối diện với chính những truy vấn, thúc bách trong tâm
tưởng giữa đời sống xã hội muôn vàn trắc diện, may ra ở quá trình đó có thể tìm
thấy cho mình chân lý. Chân lý ấy do đó, có lẽ chính là chân lý cho mình, vì
mình mà có vậy! Triết tức là sống vậy! Không thể có cách thế triết như là triết
học thuần túy, mà nên chăng phải là cách thế triết lý giữa đời sống vận hội triển
nở từng phút từng giây.
Bằng cách sống, học tập,
giảng dạy, tìm kiếm một nếp tu, một con đường, Thế Tâm đã thực hiện hành động
“triết lý” của đời mình. Có lẽ, chính cuộc sống, phong cách đối đãi, cách nghĩ
và nói năng, ấy đã là quyển giáo trình triết lý sống động đối với mỗi sinh viên
Viện Đại học Đà Lạt năm nào!
2. Tình thương với kiếp
nhân sinh
Thời niên thiếu, dấu ấn
sâu đậm trong tâm hồn Thế Tâm: Truyện Kiều! Nhân sinh quan bạc mệnh: cõi người
ta! Nhưng, Thế Tâm đã lấy Bác Ái đáp lại bạc mệnh nhân
sinh, lấy Từ Bi hóa giải hận thù muôn kiếp!
Trong số các môn học, Thế
Tâm yêu thích và bộc lộ thiên tư hơn cả, chính là sử và luận (văn) (tr.32).
Trong văn chương, Thế Tâm nhận ra nỗi bi thương đoạn trường của kiếp nhân sinh.
Có lẽ vậy, người yêu thích hơn cả là tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” của cụ
Nguyễn Du. Cảm nghiệm từ buổi thiếu thời về sự bi thương kiếp người (tr.32) ngược
lại đã góp phần hình thành lòng từ ái của Thế Tâm trong suốt chặng đường đời. Bởi
nhận thấy khổ ải của nhân sinh, và có chăng, lòng bác ái có thể cứu rỗi, nâng vớt
tâm hồn con người khỏi nỗi đoạn trường bao vây. Thế Tâm nhìn thấy ở đời: nhân
sinh quan bi thương! Nhưng người đã hồi đáp cõi thế bi thương bằng lòng yêu
thương quảng đại. Chính ở đấy, Thế Tâm nhận lại quảng đại yêu thương. Niềm lạc
phước tưới mát tâm hồn, thanh tẩy và làm phong phú thêm nghĩa lý của kiếp người.
Đọc từng trang hồi ức, bạn
sẽ bất ngờ nhận thấy: những ưu tư của Thế Tâm ngay từ tuổi 12 đã bộc lộ khuynh
hướng khởi dựng từ vấn đề xã hội lịch sử đi tới vấn đề giải thoát cho tâm hồn
người, nghĩa là vươn đến nghĩa lý đời sống căn cơ của kiếp người. Người ưu tư
không phải chỉ vấn đề cá nhân, (chắc chắn là không) người ưu tư vấn đề sống của
con người nói chung. Ngay từ tuổi vị thành niên, Thế Tâm đã băn khoăn và có
thiên hướng tìm kiếm một giải thoát triệt để cho kiếp nhân sinh (tr.33). Bởi vậy,
lòng bác ái của Thế Tâm không không chỉ một đối tượng nào, lòng bác ái quả thực
quảng đại bởi hướng đến con người nói chung. Ngay khi học tập ở Paris, Thế Tâm
đã nhận thấy cuộc khủng khoảng tận gốc rễ của văn minh Tây phương. Tình thương
đối với cuộc nhân sinh, khiến Thế Tâm không thể không băn khoăn về nguy cơ ấy của
xã hội Tây phương. “Quả như nhà bác học Alexis Carrel đã nói “Rồi chúng ta sẽ
phải trả giá (và đã bắt đầu trả rồi) với cái giá đắt cho những sai lầm nghiêm
trọng của phong trào Phục hưng”. Một thứ man rợ mới (trạng bị bom hạt nhân!)
đang ra đời và sẽ phá vỡ hủy hoại những giá trị văn minh chân chính, nếu không
có gì ngăn chận lại” (tr.323). Tuy nhiên, Thế Tâm không dừng lại ở nhân
sinh quan bi thảm như thế. Bởi lẽ, người vẫn giữ niềm tin về khả năng/cơ hội/liều
thần dược có thể cứu chuộc tội nạn này. Sự “dị ứng” với căn bệnh thâm căn của
quan niệm “văn minh duy khoa học kỹ thuật cực đoan, phi nhân bản” phải chăng
càng làm rõ tình thương yêu trong sáng dành cho nhân loại, đứng về phía những
điều tốt đẹp, thiện lành trong nhân tâm và nhân tính.
Lắng nghe thời thì thầm hồi
ức vọng lại, bạn sẽ rút ra nhiều bài học nhân sinh cho chính mình. Cảm nghiệm đời
sống của Thế Tâm sẽ gieo vào lòng bạn ý hướng sống tích cực, lạc quan, tươi
sáng. Chẳng hạn, Thế Tâm nhận ra “thất bại ở đời này, chưa hẳn là vô phúc! Và nếu
không phải tội mình gây ra thì chắc chắn là ĐẠI HỒNG PHÚC” (tr.40). Vô phúc/Hồng
phúc, có lẽ bắt nguồn từ chính nhận thức của mình. Bấy giờ, người sẽ lấy vô
phúc/hồng phúc lồng vào đôi mắt, lấy đôi mắt ấy nhìn đời để soi ra vô phúc/hồng
phúc ở thế gian. “Cũng xin nói ngay rằng trong những ngày bi đát nhất của đời
tôi sau này, chính chân lý ấy là ánh sáng soi đường cho tôi, khuyến khích nâng
đỡ tôi, làm cho tôi không bao giờ tuyệt vọng” (tr.41). Với Thế Tâm, người
đã nhìn đời bằng lòng kính mộ hồng ơn, cho nên người nhìn thấy ở đời hồng ơn rộng
lớn. Nhận hồng ơn để mang lấy hồng ơn chia sớt cho cõi thế gian.
Nghĩ về danh và lợi
giữa kiếp nhân sinh, nhiều lần Thế Tâm nhắc đến tình thế
“lạc bước miền Nam”, “trật đường rầy’, “bị ném ra cuộc đời thế tục”, dường như
có chút tâm thế “lỡ bước sang ngang” kiểu như thi sĩ Nguyễn Bính (“Đã
đành máu trở về tim/ Nhưng khôn buộc nổi cánh chim giang hồ). Chìm nổi Tây
phương rồi “đất Việt trời Nam”, Thế Tâm đã hết mình với tha nhân, vượt lên trên
cả danh lợi và tình duyên. Một cách thế sống cho người, sống vì người, hoàn
toàn không vẩn mùi vụ lợi. Chẳng có gì, chẳng đòi hỏi gì cho sinh hoạt cá nhân,
dẫu vậy Thế Tâm vẫn sẵn sàng cho và cho nhiều hơn nữa.
“Cuộc sống của tôi có
chăng như là một ký túc viên cao cấp: chẳng sắm sửa gì, chẳng có ý định gây dựng
gì. Ai giao việc gì thì làm việc ấy, lương bổng đưa bao nhiêu nhận bấy nhiêu,
tiêu bấy nhiêu. Ai cần thì cho mượn, có thì trả, không cũng chẳng đòi (nhất là
một số sinh viên nghèo), chẳng dành dụm gì cả. Có khi còn phải vay mượn thêm để
cho những người cần túng tìm đến. Tôi không chủ trương giúp đỡ ai lâu dài, vì
không buốn ràng buộc ơn nghĩa với ai” (tr.204).
Đôi dòng tâm sự có khiến
bạn nhớ đến câu thơ người xưa. “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”. Tự nhận
việc giúp đỡ kẻ khác chẳng có gì đáng kể, “chẳng có gì là cao thượng cả, mà
xét lại còn thiếu đức cẩn trọng (prudence) nữa! Về mặt giúp người túng ngặt
cũng tương tự như vậy”(tr.210). Với bản tính tự nhiên vốn không dính bén
danh lợi, vốn từ tâm thương cảm kẻ khó, thì quả thực, sự giúp đỡ tha nhân với
Thế Tâm không có gì đáng đề cao. Giúp đỡ người khác hầu như là việc rất thường
tình, rất dễ hiểu, rất tự nhiên trong tâm hồn Thế Tâm. Không chức phận gì trong
trong sinh hoạt tôn giáo, không danh phận gì trong đời sống xã hội, nhưng với hạt
giống ơn phước, Thế Tâm để lại dấu ấn sâu đậm giữa đời sống, chí ít đã để lại vết
son không bao giờ phai nhạt trong tâm hồn “cận nhân”. Nhưng nói tới ơn nghĩa,
có lẽ ít nhiều không đúng với tâm ý Thế Tâm. Bởi người đã hoàn toàn không còn
nghĩ ngợi gì sau khi dang tay nâng đỡ người khó. Với Thế Tâm, danh và lợi mang
vào dáng dấp cuộc đời thế tục. Nói như cách Thế Tâm vẫn nghĩ, đời sống là dòng
sông, con người bằng niềm tin nào đó thể như người ngồi trên thuyền, chèo chống
giữa những khúc sông đời. Thế Tâm đã vượt qua nhiều khúc sông và trên chuyến
hành trình, người cũng nhiều lần trợ giúp những kẻ chẳng may thắt ngặt đắm đuối
giữa dòng. Lòng tương trợ hoàn toàn trong sáng, bởi chính người chẳng mong gì
đáp lại. Ơn nghĩa có khác gì ràng buộc mà người muốn quên đi sau khi đã cứu
giúp tha nhân. Để giữ lòng trong sạch, chí ít đừng để mình dính bén đến những
danh lợi đời sống. Quan niệm về danh lợi của Thế Tâm trong tập Hồi ức rất đáng
để chúng ta suy ngẫm.
“Bề ngoài tôi được nhiều
người lầm tưởng tôi đi khá xa trên đường nhân đức! Không phải thế! Tôi không
dính bén danh lợi chẳng qua vì bản tính tự nhiên không ham cái ấy, có lẽ rằng nếu
không biết Chúa, tự nhiên tôi cũng thế mà thôi. Hơn nữa, tình hình bất ổn của
xã hội càng làm tôi không dính bén, vì tự nhiên biết đó chẳng ra gì và cũng chẳng
vững chắc gì”(tr.209).
Triết lý sống như thế đã
hun đúc từ chính cuộc sống và trải nghiệm trực tiếp của Thế Tâm. Đúng như quan
niệm triết lý tức là cuộc hành trình tự thân mỗi người đối diện và tìm kiếm,
không thể ai dạy ai, ai truyền cho ai triết lý được! Nhận diện danh lợi phù phiếm
“không vững chắc” nên chẳng có lý nào lại dính bén vào danh lợi. Đó là thái độ
sống triệt để bởi nhận thức triệt để về bản chất thực sự của danh lợi (vừa
không vững chắc, lại ẩn chứa biết bao nhiêu khổ nạn cạm bẫy).
“Làm cho khốc hạ, chẳng
qua vì tiền!”
Cảm nghiệm thấu đáo nghĩa lý kim tiền, Thế Tâm hình thành nhân sinh quan tẩy trừ cấu uế kim tiền! Có lẽ, nhân sinh quan Thế Tâm ít nhiều gần gũi với những nho sĩ ẩn dật đời xưa!”
3. Tình thương đối với
quê hương đất nước
Đặt ra câu hỏi giải thoát
từ thời niên thiếu, bạn đọc dõi theo từng bước đường đời, sẽ thấy Thế Tâm nhiều
lần nhắc đến “tình tự dân tộc” (tr.32-35). Người trình bày một cách thành thực
những “tầng địa chất tâm lý”. Trong đó, mục đích hướng đến là “tình tự dân tộc”.
Bối cảnh gia đình, thực trạng đất nước, câu hỏi thuở thiếu thời của cụ Phan Bội
Châu, và người bạn Đinh Nho Liêm (khiến ông cảm mộ), tất cả góp phần “làm
cho tình tự dân tộc càng thêm sâu đậm trong tâm hồn tôi” (tr.35). Bằng các
nguồn ảnh hưởng, tác động khác nhau, nhưng hơn hết là tình thương vốn có trong
tâm hồn, Thế Tâm đã nhận ra “bản diện tâm hồn” mình. Bấy giờ, từ chỗ thương
thân, Thế Tâm biết thương người, sau nữa biến thành tình yêu quê hương Nghệ
Tĩnh, tình yêu đối với đất nước Việt Nam.
Mối cảm tình với dòng Cát
Minh và những ưu tư khác nhau trong việc tìm kiếm nếp tu khả dĩ, bạn nhận ra
phong khí Á Đông còn rất đậm nét trong tâm hồn Thế Tâm. Ở người có cái gì đó sầu
mộng, bôn ba lãng tử, trầm mặc, ẩn dật, hơn là kẻ sống thù thuộc nền nếp luật tắc
nghiêm nhặt! Thường trực, Thế Tâm vẫn băn khoăn: “Một câu hỏi luôn lởn vởn
trong đầu óc tôi: tinh thần duy lý trí Hy Lạp và duy luật Roma, cũng như cái hiếu
động và duy xã hội tập thể của Tây phương có phù hợp với con người Đông phương
hay không?”(tr.162). Tận sâu thẳm tâm hồn Thế Tâm, người vẫn nặng
tình quê hương. Hồn cốt quê hướng xứ sở, phong khí nước Việt vẫn
in hằn sâu sắc trong tâm hồn người. Dù đã sống ở Paris hoa lệ, thụ hưởng nền học
vấn Tây phương, nhưng dấu ấn Việt vẫn không thể phai mờ trong tâm hồn người.
“Các sinh hoạt văn hóa
như ca nhạc kịch cũng vậy thôi, tôi chỉ đi xem gọi là cho biết vậy thôi, chứ
tôi cũng chỉ thích và nhớ tiếng đàn bầu, đàn nguyệt dưới ánh trăng bên bờ sông
Hương. Những bức tranh ở Le Louvre vẫn không làm tôi quên những bức tranh thủy
mạc, chỉ trừ vài bức của Rembrandt và của Rouault! Versailles, các lâu đài sông
Loire chỉ làm cho tôi càng thêm nhớ nhung đến những chùa cũ rêu phong khiêm tốn
âm thầm nấp dưới cỏ cây. Phương tiện giao thông hối hả chen chúc làm cho tôi nhớ
những chuyến đò ngang đò dọc thời thơ ấu về thăm quê ngoại. Ở Paris cũng có
quán Việt Nam, nhưng ăn tiết canh hay bánh xèo thì phải là trong quán gió bờ đê
mới thật là ngon, canh rau muống phải ngồi chõng tre dưới mái tranh mới là tuyệt
diệu, đôi khi tôi thèm đến quay quắt được ăn một củ khoai lang bở với dưa cải
hoặc với quả cà thật mặn rồi uống một ngụm chè xanh rót ra từ cái gáo dừa khô đổ
vào cái bát “đàn” thô kệch, dưới gốc cây đa một buổi trưa hè gay gắt. Và hoa!
Mùi thơm hoa lý, hoa bưởi, hoa mộc, hoa sói và nhất là hoa ngâu”
(tr.196-197).
Dù ở phương trời nào
trong cuộc rong ruổi tìm kiếm nếp tu phù hợp, Thế Tâm vẫn không nguôi nhớ quê,
không phút giây nào không vọng ngóng về quê hương nước Việt. Trái tim, khối óc
và đôi mắt Thế Tâm vẫn mang bản sắc Việt từ trong cốt tủy. Đoạn hồi ức vừa rồi
là một trong những đoạn giàu cảm xúc nhất trong tập hồi ức. Nói đúng hơn, hễ nhắc
tới quê hương và dân tộc, Thế Tâm vẫn luôn có chất giọng tâm tình, ngọt ngào,
sâu nặng và xúc động như thế! Văn phong chợt lóe sáng lên niềm vui hớn hở!
Trang hồi ức có nhiều đoạn
dạt dào cảm xúc thương mến, nhưng có lẽ tình thương dạt dào nhất, chính là khi
Thế Tâm nói về quê hương. Tình cảm nồng nàn, chân chất của người nhà quê sinh
ra và lớn trên dải dất Việt Nam, khiến Thế Tâm có điểm tựa vững chắc trong tâm
hồn. Quá trình tìm kiếm nếp tu khả dĩ, Thế Tâm vẫn đặt lòng mình trên nền tảng
quê hương, lấy đó làm nơi nương tựa cũng là nơi ngóng về. Và, vốn liếng văn hóa
dân tộc cũng được Thế Tâm nhắc đến với lòng trân quý thiết tha.
“Giữa tiếng xe cộ đinh
tai nhức óc, tôi thèm được nghe tiếng chuông chùa lúc thu không hay lúc rạng động
“Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền!”. Và những lúc quá bận không có dịp đi
trên các con đường không tráng nhựa ở ngoại ô Paris mà phải suốt tuần suốt
tháng mà chỉ toàn là đường tráng nhựa, tôi nhớ da diết những ngày thuở bé đi học,
đội một chiếc nón lá, quần xắn tới tận đầu gối, bám chặt trên những con đường lầy
lội giữa hai làng Thịnh Xá và Gôi Mỹ đưa tôi đến trường tiểu học, miệng bỏm bẻm
nhai trầu cho ấm. Ôi mùi thơm trầu từ thuở bé cảm được khi mẹ, bà ngoại, các
dì, các cô hôn âu yếm: chẳng có nước hoa nào bằng được! Và vành tóc đen trên
gáy các bà mẹ quấn khăn nhung, cũng như khăn vải nâu có đuôi gà, chẳng có mái
tóc “frisé” nào đẹp bằng cả! Chẳng có son phấn nào địch nổi làn môi cắn chỉ của
các cô gái nhà quê hết! Các mốt quần áo trưng bày ở Champs-Élysées vẫn thua áo
tứ thân và khăn mỏ quạ! Các kiểu mũ đính lông cò, lông hạc vẫn không bằng nón
thượng quai thao! Thật, tâm tình tôi quả là lạc hậu, quá quê mùa! Mặc dù theo học
chương trình Pháp từ thuở 12 vẫn như một em bé chưa bao giờ ra khỏi lũy tre
xanh! Mặc dù rửa tội đã trên hai năm mà vẫn nhớ tiếng chuông chùa, vẫn thương cửa
tam quan rêu phủ, vẫn thích các bức hoành phi câu đối sơn son, thếp vàng, cẩn
xà cừ với những chữ Hán rồng bay phượng múa!” (tr.197-198)
Vì yêu quê hương,
Thế Tâm một lòng mong muốn hòa bình cho quê hương đất nước.
Dù làm việc gì, rơi vào hoàn cảnh nào, Thế Tâm vẫn canh cánh liệu có mang tội với
quốc gia dân tộc hay không? Hơn hết, dù thời cuộc ra sao, người vẫn mang một niềm
hy vọng. Nhất là hy vọng hòa bình cho dân tộc Việt Nam. Người lấy đó làm nguồn
an ủi, tự động viên tinh thần. “Công việc của tôi là công việc mang sắc thái
“hòa bình”: một số lớn hồ sơ là giải ngũ, phục viên, trợ cấp thương binh liệt
sĩ! Kể ra không có việc gì là có mùi khói lửa cả, mà chỉ là những việc mang hy
vọng “hòa bình””(tr.170). Nghe đài loan tin “đình chiến”. “Tôi nghĩ rằng
tất cả mọi người Việt Nam trong giờ phút ấy đều vui mừng hớn hở, chờ đợi một
ngày mai tươi sáng sẽ đến sau hai năm tạm phân chia. Cũng như 10 năm kháng chiến
chống giặc Minh, chắc hẳn 9 năm chống Pháp cũng sẽ đem lại hòa bình cho một nước
Việt Nam độc lập và thống nhất”(tr.169). Cho nên, giữa được và mất, giữa
thành và bại, Thế Tâm đã trọn vẹn niềm vui khi đất nước hòa bình. Được-mất,
thành-bại, dường như không còn nghĩa lý nữa. Cơ hồ chỉ còn niềm vui thống nhất
cho quê hương. Và dù sau này có ở phương trời nào, cảm thức quê hương liền một
dải khiến Thế Tâm vẫn cảm thấy gần gũi, nối liền với nơi chôn nhau cắt rốn từ
thời thơ ấu. “Do đó từ năm 1975 đến nay dưới cái nhìn của một số anh em thì
tôi mất rất nhiều cái (mà cái mất cuối cùng là mấy trăm cuốn sách bị trộm cách
đây 3 năm), nhưng riêng tôi thì như cả một cuộc hồi sinh về cả hai mặt tự nhiên
và siêu nhiên” (tr.219). Đó là mối cảm xúc hiếm có, chẳng khác gì một người
lấy lại được phần máu thịt, một phần thân thể do hoàn cảnh thời cuộc buộc phải
chia cắt. “Từ sau 1975, tôi được giải tỏa khỏi mọi u hoài gia đình ly tán, đất
nước phân ly, cho nên, hình như mới được thanh thản mà cất cánh bay lên, lặn
sâu vào đời sống siêu nhiên” (tr.220). Ở một đoạn khác, Thế Tâm chia sẻ: “Từ
sau năm 1975, tình tự gia đình và tình tự dân tộc được giải tỏa, và điều tôi
suy nghĩ trên đây về Hội Thánh là liều thần dược Chúa Ban cho tôi được thực sự
và vĩnh viễn hồi sinh” (tr.221). Từ quê hương ra đi rốt cuộc trở về với quê
hương Nghệ Tĩnh- mãi là đứa hài nhi của quê nhà Nghệ Tĩnh. ““Lá rụng về cội”,
hình ảnh Lão Lai! Thực sự chỉ là biểu lượng của một thiên đàng không phải đã mất
mà là sẽ đến. Về mặt trần thế, thời thơ ấu của tôi là đất Nghệ Tĩnh (Hồng Lam,
Tiêu Phố, Bút Giang)”(tr.221).
Hòa bình khác gì môi trường
cần thiết cho tâm hồn Thế Tâm, như dòng nước mát cho đời cá bơi lội thỏa thích
trong niềm hân hoan đất nước thống nhất, gia đình đoàn tụ. Hiểu vậy, bạn sẽ thấy
niềm mong mỏi hòa bình thống nhất cho quê hương đất nước trong lòng Thế Tâm đâu
có chi lạ! Bởi, đó là niềm mong mỏi chung của mỗi người con nước Việt, sinh ra
và lớn lên bằng mối thâm ân của mẹ Việt.
Tạm kết
Thế Tâm: tim đời, hay
trái tim gửi yêu thương về phía những đồng loại cùng khổ trong cõi nhân gian!
Đến giữa đời với đôi bàn
tay trắng và đến cùng, Thế Tâm vẫn trắng đôi bàn tay giữa đời. Song, người thật
sự là “Người lữ hành hạnh phúc”. Tha nhân nhìn thấy hạnh phúc hồng ân ở Thế Tâm
cũng như đã nhận được hồng ân kia từ tấm lòng Thế Tâm mang lại. Dẫu đôi bàn tay
trắng – mỗi bàn tay có năm ngón tay, thụ đắc bởi mười bốn lóng – Thế Tâm, hoàn
toàn tắm mát cuộc đời mình nơi hồng ân nhiệm màu không thể nghĩ tả, không thể
lý giải nổi. Ngay cả những người có thể “ghét” nhưng Thế Tâm, vẫn có thể tìm ra
được khía cạnh để mà thương những người như vậy. Thế Tâm thương những người
đáng thương; và thương cả những người vốn không thể thương, – rất khó thương,
Thế Tâm vẫn luôn “giảm khinh” để mà thương vì Tình Yêu Người (cận
nhân) không phân biệt, không giới hạn!
Ở tuổi 97, tính đến hôm
nay, Thế Tâm vẫn đặt tâm mình giữa cuộc đời, giữa lòng người với con người
và Người, mãi là kẻ hành khất lang thang trên đường nơi cõi thế, mang theo hạt
giống hòa ái rộng khắp gieo trồng chốn nhân gian. Người vẫn mãi như cánh chim
rong ruổi và phiêu bạt về phía gió bụi để nghiệm xét ơn phước nhiệm mầu bất khả
luận giải. Như Thế Tâm từng nghĩ, triết lý không ai dạy ai, mà tự thân mỗi người
phải cảm nghiệm và tìm thấy! “Sau này khi trở về Việt Nam năm 1965, Lm. P.
Nguyễn Bình An nói với tôi: “E có lẽ cậu có ơn kêu gọi như Benedict Joseph
Labre – vị thánh hành khất”? Tôi nhớ lại lúc bé, đôi khi mẹ tôi vừa giận vừa mắng
yêu: “Lơ đãng như con rồi thì chỉ có bị gậy ăn mày!”/ Phải chăng lời mắng yêu của
bà mẹ và lời nhận xét của cha linh hồn có tầm mức một trực giác tiên tri? Từ
năm 1975-1986, tôi đổi nơi cư trú trên 10 lần, mà đến nay cũng không nhà, không
cửa, không tài sản, không vị trí gì, cả trong Giáo hội cũng như trong gia đình
và ngoài xã hội, cũng chẳng biết mai đây tôi từ trần, ai sẽ là kẻ lo việc vùi
cái thân xác này vào lòng Đất mẹ để linh hồn về với Chúa Cha trên trời?” (tr.195).
Tâm ý cánh chim lãng tử chưa mỏi vì “Thương người như thể thương thân” chìm đắm
giữa bầu trời xanh đậm tình bác ái, nghĩa từ bi từ trái tim Người gieo Hạt Hòa
Ái!
“Hồng sơn cao ngất
mấy trùng
Lam Giang mấy trượng thì
lòng mấy nhiêu”.
(Ca dao)
Chú thích:
[1] Chiều
Mimosa, tập thơ Thầy tôi, Trần Bảo Định, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2013
[2] Nguyễn
Khắc Dương (2020). Hồi ức Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương. TPHCM:
Nxb. Tổng hợp.
[3] Xem
thêm:
– Jean-Michel
Besnier (2012). Demain, les posthumains. Le futur a-t-il encore besoin
de nous ?. Paris: Fayard/Pluriel.
– Milam, E. L.
(2020). “Theorizing the Inhumanity of Human Nature, 1955–1985.” In The
Routledge Handbook of Dehumanization (edited by M. Kronfeldner) London
and New York: Routledge, pp.112–124.
[4] Nhất Hạnh (chú giải). Giới tiếp hiện. Đạo tràng Mai Thôn: Lá Bối lưu hành, tr.4-7.
Tài liệu tham khảo:
– Besnier, J-M.
(2012). Demain, les posthumains. Le futur a-t-il encore besoin de nous
?. Paris: Fayard/Pluriel.
– Nguyễn Khắc Dương
(2020). Hồi ức Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương. TPHCM: Nxb. Tổng hợp.
– Nhất Hạnh (chú giải). Giới
tiếp hiện. Đạo tràng Mai Thôn: Lá Bối lưu hành.
– Milam, E. L. (2020). “Theorizing the Inhumanity of Human Nature, 1955–1985.” In The Routledge Handbook of Dehumanization (edited by M. Kronfeldner) London and New York: Routledge, pp.112–124.
20/11/2022
Trần Bảo Định
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét