Điển cố trong thơ
Xuân Diệu
trước năm 1945
Xuân Diệu được Hoài Thanh nhận định “mới nhất trong các nhà Thơ Mới”. Thơ Xuân Diệu là một sự lạ hóa về mặt ngôn từ với những cách tân độc đáo mới lạ bởi những ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng siêu thực của lối thơ Pháp. Tuy vậy, những quán tính của thơ cũ vẫn còn trong lối viết của ông. Điển tích điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật được ông vận dụng sáng tạo và có chủ đích.
1. Nói đến thơ ca là nói
đến những đặc trưng của tính hình tượng, đa nghĩa và hàm súc… Điều đó cho phép
điển cố được dẫn dụng như một phương thức chủ đạo. Thơ Mới được xem là một
trong những nhịp cầu của hai bến bờ thơ ca truyền thống và hiện đại. Bước sang
quỹ đạo của thơ ca hiện đại, Thơ Mới không hề đoạn tuyệt với thơ cũ, những ảnh
hưởng của âm hưởng thơ Đường, thi pháp văn học trung đại, đặc biệt nghệ thuật dụng
điển vẫn song hành bên cạnh những bút pháp mới trong các sáng tác.
Xuân Diệu được biết đến
là nhà thơ chịu những ảnh hưởng sâu sắc của lối viết phương Tây. Tuy nhiên, những
đặc trưng của thơ ca trung đại, trong đó có điển cố vẫn được ông dẫn dụng trong
các sáng tác của mình. Điển cố trong thơ ông không phải là một đồ cổ cũ kĩ lạc
hậu trong đối tượng thẩm mỹ hay là sự vụng về, sùng cổ trong bút pháp. Ngược lại,
bằng nghệ thuật sử dụng điển cố tài tình, Xuân Diệu đã góp phần chắp cánh cho
Thơ mới tích cực hòa nhập với quỹ đạo tiếp nhận của công chúng đương thời.
Nửa đầu thế kỷ XX, khi nền
Hán học suy vi, các nhà Thơ Mới nói chung, Xuân Diệu nói riêng ít nhiều chịu ảnh
hưởng của ngôn ngữ thơ Pháp. Tuy là một trí thức Tây học nhưng Xuân Diệu vẫn có
những ảnh hưởng từ người cha của mình. Chữ Hán đã được ông học tập từ rất sớm.
Nhà thơ yêu thích và thuộc nhiều bài thơ Đường, nhiều tác phẩm kinh điển của
văn học trung đại nước ta. Đó là cơ sở để ông nắm vững về điển cố và dẫn dụng
chúng một cách chủ động, linh hoạt vào trong các sáng tác của mình.
Như đã biết, thơ ca cổ điển
phương Đông chuộng trầm tĩnh, chú trọng sự tương giao, tương hợp, nặng về biểu
ý, biểu tình… Đó chính là cội nguồn của tư duy Thơ mới. Cho nên không hề mâu
thuẫn khi trong các bài thơ của Thơ Mới, trong đó có tác phẩm của Xuân Diệu vừa
chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng lại vừa yêu chuộng việc sử dụng từ Hán
Việt, thi liệu, dẫn dụng các điển cố là những biểu tượng của thơ ca truyền thống.
Mượn phương tiện của phương Tây, truyền tải hồn vía của phương Đông là đặc
trưng của Thơ mới nói chung và của thơ Xuân Diệu nói riêng.
Trình giữa làng Thơ Mới với
một cái tôi đa phong cách, thơ Xuân Diệu trước năm 1945 vừa mang tính hiện đại
lại vừa mang hơi hướng cổ điển. Trong Thơ thơ và Gửi
hương cho gió, một số bài thơ như Vội vàng, Vô biên,
Huyền diệu, Đây mùa thu tới,… chịu ảnh hưởng rõ nét, có nhiều cách tân
trong lối viết được học hỏi từ thơ Pháp bởi chúng thiên về thế giới trữ tình,
tràn đầy cảm xúc với những thức cảm thời gian… Một số bài thơ khác như Nguyệt cầm,
Lời kỹ nữ, Nhị hồ, Mơ xưa… lại có hơi hướng cổ điển, mang tính chất hoài cổ,
trang nhã, sâu sắc thâm trầm. Việc vận dụng những điển tích, điển cố vào nhóm
bài này là hoàn toàn có chủ ý sáng tác. Dĩ nhiên, điển cố mang đến cho những
bài thơ này nhiều giá trị thẩm mĩ độc đáo, quan trọng.
2. Được biết đến là “ông
hoàng thơ tình” với những mộng Đường thi, Tống thi và cung sự nuối tiếc một thời
quá khứ vàng son là cơ sở để Xuân Diệu tìm về những con người tài sắc của một
thời. Họ là những minh quân, tôi hiền, giai nhân tuyệt sắc, tức những hình mẫu
lí tưởng trong quan niệm về con người của chủ nghĩa lãng mạn. Những điển nhân
danh là nhân vật lịch sử như Lộng Ngọc, Tiêu Lang, Bao Tự, Ly Cơ, Đường Minh
Hoàng, Dương Quý Phi… không còn đơn thuần là những câu chuyện lịch sử về các
giai thoại… mà hàm ẩn trong đó nhiều giá trị văn hóa, thẩm mỹ. Cái hay của việc
vận dụng những điển cố này là truyền tải một tư tưởng thẩm mỹ về khát khao tìm
thấy con người lý tưởng ngay cả trong tiềm thức:
… Và nàng Lộng Ngọc lấy
Tiêu Lang,
Cưỡi hạc một đêm bay lên
trời.
Vua Trần hậu chúa ngó
trăng vàng,
Khúc Hậu đình hoa đương
lên khơi.
[….] Tôi yêu Bao Tự mặt sầu
bi,
Tôi mê Ly Cơ hình nhịp
nhàng
Tôi tưởng tôi là Đường
Minh Hoàng,
Trong cung nhớ nàng Dương
Quý Phi.
(Nhị hồ)
Trước sự bất hòa với thực
tại của chủ nghĩa lãng mạn, xuất phát từ cảm hứng hoài vãng, trong Mơ
xưa, Xuân Diệu mượn chuyện Chiêu Dương, Hậu Đình, chuyện Hán Cao Tổ… để tìm
đến lý tưởng, những điều phi thường vượt trên hiện thực tầm thường, tù túng:
Những Chiêu Dương, những
Hậu Đình tráng lệ
Đẹp vì chưng xây với oán
cung phi.
Cung nhà Tần trùng điệp
mái lâm ly,
Hán Cao Tổ đốt chín ngày
mới hết;
Tần cung nữ ba mươi trăm,
chẳng biết
Gót sen vàng liễu yếu chạy
về đâu?
Không chỉ những trang
giai nhân tuyệt sắc mà những người nữ vô danh như “kỹ nữ”, một đề tài quen thuộc
của thơ trung đại, cũng chính là cảm thức “đồng cảm tương liên” để nhà thơ tiếc
nuối quá khứ, nghiền ngẫm về cái tôi bản thể giữa cuộc đời. Lời kỹ nữ, bài thơ
mượn lại điển thi ca trong bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, là
tiếng lòng của một phút thoáng qua giữa mối tình đầy tri kỉ và sâu đậm – “kỹ nữ”
và du khách”
Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt,
Cuộc yêu đương gay gắt vị
làng chơi.
Người viễn du lòng bận nhớ
xa khơi,
Gỡ tay vướng để theo lời
gió nước
(Lời kỹ nữ)
Cùng với điển nhân danh,
các điển địa danh được dẫn dụng cũng làm sống lại không khí của một thời vang
bóng. Hệ thống điển địa danh trong thơ Xuân Diệu trước 1945 có số lượng khá lớn,
chủ yếu có nguồn gốc văn hóa Hán học, có tác dụng to lớn trong việc phục dựng
không gian quá khứ là không gian đẹp đẽ, mỹ lệ, trang trọng, đối lập với không
gian chật hẹp, tầm thường trong hiện tại. Ví như, trong Nguyệt cầm, một bến “Tầm
Dương” mơ về với dư âm tiếng đàn vang vọng đã làm cho thiên nhiên âm nhạc và
con người tương tư, hòa lẫn trong nhau. Nếu tiếng đàn của Bạch Cư Dị hiện lên với
những cung bậc tâm trạng của người kỹ nữ bị ruồng bỏ, của người nghe đàn bị đày
đọa thì tiếng đàn của Xuân Diệu như là gam màu chủ quan của cái tôi trực cảm
can thiệp:
Thu lạnh càng thêm nguyệt
tỏ ngời;
Đàn ghê như nước lạnh trời
ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang
vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc
nhớ người…
3. Những điển tích nhân danh, địa danh dẫn ra trên đây là minh chứng cho phong cách mới lạ độc đáo của Xuân Diệu: kế thừa mạch nguồn thơ ca phương Đông, tiếp thu tinh hoa thơ phương Tây để vươn tới những giá trị mới mẻ, độc đáo. Dùng điển đã trở thành phương thức sáng tác đầy dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Nghệ thuật dụng điển đã chứng minh Xuân Diệu khước từ những khuôn sáo gò bó của thơ ca trung đại, nhanh chóng hòa vào quỹ đạo của thơ ca hiện đại. Với ngòi bút vừa phóng khoáng, bay bổng, lãng mạn lại vừa tài hoa, uyên bác, truyền tải cả hơi hướng Đông – Tây, Xuân Diệu đã mang tới cho phong trào Thơ Mới tiếng nói của thơ ca dân tộc giản dị mà sâu sắc. Và điều độc đáo ở chỗ, chính nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ Mới” lại là người chủ động vận dụng “cái cũ” nhất của thơ ca truyền thống là điển cố vào trong sáng tác của mình một cách hiệu quả. Đây là một trong những đặc điểm độc đáo trong phong cách thơ Xuân Diệu trước 1945 mà lâu nay chúng ta ít để ý.
13/11/2022
Nguyễn Công Trí
Nguồn: Báo Giáo Dục và Thời Đại
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét