Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

Nhà thám tử cô đơn 00000000

Nhà thám tử cô đơn

Truyện thứ nhất
Pháp Ô Hô… Nhà Thám Tử Cô Đơn
Tuy nước nhà lâm vào tình trạng chiến tranh, công cuộc sản xuất tinh thần vẫn không bị ngưng trệ. Trong vòng 10, 15 năm nay, số sách truyện được viết và in lên tới hàng ngàn. Mấy năm gần đây, số tác phẩm có vẻ gia tăng mặc dầu tiền in đắt, tiền giấy đắt, khả năng phát hành toàn quốc bị thu hẹp tối đa. Đó là triệu chứng đáng mừng.
Nhưng chúng ta cũng lấy làm lo ngại vì hầu hết các tác phẩm đều thiên về trữ tình xã hội. Tiểu thuyết gồm nhiều bộ mặt, tiểu thuyết trữ tình xã hội mới là một phần. Còn nhiều địa hạt phong phú khác chưa được khai thác. Về gián điệp thì ngoài Z.28 và một số truyện phóng tác, không thấy ai đóng góp thêm, ngoại trừ một vài sự hiện diện nhất thời. Về trinh thám, truyện toát bồ hôi lạnh, truyện tội phạm, truyện đen, thì gần như hoàn toàn vắng bóng, nếu không kể những truyện dịch và phóng tác.
Với cuốn này, Người Thứ Tám hy vọng được giới thiệu những bông hoa quý trong rừng tiểu thuyết đen. Những truyện được tác giả lần lượt kể lại đều đã xảy ra trên thế giới. Đành rằng đây là truyện có thật, nhưng khi đọc xong, bạn đọc sẽ không tin, bạn đọc sẽ nghi là truyện tưởng tượng.
Đây là những truyện có thật trăm phần trăm như nhà thám tử Fosse danh tiếng bậc nhất của công an Bắc Pháp, có thật như ông chánh án ở Nam tư, có thật như cái chết của giai nhân Marta ở Tiệp khắc, có thật như thiếu phụ chuyên đầu độc bằng thạch tín ở Hoa Kỳ…Nhưng khi đọc xong, bạn đọc sẽ nghĩ là truyện tưởng tượng như loại tiểu thuyết Z.28. Người Thứ Tám có thể bảo đảm điều này: đọc hết trang đầu, bạn đọc sẽ đọc hết trang hai, đọc hết truyện thứ nhất, bạn sẽ đọc hết truyện thứ nhì, và sau khi đã đọc hết truyện thứ nhì, chắc chắn bạn đọc sẽ giở luôn đọc một mạch. Cho dẫu trời đã khuya. Và mai phải dậy sớm.
Nhà thám tử đại tài trong truyện là ông cò Camille Edouard Armand Fosse, một trong những thẩm sát viên công an lẫy lừng nhất nước Pháp. Sự đời éo le, ông Fosse đã gặp một vụ não lòng, mấy chục năm trôi qua mà nhiều người nhắc lại còn ngậm ngùi rơi nước mắt…
Vùng Normandie ở tây-bắc nước Pháp là nơi thu hút nhiều du khách. Trong những ngày cuối cùng của thế chiến thứ hai, quân đội đồng minh đổ bộ ồ ạt tại đó, lập thành đầu cầu kiên cố để đuổi lui Đức quốc xã. Và kết quả là hàng vạn thanh niên thuộc đủ mọi quốc tịch đã gục ngã trong cuộc hành quân giải phóng. Hàng năm, thân nhân họ từ xa đến viếng mộ giữa phong cảnh hùng vĩ, sóng biển rì rào, những bãi cát trắng nhuộm máu thuở nào chạy thẳng đến chân trời vô tận.
Trong số du khách ghé Normandie còn có những nhà khảo cổ. Vì đây là một trong những vùng có phong tục và di tích kỳ lạ. Dọc quốc lộ 176, sống chen chúc một xã chuyên nghề làm đồng. Dân làng gõ nồi, đúc xoong từ sáng đến tối, từ đời này đến đời kia nên ngày nay hầu hết già trẻ lớn bé đều nặng tai (1), phải hét lớn mới nghe rõ.
Gần đấy đứng sừng sững một cây sồi cổ thụ. Độc nhất vô nhị. Trên khắp châu Âu chưa cây sồi nào già bằng nó và lớn bằng nó. Vòng gốc nó đo được 13 mét. Tuy nhiên, đặc điểm của nó là ruột hoàn toàn rỗng. Người ta thuật lại dưới thế kỷ 17, trong một trận bão lớn, 40 trẻ nít đã ẩn núp trong thân cây an toàn. Sau đó một vị linh mục giàu sáng kiến ở địa phương đã lập ngay trong thân cây sồi một cái …nhà thờ. Thời gian lặng lờ trôi qua, sự vật biến đổi, cây sồi vĩ đại vẫn đứng trơ trơ…(2)
Thẩm sát viên Fosse từng được nhiều người ví với cây sồi. Ông cũng sinh trưởng tại Normandie, quê hương của cây sồi thách thức năm tháng. Cuộc đời ông là cuộc đời thành công rõ ràng về chức nghiệp, ấy thế mà ông lại đột ngột từ bỏ kinh đô ánh sáng Ba lê, nơi ông đang hành nghề trong hào quang của sự trọng vọng, để rút lui về nơi chân nhau cắt rốn, sống chuỗi ngày già của …cây sồi, không màng gì đến bên ngoài.
Thật vậy, trong những ngày sau cùng này, thẩm sát viên Fosse đã trở thành người điếc. Điếc như dân làng của quốc lộ 176. Phải, ông cố tình điếc. Ông không muốn nghe tiếng ai nữa. Vì ông sợ nghe lại những âm ba của quá khứ.
Kể ra hồi ấy ông Fosse chưa lấy gì làm già để về hưu trí. Những người bằng tuổi ông đang giữ chức vụ điều khiển guồng máy an ninh. Về sức khỏe, ông cũng chưa đến nỗi nào. Ông còn có thể làm việc quần quật suốt ngày. Ông có thể ngồi đọc hồ sơ suốt đêm. Mắt ông chưa cần đeo mục kỉnh, gân tay ông còn cứng.
Thế mà ông lại đột ngột nộp đơn từ dịch.
Thoạt đầu thượng cấp không chấp thuận. Tìm được một thẩm sát viên đầy kinh nghiệm, phục vụ có lương tâm và thanh liêm như ông đâu phải dễ. Phương chi ông Fosse lại là trưởng ban thẩm sát, ông là thẩm sát viên số một của Ba lê, thẩm sát viên số một của nước Pháp. Sự ra đi của ông cò Fosse là một sự mất mát ghê gớm. Ông tổng giám đốc kêu ông Fosse lên hỏi lý do. Cuộc đối thoại diễn ra trong văn phòng tổng giám đốc, cửa đóng kín mít. Không ai chứng kiến. Không ai nghe lóm. Nên không ai biết ông Fosse đã nói những gì.
Chỉ biết là sau cuộc đối thoại đó, ông tổng giám đốc đã cầm bút phê ngay chữ « chấp thuận » vào lá đơn của ông cò Fosse. Người ta thấy ông tổng giám đốc rưng rưng nước mắt. Ông Fosse có vẻ điềm tĩnh hơn, song chẳng qua đó là điềm tĩnh giả tạo. Chẳng nói chẳng rằng, ông cò Fosse rời phòng giấy ông tổng giám đốc.
Rồi ông đi biệt tích.
Bạn bè không biết ông đi đâu. Một thời gian sau, họ khám phá ra ông cò Fosse trở về quê ở Flers, thuộc quận Orne ở Normandie, một thị trấn kỹ nghệ bé nhỏ gần những bãi cát trắng mà mấy chục năm sau quân đội đồng minh đổ bộ, viết thành lịch sử…
Ông cò Fosse sống một mình trong ngôi nhà vô danh ở ngoại ô thị trấn. Trước nhà có thửa vườn trồng hoa. Ông cò chẳng làm gì ngoài việc chăm sóc những bồn hoa. Ông không đi đâu. Ông không tiếp bạn bè. Người Pháp, nhất là người Pháp về già, sau bao năm âu lo nghề nghiệp, thường khề khà ly rượu vang đỏ bên lò sưởi buổi chiều tuyết lạnh với bạn bè. Riêng ông cò Fosse lại sống cô đơn. Bằng hữu không có đã đành, ngay cả họ hàng, thân quyến cũng vắng bóng. Dường như ông trốn gia đình. Trốn tri kỷ.
Ông cò trốn tất cả. Trốn nghề nghiệp. Trốn hiện tại. Trốn sự thật.
Cho đến một ngày kia, ông thở hơi cuối cùng. Ông cò được chôn trong nghĩa trang thị trấn. Đám tang ông cũng buồn bã và quạnh hiu như những ngày dưỡng già bất đắc dĩ của ông. Trước khi vĩnh biệt cõi đời, may thay ông có được vài ba người bạn. Một trong những người này đã chôn ông dưới gốc thông reo vi vu. Hàng ngày, hàng đêm, rặng thông reo vi vu như than vãn sự đời. Tiếng thông reo vi vu này cũng là tiếng nức nở của ông cò Fosse trong lòng đất.
Người bạn chôn ông kể lại là khi chết, ông cò Fosse mở mắt trừng trừng. Vuốt mãi, mắt ông mới chịu nhắm. Ông cò Fosse không độc ác, song lòng ông chứa chất một cái gì oan khuất, một cái gì bí mật ông không thể nói ra.
Ông cò Fosse từ dịch là phải. Ông mai danh ẩn tích là phải. Ông sống cô đơn, chết dần chết mòn là phải.
Sinh ư nghệ, tử ư nghệ, ai dám ngờ định mạng lại trớ trêu và phũ phàng đến thế.
Ông Fosse có khiếu làm ông cò từ bé. Hồi còn cắp sách đến trường tiểu học, ông đã khét tiếng điều tra giỏi, trong trường hể xảy ra vụ mất cắp nào giữa bọn học trò quỷ sứ, ông cũng tìm ra manh mối dễ dàng. Ông có tài quan sát và phân tích. Ông có đức tính kiên nhẫn lạ lùng, và không bao giờ ông biết chán nản.
Nhưng sự đam mê nghề nghiệp đã làm hạnh phúc lứa đôi của ông rạn nứt. Vợ ông còn trẻ, lẽ ra ông nên giành nhiều thời giờ săn sóc, ông lại dồn thiện cảm cho công việc. Do đó, gia đình ông lục đục chỉ là chuyện dĩ nhiên. Ai cũng tưởng một đứa con mũm mĩm sẽ giữ chân ông cò Fosse lại nhà, ít ra là ban đêm. Những đêm lạnh thấu xương, thiên hạ say sưa trong chăn ấm nệm êm bên người vợ nóng bỏng tình yêu thì ông cò lại băng mình vào sương gió, theo dấu vết một tên gian…
Nhưng đứa con trai mũm mĩm đã chào đời mà ông cò Fosse vẫn nặng nợ với nghề thẩm sát viên công an…
Việc phải đến đã đến. Vợ ông cò ngả vào vòng tay người đàn ông khác. Bầu không khí gia đình trở nên ngột ngạt. Ông cò giận người vợ trẻ đẹp thiếu chung thủy, thường về nhà khuya hơn trước, và đi làm sớm hơn trước. Một đêm kia, ông mở cửa phòng thì chẳng thấy ai. Vợ ông đã cuốn gói ra đi với tình nhân. Cái nôi buông mùng trắng toát, nằm tênh hênh ở góc phòng, bên trong chỉ còn lại cái núm vú cao su thơm thơm mùi sữa. Nàng đã ẵm đứa con trai duy nhất của ông cò dông luôn một mạch.
Ông chỉ tìm kiếm qua quít. Nếu ông huy động guồng máy truy tầm của cảnh sát thì chắc chắn cô vợ trẻ gian dâm và đứa hài nhi vô tội đã được tìm thấy.
Ông cò Fosse quay lại nếp sống độc thân. Từ đó, ông có hoàn cảnh phục vụ đắc lực hơn. Ông khỏi phải về nhà sau giờ làm việc. Ông được tự do ăn ngủ ngay tại văn phòng. Và chẳng bao lâu ông cò Fosse được cấp trên lưu ý, bổ nhiệm làm trưởng ban thẩm sát, nghĩa là làm cò xếp.
Danh tiếng ông cò xếp nổi lên như cồn. Ông điều khiển hệ thống điều tra truy tầm của công an Pháp. Bên ngoài nước Pháp, người ta vị nể ông. Dư luận trong nước coi ông như viên ngọc quý. Bọn đầu trộm đuôi cướp chỉ nghe nói đến ông cò Fosse là sợ xanh mặt. Chúng bạt vía vì ông tài giỏi, đứa nào ló đầu ra là bị ông tóm bắt như lấy đồ trong túi. Ông cò Fosse phụ trách vụ nào kể như vụ ấy thành công chắc chắn. Ông nghiên cứu kỹ hồ sơ, thuộc lòng từng dấu phẩy, nhớ từng cái nốt ruồi hay cái mũi hiếng của tên tình nghi. Sau đó ông theo dõi nội vụ cả ngày, cả đêm, không biết ngày chủ nhật, ngày lễ và dịp nghỉ hè mỗi năm là gì nữa. Ông hăng say làm việc cho đến khi phăng ra manh mối, rồi ông đích thân thộp cổ thủ phạm. Xong xuôi, ông cò mới có thể ăn no, ngủ yên.
Ông cò được mời điều tra một vụ án lớn. Và như thường lệ, ông đã thành công vẻ vang trong khi mọi người khác thất bại não nề. Nhưng khác với thường lệ, sự thành công vẻ vang này đã chôn vùi đời ông.
Một bọn gian hoành hành trong nhiều tháng liền ở miền bắc nước Pháp. Nông thôn Normandie đang sống trong cảnh yên hàn bỗng nhiên đất bằng dậy sóng. Xe chở thực phẩm từ vùng quê lên thành thị bị bọn bất lương chặn dọc đường, đòi tiền mãi lộ, hoặc cướp sạch. Như vậy cũng chưa đủ, chúng còn đánh đập dã man nạn nhân. Nửa đêm, chúng ngang nhiên gõ cửa tư gia, đột nhập vào lột hết vàng bạc, tịch thu tiền cửa, chủ nhà không dám hó hé vì chúng dọa giết chết. Mọi vụ cướp bóc đều diễn ra một cách chu đáo. Bọn gian không hề lưu lại dấu vết. Chúng ăn hàng thật nhanh. Dường như chúng có tay trong ở khắp nơi. Bằng chứng là chúng đến cũng như đi đều như điện xẹt, lực lượng an ninh địa phương không tài nào xoay xở kịp.
Nếu bọn gian chỉ nghĩ đến cướp bóc, đánh đập thì có lẽ chúng còn ngự trị thêm một thời gian nữa. Nhưng chúng đã làm máu đổ. Một buổi sáng kia, một cặp vợ chồng già bị giết chết ngay trong nhà. Vụ án mạng xảy ra tại một nông trại nhỏ thuộc ngoại ô thành phố đại kỹ nghệ Lille. Thị trấn này chưa hề gặp nạn giết người cướp cửa vì công an cảnh sát hoạt động hữu hiệu. Rõ ràng là bọn gian muốn vuốt râu hùm…
Cặp vợ chồng già nạn nhân được coi là hiền lành, phúc đức, xóm giềng rất có cảm tình. Bọn gian giết xong, cướp sạch sành sanh. Giết lương dân vô tội đã là chuyện quá đáng, đằng này vợ chồng nạn nhân lại gần như hoàn toàn tàn tật, tai điếc, mắt lại nửa mù nữa…
Dư luận đều tỏ ra công phẫn. Họ đồng thanh yêu cầu nhà chức trách xúc tiến công cuộc truy tầm hung thủ. Sau một thời gian hoạt động ráo riết, công an Lille hân hoan loan tin đã bắt được một kẻ tình nghi. Tên hắn là Croquille. Hắn làm tá điền ở Armentières, vùng bên cạnh, tóc đen, gương mặt sần sùi, không mấy khả ái. Người ta gặp hắn nằm ngáy khò khò trong cái hố gần đường vào thị trấn. Hắn ngủ say đến nỗi chẳng biết trời đất gì nữa. Ngửi miệng hắn chỉ toàn rượu là rượu. Hắn bị tóm vì quần áo và giày hắn dính máu. Giải về bót, Croquille không giải thích được tại sao lại rây máu trên người. Tuy nhiên, hắn mồm loa mép giải bào chữa là hắn không dính dấp đến vụ thảm sát.
Những người quen biết Croquille đều không tin hắn là thủ phạm. Hắn là kẻ vô trách nhiệm, rượu chè bê bối. Hắn có thể ăn trộm quả trứng gà hoặc lượm đồng bạc rớt trên đất nhét vào túi và nhận của mình. Song từ trước đến nay, hắn chưa hề làm chuyện dữ. Hắn lại ngu như bò. Nằm xuống là ngáy vang như sấm. Óc hắn đặc sệt, như thể chứa toàn đất và phân. Muốn làm thủ phạm giết người không gớm tay này ít ra Croquille phải ranh khôn. Vừa ngu như bò hắn lại hiền như đất.
Công an Lilli cũng hết sức bối rối. Họ thẩm vấn Croquille ngày này sang ngày khác vẫn không tìm ra chị tiết nào khả dĩ lôi được hắn ra tòa. Bị đánh đau, hắn thú tội nhưng chỉ ít lâu sau, hắn lại chối tội. Công an khám nhà hắn, gọi là nhà kỳ thật là cái ổ chuột bẩn thỉu. Họ nghiên cứu từng phân vuông đất mà chẳng thấy gì. Nếu Croquille giết cặp vợ chồng già, lấy hết đồ quý thì hắn cất giấu ở đâu?
Công an bèn dỗ dành hắn. Họ hứa giảm án thật nhẹ nếu hắn chịu khai thật, đồng thời tố cáo đồng lõa. Ai là đầu đảng? Sào huyệt đảng cướp ở đâu? Ngoài hắn ra, trong đảng còn những tên nào nữa? Cuộc thẩm vấn lại tiếp tục. Croquille lại cung khai tiền hậu bất nhất. Vụ thảm sát đành nằm chết trên bàn giấy. Các viên chức công an thở dài nhìn nhau, hy vọng phép màu xảy ra…Và phép màu xảy ra thật.
Các nhân sĩ trong thị trấn nhóm họp và bầu ra một ủy ban. Ủy ban Nhân sĩ này tiếp xúc với ông đô trưởng, đòi đẩy mạnh cuộc điều tra, chóng đem thủ phạm ra tòa xét xử. Họ đưa ra một thỉnh nguyện, bãi những viên chức công an bất lực địa phương và lên tận Ba lê mời ông cò Fosse về. Họ tin chắc ông cò Fosse nhận lời. Trên nguyên tắc, ông Fosse điều khiển toàn bộ ngành điều tra, nếu dân chúng Lille thỉnh nguyện, ông có bổn phận đích thân đảm trách nội vụ. Phương chi ông cò còn là con dân miền bắc, ông không thể từ chối thỉnh nguyện của bạn đồng hương.
Ủy ban Nhân sĩ đoán đúng. Nhận được thỉnh nguyện, ông cò Fosse rời Ba lê ngay. Ông đã nghe nói đến vụ thảm sát. Chính ông cũng sôi sục căm phẫn.
Ông cò Fosse là một thẩm sát viên đặc biệt. Ông kị nhất sự lầm lẫn, mặc dầu nghề điều tra không khác nào lạc vào mê hồn trận. Ở đâu cũng thấy lầm lẫn. Trên thực tế, ông cò chưa hề lầm lẫn trong bao nhiêu năm cầm đầu ngành điều tra hình tội. Ông luôn luôn đặt nặng vấn đề công lý. Ông thường tuyên bố:
-Đời tôi có hai phương châm. Thứ nhất, người vô tội phải được bảo vệ, hàm oan phải được giải. Thứ hai, kẻ có tội phải đền tội. Không thể lầm lẫn giữa vô tội và có tội.
Đối với bọn sát nhân, ông cò Fosse xuống tay không hề thương tiếc. Ông bảo cướp của đã không thể tha thứ, cướp của rồi còn giết người thì bắt buộc phải lãnh án tử hình, lên đoạn đầu đài. Cho nên khi đến thị trấn Lille bắt tay vào vụ thảm sát, ông cò Fosse đã tự nguyện tóm cổ tên đầu đảng và bọn cướp khát máu, đưa cả lũ lên máy chém. Hồi ấy, tử tội Pháp còn bị chặt đầu bằng dao máy.
Dân chúng thị trấn thở phào, cất được gánh nặng trên ngực khi thấy bóng dáng ông cò Fosse. Ông đóng chặt cửa phòng, mang tập hồ sơ dày cộm ra đọc đi đọc lại. Ông cho khai quật tử thi của cặp vợ chồng già, xem xét tường tận vết thương và quần áo nạn nhân. Ông đến nơi xảy ra vụ thảm sát, quan sát từng rễ cây, dùng kính hiển vi phân tích từng hạt bụi. Ông giành thật nhiều thời giờ hỏi chuyện dân chúng sống gần phạm trường. Mọi chi tiết hữu ích cũng như vô ích đều được ông ghi chép đầy đủ. Đoạn ông trở về nhà giam, thẩm vấn Croquille trong nhiều giờ đồng hồ không nghỉ. Sau đó, ông ra lệnh xếp quần áo Croquille thành một gói rồi trèo lên xe đi thẳng.
Thì ra ông cò Fosse về Ba lê. Thị trấn Lille chưa có đủ phòng thí nghiệm tối tân để làm những việc ông đòi hỏi. Vả lại, ông cò cần một thời gian ở xa để suy nghĩ.
Nhiều ngày sau đó, ông cò Fosse gõ cửa văn phòng ông đô trưởng Lille. Ông đô trưởng mừng rú:
-Thế nào, ông cò, ông đã tìm ra bằng chứng Croquille là hung phạm chưa?
Ông cò Fosse đáp:
-Rồi. Nhưng đây lại là bằng chứng Croquille vô tội.
-Trời đất, hắn vô tội thì ai có tội bây giờ?
-Tìm kẻ có tội là chuyện sau. Về phần Croquille, có 3 điều chứng tỏ hắn vô can. Thứ nhất, tôi đã nậy những bụi bám ở móng tay hai nạn nhân mang đi thử nghiệm, những bụi này là tóc và da của hung thủ, do hai nạn nhân cào quấu, kháng cự nên có. Các chuyên viên cho biết hung thủ là người có nước da trắng, tóc cũng không đen. Ông đô trưởng hẳn nghe nói Croquille có nước da đen ròn, tóc hắn cũng đen như người phương đông. Chỉ riêng điều thứ nhất đã đủ cứu Croquille. Huống hồ còn điều thứ hai…
-Nhưng còn những vết máu trên quần áo hắn?
-Tôi sắp nói với ông đô trưởng đây. Những vết máu này không phải là máu người. Mà là máu…gà.
-Máu gà?
-Phải. Chuyên viên còn nói rõ đây là máu gà đã lâu, chứ không phải máu gà mới. Nghĩa là cách đây khá lâu, thằng Croquille ăn trộm gà, cắt tiết mổ thịt, máu gà rây vào áo. Ông đô trưởng muốn bỏ tù hắn thì bỏ, tôi không dám ngăn, nhưng thiết nghĩ cái tội ăn trộm gà này không quá nặng để hắn bị giam lâu.
-Vậy, tôi phải trả tự do cho Croquille?
-Chưa, xin ông đô trưởng cứ để hắn nằm nhà đá thêm ít ngày nữa. Tôi đang cần ru ngủ hung thủ.
-Ông cò đã phanh phui ra hung thủ?
-Vâng, tôi chưa thể nói hung thủ là ai, song tôi nghĩ ngoài hắn ra thì chẳng còn ai vào đấy nữa. Đó là điều thứ ba tôi định thưa với ông đô trưởng. Croquille có tiếp tục ngồi tù thì hung thủ mới huênh hoang tự mãn, và càng vây vo, hắn càng dễ rơi vào lưới của tôi. À, tôi yêu cầu ông đô trưởng…
-Ông cò muốn ân huệ gì tôi cũng làm vừa lòng ngay. Dầu sao…
-Ông đô trưởng hiểu lầm câu nói của tôi. Tôi không bao giờ nghĩ đến ân huệ cá nhân. Ông đô trưởng đã biết gia cảnh của tôi. Tôi hiện sống một thân một mình, vợ không có, con cũng không, có được đứa con đáng yêu thì mụ vợ lăng loàn dâm đãng bế đi mất. Ông đô trưởng tính coi, hồi có gia đình tôi còn không xin xỏ, huống hồ bây giờ…
-Ông cò tha lỗi, tôi vốn phổi bò, nghĩ sao nói vậy. Ông cò cũng là dân miền bắc như tôi, dân miền bắc bộp chộp mà tốt bụng, phải không ông cò?
-Thưa phải. Tôi đâu dám giận ông đô trưởng vì một chuyện vô nghĩa như vậy.
-Hỏi ông khi hơi tò mò…Bà vợ cũ của ông cò hiện ở đâu?
-Tôi không biết. Nếu biết tôi cũng không tìm tới. Chuyện đã lâu rồi, gần hai chục năm nay, tôi không ngờ nàng có thể tệ bạc đến thế.
-Nhưng còn con. Còn hột máu độc nhất của ông. Ông không thương bà ấy thì thôi, chẳng lẽ ông bỏ cháu. Tôi biết ông cò lắm. Bề ngoài ông cương quyết, nét mặt phớt lì, song bên trong…bên trong lòng ông…tôi nghĩ rằng ông vẫn thương, vẫn nhớ con. Con gái hay con trai, hả ông cò?
-Con trai.
-Giờ đây nếu nó còn sống, nó phải hơn 20. Chà…phụ tử tình thâm, giá Trời cho hai cha con đoàn tụ nhỉ?
-Chẳng giấu gì ông đô trưởng, từ nhiều năm nay tôi cảm thấy không vui. Tôi lăn xả vào công việc là để cố quên mà không quên được. Nếu Trời run rủi cho cha con tôi gặp nhau thì sung sướng nào bằng. Nhưng thôi, nhiều người khách đang chờ ông đô trưởng ở phòng ngoài, tôi làm ông đô trưởng mất quá nhiều thời giờ vô ích.
-Chẳng sao, được tâm sự với ông cò là một hân hạnh cho tôi.
-Xin chào ông đô trưởng.
-Vâng, xin chào ông cò. Chừng nào ông cò báo tin mừng cho đồng bào Lille?
-Về hung thủ cướp của giết người ấy à? Chỉ xin thư thả cho tôi ít ngày nữa. Vì tôi cần bắt trọn ổ.
Thật vậy, Ông cò Fosse đã đặt sẵn kế hoạch bắt trọn ổ đảng cướp. Vì vụ thảm sát là do một đảng cướp gây ra. Qua một số mật báo viên và tin tức chính xác, Ông cò Fosse đã phăng ra lai lịch tên đầu đảng. Tên hắn là Tourdeau, Jacques Tourdeau. Ông chưa thề tống giam hắn vì còn thiếu bằng chứng quyết định. Nhưng nếu Croquille bị nằm tù, nếu ông đô trưởng tung tin Croquille sẽ bị truy tố về tội thảm sát, và chắc chắn bị kết án tử hình thì Tourdeau và bè lũ sẽ hớ hênh để lộ những bằng chứng quyết định…
Tourdeau còn trẻ, hắn không xí trai, mặt hắn không đến nỗi đần độn thế mà học hành chẳng có bao nhiêu. Dường như hắn hoàn toàn i-tờ-rít. Hắn sống bằng nghề bán hàng rong. Không phải bán ở dọc đường mà là bán đồ gia dụng tận nhà. Hắn đi khắp hang cùng ngõ hẻm miền bắc, nhà nào hắn cũng đến. Lối bán hàng rong này chỉ là tấm bình phong cho nghề thật của hắn, nghề đi ngang về tắt, nghề trèo tường khoét vách. Lợi dụng vào nhà dân chúng, Tourdeau thấy đồ vật đáng giá là tính chuyện bất lương. Thoạt tiên, hắn chỉ ăn cắp, ăn trộm cò con, dần dà hắn kết thân với nhiều tên lưu manh, côn đồ khác, họp thành đảng, rồi Tourdeau không thèm gian vặt nữa. Hắn làm những mẻ hàng lớn, tính toán kỹ càng, chắc ăn mới xuất quân, cũng kỹ càng không kém ông tướng ngoài mặt trận. Tourdeau thất học, song có khiếu chỉ huy. Nhiều kẻ lớn tuổi hơn hắn mà vẫn nhận hắn làm xếp sòng. Ăn quen bén mùi, Tourdeau bố trí vụ cướp nhà cặp vợ chồng già. Nạn nhân kháng cự, hắn bèn hạ sát.
Ông cò Fosse cho người bám sát Tourdeau ngày đêm. Hắn vô tình dẫn ông đến đồng bọn của hắn. Chẳng bao lâu ông cò Fosse đã có trong tay bộ địa chỉ và tên tuổi những kẻ có chân trong đảng cướp của Tourdeau. Ông bèn lừa chộp mấy tên rút rát trong bọn. Chưa đánh bọn này đã khai. Dĩ nhiên, chúng đổ hết tội cho đầu đảng. Và tên đầu đảng Tourdeau không phải là tay mơ. Tourdeau chỉ là tên giả, hắn dùng ít nhất 9 tên giả khác nhau. Hắn từng dúng tay vào hàng chục trọng tội. Sở dĩ hắn vẫn khơi khơi ngoài vòng pháp luật vì hắn khôn ngoan nhất mực. Ăn vụng xong, hắn chùi mép rất giỏi.
Ông cò Fosse đào sâu dĩ vãng thối tha của Tourdeau và được biết nguyên nhân hắn sống nghề trộm cướp là do cha ghẻ của hắn. Một tên côn đồ giết người không gớm tay như Tourdeau còn được tự do ngày nào là ngày ấy an ninh chung còn bị đe dọa. Ông cò Fosse quyết định phục hồi an ninh chung cho thị trấn Lille và vùng phụ cận.
Đúng 3 tuần sau ngày đến Lille, ông cò Fosse ra lệnh cho công an dưới quyền vây bắt toàn bộ đảng cướp. Đích thân ông cò Fosse vây bắt tên đầu đảng Tourdeau.
Đêm ấy, không hiểu sao ông cò Fosse chỉ ngồi uống cà phê. Ông uống hết ly này đến ly khác. Trời đã tang tảng sáng mà ông vẫn còn ở trong phòng giấy. Lẽ ra ông phải đi ngủ từ sau nửa đêm. Cuộc thẩm vấn Tourdeau đã kết thúc sớm. Mặt câng câng, Tourdeau khai hết. Hắn coi án khổ sai như chuyện đùa. Cho dẫu phải lên máy chém nữa, hắn cũng không ngán.
Ông cò Fosse không hỏi cung bọn cướp. Ông tình cờ vào phòng, đọc lời thú tội của Tourdeau. Hắn mặc sơ mi ngắn, cánh tay xâm đầy. Ông hỏi hắn:
-Anh thích xâm mình?
Hắn đáp:
-Cũng chẳng thích lắm. Hồi nhỏ, mẹ tôi xâm ở lưng tôi, nên tôi bắt chước.
-Xâm cái gì?
-Ồ, mẹ tôi có hoa tay. Bà ta xâm cho tôi con dao, nói là con dao trừ được ma quỷ.
-Lưng anh xâm hình con dao hả? Đâu nào, anh chìa ra tôi xem.
Tourdeau trợn mắt nhìn ông cò Fosse, ra vẻ sửng sốt tột độ. Ông cò hơi tái mặt nhưng trời tối, ánh đèn nê-ông xanh ngắt nên không ai để ý. Tên đồng đảng nhún vai đoạn cởi áo sơ mi. Hình con dao mũi nhọn hoắt nằm tréo dưới bả vai trái.
Ông cò Fosse lẩm bẩm:
-Con dao nhọn…bả vai trái…!
Tourdeau chắt lưỡi:
-Vâng…ở bả vai trái. Ông thấy hình xâm có đẹp không? Mẹ tôi chẳng học trường nào mà vẽ đẹp không thua học sĩ.
Giọng ông cò Fosse bỗng mất bình tĩnh:
-Mẹ anh ở đâu?
Tourdeau đáp:
-Dưới đất.
-Nghĩa là đã chết. Mẹ anh chết khi nào?
-Không biết.
-Còn cha anh?
-Ông cò hỏi cha nào? Cha thật hay cha ghẻ.
-Cả hai.
-Cha ghẻ tôi dường như còn sống. Còn cha thật của tôi thì ông ta sống cũng như chết, ông ta bỏ tôi một cách tàn nhẫn khi tôi còn ẵm ngửa. Hừ, ông cò ơi, ông gợi chuyện gia đình tôi làm gì. Ông bắt được tôi, chắc ông khoái lắm. Tôi khó thoát khỏi máy chém, phải không ông cò? Nhờ ơn ông ấy…Phen này ông sẽ được gắn thêm mề-đay. Ha ha…ông sẽ được tăng lương…ông sẽ được lên chức. Ha ha…
Ông cò Fosse lặng lẽ cúi đầu, lẻn ra khỏi phòng thẩm vấn. Rồi ông về phòng, lặng lẽ hút thuốc lá và uống cà phê.
Ông cò Fosse đốt hết mấy gói thuốc lá, uống hết mấy phích cà phê trời mới chịu sáng rõ. Ông không buồn thay quần áo nhầu nát, dùng điểm tâm, chào hỏi đồng liêu. Ông mở cửa hông ra đường, trở lại thủ đô Ba lê. Và ngay sau khi đến Ba lê, ông đệ đơn từ dịch. Ông thui thủi về quê nhà ở Flers, sống mai danh ẩn tích cho đến khi mãn chiều xế bóng.
Tại sao Ông cò Fosse lại bỏ việc đột ngột giữa lúc ông thành công rạng rỡ?
Đến đây chắc bạn đọc đã có thể tìm ra giải thích. Sinh ư nghệ, tử ư nghệ, phải không các bạn? Sự đời thật oái oăm và đau đớn. Nếu ông cò Fosse không là đệ nhất thám tử nước Pháp thì đâu đến nỗi. Thì vợ ông không bỏ ông. Thì đứa con trai độc nhất không tha phương cầu thực. Và sau này nó không trở thành tên cướp chúa. Để bị cha nó bắt giam, lập hồ sơ, đưa ra tòa, lãnh án tử hình, rồi lên đoạn đầu đài đền tội.
Nó là Tourdeau. Cha nó là ông cò Fosse. Tourdeau thay đổi tên nên ông cò không biết. Đến khi biết là con thì đã quá muộn.
Ô hô…
Chú thích:
(1) xã này là Villedieu-les-Poêles. Poêle là xoong chảo.
(2) cây sồi này tọa lạc tại Allonville-Bellefosse, cách Yvetot 1 km.
Truyện Thứ Hai
Tiệp Khắc Mù Mắt Vì Tình
Thiên địa phong trần,
Hồng nhan đa truân
( Chinh phụ ngâm )
Thói đời của hồng nhan là suốt đời đa truân. Từ cổ chí kim thật hiếm đàn bà đẹp tận hưởng hạnh phúc đến mãn chiều xế bóng. Marta là một cô gái đẹp tuyệt vời, nên số kiếp nàng lận đận cũng chẳng có gì lạ. Sở dĩ nhiều người biết đến nàng –và hôm nay Người Thứ Tám tường thuật đời nàng- là vì sự truân chuyên của nàng khác hẳn những sự truân chuyên đối với mỹ nhân trong dĩ vãng.
Marta Frantek là gái Tiệp khắc. Thiên tình sử ai oán của nàng xảy ra nhiều năm trước đại chiến thứ 2, trước khi Hitler mới lên nắm quyền, hò hét ở Đức. Chủ nghĩa cộng sản sô viết chưa đè rụp dân Tiệp nên người Tiệp còn thảnh thơi, còn có thời giờ du hí, mơ mộng và … làm tình giữa một phong cảnh đầy thi vị từng làm đề tài sáng tác cho biết bao tao nhân mạc khách.
Gái Tiệp có cái độc đáo, người nào đẹp thì thật đẹp, còn xấu thì thật xấu. Phần đông là bình thường. Marta quá đẹp, nàng đến đâu là hào quang sáng rực đến đó. Xứ Tiệp là nơi sản xuất những loại la-ve thơm ngon nhất thế giới, đặc biệt là la-ve Pilsen. Trai gái uống la-ve tì tì, sông có nhiều cá, rừng có nhiều thú săn, do đó phụ nữ Tiệp không phải là phụ nữ biểu diễn đường cong núi lửa. Gái ở thành thị thường mập mạp, vòng bụng luôn luôn đe dọa tranh chấp vòng ngực. Gái ở nông thôn quanh năm làm việc đồng áng nên được thon hơn nhưng vẫn thô tháp và nặng nề. Đó là kết quả của những chất bổ dưỡng trong rượu la-ve.
Marta đẹp hơn hẳn mọi người đẹp khác. Mọi người to ngang, eo lớn, trông cục mịch và chậm chạp thì nàng nhỏ nhắn, bụng lép, mông tròn, ngực nở, dáng điệu thanh thoát và nhanh nhẹn. Thân thể nàng không có tí mỡ thừa nào, ngực và mông nàng nở đều đã đành, lại còn cứng rắn nữa. Đặc điểm thứ hai: trai gái nhậu nhẹt rượu bia quá trớn thành ra hơi thở luôn luôn nồng nặc. Khi hơi men tản hết thì miệng không còn thơm mấy. Giới y sĩ cho biết hôi miệng là do nhiều nguyên nhân, sâu răng, đau nướu, lở trong miệng, trong cuống họng, đau phổi, tiêu hóa xấu…chứ chưa ai nói hôi miệng là vì đa mang la-ve. Nhưng trên thực tế, nhiều cô gái (và dĩ nhiên nhiều chàng trai) mắc bệnh hôi miệng.
Nhưng ai có cái miệng thơm thơm như ngậm kẹo thì thiên hạ mến yêu, đổ đi không hết ái tình. Hồng nhan đa truân có khác, Marta đẹp như vậy mà gia đình lại nghèo, quá nghèo từ thuở chào đời đến tuần cập kê, nàng chỉ sống ru rú trong căn nhà lụp sụp. Thành thử ra nhan sắc siêu đẳng của nàng không được ai biết tới.
Cha nàng làm nghề thổi thủy tinh trong một nhà máy chế tạo ly lọ ở vùng ngoại ô thủ đô Praha (Prague). Mẹ nàng làm lụng cơm nước, giặt giũ trong nhà. Số lương ít ỏi của chồng phải giật gấu vá vai mới tạm đủ. Như thông lệ, vợ chồng nghèo, không có phương tiện giải trí, nghỉ hè hàng năm nên con cái càng đẻ ra sồn sồn. Ông thợ thổi thủy tinh có cả đống con trai, con gái. Để giúp đỡ cha mẹ, giai nhân Marta phải kiếm việc làm. Nàng học hành chẳng bao nhiêu nên chỉ có thể làm thư ký quèn trong một xí nghiệp hóa phẩm lớn.
Đàn bà có 8 kị tướng, hễ phạm một là đủ long đong trọn đời. Marta lại phạm những 2. Đó là xà hành và đào hoa diện. Đàn bà xà hành là đàn bà có dáng đi uyển chuyển, uốn éo như rắn. Theo sách tướng, đàn bà xà hành thường lẳng lơ, thích tình yêu xác thịt. Muốn có dáng đi xà hành phải có cặp mông tròn nở và đôi chân dài thòng. Đàn ông rất khoái đàn bà mông tròn, cẳng dài. Hàng triệu đàn bà trên trái đất mơ được mông tròn, cẳng dài. Nhưng đàn bà xà hành lại long đong. Vì quá đam mê. Vì luôn luôn ngụp lặn trong hưởng thụ vật chất, thay đổi người yêu như đổi đồ lót, để rồi xuân qua đông lại chẳng mấy chốc sẽ rơi vào kiếp hoa tàn nhị rữa.
Kị tướng thứ hai là đào hoa diện. Mặt như hoa đào, lúc nào cũng hồng, cũng tươi, môi bóng, mắt ướt, ai lại chẳng ưa. Ấy thế, đàn bà đào hoa diện lại bất lợi về đường chồng con. Đàn ông khôn ngoan không dại gì lấy gái có khuôn mặt hoa đào làm vợ, vì chắc đâu vợ sẽ trung thành, chắc đâu con nàng đẻ là con thật của mình. Đó là chưa nói đến sắc mặt hoa đào còn có tính chất sát phu.
Người đẹp Marta có tướng xà hành và đào hoa diện phải sống cảnh chăn đơn gối chiếc là vì thế.
Nói cho đúng, những người nặng lòng về nàng có thể đếm được hàng trăm. Nhân viên văn phòng, nhân viên nhà máy, từ xếp lớn đến xếp bé tép riu, ai cũng mê nàng. Nàng lại được tạo hóa phú cho cái tính ngây thơ hiền từ mới chết chứ…
Mỗi ngày nàng mỗi nẩy nở, mỗi ngày nhan sắc khuynh quốc khuynh thành của nàng mỗi hiện ra lồ lộ. Ông Pasticka mất ăn mất ngủ vì nàng không phải là một biến cố quá đáng. Giá ông không già khọm thì có lẽ giai nhân Marta đã nhảy vọt lên ghế bà giám đốc. Vì ông Pasticka là giám đốc nhà máy.
Ông giám đốc đã hơn ngũ tuần, bụng khá to, mái tóc bạc phơ, da dẻ vừa răn vừa mốc. Ông có hai cái thú cũng như người đẹp có hai kị tướng, đó là làm việc và uống la-ve Pilsen. Ông vùi đầu vào giấy tờ, vào máy móc từ sáng đến tối, và xểnh ra phút nào rỗi rãi là ông nhậu nhẹt la-ve. Đàn bà cô gái uống la-ve thường mập ra, đàn ông gần hết xí quách như ông giám đốc Pasticka uống la-ve lại nảy ra trạng thái xuân tình phát động. Ông giám đốc có cảm tình với Marta, song ông tự thấy xấu xí, ốm yếu, lại già bằng cha nàng nên ông lặng lẽ rút lui. Tình yêu tuyệt vọng của ông được nhường cho tình thương vô điều kiện. Ông hằng nghĩ cách cất nhắc nàng, giúp nàng có thêm đồng ra đồng vào để nuôi đàn em dại.
Ông nói với nàng:
- Thông minh như cháu mà ngày này qua ngày khác ngồi lì một chỗ làm cái việc xếp hồ sơ và tống thư văn trong nhà máy thì thật uổng. Qua muốn giúp cháu, cháu chịu không?
Nàng chắp tay vái ông:
- Được ông giám đốc nâng đỡ thì chắc chắn cháu sẽ nở mày nở mặt với chúng bạn. Gia đình cháu sẽ thâm tạ ông giám đốc.
- Hừ, có gì mà thâm tạ…Đây này, sở đang thiếu một chân thư ký. Lẽ ra qua phải đăng báo tuyển chọn một thư ký mới, nhưng vì nghĩ đến cháu, qua tìm cách chần chừ. Cháu chịu khó tập tành ở nhà một thời gian là biết việc. Chỉ cần biết thôi, chưa cần giỏi. Qua sẽ chỉ bảo thêm cho cháu.
- Thưa ông giám đốc, cháu phải học gì ở nhà ạ?
- Học đánh máy.
- Thưa, khó lắm, cháu…
- Đánh máy có gì khó đâu. Có người học dăm ba bữa là gõ lóc cóc được rồi. Mới đầu thì gõ một ngón, dần dần đến 2, 3 ngón. Qua điều khiển nhà máy, qua không chê cháu kém cỏi thì thôi, ai dám xía vào. À, qua biết rồi…cháu sợ không học nổi vì cháu có quá nhiều bạn, tối nào cháu cũng phải đi chơi…Bản tâm của qua là giúp đỡ cháu, thành tâm giúp đỡ cháu. Tuy nhiên, qua cũng thấy hơi phiền. Vì cháu đang còn trẻ, đang còn tuổi ham hố, đam mê…
Sự thành thật của ông giám đốc hiện rõ trong khóe mắt. Marta cảm động muốn khóc. Nếu ông giám đốc nói thêm vài tiếng nữa, nàng đã ôm chầm lấy ông. Ông là ân nhân của nàng, ân nhân của gia đình nàng.
Và từ đó giai nhân Marta học thêm nghề thư ký đánh máy. Nàng học riêng ở nhà, không ai kiểm soát đôn đốc, nên sau mấy đêm miệt mài tập tành, nàng bắt đầu chán, nàng bắt đầu thèm nhớ không khí thị trấn ban đêm, hóng mát bên giòng sông lững lờ, choàng vai bá cổ những chàng trai khôi ngô, uống rượu la-ve, trầm ngâm trước tách cà phê phin đặc sệt thơm phức –mà Praha là một trong những thủ phủ quốc tế có truyền thống pha cà phê khéo léo- nàng không thể cấm cung thêm nữa.
Dường như tạo hóa sinh nàng ra để hò hẹn với đàn ông. Thiếu đàn ông một ngày là nàng ngứa ngáy, buồn phiền, mắt hoa, đầu nhức. Nàng phải yêu, phải cọ sát, phải hôn hít, phải làm tình liên miên mới sống nổi. Nàng lại quá đẹp, quá lẳng nên thiên hạ yêu nàng cả đống. Nàng lại thích đổi món, thành ra số đàn ông đông đảo này có lợi cho nàng. Mỗi chiều tan sở nàng lại du dương với một bạn trai trong nhà máy. Cậu nào có tấm thân cân đối, khỏe mạnh, bền sức, tính tình khả ái, nàng sẽ hẹn hò nhiều lần. Còn là đàn ông bình thường thì nàng thay đổi gần như cơm bữa.
Rất nhiều chàng trai đòi được nàng nhận lời làm vợ, nàng chỉ hứa cuội. Các cậu trồng cây si đâm ra ghen tuông, cậu này rình rập cậu kia để rồi nói kháy nhau, cãi lẫy nhau, và sau cùng thượng cẳng tay hạ cẳng chân với nhau. Và giai nhân Marta vẫn phây phây…
Nhưng nàng không biết rằng trò chơi nguy hiểm này khó thể kéo dài được mãi. Sớm muộn nàng sẽ gặp trục trặc. Chỉ cần một trục trặc nhỏ là tính mạng nàng bị đe dọa.
Trong số những thanh niên khổ sở điêu đứng vì nàng, kẻ liều lĩnh không phải là hiếm. Quá mê đắm, án mạng có thể xảy ra.
Trên thực tế, Marta đã bị mưu sát sau đó một thời gian ngắn.
Thường lệ, phản ứng của đàn ông bị hất hủi, bị cắm sừng là giải quyết bằng máu. Từ thuở khai thiên lập địa, có đàn ông và đàn bà, những vụ giết nhau vì tình đã xäy ra. Chàng trai tuyệt vọng mai phục trong bóng tối, hoặc sùng sục vào thẳng nhà người-yêu-không-bao-giờ-cưới, chĩa súng ra bắn luôn cả xạt-giơ hoặc thọc mũi nhọn giữa tim nàng.
Trong vụ Marta, khí giới được dùng lại không phải là súng hoặc dao. Nó là một khí giới chưa từng được ai nghĩ tới. Ngay sau khi Marta bị nạn, sở công an Parha nghi ngờ bọn đàn ông đêm ngày vẫn bám lấy nàng để xin ân huệ. Một cuộc điều tra cặn kẽ được tiến hành trong nhà máy hóa phẩm.
Nội vụ như sau: một buổi sáng mùa đông, tuyết rơi trắng xóa, bà mẹ của Marta gọi điện thoại cho văn phòng giám đốc, báo tin Marta bị đau bất thần, và xin nghỉ một vài buổi. Bà mẹ được hân hạnh nói chuyện với ông giám đốc Pasticka. Con gái bà thường khen ông giám đốc tốt bụng và bà chưa có dịp cám ơn. Giọng bà run run, bà trình vụ con gái bị đau lên ông giám đốc. Giọng ông giám đốc cũng run run. Ông có vẻ buồn bã. Như thể Marta là con ruột của ông. Ông hỏi:
- Cháu nó đau bệnh gì, thưa bà?
Bà mẹ đáp:
- Thưa, tôi cũng chưa rõ. Cháu vừa đi bệnh viện. Ông giám đốc rất tốt với cháu, với gia đình chúng tôi, cháu nó nghỉ việc thế này làm công việc xưởng máy bị trì chậm, tôi lấy làm áy náy. Xin ông giám đốc…
- Ồ, có gì đâu, thưa bà. Tôi coi cô Marta như con cháu trong nhà. Bà cứ cho cháu nghỉ, và đi bệnh viện điều trị. Nhà máy có y sĩ giỏi, tôi sẽ yêu cầu họ săn sóc cháu. Bà yên tâm…
Tuy ông giám đốc Pasticka hết lòng an ủi, bà mẹ của Marta vẫn không thể yên tâm. Vì Marta không nghỉ một ngày, hai ngày. Mà là nhiều ngày. Và có thể nàng phải nghỉ vĩnh viễn. Nghỉ vĩnh viễn…vì nàng mắc phải một căn bệnh quái ác, kỳ lạ chưa từng thấy. Một căn bệnh chưa có phương pháp nào và đơn thuốc nào chữa khỏi.
Nàng có những triệu chứng kỳ lạ. Nàng kêu đau lung tung khắp người. Mới đầu nàng mỏi rừ các khớp xương, đầu gối, mắt cá chân và cườm tay. Nàng bị đau nhức như bị đánh trọng thương. Rồi hai mắt nàng bỗng dưng mờ hẳn. Ban đêm nàng không tài nào nhắm được mắt. Nàng phải uống thuốc mới ngủ nổi. Nhưng giấc ngủ của nàng rất ngắn, chốc chốc nàng lại giật mình thức dậy, toát đầy bồ hôi lạnh, miệng kêu ú ớ.
Chỉ trong mấy tuần lễ, Marta sụt hơn 10 kilô. Đột ngột một buổi sáng bà mẹ mở cửa sổ cho ánh nắng bên ngoài tràn vào thì một màng đen dầy đặc che ngang mắt nàng.
Nàng bị mù.
Tin nàng bị mù loan ra trong giới nhân viên xưởng máy. Mọi người bàng hoàng. Đẹp như nàng mà bị mù thì chẳng còn gì sinh thú nữa. Marta càng gầy thêm vì nàng bỏ ăn, bỏ ngủ. Nàng khóc đến nỗi mặt mày sưng húp.
Đùng một cái, nàng khỏi mù. Nàng không ngày rõ như trước nhưng nàng không bị màng đen che phủ nữa. Marta mừng rú. Nàng bắt đầu hy vọng. Hy vọng này mới bùng lên lại tắt ngúm. Vì Marta mù lại, ban đêm hãi hùng trở về với đôi mắt nâu tuyệt đẹp của nàng. Mấy ngày sau, nàng hết mù. Rồi mù lại. Cứ như thế, mấy ngày mù, mấy ngày nhìn thấy lại. Mỗi lần xê xích từ 3 đến 8 ngày.
Bệnh tình của Marta quá bí ẩn. Viên thầy thuốc ở khu phố tìm mãi không ra nguyên do. Y sĩ của xưởng hóa phẩm cũng được mời tới chẩn mạch cho nàng, và cả ông cũng lắc đầu bó tay. Sau cùng, Marta được chở tới bệnh viện công lớn nhất thủ đô Tiệp khắc. Những nhà chuyên môn y khoa nổi tiếng nhóm họp bàn cãi.
Khi ấy, sự thật kinh sợ mới được nổ bùng.
Các nhà chuyên môn thảo luận nhiều lần mà không đi đến một kết luận chung. Đột nhiên có người nghi chứng bệnh quái đản của Marta là do tia phóng xạ radium gây ra. Những cuộc thí nghiệm sau đó cho thấy đúng. Nếu vụ Marta xảy ra sau đại chiến thứ hai thì có lẽ các nhà chuyên môn không mất quá nhiều thời giờ để nghiên cứu bệnh trạng. Vì khoa học nguyên tử ngày nay đã tiến xa vượt bực, mọi người đã biết rõ tác động giết người ghê gớm của tia phóng xạ nguyên tử.
Bản phúc trình y khoa gởi cho công an Praha nói rõ rằng những ngón tay của Marta bị dính bụi phóng xạ nguyên tử, dần dà nàng lấy ngón tay dụi mắt, và mắt nàng bị hư. Bụi phóng xạ tiếp tục nhiễm độc trên khắp cơ thể của nàng. Căn bệnh của nàng là một căn bệnh không thể nào chữa khỏi. Nạn nhân không chết ngay, mà sẽ chết lần chết mòn, có thể lay lứt vài ba tháng, vài ba năm…
Hồ sơ Marta được đưa tới phòng giấy viên tổng giám đốc công an. Những viên chức lão luyện và tài giỏi trong ngành lần lượt xem xét nội vụ. Nguyên nhân đã được tìm ra: phóng xạ nguyên tử. Xưởng hóa phẩm mà Marta làm việc chứa một số radium kỹ nghệ. Điều này có nghĩa là tai nạn của nàng liên hệ chặt chẽ tới nhà máy.
Trưởng ban thẩm sát Durich (1) điều khiển cuộc điều tra. Durich nhận thấy xưởng hóa phẩm quá rộng lớn, lại phân chia thành nhiều khu riêng biệt. Marta là nhân viên văn phòng cấp dưới, nàng làm việc trong tòa nhà dành riêng cho các văn phòng. Nàng không được phép bén mảng đến khu hóa chất. Bởi vậy, nàng không thể nhiễm độc phóng xạ.
Durich đến khu radium. Sau khi xem xét, ông kết luận Marta chưa bao giờ tới đó. Marta chưa bao giờ tới nơi có chất độc phóng xạ thì đương nhiên chất độc này…đã tìm tới nàng. Chất độc phóng xạ không có chân, thế tất phải có một người nào mang nó đến. Người ấy là thủ phạm.
Thủ phạm là ai?
Vụ Marta dễ mà khó. Dễ vì chưa cần điều tra, người ta có thể biết tại sao nàng mù mắt và hấp hối. Nhưng lại khó vì con số tình nghi nghe lên đến cả trăm. Nhà máy hóa phẩm có bao nhiêu con trai, đàn ông thì tổng cộng có bấy nhiên phần tử tình nghi thủ phạm. Vì mọi đàn ông trong xí nghiệp đều trồng cây si với cô gái xà hành, đào hoa diện. Một cậu nổi cơn ghen, không muốn mắt nàng mở rộng thao láo để ngắm người khác nên lừa dùng bụi phóng xạ giết nàng. Hung thủ phải là kẻ quá yêu và cũng quá tàn ác. Thiếu gì cách giết, nhưng hắn giết nàng bằng cách này lâu lắt hơn, và làm nàng đau đớn hơn.
Durich tập trung cuộc điều tra vào các nam nhân viên nhà máy. Thôi thì đủ cả đàn ông là đàn ông. Đứng trước tình yêu không có giai cấp, không có sự phân biệt giữa ông xếp và chú loong toong, do đó Durich mở hết hồ sơ nhân viên, từ giám đốc, trưởng ban, chuyên viên hóa học, cơ khí xuống đến viên chức hành chính, thương mãi, tùy phái, gác dan…
Một tia chớp lóe trong đầu trưởng ban thẩm sát Durich. Ông chợt nghĩ ra: thủ phạm phải là kẻ có học. Nhân viên cắc ké trong nhà máy khó thể biết cách giết người từ từ, hữu hiệu bằng bụi phóng xạ. Lưới điều tra công an được thu hẹp dần chung quanh những nhân viên có học thức.
Và sau cùng tên 2 người đàn ông đáng nghi nhất hiện ra.
Người thứ nhất là Jan Hradvice, đặc trách thương mãi. Hradvice đã có vợ, có con đùm đề. Con y đã lớn, một số sắp ra ở riêng. Y bắt đầu bước vào tuổi hồi xuân. Ngày lại ngày đối diện bà vợ nhan sắc tàn phai, lấm chấm vài sợi tóc bạc và những nếp răn tai hại trên cổ. Hradvice cảm thấy cõi lòng trống rỗng và lạnh lẽo. Sự hiện diện của giai nhân son trẻ Marta thổi tới một luồng gió thanh xuân. Hradvice yêu nàng, yêu vô bờ bến, yêu cuồng dại như thanh niên 18, 19. Hradvice đề nghị thuê cho nàng một căn nhà sang trọng, nàng từ chối. Song nàng không từ chối những món quà của y. Trời, Hradvice gửi tặng nàng hàng đống quà, quà nào cũng đắt tiền. Chắc bao nhiêu năm giành dụm bồ hôi nước mắt của y đã đổ vào sự biếu xén để lấy lòng người đẹp. Hradvice đề nghị ly dị vợ để thành hôn với Marta. Nàng vẫn lạnh lùng từ chối. Hradvice đã viết rất nhiều thư cho nàng. Những bức thư tình nóng bỏng…Hradvice yêu nàng có thể chết được. Và trong phút ghen tuông, y có thể đã mưu hại nàng…
Người đáng nghi thứ hai là Gustav Czyba. Y là chuyên viên phòng thí nghiệm, so sánh với Hradvice thì chức vụ thấp hơn, lương tiền cũng ít hơn. Đền lại, Czyba còn độc thân. Czyba lại khôi ngô. Đàn bà con gái thấy y là mê mệt. Marta bắt bồ với y dường như để chứng minh cho mọi người thấy nàng là giai nhân siêu đẳng, hơn hẳn những cô gái khác. Nói đúng ra, nàng cũng có nhiều cảm tình với Czyba. Nàng đi chơi thường xuyên với hắn. Trong những ngày đầu, y dẫn nàng ra bờ sông, đến rạp hát, vũ trường, tiệm ăn, đến khi cá cắn câu y mời nàng về nhà, một căn nhà gồm nhiều phòng bầy biện lộng lẫy và sang trọng. Dưới ánh đèn mờ ảo và trong điệu nhạc ru hồn, Czyba toan tính bẻ khóa động đào. Không ngờ nàng vẫn tỉnh, nàng xô y ra, và từ đó nàng không cặp kè với y nữa. Sự kháng cự của người đẹp không làm Czyba chán. Trái lại, y càng yêu nàng hơn. Y bám chặt nàng như con chó trung thành với chủ. Hơn một lần, Czyba rủ nàng đi chơi như ngày xưa, nàng thẳng thừng từ chối. Và hơn một lần, Czyba đã đe dọa nàng. Nghĩa là Czyba cũng như Hradvice, cả hai gã đàn ông cuồng nhiệt này đều có thể là hung phạm.
Cả hai lại được phép ra vào khu chứa độc chất phóng xạ. Với tư cách đặc trách thương mãi của xí nghiệp, Hradvice luôn luôn có mặt trong khu radium. Về phần Czyba, y làm việc trong phòng kế bên. Đành rằng chất phóng xạ được cất giữ an toàn, nhưng nếu là nhân viên có quyền ra vào tự do thì bất cứ lúc nào cũng có thể mang bụi radium ra ngoài, đựng giấu trong thùng chì…
Thẩm sát viên Durich kết luận rằng hoặc Czyba đã bí mật đánh cắp chất bụi nguy hiểm, chờ lúc vắng người -chắc là sau giờ làm việc- mang qua văn phòng Marta, rồi lén lút quét chất bụi này lên những đồ vật chỉ riêng nàng dùng thường ngày.
Durich thở phào khoan khoái. Ông đinh ninh tìm ra thủ phạm dễ dàng như trở bàn tay. Ông bèn ra lệnh cho nhân viên lục tìm những đồ vật bị nhiễm xạ. Toàn thể nhân viên trong nhà máy cũng như trong văn phòng của Marta đều được khám nghiệm: không ai bị nhiễm xạ như nàng. Marta chỉ đụng tới một số ít đồ vật. Durich nghĩ rằng nhân viên công an chỉ mất 5, 10 phút là tìm thấy.
Nhưng họ chẳng tìm thấy gì hết. Bàn giấy của Marta được mở tung, hồ sơ được lấy ra từng tờ, thậm chí những con tem thư trong ngăn kéo mà nàng có bổn phận dán vào phong bì để gửi đi cũng không thoát khỏi sự lục xét của công an. Với máy khám phá tia phóng xạ, nhân viên công an tiếp tục lục xét tất cả những nơi nào trong xí nghiệp Marta có thể đặt chân tới như phòng vệ sinh phụ nữ. Cả những món đồ trong xắc tay của nàng cũng được thử nghiệm: thỏi son, hộp phấn hồng, lông mi giả, lược, gương, kẹp tóc, nhíp, rũa móng tay, bông tai, vòng tay, đồng hồ tay, lớp vải may trong xắc…Marta mặc áo choàng trong giờ làm việc, thẩm sát viên hy vọng có chất phóng xạ trong áo. Nhưng chẳng có gì hết.
Có thể nào hung thủ đã thủ tiêu vật giết người rồi không? Câu hỏi thắc mắc này được nêu ra song ông giám đốc Pasticka đã trả lời ngay. Ông là chủ nhân gương mẫu, ông vốn ghét sự bừa bãi. Văn phòng nhà máy phải lưu giữ bản liệt kê các vật dụng. Căn cứ vào bản liệt kê, thẩm sát viên Durich kiểm điểm lại một lượt. Không vật dụng nào bị mất. Nạn nhân Marta cũng nói là không mất món đồ tùy thân nào cả.
Vậy Marta dính bụi phóng xạ chết người ở đâu?
Thẩm sát viên Durich rầu thối ruột. Trong nhiều năm ở công an, ông chưa hề thất bại. Những vụ khó nuốt bậc nhất ông vẫn giải quyết êm ru. Vụ Marta tưởng dễ mà khó, tuyệt khó.
Durich trở lại từ đầu. Ông trở lại những ngày đầu tiên Marta làm việc tại xưởng hóa phẩm. Ông duyệt lại con số bạn bè, tình nhân bu quanh nàng đông đặc như ruồi. Một lần nữa, ông lại phăng ra ra ánh sáng. Thôi, đúng rồi, những bức thư tình si mê của Hradvice. Y đã manh tâm rắc bụi radium lên giấy viết thư. Y đeo găng nên không nhiễm độc. Còn nàng…nàng dính đầu ngón tay vào giấy, nàng đưa lên miệng, lên mắt…May thay, Marta còn giữ lại bó thư tình của Hradvice. Mừng phát run, thẩm sát viên Durich mang đến phòng thí nghiệm riêng của công an bó thư tình, và ngồi chờ kết quả.
Té ra kết quả là con dê-rô to tướng.
Durich đã lầm. Giấy viết thư, bì thư thơm mùi nước hoa, với những giòng chữ nắn nót không có một li radium phóng xạ nào.
Hradvice và Czyba đã bị tống giam. Ngay đêm ấy Durich hầm hầm vào văn phòng, đọc lại hồ sơ đương sự. Họ phải nằm nhà đá là do công an ức hiếp họ. Thật ra chưa có chứng cớ nào đủ buộc tội họ. Công an đã thử nghiệm tay chân họ, quần áo họ. Công an đã hỏi cung liên tiếp nhiều ngày. Hỏi cung từ sáng tinh sương luôn một lèo đến tối, chỉ nghỉ 5, 10 phút ăn bánh mì khô, tợp ngụm nước lạnh. Rồi một lèo từ tối đến sáng. Họ không có phút nào chợp mắt chứ đừng nói là được ngủ nư mắt nữa. Miệng họ vẫn kêu oan. Mà sự thật là Hradvice và Czyba đều oan.
Hung thủ là người khác.
Một người không ai ngờ tới.
Durich đọc lại tập hồ sơ nên mới tìm ra. Lập tức ông sai nhân viên đến bắt. Ông khỏi mất thời giờ vì hung phạm đã thú tội. Durich chẳng nói nửa lời, chí quăng xấp giấy và cái bút lên mặt bàn. Hung phạm nhìn ông ra vẻ ngạc nhiên. Durich nhún vai:
-Viết đi. Ông đừng giả vờ ngạc nhiên nữa. Tôi đã biết hết. Ông viết tờ thú tội đi.
Sở dĩ thẩm sát viên phăng ra hung phạm là vì bản danh sách những kẻ tình nghi ghi hết nam nhân viên trong xí nghiệp hóa phẩm, trừ một người. Theo nguyên tắc căn bản của nghề điều tra, kẻ ít bị tình nghi nhất lại thường là kẻ có nhiều hy vọng làm hung phạm nhất.
Durich đã đặt sai vấn đề từ đầu: ông đinh ninh bụi phóng xạ giết người phát xuất từ xưởng máy. Thế tất vụ mưu sát tinh vi này phải xảy ra bên trong xưởng máy. Bởi vậy, ông chỉ điều tra tỉ mỉ bên trong xưởng máy mà lơ là nhà riêng của nạn nhân. Lần cuối, đọc lại toàn bộ hồ sơ, Durich mới thấy mình lầm. Ông tức tốc đến nhà Marta. Trong phòng ngủ của nàng, ông tìm thấy một cái máy chữ mới tinh, kiểu xách tay. Mặt chữ được quét chất bụi radium. Khi gõ máy, Marta nhiễm độc vào tay, rồi từ tay lên mắt và khắp cơ thể.
Cái máy chữ xinh xắn này là món quà của một người đàn ông thầm yêu trộm nhớ nàng, song chưa hề thổ lộ với nàng. Và chính nàng cũng không hay biết. Bản tính y rụt rè, nhút nhát, y không đủ can đảm nói hết sự thật giấu kín trong lòng. Vả lại, y đã lớn tuổi, y chẳng thua tuổi phụ thân nàng bao nhiêu. Y đoán thấy Marta không thể chấp nhận tình yêu của y. Phương chi y lại hói đầu, tóc rụng gần hết, và mập thù lu, chỉ riêng cái thùng nước lèo của y cũng đủ làm người đẹp buồn nôn…
Tệ hơn nữa, y mắc một chứng bệnh bất lợi. Giá y còn trẻ y cũng không dám tỏ tình với nàng. Vì trời đất ơi, đó là bệnh hôi miệng kinh niên. Y đánh răng, xúc miệng, ngậm kẹo thơm mà hơi thở vẫn nồng nặc. Y yêu nàng nhưng không làm sao nói được tâm sự với nàng nên nẩy ra ý định giết nàng. Nàng còn sống, nàng sẽ bị kẻ khác chiếm đoạt. Nàng chết đi, nàng mới có thể thuộc về y mãi mãi.
Bởi vậy y mới nghĩ kế khuyến khích nàng tập luyện nghề đánh máy chữ để làm thư ký văn phòng. Y lại tặng nàng cái máy chữ để dẫn nàng đến tai họa thê thảm…
Bạn đọc đã biết y là ai, hung phạm là ai?
Hung phạm là ông giám đốc xí nghiệp Pasticka, ân nhân của người đẹp xà hành và đào hoa diện.
Chú thích:
(1) ông Durich đã trốn khỏi Tiệp sau khi cộng sản cướp chính quyền, và ông qua Pháp tị nạn chính trị. Ông đã thuật lại thiên tình sử của Marta.
Truyện Thứ Ba
Nam Tư Ông Tòa … Kỳ Cục
Đọc báo, theo dõi tin tức thế giới, chúng ta chỉ để ý đến Nam Tư là một nước cộng sản ở Đông Âu, với thống chế Titô ngự trị. Rất ít người biết Nam Tư là một nước hơi kỳ cục. Dân số chỉ bằng một tiểu bang của Mỹ mà cũng bày đặt chia làm 6 tiểu bang khác nhau. Đó là chưa kể 2 khu tự trị. Tiếng nói thì mỗi vùng một thứ. Phong tục, tập quán, thậm chí ăn uống hoặc nguồn gốc cũng vậy, mỗi tiểu bang là một thế giới riêng biệt. Do những trớ trêu lịch sử, các sắc dân hằm bà làng phải chung sống với nhau nên họ khôn khéo đáo để. Và một phần cũng do địa hình địa vật: Nam Tư nhỏ xíu, không bị kẹt giữa 7 quốc gia, dân chúng không ma…lanh thì chết sớm(1).
Trên cái xứ sở kỳ cục này có một ông chánh án cũng khá kỳ cục. Câu chuyện ông tòa kỳ cục xảy ra từ hơn 30 năm trước, từ ngày cộng sản chưa héo lánh đến chính quyền, tòa án chưa biến thành trò hề pháp luật. Ngày nay, thiên hạ còn kính sợ ông tòa thì hơn 30 năm trước, ông tòa kỳ cục của Nam Tư làm dân đen run như cầy sấy mỗi khi gặp mặt, không phải là việc lạ…
Ông tòa ban phát công lý tại Kikinda, một thị trấn dọc biên giới Lỗ ma ni. Thị trấn này không đông dân, hầu hết là chất phác, và rất tôn trọng phép nước. Họ trải qua quá nhiều thăng trầm nên không ưa lộn xộn, chỉ mong nhà cầm quyền phê cho hai chữ « bình yên ». Nhưng đôi khi họ cũng ma-lanh kinh khủng.
Nhân vật quan trọng bậc nhất trong thị trấn là ông tòa. Tên ông là Mikhailo Popovic. Ông cư ngụ trong ngôi nhà oai bậc nhất, tọa lạc trên con đường sang trọng bậc nhất Kikinda.
Trong nhiều năm liền, ông tòa giữ cán cân công lý ở địa phương. Ông tự nhận là Bao công nên mọi người đều sợ ông như cọp gấm. Đừng nói tới kẻ có tội, lương dân hiền hậu bước chân vào tòa án, ngó thấy long nhan ông Popovic cũng toát bồ hôi lạnh. Tòa án luôn luôn giữ không khí trang nghiêm. Khi ông tòa đăng đường thì chớ ho hen hoặc đằng hắng, người ta có thể nghe cả tiếng muỗi vo ve trong gian phòng rộng. Ông tòa ngồi xử sau cái bàn dài, kê thật cao. Mỗi khi tuyên án, ông có thói quen vung cánh tay lên cao rồi giáng xuống. Bàn tay ông to tướng, ngón như chuối mắn, thoạt trông đã khiếp, phương chi ông lại đeo cái nhẫn cũng to tướng, chễm chệ một hột kim cương to tướng không kém, tia sáng tỏa xuống vành móng ngựa bên dưới. Dân quê ở địa phương vốn mê tín, hễ trời mưa chớp lóe là tái mặt, cái nhẫn hột soàn của ông tòa Popovic nhiều lần làm tim họ đập thình thịch vì họ liên tưởng tới điện xẹt của nhà trời. Để trấn áp cơn sợ, họ thường nghiêng mình làm dấu thánh giá. Dân quê dị đoan sợ thiên lôi, ông tòa lại tưởng họ sợ ông…
Ông tòa mang tướng ngũ đoản, cái gì cũng ngắn và lớn. Mắt ông như hai đĩa đèn, sâu và sáng quắc. Người ta kháo nhau rằng mắt ông tòa có thể soi thấu ruột gan bị cáo. Trời tối đã đành, cả những buổi trời xấu, tuyết rơi lạnh buốt, hoặc gió thổi vù vù, ông tòa vẫn tản bộ ngoài đường. Ông bình thản đếm bước hàng giờ, luồng nhỡn tuyến luôn luôn phóng thẳng, bàn tay chắp sau đít. Dân chúng thấy ông vội đứng răm rắp, và không ai bảo ai, toàn thể đều ngả nón chào, giọng cung kính:
-Chào ngài chánh thẩm.
Nam Tư là nơi sản xuất la-ve ngon, người miền bắc uống la-ve như hũ chìm. Tuy vậy, rượu vang ở đó cũng ngon khác thường. Ông tòa Popovic cũng nhậu la-ve và rượu vang, nhưng không khoái mấy. Ông quả là sành điệu vì la-ve, rượu vang ngon thật song chưa ngon bằng rượu bồ đào (2).
Ôi chao, rượu bồ đào Nam Tư nổi danh khắp thế giới, đâu phải rượu hạng xoàng. Ông tòa lại mê rượu bồ đào thượng hạng chế tạo ở Zara.
Biết tính ông, các viên chức trong thị trấn đều nhớ đến rượu bồ đào Zara những khi tổ chức tiếp tân mời mọc. Rót rượu ra ly, họ không quên nâng cao, chúc mừng ông tòa được « ngọc thể an khang ». Dĩ nhiên, ngoài miệng ai cũng suýt soa cầu mong ông tòa có sức mạnh như vâm để điều khiển pháp đình, nhưng trong thâm tâm tất cả đều ao ước ngược lại. Bảo rằng họ muốn ông tòa chết nhăn răng thì hơi quá đáng (và hơi ác đức), song chẳng ai muốn thấy ông khỏe khoắn. Giá ông tòa bị đau, không phải đau sơ sơ dăm ba ngày, dăm ba tuần lễ bình phục …mà là đau lâu, càng lâu chừng nào càng tốt chừng nấy, để ông phải nằm liệt giường, không bò được ra tòa.
Không nói ra, nhưng người ở thị trấn Kikinda rủa ngầm ông tòa nhiều nhất và cũng khiếp ông tòa nhiều nhất là Peter Matchek, cảnh sát trưởng.
Matchek ngán ông tòa nhiều nhất là phải. Vì theo luật pháp, cảnh sát trưởng làm việc dưới quyền ông tòa. Và trăm dâu đổ đầu tằm, hễ có chuyện trộm cắp, gian phi, lường gạt…xảy ra mà cảnh sát rềnh rang chưa tóm bắt được thủ phạm là ông tòa cho gọi Matchek vào văn phòng. Matchek chưa kịp cất tiếng chào, ông tòa đã nổ:
-Tại sao, tại sao, yêu cầu thày cảnh sát trưởng trình bày lý do? Nhân viên của thày lười biếng, bê trễ, lừng khừng, không chịu làm việc hả? Hay là họ ngu đần chỉ biết lãnh lương, chẳng biết mô tê gì hết?
Lười biếng, ngu đần là những danh từ khả ái. Bữa nào ông tòa khó ở, rêm mình, sốt mẩy, là y như rằng ông đập bàn, giọng chua như dấm thanh:
-Thày cảnh sát trưởng, tại sao thày chẳng làm gì cả? Thôi, tôi hiểu rồi. Chúng nó đã dâng tiền cho thày. Thày nhận của chúng nó bao nhiêu đi-na (dinar, tiền Nam Tư) để ếm nhẹm?
Tội nghiệp Matchek. Ông cảnh sát trưởng chôn chân trên nền phòng, mặt tái mét. Ông ngậm miệng, không nói nửa lời. Chỉ khi nào quá uất ức, ông mới phát ngôn. Ông lúng túng biện hộ ông hoàn toàn trong trắng, ông không ăn của ai một xu teng.
Kể ra ông tòa sửng cồ cũng đúng. Ai đời nhà lao của thị trấn cứ tiếp tục trống hốc trống hác. Kikinda không phải là thiên đường. Kẻ cắp, kẻ trộm không hoạt động thường trực và qui mô như ở các thành phố lớn, nhưng lương dân bị móc túi, bị khuân đồ, bị lường gạt luôn. Sở dĩ ông tòa có quá ít việc làm là vì ông cảnh sát trưởng có tính dĩ hòa vi quý. Trừ phi lộng hành, coi trời và cảnh sát bằng vung, ông mới ra tay.
Tuy vậy, những lần ông bị ngài chánh thẩm Popovic kêu đến xài xể, ông đều có một phản ứng quen thuộc: từ tòa án về bót cảnh sát, ông kêu toàn thể thuộc viên lên trình diện ông, và ông lặp lại những hình dung từ nghe nhức đầu của ông tòa. Hừ…các anh là bọn vô tích sự, lười biếng, bê trễ, lừng khừng, không chịu làm việc…Các anh là bọn ngu đần, chẳng biết mô tê gì hết…Các anh đớp của chúng nó bao nhiêu đi-na rồi hả?
Nhân viên cảnh sát gia tăng nỗ lực để bảo vệ an nhữngcho dân chúng thị trấn. Và cũng để làm hài lòng ông cảnh sát trưởng. Nhất là ông tòa kỳ cục Popovic.
Rồi bỗng nhiên một loạt trộm bí mật xảy ra khuấy động bầu không khí trầm lặng cố hữu của thị trấn Kikinda.
Khổ chủ đầu tiên là luật sư Milan Vladic. Văn phòng ông nằm chềnh ềnh ở công trường lớn nhất, ngày cũng như đêm có nhân viên công lực qua lại canh gác. Vậy mà kẻ gian dám lẻn vào, bê luôn tiền bạc đựng trong tủ sắt. Luật sư khổ chủ lắc đầu không hiểu kẻ gian đã làm cách nào để đột nhập văn phòng ông, vì ổ khóa cửa vẫn còn nguyên, không hề bị nậy phá. Chắc chắn tên ăn sương có chìa khóa. Chỉ có 2 chìa khóa, ông luật sư giữ một, cô thư ký tốc ký của ông giữa một. Nàng không thể là trộm vì lẽ giản dị nàng là em vợ ông.
Cảnh sát trưởng Matchek đích thân xem xét ổ khóa, ông khám phá ra vết sáp ong. Điều này có nghĩa là kẻ gian đã dùng sáp ong lấy dấu để làm chìa khóa giả. Phương pháp lấy dấu bằng sáp ong quá xa lạ đối với bọn trèo tường khoét vách ở địa phương. Thế tất kẻ gian phải từ xa tới. Và nó phải có đồng lõa cừ khôi trong thị trấn.
Matchek tức uất người. Thiếu gì khổ chủ để ăn hàng, kẻ gian lại mò đến văn phòng luật sư, một ngành của pháp luật. Mà là luật sư Vladic mới chết chứ! Ông thày cãi này rất giỏi, ông sẽ làm ra chuyện. Và cảnh sát dưới quyền Matchek sẽ khó ăn no, ngủ yên. Ông thày cãi này còn là bạn nối khố của ông tòa Popovic. Ông tòa sẽ gọi cảnh sát trưởng Matchek đến sơi tái chứ chẳng chơi.
Vì vậy Matchek lẩn trốn ông tòa như trạch. Về nhà, ông sai gia nhân đóng cửa thật chặt, hễ tùy phái của ông tòa lại mời thì khai đi vắng. Thư ký ở văn phòng cảnh sát cũng phải luôn miệng « thưa, ông xếp đi vắng… ». Đi vắng…Đi vắng… Chiến thuật lánh mặt của Matchek chỉ có hiệu nghiệm phần nào. Vì ông tòa viết thư đến. Cũng may, ông tòa không dùng danh từ nặng nề. Ông tòa chỉ yêu cầu cảnh sát đẩy mạnh công cuộc điều tra. Kết luận, ông tòa viết « hừ…nếu lần này cũng như lần trước, kẻ gian vẫn tiếp tục cao bay xa chạy, chúng sẽ ăn quen bén mùi, và một ngày nào đó chúng sẽ có thể ập vào giường tôi, giết luôn cả tôi. Thày cảnh sát trưởng nghĩ sao? »
Nghĩ sao, Matchek còn biết nghĩ sao bây giờ?
Matchek chưa có thời giờ vén màn bí mật của vụ trộm tại văn phòng luật sư thì vụ trộm thứ hai xảy ra. Táo bạo, hiên ngang hơn vụ trộm thứ nhất.
Đúng một tuần sau, kẻ gian khuân một mẻ lớn tại cửa hàng của ông Daraza Stankovic. Khổ chủ bán đồ da, và là thương gia giàu sụ trong thị trấn. Kẻ gian lấy trộm khoảng 40.000 đi-na đồ vật, trong số có va-li, tép da thứ tốt, máy ảnh Đức, túi đựng thuốc lá, v.v.. Cũng như lần trước, kẻ gian hành nghề vào ban đêm. Nhân viên công lực đi tuần ngoài đường rầm rập, thế mà kẻ gian vẫn qua mặt cái vù…
Matchek mất công lục lọi suốt ngày trong cửa hàng mà không tìm ra manh mối. Ông chỉ biết một điều: kẻ gian là dân chịu chơi. Phải là dân chịu chơi mới biết chọn lựa tép da, máy ảnh…Đồ tốt nhất chúng mới thèm lấy. Còn đồ hạng trung, chúng vứt lại.
Ngay trong đêm Stankovic sạt nghiệp vì trộm, một tiệm sách lớn cũng bị kẻ gian đến viếng. Khổ chủ bị rinh khá nhiều. Mất sạch tiền trong tủ sắt. Những bộ sách quý cũng không cánh mà bay. Và cảnh sát trưởng còng lưng, mỏi gối, mờ mắt tìm kiếm vô ích. Kẻ gian không để lại một vết tích cỏn con nào. Tuy nhiên, Matchek biết rằng cả ba vụ trộm đều có sáp ong ở ổ khóa.
Lấy dấu sáp ong để làm chìa khóa giả thế tất không nhiều thì ít tên bợm phải toa rập với các thợ khóa trong thị trấn. Cảnh sát trưởng chong đèn nghiên cứu hồ sơ lý lịch của từng thợ khóa trong vùng. Trong số này chỉ có lão Branca là khả nghi. Lão khả nghi chẳng phải vì có tính gian giảo, mà chính vì lão khéo tay nhất. Trong thị trấn, ngoài lão ra không tiệm nào có thể rèn được chìa khóa theo dấu in sáp.
Trời chưa sáng Matchek đã sai nhân viên đến nhà Branca. Lão đang ngủ bị lôi cổ dậy, áp giải tới trụ sở cảnh sát. Matchek không ngủ cả đêm, mắt đỏ cành cạch, đĩa đựng tàn thuốc lá đầy ắp bốc khói nghi ngút bên phích cà phê đen đặc sệt. Thấy lão thợ khóa, Matchek tỉnh hẳn ra.
Nhưng chỉ mấy phút sau, ông lại xìu như cũ. Lão thợ khóa thề sống thề chết không liên hệ đến chìa khóa giả. Matchek trổ tài thẩm vấn điêu luyện, ngọt sẵng xen kẽ nhau, lúc dỗ dành, khi dọa nạt, nhưng trước sau lão thợ khóa vẫn một mực kêu oan.
Cảnh sát trưởng mệt nhoài, nằm lăn ra ngủ, các nhân viên phụ tá tiếp tục thẩm vấn Branca. Cuộc hỏi cung kéo dài từ rạng đông đến tối mịt, 14 tiếng đồng hồ trôi qua mà kết quả không khác ban đầu bao nhiêu. Branca đã khai sự thật. Matchek không thể ép lão thú nhận những việc lão không biết và không làm. Lương tâm con người bắt buộc Matchek trả tự do cho lão thợ khóa.
Branca là kẻ tình nghi duy nhất. Thả lão ra, Matchek chẳng còn biết bấu víu vào đâu nữa. Đêm cũng đã khuya, ông chỉ còn giải pháp duy nhất huy động toàn thể công an viên làm đêm, chia nhau đi tuần ngoài đường. Thời tiết khá lạnh, ai cũng oán ông cảnh sát trưởng.
Matchek đành giả điếc không nghe những lời than thở của thuộc viên.
Giả điếc vẫn chưa đủ, ông còn giả mù nữa. Hễ thấy ông tòa Popovic là Matchek phải giả mù, chuồn đi chỗ khác.
Tuy nhiên, ông cảnh sát trưởng không thể giả mù được mãi. Vô phúc cho ông. Ông vừa từ thủ đô Belgrade về thì chạm trán ông tòa. Ngay trên toa tàu. Con tàu đang lăn bánh trên đường sắt. Matchek không trốn đi đâu được nữa.
Matchek phải đứng lại chịu sấm sét.
Số là Matchek lên thủ đô Belgrade để dò la trong khu thợ khóa. Ông nghĩ rằng thợ khóa thủ đô mới rèn được những cái chìa khóa giống như thật. So với thủ đô thì Kikinda chỉ là ổ chuột chật chội. Do đó Matchek bở hơi tai luôn mấy ngày mới điều tra xong xuôi trong khu thợ khóa.
Nhưng sự cố gắng vượt bực của ông vẫn chỉ là xôi hỏng bỏng không. Kẻ gian gớm thật! Không nhờ thợ khóa thủ đô thì rèn chìa khóa ở đâu? Chẳng lẽ nó tự rèn lấy.
Mặt tiu nghỉu như mèo bị cắt tai, ông cảnh sát trưởng trèo lên tàu, dựa lưng vào ghế, cái lưng đau rừ sau nhiều đêm thức trắng, toan ngủ. Nhưng một tiếng kêu làm ông giật bắn người:
-Thày cảnh sát trưởng!
Chết rồi, đúng là ông tòa thiên lôi Popovic…Matchek choàng dậy. Ông tòa ngự trong toa tàu lúc nào mà Matchek không thấy. Có lẽ mắt Matchek bết quá nhiều ghèn vì đói ngủ. Ông tòa vẫn phương phi, vẫn bệ vệ, giọng nói của ông vẫn sang sảng như ông đang ở trong pháp đình:
-Chào nhà thám tử đại tài. Nhà thám tử đi đâu đấy?
Matchek đáp không ra hơi:
-Thưa ngài chánh thẩm, tôi lên thủ đô.
-Để tìm thủ phạm?
-Dạ, để tìm thủ phạm.
-Tìm ra rồi chứ? Tôi thành thật khen ngợi thày cảnh sát trưởng. Chừng nào thày bắt giam nó?
-Thưa…thưa ngài chánh thẩm…chưa thể bắt giam nó được ạ.
-Tại sao? Thày muốn điều tra thêm đồng lõa?
-Thưa không. Thưa…thưa ngài chánh thẩm…
-Yêu cầu thày vắn tắt hơn nữa. Thời giờ là vàng bạc. Những vụ ăm trộm giao thày điều tra đã đi đến đâu?
-Thưa, tôi lên thủ đô để thẩm vấn bọn thợ khóa.
-Đi đến đâu rồi?
-Dạ…dạ, chưa đi đến đâu cả.
-Trời đất quỷ thần ơi, thày cảnh sát trưởng có biết đồng bào trong thị trấn nghĩ gì về thày không?
-Thưa ngài chánh thẩm, có công mài sắt có ngày nên kim. Nếu được ngài cho phép, tôi sẽ đốc thúc nhân viên đến Zagreb hỏi cung bọn thợ khóa.
-Chừng nào đi?
-Thưa, khoảng cuối tuần này.
-Độ một tuần nữa mới xong. Nghĩa là nếu có kết quả cũng phải đợi trên 10 ngày nữa.
-Dạ.
-Nhưng nếu cuộc điều tra ở Zagreb không có kêt quả, thày sẽ cho nhân viên đi các thành phố khác trong nước.
-Dạ.
-Thày là người cảnh sát trưởng tận tụy với nghề nghiệp. Tôi đề nghị này nhé, giả thử các thợ khóa Nam Tư không giúp thày được gì, thày nên tìm hỏi thợ khóa các nước láng giềng. Mình có những 7 nước ở sát biên giới, phải không thày? Dân Kikinda đã chờ mấy tuần lễ, giờ đây có chờ thêm ba, bốn chục tuần lễ nữa cũng chẳng sao…
-Dạ…thưa ngài chánh thẩm…

-Matchek, thày chỉ có cái dạ và thưa là giỏi. Tôi làm quan tòa ở đây, tôi có nhiệm vụ bảo vệ công lý. Tôi ưa có thuộc viên tài ba, làm việc giỏi dắn, chứ tôi không ưa những kẻ dạ thưa luôn miệng…Thày Matchek, tôi chịu hết nổi, tôi không thể gượng nhẹ với thày thêm nữa. Một lần cuối, tôi thẳng thắn bảo thày biết thày là con người vô tài bất tướng, thày không xứng đáng với chức vụ cảnh sát trưởng thị trấn. Matchek, thày biết tôi lên thủ đô Belgrade làm gì không?
Cảnh sát trưởng Matchek đâu phải là ma xó để có thể bám sát ông tòa. Matchek ngồi yên, thu sát vào góc như cố trốn luồng nhỡ tuyến tóe lửa của ông tòa Popovic. Ông vung cánh tay, những tia sáng của cái nhẫn kim cương lại múa nhảy làm Matchek sợ muốn đứng tim. Ông dằn từng tiếng:
-Matchek, Matchek, thày mở rộng tai mà nghe. Tôi lên thủ đô gặp ngài tổng trưởng Tư pháp. Hẳn thày đã nghe danh ngài tổng trưởng Tư pháp. Ngài rất tốt mà cũng rất ác. Tốt là tốt với công bộc đàng hoàng, trong sạch. Còn đối với bọn lười biếng, bọn xuẩn ngốc, bọn tham nhũng lút mồm lút miệng thì ngài tổng trưởng rất ác. Ngài thường đánh chết không tha. Thày Matchek chắc biết mấy cảnh sát trưởng bị ngài tổng trưởng mời vào nhà đá ăn bánh mì khô uống nước lạnh? Riêng tôi, tôi vẫn có thiện cảm với thày, thày Matchek nhớ không?
-Dạ nhớ.
-Hừ, ngài tổng tưởng hỏi tôi về tình hình an ninh trong thị trấn, tôi đã trình ngài những vụ lộn xộn, ngài tỏ vẻ không vui. Ngài yêu cầu tôi cho biết ý kiến về thày.
-Cám ơn ngài chánh thẩm.
-Thày đã biết tôi báo cáo những gì với ngài tổng trưởng mà đã vội cám ơn cám nghĩa rối rít. Coi chừng đấy, Matchek…Nếu thày cứ vừa làm vừa chơi, vừa lãnh lương Nhà nước, vừa chia tiền với quân gian thì bất đắc dĩ tôi phải kiếm cảnh sát trưởng đứng đắn hơn, đắc lực hơn, cần mẫn hơn. Thày hiểu chưa?
-Dạ hiểu.
Ông tòa Popovic còn nói nhiều, nhiều nữa. Nhiều đến nỗi tai Matchek ù hẳn. Ông nín khe suốt từ Belgrade về đến thị trấn Kikinda.
Đêm ấy, Matchek lại mất ngủ. Tuy vậy, lý do làm ông mất ngủ không giống những lý do đã qua. Ông không lôi hồ sơ ra đọc từng chữ như trước nữa. Ông vứt cả đống vào trong tủ. Ông gác chân lên bàn, hút thuốc liên miên. Ông vẫn khỏe như vâm thế mà áo ông toát đẫm bồ hôi trong khi bên ngoài tuyết lạnh rơi xuống như mưa.
Chốc chốc ông lại thở dài. Nhân viên phụ tá xin lệnh của ông để tăng cường các toán tuần cảnh thì ông chắt lưỡi:
-Ừ, thì gác.
Viên phụ tá ngạc nhiên:
-Em muốn tăng gấp đôi số lính gác, xếp đồng ý chứ?
-Đồng ý cái gì?
-Tăng gấp đôi số lính gác.
-Thôi, trời lạnh, cho về đi ngủ.
-Cách đây 2 đêm, chính xếp nhốt em và xà lim một tiếng đồng hồ về tội cho lính về ngủ. Thật oan cho em, trời lạnh như cắt ruột, chúng nó chia làm hai toán, toán đi tuần, toán về nghỉ. Em nghĩ chúng nó nói đúng, nhưng xếp…
-Ừ, tôi quên. Chú đừng giận nhé.
-Chết, em đâu dám giận xếp.
-Vậy chú cho chúng nó về.
-Về một nửa hay là…
-Tất cả.
-Không gác đêm nữa.
-Không.
-Quân gian làm thêm vài ba mẻ nữa thì khổ.
-Kệ nó. Đã xảy ra 5, 7 vụ, đêm nay có xảy ra thêm vài vụ nữa cũng chẳng sao.
-Xếp nói rỡn em.
-Nói thật. Chú em cho chúng nó về, dặn chúng nó là tôi gánh hết trách nhiệm.
Viên phụ tá trố mắt nhìn ông cảnh sát trưởng. Matchek lại bâng khuâng đốt thuốc lá. Ông có vẻ mơ màng như thi sĩ gieo vần thơ. Viên phụ tá chầu chực một lát không thấy Matchek có phản ứng nào khác bèn lẳng lặng mở cửa lùi ra sân. Y bàn với các cảnh sát viên tập hợp trong phòng trực:
-Không khéo xếp mất trí rồi chúng mày ơi. Xếp còn trẻ mà điên thì tội nghiệp quá…
Mọi người chen chúc nhau nhìn trộm qua khe cửa. Bên trong, Matchek vẫn gác chân lên bàn, toàn thân bất động. Bỗng Matchek lẩm bẩm một mình:
-Vô ích, vô ích. Canh gác làm gì vô ích.
Sáng hôm sau, nhân viên cảnh sát đều bật ngửa. Một cửa hàng bán mũ bị mất trộm. Viên phụ tá hớt hơ hớt hải trình báo với cảnh sát trưởng Matchek, nhưng ông chẳng nói gì. Đến tối, ông lại cho phép các toán canh gác về nhà nghỉ. Và như mọi người tiên đoán, đêm ấy kẻ gian lại đột nhập một tư gia có máu mặt. Lần này nạn nhân là chủ tiệm bánh. Số tiền bị trộm khá quan trọng.
Bầu không khí kinh hoàng trùm khắp thị trấn. Dân chúng tụm năm tụm ba bàn tán. Người ta càng lo ngại hơn khi thấy ông cảnh sát trưởng đóng chặt cửa, ngồi cấm cung trong phòng giấy với tút thuốc lá, phích cà phê và chai rượu mạnh.
Ông tòa Popovic nổi cơn thịnh nộ khi được nghe báo cáo về thái độ phớt lờ một cách vô lý của ông cảnh sát trưởng. Ông tòa tức tốc cho kêu Matchek đến nhà riêng. Tư thất của ngài chánh thẩm có khác, phòng nào phòng nấy được sơn phết sạch sẽ, mát mắt, đồ đạc toàn loại sang trọng đắt tiền. Khác những lần trước, Matchek không tỏ ra sợ hãi. Ông kính cẩn chào ông tòa Popovic rồi bình tĩnh lắng nghe những lời trách mắng đầy tức giận của ngài phụ mẫu chi dân. Thôi thì ông tòa không hà tiện ngữ vựng nữa. Mở miệng ra là ông tòa xài xể bằng những danh từ chói tai và nặng chình chịch. Ông đập bàn làm ly rượu bồ đào bất hủ của ông suýt lăn tòm xuống đất:
-Thày cảnh sát trưởng, thày đùa với pháp luật hả?
Matchek đáp:
-Thưa ngài chánh thẩm, tôi luôn luôn cố gắng để bảo vệ pháp luật, giữ gìn an ninh trong thị trấn
-Thày nói hay lắm. Hoan hô thày. Nếu quả thật thày cố gắng như vậy, tại sao các vụ mất trộm cứ xảy ra đều đều?
-Tôi xin hứa tìm ra thủ phạm.
-Thày đã hứa nhăng hứa cuội nhiều lần. Lần này, tôi không tin thày nữa.
Cảnh sát trưởng Matchek nhún vai ra vẻ mệt mỏi. Ông đã đến lúc bất cần. Ông tòa cúi xuống đống hồ sơ rồi rút ra một tờ giấy đánh máy, giọng ông đanh lại:
-Đây là công văn tôi vừa ký, một công văn hỏa tốc. Chỉ nội ngày nay nó sẽ đến bàn giấy ngài tổng trưởng Tư pháp. Hẳn thày đã có dư trí khôn để đoán biết nội dung của nó. Thành thật mà nói, tôi không muốn bộ Tư pháp có biện pháp quá nghiêm khắc với thày, nhưng việc nước là việc nước, tình cảm cá nhân không thể dính vào. Tôi cho thày một giờ đồng hồ để suy nghĩ.
-Thưa, suy nghĩ gì ạ?
-Thày phải lựa chọn một trong 2 điều, hoặc đệ đơn từ chức tức khắc, tôi sẽ cử người khác thay thế, hoặc cam kết công khai lôi cổ thủ phạm ra ánh sáng trong vòng 48 giờ đồng hồ, nghe rõ chưa? Giờ thày trở về văn phòng, tôi ngồi chờ quyết định của thày. Chào thày cảnh sát trưởng và chúc thày can đảm.
Can đảm…can đảm…cảnh sát trưởng Matchek lầm bầm trong miệng hai tiếng « can đảm » khi từ tư thất ông tòa bước ra. Vợ ông đợi ông trước cửa, vẻ mặt ái ngại:
-Mình mệt lắm không?
Matchek lắc đầu:
-Không. Em hầm xong thịt gờ-ru-dét cho anh ăn chưa?
Bà vợ hơi giật mình. Gờ-ru-dét là món ăn ruột của chồng. Nó là một thứ tả-pín-lù Nam Tư gồm thật nhiều thịt, đặc biệt thịt heo vai và thịt đùi cừu ninh rừ với gạo, đậu, cà chua, tỏi, mỡ, và…tiêu ớt. Dân địa phương khoái ăn cay. Matchek lại khoái ăn cay hạng nhất nên bà đã tìm mua kỳ được những trái ớt cay chảy nước mắt để phụng sự thần khẩu của chồng. Mấy tuần nay, Matchek hầu như bỏ ăn, mỗi bữa chỉ nhấm nháp qua loa rồi mặc áo đi, tâm thần ông luôn luôn bị các vụ trộm bí mật và nét mặt cau có của ông tòa Popovic ám ảnh. Nhiều lần bà ninh gờ-ru-dét thật ngon để tẩm bổ cho chồng song ông không ăn. Lần này bà tưởng ông chán gờ-ru-dét nên bà nấu món khác.
Đột nhiên ông cảnh sát trưởng vui rộn như trẻ nít được quà. Vợ ông sửng sốt:
-Mình được thăng chức hả?
Matchek cười:
-Không. Anh định nộp đơn từ chức.
-Ông tòa bắt buộc mình hả?
-Ừ.
-Tại sao?
-Vì các vụ trộm.
-Lạ thật, đêm qua từ thủ đô về, mình lại báo tin mừng với em là chẳng bao lâu nữa mình phăng ra manh mối.
-Chẳng có gì lạ cả, em ơi.
-Mình nói gì, em không hiểu.
-Thú thật với em, chính anh cũng không hiểu anh nữa.
-Em có cảm tưởng anh giấu em một bí mật quan trọng nào đó. Anh Matchek, từ xưa đến nay anh chưa hề thua ai. Những vụ án rối rắm nhất anh cũng phanh phui ra, ấy thế mà chuyến này anh lại đầu hàng vô điều kiện. Anh nói cho em nghe đi. Chẳng lẽ anh giấu cả người vợ đầu ấp tay gối yêu quý của anh?
Matchek há miệng toan đáp thì bên ngoài có tiếng ồn ào, rồi cánh cửa được đẩy vào. Cảnh sát trưởng Matchek đứng dậy. Ông vừa nhận ra nhiều khuôn mặt quen thuộc. Họ là khổ chủ những vụ trộm vừa xảy ra. Đứng lố nhố sau họ là hàng chục người khác.
Luật sư Vladic rẽ đám đông bước tới. Matchek đã biết dân chúng thị trấn đến nhà ông với mục đích gì. Luật sư Vladic nói:
-Đồng bào vừa nhóm họp bầu ra một ủy ban gọi là ủy ban bảo vệ quyền lợi nhân dân, tôi được hân hạnh chọn làm chủ tịch. Ủy ban ra lệnh cho tôi đến tiếp xúc với ông.
Matchek khoát tay:
-Rất vinh dự được đón tiếp luật sư chủ tịch và quý vị trong ủy ban. Xin mời quý vị ngồi.
Luật sư Vladic vẫn đứng sừng sững:
-Chúng tôi không có thời giờ, xin ông cảnh sát trưởng cảm phiền. Nhân danh ủy ban, tôi yêu cầu ông trả lời: cuộc điều tra về các vụ trộm đã diễn tiến đến đâu?
Matchek đáp:
-Nó sắp dẫn đến kết quả.
Mọi người lao nhao phản đối. Luật sư Vladic lớn tiếng bảo im, đoạn nói:
-Ông đã nói nhiều lần như vậy. Ủy ban không thể tiếp tục khoán trắng cho ông. Ngay bây giờ, phải, ngay bây giờ ông phải cho biết tên trộm là ai, nếu không ủy ban sẽ đến gặp ông tòa. Ủy ban cũng xin báo ông rõ là ủy ban sẽ đòi ông tòa cất chức ông, đồng thời tống giam ông về tội bất lực.
-Tôi không tham nhũng.
-Lát nữa, ông cảnh sát trưởng sẽ cãi với ngài chánh thẩm.
Matchek lại thở dài:
-Vâng, thì tôi sẽ cãi với ngài chánh thẩm…
Cảnh sát tưởng ngẫm nghĩ một phút, đoạn lục ngăn kéo lấy ra một tờ giấy đánh máy sẵn. Ông quay lại hạ lệnh cho 4 cảnh sát viên thân tín cùng đi. Vợ ông chạy theo, ôm hôn, và dặn dò:
- Mình nên giữ mồm, giữ miệng…
Cảnh sát trưởng Matchek cười xòa không đáp. Ủy ban bảo vệ quyền lợi nhân dân và rất đông đồng bào rầm rộ tháp tùng Matchek đến tư thất của ông tòa Popovic. Ông tòa trầm ngâm bên ly rượu bồ đào, thấy Matchek không buồn ngẩng đầu lên. Luật sư Vladic trình bày lý do, ông tòa bèn chỉ Matchek:
-Đầu mối của tình trạng bất ổn trong thị trấn là người này. Nếu cảnh sát trưởng Matchek làm tròn nhiệm vụ thì đồng bào đã không phải đến gặp tôi.
Luật sư Vladic nói:
- Ông cảnh sát trưởng tuyên bố không hề bất lực, không hề tham nhũng.
Ông tòa tợp ngụm rượu bồ đào đỏ tươi rồi cười gằn với Matchek:
- Vậy thày thộp cổ thủ phạm cho tôi.
Matchek đứng thẳng người, chìa tờ giấy đánh máy trước mặt ông tòa, giọng trang trọng:
-Xin tuân lệnh ngài chánh thẩm. Nếu ngài ký vào giấy phép này, tôi xin cam kết là thị trấn sẽ trở lại hoàn toàn an ninh trong vòng nửa giờ đồng hồ.
Ông tòa giật tờ giấy khỏi tay Matchek, mặt bán tín bán nghi:
- Giấy khám nhà hả? Ha ha…thày cảnh sát trưởng đã bắt đầu làm việc rồi đấy. Nào…thày định xét tư gia của ai? Coi chừng lộn nhà thì khốn.
Luật sư Vladic và nhiều thương gia trong ủy ban có mặt trong phòng cũng xôn xao « đâu, ông cảnh sát trưởng định xét nhà ai? ».
Nhưng ngay khi ấy ông tòa đã buông tờ giấy xuống bàn, ngước nhìn Matchek bằng cặp mắt tức giận, giọng ông thét vang như sấm:
- Matchek, thày dám đùa dai với tôi hả? Thày định khám nhà ai mà không ghi tên vào đây. Hừ hừ…ai lại ký giấy phép trắng bao giờ…
Cảnh sát trưởng Matchek nghiêng mình, bộ điệu thiểu não:
- Dạ, thưa ngài chánh thẩm, sở dĩ tôi chưa thể điền tên vào giấy phép trình ngài ký là vì…là vì…
Luật sư Vladic cướp lời:
-Hiểu rồi, là vì ông sợ bại lộ. Thủ phạm biết ông sửa soạn khám nhà hắn, hắn sẽ cất giấu hết tang vật.
Matchek nói:
-Vâng, ông luật sư nhận định rất đúng.
Ông tòa không bằng lòng:
-Về tình thì đúng, nhưng còn về lý. Tôi không muốn làm điều gì trái luật. Ký trắng như vậy là trái luật.
Matchek năn nỉ:
-Sau đó tôi sẽ trình tên của thủ phạm cho ngài thẩm xét.
Ông tòa vẫn ngần ngừ, luật sư Vladic và ủy ban hiện diện bàn ra tán vào một lúc ông tòa mới chấp thuận. Ông ký tháu dưới tờ giấy phép, trao cho cảnh sát trưởng Matchek:
-Thày đòi gì được nấy. Thày phải làm cách nào để khỏi phụ lòng của tôi và của đồng bào trong thị trấn. Đã có giấy phép rồi đó, hãy thi hành bổn phận đi.
Matchek cẩn thận cất giấy phép vào túi, đoạn từ từ quay lại phía 4 nhân viên cảnh sát đang đứng vây quanh, giọng dõng dạc như ông đại tướng giữa ba quân:
-Tuân lệnh ngài chánh thẩm, các anh hãy lập tức khám xét căn nhà của công dân Popovic.
Ông tòa Popovic chồm dậy như thể ông vừa ngồi trên ổ kiến lửa:
-Cái gì thế, thày cảnh sát trưởng? Thày dám sai họ xét nhà tôi hả? A, thày dám xét nhà ông tòa? Xét nhà ông tòa để làm gì?
Matchek lễ phép đáp:
-Yêu cầu công dân Popovic không được chống lại nhân viên công lực. Ngài chánh thẩm Kikinda đã ký giấy phép. Anh em cảnh sát chúng tôi cần lục soát căn nhà này để thu thập những tang vật chứng tỏ Popovic đã ăn trộm của dân chúng thị trấn…
Trong phòng có nhiều tiếng « trời ơi » cùng nổi lên một lượt. Ông tòa hách dịch béo phì thở phào rồi xụi luôn xuống ghế bành.
Thế là ngài chánh án bị bắt. Bị bắt quả tang về tội trộm. Sự đời oái oăm, ông tòa chuyên bỏ tù kẻ trộm lại chính là kẻ trộm đáo để nhất trong vùng.
Cảnh sát trưởng Matchek không quá bết bát như ông tòa tưởng. Matchek không muốn làm to chuyện, thế thôi. Hôm đi Belgrade chạm trán ông tòa trên xe hỏa, Matchek đã nẩy ra sự hoài nghi. Cái va-li của ông tòa quá đẹp, và quá mới, gồm những đặc điểm được mô tả tại cửa tiệm của Stankovic. Ông tòa đinh ninh Matchek là anh cảnh sát trưởng lười biếng. Ông tòa không ngờ Matchek khôn như ranh. Matchek chậm thật đấy, nhưng chậm mà chắc. Thấy cái va-li đắt tiền, Matchek liền để tâm theo dõi. Ngày hôm sau, trời mưa lâm dâm, ông tòa vượt qua ngã tư với cái áo tơi bóng loáng. Cũng là cái áo tơi trong số hàng hóa bị trộm.
Matchek bàng hoàng. Song ông chưa dám nghĩ rằng tên trộm là ông tòa khả kính. Tuy nhiên, khi đến trình diện ông tòa tại nhà riêng, Matchek không còn rụt rè nữa. Ông đã phăng ra sự thật chua chát. Trên bàn giấy ông tòa nằm chễm chệ cái máy hình tối tân do Đức chế tạo. Trong số đồ vật bị trộm, cái máy ảnh Đức là tang vật dễ nhận diện nhất.
Đến khi khám phá ra ông tòa ăn trộm, cảnh sát trưởng Matchek lại đâm lo. Cho nên ông nẩy ra ý định từ chức. Vì bị ông tòa và đồng bào trong thị trấn thôi thúc, Matchek mới phản ứng quyết liệt. Muốn tóm Popovic phải có giấy khám nhà. Nếu không tìm được tang vật thì đừng hòng kết tội ông tòa. Giấy phép khám nhà do ông tòa ký. Trong trường hợp ông chột dạ, ông sẽ viện cớ này cớ nọ để không ký. Và một khi ông tòa quật ngược lại thì cảnh sát trưởng Matchek sẽ ngồi tù như chơi.
Dân Nam Tư khét tiếng ma-lanh. Matchek biết trước ông tòa sẽ từ chối. Trừ phi dân chúng thị trấn gây áp lực. Matchek bèn ném đá giấu tay, ngầm súi giục dân chúng nhóm họp bầu ủy ban bảo vệ kéo đến nhà ra tối hậu thư…
Mọi việc diễn ra đúng như ông dự tính. Ông tòa Popovic phải cởi áo choàng đen oai vệ, đút tay vào còng sắt để vào nhà đá.
Kể lại giai thoại này, người ta không nói rõ ông tòa ăn trộm lãnh bao nhiêu năm tù. Tuy nhiên, điều được nói rõ là ông cảnh sát trưởng ma-lanh tiếp tục phục vụ ở Kikinda và ông tòa đến thay Popovic sợ ông như sợ cọp. Chẳng bù với trước kia, ông xanh máu mặt, đổ bồ hôi lạnh một khi trình diện « ngài chánh thẩm ».
Chú thich:
(1) hiện nay Nam Tư có 20 triệu dân, gồm 6 tiểu bang là Serbie, Slovénie, Monténégro, Croatie, Bosnie-Herzégovine và Macédoine, với 2 tỉnh tự trị Kosovo và Vojvodina. Nam Tư kế cận các quốc gia Áo, Ý, Hung, Lỗ, Bảo, Hy lạp và Anbani. Nam Tư quả là nước kỳ cục, vì tuy theo cộng sản, lại chống Stalin. Và ngày nay tuy là đệ tử của chủ nghĩa Marc lại tự nhận mình là xếp sòng trung lập.
(2) rượu bồ đào này người Pháp gọi là Marasquin, người Anh gọi là Plum Brandy.
Truyện Thứ Bốn
Nhật Một Vụ Cướp Nhà Băng
Cướp nhà băng không phải là chuyện hãn hữu. Cách đây mấy chục năm, hệ thống bảo vệ ngân hàng bằng điện tử chưa được thiết lập hữu hiệu, nên các nhà băng bị đánh cướp như cơm bữa. Các vụ đánh cướp này đều diễn ra theo một thể thức nhất định: một toán người võ trang có tổ chức, nghiên cứu tỉ mỉ từ trước, kế hoạch được thực hiện đúng từng phút, từng giây, lối rút lui cũng như cách tiêu thụ giấy bạc được bố trí hết sức chu đáo.
Rất ít tên cướp dám ăn hàng một mình, không có đồng lõa. Trừ phi để đi tìm cái chết. Hoặc giả phải là kẻ giết người không gớm tay như Brian Donald Hume, kẻ từng chặt nạn nhân thành nhiều khúc, gói lại đàng hoàng rồi lái máy bay nhẹ lần lượt thả xuống sông.
Đang sống ở Thụy Sĩ, Hume đội tên giả, lén về Luân đôn, đột nhập một ngân hàng ở ngoại ô thành phố. Một mình một súng, hắn chờ cửa sắp đóng, nghênh ngang bước vào, bắn ngã nhân viên đếm tiền, lượm khoảng 1.500 Anh kim bỏ vào túi, bình thản thoát ra ngoài, kêu taxi lên phi trường, trở lại Thụy Sĩ.
Ba tháng sau, ăn quen bén mùi, Hume từ Thụy Sĩ quay về Luân đôn lần nữa, và lần này hắn thủ hai khẩu súng, toan tái diễn tấn trò đánh cướp đơn thương độc mã tại nhà băng cũ. Nhưng nhà băng rút kinh nghiệm và đề phòng cẩn mật. Hume chưa kịp hành động thì các nhân viên nhà băng đã hành động trước. Nhờ hồng vận, Hume thoát khỏi màng lưới cảnh sát, vù qua Thụy Sĩ. Để rồi lần thứ ba, ngày 30-01-1959, Hume đánh cướp một ngân hàng trong vùng và bị bắt, ra tòa lãnh án chung thân cấm cố.
Hume đánh cướp nhà băng vì hồi nhỏ hắn đã sống trong cảnh lưu manh, du đãng. Hắn là con ngoại hôn, lọt lòng mẹ ra không biết cha hắn là ai, sau này hắn cũng không biết mẹ vì mẹ hắn đã vứt hắn vào viện mồ côi. Cho đến khi trưởng thành, Hume là thân chủ quen mặt của các tòa án thiếu nhi và nhà trừng giới.
Bởi vậy, Hume trở thành tên cướp nhà băng chỉ là việc tất nhiên. Cái « ca » của tên cướp Shimura lại khác hẳn. Hắn cũng hành động một mình, nhưng không mang súng. Không mang súng mà giết gọn 16 nhân viên ngân hàng và làm 4 người suýt mất mạng. Không mang súng mà vụ cướp thành công hoàn toàn. Hắn cũng không mang giòng máu mồ côi và du đãng trong huyết quản.
Shimura chỉ đánh cướp một lần. Mỗi một lần. Tuy vậy, vụ cướp ngân hàng do hắn chủ mưu đã được coi là vụ cướp ngân hàng quan trọng nhất ở Nhật bản trong những năm kế tiếp đại chiến thứ hai.
Shimura là con nhà trâm anh thế phiệt. Thân phụ hắn giữ một chức khá trong guồng máy hành chánh ở gần thủ đô Đông Kinh. Thân mẫu hắn là con gái cưng của một y sĩ có tiếng tăm. Tóm lại, hắn hội đủ điều kiện để trở thành phần tử ăn trên ngồi trước trong xã hội Nhật. Ngày nay, nước Nhật tiến vượt bực trên đường phát triển khoa học mà đa số dân chúng còn tha thiết với nề nếp cổ truyền, phương chi hồi hắn chào đời, thế chiến thứ nhất chưa xảy ra.
Cha nào con nấy, hắn được nhập học trường đại học Hoàng gia, tốt nghiệp khoa văn chương và hội họa. Trước khi ăn mừng sinh nhật 30 tuổi, hắn đã nhiều người nghe danh nhờ một bản luận án khá sâu sắc và phong phú về những nguồn gốc thần bí của Nhật ngữ. Hắn đưa ra một kết luận táo bạo: tiếng Nhật có nhiều liên hệ mật thiết với tiếng Phần Lan, và một số thổ ngữ khác ở châu Âu. Không những lỗi lạc về biên khảo, hắn còn gây được uy tín trên lãnh vực hội họa nữa. Những họa phẩm của hắn đã được triển lãm nhiều lần tại một phòng tranh hạng nhất ở Đông Kinh.
Chưa thế, hắn còn là thi sĩ có hạng.
Nhiều người đều đồng ý cho hắn là thiên tài. Thiên tài Shimura mỗi ngày một rực sáng trên vòm trời Phù Tang nhờ chịu học hỏi, trau giồi.
Vợ hắn cũng là kim chi ngọc điệp. Nàng xuất thân từ một gia đình quyền quý có đủ công dung ngôn hạnh. Mỗi khi ra đường với chồng, nàng luôn luôn đi sau chồng ba bước, đúng theo phong tục. Cặp vợ chồng ăn ở rất hòa thuận, và sinh được 6 đứa con xinh xắn và ngoan ngoãn.
Với những điều kiện về gia thế và học vấn ấy, Shimura xứng đáng được gọi là ông. Sở dĩ ta gọi Shimura bằng hắn là do hoàn cảnh biến ông ra thằng.
Đột nhiên hắn thay đổi toàn diện.
Một đêm kia, hắn mở cửa vào vườn nhỏ trồng hoa trước căn nhà tiện nghi của gia đình hắn thì gặp nạn. Trời quá tối, hắn không nhìn thấy con chó lạ nằm trốn trong góc. Con chó chồm dậy và ngoạm rách quần hắn. Hắn thộp cổ con chó. Người và con vật vật lộn nhau một hồi. Mọi người đổ xô ra và sau cùng giết chết con chó.
Đó là con chó dại. Không biết nó từ đâu đến. Shimura bèn đến một phòng mạch quen chích ngừa dại. Người thày thuốc này làm việc thiếu lương tâm, không rõ ông ta tiêm quá liều lượng, hay tiêm thuốc bị hư hỏng, hay tiêm lầm thuốc khác mà một thời gian sau Shimura mắc phải một chứng bệnh lạ kỳ: thần kinh hệ bị đảo lộn. Hắn không bị điên. Nhưng hắn không còn là Shimura xuất sắc, đức độ như xưa nữa.
Trước đây Shimura là ông. Giờ đây là thằng.
Thoạt tiên hắn mất khả năng thiên phú về văn chương, thi phú và hội họa. Cả buổi hắn không nặn ra được một bài thơ ngắn. Hắn cầm bút viết, ngón tay run run. Hắn vẽ nguệch ngoạc như con nít. Rốt cuộc hắn bỏ viết văn khảo luận, bỏ làm thơ tình cảm, bỏ vẽ tranh thủy mạc…Từ sáng đến tối hắn ngồi đờ đẫn như người mất hồn.
Quả hắn mất hồn thật! Người chồng gương mẫu ngày xưa đã nhường chỗ cho tên lưu manh, ở nhà hắn thượng cẳng chân hạ cẳng tay với vợ con. Đối với bằng hữu, mỗi ngày hắn một lánh xa. Không như trước kia hắn đi làm về có giờ giấc, và thỉnh thoảng mới vắng nhà ban đêm. Giờ hắn bất chấp, bất cần tất cả.
Hắn lén lút lui tới những chốn ăn chơi, rồi bao hai cô gái, thuê phòng cho ở thuộc vùng ngoại ô. Những liên hệ xác thịt mới này vẫn chưa thỏa mãn được cơn đói ái tình kinh khủng của hắn. Hắn phải ghé xóm thanh lâu hầu như hàng ngày.
Suốt đêm hắn chìm đắm trong cảnh hoan lạc, gần sáng mới khật khưỡng về nhà. Và khi ấy hắn đã say bí tỉ. Hắn nằm vật xuống nệm, kéo một giấc quên đời. Tỉnh dậy thì trời đã chạng vạng. Hắn khoác vội cái áo vào người, quát mắng vợ con trước khi ra đường, gọi xe đến thăm hai cô vợ bé, hẹn hò với vũ nữ, gái điếm và uống rượu thâu đêm.
Gia tư hắn thuộc loại bát ăn bát để nên trong những tháng đầu tiên của sự đổi thay, hắn vẫn có đủ tiền tiêu xài phung phí. Dần dần hắn mới phải nghĩ cách xoay sở. Thứ nhất là xoay sở trong nhà. Cha mẹ vợ để của hồi môn cho vợ hắn bằng một số cổ phần trong các công ty thương mãi và kỹ nghệ. Hắn bèn lần lượt đem bán. Các cổ phần này mang lại lợi nhuận khá cao nên Shimura sang nhượng lại nhanh chóng và êm thắm.
Của ăn không núi cũng lở, chỉ trong vòng mấy tháng số vốn chung của hai vợ chồng đã tan biến. Hắn gõ cửa bạn bè để vay mượn. Hắn vốn sòng phẳng, lại chưa thiếu tiền ai bao giờ nên ít người từ chối. Hắn nói dối cần thật nhiều tiền để xuất bản tác phẩm để đời. Hắn khoe khoang tác phẩm của hắn sẽ biến hắn thành triệu phú trong thời gian ngắn. Do đó hắn sẵn sàng vay mượn với bất cứ lãi suất nào.
Tâm tính hắn biến chuyển từ từ, bởi vậy không ai hay biết, kể cả những người thân thích. Hắn lại che đậy khéo léo. Đến khi cây kim trong bọc bị lòi ra thì đã muộn.
Vỡ lẽ ra, hắn chẳng sáng tác, chẳng xuất bản gì ráo. Hắn vay nợ lãi suất cao là để ăn chơi trác táng. Bị chủ nợ thôi thúc, hăm dọa, hắn bèn áp dụng phương pháp kiếm tiền giản dị nhất: đánh bạc. Thôi thì sòng bạc nào cũng có mặt hắn, có bao nhiêu tiền hắn dồn hết vào sự đỏ đen.
Số hắn vẫn đen chứ không đỏ như hắn tưởng. Vì thế những đồng bạc cuối cùng đã bay vèo. Hắn không thể vay thêm nữa. Hắn cũng không thể khất lần khất lữa thêm nữa. Bọn chủ nợ ra tối hậu thư cho hắn: nếu không trả được những núi nợ chồng chất, hắn sẽ bị lôi ra tòa, và gia đình hắn, danh dự hắn sẽ bị đạp xuống vũng bùn nhơ nhớp.
Không hiểu sao khi ấy hắn lại nghĩ đến danh dự. Hắn nghĩ đến tiền có lẽ đúng hơn. Phải, khi ấy hắn đang cần tiền ghê gớm. Cần tiền bịt miệng bọn sét-ty vô lương tâm đã đành, hắn còn cần tiền vì các cô vợ bé và nhân tình giang hồ của hắn vòi vĩnh ngày đêm.
Có tiền mua tiên cũng được. Nước Nhật vừa trải qua một trận đại chiến tàn khốc, xứ sở bị chiếm đóng, giá trị của đồng tiền càng gia tăng. Hồi ấy, thủ đô Đông Kinh đã chứa đựng những quyến rũ mãnh liệt mặc dầu chưa phải là thiên đường của khoa học và lạc thú tân tiến như ngày nay với hằng hà sa số điện thoại đỏ, vô tuyến thu hình màu, xe hơi đủ cỡ, những ngã tư có máy đo tiếng ồn và dụng cụ điện tử cho khách bộ hành còn bao nhiêu giây đồng hồ nữa thì đèn giao thông đổi màu để họ có thể vượt qua đường an toàn…và nhất là 10.000 sì-nách-ba.
Tình cờ hắn tạt qua một ngân hàng ở khu Shina-ga-oa. Và một ý nghĩ thoáng qua đầu hắn. Ngân hàng là nơi có rất nhiều tiền. Lúc nào cũng có rất nhiều tiền. Giá mình có một trương mục trong nhà băng này nhỉ?
Hắn đã quen với thủ tục gửi tiền, lãnh tiền ngân hàng. Xưa kia, hắn từng làm thế nhiều lần. Nếu hắn không lao thân vào cuộc sống bê tha thì những trương mục của hắn, của vợ hắn vẫn còn nguyên vẹn. Hắn đã rút tới đồng yen cuối cùng. Hắn đã mắc nợ như chúa Chổm. Hắn không còn lối thoát nào nữa. Ngoại trừ…
Ngoại trừ hắn đánh cướp nhà băng.
Hắn lạnh người. Hắn có cảm giác như vừa bị nhiễm gió độc. Hắn có thể lường gạt song chưa bao giờ hắn nghĩ đến tội ác. Đặc biệt là nghĩ đến đánh cướp nhà băng.
Hắn dừng lại ở dọc đường, uống rượu sa-kê. Hắn là con sâu rượu, vậy mà mới tợp một chén nhỏ hắn đã say chếnh choáng. Hắn lẩm bẩm « hừ, mình phải đánh cướp nhà băng này mới được ».
Nói thì dễ, thực hành lời nói rất khó. Bình sinh hắn là văn nhân, thuộc đẳng cấp dài lưng tốn vải ăn no lại nằm. Tuy hắn là con dân Phù tang, khoái đọc truyện trinh thám, và từng viết truyện trinh thám đánh đấm toát bồ hôi lạnh, hắn lại hoàn toàn mù tịt về võ thuật. Nhu đạo là môn võ ruột của người Phù tang, nhưng đối với hắn thì cũng xa lạ như thú xác thịt đối với vị chân tu đắc đạo.
Hắn lại không phải là kẻ gan dạ. Hồi còn cắp sách đến trường, hắn đã được bạn bè liệt vào hạng nhát như thỏ đế. Hắn quá hiền, còn hiền hơn cả con gái nhà lành nữa. Kể ra hắn hiền cũng đúng vì hắn sống trong một gia đình giòng giõi, lại được nuôi nấng nghiêm chỉnh. Vả lại, cốt cách của hắn là cốt cách của nhà thơ, của họa sĩ, của nhà văn, của nhạc sĩ đầy rung cảm trữ tình…
Muốn đánh cướp nhà băng một cách trót lọt, hắn phải hành động thật nhanh, thật tàn nhẫn và thật hữu hiệu. Có can đảm không cũng chưa đủ, còn phải có võ khí nữa. Chưa kể những cảnh sát viên canh gác cẩn mật bên ngoài, bên trong ngân hàng đều có nhân viên được võ trang. Rút kinh nghiệm, họ thường đặt súng ngay dưới quầy tiền. Động dụng, họ chỉ cần rón tay xuống là có thể đối phó kịp thời…
Hắn đã đọc nhiều tiểu thuyết. Trong sáng tác cũng như trên thực tế, chưa có vụ đánh cướp nhà băng nào không dùng đến súng đạn. Kẻ gian phải nạp đạn sẵn sàng, trong trường hợp bị ngăn cản thì bắt buộc phải lảy cò. Hắn chưa hề bắn ai từ thuở hắn làm người đến giờ. Cho dẫu hắn xoay được khẩu súng -việc này không mấy khó ở Đông Kinh hậu chiến, mua súng lậu cũng tương tự như mua súc cù là khích dâm- hắn cũng không có hy vọng làm nên cơm cháo gì. Tập bắn súng không còn kịp nữa vì phải mất cả tháng, đôi khi cả năm mới có thể trở thành thiện xạ, bắn đâu trúng đấy. Phương chi hắn lại kị súng.
Hắn còn kị máu. Hễ thấy máu đỏ lòm là hắn muốn nôn ọe. Có lần hắn mục kích một tai nạn lưu thông, nạn nhân bị xe cán, nằm ngắc ngoải trong vũng máu đào, hắn chỉ là kẻ bàng quang mà lại ngất xỉu, và hắn được chở đi bệnh viện cứu cấp cùng chuyến xe Hồng thập tự với nạn nhân hấp hối. Những khó khăn hiện ra sừng sững như đỉnh núi Phú sĩ. Cướp nhà băng không phải là công việc làm được một mình. Trong trường hợp hắn là quán quân bắn súng -điều không thể xảy ra- hắn vẫn phải có đồng lõa. Cướp nhà băng thường gồm nhiều người. Một tên chĩa súng ra lệnh cho nhân viên ngân hàng giơ tay, rời bàn giấy, tập trung vào góc, mặt ngoảnh vào tường. Ai lộn xộn thì cứ bắn bỏ. Một tên canh chừng ngoài cửa, ngón tay hườm sẵn cò súng. Và một hoặc hai tên khác đậu xe đối diện nhà băng, máy xe nổ ròn, chờ cả bọn chạy ra là dông tuốt. Đó là chưa kể đến một tên khác chờ dọc đường để thay đổi xe, đề phòng bị lực lượng an ninh truy kích…
Hắn lại chẳng có ai. Hắn chỉ có một mình. Xe hơi để vù khỏi nhà băng với số tiền đánh cướp, hắn cũng không có nữa. Hắn cũng không biết cách mượn tạm xe hơi của thiên hạ.
Tóm lại, nếu hắn muốn làm giàu nhanh chóng bằng phương pháp đột nhập ngân hàng, hắn phải thực hiện kế hoạch ăn hàng một mình. Không có súng đạn. Không có đồng lõa. Không có xe hơi đợi bên ngoài. Không có gì hết. Hắn phải bước vào nhà băng một mình. Lấy tiền một mình. Rồi đi bộ một mình ra đường, vẫy taxi tẩu thoát…
Nghĩ đến đó kẻ nào khoái cướp nhà băng nhất cũng phải từ bỏ ý định. Vì cướp nhà băng trong hoàn cảnh ấy chỉ là một lối tự tử. Nếu không bị bắn chết thì cũng bị xích tay, ra tòa lãnh chục năm cấm cố.
Bọn chủ nợ đêm ngày thúc giục, hai cô vợ bé đêm ngày đói tiền, các em xinh như mộng trong xóm lầu xanh đêm ngày vòi quà, những hình ảnh ấy không cho phép Shimura chần chừ. Lại còn vợ con hắn. Thanh danh hắn. Thanh danh gia đình hắn.
Thôi thà về nhà tắm rửa sạch sẽ, chọn cái áo kimônô trang trọng nhất, và cây kiếm báu của ông cha để lại, viết trên giấy hoa tiên tờ thú tội xin gia đình và xã hội tha thứ đoạn rạch bụng làm …sép-pu-ku. Sép-pu-ku là sự mổ bụng tự tử anh hùng của người Nhật.
Khốn nỗi hắn lại không thích chết. Hắn thích sống. Sống để tiếp tục du hí. Sống để tiếp tục đánh bạc.
Một người giàu óc tưởng tượng như hắn không thể khoanh tay bất lực. Trí đã quyết, hắn bèn sửa soạn một chuyến thăm viếng núi Phú sĩ.
Phú sĩ sơn, cách thủ đô Đông Kinh mấy giờ đồng hồ lưu thông, là một thắng cảnh độc nhất vô nhị. Trong quá khứ, mỗi khi có chuyện rối rắm cần suy nghĩ, hắn thường rời Đông Kinh đến vùng núi Phú sĩ. Một mình. Hắn mê trèo núi Phú sĩ vì hơn một lần đã tìm thấy ở đó một nguồn vui mới, sáng láng và đam mê. Ngạn ngữ Nhật có câu « ai trèo núi Phú sĩ, người ấy là khôn ngoan. Nhưng chỉ trèo một lần, trèo nhiều lần là điên ». Không hiểu sao ngạn ngữ lại nói như vậy vì từ nhiều thế kỷ, núi Phú sĩ vẫn là nguồn cảm hứng vô tận. Có người đam mê đến nỗi suốt đời chẳng làm gì ngoài mỗi việc vẽ, chụp hình núi. Danh họa Hokasai trong thế kỷ thứ 10 đã vẽ gần trăm bức. Và trái với ngạn ngữ, càng trèo nhiều lần Shimura càng khôn ngoan thêm ra.
Thần tiên nhất là đứng trên đỉnh núi khi ban đêm sắp tàn, và vầng đông ló dạng. Vì vậy người ta thường trèo núi lúc chập tối để lên tới đỉnh thì vừa kịp thưởng thức quang cảnh bình minh rạng rỡ.(1).
Shimura lại thích trèo ban ngày, tối đến hắn nằm ngủ, và thức dậy thật sớm để tham thiền và suy tư.
Đêm ấy hắn nảy ra mưu kế.
Nhưng mưu kế mới thành hình trong đầu thì hắn lâm bệnh. Mấy ngày sau khi trèo lên núi Phú sĩ, hắn bị kiết lỵ. Không riêng mình hắn mắc phải. Mà là hàng ngàn, hàng vạn người. Một nạn dịch kiết lỵ không biết từ đâu đến, đột nhiên gieo tai họa trên đất Nhật. Thủ đô Đông Kinh đông nghẹt dân chúng, sự tàn phá của chiến tranh và những khó khăn dưới chế độ chiếm đóng đã thu hút một số lớn nông gia thất nghiệp từ miền quê về thành phố, nên nạn dịch kiết lỵ hoành hành dễ dàng.
Hắn phải nằm liệt giường. Người hắn xọp đi, chỉ đâu hơn tuần lễ mà hắn mất 7, 8 kílô. Hắn vốn gày guộc, mất luôn một lúc 7, 8 kílô điều này có nghĩa là hắn chỉ còn da bọc xương. Nhưng hắn lại vui như Tết vì trong những ngày, những đêm bị bệnh kiết lỵ hành xác, hắn đã khám phá ra phương pháp tuyệt hảo để tiến hành mưu kế đơn thương độc mã đánh cướp nhà băng.
Hắn vùng reo lên:
-Thành công…chắc chắn mình sẽ thành công!
Phương pháp của hắn rất giản dị: hắn chẳng cần gì hết. Chẳng cần mua súng, tập bắn súng. Chẳng cần kết nạp đồng lõa. Chẳng cần tậu xe hơi. Đúng ngày giờ đã định, hắn sẽ nghênh ngang bước vào ngân hàng do hắn chọn trước. Hắn sẽ đột nhập ngân hàng giữa ban ngày, mọi người đang làm việc đông đảo, nhân viên công lực đang canh gác cẩn mật bên ngoài.
Hắn sẽ không lưu lại lâu. Sau 10 đến 15 phút, hắn sẽ ung dung trở ra. Với tất cả số tiền cất trong quầy và trong tủ sắt nhà băng. Hắn sẽ không cần giơ một ngón tay trỏ mà cuộc đánh cướp sẽ diễn ra hoàn toàn êm thấm. Và khi hắn rút lui, nhân viên ngân hàng sẽ không thể phản ứng như thường lệ…
Bệnh kiết lỵ bỗng khỏi biến như thể hắn được uống thần dược. Hắn lẩm bẩm một mình « thần dược…thần dược… ». Sau nhiều ngày nhịn ăn, hắn không cảm thấy yếu đuối, mệt mỏi. Trái lại hắn còn khỏe ra và thần trí minh mẫn nữa là khác.
Hắn tất tả mặc quần áo, rảo qua nhà băng. Hắn rượt nhẩm kế hoạch trong óc lần chót. Rồi hắn tìm quán rượu sa-kê ngon, ngồi nhấm nháp. Xong xuôi, hắn xẹt qua nhà vợ bé. Lần lượt, mỗi cô vợ một lát. Vẻ mặt hắn tươi rói như người trúng số độc đắc làm ai cũng ngạc nhiên. Thật vậy, hắn sắp trúng một loạt số độc đắc mà các cô nàng không biết. Hắn khoe mới vồ được một áp phe lớn. Tiền bạc sẽ chảy ào ào vào như nước suối. Hắn cũng không quên ghé thăm các bông hoa biết nói mĩ miều quen thuộc trong xóm bình khang với những lời hứa hẹn đê mê.
Như toán com-măn-đô trước ngày lên đường tấn công mục tiêu trên đất địch, phải tập luyện cho thuần thục, hắn chọn một nhà băng gần nơi hắn định ăn hàng để thực tập. Hôm ấy, trời khá đẹp. Đơn thương độc mã hắn tiến vào nhà băng. Nhưng hắn không đánh cướp. Hắn chỉ duyệt lại từng chi tiết của kế hoạch thần sầu mà hắn sửa soạn thực hiện.
Trong ngày hôm sau.
Tại một chi nhánh của ngân hàng Teikoku.
Và quả như hắn dự tính, hắn thành công mỹ mãn. Sau này, các chuyên viên phạm pháp học quốc tế đều nhìn nhận vụ đánh cướp của Shimura là vụ đánh cướp ngân hàng độc đáo nhất trong thế kỷ thứ 20.
Vụ đánh cướp nhà băng này gieo bàng hoàng trong giới lãnh đạo an ninh quốc gia ở Đông Kinh. Thoạt tiên, người ta nghi ngờ những bộ óc cừ khôi trong làng đi ngang về tắt quốc tế đứng sau nội vụ. Vì không ai dám tưởng tượng kẻ chủ chốt là người Nhật. Tổ chức quân báo của lực lượng chiếm đóng Mỹ được huy động, mọi phương tiện hùng hậu được áp dụng để truy tầm thủ phạm.
7 tháng trời trôi qua. Trong 7 tháng đằng đẵng này, giới an ninh làm việc ngày đêm, không nghỉ. Danh sách kẻ tình nghi kéo dài giằng giặc trên gần 300 trang giấy. Phải, gần 300 trang giấy đánh máy, với đúng 8.796 tên. Đa số là dân anh chị có tiền án. Công an Nhật hướng cuộc điều tra vào giới trộm cướp chuyên nghiệp nên bị trật đường rầy trong nhiều tuần lễ. Nếu họ thiếu kiên nhẫn, thiếu sáng suốt, và nếu Shimura khôn ngoan hơn nữa thì vị tất nội vụ đã bị lôi ra ánh sáng.
Vụ đánh cướp diễn ra trong bầu không khí êm ả, gần như vui vẻ, thân mật. Chiều hôm ấy, nhà băng sửa soạn đóng cửa thì một người đàn ông trung niên, khuôn mặt đầy thiện cảm, xuất hiện trên ngưỡng cửa.
Người đàn ông trung niên xách nơi tay cái va-li nhỏ, loại va-li thông dụng của giới y sĩ, trên nắp và hông dán dấu hiệu chữ thập đỏ, cánh tay cũng đeo cái bát-sa có dấu chữ thập đỏ to tướng. Chưa cần tự giới thiệu, người ta đã biết khách là nhân viên y tế.
Khách nhã nhặn yêu cầu được gặp ông giám đốc chi nhánh. Thân chủ đã về hết nên bên trong ngân hàng vắng tanh. Các quầy tiền đã sập xuống, cửa phòng giám đốc mở rộng. Ông giám đốc vừa khóa xong ngăn kéo bàn giấy thì khách đeo dấu hồng thập tự khom mình chào cung kính theo kiểu Phù tang thuần túy rồi chìa danh thiếp.
Ông giám đốc đọc danh thiếp thấy:
Yuitsu Kato
Y khoa Bác sĩ
Bộ Y tế.

Bác sĩ Kato được nhiều người biết tiếng. Thủ đô Đông Kinh người đông như kiến cỏ, ông giám đốc chi nhánh ngân hàng chỉ biết tiếng bác sĩ Kato chứ chưa hề biết mặt và hân hạnh được gặp. Ông giám đốc ngân hàng không thể ngờ rằng bác sĩ Kato bằng xương bằng thịt giờ phút ấy đang ngồi ở bộ Y tế, còn người đàn ông trung niên có mặt trong nhà băng là Shimura, tên cướp không tiền khoáng hậu.
Ông giám đốc mời ngồi song hắn xua tay:
-Xin ông tha lỗi. Tôi phải đi gấp. Lẽ ra việc này được giao cho đội y tế lưu động thường trực nhưng vì bệnh dịch đang bành trướng mạnh mẽ. Trong khu vực của ông lại có mấy người vừa thiệt mạng nên bắt buộc tôi phải đích thân phụ trách.
Bệnh dịch kiết lỵ là mối lo của đa số dân chúng, không riêng nhân viên trong ngân hàng. Một số nhân viên mắc bệnh đã phải nghỉ ở nhà. Nếu không có cách gì ngăn ngừa hữu hiệu, chẳng bao lâu nữa ngân hàng sẽ phải đóng cửa. Bác sĩ Kato quả là cứu tinh cho ngân hàng.
Ông giám đốc bèn hỏi:
-Thưa, bác sĩ muốn chúng tôi chích ngừa?
Shimura đáp:
-Không. Bộ Y tế vừa phát minh một phương pháp phòng bệnh hữu hiệu hơn thuốc tiêm nhiều lần. Đó là thuốc uống. Chích thịt vừa đau, vừa phiền phức, bất tiện. Và lại mất quá nhiều thời giờ. Với thuốc uống này, chỉ pha ít giọt vào nước trà là được. Tác dụng của nó có thể kéo dài trong 6 tháng. Nào, phiền ông giám đốc tập hợp các ông, các bà nhân viên để lãnh thuốc…
Người Nhật có 2 đặc tính quốc gia. Thứ nhất là sạch sẽ. Đến sở làm họ thường mang ly chén theo để uống nước. Bởi vậy mỗi nhân viên ngân hàng đều có chén riêng. Thứ hai là tính tôn trọng lệnh trên. Ông giám đốc ra lệnh là họ tuân theo răm rắp. Nhưng nếu không có lệnh trên, họ cũng không từ chối vì bác sĩ Kato đã đến đúng lúc.
Nhân viên ngân hàng không đông mấy, cả nam lẫn nữ đếm đúng 16 người nên Shimura khỏi phải chờ đợi lâu lắt. Trong vòng một phút họ đã xếp thành hàng trước mặt hắn. Hắn khoan thai đặt cái va-li y sĩ lên bàn, lấy ra cái ve nhỏ đựng nước thuốc ngừa bệnh kiết lỵ.
Hắn giơ ve thuốc lên cao rồi nói với ông giám đốc ngân hàng:
-Loại huyết thanh này được bào chế một cách tinh vi. Mức bảo vệ an toàn của nó lên đến một phần mười ngàn, nghĩa là trong số 10.000 người được uống thuốc ngừa chỉ có một người lây bệnh dịch kiết lỵ. Nhưng ngay cả trong trường hợp hãn hữu ấy con vi khuẩn kiết lỵ cũng đã quá yếu, không thể gây hại cho sức khỏe bệnh nhân. Vì huyết thanh được rút từ động vật và chất kim nên mùi vị nó không dễ chịu. Tuy nhiên, « thuốc đắng dã tật », quý vị đã sẵn sàng chịu khó uống ngay một hơi. Nào, tôi đã rót xong thuốc, xin mời quý vị nâng chén, mở cuộc đại tấn công vi khuẩn bệnh dịch kiết lỵ.
16 cánh tay cùng nâng lên một lượt. Và 16 cái miệng ngoan ngoãn uống hết 16 chén nước trà pha độc dược xi-a-nuya, loại độc dược giết người nhanh chóng và kinh khủng nhất.
Chất xi-a-nuya vừa thấm vào cổ họng, 16 nạn nhân đã bải hoải tứ chi. Trong chớp mắt, họ ngã gục xuống nền nhà băng. Có người đã chết, ngón tay còn nắm chặt cái chén. Mấy người chưa chết hẳn, còn nằm rên rỉ.
Shimura không thèm quan tâm đến việc những nhân viên ngân hàng còn sống hay chết. Hắn nhún vai bước qua đống nạn nhân bằng xương bằng thịt, áp lại quày tiền, xô cánh cửa gỗ, đột nhập cấm khu của ngân hàng. Hắn bình tĩnh nhét những xấp giấy bạc được xếp và ghim sẵn vào va-li y sĩ. Chưa đầy 3 phút sau, y đã thoát khỏi ngân hàng Teikoku, để lại phía sau 12 xác chết và 4 người sắp chết.
Lưới trời lồng lộng, Shimura bị bắt. Mặc dầu hắn bố trí chu đáo, hắn bị bắt trong một phút ma men ám ảnh, hắn buột miệng nói ra những điều không đáng nói.
Hắn ra tòa và lãnh án tử hình.
Chú thích:
(1) núi Phú sĩ cao khoảng 3.600m, hàng năm có trên 100.000 người trèo núi viếng thăm. Có 4 con đường lên núi, dọc đường có 10 trạm nghỉ, khách có thể uống la-ve, ăn, và thuê nệm ngủ, hoặc thuê cả ngựa.
Truyện Thứ Năm
Ấn Độ Lời Thề Chết Người
Dưới thời ngoại thuộc, mỗi khi xét xử những vụ lường gạt, nhất là quỵt nợ, ông tòa thường cho phép hai bên, nguyên đơn và bị cáo đi…thề. Một hôm nào đó, hai bên kéo nhau đến một ngôi đền thiêng trong vùng, mang theo con gà còn sống, xì xụp khấn vái một hồi rồi dùng dao chặt đứt cổ gà, thề rằng « kẻ nào ăn gian nói dối sẽ bị chết như con gà này ». Nhiều người đã đi thề. Tuy không ai biết những lời nguyền do thần linh chứng giám trong quá khứ đã được nghiệm ứng đâu, và từ trước đến nay có bao nhiêu kẻ ăn gian nói dối đã chết.
Nước nhà thu hồi độc lập. Những bản án …đi thề không còn nữa, song tập quán thề nguyền vẫn chưa biến mất trong dân gian. bằng chứng là hàng ngày vẫn có những chàng trai vỗ ngực cam kết với người yêu măng tơ nhẹ dạ « nếu anh phụ em thì ra đường anh sẽ bị xe GMC 10 bánh cán chết », « anh nói láo thì sẽ chết hộc máu », vân vân và vân vân…
Mặc dầu phương tiện thông tin ngày nay được phát triển mạnh mẽ, ngay cả thôn xóm xa xôi hẻo lánh cũng có báo đọc, và ngay cả những tin vặt cũng được đăng tải, chúng ta chưa hề nghe tin ai bị xe 10 bánh cán chết vì…quất ngựa truy phong.
Nhưng ở Ấn độ lại có.
Một người đã chết vì lời thề độc.
Ấn độ vốn là một nước huyền bí.
Về vấn đề văn minh, tiện nghi vật chất, Ấn bị quốc tế bỏ xa hàng trăm dặm. Nhưng hãy coi chừng, về cái khoái bậc nhất của con người, cái khoái làm tình thì chưa chắc mèo nào cắn mỉu nào. Các dân tộc tây phương phát minh ra đủ phương pháp, đủ thứ thuốc, đủ dụng cụ mà vẫn bị kỹ thuật làm tình của trai gái Ấn qua mặt cái vù.
Về thần quyền cũng vậy. Ít có quốc gia nào trên trái đất có nhiều ông thần, bà thần được thờ bằng Ấn độ. Và ít có dân tộc nào đam mê những chuyện thiêng liêng bằng dân tộc chà và, cà ri, sét ty Ấn độ.
Vì thế, ở đất Việt nước mắm, rau muống, giá sống chưa có người chết vì lời thề nhưng ở Ấn độ lại có. Vâng, một người đã thiệt mạng hẳn hòi do lời thề độc.
Chuyện « lời thề chết người » này xảy ra tại Calcutta. Thành phố Calcutta tọa lạc ở miền đông Ấn độ, gần biên giới Diến Điện, và nhìn ra biển. Nó là một thị trấn kỹ nghệ lớn, theo tiêu chuẩn châu Âu, với những dinh thự đồ sộ, nguy nga, nằm dọc đại lộ rộng thênh thang và những hoa viên xanh rờn, tráng lệ.
Sự đẹp đẽ này chỉ là nước sơn phiến diện. Trong số gần 6 triệu dân thì quá nửa phải sống trong những khu ổ chuột đầy bệnh hoạn và chết chóc. Và khoảng một triệu vô gia cư đêm đêm ngủ ở vỉa hè, và dạ cầu. Khách đến Calcutta bằng đường hàng không, xuống trường bay Đum-Đum, hoặc đường bộ với ga xe lửa Howrah đều ngốt ngợp trước những đám đông người nhung nhúc như ròi bọ.
Nhà ga Howrah ở bên hữu ngạn sông Hooghly, có thể coi là một thành phố riêng biệt. Dân chúng ăn ngủ, nấu nướng tại đó giữa một rừng già trẻ lớn bé và xe cộ khác nhau như xe hơi, xe đạp, cam-nhông, xe kéo và xe xích-lô, chưa kể người đi bộ và …bò cái thần nghênh ngang đi hàng đàn giữa lộ. Vượt qua cây cầu sắt to lớn, thô lỗ gần như chướng mắt, người ta đặt chân lên đất-thánh.
Ba trăm năm trước, ở đây là đồng không mông quạnh, và chỉ có những túp lều tranh tường đất, họp thành 3 khu làng nhỏ. Đặc biệt là làng Kalikata, người Anh đọc trệch ra là Calcutta. Kalikata là nhà của Kali, nữ thần. Nơi này là đất-thánh. Nữ thần Kali từng ngự tại đó. Một ngôi đền trang trọng được xây cất trong vùng để thờ bà. Cách một quãng ngắn còn có một ngôi đền uy nghi khác dành cho nữ thần Kali.
Kali là vợ của thần Siva. Người Ấn coi Siva là thần tình yêu. Họ lấy bộ phận sinh dục đàn ông lingam làm linh vật tượng trưng cho Thần (xin đọc Hận vàng Ấn độ và Cát-sơ-mia, Sông máu Thuyền hoa để biết thêm).
Nữ thần Kali xuất hiện dưới nhiều thể, có khi bà mang khuôn mặt đoan trang của người vợ hiền, có khi thật kiều diễm và nhu mì, ngồi bên chồng, sẵn sàng ban phát hạnh phúc cho chúng sinh, có khi lại mặc nhung phục, tay cầm khí giới tàn bạo, tượng trưng cho chiến tranh chém giết. Tai hại nhất là khi bà hiện nguyên hình nữ thần Kali, thân hình đen đủi, cổ đeo cái vòng làm toàn bằng sọ người chết phơi khô trắng hếu, cái lưỡi đỏ hỏn, dài lòng thòng như trái núc nác luôn luôn thè lè ra ngoài miệng cá ngão thèm cắn ngoạm và hút máu. Người Ấn chất phác thường toát bồ hôi lạnh trước nữ ác thần Kali. Họ nịnh bợ, xin xỏ thần bằng cách cúng kiến ê hề. Họ đồn với nhau rằng Kali rất thiêng. Thần trù ếm ai là người ấy phải chết.
Dân làng Kalikata bên giòng sông Hooghly sợ oai thần từ nhiều thế kỷ. Khi chửi rủa, thề nguyền kẻ thù, họ mới cầu đến nữ thần Kali.
Chẳng hạn trong trường hợp Aru.
Aru chết vì lời thề.

Ramdranath Bhakerfi Aru là dân Bà la môn trăm phần trăm. Từ 2.500 năm nay, Ấn độ sống dưới chế độ phân chia đẳng cấp. Có cả hàng trăm đẳng cấp khác nhau, mỗi đẳng cấp theo một nếp sinh hoạt riêng, ăn uống riêng, cưới gả riêng, học hành riêng, thậm chí làm tình cũng riêng nữa. Với những cải cách của thánh Gandhi (Cam-địa) và nền độc lập Ấn độ, bức tường đẳng cấp bất khả xâm phạm đã nghiêng đổ phần nào. Tuy nhiên, các đẳng cấp chính vẫn còn tồn tại. Đứng đầu là đẳng cấp bà la môn.
Nghĩa là Aru ở trong đẳng cấp quí tộc thượng lưu, từ đời này sang đời khác chỉ cưỡi đầu cưỡi cổ thiên hạ. Không những thuộc gia đình lá ngọc cành vàng, Aru còn là giòng giõi đại phú nữa. Nếu cha mẹ hắn sống thọ, hắn sẽ sung sướng nhất đời. Nhưng theo luật thừa trừ của tạo hóa, hắn bị bồ côi từ tấm bé. Bồ côi cả cha lẫn mẹ.
Cũng theo luật thừa trừ, Aru không được hưởng gia tài một mình. Cha hắn lấy nhiều vợ. Và hắn có một người anh em cùng cha khác mẹ tên là Jagadis. Sau khi cha mẹ hắn lìa đời, hắn được bà dì Santha Natyami Guri nuôi nấng cùng với Jagadis.
Jagadis lớn hơn Aru nhiều tuổi nên được đảm nhiệm việc quản thù các của chìm của nổi. Sự quản thủ này không được hợp pháp hóa trên giấy tờ, nhưng trong nhiều năm liền không có chuyện nào đáng tiếc xảy ra vì lẽ hai anh em rất hòa hợp. Aru vốn nhường nhịn, Jagadis lại không đến nỗi xấu tính. Hơn nữa Aru còn nhỏ, vấn đề tiêu xài phung phí hoặc phân chia tài sản chưa được đặt ra.
Cho dẫu Aru thành niên, hắn cũng không đòi phân chia tài sản. Hắn cũng không đòi kiểm soát sổ sách kế toán nữa là khác. Nguyên do rất dễ hiểu: Aru tối kị giấy tờ rườm rà, tối kị cộng trừ nhân chia. Hắn bét lớp về môn toán, hễ đọc tờ giấy nào có chữ số là hắn nhức đầu. Bản tính Aru thiên về văn chương triết học. Hắn có cảm tình khác thường với những luận thuyết thoát tục, coi khinh vật chất như là rác rưởi bẩn thỉu ở đời.
Tính tình khiêm cung và ngoan đạo của Aru đã chinh phục được sự mến yêu của bà dì. Bà dì không có con nên lề lối cư xử của bà luôn luôn cứng cỏi, hầu như nghiệt ngã. Bà ghét Jagadis bao nhiêu thì ngược lại, thương Aru bấy nhiêu.
Aru lại không mấy khỏe mạnh nên bà dì rất lo lắng. Aru như cái phong vũ biểu, hễ trái nắng trở trời là có chuyện. Và mỗi lần đứa cháu cưng rêm mình -sự này xảy ra gần như thường xuyên- là bà dì sợ cuống cuồng. Mặc dầu bà thuộc phái bảo cựu, bà lại tin tưởng đặc biệt vào y khoa tây phương. Bác sĩ Sindh là thày thuốc được bà tín nhiệm và khâm phục. Bác sĩ Sindh tốt nghiệp ở Anh quốc, là nhà khoa học thuần túy triệt để chống lại mê tín dị đoan. Bệnh nhân nói đến phép nhiệm màu của thần là ông nhăn mặt, nhún vai, chép miệng. Ông không phát biểu thành lời song cử chỉ của ông đã biểu lộ rõ ràng sự khinh miệt.
Thật ra Aru chỉ hay vang mình sốt mẩy chứ không đến nỗi ốm yếu như sên. Aru bị cảm cúm, tự mua thuốc và tự điều trị lấy cũng khỏi. Nhưng bà dì lại cứ sợ cháu chết yểu, chết vì bất cứ bệnh gì nên Aru vừa gây gấy sốt là bà hốt hoảng cho đi mời bác sĩ Sindh.
Không ai biết nhiều về bác sĩ Sindh. Chỉ biết ông có thân hình cao lớn, bộ điệu chững chạc và khoan thai của người thày thuốc đông khách.
Hôm ấy, Aru đi chơi về thì bị ớn lạnh. Như thường lệ, bà dì đóng chặt cửa phòng -để ngăn tà ma xâm nhập- và tức tốc sai gia nhân đến phòng mạch của bác sĩ Sindh. Bà dì là thân chủ khá rộng rãi nên bác sĩ Sindh đi ngay. Bà chờ ông ở cửa nhà, và ghé tai ông nói nhỏ:
-Nguy rồi, bác sĩ ơi!
Bác sĩ Sindh cười, nắm chặt bàn tay răn reo của bà, giọng an ủi:
-Chẳng sao cả đâu. Chắc cậu ấy cảm xoàng, tôi chỉ chích một vài mũi là bình phục.
Quả như bác sĩ Sindh tiên đoán, Aru chỉ bị cảm xoàng. Một ngày đi chơi dưới nắng chang chang, và gặp mưa đột ngột Aru nhiễm bệnh là điều không lạ lắm. Tiêm thuốc xong, bác sĩ Sindh xách túi đồ nghề ra phòng ngoài, nhưng bà dì đã chặn lại:
-Nó có đau nặng không, bác sĩ?
Sindh lắc đầu:
-Bà cứ tin tôi đi. Sáng mai là khỏi.
-Tôi vẫn sợ, ông ạ. Vì nó dại dột đến trước Cây Đa nói bậy.
-Cây đa nào?
-Cây đa đại trong vườn bách thảo, bên kia sông.
Nói đến cây kỳ thảo này, du khách mới ghé Calcutta lần đầu cũng biết chứ đừng nói là dân bản xứ chính tông nữa. Bên kia bờ sông Hooghly, khu vườn bách thảo choán một diện tích rộng bao la, lái xe hơi bên trong cũng đủ mệt ứ hơi.(1)
Trong vườn được trồng hơn 30.000 loại thảo mộc khác nhau. Tuy nhiên, du khách thường đến chiêm ngưỡng cây đa vĩ đại. Một số dân chúng mê tín cho biết cây đa lớn này là nơi tụ tập của thần linh, ai dại dột đến gần cây, thốt ra những lời sàm báng xúc phạm sẽ bị thần linh quật chết hộc máu.
Aru rất hiền, song hắn lại được ăn học đàng hoàng nên hắn không quá mê tín như bà dì của hắn. Hắn không dám xúc phạm thần linh song hắn không quá sợ cây đa đại như bà dì.
-Thưa bà, cậu Aru đã nói gì trước cây đa đại?
-Tôi không rõ. Nó đâu dám nhắc lại với tôi. Tôi cũng đâu dám nghe.
-Bà đã hỏi cậu Aru chưa?
-Chưa. Vả lại, như bác sĩ biết, tôi đâu dám hỏi.
-Nghĩa là bà chỉ đoán phỏng.
-Vâng. Vì tôi thấy mặt nó ngây ra, chắc bị thần nhập vào người…
-Thần nào?
-Khổ quá, bác sĩ đừng bắt tôi nhắc đến tên ngài. Ngài nổi giận, ngài bắt luôn cả tôi chứ chẳng chơi đâu.
-Bà sợ nữ thần Kali?
Bà dì Guri nín thinh không đáp. Cả đến tiếng Kali bà cũng không dám nhắc lại. Bác sĩ Sindh ngần ngừ một vài giây rồi nói:
-Nữ thần Kali linh thiêng ra sao, tôi không dám lạm bàn, nhưng riêng về phần tôi là chuyên viên y khoa thì cho dẫu nữ thần Kali thật sự linh thiêng và ám ảnh cậu Aru, tôi xin đảm bảo với bà là nội đêm nay cậu sẽ xuống mạch, bớt sốt, và khoảng chiều mai sẽ trở lại bình thường. Thôi, xin chào bà.
Aru xuống mạch, bớt sốt và trở lại bình thường trong vòng 24 tiếng đồng hồ như lời bác sĩ Sindh cam đoan. Tuy vậy, bà dì vẫn tin nữ thần Kali. Tin mãnh liệt hơn nữa là đằng khác. Bà dì cho rằng nữ thần buông tha nạn nhân do bà hết lời cầu xin, nên Aru bình phục. Bác sĩ Sindh là thày lang mát tay, nhưng nếu nữ thần không cho ăn lộc, nếu nữ thần cương quyết bắt Aru về cõi ta-bà thì tài lương y của ông cũng chỉ bằng thừa.
Bà dì Guri là người đàn bà lận đận nhất trong giòng họ Aru. Bà khổ sở vì thần linh đã đành, bà còn khổ sở vì người sống nữa. Bà nghĩ rằng loài người gồm nhiều xấu hơn tốt. Chung quanh bà, bà chỉ thấy rặt một phường ăn không nói có, đi nói dối cha về nói dối chú.
Bà nghi ngờ Jagadis là vì thế.
Mặc dầu Jagadis là cháu ruột của bà, cũng như Aru, bà lại ghét bỏ hắn. Bà liệt Jagadis vào đa số những kẻ xanh vỏ đỏ lòng, khẩu Phật tâm xà. Bà thường căn dặn Aru:
-Cháu nên coi chừng thằng đó.
Aru hơi ngạc nhiên:
-Thưa dì, dầu sao Jagadis cũng là anh của cháu. Không phải anh ruột, nhưng cùng cha khác mẹ thì cũng như anh ruột, phải không, thưa dì? Vả lại, anh ấy có lòng dạ nào đâu mà cháu phải để ý coi chừng.
Bà dì buông ra tiếng thở dài:
-Cháu còn trẻ người non dạ, cháu chưa có đủ kinh nghiệm để xét đoán thiên hạ. Sở dĩ dì khuyên cháu đề phòng thằng Jagadis vì gần đây dì thấy nó ăn tiêu vong mạng, nó lại trây lười, không chịu làm sổ sách 6 tháng một lần. Đằng này gần một năm nay nó vẫn chẳng nói gì cả. Cháu nên nghe dì. Vẫn biết cháu và nó đều cùng máu mủ, một cha mà ra, và dì là em gái của cha cháu, cha của thằng Jagadis, dì vẫn có linh cảm là sớm muộn nó sẽ lừa cháu…
Aru cười xòa với bà dì đa nghi:
-Dì ơi, dì đã luống tuổi, dì bận tâm về những chuyện vụn vặt ấy làm gì cho mệt óc. Dì nên thuốc thang tẩm bổ đi. Cháu không tin anh Jagadis có thể tồi tệ đến thế. Có thể anh ấy chơi bời nên cần tiền, và đôi khi thâm lạm sang phần cháu. Nhưng thưa dì, anh em giúp nhau là thường. Anh ấy mượn tạm của cháu rồi anh ấy sẽ hoàn trả. Hiện giờ cháu chưa cần tiền mà…thưa dì.
Bà dì lấy khăn lau nước mắt, không nói thêm nữa. Bà biết Aru rất thương anh, trừ phi có bằng chứng cụ thể về âm mưu chiếm đoạt gia tài, bà khó hy vọng thuyết phục Aru. Tìm ra bằng chứng đầy đủ không phải dễ. Jagadis ăn vụng chùi mép rất giỏi.
Không hiểu sao bà lại lo sợ. Bà có linh tính một biến cố nghiêm trọng sắp xảy đến cho Aru.
Biến cố này xuất hiện dưới hình thức một bức thư của ông giám đốc ngân hàng nơi Jagadis gửi tiền. Tiếp sau là một nhân viên ngân hàng đích thân đến gặp Aru. Nhân viên này cho biết một số giấy tờ cạo sửa hoặc giả mạo với trách nhiệm của Jagadis. Kết quả là Aru bị mất khá bộn tiền.
Aru tiễn nhân viên ngân hàng ra khỏi nhà rồi trở vào phòng riêng, ngồi thẫn thờ giờ lâu. Sự lươn lẹo của người anh cùng cha khác mẹ mà hắn quý yêu hơn cả anh ruột đã giáng xuống, ác liệt và kinh hoàng như tiếng sét. Bà dì đã cảnh cáo nhiều lần, hắn vẫn khăng khăng một mực bênh vực cho Jagadis. Hắn vẫn một mực tin tưởng ở tấm lòng trong sạch của Jagadis. Té ra, Jagadis chỉ là đứa lưu manh, gian ngoan hạng nhất.
Tối hôm ấy, Aru chờ Jagadis xuống dùng cơm để hỏi cho ra lẽ. Nhưng Jagadis vắng mặt. Jagadis bỏ cơm vì nhuốm sốt. Bác sĩ Sindh đã đến nơi chẩn mạch.
Aru vào phòng trong lúc Jagadis nằm ngửa trên giường, miệng ngậm ống thủy. Aru cố giữ bình tĩnh, bản tâm hắn là chờ Jagadis lấy nhiệt độ xong, bác sĩ Sindh ra về, mới yêu cầu Jagadis giải thích. Nhưng Aru không dằn được lòng. Thấy vẻ mặt nhởn nhơ của Jagadis, hắn nổi giận, chìa bức thư nhà băng, và hỏi lớn:
-Anh nghĩ sao về vụ này?
Jagadis quay nghiêng, giật tờ giấy đánh máy trong tay Aru, liếc qua rồi cười khẩy:
-Chẳng nghĩ sao cả.
Thái độ phớt lờ pha lẫn thách đố của Jagadis làm Aru thêm nộ khí xung thiên. Hắn dằn từng tiếng:
-Nghĩa là anh thú nhận đã thâm lạm tiền riêng của tôi?
Jagadis rút ống nhiệt ra khỏi miệng, ném xuống nệm:
-Có gì đâu mà tôi phải thú nhận. Cha mất đi để lại tài sản cho tôi quản trị. Tôi có quyền vì tôi là anh.
-Anh lầm. Anh không có toàn quyền. Ngay cả quyền làm anh hợp pháp, anh cũng không có. Anh đừng quên chúng ta chỉ có liên hệ với nhau trên phương diện tình cảm.
-Hiểu rồi, hiểu rồi, mày khỏi cần lên giọng thày đời, tao cũng hiểu hết. Mày là con có khai sinh đàng hoàng. Mẹ mày được lập hôn thú. Còn mẹ tao thì không, tao là con ngoại hôn mà. Nhưng dầu sao chăng nữa, tao cũng vẫn là anh mày.
-Tôi chưa hề phủ nhận điều đó. Tôi chưa hề phủ nhận mối tình ruột thịt giữa anh và tôi. Nhưng anh cũng không nên phủ nhận lòng tốt của tôi. Trong chúc thư, ba không trao quyền quản trị tài sản cho anh. Chẳng qua tôi yêu kính anh, tin cậy anh…
-Phải, ba thương mày lắm mà.
-Tôi lầm.
-Mày thấy lầm thì đã muộn.
-Chưa muộn đâu, anh Jagadis. Tôi không muốn tình anh em bị cắt đứt vì chuyện tiền bạc. Tôi sẵn sàng nhắm mắt bỏ qua hành động lươn lẹo phạm pháp của anh. Nhưng anh phải hoàn trả số tiền cưỡng đoạt. Tôi đặt một kỳ hạn dứt khoát cho anh.
-Mày đừng dọa tao.
-Bản tính tôi hiền hòa, nhưng một khi tôi đã định đoạt việc gì thì không sức mạnh nào khả dĩ lay chuyển được tôi. Yêu cầu anh nghe rõ, trong trường hợp anh không thanh toán đúng hẹn, tôi sẽ đưa nội vụ ra tòa, và chắc chắn anh sẽ ngồi tù…
-A a…mày dám tính chuyện bỏ tù tao. Té ra mày không còn tình nghĩa anh em gì với tao nữa.
-Tự anh dứt trước.
-Đồ em vô phúc…Tao sẽ xin thần Kali trị tội mày. Mày biết oai thần chưa? Nhưng thong thả, tao chưa rủa mày vội, để bà dì vào trong này rồi tao thề cũng chưa muộn. Bà già gàn dở này cũng khoái mày lắm. Bà già rất sợ mày ngủm cu tỉ. Hồi tao còn nhỏ, bà dì dẫn tao đến đền thờ nữ thần Kali, dặn tao tuyệt đối cung kính kẻo nữ thần nổi giận. Và tao đã nghe lời bà dì răm rắp. Thần thương tao vì tao sùng bái ngài, tao luôn luôn cúng kiến ngài, tao không sàm báng lếu láo như mày. Tao cầu nguyện gì là ngài ban cho nấy.
Đang nằm trên giường, Jagadis nhảy vọt xuống đất. Bà dì chạy tới, mặt tái mét vì sợ. Bà vội năn nỉ Jagadis:
-Con chớ làm thế, con ơi…Lẽ nào con lại thề nguyền cho em con chết.
Jagadis trợn mắt, giọng lạnh lùng:
-Bà dì ơi, bà đừng lý luận vớ vẩn nữa. Thằng Aru khốn khiếp không phải là em tôi. Bà già rồi, song bà chưa lãng tai, bà hãy nghe lời tôi thề và xem ứng nghiệm đến đâu. Bà sẽ thấy số mạng của thằng cháu cưng của bà, thằng con cưng của cha tôi…Ha ha…
Bà dì mếu máo:
-Dì xin cháu, dì lạy cháu. Nếu cháu muốn rủa, cháu hãy rủa dì, dì xin chết thay cho thằng Aru. Nó thương cháu lắm, lòng nó trong sáng như mặt nguyệt. Chỉ có dì mới đen tối. Chính dì đã xúi nó ngờ vực cháu, chính dì đã tố cáo với nó về vụ cháu thâm lạm…Cháu Jagadis ơi…
Jagadis gắt:
-Im đi, bà già hủ lậu.
Aru lời tiếng:
-Anh không được hỗn với dì.
Nhưng Jagadis không thèm quan tâm đến lời cảnh cáo của người em cùng cha khác mẹ. Jagadis vung tay chỉ Aru và thề độc:
-Aru, tao và mày không còn tình nghĩa gì nữa kể từ giờ phút này. Mày trở thành kẻ thù bất cộng đái thiên của tao. Tao là đệ tử của thàn Kali oai trấn vũ trụ. Ngài sẽ chấp nhận lời cầu xin chính đáng của tao, trừng phạt mày. Aru, mày có cái lưỡi đỏ hồng, nhỏ nhắn, trơn tru, ngọt ngào. Thần Kali sẽ phạt cho cái lưỡi của mày nổi mụt đen sì khiến miệng mày lở loét và hôi thối. Aru, mày vốn yêu ánh sáng, ghét bóng tối. Thần Kali sẽ hóa phép cho mày sợ sệt ánh sáng, và mày sẽ chìm đắm mãn kiếp trong bóng tối kinh hoàng. Mày không còn khôi ngô, cường tráng như xưa nữa. Da dẻ mày sẽ sần sùi, ghẻ cùi, máu mủ chảy đầy, thân thể mày sẽ bẩn thỉu gớm ghiếc tới độ không ai dám đến gần mày nữa. Mày sẽ nhức đầu như búa bổ, mày sẽ có cảm giác hàng chục mũi dao nhọn đang đâm xuyên óc mày. Aru…Aru…mày sẽ ngã gục, rên rỉ trong đau đớn, cơn hấp hối của mày sẽ kéo dài, kéo dài một vài ngày rồi mày tắt thở, mày chết…Aru, mày sẽ chết…
Bọt trắng sùi đầy mép, Jagadis lắc lư như người say sóng. Hắn rủa một hồi, đoạn thở dốc ra vẻ mệt mỏi. Hắn nằm quay xuống giường, kéo mền che kín mặt, tay chân run rẩy trong cơn giận dữ.
Aru bàng hoàng giây lâu. Hắn không ngờ Jagadis có thể táng tận lương tâm đến thế. Hắn đứng yên nghe Jagadis nguyền rủa, không nói nửa lời. Khi Jagadis thề xong, Aru lặng lẽ bước ra ngoài.
Thì ngay khi ấy bà dì luống tuổi té xỉu…
Bác sĩ Sindh xoa nắn, rồi chích thuốc cho bà tỉnh dậy. Ông bồng bà về phòng riêng, dùng lời lẽ nhẹ nhàng khuyên nhủ. Bà dì ngó bác sĩ Sindh với cặp mắt đầy lệ.
Bác sĩ Sindh nói:
-Bà đừng sợ. Tôi chưa thấy ai chết vì lời nguyền rủa cả. Đó chỉ là chuyện trẻ con. Chẳng qua Jagadis nóng nẩy, muốn nói cho sướng miệng. Lát nữa, chắc chắn anh ta sẽ hối hận.
Bà dì đáp:
-Dầu nó hối hận, nó cũng không vớt vát được nữa. Thần Kali rất linh thiêng. Tôi sợ lắm, ông ơi…Thằng cháu vô tội của tôi chết mất.
Bác sĩ cáo từ:
-Bà yên tâm, tôi sẽ gặp anh Aru ngay bây giờ. Tôi sẽ tiêm cho anh một phát thuốc an thần. Thế là đủ. Mọi người ngủ được đêm nay an giấc là sáng mai tất cả sẽ được dàn xếp ổn thỏa. Chào bà.
Bác sĩ Sindh gõ cửa phòng Aru. Không có tiếng trả lời. Aru nằm yên, quay mặt vào tường. Bác sĩ Sindh hắng giọng. Aru không đáp. Biết là Aru còn bực bội và lo sợ, bác sĩ Sindh bèn sửa soạn đồ chích. Aru không có phản ứng gì khác ngoài việc vén áo cho bác sĩ tiêm thuốc. Bác sĩ Sindh chào hắn, hắn không buồn cất tiếng, trái với ngày thường hắn là người lịch sự, không hề làm phật lòng ai, nhất là bác sĩ Sindh lại được coi như người thân trong gia đình.
Lại một ngày trôi qua…
Đối với bác sĩ đắt khách Sindh thì ngày nào cũng như ngày nào, ông bận tíu tít từ sáng đến tối với con bệnh. Người Ấn thường chữa bệnh bằng cúng kiến, bằng rễ lá do bọn thày pháp và lang vườn cung cấp, chỉ khi nào không khỏi –mà thường là không khỏi- họ mới tìm đến tây y, và khi ấy phần nhiều là bệnh đã trầm trọng đến độ bất khả trị. Thành thử ra ngày làm việc của bác sĩ Sindh nặng nề gấp chục lần ngày làm việc của các nghề nghiệp khác. Về đến nhà, ông mệt nhoài, ăn cơm xong là lên giường ngủ.
Tối hôm ấy, ông quên bẵng những chuyện xảy ra trong gia đình Aru và bà già dị đoan. Nhưng ông vừa tắt đèn thì bị dựng dậy, bà dì của Aru sai gia nhân đến gọi, yêu cầu ông đi gấp.
Bác sĩ tất tưởi đến nơi. Bà dì của Aru đợi ông ngay ngoài cửa. Tóc tai bà rã rượi, mắt bà sưng húp và có quầng thâm chúng tỏ bà mất ngủ, và thần kinh bấn loạn.
Giọng nói của bà ướt nhèm nước mắt:
-Bác sĩ ơi, lời thề của nó bắt đầu linh ứng. Thằng Aru chết mất…hu hu…hu…
Bà dì òa khóc. Bác sĩ Sindh ái ngại, đứng hồi lâu trên ngưỡng cửa. Ông lực lời vỗ về:
-Chẳng sao cả đâu, thưa bà. Tôi chỉ cho uống một liều thuốc là khỏi đứt nọc.
Bà dì khóc to hơn:
-Thằng Aru sẽ chết. Bác sĩ coi nó thì biết.
Bác sĩ Sindh nhìn chung quanh:
-Jagadis có nhà không?
-Không.
-Anh ta đi đâu?
-Tối qua, bác sĩ vừa ra khỏi thì nó cũng hầm hầm ra theo. Tôi cũng chẳng buồn giữ nó lại. Nó lỡ nguyền rủa em nó, nó có mặt ở nhà càng nguy hơn nữa.
-Thưa bà, Jagadis chỉ nói xuông thì Aru làm sao chết được?
-Rồi bác sĩ thấy.
-Vậy bà còn mời tôi đến làm gì?
-Tôi cũng không hiểu. Hiện thời tôi như người điên, bác sĩ tha thứ cho tôi.
-Không dám. Bà để tôi khám bệnh Aru xem sao rồi tính.
Phòng bệnh tối om như hũ nút. Aru vốn ưa ánh sáng, ban đêm hắn thắp đèn sáng choang, đi ngủ hắn cũng chong đèn, chắc căn bệnh phải đau đớn lắm hắn mới chịu nằm mọp trong tối. Bác sĩ Sindh đằng hắng một tiếng nho nhỏ rồi bật đèn, ánh sáng nê-ông xanh dịu chiếu xuống chiếc giường sộc sệch. Aru đang nằm ngửa bỗng lấy bàn tay che mắt. Miệng hắn rên rỉ một cách thảm hại:
-Bác sĩ Sindh ơi, tắt đèn đi, tôi chịu không nổi.
Bác sĩ Sindh lại bên giường, giọng hiền từ:
-Khám bệnh xong tôi sẽ tắt đèn cho anh ngủ.
-Không, không, phải tắt đèn ngay bây giờ.
-Tối quá, tôi không cặp thủy và chẩn bệnh được.
-Nhưng ánh đèn làm tôi nhức nhối kinh khủng.
Bác sĩ Sindh lấy miếng vải nhung đen đặt ngang mắt bệnh nhân. Aru không tiếp tục than vãn nữa. Bác sĩ Sindh đo nhiệt độ hắn. Ông hơi ngạc nhiên vì trán Aru chỉ hâm hấp nóng mà ống thủy lên tới hơn 40 độ bách phân. Tưởng ống thủy bị hư, ông lắc đi lắc lại nhiều lần đoạn bỏ vào miệng Aru, kiểm điểm nhiệt độ lần nữa. Và lần này vẫn là 40 độ. Quả là bệnh nhân sốt nặng. Nếu cơn sốt không giảm, hắn sẽ mê sảng nội trong đêm. Ông hỏi Aru:
-Anh nặng đầu lắm, phải không?
Aru thều thào:
-Như thể hàng chục mũi dao nhọn đang đâm xuyên óc.
Bác sĩ Sindh giật mình. Aru vừa nhắc lại câu trong lời nguyền độc địa của người anh cùng cha khác mẹ Jagadis. Ông cúi xuống xem xét diện mạo bệnh nhân. Những cái mụt nhỏ màu đỏ gớm ghiếc mọc đầy hai bên mép bệnh nhân, một thứ nước vàng bẩn thỉu, hôi tanh đang ri rỉ chảy ra. Lưỡi bệnh nhân trở nên dầy cộm, và cong veo, bên trên phủ một lớp da đen với hàng trăm nốt ruồi sù sì…
Jagadis từng nguyền rủa như vậy. Jagadis rủa như thế nào thì Aru mắc triệu chứng thế ấy. Đứng bên, bà dì run như rẽ:
-Bác sĩ thấy chưa? Mắt nó sợ ánh sáng, mép miệng nó lở lói, hôi thối, lưỡi nó mọc mụt kinh tởm, đầu nó nhức nhối như bị dao đâm. Đúng như lời thề độc ác của thằng vô lại Jagadis…Tội nghiệp con quá, Aru ơi!
Bà dì tru tréo ầm ỹ khiến bác sĩ Sindh phải gắt:
-Bà có yên lặng tôi mới có thể làm việc được. Nào, mời bà ngồi xuống ghế.
Thiếu phụ nín thin thít. Bác sĩ Sindh cởi áo bệnh nhân ra khám. Những mụn đen đỏ mọc đầy. Làn da trước kia mịn màng của Aru đã trở nên sù sì, thô tháp không khác da cóc. Bác sĩ Sindh từ tốn đâm vào mạch máu ở khuỷu tay bệnh nhân, rút máu vào xơ-ranh, nút bông và dán keo lại cẩn thận. Sau đó ông nói với bà dì:
-Tôi phải thử máu mới biết được bệnh. Tôi nhờ họ làm liền, chắc chỉ gần sáng là có kết quả.
Bà dì lại khóc nức nở:
-Ông ơi, ông chẳng tìm thấy gì đâu. Nữ thần Kali trừng phạt ai là kẻ ấy phải mất mạng.
Bác sĩ Sindh tắt đèn, rón rén ra xe.
Như ông đã hứa, đến rạng đông ông trở lại. Bà dì vẫn gục đầu bên giường bệnh. Aru nằm im như thây ma. Thỉnh thoảng hắn mới rên được một tiếng ngắn.
Bác sĩ Sindh kéo thiếu phụ ra ngoài, giọng nói của vị thày thuốc có vẻ nghiệm trọng:
-Tôi đã cho thử nghiệm hết. Nhưng chẳng thấy gì cả. Căn cứ theo kết quả của phòng thử nghiệm, máu của Aru hoàn toàn bình thường.
Bà dì chấm nước mắt:
-Ông đừng tìm nữa, vô ích. Đây là vấn đề thần bí, khoa học không thể giải quyết.
Bác sĩ Sindh lật tấm mền đắp người bệnh ra. Nước da Aru đã sám nghoẹt, lấm tấm mụt trắng đỏ, ri rỉ nước vàng hôi nồng nặc. Bác sĩ Sindh lúi húi cạo mụt vào hứng nước mủ vào miếng kiếng nhỏ trên phết sẵn một hóa chất đặc biệt. Bà dì của Aru xua tay:
-Tôi đã bảo mà bác sĩ không chịu nghe.
Bác sĩ Sindh ngẩng đầu:
-Xin phép bà cho thử nghiệm lần nữa. Tôi sẽ thử nghiệm máu và mủ luôn thể. Và chỉ lần nữa thôi. Tôi tin tưởng là tìm ra vi khuẩn gây bệnh.
Mệt mỏi, bà dì ngồi bệt xuống nền gạch. Bà khóc suốt đêm nên đôi mắt khô cạn, giọng nói của bà khản đặc. Phòng khách lố nhố người. Đó là bà con láng giềng. Tuy trời chưa sáng, họ đã kéo tới đông nghìn nghịt. Chứng bệnh của Aru là một tai nạn lạ lùng chưa hề xảy ra trong vùng. Bà dì của Aru khóc ti tỉ một hồi rồi ngất xỉu. Hàng xóm đổ xô lại, vực bà lên ghế đi văng, kêu réo và giựt tóc mai cho bà tỉnh lại. Từ hồi hôm đến khi ấy bà đã bất tỉnh mấy lần như vậy.
Bác sĩ Sindh cặm cụi khám xét. Ông dùng đèn bấm nhỏ cực mạnh soi vào lỗ tai, cuống họng và hậu môn bệnh nhân. Ông còn dùng kiến hiển vi để quan sát mụt trên thân thể. Sau hết, ông đích thân đổ máu và mủ vào nhiều ống nghiệm để thử.
Ông lắc đầu tỏ vẻ chán nản. Một người hỏi:
-Bác sĩ tìm thấy gì chưa?
Bác sĩ Sindh đáp ngắn:
-Không.
Nằm trên giường bệnh nhân bắt đầu nấc cụt. Aru không còn đủ sức ngồi dậy nữa. Hắn không muốn ăn đã đành, ngay cả uống hắn cũng không đòi. Hắn nhắm nghiền mắt, tứ chi hoàn toàn bất động, môi mấp máy những tiếng nhỏ, quá nhỏ không ai nghe được.
Và cứ thế cơn hấp hối kéo dài trong hai ngày. Hai ngày đau đớn tột độ, trước khi trút hơi thở cuối cùng.
Aru chết.
Chết vì phép lạ của nữ thần Kali.
Theo bà dì của Aru và toàn thể xóm giềng có mặt trong ngôi nhà bất hạnh ấy, bệnh nhân đã chết vì lời nguyền rủa, chết vì nữ thần Kali trừng phạt.
Cho đến phút chót, phải bó tay nhìn tử thần đến cướp sinh mạng Aru mang đi, bác sĩ Sindh vẫn không tin vào pháp thuật màu nhiệm của nữ thần ác ôn. Có thể trong lòng ông tin hoặc có ý nghi ngờ, nhưng ngoài miệng ông không thú nhận vì lẽ ông là thày thuốc giỏi, từng tốt nghiệp rạng rỡ ở tây phương, không những giỏi về khoa chữa bệnh, ông còn giỏi cả về vi trùng học nữa. Khi hồi hương, ông tự đặt cho nhiệm vụ khai hóa đồng bào.
Bởi vậy trong giấy khai tử Aru, ông không ghi tại sao Aru thiệt mạng.
Ấn độ là xứ của mê tín dị đoan, nhưng con số những người vững tin vào khoa học cũng không phải ít. Bà dì của Aru, bà con lối xóm và Jagadis cho rằng nữ thần Kali đã giết Aru. Gia đình nạn nhân chỉ biết cúi đầu phục tòng số mạng. Nếu số đã tận thì chạy lên trời cũng chết. Và nếu thần Kali đã trừng phạt thì không phép lạ nào cứu thoát. Aru chết vì vắn số. Thằng anh cùng cha khác mẹ ác ôn đã xin Thần giết chết Aru.
Bà dì của Aru lo việc tẩm liệm và hỏa thiêu thi thể người chết. Hồi sinh tiền, Aru quen rộng, tính tình lại dễ thương nên khi nằm xuống bạn bè phúng điếu đông đảo, và ai nghe chuyện cũng thương tiếc.
Duy có một người thắc mắc muốn tìm hiểu sâu xa hơn nữa. Người này là giáo sư triết học tại trường đại học trong vùng. Aru từng là sinh viên của ông. Aru lại được ông yêu thương.
Ông không nghi rằng Aru chết vì lời thề. Do đó, ông đã yêu cầu tang gia hoãn lễ hỏa táng, đồng thời ông trình bày những điều ông ngờ vực với sở cảnh sát.
Kết quả là tử thi được giải phẫu để khám nghiệm. Và kết quả kế tiếp là Jagadis bị bắt giữ, rồi bị đưa ra tòa xét xử về tội chủ mưu hạ sát Aru. Hạ sát ở đây có nghĩa là hạ sát với bằng chứng hẳn hòi, chứ không phải chỉ là nguyền rủa xuông.
Sự thề độc của Jagadis chỉ là tấn kịch. Hắn biết bà dì và hàng xóm kinh sợ thần Kali nên mượn oai thần –mà vị tất thần Kali thiêng thật- để giết Aru. Jagadis muốn loại trừ Aru từ lâu song chưa có dịp. Hắn trần trừ phần nào cũng vì thấy Aru quá hiền lành, không quan tâm đến tiền nong, khiến hắn được tự do đánh cắp. Nhưng đến khi thủ đoạn lươn lẹo của hắn bị ngân hàng phanh phui, và Aru nổi nóng dọa bỏ tù hắn, hắn không thể trần trừ thêm nữa.
Phương chi hắn lại được một đồng lõa khôn ngoan và tài giỏi giúp sức.
Thật vậy, nếu không có đồng lõa khôn ngoan và tài giỏi thì chưa chắc Jagadis dám thi hành độc kế.
Kể tên đồng lõa của Jagadis nhiều người bật ngửa vì kinh ngạc, vì đồng lõa này là Sindh, bác sĩ Sindh. Kiếm được đồng lõa khôn ngoan và tài giỏi như tiến sĩ y khoa Sindh đâu phải dễ…
Bác sĩ Sindh hạ sát Aru một cách rất khoa học và giản dị. Hôm ấy, sau khi Jagadis nguyền rủa, bà dì ngất xỉu, Aru cũng sắp sửa ngất xỉu, bác sĩ Sindh bèn mượn cớ chích thuốc an thần để chích luôn vi trùng bệnh dịch hạch vào máu nạn nhân.
Đây là loại vi trùng đặc biệt, tác động nhanh như điện, đủ sức giết nạn nhân trong vòng 48 giờ đồng hồ.
Chú thích:
(1) vườn bách thảo này mở cửa từ năm 1786. Cây đa trong đó cao 27 mét, vòng tròn của cành lá đo được 360 mét.
Truyện Thứ Sáu
Pháp Ba Lê Sợi Dây Chuyền 20 Triệu
Có nhiều loại tội phạm, nhưng trên bình diện quốc tế, người ta thường chia làm 2: tội phạm đổ máu, và tội phạm tri thức.
Con người nhiều khi thật khôn, nhiều khi cũng thật khờ. Bằng chứng: một tên lưu mang đăng báo ở Mỹ một mẩu rao vặt ngắn « hãy gửi cho tôi một đô la », tiếp theo lai cảo thứ nhì « hãy gửi một đô la ngay, vì chỉ còn một tháng là hết hạn », và lai cảo cuối cùng « hãy gửi ngay cho tôi một đô la vì chỉ còn một ngày nữa là hết hạn ». Tên lưu manh chỉ đăng rao vặt khơi khơi thế mà nhiều người dại dột gửi tiền cho hắn, hắn kiếm được số tiền 300.000 mỹ kim ngon ơ. Cảnh sát không sao bỏ tù được hắn vì hắn không hứa hẹn luờng gạt gì cả.
Năm 1957, một tên trùm quốc tế Simonowicz với sự phụ lực của 2 đồng lõa đã lừa một nhà buôn đồng hồ ở Thụy sĩ một cách dễ ớn. Hắn điện cho nhà buôn, yêu cầu chở đến 500 cái đồng hồ vỏ vàng trị giá 40.000 phật-lăng Thụy sĩ. Hai nhân viên của nhà buôn mang đồng hồ đến giao để rồi bị đánh tráo va-li, khi mở ra chỉ thấy muối. Cũng trong thời gian ấy, một nạn nhân ở Anh quốc bị tráo hàng, mất 2.000 Anh kim mà chỉ lấy được đá sỏi. Một nạn nhân khác bị lừa lấy toàn là khoai tây.
Về khoản lường gạt tráo hàng này, dân chơi ở nước ta đã tỏ ra tài hoa không kém. Nhưng chưa có dân chơi Việt nào sánh ngang anh chị tây phương trên lãnh vực đánh tráo hạt soàn.
Hai gã diện sang, có xe hơi đen bóng loáng chờ ngoài cửa, ung dung vào tiệm nữ trang, và dạm bán một số hạt soàn đáng giá.
Chủ tiệm coi hàng xong, bàn định giá cả hồi lâu, toan xỉa tiền ra mua thì hai gã lưu manh nói rằng đó chỉ là hàng mẫu, nếu chủ tiệm đồng ý về giá cả đại cương trong một vài ngày tới chúng sẽ mang lại toàn bộ. Chủ tiệm mừng rơn vì vừa trả được giá hời.
Càng mua nhiều, càng có nhiều lời nên chủ tiệm bằng lòng răng rắc.
Theo thủ tục trong nghề buôn bán kim cương, hai gã lưu manh bỏ những viên hột soàn đã xong giá cả vào trong một cái phong bì giấy trắng bóng, ngoài bì, ở góc được ghi số ca ra. Phong bì đựng kim cương được gấp lại theo một thể thức định sẵn và nhét vào một cái phong bì thứ hai. Chủ tiệm đếm đủ tiền, bỏ cùng vào phong bì với hột soàn. Phong bì được khằn lại bằng xi, và một tên lưu mang đóng triện lên trên. Sở dĩ phải làm vậy để đảm bảo hột soàn không bị tráo đổi, và số tiền mua được ấn định dứt khoát. Ngoài ra, chủ tiệm còn được bảp đảm là người bán sẽ trở lại cho dẫu họ tìm ra người mua giá cao hơn. Dấu xi và triện chỉ được mở với sự hiện diện của người mua và người bán.
Nhưng hai gã dạm bán đi thẳng một lèo. Quá ngày hẹn, không thấy họ đến, chủ tiệm kim cương bèn mở phong bì. Hỡi ôi, trong phong bì chỉ thấy …thủy tinh và xấp giấy bạc …giả, làm bằng giấy báo cắt ngay ngắn.
Những vụ lườn gạt như trên đã xảy ra sau đại chiến thứ 2. Cảnh sát Quốc tế Interpol mất bao nhiêu tâm cơ và ngày tháng mới loại trừ được một số chủ chốt.
Tuy nhiên, Interpol cũng đã thất bại nhiều lần.
Chẳng hạn, trong vụ « sợi dây chuyền 20 triệu »…
Một chiếc Mercédès dài ngoằng và đồ sộ chạy rà rà bên lề rồi đậu lại, ngay trước cửa tiệm. Cửa tiệm kim hoàn của ông Franck là nơi hẹn hò của giới thượng lưu đại phú ở thủ đô Ba lê. Tài xế xe Mercédès nhanh nhẹn bước xuống, đi vòng ra sau, mở cửa cho chủ nhân. Cử chỉ thành thạo và chính xác như rô-bô của tài xế chứng tỏ y đã học lớp huấn luyện lái xe cho nhà giàu.
Y dạt sang bên, dường như sợ tấm thân lực lưỡng của y che khuất chủ nhân. Chủ nhân là một nữ lưu phục sức cực kỳ sang trọng. Sang trọng mà không lòe loẹt. Nữ lưu trạc 32, 33 tuổi tràn đầy nhựa sống, tuổi nẩy nở toàn diện của đàn bà.
Phố sá Ba lê buổi chiều đông như hội. Năm ấy là năm 1939. Cuối mùa hè năm 1939, Ba lê đang còn an toàn vì mãi đến đầu tháng 9, Đức quốc xã mới tung 44 sư đoàn thép vào Ba lan, châm ngòi thế chiến thứ 2. Trai thanh gái lịch hồi ấy không thể ngờ rằng chỉ hơn một năm sau, ngày 05/06/1940, quân đội Đức rầm rộ băng qua sông Seine, để rồi ngày 14 nghênh ngang tiến vào Ba lê bỏ ngỏ. Cả ba quốc gia Pháp, Bỉ và Hòa lan bị đánh bại không còn manh giáp trong vòng 44 ngày ngắn ngủi.
Ba lê cuối mùa hè năm 1939 đang còn an toàn nên tiệm bán hột soàn nổi tiếng của ông Franck còn mở cửa. Ông Franck chăm chú nhìn qua cửa kính trong suốt từ nãy. Ông đã có đủ thời giờ quan sát lề lối trưng diện của thiếu phụ. Chỉ riêng bộ xiêm áo của nàng đã cho thấy nàng thuộc giòng quyền quý, quen tiêu tiền không đếm. Cộng với chiếc Mercédès mới toanh và gã tài xế mặc đồng phục trắng, đội cát-kết viền vàng. Nữ lưu phải là khách xộp đến mua sắm chứ không phải đến ngắm nghía những cái nhẫn, vòng tay và dây chuyền đeo cổ nạm hột soàn óng ánh đặt trên nền nhung láng mượt.
Ông Franck, chủ tiệm, vội ra cửa đón khách. Nữ lưu chuồi cái xắc da lên mặt tủ. Trong ví nàng chắc chắn có nữ trang đáng giá, và cuốn sổ chi phiếu. Vậy mà nàng vứt bỏ tênh hênh, không thèm để ý tới, như thể nó là cái túi trống rỗng. Cặp mắt lanh lợi tuyệt đẹp và vô cùng đam mê của nàng còn bận chiêm ngưỡng sợi dây chuyền dát một viên kim cương 58 mặt màu trắng xanh không chút gợn.
Quả nàng là người sành hột xoàn. Hột xoàn có nhiều màu khác nhau: trắng, xanh hồng, da cam, thậm chí cả màu lục, màu đen nữa. Trên thế giới chỉ có 3 viên màu cực quý.(1)
Hột xoàn màu xanh biếc của vua nước Pháp Lô-y thập tứ, gọi là kim cương Hy vọng. Hột xoàn hồng nhạt, và hột xoàn màu lục cũng của một vị vua chúa. Hột xoàn màu vừa quý, vừa hiếm. Tuy nhiên, màu vàng lại rẻ rề, ít người ưa chuộng. Phụ nữ ưa hột xoàn màu trắng xanh vì nó phản chiếu ánh sáng, làm gia tăng vẻ đẹp của người đeo nó.
Nữ lưu quả là người sành sỏi vì nàng không quan tâm đến những viên màu vàng to tướng. Nàng chỉ chú ý đến viên trắng xanh nhỏ nhất mà sang nhất. Nhỏ nhất mà đắt tiền nhất.
Nàng mỉm cười với ông Franck:
- Nghe nói tiệm ông có những viên kim cương đẹp nhất Ba lê. Ông cho phép tôi ngắm một lát nhé.
Ông Franck khom mình, cung kính:
- Dạ, dạ, hân hạnh được nghênh tiếp bà. Bà cứ tự tiện. Nhưng xin bà ngồi cho khỏi mỏi chân. Tôi xin mang lại trình bà để bà lựa chọn.
Một cái ghế bọc nhung đã được kéo sẵn. Khách quý đến tiệm ông Franck luôn luôn được săn sóc lễ độ và chu đáo. Ông Franck có biệt tài quan sát. Nhìn diện mạo, bộ điệu và cách phục sức, phát biểu, ông có thể biết khách giàu đến bậc nào, khách thuộc thành phần xã hội nào. Trong quá khứ, nhiều đồng nghiệp của ông « trông mặt bắt hình dong » nên bị lừa một cách thảm hại. Lắm tên lưu manh, bịp bợm quốc tế ăn diện đúng thời trang, toàn là quần áo, giày dép thượng thặng nên họ tưởng lầm là khách xộp. Ông Franck thì khác. Hơn ai hết, ông đã biết rõ cái áo dòng đen không thể làm thành thày tu. Dầu bọn anh chị quốc tế đóng kịch giỏi đến đâu, ông cũng phăng ra.
Ông đã nghiên cứu nữ lưu tỉ mỉ ngay từ khi nàng sắp bước qua ngưỡng cửa. Nàng là giai nhân thượng lưu thứ thật. Sự học vấn, nề nếp quý phái, và lối sống nhung lụa của nàng đã hiện rõ như vẻ đẹp xuất phàm của sợi dây chuyền kim cương trắng xanh ông đang mân mê trong tay.
Ông Franck đã có nhiều kinh nghiệm về đàn bà. Ông chưa mang đồ đắt tiền nhất ra vội. Phải đi tuần tự từ dưới lên trên. Từ món rẻ lên đến món đắt nhất. Nữ lưu là người sành hột soàn nên ông Franck dự định xuất trình những món không rẻ và cũng không đắt, nghĩa là sàn sàn bậc trung…
Ông Franck rón rén đặt cái khay phủ nhung đen trước mặt nữ lưu. Khay nữ trang này ông vừa lấy từ tủ sắt ra. Nó đựng những sợi dây chuyền giá cả khác nhau. Ông hỏi nữ lưu:
- Bà dùng khoảng mấy ca ra (2) ạ?
Nữ lưu đáp, giọng êm ái như chim sơn ca hót buổi sáng mùa xuân:
-Không cần lớn lắm. Như thế này được rồi. Tôi chỉ cần đẹp, sáng và trong.
Mua hột soàn phải theo 4 tiêu chuẩn bất dịch: kích thước lớn nhỏ, màu sắc, mực độ trong sáng, và cách thức rũa gọt của nó. Nữ lưu cầm cái kiếng lúp áp vào mắt. Loại kiếng này khuếch đại 8 lần, một vết li ti cũng soi thấy. Kim cương có vết là kim cương tồi. Nữ lưu liếc qua rồi bỏ xuống. Giọng nàng có vẻ không vui:
- Màu sắc của những hột này tạm được. Nhưng nó không lấy làm trong lắm.
Nữ lưu chỉ sợi dây chuyền bên trái:
- Hột này có bọt.
Rồi chỉ sợi bên phải:
- Còn cái này có than. Vết than rất nhỏ nhưng cũng làm giảm vẻ toàn mỹ.
Vết than, bọt, vết sần và chấm trắng là 4 khuyết điểm của hột soàn. Nếu nó bị một trong 4 khuyết điểm này, giá trị của nó tụt thang kinh khủng. Lời phê bình của nữ lưu làm ông chột dạ. Ông là chủ tiệm kim hoàn đúng đắn, không bao giờ dám lừa gạt khách hàng. Nhưng ông không thể đưa ra những món đắt nhất ngay trong phút đầu tiên. Ông đành xin lỗi:
-Dạ…đang còn nhiều hột khác, đẹp hơn, tốt hơn. Xin bà chờ cho một phút.
Ông Franck đã đánh trúng sở đoản của nữ lưu. Khi ông bê cái khay trên có sợi dây chuyền trị giá 20 triệu quan ra, ông nhận thấy luồng mắt của nàng như có hào quang. Nàng chỉ hơi nhếch mép cười. Nụ cười tỏ vẻ ưng thuận hơn là nụ cười ngoại giao thường lệ. Đột nhiên nàng ngồi thẳng người, mặt hơi nghiêm trang, đầu gật nhè nhẹ. Nàng ngước lên, dáng điệu hơi rụt rè. Đoán được ý nghĩ của khách, ông Franck nghiêng mình:
- Thưa, bà muốn ướm thử sợi dây này?
Không đợi nàng trả lời, ông Franck kéo tấm gương soi về phía nàng. Tấm gương này được thửa riêng, nó tôn thêm nhan sắc của người soi, nó được lồng trong khung vàng, vàng thật 18 ca ra, được một công nhân kim hoàn khéo tay làm ra từ nhiều thế kỷ trước. Trước nữ lưu, hàng ngàn người đàn bà đẹp đã soi gương này.
Những ngón tay búp măng dài dài, thon thon, trắng toát như trứng gà bóc thoăn thoắt sau gáy.
Chà, cái gáy của nàng trũng xuống, và cũng trắng kinh khủng. Người đàn ông nào được hôn cái trũng gáy của nàng phải là người có diễm phúc nhất nước Pháp. Phương chi ngoài cái trũng gáy hấp dẫn, nàng còn có nhiều cái trũng hấp dẫn khác. Eo ôi, ông Franck đã quá tuổi trồng cây si với những tấm thân núi lửa, vậy mà những báu vật núi lửa của nữ lưu vẫn làm ông bủn rủn chân tay. Dĩ nhiên người đẹp là hoa có chủ. Nhưng chồng nàng là ai? Doanh nhân đại phú? Đại thương gia? Hay là y sĩ nổi danh? Trong những năm lộn xộn ở châu Âu, giới y sĩ kiếm tiền như nước, vợ y sĩ -nhất là các bà đẹp không được chồng săn sóc đúng mức- thường tự an ủi bằng quần áo trưng diện và mua sắm hột soàn.
Ông Franck buột miệng khen:
- Theo ý kiến tôi, sợi dây bà đang đeo rất thích hợp với nhan sắc lộng lẫy của bà…
Ông Franck vừa nói vừa dò xét phản ứng của nàng. Ông nhận thấy mắt nàng chớp nhẹ, rồi nàng lại cười, miệng cười thật tươi:
- Vâng, sợi dây này có vẻ ăn nhịp với khuôn mặt tôi. Nhưng…nhưng…
- Thưa bà, tôi đã đoán được ý bà. Xin bà đừng ngại về vấn đề giá cả. Vì một mệnh phụ phu nhân như bà không thể nào đeo một sợi dây kém hơn. Vả lại, tôi nghĩ rằng ông nhà không thể không chiều bà.
-Chưa chắc, ông ơi. Ông định bán bao nhiêu?
Ông Franck giả vờ ngần ngừ một phút:
-Thưa bà…như bà đã biết, tôi chỉ bán những nữ trang nạm kim cương đắt tiền nhất ở Ba lê. Sợi dây chuyền này lại là nữ trang đắt tiền nhất của tiệm tôi, xin bà thông cảm. Cách đây mấy tháng, chúng tôi đặt giá cao hơn, song hiện nay…hiện nay…thưa bà, chúng tôi hạ xuống, chỉ còn có 20 triệu, vâng 20 triệu quan…
Những hột kim cương trong vắt được mặt gương phản dội ánh sáng, làm da mặt nữ lưu trắng hồng, tỏa đầy thèm muốn. Lòng ông Franck cũng nao nao. Nữ lưu mân mê sợi dây nằm lọt giữa trũng ngực sâu mát và tròn trịa của nàng, giọng băn khoăn:
-Thú thật với ông, tôi mê sợi dây này kinh khủng. Nhưng tôi còn ngần ngừ là vì nó quá đắt. Tôi sẽ cố gắng thuyết phục chồng tôi. Và chừng nào chồng tôi ưng thuận, tôi sẽ liên lạc với ông.
-Thưa, quý ông nhà là…
-Tôi là bà Carteau Breton.
Ông Franck nghiêng mình thật thấp để biểu lộ sự cung kính. Giáo sư Breton, hội viên Hàn lâm viện Y khoa Pháp quốc, là bậc thày của giới y sĩ, một nhân vật được trọng vọng, và cũng là người có nhiều tiền, nếu không có thể để ném qua cửa sổ thì ít ra cũng có đủ để vợ ông mua 5, 7 sợi dây chuyền hột soàn 20 triệu phật-lăng.
Ông Franck cảm thấy tự mãn. Ông đoán đúng. Giầu kinh nghiệm nghề nghiệp có khác…Ông bèn hỏi:
-Thưa bà, chừng nào tôi được hân hạnh mang sợi dây chuyền này đến trình giáo sư?
-Theo tôi nghĩ, vấn đề này tùy thuộc vào ông nhà nhiều hơn. Nhưng nếu ông không thấy gì trở ngại, tôi đề nghị ông lại đằng nhà tôi. Như ông đã biết, chồng tôi bận tíu tít cả ngày, thậm chí ban đêm cũng không được ngủ yên giấc, nhiều khi đến ba, bốn giờ sáng mới được chợp mắt để rồi 7, 8 giờ bị điện thoại dựng dậy. Ông nghĩ coi…
-Thưa bà, tôi hiểu. Giáo sư không thể nào đến đây. Tôi xin sẵn sàng đến hầu ông bà bất cứ lúc nào.
-Hy vọng ngày mai nhà tôi có thể tiếp được ông. Tôi sẽ gọi điện thoại trước báo tin, để cả ông lẫn nhà tôi đều khỏi mất thời giờ. Thời giờ là vàng ngọc, phải không ông?
-Dạ, thời giờ là kim cương, là hột xoàn…Tôi xin bà cầm lấy danh thiếp của tôi. Có số điện thoại ở tiệm và nhà riêng, bà có thể kêu tôi khi nào bà muốn.
Ông Franck khúm núm tiễn bà khách quý phái ra ngoài. Nghệ thuật xử thế của ông từng được các đồng nghiệp khen là tuyệt diệu. Khách đã ghé tiệm ông khó thể ra về tay không. Bà vợ của giáo sư Breton mới lưu lại trong vòng 5 phút mà đã thuận mua sợi dây chuyền 20 triệu quan. Trong tương lai chắc chắn ông còn chào bán thêm nhiều nữ trang đáng giá nữa.
Nữ lưu chìa bàn tay cho ông chủ tiệm hôn. Nàng ghé tai ông, nói nhỏ:
-Sợi dây của ông đã mang lại một niềm vui mới cho tôi.
Tài xế riêng của bà Breton đã đứng nép một bên, tay vừa nhấc cái mũ kết khỏi đầu. Ông Franck khom mình:
-Chào bà, xin được hẹn bà đến mai.
Nữ lưu đáp:
-Vâng, hẹn ông đến mai.
Ông Franck bâng khuâng nhìn theo chiếc xe đen sang trọng. Ông lẩm bẩm « quý phái thật, đẹp thật… »
Người đàn bà quý phái và diễm lệ mà ông chủ tiệm Franck ca tụng ấy ngồi vắt chân chữ ngũ để lộ cặp giò thuôn tròn trước mặt giáo sư y khoa Breton. Giáo sư sửa soạn lại gọng kiếng:
-Mời bà…

Nàng có sắc đẹp phi thường, song giáo sư Breton không có thời giờ cũng như thói quen chiêm ngưỡng nhan sắc giai nhân. Những ai vào phòng mạch ông đều được ông coi là người bệnh. Dầu là đàn ông hay đàn bà. Dầu là đẹp hay xấu. Sồ sề hay nảy nở. Nữ bệnh nhân này không có hẹn trước song ông không thể từ chối vì nàng năn nỉ cô thư ký là có chuyện cần gấp, nàng lại hứa không ở lại lâu, lấn giờ của bệnh nhân khác. Cô thư ký trình tấm thiếp, giáo sư Breton liếc nhìn thấy giòng chữ vàng, in nổi « Bà Louis Franck ». Ông Breton cố moi óc như không nhớ đã được gặp người đàn bà xinh đẹp như mộng này ở đâu. Vả lại, ông ít ăn chơi, tiệc tùng nên ít quen đàn bà đẹp. Tuy nhiên, ông đã nghe nói đến ông Franck, một trong những chủ tiệm kim hoàn giàu nhất Ba lê.
-Thưa bác sĩ, câu chuyện của tôi rất khó nói. Tôi đang đang bối rối, tôi sợ làm nhàm tai bác sĩ.
-Xin bà cứ nói. Làm thày thuốc phải nghe mọi tâm tình của bệnh nhân. Câu chuyện của bà ra sao?
-Thưa, không phải của tôi. Mà là của nhà tôi.
-Ông Franck?
-Vâng.
-Ông nhà ra sao, thưa bà?
-Thưa bác sĩ, nhà tôi hành nghề kim hoàn từ nhiều năm nay, đúng ra là hành nghề cha truyền con nối. Ông thân nhà tôi cũng là chủ tiệm kim hoàn, và cửa hàng của gia đình bên chồng tôi, như bác sĩ biết, từng được tiếng trong giới kim hoàn ở trong và ngoài nước. Từ ngày tôi và André lấy nhau đến giờ, chưa có chuyện đáng ngại nào xảy ra. André là tên riêng của nhà tôi. André là người rất bình thường, không hề có triệu chứng thần kinh bất ổn. Bạn bè đều mừng cho tôi, vì hạnh phúc của vợ chồng tôi lúc nào cũng trong sáng, trong sáng như viên kim cương. Chúng tôi có tiền bạc dư dật, con cái đề huề, ngoan ngoãn. André lại khỏe mạnh, tính tình rất tốt. Nhưng tình hình đã đổi khác…
-Đổi khác như thế nào?
-Nhà tôi không còn là người như trước nữa. Thật ra nhà tôi không mắc bệnh điên.
-Khùng?
-Nói là khùng cũng chưa đúng. Tôi nghĩ rằng André mắc một chứng bệnh thần kinh hơi …đặc biệt.
-Yêu cầu bà giải thích rõ ràng hơn nữa.
-Như tôi đã nói, André là người ham say nghề nghiệp. Nhưng khi ra khỏi tiệm, về nhà với vợ con, André gác mọi chuyện nghề nghiệp sang hèn. Từ ít lâu nay, đúng hơn từ mấy tuần nay, tình trạng trái ngược đã xảy ra. Về nhà hay bất cứ ở đâu André đều nghĩ đến nghề nghiệp.
-Thì có sao đâu, thưa bà. Trừ trong giấc ngủ, suốt ngày đêm tôi chỉ nghĩ đến nghề nghiệp, vậy mà tôi vẫn bình thường…Có lẽ ông nhà làm việc hơi nhiều. Bà nên khuyên ông nhà đi miền biển, miền quê đổi gió. Chỉ tạm xa thủ đô một thời gian ngắn là hết…bệnh. Nếu bà muốn cho như vậy là …bệnh thần kinh.
-Nếu nhà tôi chỉ mệt não, sinh ra gắt gỏng, bần thần hoặc chán chường thì chẳng nói làm gì. Đằng này nhà tôi đổi khác một cách …lạ lùng, khó hiểu, bác sĩ ạ. Chẳng hạn nhà tôi gặp ai, dầu người ấy quen hay không quen, thân hay sơ nhà tôi đều cho là khách, là thân chủ. Thậm chí trong các cuộc tiếp tân tiệc tùng hội nghị đúng đắn, sang trọng, nhà tôi cũng bám sát từng người rồi dạm bán hột soàn. Nhà tôi dạm bán dai dẳng đến nỗi ai cũng sửng sốt. Thật ra, trong những ngày đầu, nhà tôi nhuốm bệnh. Bạn bè chúng tôi tưởng là nhà tôi nói đùa, dạm bán với mục đích tiêu khiển. Dần dà họ mới biết là nhà tôi dạm bán thật, chứ không phải đùa. Họ liền mách tôi. Tôi để ý theo dõi, quan sát André. Và, trời ơi, họ nói đúng. Tâm trí André bị lệch lạc. Bây giờ André hơi khùng. Nhưng từ khùng đến điên không còn xa mấy. Người quen cho tôi biết là căn bệnh thần kinh này có thể được chữa khỏi, bằng phương pháp tâm lý hòa hợp với thuốc men và chạy điện não, và họ khuyên tôi đến nhờ bác sĩ…
Nữ lưu ngưng nói, rút mù soa ra thấm nước mắt. Cái mù soa màu hồng của nàng tat thơm. Giáo sư đại học Breton phải ngây ngất. Khi ấy ông mới thấy nàng có cặp mắt đẹp hết chỗ nói. Đẹp như nàng mà lấy ông chồng khùng thật uổng. Ông an ủi nàng:
-Tôi nghĩ rằng bà đã lo lắng thái quá. Tôi chưa gặp ông Franck, song căn cứ vào lời bà vừa trình bày, tôi có thể suy luận là ông nhà không đến nỗi mắc bệnh đáng ngại như bà tưởng đâu. Chẳng qua ông bị ám ảnh nghề nghiệp.
-Ám ảnh nghề nghiệp?
-Vâng, làm việc quá sức thường mắc một chứng bệnh tâm lý, gọi là ám ảnh nghề nghiệp. Bệnh này thuộc loại nhẹ, rất nhiều người mắc phải. Điều trị không lấy gì làm khó. Chỉ phiền phức đôi chút. Dầu sao ông nhà cũng phải đến gặp tôi.
-Thưa bác sĩ, tôi đã nghĩ đến chuyện nhà tôi đến thăm bệnh. Từ vài tuần nay, tôi nói với nhà tôi là thần sắc hư hao phải nhờ bác sĩ điều trị và nhà tôi đã đồng ý. Nếu bác sĩ cho phép, nhà tôi sẽ xin ghé phòng mạch.
-Vậy thì tốt. Bà muốn hẹn ngày giờ nào cho ông nhà?
-Tôi xin phép để được có mặt cùng một lúc với nhà tôi.
-Vâng, cả hai ông bà càng tiện.
-Tôi muốn đến trước nhà tôi một lát. Như vậy để nhà tôi khỏi có mặc cảm. Xin bác sĩ tha lỗi, đàn ông thường có mặc cảm bị vợ lấn át, đi chữa bệnh mà có vợ kè kè một bên là họ không ưa. Tôi tin rằng nhà tôi gặp tôi tình cờ tại đây sẽ không phiền lòng, trái lại, còn vui thích nữa. Tôi sắp xếp như vậy có ổn không, thưa bác sĩ?
-Bà tính rất chu đáo. Tôi sẽ ra lệnh cho cô thư ký mời ông nhà vào xa lông ngay sau khi đến đây. Hẳn bà đã biết, thân chủ của tôi thường qua phòng thư ký trước khi được mời vào xa lông, rồi từ xa lông mới vào phòng mạch của tôi. Hai ông bà sẽ có thể trò truyện với nhau dăm ba phút trong xa lông. Nếu ông bà đến vào buổi chiều, gần xẩm tối, nghĩa là vào cuối giờ khám bệnh của tôi thì xa lông hết khách, ông bà được rảnh rang hơn.
-Vâng, được thế thì còn gì bằng. Xin bác sĩ cho chiều mai được không ạ?
Giáo sư Breton cúi xem trong cuốn lốc-nốt trên bàn. Ông sửa lại gọng kiếng lần nữa rồi đáp:
-Chiều mai thì được, 5 giờ. Đúng 5 giờ, tôi sẽ tiếp ông nhà.
-Đa tạ bác sĩ. Bác sĩ đã ra ơn cho gia đình chúng tôi.
-Đó là bổn phận của tôi. Xin bà yên tâm. Một lần nữa, tôi nhắc lại là bệnh của ông nhà chẳng có gì trầm trọng. Thôi chào bà, hẹn bà đến 5 giờ chiều mai.
Ông Franck vốn kị những buổi hẹn cao su. Ông hẹn ai là đến đúng ngắc, không chậm cũng không sớm một phút. Giáo sư Breton hẹn ông 5 giờ chiều, ông sửa soạn từ 4 giờ. Trước giờ hẹn 30 phút, ông đã lái xe trong thành phố. Ông sợ đường kẹt nên kém 10 phút xe ông đã chạy qua phòng mạch của bác sĩ Breton tọa lạc trong một khu sang trọng và yên tĩnh. Ông đậu xe cách phòng mạch một quãng, ngồi đợi trước vô-lăng.
Ông bước vào phòng mạch đúng 5 giờ chiều thiếu nửa phút. Cô thư ký mặc áo choàng trắng tinh hồ bột, ủi phẳng nếp, đang cúi đầu trên cuốn sổ. Ông Franck đằng hắng rồi nói:
-Tôi có hẹn với giáo sư.
Cô thư ký đóng cuốn sổ lại:
-Dạ, ông là ông André Franck?
-Vâng, chính tôi. Xin cô trình với giáo sư là tôi đã đến.
-Dạ, mời ông vào xa lông.
Sa lông là căn phòng khá rộng, trang hoàng lộng lẫy, toàn bằng ghế bành bọc nhung đỏ, riềm cửa cũng bằng nhung đỏ. Trong sa lông không thấy ai, ngoại trừ một thiếu phụ đang đọc báo. Tờ báo trải rộng trên tay nên ông Franck không nhìn thấy mặt nàng. Cô thư ký tuân lệnh giáo sư Breton, dẫn ông Franck vào rồi trở ra ngay.
Thiếu phụ buông tờ bào xuống, đứng dậy khép cửa phòng. Ông Franck nhận ra bà Breton. Nàng đưa bàn tay cho ông hôn:
- Hân hạnh được gặp lại ông. Đêm qua, sợi dây chuyền của ông là tôi không sao ngủ nổi.
Ông Franck bàng hoàng trước mùi thơm da thịt trộn lẫn với nước hoa từ bàn tay bà Breton tiết ra. Ông lễ phép đáp:
- Xin bà tha cho. Hôm nay tôi xin giúp bà lấy lại giấc ngủ đầy mộng đẹp.
- Phiền ông chờ vài ba phút. Nhà tôi đang khám một bệnh nhân quen. Người này không có hẹn, nhưng là chỗ quen biết nên nhà tôi không thể từ chối.
- Chẳng sao cả, thưa bà. Tôi chờ bao lâu cũng được.
- Hồi sáng, kêu điện thoại cho ông, tôi có thưa với nhà tôi là ông đến đây để cho nhà tôi coi sợi dây chuyền kim cương. Không biết ông có…
- Thưa bà, dĩ nhiên là có.
Ông Franck thận trọng lấy trong túi áo trong ra cái hộp dài. Mở ra, sợi dây chuyền hột soàn óng ánh dưới ánh đèn nê-ông. Mắt bà Breton vụt sáng:
-Trời ơi, nó đẹp quá! Ông phải liệu lời để nhà tôi ưng thuận, vấn đề tiền bạc không quan trọng mấy. Ông chỉ cần thuyết phục nhà tôi là sợi dây này rất đẹp, và rất hợp với vóc dáng, y phục của tôi. Sở dĩ tôi nhấn mạnh tới điểm thuyết phục vì cách đây hai tuần có người mang đến bán sợi dây chuyền trị giá 22 triệu quan. Nhà tôi muốn lấy cho tôi, nhưng tôi lại không ưng ý. Chẳng giấu gì ông, nhà tôi cần mua làm quà kỷ niệm ngày cưới cho tôi. A, tôi nhớ ra rồi, tôi phải mặc lại cái áo bằng gấm Á đông tôi mặc tối hôm làm lễ hợp cẩn. Cái áo này gợi lại thật nhiều kỷ niệm…Bây giờ tôi trở vào phòng mặc áo nhé. Ông ngồi chờ tôi được không, chỉ 5 phút thôi, tính đàn bà hay lôi thôi, ông đừng phiền lòng nhé…
- Đâu dám, thưa bà. Xin bà cứ tự tiện. Còn sợi dây chuyền…ơ kìa, bà quên.
- Cám ơn ông Franck.
Nngồi một mình trong phòng khách rộng, ông Franck vui như Tết. Thực giá của sợi dây chuyền chưa đến 20 triệu. Nếu là khách nghiệt ngã, ông phải hạ bớt. Giỏi lắm là bán được với giá 19 triệu. Khi không, ông được lời thêm một triệu. Tìm ra khách xộp, nhắm mắt mua không kỳ kèo trong lúc kinh tế bế tắc này không phải dễ.
Nữ lưu mở cửa ra ngoài độ một phút thì ở trong phòng mạch giáo sư Breton giở cuốn lịch hẹn. Ông sực nhớ đến bà Franck, và ông chồng mắc bệnh ám ảnh nghề nghiệp đang đợi ở xa lông. Ông bèn nhấn chuông gọi cô thư ký:
- Ông ta đến chưa?
- Dạ đến rồi.
-Cả bà ta nữa chứ?
- Dạ có. Nhưng bà ta vừa ra xong.
- Đi về?
-Dạ, tôi không rõ. Chỉ thấy bà ta ra ngoài, và bà ta chẳng nói gì cả.
-Cũng chẳng sao. Cô mời ông ta vào đây.
Bác sĩ Breton thở dài nhè nhẹ. Ông phải khám bệnh từ 8 giờ sáng. Buổi trưa chỉ nghỉ được 15 phút để ăn cơm. Rồi vào trường y khoa để dạy. Trước khi xấp ngửa quay về phòng mạch. Lát nữa, ông lại còn mấy cái hẹn khác ở nhà thương. Trời đất, con người sinh ra sao lắm bệnh thế? Nhàn cư vi bất thiện, ông chủ tiệm hột soàn Franck quá giàu có, quá sung sướng nên mới mắc phải chứng bệnh tâm lý khỉ khô này.
-Chào ông Franck, mời ông ngồi. Ông hút thuốc lá nhé?
-Cám ơn bác sĩ, tôi không biết hút.
-Tuyệt. Ông cũng như tôi, không biết hút thuốc. Như vậy là đúng. Nghiện ni-cô-tin chỉ tổ hư phổi, và có thể mang bệnh ung thư. Thế nào, ông Franck, ông có chuyện gì trục trặc trong mình không?
Ông chủ tiệm hột xoàn trợn mắt ngó giáo sư y khoa. Quái lạ, mình đến để trình sợi dây chuyền kim cương chứ đâu phải đến để khám bệnh mà bác sĩ lại hỏi có chuyện gì trục trặc?
Ông Franck đáp:
- Cám ơn bác sĩ. Tôi chẳng có gì trục trặc trong mình. Tôi vẫn khỏe như con trâu cui.
- Vậy mà tôi cứ đinh ninh ông bị mệt mỏi. Ông làm việc quá nhiều nên trí óc luôn luôn căng thẳng. Ông nghĩ coi, suốt ngày ông phải tiếp khách đến mua nữ trang. Mỗi người thích một món, có người muốn mua lại rụt rè, hoặc chê ỏng chê eo, có người không biết nên mua món gì…Làm nghề chủ tiệm hột soàn như ông mà không điên đã là có dây thần kinh bằng thép.
- Bác sĩ nói đúng. Tôi phải có dây thần kinh bằng thép mới kham nổi những đòi hỏi của khách. Nếu vị khách nào cũng có óc lựa chọn dứt khoát như bác sĩ thì sung sướng cho tôi biết mấy. Thật vạn hạnh cho tôi được bán hàng cho bác sĩ.
- Ha ha…tôi hiểu rồi. Ông mang hàng đến bán cho tôi.
-Dạ, thật ra tôi mang hàng đến cho bà nhà.
-Vợ tôi?
-Dạ, bà giáo sư Breton. Tôi vừa giáp mặt bà xong. Bà ta tỏ ra rất bằng lòng. Bà nói là không có gì làm bà bằng lòng trong ngày cưới bằng sợi dây chuyền kim cương ấy.
-Sợi dây chuyền kim cương?
-Dạ, bà muốn gây sự ngạc nhiên đặc biệt cho bác sĩ. Sau khi bà mặc cái áo gấm Á đông, bà sẽ đeo sợi dây chuyền để bác sĩ có quyết định tối hậu.
Bá sĩ Breton cố nén tiếng thở dài. Ông Franck mắc bệnh ám ảnh nặng chứ không phải chơi. Không những ám ảnh nghề nghiệp, bệnh nhân còn mắc bệnh ám ảnh hôn nhân nữa. Trường hợp thần kinh bấn loạn này đòi hỏi một sự điều trị kiên nhẫn, tế nhị và lâu dài…
Ông nhìn thẳng vào giữa mặt viên chủ tiệm kim hoàn:
-Vợ tôi dạm mua của ông một sợi dây chuyền hột soàn?
Ông Franck gật đầu:
-Dạ.
-Ông Franck ơi, vợ tôi không thể dạm mua sợi dây chuyền của ông vì một lý do rất giản dị.
Ông Franck toát mồ hôi lạnh:
-Thưa lý do nào ạ?
Bác sĩ Breton cười:
-Lý do rất giản dị này là vợ tôi chỉ có thật trong trí tưởng tượng. Nói cách khác, tôi chưa có vợ. Tôi còn sống độc thân.
-Lạ thật, thưa bác sĩ…Tôi vừa gặp bà bác sĩ xong.
-Gặp ở đâu?
-Ngay trong nhà này. Bà bác sĩ đợi tôi trong xa lông. Tôi đã trò truyện với bà.
-Ông tưởng là đã trò truyện với vợ tôi, nhưng kỳ thật là với bà nhà, với vợ ông.
-Bác sĩ nói sao? Tôi trò truyện với vợ tôi?
-Vâng. Ông vừa trò truyện với bà André Franck xong.
Ông Franck buông phịch mình xuống ghế bành, dáng điệu vô cùng vô cùng thất vọng. Rồi ông nói, cân nhắc từng chữ:
-Thưa bác sĩ, người ta thường kể với tôi là các bác sĩ chữa bệnh thần kinh thường thích những chuyện tưởng tượng trên trời dưới biển. Nhưng từ nãy đến giờ có lẽ chúng ta đã tưởng tượng hơi nhiều…
-Tưởng tượng hơi nhiều?
-Vâng. Vì nếu bác sĩ chưa có vợ thì tôi cũng chưa có vợ. Tôi còn độc thân trăm phần trăm, xin bác sĩ hiểu cho. Tôi xin bác sĩ đi thẳng vào sự thật. Bà bác sĩ Breton đã mua của tôi một sợi dây chuyền hột soàn trị giá 20 triệu phật lăng.
Giáo sư Breton bấm chuông. Cô thư ký hiện ra trên ngưỡng cửa, vẻ mặt nghiêm trang. Giáo sư Breton nói:
-Phiền cô việc này nhé. Người đàn bà ngồi đợi hồi nãy trong xa lông là ai?
Cô gái hơi ngạc nhiên:
-Dạ đó là bà Franck.
Bác sĩ Breton quay sang ông chủ tiệm kim hoàn:
-Không phải tưởng tượng đâu ông Franck. Mà là sự thật.
Ông Franck tái mặt, bàn tay run run:
-Sự thật hả? Nếu là sự thật thì chết tôi rồi. Cô thư ký ơi, yêu cầu cô cho biết người đàn bà tự nhận là bà Breton và là bà Franck hiện ở đâu?
Cô thư ký sửng sốt:
- Bà ấy đi rồi.
- Sao? Cô nói sao? Bà ấy đi rồi à?
- Vâng. Bà ấy đi trước khi ông vào phòng bác sĩ.
Ông Franck nhảy chồm lên, giọng khản đặc:
- Bác sĩ Breton! Bác sĩ giấu tôi không được đâu. Quả có bà Breton, bác sĩ phải trả 20 triệu quan cho tôi vì bà Breton đã lấy sợi dây dông một mạch. Còn nếu bác sĩ bảo rằng chưa có vợ thì bác sĩ giải thích ra sao về vụ bà vợ đến tiệm tôi, dạm mua sợi dây, dặn mang lại đây, rồi…rồi…
Cô thư ký nói:
- Khổ quá, ông Franck ơi, người đàn bà ấy là vợ ông…Ông mắc bệnh ám ảnh quá nặng…
Ông Franck quắc mắt:
- Cô mới là người mắc bệnh ám ảnh quá nặng. Đây này, điện thoại ở trên bàn, cô hãy kêu cho tiệm tôi. Số điện thoại của tiệm tôi đây. Cô hãy hỏi nhân viên tôi xem bà Franck ở đâu.
Cô thư ký quay số, rồi đưa máy cho bác sĩ Breton.
- Alô, alô…tiệm kim hoàn Franck, phải không? Tôi muốn nói chuyện với bà Franck. Vâng, bà Franck, vợ của ông chủ. Sao…sao…?
Đến lượt bác sĩ Breton chồm lên, giọng khản đặc:
- Ông nói đúng…ông nói đúng. Phải, cũng như tôi, ông còn độc thân. Nhưng như thế nghĩa là thế nào?
Ông Franck chống nạnh, thái độ giận dữ:
- Chẳng là thế nào cả. Tôi sẽ trình báo cảnh sát. Trong vụ này phải có một người mắc bệnh điên, dĩ nhiên người ấy không phải tôi.
Ông trút sự giận dữ lên đầu cô thư ký hiền lành:
- Còn cô nữa, cô là điều dưỡng viên chuyên nghiệp, cô đã học khoa tâm lý, tất cô phải biết phân biệt người ngay, kẻ gian. Tại sao cô lại không phăng ra người đàn bà ăn diện sang trọng này là một tên bịp chúa. Ha ha…, không khéo cô là đồng lõa của mụ bịp chúa cũng nên…
Bác sĩ Breton hơi bất bình:
- Ông nên giữ gìn lời ăn tiếng nói thì hơn. Phải quấy ra sao đã có cảnh sát, tòa án và phát luật…
Ra đến cửa, ông Franck còn ngoái cổ lại:
- Phải, pháp luật…pháp luật sẽ xét sử vụ lường gạt trắng trợn này. Luật sư riêng của tôi sẽ gọi điện thoại cho bác sĩ. Và xin bác sĩ hiểu rằng tôi là Franck, không phải là tay mơ ở Ba lê. Những 20 triệu quan chứ chẳng phải là 5, 7 trăm ngàn để bác sĩ có thể qua mặt tôi dễ dàng được…Chào bác sĩ, và chúc bác sĩ bình an vô sự.
Ông Franck hầm hầm đóng cửa phòng mạch.
Dĩ nhiên là bác sĩ Breton bình an vô sự. Nữ chúa đã bịp ông ngon lành. Cũng như đã bịp ông Franck ngon lành. Sợi dây chuyền 20 triệu đã không cánh mà bay.
Cảnh sát Pháp lùng kiếm khắp hang cùng ngõ hẻm song nữ bịp chúa vẫn biệt tăm tích. Cả Quốc tế Cảnh sát Interpol cũng đành chịu bó tay.
Rồi đại chiến thứ hai bùng nổ. Vụ sợi dây chuyền hột soàn 20 triệu quan Pháp, nghĩa là 200 triệu bạc Việt, bị chìm trong quên lãng.
Chú thích:
(1) viên thứ nhất là viên Hope, 44,5 cara, hiện ở viện bảo tàng Smithsonian, Hoa thịnh đốn. Viên thứ hai Grand Condé ở lâu đài Chantilly, Pháp. Viên thứ ba Vert de Dresde, được giữ trong cung điện Dresde, Đông Đức.
(2) một ca ra là một phần năm của một gờ ram.
Truyện Thứ Bảy
Đức Lưới Trời Lồng Lộng
Trong truyện « Sợi dây chuyền 20 triệu », tác giả đề cập tới tổ chức Cảnh sát Quốc tế Interpol. Chúng ta đã nghe nhiều, đọc nhiều về Interpol nhưng thành thật mà nói, chỉ một số ít hiểu rõ Interpol là gì. Vả lại, dư luận tây phương có trình độ kiến thức rộng rãi hơn về các vấn đề quốc tế mà còn i-tờ về Interpol thì sự mít đặc của chúng ta chỉ là dĩ nhiên.
Cách đây không lâu, sự i-tờ của dân chúng tây phương được biểu lộ trong một loạt phim chiếu trên màn ảnh nhỏ, tựa đề « Người của Interpol » (The Man of Interpol), hoặc « Đây Interpol » « Interpol Calling). Loại phim ti-vi này mô tả nhân viên Interpol như là những thám tử mặc áo bành tô rộng, đội mũ phớt mềm, tay luôn luôn thọc túi hườm sẵn cò súng, ngày cũng như đêm đeo kiếng đen sì, có tài bắn bá phát bá trúng, nhu đạo lại cừ khôi một…cây.
Trên thực tế, Interpol chỉ là một tổ chức quốc tế với sự tham dự của gần một trăm quốc gia hội viên có nhiệm vụ tập trung, điều hợp, và phổ biến tin tức, tài liệu nhằm ngăn chặn, trừ khử những hành động trộm cắp, sát nhân, lường gạt trên khắp thế giới. Interpol không có cảnh sát viên hoặc thám tử riêng. Interpol không có quyền bắt ai. Interpol chỉ đảm trách các thường tội, và hoàn toàn tách khỏi những vụ mang tính chất chính trị, chủng tộc, quân sự hoặc tôn giáo.
Interpol chào đời năm 1923 mặc dầu ý kiến thành lập đã manh nha từ năm 1914. Thoạt kỳ thủy, nó là một Ủy ban Hình cảnh Quốc tế, Commission Internationale de Police Criminelle (C.I.P.C.), International Commission of Criminal Police (I.C.C.P.), với 7 nước sáng lập, trong phiên nhóm của 130 đại biểu tại thủ đô Áo quốc.
Năm 1956, vì tầm quan trọng gia tăng, Ủy ban Hình cảnh Quốc tế đổi tên thành Tổ chức Hình cảnh Quốc tế, viết tắt theo tiếng Pháp là O.I.P.C. (Organisation Internationale de Police Criminelle), theo tiếng Anh là I.C.P.O. (International Criminal Police Organization). Gọi tắt trong các bức điện là Interpol.
Interpol thành công nhiều, mà thất bại cũng lắm. Sở dĩ trong vụ lường gạt hột soàn tại Ba lê, nữ bịp chúa đã thoát lưới pháp luật vì lẽ đại chiến thứ hai xảy ra sau đó xóa nhòa hết dấu vết. Kỹ thuật truy diện hồi đó chưa được hoàn bị. Giáo sư Breton và ông chủ tiệm Franck biết mặt nữ chúa bịp nhưng các chuyên viên hình cảnh chưa biết vẽ lại chính xác. Mãi sau này, Identi-kit mới được phát minh.
Identi-kit là một bộ đồ căn cước gồm 525 miếng phim trong suốt, bề dầy 12,5/10cm, mỗi miếng phim biểu hiện cho một đặc điểm của khuôn mặt, và cứ mỗi miếng phim đều được đánh số hoặc ghi chữ. Phim được chia thành nhiều loại: H(hair) là tóc, E(eye) là mắt, N(nose) là mũi, vân vân…Bộ phim được dựng trong các hộp nhỏ, dễ vận chuyển và xử dụng. Dựa vào lời khai của nhân chứng, người ta lập thành khuôn mặt với đầy đủ đặc điểm của kẻ tình nghi, rồi chụp hình lại. Những con số và chữ thứ tự có thể được chuyển đi bằng điện thoại, điện tín…Do đó, diện mạo của kẻ tình nghi có thể được thông báo khắp nơi trong thời gian kỷ lục. Phương pháp Identi-kit này do ông Hugh C. Mac Donald, tòng sự tại sở cảnh sát Los Angles phát minh. Nó được sửa đổi và bổ khuyết lại, và hiện được Interpol cũng như nhiều sở cảnh sát từ đông sang tây xử dụng trong việc truy diện can nhân. Nữ bịp chúa thoát lưới phát luật ở Ba lê phần nào cũng vì quá xảo quyệt và quá giàu kinh nghiệm, luôn luôn đeo găng, nên không để lại dấu vân tay.
Mở lại đống hồ sơ tội phạm Interpol, hầu hết gian phi lỡ để lại dấu tay đều bị thộp cổ. Không sớm thì muộn. Câu chuyện « Lưới trời lồng lộng » sau đâu thuật lại hành động của hai tên sát nhân. Chúng đã trốn khỏi xứ, lang thang ở hải ngoại. Chúng đã thay đổi tên nhiều lần mà rốt cuộc vẫn không tránh khỏi lưới trời lồng lộng.
Đặc ký « Lưới trời lồng lộng » là bản hùng ca làm rạng rỡ tinh thần hợp tác quốc tế bên trong tổ chức hình cảnh Interpol.
Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, thói đời vẫn thế nên Lentnor và Rampfel, hai quân nhân thất trận của Đức quân xã bị Nga giam giữ tại Ba lan, chơi thân với nhau, còn thân hơn cả ruột thịt mặc dầu mỗi người nói một thứ tiếng. Lentnor người Áo, còn Rampfel người Tiệp.
Các sư đoàn thiện chiến của Hitler rầm rộ chiếm đóng Âu châu, đến đâu họ bắt lính tráng và dân công cưỡng bách đến đấy. Tuy nhiên, cặp bài trùng này nhập ngũ chẳng phải vì bị cưỡng bách. Mà vì vi phạm quá nhiều tội. Trộm cắp. Ma cô. Bạc bịp. Họ ẩn núp trong quân đội quốc xã chẳng được bao lâu, đơn vị của họ thua hết trận này đến trận khác để rồi sau cùng họ bị Hồng quân cầm tù.
Hồng quân vốn ghét binh sĩ quốc xã nên Lentnor và Rampfel bị hành hạ đủ điều. Chứng nào tật nấy, Lentnor ở trong trại tập trung được canh phòng cẩn mật mà vẫn trổ mòi ăn trộm. Hắn bị tóm đầu, dẫn đến văn phòng quản đốc lãnh một trận đòn thừa sống thiếu chết trước khi bị cạo trọc đầu, lột hết quần áo, tống giam vào cát-sô. Lệ thường, một khi bị đưa vào cát-sô kỷ luật thì khó sống sót. Chỉ riêng khí lạnh cũng đủ giết chết tù nhân mà sự thiếu ăn, sự đánh đập, và nhất là bệnh hoạn dầm dề đã biến thân thể cường tráng đầy thịt còn bộ xương ma. Phương chi Lentnor còn bị bọn cai ngục bỏ đói nữa.
Luồn lọt, tán tỉnh giỏi, Rampfel lấy lòng được lính Nga, và dùng căn cước giả của một người dân lương thiện để được phóng thích.
Rampfel không quên bạn. Rampfel bố trí cho bạn thoát khỏi xà lim rồi trà trộn vào đám tù được chuyển trại trước khi trả tự do. Phạm nhân lên đến cả ngàn, phần khác đơn vị canh gác quá ít ỏi, ngôn ngữ lại bất đồng nên nhà đương cuộc sô viết không nắm vững được tình hình trại giam. Do đó cặp bài trùng Rampfel-Lentnor đã đào tẩu một cách dễ dàng.
Lentnor có vợ và 2 con nhỏ. Gia đình hắn bị kẹt trong thành phố Bá linh trong khi hắn « giang hồ hành hiệp », gia nhập quân đội và bị cầm tù. Hắn rủ Rampfel về Bá linh. Lentnor chẳng thương gì vợ con, hắn đã có quá nhiều vợ con khắp nơi. Đối với hắn, vợ con chẳng qua chỉ là tai nạn nghề nghiệp. Sở dĩ hắn về thăm vợ con là vì ở nhà giam ra, hắn không có đồng xu dính túi. Lại ốm yếu, bệnh hoạn. Hắn hy vọng mụ vợ đảm đang và chung thủy cung cấp cho ít tiền còm, nghỉ ngơi dưỡng sức một thời gian. Sau đó hắn sẽ vù đi nơi khác. Nếu mụ vợ nghèo kiết thì còn có căn nhà khá xinh xắn, bên trong lại có nhiều đồ đạc ngon lành, đem bán cũng đủ mang lại cho hắn nhiều đêm vui thú.
Nhưng Lentnor chẳng tìm thấy vợ con đâu cả. Trận chiến tàn khốc bên trong thị trấn sụp đổ đã gây ra ly tán và chết chóc. Căn nhà xinh xắn mà Lentnor đặt biết bao tin tưởng cũng đã nằm bẹp dưới đống gạch vụn. Một cơn mưa bom ác liệt đã trúng nóc nhà. Vợ con hắn đã thiệt mạng. Giấc mơ phè phỡn của Lentnor vụt tan ra mây khói.
Hắn đang lang thang trên đường phố lồi lõm giữa cảnh điêu tàn thì nghe tiếng kêu. Hắn giật mình ngoảnh lại. Trời ơi, cứu tinh đã hiện ra đúng lúc để giúp hắn.
Một cô gái phục sức diêm dúa giơ tay vẫy. Lentnor nhận ra một trong những người tình xưa của hắn. Lentnor thuộc hạng bô trai, đàn bà con gái đã loạng quạng với hắn thì nhớ suốt đời không quên. Hắn quên bẵng tên nàng, mặc dầu nàng nhớ rõ tên hắn là Lentnor. Lentnor, anh Lentnor « cưng của em ».
Ngày nọ, Bá linh còn sống thanh bình, ngựa xe như nước áo quần như nêm, kiếm ăn đúng đắn không mấy khó khăn. Vậy mà cô nàng còn chọn cái nghề không vốn, khỏi học. Cái nghề « đi khách ». Huống hồ bây giờ đói rét, tang tóc lan tràn, con gái trinh tơ, đàn bà quý tộc cũng phải làm đĩ. Chẳng cần nhiều, chỉ đổi lấy hộp sữa, thỏi kẹo súc-cù-là, hoặc đôi tất ấm…
Cô bạn gái đứng trước mặt Lentnor có bộ đồ len dầy, đôi găng da mềm, và cả vớ ni-lông, một đại xa xỉ phẩm của Bá linh ngay sau đại chiến. Nghĩa là nàng làm ăn khấm khá. Lentnor chưa cất tiếng, nàng đã nước mắt chạy quanh, rồi lăn xả vào vòng tay hắn. Nàng sụt sùi:
-Em không ngờ anh lại tiều tụy đến thế. Anh sút 20 kílô là ít. Anh được tha từ bao giờ? Anh về với em nhé? Dạo này, em có đồng ra đồng vào. Về với em, chịu không?
Nếu nàng không mời, Lentnor cũng bám cứng lấy nàng. Nàng khẩn khoản mời làm hắn sướng như lạc vào cõi tiên. Hắn đáp là không thể lưu lại lâu ở Bá linh vì còn phải về nơi chôn nhau cắt rốn ở Áo, viếng thăm cha mẹ. Song nàng gạt phắt:
-Được, em không dám giữ anh. Chừng nào khỏe mạnh, anh hãy về xứ.
Lentnor chỉ thằng bạn nối khố co ro trong bộ quần áo mỏng dính, gió thổi bay tơi tả:
-Giới thiệu với em, Rampfel, bạn cùng hội cùng thuyền. Thân kinh khủng. Anh chỉ có thể…
Nàng lại ngắt lời:
-Hiểu rồi. Không lẽ anh về với em, bỏ anh Rampfel ở lại. Em đã có cách. Phòng em thuê cũng ở gần đây. Sát phòng em là phòng một con bạn. Cũng thân kinh khủng, như anh và Rampfel vậy. Tên con bạn tri kỷ này là Charlotte, em thường gọi nó là Lotte.
-Em định giới thiệu Rampfel với Lotte?
-Dĩ nhiên.
-Sợ Lotte từ chối?
-Hừ, anh ngây thơ quá. Lotte làm nghề như em. Nó sống cô đơn chịu hết nổi. Nó đang cần được sưởi ấm. Rampfel của anh trông cũng dễ thương. Em đoan chắc với anh là con Lotte sẽ ký nhận cả hait ay.
Cô gái vỉa hè nói đúng. Lotte đã vui vẻ ký nhận cả hai tay. Hai cựu tù binh khi không được rớt đúng « chĩnh gạo », tha hồ ăn ngủ dưới sự chiều chuộng khéo léo và tận tình của hai ả giang hồ. Gái lầu xanh thường lạnh như đồng. Họ chỉ nghĩ đến tiền. Ái tình đối với họ chỉ là chuyện vớ vẩn, khó thể xảy ra. Nhưng trong trường hợp lòng họ rung động thì thiết tưởng trong vũ trụ chưa có sức mạnh nào mạnh bằng tiếng sét ái tình.
Lotte bàng hoàng trước tiếng sét ái tình của thiên lôi Rampfel. Rampfel có nhiều điều kiện về hôn nhân hơn thằng bạn Lentnor. Vì hắn đã bỏ vợ. Đúng ra vợ hắn đã xé giấy hôn thú ngay sau khi hắn mặc đồ lính. Hắn lại không có con cái chính thức. Đàn ông ở Âu châu trở nên khan hiếm, còn khan hiếm hơn cả thực phẩm nữa. Nàng Lotte tậu được gã đàn ông to con, khôi ngô, am tường những mánh lới làm tình tuyệt diệu như Rampfel đâu phải dễ. Nàng Lotte lại chẳng phải là giai nhân với sắc đẹp hoa nhường nguyệt thẹn. Nàng hành nghề gái điếm từ lâu, thân thể đã nhão nhoét, nhiều năm lang chạ đã mang lại cho nàng 4 con không cha. Đứa nào cũng gầy còm và còn nhỏ tuổi. Rampfel chẳng dại gì đèo bòng nàng Lotte và đạo binh con nít.
Lotte tâm sự với Rampfel:
-Anh chưa nghĩ đến chắp nối ư?
Rampfel thở dài:
-Sao lại chưa? Anh đã nghĩ đến nhiều lần, nhưng em có đàn ông mới hiểu được tâm trạng anh. Cái đau khổ của nam nhi là thất nghiệp, ăn bám vào vợ. Anh đang hoàn toàn thất nghiệp…
-Ờ, anh đừng lo. Đã có em. Lúc này chẳng riêng anh là không có việc. Đàn ông thất nghiệp cả đám.
-Cám ơn em. Nhưng như anh đã nói, anh là đàn ông, và đàn ông có tư cách, không thể làm ký sinh trùng. Anh chỉ đặt thành vấn đề hôn nhân khi nào có việc, có tiền.
Tuy ngoài mặt không bằng lòng, nhưng trong thâm tâm nàng Lotte kính phục Rampfel và yêu thương tin cậy hắn hơn lên. Nàng không thể nào ngờ được hắn là tên sở khanh hạng nhất. Nàng lại tâm sự:
-Sống ở vùng sô viết chiếm đóng bấp bênh lắm anh ạ. Nhiều khi còn nguy hiểm nữa. Bọn Nga dã man một cây, có ngày thộp cổ anh, tống giam chứ chẳng chơi. Em dự định mang lũ con chạy sang Tây Đức. Nghe nói làm ăn ở bên đó tự do và dễ khá hơn. Anh nghĩ sao?
-Cái đó tùy em.
-Nghĩa là anh đồng ý. Chẳng dám giấu anh, trong những năm chắt bóp, em đã giành giụm được một số tiền. Em đổi thành mỹ kim, cất một nơi. Đồ đạc, nữ trang của em cũng nhiều. Em sẽ đem bán. Chúng mình dồn lại rồi đi.
Nói là làm, nàng Lotte bán đổ bán tháo đồ đạc. Tuy vậy, nàng cũng gom được món tiền lớn. Không chút ngần ngại, nàng trao hết tiền cho người yêu Rampfel. Nàng nghe phong phanh Lentnor sắp từ giã Bá linh nên sợ cuống cuồng, đến hỏi lý do. Lentnor phàn nàn là quá túng thiếu, lại quá xấu hổ vì ăn bám đàn bà (hừ, lại mửng cũ của Rampfel…và của bọn sở khanh) nên định thay đổi chỗ ở.
Lotte bèn dúi vào tay Lentnor 150 mã kim. Nàng năn nỉ hắn ở lại thêm ít ngày. Nàng sợ Lentnor đi sẽ kéo Rampfel đi theo.
Trong những ngày sửa soạn di cư qua Tây Đức, nàng Lotte dẫn Rampfel đến nhà thân quyến, bạn bè. Bất cứ ở đâu nàng cũng mau miệng giới thiệu Rampfel là vị hôn phu.
Đột nhiên nàng Lotte lâm bệnh. Đúng ra nàng mang trong người rất nhiều vi trùng bệnh. Nặng nhất là bệnh giang mai. Như thân cây bị sâu mọt đục ruỗng, nàng ngã gục bất thần. Rampfel đã chán nàng, càng chán nàng hơn vì nàng đã đổ bệnh cho hắn. Hắn nẩy ý định vứt nàng ở lại.
Hắn đem chuyện bàn với Lentnor. Lentnor lắc đầu:
-Mày điên hả? Mày định đi đâu bây giờ? Với cái hồ sơ lý lịch chẳng lấy gì làm thơm của mày, còn đến thế kỷ thứ 25 may ra mày mới xoay được công việc. Văn dốt, vũ rát như mày và tao thì ma nào nó mướn…Trời ơi, mày đã nhìn thẳng vào sự thật chưa? Mày muốn đi đâu, đồng ý, tao sẵn sàng đi theo mày cái rụp song không lẽ bọn mình tiếp tục uống nước sông và nhai lá cây như hồi ấy. Muốn đi, trước hết phải có …xìn. Thiếu cái món xìn thì đừng hòng…
-Tưởng gì chứ tiền…
-Mày đào đâu ra?
-Của con Lotte.
-Đúng. Tao đang nghĩ đến nó. Nó nhờ tao bố trí cho nó vù qua phía tây. Tao quen biết nhiều. Vấn đề tổ chức vù chẳng có gì gay go, cần có xìn là được. Chừng nào nó đưa tiền rồi liệu.
Rampfel nghe lời bạn khuyên. Gia tài của nàng Lotte còn lại 22 ngàn mã kim. Trong số đó Lotte hứa trích một ngàn để biếu Lentnor về khoản giúp nàng qua phía tây. Nạn trộm cướp xảy ra như rươi, ngày nào cũng có, và hầu như lúc nào cũng có. Thoạt đầu còn là trộm cướp ban đêm. Sau dần, gian phi ngang nhiên hoạt động giữa ban ngày ban mặt. Phần đông là tàn quân quốc xã, phân tán từng nhóm nhỏ hoặc cá nhân có súng đạn hẳn hòi, chặn nạn nhân lại lấy tiền, đồ vật dụng rồi bắn bỏ. Bọn lính Nga cũng chẳng ngoan gì vì họ là dân thiểu số những vùng rừng núi xa lắc xa lơ ở đông bộ Liên Sô được di chuyển đến Bá linh. Có người chưa từng được thấy bóng đèn nê-ông. Tính tình họ còn bán khai nên gặp gì họ cũng lấy, gặp đàn bà con gái là họ hãm hiếp thẳng cánh. Lotte là gái ăn sương chuyên nghiệp mà cũng khiếp sợ bọn lính Nga thiểu số, không những trao tiền, nàng còn trao cả nữ trang vàng bạc cho người yêu. Nàng tỉ tê:
-Trước khi lên đường, em dẫn anh lại nhà cha mẹ em. Dầu sao công việc trăm năm của mình cũng phải có sự tác thành của cha mẹ. Anh đồng ý không?
Dĩ nhiên Rampfel đồng ý. Vì Lotte càng rời Bá linh sớm ngày nào, hắn càng sớm được tự do ngày ấy.
Ngày 03/10/1945, mặt trời chưa ló dạng ở chân trời, cặp bài trùng Rampfel-Lentnor và cô gái mãi dâm hoàn lương Lotte đáp chuyến tàu vét từ ngoại ô thành phố Bá linh đến vùng giáp giới Tây Đức.
Vùng này có nhiều rừng. Thuận lợi cho kế hoạch hành động của cặp bài trùng táng tận lương tâm. Lotte xuống tàu. Rampfel nói là nàng cần nghỉ ngơi, chờ chuyến sau.

Nhưng chuyến xe hỏa sau không bao giờ đến. Không rõ cặp bài trùng đã làm gì trong rừng. Chỉ biết là cả hai đã giết nàng Lotte. Họ vớ được thanh sắt dọc đường, và họ dùng làm khí giới đánh nạn nhân dập óc. Dường như nạn nhân chưa chết ngay, còn van xin, rên rỉ trước khi thở hơi cuối cùng. Nạn nhân bị chôn trong cánh đồng ngày trước được quân đội quốc xã dùng làm trường bắn. Nơi đó toàn là đất cát nên họ đào dễ dàng. Nhưng chỉ hai hôm sau, mưa trút xuống ào ào, xác chết bị lộ thiên.
Cặp bài trùng không quên lột luôn đôi giày của nạn nhân. Vì hồi ấy, giày da đắt như vàng.
Tuy đại chiến mới kết thúc, các cơ sở hành chính còn lộn xộn, cảnh sát liên bang Tây Đức vẫn không xếp xó hồ sơ vụ thảm sát ở trường bắn. Họ chở thi thể nạn nhân về bệnh viện để khám nghiệm. Cặp bài trùng đã dại dột để lại dấu vết. Thật ra họ không đến nỗi dại dột như thế. Chẳng qua họ khinh thường sự mẫn cán hữu hiệu của cảnh sát hậu chiến.
Căn cứ vào dấu vết này, cảnh sát khám phá ra lý lịch nạn nhân. Từ cô gái điếm Lotte, cảnh sát lần mò tới Rampfel. Nhưng gã đàn ông khôi ngô đã biết dạng.
Cặp bài trùng đến vùng Saxe. Rampfel gặp lại người quen. Trước đây người ta đã cho hắn ở nhờ. Bởi vậy, lần này hắn xin trú chân dễ dàng. Tình cờ Lentnor gặp lại cô em ruột làm điều dưỡng viên trong một bệnh viện. Rồi từ cô em ruột hắn lân la kết bạn với một cô gái tên là Monica. Hắn đổi tên mới, trồng cây si người đẹp mới.
Một thời gian sau, Rampfel tái ngộ mẹ ruột. Bà vốn chất phác nên coi bạn thân của con cũng như con đẻ của mình. Bà săn sóc áo quần cơm nước cho Lentnor. Nhưng cuộc sống vật chất phủ phê vẫn làm Lentnor thiếu thốn. Hắn toan mồi chài cả em gái của Rampfel. Đánh đĩ 10 phương phải để lại một phương lấy chồng, Rampfel là đứa bê tha, chà đạp lên nhân nghĩ lễ trí tín. Tuy vậy, hắn không thể cho phép em gái hắn cặp kè với thằng bạn nối khố. Rampfel bèn sửa lưng cho Lentnor một trận. Hoảng hồn, Lentnor không dám héo lánh đến nhà em gái Rampfel.
Tháng 11/1945, Lentnor thành hôn với Monica. Trên pháp lý, cuộc hôn nhân này vô giá trị vì Lentnor đã có vợ. Nhưng giết người Lentnor còn chưa từ thì xá gì cái tội song hôn.
Cặp bài trùng luôn luôn gần nhau. Họ buôn lậu đủ thứ. Họ xoay tiền gái điếm. Họ ăn trộm tại địa phương. Của thiên trả địa, họ kiếm được nhiều tiền mà lúc nào cũng túng thiếu.
Chuỗi ngày tháng từ từ trôi qua. Bất thần người ta không thấy Lentnor sánh đôi với Rampfel trong những cuộc chè chén, bài bạc, trá táng mỗi đêm nữa.
Thì ra Lentnor đánh hơi thấy biến đã bỏ trốn. Rampfel trốn theo. Hắn đến Leipzig, chạy đôn chạy đáo xin việc. Hắn cố chôn vùi dĩ vãng, làm ăn chăm chỉ, lương thiện, với hy vọng qua mặt được sở cảnh sát.
Rampfel đã lầm.
Gần một năm sau, ngày 08/09/1946, hắn vừa từ sở làm bước ra thì có hai người cao lớn chờ sẵn. Hắn sống một mình, không vợ con, không bạn bè. Thậm chí bạn bè cùng sở hắn cũng không có. Hắn không hề đi chơi đêm. Không ai thấy hắn bê tha, say sưa ngoài quán rượu. Rampfel không hề hối cải. Hắn co vòi lại vì lo sợ. Hắn biết sớm muộn lưới pháp luật sẽ chụp xuống. Hắn cảm thấy ngu xuẩn. Trốn khỏi Đức như thằng Lentnor mới thật là khôn. Thằng Lentnor đáo để kinh khủng. Nó ra đi không thèm để lại cho con Monica một chữ. Sáng sớm tỉnh giấc bên mình không có ai, con Monica mới tá hoả tam tinh…
Rampfel đứng lại châm thuốc lá.
Thời tiết đầu tháng 9 hơi lạnh. Hắn liếc nhìn tấm kiếng lớn. Hai cái bóng đen sì, lực lưỡng, vẫn đứng sững. Họ chưa tỏ thái độ gì hết.
Nhưng khi Rampfel hối hả quẹo vào ngõ hẻm thì một người chặn lại. Tuy họ mặc ba-đờ-suy, đội mũ phớt đen, không đeo phù hiệu, Rampfel vẫn biết. Loại cớm rờ-sẹt này đáng sợ hơn cớm công khai nhiều.
Rampfel cố giữ bình tĩnh:
- Ông muốn gì?
Người lạ cười nửa miệng:
-Chúng tôi là nhân viên sở Hình cảnh (1).
Y chìa phù hiệu giấu trong ngực cho Rampfel nhìn. Rampfel nín lặng, mặt hơi tái. Người lại hỏi:
-Tên anh?
Rampfel đáp:
-Hiện tôi là Wober.
-Không hỏi tên hiện thời của anh. Trước tên Wober, anh lấy tên là gì?
-Tôi là Vahs.(2)
-Trước tên Vahs?
-Là…là…
-Người ta biết hết, còn chối quanh co gì nữa, vô ích. Nói đi,… trước tên Vahs là tên gì?
-Rampfel.
-Tốt. Sở hình cảnh hân hạnh được mời ông Rampfel đến lấy lời khai.
-Về việc gì ạ?
-Đến nơi anh sẽ biết. Vả lại, anh đã dư biết anh được chiếu cố vì chuyện gì rồi.
-Thưa…thưa…chắc các ông lầm. Tôi là Rampfel. Nhưng ở đây thiếu gì người mang tên Rampfel.
-Ha…ha…chúng tôi có thể lầm song nàng Lotte không thể lầm. Anh còn nhớ nàng Lotte chứ?
Rampfel rùng mình. Điều hắn lo ngại nhất đời đã xảy ra. Hắn cảm thấy thòng lọng bắt đầu thắt chặt lại. Hắn đành chìa tay chịu còng. Hai nhân viên hình cảnh tống Rampfel lên chiếc xe hơi đen sì chạy rừ rừ dọc vỉa hè.
Rampfel bị đưa ra xét xử trước tòa. Người ta đã thu thập được quá đủ bằng chứng cụ thể. Hết bề phủ nhận tội lỗi, Rampfel chỉ còn nước van xin sự khoan hồng của công lý. Nhưng tòa án hậu chiến không thể khoan hồng. Phải nghiêm phạt bọn cướp của giết người để làm gương, nếu không xã hội sẽ ung thối. Vả lại, sát nhân giả tử vẫn là chuyện thường tình. Rampfel giết nàng Lotte. Hắn bị kết án tử hình cũng chẳng có gì lạ.
Hhy vọng chung thân khổ sai đã bay vèo trong phiên xử sau cùng. Quan tòa, cử tọa, mọi người đều có ác cảm với Rampfel. Khi tòa tuyên án tử hình, hắn chết lặng trước vành móng ngựa.
Rampfel làm đơn xin ân xá. Đơn hắn bị bác bỏ.
Và tử tội bị hành quyết.
Lentnor trống qua nước Áo. Hắn đinh ninh thoát khỏi màng lưới công an vì từ ngày bạn hắn bị bắt, bị xét xử, bị hành quyết, hắn đã gia tăng thận trọng. Hắn bật ngửa khi bị cảnh sát Áo tóm cổ.
Đó là tháng 11/1946.
Lentnor bị giam tại nhà lao Kornouburg. Hệ thống lao xá sau đại chiến chưa được kiên cố nên Lentnor tìm cách đưa lén lưỡi cưa vào xà lim. Hắn kiên nhẫn cưa chấn song sắt. Sau nhiều đêm không ngủ, vừa cưa vừa nghe ngóng động tĩnh, Lentnor thành công. Hắn chờ một đêm mưa lớn, rút chấn song sắt, bò ra sân, trèo tường, nhảy xuống bãi cỏ bên ngoài. Hắn lên Vienna, thủ đô Áo quốc, thay đổi tên họ, thay luôn nếp sống. Nhờ miệng lưỡi ngọt ngào, nhất là nhờ bộ mã bô trai, hắn hòa trộn vào sinh hoạt công cộng không mấy khó khăn. Như thường lệ, hắn chớp được trái tim một thiếu phụ đa tình. Tên nàng là Kathy (Katherine). Nàng là gái có chồng, song ham thích của lạ. Lentnor lại là của lạ độc đáo nên nàng say mê điêu đứng vì hắn.
Người chồng mọc sừng bị tử nạn trong một tai nạn xe hơi sau đó. Không rõ tai nạn này ngẫu nhiên xảy ra hay là do kết quả của một sự sắp xếp độc địa. Lentnor dúng tay vào cái chết của người chồng thì phải. Vì khi ấy hắn rất cần một tấm bình phong an toàn. Katy có nhà cửa đàng hoàng, nàng có thể giúp hắn vượt qua những trở ngại dễ dàng. Nàng yêu hắn tha thiết, bảo nàng nhảy vào đống lửa nàng cũng không từ chối, huống hồ hắn chỉ mượn tạm giấy tờ căn cước của chồng cũ.
Với căn cước mới, Lentnor kiếm được việc làm trong vùng kế cận. Hắn quất ngựa truy phong nhanh như điện xẹt. Katy tưởng hắn bị cảnh sát bắt giữ hoặc bị tai nạn. Nàng không ngờ Lentnor đã vứt bỏ nàng, như thể vứt bỏ một món đồ hư cũ.
Lentnor ở trọ trong nhà một cặp vợ chồng son. Anh chồng đối xử với Lentnor rất tốt, nhưng việc phải đến đã đến. Một lần nữa, Lentnor lại trổ tài tán tỉnh, chinh phục được bà chủ nhẹ dạ. Cặp vợ chồng son lâm cảnh cơm chẳng lành canh chẳng ngọt. Họ cãi nhau, xung đột với nhau hầu như hàng ngày để rồi họ lôi nhau ra tòa xin ly hôn. Trở ngại chính đã được gạt bỏ, Lentnor ngang nhiên ăn nằm với người tình mới. Hắn làm phép cưới đàng hoàng. Bằng giấy tờ người chồng chết xe hơi của Katy.
Thời gian lại tiếp tục trôi qua, Lentnor sống trong hạnh phúc. Hắn khỏi cần làm nghề ma cô, và cảnh sát cũng không đến quất rầy hắn.
Tuy vậy, Lentnor vẫn không sống được yên ổn một thời gian dài. Gã chồng bị Lentnor cướp vợ mở cuộc điều tra ngầm. Chẳng bao lâu gã phăng ra tông tích bất hảo của Lentnor. Gã bèn mật báo cảnh sát.
Giá anh chồng mất vợ kín tiếng một chút thì Lentnor đã vào nhà đá. Gã hí hửng đến gặp Lentnor, đe dọa tùm lum. Động ổ, Lentnor xách va-li dông tuốt qua Pháp, và từ Pháp đến Ý đại lợi.
Hắn đào tẩu vội vã nên không quơ được gì mang theo. Có ít tiền, hắn tiêu xài hết sức dè xẻn, nhưng chỉ vài tuần sau đã hết nhẵn. Ý là xứ ngoan đạo, có nhiều nhà thờ, lại rất hiếu khách -đặc biệt là khách từ phương xa đến hành hương lỡ độ đường- Lentnor tạo bộ mặt thiểu não, gõ cửa một tu viện:
-Thưa cha, con là người đạo dòng. Con đi bộ gần một tháng nay. Con đến Tòa Thánh để hành hương. Con đang bị sốt. Mệt quá…thưa cha…
Hắn khỏi cần nói hết, cửa tu viện đã mở rộng. Hắn được mời vào, và ăn ở dầm dề.
Bằng cách trọ không mất tiền tại các tu viện, Lentnor được thảnh thơi vãn cảnh dọc đường. Ngày 19/04/1950 hắn đặt chân lên đất Tòa Thánh ở La mã. Hắn la cà trong các xóm yên hoa ở La mã, và làm quen với hai thanh niên người Áo cũng bị cảnh sát truy lùng như hắn. Bộ ba cấu kết với nhau, kiếm ăn tạm bợ bằng thủ đoạn trộm cắp, trong khi sửa soạn làm một chuyến đi xa, thật xa, tận Úc đại lợi.
Lentnor lại thay họ đổi tên. Hắn xoay được một giấy khai sinh cũ. Gãi đầu gãi tai, hắn đến bót cảnh sát địa phương. Hắn khai trình là trong cuộc hành hương, hắn bị quân gian ăn cắp cả sổ thông hành lẫn tiền bạc. Cảnh sát kị nhất du khách không có tiền. Họ có thể chơi trò « đói ăn vụng, túng làm càn ». Thượng sách là cấp ngay giấy tờ cho họ và vái trời cho họ trèo lên chuyến tàu sớm nhất về nước họ.
Vì vậy cảnh sát không căn vặn lôi thôi. Lentnor chìa giấy khai sinh không dán hình ra, cảnh sát dựa vào đó cấp cho hắn tờ chứng nhận mất sổ thông hành. Với tờ chứng nhận hợp lệ này, Lentnor phây phây đến tòa lãnh sự Áo. Và hắn được cấp thông hành dưới tên Praxmarer.
Bộ ba lên đường xuống miền nam, với dự định xuống tàu biển qua Phi châu, chặng thứ nhất của cuộc viễn du. Bộ ba xin vào làm nhân công trong một trại sản xuất của một dòng nữ tu người Đức. Chỉ sau mấy tuần lễ, họ đã gom góp được số tiền để mua một chiếc thuyền. Đành rằng chiếc thuyền này không đắt lắm, nhưng nếu bộ ba nhịn ăn, nhịn mặc suốt năm cũng vị tất sắm nổi chứ đừng nói là sau mấy tuần lễ nữa. Chẳng qua họ mượn gió bẻ măng, lợi dụng trại sản xuất tôn giáo để làm chuyện mờ ám.
Chương trình viễn du Úc châu bị hủy bỏ nửa chừng vì nhà đương cuộc an ninh Áo quốc mở cuộc điều tra về vụ Praxmarer xin sổ thông hành mới tại La mã. Hai gã bạn mới của Lentnor sợ liên lụy bèn ca bài tẩu mã. Họa vô đơn chí, Lentnor bị dính trong một vụ xét giấy. Cũng may người ta không lôi hắn ra tòa. Người ta chỉ cho hắn kỳ hạn 3 ngày để ra khỏi nước. Lentnor chẳng dám mong gì hơn. Hắn lại trổ tài ngoại giao và được phép nhập cảnh nước Pháp.
Ngựa quen đường cũ, Lentnor táy máy với khách bộ hành và bị phạt 8 ngày tù về tội du đãng vô nghề nghiệp. Được phóng thích, hắn dông xuống Marseille, đăng lính lê dương. Thân thể hắn không còn khỏe mạnh như xưa nữa nên hắn bị ra rìa.
Tháng 5/1951, hắn vẫn lẩn quẩn trong vùng biển phía nam nước Pháp. Hắn đánh bạn với một số người giàu có, rồi chẳng hiểu hắn hót êm tai đến thế nào mà hắn được tham dự một cuộc hành trình kéo dài nhiều tháng trên biển Địa trung hải.
Ngày 04/11/1951, 3 người bị đắm tàu, mệt mỏi, ốm yếu, giạt vào bãi biển Maroc ở Bắc Phi. Trong số 3 người gặp may mắn này có Lentnor. Phải coi đó là vận đỏ vì hầu hết hành khách trên du thuyền đều bị chết đuối.
Hắn không dè vận đỏ ấy cũng là vận đen của hắn. Cảnh sát Maroc chở mọi người về bệnh viện để cấp cứu. Và cũng để tìm hiểu nguyên nhân của tai nạn thảm khốc ngoài khơi.
Lentnor đang nằm trên giường nhà thương cho y tá tiếp nước biển, óc hắn đang nghĩ kế thoát thân thì cảnh sát Maroc lẳng lặng đến ngồi bên:
-Tên ông là Praxmarer?
-Vâng. Tôi là người Áo.
Một nhân viên cảnh sát chìa cho Lentnor coi một mảnh giấy. Lentnor choáng váng mày mặt. Té ra đó là lệnh tầm nã của Interpol. Quốc tế Hình cảnh hành động từ từ mà chắc. Lentnor không thể ngờ rằng trong thời gian hắn bềnh bồng khắp nơi thì Interpol luôn luôn theo dõi hắn. Cảnh sát Tây Đức gửi toàn bộ hồ sơ vụ giết người năm 1946 lên trung ương Interpol. Cảnh sát Áo quốc được báo động. Rồi cảnh sát Pháp, cảnh sát Ý, các sở cảnh sát khác trên thế giới, trong số có cảnh sát Maroc. Hắn đã lưu lại dấu vết, trừ phi hắn có tài thăng thiên độn thổ hắn không có hy vọng thoát khỏi màng lưới pháp luật.
Ngày 07/5/1954, 8 năm sau khi giết cô gái điếm nhẹ dạ, Lentnor ra trước tòa đại hình ở Áo quốc. Hắn trút hết tội cho thằng bạn nối khố đã bị hành quyết. Không ai còn sống để phủ nhận lời nói của hắn nên hắn chỉ bị kêu án 15 năm cấm cố.
Chú thích:
(1) sở hình cảnh Kriminalpolisal, cơ quan cảnh sát hình vụ của Tây Đức.
(2) những tên giả của Rampfel là Wober, và Vahs.
Truyện Thứ Tám
Hoa Kỳ Nữ Hoàng Thạch Tín
Theo một bản thống kê hữu quyền, hàng năm ở Hoa Kỳ có khoảng 35.000 người bị chết vì tai nạn ở trong nhà. Trong số này hơn 1/3 là nạn nhân của thuốc độc. Nói cách khác, hàng năm chừng 12.000 người Mỹ chết vì độc dược ở trong nhà.
Các nước khác không công bố số nạn nhân của độc dược. Tuy nhiên, cơ quan đặc trách của LHQ cho biết là tỉ lệ cũng xêm xêm.
Điều này chứng tỏ thuốc độc là mối lo của loài người. Có 3 loại chết vì thuốc độc: chết do tai nạn, chết tự ý, và chết vì bị kẻ khác đầu độc.
Từ ngày xửa ngày xưa, kỹ thuật đầu độc đã đạt mức tinh vi. Trong những năm đầu của Tây lịch kỷ nguyên, Nhà nước La mã được dùng độc dược làm phương pháp giải quyết các tranh chấp chính trị, quân sự và tình cảm. Nữ chúa thuốc độc hồi ấy –đàn bà dễ có mấy tay, phải không quý bạn?- là một tử tội tên là Locuste. Nàng vốn là nô lệ, phạm tội bị kết án tử hình song được ân thích để thực hiện những vụ đầu độc do Nhà nước chủ mưu, đồng thời cũng để mở lớp đặc biệt truyền dạy môn đầu độc, hầu tài nghệ độc nhất vô nhị của nàng khỏi bị mai một.
Ngược dòng lịch sử, độc dược được dùng nhiều nhất là thạch tín (arsenic). Trong thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch, người Hy lạp đã khám phá ra thạch tín rút từ chất quặng. Hyppocrates, tổ sư của nghề thuốc, coi thạch tín là môn thuốc chữa ung nhọt và một số bệnh ngoài da.
Thạch tín hồi đó do một chất quặng màu vàng mà ra nên nhuộm màu vàng, và có mùi vị. Đến thế kỷ thứ 8 sau Tây lịch, một nhà luyện kim á-rập, tên là Geber, tìm ra được thạch tín trắng (arsenic triocide). Nó không có mùi vị nên dùng làm độc dược rất thuận tiện.
Nói đến thạch tín không thể không nhắc đến họ hàng Borgia cầm quyền tại Ý. Hễ ai chống đối là họ làm thịt liền. Cesare Borgia đeo một cái nhẫn chứa thạch tín để có thể đầu độc kẻ thù dễ dàng bất cứ lúc nào. Năm 1659, một dung dịch đóng thành ve, trình bày đẹp mắt, giả dạng mỹ phẩm dành cho phụ nữ, được bán hầu như công khai, và nghe đâu 600 người đã mất mạng vì nó.
Bị đầu độc bằng thạch tín, nạn nhân thường đau đớn ở bao tử, nôn mửa, tay chân co rút trước khi mê man rồi chết. Trừ phi vô lương tâm, không ai đã chứng kiến cái cảnh nạn nhân hấp hối vì thạch tín còn dám đầu độc bằng thạch tín lần thứ hai. Ấy thế mà lịch sử tòa án cho thấy có người đầu độc bằng thạch tín trên dưới chục lần.
Nếu hung thủ là đàn ông, mặt sắt đen sì, trái tim và khối óc bằng bê-tông đặc thì vấn đề đầu độc hàng loạt này may ra còn có thể hiểu được. Tác giả nhấn mạnh hai chữ « may ra » vì dầu sao con người vẫn là con người.
Nhưng trong câu chuyện có thật sau đây, hung thủ lại là đàn bà. Đàn bà đầu độc cả lô chồng con bằng thạch tín.
Tên ác phụ có một không hai này là Lydia Danbury, sinh trưởng ở New Jersey, Hoa Kỳ năm 1829. Lên xe hoa về nhà chồng năm 1846, chồng là Edward Struck làm nghề cảnh sát viên. Cặp vợ chồng sinh sống trong thị trấn New York, ở đại lộ 125.

Lydia là một cô gái đẹp.
Nhiều người còn nói nàng là cô gái rất đẹp nữa. Dáng nàng thanh thanh, dường như không có mỡ. Nàng lại thuộc loại dong dỏng cao và trường túc. Chỉ tiếc là nàng ra đời vào đầu thế kỷ 19, hồi ấy người ta quan niệm đàn bà đẹp ở bộ phận khác, không phải đẹp ở cặp giò, và từ rốn trở xuống phụ nữ phải mặc hàng hàng lớp lớp xiêm dầy, cứng, hồ bột ròn rụm, mỗi bước chân là gây ra tiếng động sột soạt.
Lydia chỉ mắc một nhược điểm: nước da. Nàng là người da trắng, thế mà da nàng lại không trắng tí nào. Tuy vậy, nó cũng không đen. Nó hơi ngăm ngăm như da người lai. Đàn bà lai thường đẹp. Đàn bà có nước da ngăm ngăm thường rồi rào sức khỏe. Xin nhớ: sức khỏe ở đây là sức khỏe trong phòng the.
Nước da bánh mật là nhược điểm của Lydia, chẳng phải vì nó làm nàng kém duyên dáng. Trái lại, nó gia tăng vẻ hấp dẫn đối với đàn ông. Sở dĩ nó được liệt vào hàng nhược điểm là vì nó đã làm khổ nàng. Nước da bánh mật đã ban cho nàng những sự thèm khát ái tình xác thịt ghê gớm. Thèm muốn điên lên mà không được thỏa mãn. Hoặc chỉ được thỏa mãn phần nào.
Mới 13, 14 tuổi cô bé Lydia đã làm con trai trong vùng lác mắt. Gia đình nàng nghèo nên nàng không có hoàn cảnh triển lãm những báu vật thiên phú trên thân thể nàng. Nhưng sau bộ y phục xuềnh xoàng gần như lam lũ, ai cũng nhìn thấy bóng dáng một giai nhân.
Mỹ nhân mà làm gì, vì:
Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.
Năm 17 tuổi, Lydia lấy chồng. Nàng đẹp như vậy mà định mệnh oái oăm không cho nàng một tấm chồng giàu có, hoặc ít ra cường tráng. Anh chồng của nàng chỉ là chú cảnh sát viên cà mèng, lương bổng đã ít, diện mạo lại chẳng có gì là đặc sắc.
Nàng lấy Edward vì nàng cần lấy đàn ông. Lý luận này có lẽ sát đúng với thực tại hơn hết. Không riêng gì nàng, phần đông phụ nữ của giữa thế kỷ 19 đều bị xô vào một trạng huống khác thường, trạng huống dồn ép sinh lý. Người ta không giải thích được tại sao, chỉ biết rằng ở Bắc Mỹ (nơi Lydia sinh sống) hay ở châu Âu con số phụ nữ lăn lưng vào lầu xanh ngày một gia tăng mạnh mẽ. Nhân số gái điếm nhiều đến nỗi ở thủ đô Áo quốc cứ 7 người đàn ông thì có một gái điếm (1). Du khách từ xa đến có thể thuê vợ ngắn hạn hoặc dài hạn. Và trong khoảng thời gian 20 năm trước khi Lydia lên xe hoa, có chừng một triệu đứa con hoang chào đời riêng tại nước Áo.
Những việc xảy ra tại nước Áo đã xảy ra y hệt tại New York, mỹ nhân Lydia không còn là cô gái trinh nguyên khi về làm vợ cảnh sát viên Edward. Nguyên nhân của sự thả lỏng ái tình này bắt nguồn từ chính sách đàn áp phụ nữ hồi đó. Tại Âu châu, những cuộc ly hôn bị pháp luật cấm đoán khắc nghiệt từ những năm đầu của thế kỷ thứ 19. Phải đợi đến gần cuối thế kỷ mới được tái lập. Bị cấm đoán, con người phải tìm lối thoát. Đó là lẽ đương nhiên.
Lydia chịu nâng khăn sửa túi cho anh chồng đụt Edward cũng chỉ là lẽ đương nhiên. Nàng nhảy sổ vào cuộc sống lứa đôi, chẳng may khoa học hạn chế sinh sản còn ở thời kỳ chập chững nên trong vòng 7 năm đầu, nàng đã cho ra đời một loạt 6 tí nhau. Bầy con này có thật là của anh chồng cù lần kia không, anh chồng không hề hé răng. Vả lại, hắn còn thời giờ nào mà hé răng nữa. Lương tiền chết đói của hắn không thể nuôi nổi cô vợ vô công rồi nghề kèm một nách con dại khiến hắn phải ngậm miệng làm thêm giờ xúp và xoay thêm bổng ngoại.
Khốn nỗi, Edward lại không có máu tham nhũng. Hắn muốn xoay thêm bổng ngoại song lại không dám bóp hầu xiết cổ thiên hạ. Hắn lại không biết kéo bè kết đảng. Kết quả là đồng liêu của hắn lên trật đều đều còn hắn cứ chôn chân một chỗ sau cả chục năm trong nghề vẫn lui cui ở chức vụ « đơ dèm cùi bắp »…
Gia đình Edward lâm cảnh túng thiếu. Tuy nhiên, chỉ mới túng thiếu chứ chưa đói ăn. Đùng một cái, sấm sét giáng xuống. Hắn bị đuổi khỏi ngành cảnh sát về tội chậm trình diện. Cấp trên ra lệnh cho hắn đến một quán rượu, nơi có vụ thanh toán đẫm máu bằng súng đạn giữa một đám du đãng. Hung thủ tẩu thoát. Edward bị tố cáo là cố tình lừng khừng vì bản tính hèn nhát, chờ cho sóng yên gió lặng, biết chắc chắn mà mạng sống an toàn mới vác mặt tới. Edward là viên chức thanh liêm, người ta khó thể nghi hắn đớp tiền của hung thủ. Song hắn biện hộ khản cuống họng không ai thèm nghe. Hắn bị tống xuất. Sau này Edward mới rõ: hắn mất việc vì sở cảnh sát là ổ tham nhũng, người ta sợ hắn trở thành kỳ đà cản mũi, và từ lâu bè lũ thối nát đã rình rập cơ hội loại trừ hắn.
Bị thanh trừng một cách oan ức mà không thể nào giãi bày và bênh vực, Edward đâm ra bất đắc chí. Hăă chán nản mọi việc. Trước kia hắn thích trò truyện, giờ đây hắn câm miệng như hến, nhiều khi cả ngày hắn không nói một lời. Dần dà, hắn lánh xa bè bạn, thù ghét tất cả. Hắn coi ai cũng là cừu địch không đội trời chung.
Sự thay đổi tính tình của chồng -dầu là anh chồng cù lần, không được nàng thương yêu đằm thắm- làm Lydia lo sợ. Nàng bèn hỏi ý kiến xếp cũ của chồng trong sở cảnh sát. Và ông xếp đã nói toạc móng heo là chồng nàng mắc bệnh loạn trí. Giữa thế kỷ thứ 19, bệnh thần kinh còn là bệnh nan y. Ông xếp cảnh sát khuyên nàng đưa chồng vào dưỡng trí viện.
Tư tưởng rời bỏ Edward nhú lên trong đầu người đẹp. Nhưng nó chỉ thành hình rõ rệt khi Edward bước thẳng vào con đường mất trí nguy hiểm. Có lần chồng nàng ngồi yên như pho tượng từ sáng đến tối. Ai đụng vào là gắt gỏng, đuổi đánh. Lydia có thể chịu đựng được tình trạng hiện tại. Song nàng không thể chịu đựng được mãi.
Ngòi nổ đã có sẵn, chỉ còn chờ mồi lửa. Và mồi lửa này là cơn điên loạn bất thần của anh chồng. Đột ngột hắn la hét lung tung rồi túm con, túm vợ cấu xé. Hoảng hốt, nàng đập cửa phòng bên. Một trung sĩ cảnh sát ở trong chung cư quen biết với gia đình nàng xông vào can thiệp. Một số bát đĩa bị đập vỡ, con nít bị xây sát xoàng. Sau một hồi thịnh nộ, bệnh nhân trở lại bình thường.
Gã trung sĩ cảnh sát nói với Lydia:
-Anh ta điên nặng lắm rồi, giữ lại không được đâu.
« Giữ lại không được đâu », câu nói của gã trung sĩ chỉ nhằm nhắc lại sự cần thiết đưa bệnh nhân vào dưỡng trí viện. Điều tai hại là Lydia đã hiểu theo nghĩa khác.
Luôn luôn mấy chữ « giữ lại không được đâu » ám ảnh tâm thần nàng. Đúng, nàng không thể « giữ lại » anh chồng bệnh hoạn, cuồng điên, vô tài bất tướng. Hắn còn công ăn việc làm chắc chắn, còn sức khỏe chắc chắn mà gia đình còn đói lên đói xuống, nàng còn lam lũ, tiều tụy, nhan sắc như đóa hoa hồng tươi mà phải tàn phai. Huống hồ hắn đã thất nghiệp, ốm o và loạn trí…Ai sẽ nuôi con nàng, nuôi nửa tá con lôi thôi lếch thếch của nàng? Nàng xấu xí, già cằn thì liệu có ai thương?
Vì vậy Lydia quan niệm mấy tiếng « giữ lại không được đâu » tức là giết bỏ anh chồng cù lần.
Giết bỏ bằng cách nào? Nàng không có đủ can đảm giết chồng bằng súng, bằng dao. Phương pháp giản dị và khôn ngoan nhất là thuốc độc.
Nàng mua thạch tín, cất sẵn một nơi. Chồng nàng mỗi lúc một điên thêm. Nàng săn sóc, hầu hạ chồng hết mực. Láng giềng đều ái ngại cho hoàn cảnh của nàng. Gã trung sĩ cảnh sát ở kế bên thường chép miệng:
-Tội nghiệp, con người đẹp đẽ, hiền ngoan như vậy mà khổ. Bao giờ nàng mới hết khổ, hở Trời?
Lydia « hết khổ » một buổi tối trong tháng 5/1864. Nàng trộn thạch tín vào thức ăn của chồng. Sáng hôm sau nạn nhân thiệt mạng. Y sĩ được mời tới để xét nguyên nhân chồng nàng chết. Y sĩ phê vào giấy khai tử « chết vì bệnh lao phổi ».
Chết vì thạch tín mà phê là chết vì bệnh lao phổi kể cũng liều thật. Nhưng nghĩ ra ông thày thuốc lầm cũng phải. Lydia có vẻ mặt dịu dàng, và có nhan sắc quyến rũ trên mức trung bình, có ai dám ngờ nàng đầu độc chồng. Nàng chịu sống chung với anh chồng quèn những 18 năm trời. Thôi, hắn chết cũng đáng.
Người đẹp trở thành góa phụ. Khi ấy nàng được 35 tuổi. Nàng vẫn trẻ, vẫn tươi mát, vẫn đầy hấp dẫn. Tuổi 35 lại là tuổi tràn trề kinh nghiệm, và tràn trề sức khỏe.
Phiền một nỗi, bên nách nàng có 6 đứa con lau nhau. Nếu nàng ra đường một mình, hoặc với một đứa con đi theo, ai cũng tưởng lầm nàng mới 24, 25. Nàng chỉ đi dạo một vòng quanh thành phố là con trai dính theo cả chùm. Tuy vậy, nàng lại không vui…
Bầy con của nàng ăn như tằm ăn lên. Chúng lại còn quá nhỏ nên chẳng giúp mẹ được gì. Hết ăn lại phá, những khi không nghịch được thì nằm lăn ra đau ốm. Gã chồng cảnh sát chết đi không để lại cho cô vợ trẻ một món đồ gì đáng giá để có thể cầm cố hoặc đem bán lấy tiền. Hắn chết đi còn để lại nợ nần nữa là khác.
Lydia đã nghĩ đến việc tái giá. Với sắc đẹp của nàng, nàng tin tưởng sẽ không phải sống cảnh đơn chiếc một thời gian dài. Nhưng đến khi chồng nàng an nghỉ dưới mộ, nàng mới biết là tính toán sai lầm. Bọn thanh niên mê nàng thật đấy, song họ không thể mê luôn cả nửa tá con của nàng. Nàng cần tình chưa bằng cần tiền. Đám đàn ông tóc muối tiêu có thể cung cấp tài chính cho nàng nhưng họ lại cân nhắc thận trọng. Một, hai con thì được chứ nửa tá thì nhiều quá…Goá phụ với 6 đứa con khó thể là góa phụ ngon lành.
Trong lúc kiếm chồng, Lydia vẫn phải kiếm sống. Bởi vậy, nàng đành làm công nhân trong một xưởng sản xuất máy may. Lương thợ dĩ nhiên rất ít, vừa xoẳn cho gia đình nàng khỏi chết đói. Nàng phải giật gấu vá vai, cực kỳ khống đốn trong suốt hai năm đằng đẵng. Xưởng máy này tọa lạc ở xa nhà nàng, trong một khu vực thiếu an ninh cũng như thiếu vệ sinh ở New York. Nàng đi bộ đến xưởng, trời nắng cũng như trời mưa.
Thấy nàng lầm lì chịu cực, ai cũng khen ngợi. Không ai biết rằng nàng đã nuôi sẵn định kiến. Trong khoảng 2 năm nàng làm thợ, bầy con mũm mĩm đột ngột ngã bệnh rồi lần lượt thiệt mạng. Sau cái chết của đứa con thứ 6, Lydia trở thành góa phụ không con. Mọi trở ngại trên đường tái giá đều được dẹp bỏ.
Sự việc diễn ra như sau: chồng nàng chết được mấy tháng, Lydia cảm thấy hai đứa con nhỏ tuổi nhất của nàng, đứa con trai lên 4 và đứa con gái lên 2 không thể có tương lai trong hoàn cảnh mồ côi cha, mẹ góa lại phải đi làm xa quần quật từ sáng đến tối, không có thời giờ và phương tiện chăm nom. Trong tờ khai sau này, Lydia nói là nàng rất thương chúng. Vì vậy nàng không muốn chúng thiếu hạnh phúc, thiếu sự săn sóc đàng hoàng.
Nàng nhớ lại câu nói của gã trung sĩ cảnh sát « giữ lại không được đâu ». Nàng không « giữ lại » chồng, thế tất nàng không thể « giữ lại » hai đứa con măng sữa. Không suy nghĩ nhiều nữa, nàng mua thạch tín, và cũng như đối với chồng, nàng trộn thuốc độc vào thức ăn.
Hai đứa chỉ quằn quại một đêm rồi chết. Không ai nghi ngờ gì cả. Giấy khai tử được bác sĩ chứng nhận ghi rõ đứa chết vì sốt nóng làm kinh, đứa chết vì bệnh sưng phổi cấp tính.
Tháng 3/1866, đến lượt đứa con gái 12 tuổi của nàng tên Anna nhuốm bệnh. Bệnh thật, hoàn toàn do vi khuẩn mà ra. Nàng không liên hệ đến. Nàng tỏ ra sốt sắng với con. Tuy nghèo, nàng cũng chạy đôn chạy đáo mời y sĩ. Và y sĩ kê đơn cho nàng mua thuốc.
Anna mới 12 mà khôn ngoan như đến tuổi dậy thì. Nó thừa hưởng được của mẹ nó khá nhiều, từ thân hình mảnh mai, cặp giò thon dài tới khuôn mặt đều đẹp như tranh vẽ. Nó có nhiều hy vọng trở thành hoa hậu trong quận. Nó thường được mẹ nó cưng chiều, của ngon vật lạ mẹ nó thường giành cho nó. Cảnh nhà túng bấn đến đâu chăng nữa, Anna vẫn có được những thứ nó muốn. Giờ đây nó đau ốm, Lydia lý luận rằng bệnh hoạn sẽ làm nó kém đẹp, tạng phủ nó kém mạnh, nó lớn lên không khéo lại dở dở ương ương như cha nó. Nó yên giấc ngàn thu với cha nó và hai em là giải pháp thích hợp nhất.
Lydia không ngần ngại pha thạch tín vào thuốc, bưng tận miệng cho con gái uống. Tờ khai tử chứng nhận Anna chết vì bệnh sốt thương hàn.
Ngày nay, xét lại các vụ đầu độc của ác phụ Lydia, chúng ta có thể kết tội y sĩ là vô trách nhiệm nghề nghiệp. Một y sĩ có thể lầm, song không lẽ 4, 5 y sĩ cũng lầm sau 4, 5 cái chết liên tiếp trong một gia đình. Người ta chỉ cần chở xác chết đến bệnh viện, đem giải phẫu và thử nghiệm là tìm thấy chất thạch tín giết người.
Tại sao người ta không làm thế? Đó chẳng qua các ngài danh y phần nào chịu ảnh hưởng của khuôn mặt mỹ miều, tấm thân cân đối, cặp đùi tròn trịa, và nhất là dáng dấp hiền hậu của giai nhân Lydia. Đàn ông từ cổ chí kim -dầu là đàn ông làm nghề thày thuốc hay quan tòa- đều có ý nghĩ ăn sâu trong đầu là phụ nữ xấu xí mới hay phạm tội, phụ nữ kiều diễm thường ngoan và tốt…Vả lại, trong trường hợp Lydia không có cái nhìn bốc lửa thì các bác sĩ cũng không dám ngờ vực nàng. Cọp còn không nỡ ăn thịt con, nỡ nào người mẹ đầu độc những đứa con ruột của mình?
Trên thực tế, người mẹ vô luân này tiếp tục đầu độc các con. Nạn nhân kế tiếp của Lydia là đứa con gái 18 tuổi, đã nẩy nở như người lớn. Trong năm 1866, những đứa trẻ còn lại lần lượt bị đánh thuốc. Chúng lần lượt chết, và bác sĩ cũng như dư luận đều không hề ngờ vực Lydia.
Sau khi rảnh nợ, nàng nghĩ đến chuyện lấy chồng. Đúng hơn, nàng nghĩ đến chuyện tìm nạn nhân mới để đầu độc.
Hurlburt không lấy gì làm khôi ngô, và đã xấp xỉ ngũ tuần. Ông cũng không còn cường tráng, song Lydia không cần lắm. Nàng thiếu đàn ông đã lâu. Ít ra Hurlburt cũng mang lại cho nàng những phút thần tiên trong chuyến « tái xuất giang hồ ».
Biết đâu sự quặt quẹo thường trực của Hurlburt lại chẳng là lợi điểm cho nàng. Khi chán Hurlburt, nàng chỉ khoát nhẹ tay là xong.
Lydia chọn Hurlburt là vì ông này có khá nhiều sản nghiệp. Đặc biệt là có trong nhà băng số tiền khổng lồ 10 ngàn mỹ kim. Hồi ấy, không phải ai cũng cất nổi 10 ngàn đô la trong ngân hàng như Hurlburt. Bánh ít đi, bánh qui lại, nàng mê tiền của ông thì ông mê nhan sắc nõn nà của nàng.
Tháng 11/1868 -2 năm sau ngày đứa con cuối cùng của nàng từ giã cuộc đời- nàng trở thành vợ chính thức của Hurlburt.
Trước mắt người ngoài, cuộc hôn nhân của Lydia có vẻ đã thành công mỹ mãn. Hạnh phúc dường như không thiếu đối với hai người. Nếu không yêu nàng, và không biết rõ nàng yêu ông lại một cách thành thật và tha thiêt thì ông Hurlburt đã không dại gì làm chúc thư để lại toàn thể của chìm của nổi cho nàng.
Trong khi ấy, Lydia cố gắng thu phục thiện cảm của hàng xóm. Nàng thăm viếng họ luôn, con cái họ thường được nàng cho đồ chơi, và họ đều khen nàng tốt bụng. « Ông Hurlburt thật có phước mới lấy được cô ấy ». Lydia gặp bạn bè và hàng xóm lần nào cũng than phiền về sức khỏe của chồng. Nàng lộ vẻ lo lắng ra mặt. Nàng nói là ông Hurlburt hay bị xây xẩm mặt mày và bị ngất xỉu.
Không ai ngờ rằng Lydia đã đóng kịch để chuẩn bị cho một cuộc tái giá khác. Đầu năm 1870, nghĩa là vỏn vẹn hơn một năm nên vợ nên chồng, Lydia thực hiện kế hoạch của nàng. Hurlburt đột nhiên bị sốt nặng, đầu nhức như búa bổ, bao tử bị co rút, và có cảm giác như bị ai đốt cháy. Vợ chồng Hurlburt cư ngụ trong một xã ở xa thành phố, y sĩ sở tại không giỏi mấy nên một y sĩ ở tỉnh được mời thêm tới. Chẳng hiểu sao, họ lại bối rối trước những triệu chứng của bệnh nhân. Và họ đã mất khá nhiều thời giờ bàn cãi để định bệnh. Thật ra chỉ cần rửa ruột là tìm ra nguyên nhân. Họ còn bàn cãi thì Hurlburt thở hơi cuối cùng. Các y sĩ vẫn chưa đồng ý với nhau Hurlburt chết vì bệnh gì. Tuy nhiên, họ không ngờ vực là bị đầu độc. Trong giấy khai tử, họ ghi « chết vì bệnh ».
Người đẹp Lydia trở lại cuộc đời góa phụ trẻ đẹp lần nữa. Khác lần trước, lần này nàng có thật nhiều tiền. Nàng lại không nặng gánh gia đình. Vấn đề tài chính không còn được đặt ra nữa. Thế tất nàng sẽ chọn người yêu vì tình. Sau nhiều năm lao đao, nàng tin tưởng sẽ tình được « hoàng tử của lòng em ».
Hỡi ôi, tin tưởng của nàng chỉ là ảo tưởng. Nàng không lấy được tấm chồng đàng hoàng mặc dầu nàng chủ tâm đốt đuốc tìm kiếm. Té ra ghét của nào, Trời trao của ấy. Nàng Lydia giàu kinh nghiệm tình đời và tình yêu lại sa vào nanh vuốt một gã đàn ông hoàn toàn vô trách nhiệm và uống rượu như hũ chìm. Từ sáng đến tối chỉ rượu là rượu…
Tệ hơn nữa, anh chồng thứ ba này của nàng lại đeo bên nách 4 đứa con mọn, tiền nong lại không có một xu. Người ta không hiểu tại sao nàng đã nhẫn tâm giết toàn thể 6 đứa con do nàng sinh hạ, kèm theo 2 người chồng nàng để rồi nàng lại trao thân gửi phận cho một anh chồng nghèo kiết, rượu chè phóng đãng, và có 4 đứa con phải nuôi…
Định mạng thật oái oăm. Lydia mê hắn như điếu đổ. Hắn là Sherman, làm nghề thợ máy. Nói cho đúng, hắn không đến nỗi là thợ máy hạng bét. Hắn sửa chữa khá giỏi nên cũng rủng rẻng đồng ra đồng vào.
Có lẽ nàng mê hắn vì bộ mã của hắn hơn hẳn bộ mã của hai người chồng trước. Hắn lại còn trẻ. Trẻ hơn nàng một đống tuổi.
Ông trọc phú Hurlburt chết được mấy tháng, nấm mộ chưa kịp xanh cỏ, Lydia đã hối hả làm giấy hôn thú với anh chàng thợ máy Sherman.
Thế rồi việc đáng đến đã đến.
Hạnh phúc mà Lydia mong đợi vụt tan như bọt xà bông. Nàng chỉ hưởng lạc được với người chồng trẻ, khỏe, vỏn vẹn mấy tuần lễ. Thực tại tàn nhẫn đã hiện ra: một bày con dại và một anh chồng say rượu.
Hai tháng sau đêm động phòng hoa chúc, Lydia báo tin cho chồng biết là đứa con 7 tháng bị bệnh. Con riêng của chồng mà Lydia tận tâm săn sóc như thể con riêng của mình. Nàng ngồi bên nôi, canh chừng nó cả đêm. Sherman say tít cung thang, chẳng để ý gì hết. Hàng xóm phải ái ngại cho Lydia. Một đêm kia, Sherman đang say thì đứa con 7 tháng nấc cụt được một tiếng rồi lịm luôn.
Tháng 12 năm ấy, đứa con gái 14 tuổi của Sherman lên cơn sốt nặng. Lydia nói là sốt thương hàn. Hồi ấy, thương hàn là bệnh khó chữa nên đứa con gái mệnh chung chỉ là việc đương nhiên.
Hai đứa con riêng của Sherman chết đột ngột trong vòng mấy tháng mà hàng xóm không dị nghị, y sĩ không băn khoăn, kể cũng lạ. Bằng chứng là Lydia vẫn được mọi người quý mến.
Tuy nhiên, một bóng mây đen bắt đầu che phủ vòm trời hạnh phúc của cặp vợ chồng chắp nối. Anh thợ máy Sherman không đến nỗi ngu xuẩn. Đành rằng say sưa quanh năm suốt tháng, nhưng đôi khi cũng tỉnh, và những khi lấy lại trí phán xét, hắn bắt đầu hé thấy sự thật. Hắn có linh tính là đứa con trai 4 tuổi của hắn sắp bị lâm nguy. Tình phụ tử tắt ngúm từ lâu bùng cháy lại trong lòng hắn. Hắn nằm luôn trong phòng đứa nhỏ ban đêm để bảo vệ nó. Sherman bận coi sóc con tất không thỏa mãn được những đòi hỏi của vợ.
Nàng bị đuổi ra nằm phòng ngoài. Sự xa cách này là một hình phạt nặng nề đối với Lydia. Nàng lấy Sherman là để tận hưởng thú xác thịt với hắn, không phải để làm vợ chồng già. Và nàng không thể tha thứ cho hắn.
Tháng 5/1871, Sherman vắng nhà một tuần về chuyện tiệc tùng, hội hè gì đó. Quá hạn, hắn không chịu về. Đứa con trai 17 tuổi đâm bổ đi tìm. Điều đáng ghi nhận là Lydia đã cho nó tiền xe, kèm theo tiền tiêu vặt khá rộng rãi. Nàng đã có định kiến dứt khoát. Nàng sai con riêng của chồng đi tìm Sherman không phải vì nàng còn thương chồng. Mối tình động cỡn đã chết hẳn. Nàng bỗng cảm thấy sự cần thiết của nếp sống góa phụ tự do.
Thằng con sục sạo trong nhiều ngày mới gặp cha, song cha nó đang trong cơn say kinh khủng. Nó vất vả lắm mới dìu được cha ra xe, và hộ tống về nhà. Những lần trước, Sherman cũng say. Tuy nhiên, cơn say chỉ kéo dài một vài ngày là nhiều. Lần này, Sherman nằm mọp trong phòng cả tuần vẫn không sao ngóc đầu nổi.
Và thời gian ấy, hai vợ chồng cãi cọ nhau dữ dội. Trong lúc cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, Lydia phiền trách chồng về chuyện bỏ bê, đến nỗi nàng còn trẻ mà những liên hệ sinh lý đã bị chồng cắt đứt một cách phũ phàng như thể nàng đã quá lục tuần. Nếu Sherman biết giữ mồm miệng có lẽ hắn chưa chết, Lydia buông tha hắn cũng nên. Đằng này hắn lại nổi sùng, gan ruột có những gì phun ra hết.
Hắn lớn tiếng cảnh cáo nàng:
-Cô coi chừng đấy. Tôi không phải là thằng ngu.
Nàng quắc mắt:
-Tôi cũng vậy, tôi cũng không phải là con ngu.
-Dĩ nhiên. Tôi có khi nào bảo cô ngu đâu. Thật ra, hai đứa mình chẳng đứa nào ngu cả. Chẳng qua là biết chịu đựng nhau. Tôi đinh ninh cô sẵn sàng chịu đựng tính nghiện rượu của tôi, nào ngờ…
-Hừ…anh đã nói ngon nói ngọt để dụ dỗ tôi. Nếu tôi biết anh hư đốn như vậy, tôi đã…
-Yêu cầu cô im. Tôi đã bảo là hai đứa mình phải chịu đựng nhau mà…Tôi chịu đựng cô thì đền lại, cô phải chịu đựng tôi.
-Anh chịu đựng tôi cái nỗi gì?
-Lấy thúng úp voi sao được, cô ơi! Cô làm gì tôi cũng biết. Những việc cô làm trong quá khứ, cô đừng tưởng tôi không biết.
-Tôi đã làm những gì bậy bạ trong quá khứ, có ngon anh nói tôi nghe.
Sherman nín lặng. Mặt hắn hơi tái. Dường như hắn cảm thấy lỡ lời. Lydia cũng có ấn tượng là Sherman đã phăng ra những hành động đen tối lén lút của nàng. Hắn không nói vì hắn thấy nàng có tiền, nàng lại yêu hắn thật sự. Có thể hắn nghi nàng giết con hắn. Song hắn chưa thu thập được bằng chứng.
Lydia suy nghĩ thật nhanh. Nàng phải tìm cách làm lành với chồng. Làm lành càng sớm càng tốt. Bằng không chồng nàng sẽ đi đến chỗ cạn tàu ráo máng, tố cáo lung tung có hại cho nàng. Sherman không hiểu nổi thâm ý của nàng. Hắn đinh ninh nàng chịu thua. Nàng chiều chuộng hắn khiến hắn thêm kiêu hãnh. Đêm ấy và những đêm kế tiếp, nàng ngoan ngoãn hơn cả tên nô lệ đối với chủ nhân.
Để rồi một buổi tối kia…
Vợ chồng trò truyện thân mật bên cửa sổ gió lộng. Trời cuối tháng hai nên hơi nóng nực. Lydia dọn đồ nhậu thật ngon cho chồng. Nàng xoay được một chai rượu thượng hạng, tự tay khui mời chồng. Hắn uống xong thì lên cơn sốt kèm theo những triệu chứng quen thuộc như nhức đầu và co rút báo tử. Nhờ có sức khỏe, hắn chưa bị bất tỉnh, hắn còn đủ nghị lực qua nhà bên, cầu cứu hàng xóm mời bác sĩ. Hai y sĩ hợp lực chữa chạy cho hắn. Nhưng hắn vẫn chết.
Lần này Lydia không thể xin giấy khai tử dễ dàng. Vì cả hai y sĩ đều băn khoăn trước cái chết quá đột ngột và vô lý của gã thợ máy nổi tiếng trong khu phố là khỏe như trâu cui. Vả lại, Lydia đã thành công nhiều lần, lẽ nào nàng thành công mãi…
Tuy nàng phản đối, thi thể của Sherman vẫn được chở đến bệnh viện để giải phẫu. Mấy ngày sau, cuộc thử nghiệm cho biết lá gan của nạn nhân chứa đựng một số lượng thạch tín khá lớn đủ giết thêm ba nạn nhân cường tráng khác nữa.
Nội vụ được trình tòa.
Và tòa ra lệnh bắt giữ mỹ nhân Lydia. Năm ấy nàng vừa chẵn 42 tuổi.
Lệnh của tòa bị tạm gác. Luật là luật. Sherman chết vì bị đầu độc bằng thạch tín, điều này không có nghĩa là mọi trách nhiệm được trút lên đầu Lydia. Muốn tống giam nàng, phải trưng được bằng chứng nàng là thủ phạm của vụ đầu độc.
Quan tòa không quên những đứa con đã chết của Sherman. Thi thể chúng lần lượt được khai quật. Tạng phủ chúng được mổ xẻ và đem thử nghiệm. Và luật y xác nhận một cách dứt khoát chúng thiệt mạng vì bị đầu độc cũng như cha chúng.
Nhận thấy kết quả thử nghiệm có vẻ bất lợi cho nàng, Lydia bèn tính bài…tẩu mã. Nàng lặng lẽ thu xếp hành trang trốn đi nơi khác, tưởng cảnh sát không biết. Nàng không ngờ nhân viên an ninh luôn luôn theo dõi nàng. Sau khi phăng ra địa chỉ của tiệm thuốc Lydia đến mua thạch tín, cảnh sát mới thi hành lệnh tòa. Nàng bị bắt giải về nơi nàng phạm tội và bị tống giam chờ ngày xét xử.
Cuộc điều tra vẫn tiến hành đều đặn. Thi thể của Hurlburt cũng được khai quật, và luật y cũng tìm thấy dấu vết thạch tín. Một trát tống giam thứ hai được tòa ký sẵn, đề phòng trường hợp Lydia được miễn nghị trong vụ giết Sherman. Tòa có thể truy tố nàng về tội giết Hurlburt. Sở dĩ phải làm vậy vì công tố viện chưa thu thập được đầy đủ yếu tố cấu tạo tội phạm. Lydia giết Sherman, đồng ý, nhưng tại sao lại giết? Không phải lý do tiền bạc vì Sherman là anh thợ máy khố rách áo ôm. Đáng tiếc là tòa không biết Lydia cần xác thịt không kém cần tiền bạc. Nàng đầu độc Sherman vì hắn không còn cung cấp khoái lạc xác thịt cho nàng nữa…
Về vụ Hurlburt, tòa có thể giải quyết dễ dàng hơn. Vì nạn nhân có nhiều của chìm của nổi. Nạn nhân lại đã làm chúc thư để lại toàn thể sản nghiệp cho Lydia. Dầu sao cũng còn cái chết bí mật của Edward, người chồng thứ nhất, và của 6 đứa con ruột của nàng. Tòa nghi ngờ nàng giết họ, song chưa vội ra lệnh khai quật tử thi.
Phiên tòa xử nàng bắt đầu ngày 16/4/1872. Chánh thẩm là ông Sanford.
Lệ thường, đàn bà đến tuổi như Lydia và tái giá nhiều lần là nhan sắc về chiều. Nhưng Lydia lại vẫn tươi mát, và nhất là có vẻ ngoài hiền thục, đoan trang và quý phái. Nàng mặc đồ đen tuyền như thể chịu tang những người đã chết. Cái nón trắng dịu dàng và giản dị của nàng làm tăng tính chất quý phái, khiến cử tọa trong pháp đình bàng hoàng, ái ngại. Nếu công tố viên không đưa ra những chứng cớ quá hiển nhiên chắc chắn đa số đều cho người vô tội.
Bằng giọng run run (thật tình hay giả mạo?) Lydia khai trước tòa là vô tội. Nàng không hề giết ai. Lẽ nào phụ nữ chân yếu tay mềm, thấy con chuột cũng sợ, không thể đầu độc bằng thạch tín một lô nạn nhân như vậy?
Nhân chứng thứ nhất được công tố viên mời lên là bác sĩ Beardslay. Khi anh thợ máy nghiện rượu nhuốm bệnh, bác sĩ Beardslay tới điều trị. Lydia nói là chồng nàng bị đau vì uống quá nhiều rượu, gan thận bị hư. Bác sĩ không tin, ông đã tìm thấy triệu chứng nạn nhân bị đầu độc bằng thạch tín. Ông bèn kê đơn cho nạn nhân uống thuốc giải độc. Trong lần chẩn mạch kế tiếp, ông nhận thấy sức khỏe nạn nhân bị suy sụp hoàn toàn. Và ông có cảm tưởng nạn nhân đã uống thêm thạch tín.
Luật sư biện hộ không phủ nhận việc Sherman chết vì thạch tín, song theo ông, có thể cái chết này do nhiều nguyên nhân mà ra, không nhất thiết do sự đầu độc. Các chuyên viên thử nghiệm đã cho thấy nhiều người có chất thạch tín trong cơ thể mặc dầu họ không hề bị đầu độc bằng thạch tín. Bởi vậy, có thể nạn nhân đã có thạch tín trong cơ thể trước khi thiệt mạng vì…ma men.
Luật sư của Lydia bào chữa thật hùng hồn, ai cũng tưởng bị cáo sẽ được miễn nghị. Nhưng công tố viên lại mở hồ sơ về cái chết của Hurlburt, người chồng trước của Lydia không nghiện rượu mà cũng thiệt mạng, với thạch tín đầy ứ tạng phủ. Luật sư bên bị còn bối rối, chưa biết phản công cách nào thì công tố viên đánh đòn quyết định: một nhân chứng lên tuyên thệ. Ông ta chính là người dược sĩ đã bán thạch tín cho Lydia trong năm 1871. Lydia nói là mua về để đánh bẫy chuột.
Lydia sụt sùi khai với tòa rằng nàng yêu Sherman tha thiết. Tòa bèn kêu người em trai của Sherman lên vành móng ngựa. Nhân chứng này bác bỏ luận cứ của bị can. Nhân chứng đã ghé nhà chị dâu nhiều lần, và chứng kiến cuộc « chiến tranh lạnh » giữa hai người, bề ngoài tưởng họ có hạnh phúc, kỳ thật chỉ là gượng gạo. Chính bị can đã thú nhận với nhân chứng rằng nàng chẳng bao giờ làm vợ Sherman nếu Sherman trả hết món tiền khá lớn hắn mượn của nàng. Nàng lấy hắn chẳng qua để có hoàn cảnh đòi lại tiền nợ hắn rắp tâm quỵt. Nàng còn than thở là Sherman tỏ ra hết sức lạnh lùng đối với nàng. Hắn chỉ cất tiếng một khi cần thiết, và ban đêm hắn thích ngủ chung với con hơn là với vợ mới cưới. Tiếng là hôn nhân, nhưng giữa hai người chẳng có gì hết.
Luật sư bên bị đưa ra một bài bênh vực thật hùng hồn. Thái độ của Lydia trước tòa cũng không nhiều thì ít có lợi cho nàng. Mỗi lúc bằng cớ được trưng ra một nhiều. Bồi thẩm đoàn thảo luận riêng trong vòng một giờ đồng hồ. Toàn thể đều đồng ý là Lydia có tội.
Lydia bị kết án chung thân ngày 11/01/1873. Phiên tòa xử nàng kéo dài nhiều ngày liên tiếp. Kể cả đình hoãn mất gần một năm tròn
Trong thời gian thọ hình, Lydia luôn luôn phàn nàn là nàng bị oan. Nàng trộn thạch tín vào thức ăn của người thân chẳng phải vì nàng ghét họ, mà vì nàng thương họ. Nàng không muốn họ cực khổ hoặc đau ốm. Cái chết là một sự giải thoát đối với họ.
Dường như Lydia chết già trong tù. Trong số phụ nữ phạm tội đầu độc chồng con, Lydia được coi là kinh khủng nhất. Vì vậy, người ta đặt hỗn danh cho nàng là « nữ hoàng thạch tín ».
Hỗn danh « nữ hoàng thạch tín » có lẽ không đúng lắm.
Đề nghị đổi lại là « ác phụ thạch tín ».
Chú thích:
(1) khoảng năm 1830, thủ đô Vienne, Áo quốc, có 400.000 dân, trong số đó gái điếm đã chiếm 20.000.
Truyện Thứ Chín
Pháp Mối Tình Át-xít
Át-xít là một trong những món được dùng nhiều nhất để giải quyết hận tình. Hầu hết đều do ghen tuông. Bà vợ lớn nhan sắc đến độ tàn phai bị đức ông chồng bay bướm bỏ bê thường đón đường cô vợ bé măng tơ để tạt vào mặt một lon át-xít đặc sệt. Và kết quả giai nhân nghiêng nước nghiêng thành trong phút chốc biến thành quỷ dạ xoa.
Chẳng hạn vũ nữ C.Nh.
Tuy nhiên, đôi khi đàn ông cũng là nạn nhân của vụ tạt át-xít. Chuyện giữa những kẻ yêu nhau thường lắt léo như đường hẻm phía sau đô thành hoa lệ. Nên các vụ tạt át-xít cũng chứa đựng những éo le không tiền khoáng hậu.
Vai chính của thiên tình sử não nùng đầy nước mắt, máu, cường toan và …mủ hôi thối này là một cặp trai gái Pháp, yêu nhau một cách ghê gớm, yêu nhau đến nỗi có thể chết cho nhau được. Pháp là xứ có nhiều của lạ, sâm-banh, rượu vang, phó mát, cỏ-nhát, ba-tê Pháp ngon tuyệt cú mèo đã đành, nghệ thuật nấu ăn, pha rượu cốc-tay lại đạt tới mức thượng thừa, ai đã nếm thử một lần là suốt đời nhớ hoài nhớ mãi.
Ấy, nước Pháp còn một nghệ thuật khác, cao hơn nghệ thuật o bế thần khẩu một bậc. Khỏi nói, ai cũng biết nghệ thuật này là nghệ thuật tình yêu. Ôi thôi, bàn về tình yêu thì nước nào cũng tự coi mình là đàn anh, đàn chị. Các dân tộc chà và, cà ri Ấn độ thường cậy có Kama Sutra, mấy chú con Trời với tài ba được miêu tả trong Kim bình Mai thường chê thiên hạ là bết bát. Nhưng khách quan và công bình mà nói thì người Pháp có thể chưa giỏi bằng, và đặc biệt là chưa có « nhiều món ăn chơi bằng » Hoa-Ấn, song về khoản đam mê, khoản điệu nghệ thì họ là một dân tộc cự phách…
Ngoài cái thú …yêu đương độc đáo ra, có lẽ người Pháp chẳng còn gì đáng ghi vào lịch sử cổ kim nữa. Họ yêu thật lạ, thật chì. Thấy gái đẹp ngoài đường là hai mắt lác xệch, cặp giò như chùng hẳn lại và chôn xuống vỉa hè. Nếu thu gồm nhỡn tuyến đàn ông có mặt trong một bữa tiệc thì xoàng ra cũng đủ hơi điện chiếu sáng một tòa nhà lớn…
Họ đã yêu là yêu chết thôi. Chúng ta ăn cơm trưa xong thường nghỉ ngơi (cho bao tử làm việc), đi tắm cũng không dám vì sợ làm hại bộ máy tiêu hoá. Còn người Pháp lại khác. Bụng đói hay bụng no không phải là điều đáng quan tâm. Buổi trưa chúng ta nằm dưỡng sức thì họ hùng hục làm…tình.
Họ là dân tộc cực đoan về tình yêu, song về vấn đề hôn nhân lắm lúc họ lại bảo thủ ngoài sức tưởng tượng. Gần đây đã xảy ra vụ cô giáo 30 tuổi yêu cậu học trò 16 để rồi bị tuyệt vọng, dư luận đàm tiếu, gia đình ngăn cản, nàng phải mượn cái chết để giải thoát. Cái chết tức tưởi của nàng đã làm hàng triệu thanh niên nam nữ chảy nước mắt và được quay thành phim.
Câu chuyện « mối tình át-xít » xảy ra từ lâu mà không hiểu tại sao ít được nhắc tới. Tên chàng là Olivier và nàng là Michèle. Chàng là người Pháp chính cống nên chàng yêu cực đoan, nhưng đến khi tính việc trăm năm chàng lại bảo thủ một cây.
Nguyên do chàng là con nhà gia giáo. Song thân chàng sẵn sàng cho phép chàng làm tất cả mọi việc, trừ cái việc ngược với tiêu chuẩn môn đăng hộ đối. Thân phụ Olivier thuộc giòng giõi quý tộc. Ngày xửa ngày xưa, ông cố của chàng từng làm vua, và họ chàng từng ngự trị trong nhiều năm liên tiếp trên ngai vàng nước Pháp. Chế độ quân chủ không còn nữa, nhưng giòng máu « con vua thì lại làm vua » vẫn chảy trong huyết quản Olivier.
Chỉ riêng giòng máu vua chúa này cũng đủ bắt Olivier phải e dè, phương chi phụ thân chàng còn là chủ nhân một công ty nhập cảng tơ lụa lớn ở kinh đô ánh sáng Ba lê nữa. Nếu song thân chàng có con bầy, con đống, thì may ra chàng còn dám cưỡng lại kỷ luật thép của gia đình. Đằng này định mạng tai ác đã khiến chàng làm con một. Chàng được cưng như trứng mỏng, từ nhỏ đến khi trưởng thành chàng sống dưới sự che chở của gia đình.
Cũng như nhiều con nhà giàu khác, Olivier học hành không lấy gì làm xuất sắc. Chàng lại không có tài năng nào đặc biệt. Dầu vậy, chàng đeo đuổi giấc mơ họa sĩ. Song thân chàng muốn chàng tốt nghiệp cao đẳng thương mại để tiếp tục nghề nhà, nhưng vì chàng là con một nên nguyện vọng làm họa sĩ của chàng không hề bị ngăn chặn.
Phụ thân chàng, một người nhìn xa thấy rộng, không tỏ vẻ phản đối khi chàng yêu cầu theo nghề vẽ. Ông nghĩ rằng Olivier theo nghề vẽ chẳng qua chỉ là sự bốc đồng thông thường của tuổi trẻ thời đại. Ông chiều ý con một cách dễ dàng vì ông tin tưởng Olivier sẽ bỏ nghề họa sĩ sau khi cơn động cỡn nghệ thuật bị tàn lụi.
Với cuốn sổ chi phiếu của phụ thân, Olivier thuê một căn nhà rằng rãi, trang hoàng lộng lẫy gần khu đại học. Phòng vẽ của chàng được thiết trí không thua phòng vẽ của các danh học kiếm tiền như nước. Olivier vùi đầu vào đống bút lông, mực màu và giá vải. Chàng miệt mài sáng tạo, và một thời gian sau chàng hoàn thành một số họa phẩm. Như phụ thân chàng đoán trước, những họa phẩm này chẳng có tí gì nghệ thuật. Nó chỉ là những khung vải bệt màu loang lổ và sặc sỡ. Chỉ có thế thôi. Nếu Olivier không ngụ trong tòa biệt thự sang trọng, nếu chàng không có mức sống đế vương, khách đến xem tranh không được mời ăn uống phủ phê thì chắc chắn những khung vải vô giá trị này đã bị ném vào sọt rác.
Không ai dám nói thẳng với Olivier rằng chàng là họa sĩ hạng bét. Một số bạn bè lưu manh còn cho chàng uống nước đường bằng cách nức nở ca tụng chàng nữa. Và Olivier nở phồng mũi, lại chúi đầu vào đống mực màu, tiếp tục vẽ lia vẽ lịa…
Phụ thân Olivier tin rằng thằng con lãng tử sẽ trở lại với ông, và ông sẽ có thể nhào nặn tương lai của nó. Ông không ngờ được rằng Olivier đã vuột khỏi tầm tay kiểm soát rộng lớn của ông. Lần đầu Olivier sống xa gia đình. Và đó cũng là lần chót chàng ở với cha mẹ.
Vì chàng gặp tiếng sét ái tình…
Michèle có một sắc đẹp hơi độc đáo. Độc đáo ở đây có nghĩa là nàng không có những bộ phận đẹp trên cơ thể, chẳng hạn như mắt hồ thu long lanh, mũi không cần độn silicôn, miệng trái tim, răng trắng đều, vai thuôn, da mịn. Cái gì của nàng cũng chỉ ở mức trung bình nhưng chẳng hiểu sao chúng lại toát ra một sức hấp dẫn khác thường. Có lẽ bí quyết của ma lực này nằm trong luồng nhỡn tuyến nửa lừng khừng, nửa si mê, và trong giọng nói khàn khàn của nàng. Đàn bà giọng khàn khàn thường là quán quân phòng the, lực sĩ nước bền thế vận cũng bị cho « de » là cái chắc, phương chi Michèle của chúng ta còn được hóa công phú cho một tấm thân nhăng nhẳng, không dính chút mỡ, múi thịt nào cũng rắn chắc như đúc bê-tông.
Với cặp mắt đa tình thượng thặng, và tấm thân đều đặn lôi cuốn này, nàng trở thành cái đinh của đàn ông trong các buổi họp. Nàng được một danh họa để ý, và mời làm gái mẫu.
Dĩ nhiên trong những ngày đầu tiên, nàng làm gái mẫu với đầy đủ quần áo. Dần dà nghệ thuật tiến sâu hơn, và nàng cũng cởi bỏ thêm quần áo để rồi nàng thành gái mẫu lõa thể hoàn toàn, trước khi nàng ngụ luôn trong xưởng vẽ với nhà thợ vẽ.
Ông họa sĩ này người Mỹ, khoái nếp sống kinh đô ánh sáng nên bỏ rơi vợ con vù luôn một mạch qua Ba lê. Mối tình già nhân ngãi non vợ chồng giữa ông họa sĩ Mỹ và cô gái mẫu khỏa thân kéo dài không được bao lâu. Nói cho đúng, ông họa sĩ Mỹ chưa phải là người đàn ông thứ nhất trong đời nàng, cuộc đời bềnh bồng sóng gió.
Nàng đã ngồi mẫu nhiều lần. Ngồi mẫu vẽ cũng như ngồi mẫu nặn. Ngồi để đắp tượng mất thời giờ hơn nhiều. Có khi nàng phải ngồi cả buổi. Cho nên nàng mê ông điêu khắc cũng không phải quá đáng. Nhà điêu khắc này mang quốc tịch Thụy điển. Nàng cho ông điêu khắc Thụy điển leo cây và cặp kè với ông họa sĩ Mỹ. Lý do: ông điêu khắc hơi luống tuổi. Nhưng tránh vỏ dưa chỉ để gặp vỏ dừa, ông họa sĩ Mỹ này cũng chẳng trẻ gì hơn ông điêu khắc.
Vừa khi ấy Olivier xuất hiện.
Chàng trồng cây si với nàng. Nàng không giấu diếm với chàng quá khứ chẳng mấy đẹp đẽ của nàng. Thứ nhất, nàng sinh trong một gia đình nghèo, trong một khu nghèo, nàng chẳng được ăn học bao nhiêu. Thứ hai, nàng bồ côi từ nhỏ nên từ nhỏ nàng đã bị ném vào chợ đời phũ phàng và tàn bạo. Đối với một cô gái tứ cố vô thân, không có nghề nghiệp đàng hoàng, sống giữa Ba lê văn vật thì sa ngã là chuyện tất nhiên.
Michèle sa ngã, nàng gia nhập đạo binh thanh lâu. Trong thời gian này, nàng trải qua nhiều cơ cực. Nhờ dịp may, nàng thoát khỏi nanh vuốt thần bạch mi, nhảy vào địa hạt làm gái mẫu.
Olivier biết rõ nguồn gốc của nàng. Khốn nỗi, chàng chỉ biết rõ điều ấy sau khi yêu nàng tha thiết. Tuy nhiên, yêu là một chuyện, lấy nhau vì yêu lại là chuyện khác. Thoạt tiên, chàng chỉ nhắm mắt yêu nàng, và nàng chỉ nhắm mắt yêu chàng chứ chưa ai đề cập tới vấn đề ăn đời ở kiếp với nhau. Các cặp trai gái nào cũng vậy, cứ yêu nhau cho sướng cái đã, rồi sau này sẽ tính. Trai gái nước Pháp lại càng ít quan tâm đến hôn nhân hơn trai gái các nước khác.
Nhưng việc phải đến đã đến. Trong cơn đầu gối tay ấp, nàng ngỏ ý muốn làm vợ chàng. Nàng nói là sẵn sàng gánh chịu mọi sự hy sinh. Nàng thề thốt nếu không lấy được chàng sẽ uống thuốc độc quyên sinh. Đêm ấy, Olivier dự định thú hết mọi việc với song thân. Thấy gương mặt nghiêm nghị của cha, chàng chùn lại. Chàng chỉ dám than thở với mẹ. Mẹ chàng nghe chàng tâm sự hồi lâu và làm thinh không đáp. Olivier đinh ninh bà quở mắng. Trái lại, bà nói với chàng bằng giọng ngọt ngào:
-Con đừng tưởng mẹ không biết. Mẹ biết con quen Michèle từ lâu.
Olivier bàng hoàng:
-Trời, ai đã nói với mẹ?
-Khỏi cần ai nói, mẹ cũng biết. Con yêu Michèle, ngày nào con cũng đi chơi, đêm nào con cũng hẹn hò, cuối tuần nào con cũng về vùng quê đổi gió. Mọi người trong họ nội họ ngoại đều biết, chẳng riêng gì mẹ.
-Thưa mẹ, nghĩa là ba cũng…
-Dĩ nhiên.
-Chắc ba giận con lắm.
-Giận thì không. Chỉ hơi lo âu thôi. Ba là người sáng suốt và giàu kinh nghiệm. Ba nghĩ rằng sự đam mê của con chỉ là phản ứng của tuổi trẻ. Con trai lớn lên vấp phải bẫy tình là đương nhiên. Ba mẹ không cấm con yêu. Không cấm con tận hưởng những thú sống thanh niên. Nhưng mặt khác, con cũng đừng nên quên rằng gia đình ta thuộc hàng quý tộc, từ nhiều đời có uy danh lớn. Nếu xảy ra chuyện gì thì ba mẹ sẽ không thể nào sống được. Con lại là con một, ba con làm việc từ nhiều năm nay, và gây dựng được sản nghiệp đồ sộ này để lưu lại cho con.
-Thưa mẹ…
-Con chưa hiểu mẹ cũng đã hiểu con định thưa với mẹ đêm nay những gì. Con muốn xin con muốn xin cưới Michèle, phải không?
Mắt Olivier rực sáng:
-Thưa mẹ vâng. Nàng yêu con. Con cũng yêu nàng. Chúng con đã gắn bó mật thiết với nhau…
Giọng mẫu thân chàng lạnh lùng:
-Như mẹ vừa nói, ba mẹ không cấm con yêu. Nhưng ba mẹ không thể chấp nhận việc hôn nhân.
-Mẹ ơi, xin mẹ thuyết phục ba cho con. Con biết là mẹ thương con, mẹ tán thành nhiệt liệt.
-Olivier, con biết Michèle làm nghề gì chưa?
-Nàng làm mẫu vẽ.
-Trước đó, Michèle làm gì?

-Thưa mẹ, dĩ vãng là dĩ vãng. Trong đời, có ai dám chắc là không bị một lần lầm lạc. Nhưng đó không phải là lỗi của nàng. Vì bồ côi, vì hoàn cảnh kiếm sống, nàng phải lăn lưng vào nơi trà đình tửu quán. Song nàng vẫn trong như giá, vẫn trắng ngần. Vả lại,…
-Con đừng bênh vực nữa, vô ích. Con không thể nào lay chuyển được ba con.
-Nhưng còn mẹ?
-Mẹ không cưỡng lại ý ba.
-Thưa mẹ, ba vốn nghiêm khắc. Nếu mẹ có lòng thương con, và khoan dung đối với Michèle, con tin là sau cùng ba sẽ chấp thuận.
Bà mẹ ngẫm nghĩ một lát rồi thở dài, giọng vô cùng buồn bã:
-Về phần mẹ, mẹ có thể chiều chuộng mọi sở thích của con. Nhưng về vấn đề con cưới Michèle …
Bà sụt sùi khóc. Olivier tê tái cõi lòng. Chàng vốn yêu mẹ. Chàng không có đủ can đảm nhìn mẹ khóc, nhìn mẹ khổ sở vì chàng.
Đến khi chàng gặp lại Michèle, chàng tê tái cõi lòng không kém. Chàng thờ thẫn sánh vai người yêu đi trên đường phố. Kinh thành Ba lê đông như mắc cửi, vậy mà chàng vẫn cảm thấy cô đơn như đang lang thang trên hòn đảo hoang vắng giữa biển khơi.
Tình cờ cặp tình nhân qua tháp Eiffel. Ngọn tháp cao 300 mét –và là công thự cao thứ ba trên thế giới- từng là nơi chất chứa nhiều kỷ niệm giữa hai người. Hồi mới quen nhau, nàng đã rủ chàng lên tháp. Du khách thường lên đỉnh tháp bằng thang máy trả tiền vào những bữa đẹp trời. Hôm ấy mây sám giăng đầy nền trời vần vũ. Thoạt đầu hai người lên tầng hai để vào tiệm ăn. Sau đó chẳng hiểu sao, nàng nổi hứng kéo chàng lên tận đỉnh. Dưới chân hai người, thành phố Ba lê chìm trong màn sương. Nàng ôm chầm lấy chàng, rồi nói, giọng ướt nhèm nước mắt:
-Em thấy rõ lắm, anh ạ.
Chàng kinh ngạc:
-Em thấy gì rõ? Thành phố bên dưới hả?
-Không. Em vừa thấy tương lai của chúng mình. Tình yêu của đôi ta cũng mịt mù như màn sương.
-Hừ…em chỉ nghĩ vớ vẩn.
-Không, em rất thực tế. Em đoán trước gia đình anh sẽ ngăn cản, không cho anh lấy em làm vợ. Nhưng em nghĩ rằng gia đình anh không thể ngăn cản trái tim em đập. Không hiểu sao em chỉ muốn chết, anh ạ.
-Bậy nào.
Michèle ngậm thinh, không nói thêm gì nữa. Biết nàng buồn, Olivier bèn đánh trống lảng, kể sự tích và những giai thoại về tháp Eiffel cho nàng khuây khỏa. Nàng là dân Ba lê chính cống, song nàng lại hiểu rất ít về những danh lam thắng cảnh của Ba lê. Chàng nói tràng giang đại hải, không ngoài mục đích mượn chuyện tháp Eiffel để an ủi nàng. Nào là tình chúng ta sẽ trường tồn như tháp. Em thấy coi, thiên hạ đòi triệt hạ tháp nhiều lần mà tháp vẫn đứng trơ trơ. Tháp được khánh thành năm 1889 thì vẻn vẹn 10 năm sau dân chúng Ba lê ghét cay ghét đắng, bàn đến vấn đề triệt hạ tháp vì họ cho là tháp quá xấu, làm thành phố xấu lây. Nào là trong đại chiến thứ hai, người Đức đã nghĩ đến việc triệt hạ tháp để lấy 12.000 khúc sắt và 2 triệu rưỡi cái đinh ri-vê về chế tạo quân cụ. Nào là có lần hỏa hoạn xảy ra trên đỉnh khi các thang máy không chạy được khiến đội nón đồng phải trèo lên tận nơi để dập tắt ngọn lửa. Nào là có lần một nhóm cực đoan Algérie gài bom đồng hồ toan làm nổ tháp mà được gỡ ngòi kịp thời …Nào là, nào là…
Michèle tiếp tục giữ thái độ đăm chiêu gần như bí mật. Trong những ngày sau đó, Olivier dẫn nàng đi thăm những thắng tích. Ba lê là thành phố có nhiều thắng tích lịch sử lừng danh nhất. Chàng hy vọng nàng sẽ nguôi nỗi buồn, và cả chàng cũng vậy.
Chàng đã lầm. Chàng đã trổ tài kể truyện thao thao bất tuyệt, kết quả của nhiều năm ăn học, song người đẹp vẫn dửng dưng. Những cảnh đẹp độc nhất vô nhị trong kinh đô ánh sáng không thể làm nàng rung động. Nàng sánh vai chàng mà thần trí nàng để đâu đâu.
Chủ nhật ấy, hai người đến viện bảo tàng Louvres, viện bảo tàng vĩ đại nhất thế giới. Nàng không quan tâm tới pho tượng thần Vệ nữ hoặc họa phẩm Mona Lisa, được coi là siêu phẩm độc nhất vô nhị. Nàng lặng lẽ nắm tay chàng đi hết 3 cây số hành lang trong viện bảo tàng, mặc cho chàng than thở bàn chân bị giày chật làm sây sát. Đột ngột, nàng dừng lại, hỏi chàng:
-Anh có yêu em bằng em yêu anh không?
Chàng kinh ngạc:
-Dĩ nhiên là bằng. Nhưng tại sao em lại hỏi anh như vậy?
-Vì em sợ.
-Sợ gì?
-Chúng mình bị chia rẽ.
-Không bao giờ. Không sức mạnh nào trên cõi thế này có thể chia rẽ đôi ta. Dầu anh chết, anh vẫn yêu em.
Nàng xiết chặt tay chàng:
-Thật thế, anh nhé.
Hai người đã ra đến kế cận nhà thờ. Giáo đường này có một tập quán đặc biệt, ấy là cứ hai chủ nhật một lần làm lễ cầu nguyện cho linh hồn các nhà thơ đã quá cố. Khi ấy, buổi lễ đang được cử hành.
Chàng bảo nàng:
-Chúng mình vốn là nghệ sĩ. Ngoài thú vẽ, anh còn mê làm thơ. Sau ngày anh chết, em nhớ đến đây đọc kinh cho anh.
Nàng đáp:
-Em sẽ ở bên anh mãi mãi.
Michèle vừa dứt lời thì giông tố xảy ra. Giông tố này là một gã đàn ông lạ từ một góc đường vụt tới. Có lẽ hắn theo dõi cặp tình nhân từ lâu, với ý định đen tối nhưng chưa có hoàn cảnh ra tay vì đường phố sáng chủ nhật ở khu bảo tàng thường đông đúc.
Michèle chưa kịp nhìn thấy gì thì Olivier đã thét lên một tiếng khủng khiếp rồi ngã vật xuống đường. Gã đàn ông lạ chạy biến vào con đường gần đấy, và hòa lẫn trong đám đông.
Mọi việc đã diễn ra nhanh chóng, đến khi Michèle hiểu rõ thì đã muộn. Quá muộn. Gã đàn ông đã hắt trọn một ve nước vào mặt Olivier. Hắt trọn vào giữa mặt. Nước vàng này là át-xít. Một thứ nước át-xít đậm đặc có sức tàn phá ác liệt. Chạm sắt, sắt còn bốc khói, nhão nhoẹt trước khi trở thành méo mó. Huồng hồ da thịt. Da thịt trên mặt mềm mại. Cho nên khuôn mặt khôi ngô, sáng sủa, đầy đặn của Olivier đã trở thành một khối thịt siêu lệch, nhầy nhụa và ghê tởm. Michèle phục xuống cạnh người yêu, khóc lóc thảm thiết.
Nàng tưởng chàng chết.
Chàng không chết. Nhưng sống cũng như chết. Vì hai mắt chàng –hai mắt sâu thẳm có khả năng soi thấu lòng người và lôi kéo những người đàn bà rắn rỏi nhất- đã bị chất át-xít xuyên cháy. Chàng đã bị mù lòa.
Nạn nhân được chở ngay đến bệnh viện. Các danh y trong thành phố và các phương tiện y khoa hiện đại nhất được huy động, song không thể nào cứu được Olivier khỏi mù.
Từ đó, Olivier sống trong đêm tối thăm thẳm. Cuộc điều tra của cơ quan an ninh tiến hành ráo riết. Gia đình nạn nhân còn tung tiền thuê các sở trinh thám tư truy tầm thủ phạm nữa. Tuy nhiên, tìm ra sự thật trong đống rác ngút trời không phải dễ. Quá khứ của Michèle có thể được ví với đống rác ngút trời. Trước khi ăn nằm với Olivier, nàng đã ăn nằm với nhiều người đàn ông khác. Đó là những cuộc chung chạ « chính thức ». Nàng từng chung chạ với nhiều người khác một cách bán chính thức hoặc thầm lén nữa. Nói trắng ra, nàng vốn là con điếm. Olivier bị tạt át-xít có lẽ vì một gã đàn ông nào đó ghen tuông. Nhưng hắn là ai? Là kẻ đã từng chiếm hữu thân xác nàng thân xác chẳng lấy gì làm tốt đẹp, hay là kẻ hoàn toàn xa lạ?
Truy tầm căn cước những kẻ ăn nằm với Michèle là việc rất khó. Song khó mà còn làm được. Làm sao truy tầm được những kẻ vô danh chỉ yêu nàng mà chưa hề được nàng đền đáp bằng ân huệ xác thịt?
Do đó cuộc điều tra bị khựng lại. Không một tia sáng nào được rọi vào vụ ám sát. Sau nhiều tháng công cốc, cảnh sát Ba lê đành miễn cưỡng xếp gác hồ sơ.
Thời gian lạnh lùng trôi qua…
Trong khi ấy Olivier vẫn nằm bệnh viện. Thoạt đầu Michèle ở luôn trong nhà thương, săn sóc chàng ngày đêm. Nàng tận tụy với chàng hơn cả vợ tận tụy với chồng, mẹ tận tụy với con, khiến ai nấy đều khen ngợi. Riêng song thân Olivier là không khen ngợi. Trái lại, họ càng bực mình và tức giận. Họ cho rằng Olivier bị tạt át-xít là vì nàng, là vì dĩ vãng điếm đàng lang chạ của nàng. Nếu Michèle là con nhà nề nếp thì Olivier đâu đến nỗi thân tàn ma dại. Bởi vậy, song thân Olivier nghiêm khắc ngăn cấm Michèle bén mảng đến bệnh viện, nơi chàng điều trị.
Sự vắng mặt bắt buộc của Michèle làm cơn bệnh của Olivier gia tăng. Chàng lên cơn sốt li bì. Sau khi khỏi sốt, chàng bỏ ăn, bỏ ngủ. Cha mẹ chàng túc trực bên giường, tìm lời khuyên giải nhưng vô hiệu. Olivier sa sút thấy rõ. Chỉ trong một thời gian ngắn chàng vốn đẫy đà giờ chỉ còn da bọc xương. Y sĩ điều trị bó tay trước cơn bệnh đột biến. Sau cùng, gia đình chàng đành phải chấp thuận cho Michèle trở lại săn sóc.
Michèle như có phép màu. Nàng vừa xuất hiện là Olivier hết bệnh. Chàng ăn lại, ngủ lại đều đặn như cũ. Michèle tiếp tục đóng vai điều dưỡng viên, chăm nom ăn uống, thuốc men, ngủ ngáy và tắm rửa cho chàng.
Olivier về nhà sau khi sức khỏe được hoàn toàn bình phục. Trừ đôi mắt bị mất ánh sáng. Và gương mặt đầy thẹo. Nhưng tình yêu của Michèle đối với chàng vẫn còn nguyên vẹn. Còn thắm thiết hơn nữa là khác.
Sự tận tụy của Michèle dần dà thuyết phục được gia đình Olivier. Ban đêm, nàng chỉ chợp mắt một giấc ngắn. Suốt ngày nàng ở cạnh Olivier. Nàng đọc cho chàng nghe những bộ tiểu thuyết mới nhất. Nàng hát những bài ca chàng ưa thích. Nàng đẩy xe cho chàng tắm nắng, dạo mát, tập thể dục. Nàng chỉ nghĩ đến chàng, quên cả trang điểm. Ban đêm, nàng ngủ trong căn phòng đối phòng chàng. Nàng chờ mọi người ngủ say mới âm thầm đến với chàng. Chàng chỉ bị mù, không nhìn thấy gì, chứ chàng không hề bị thiếu thốn tình yêu. Kể cả tình yêu tinh thần lẫn xác thịt.
5 năm hạnh phúc trôi qua rất nhanh. Michèle không hề hé răng đòi hỏi. Nhưng Olivier không thể ngậm miệng được mãi. 5 năm trước, khi chàng còn sáng mắt, chàng ngỏ lời xin lấy Michèle làm vợ thì song thân chàng cương quyết từ chối. Chàng tin tưởng giờ đây song thân sẽ không từ chối nữa. Vả lại, chàng đã đến một quyết định dứt khoát: trong trường hợp không được gia đình chấp thuận, chàng sẽ một mình làm lễ thành hôn.
Nhưng song thân chàng đã hiểu. Đành rằng Michèle không phải là cành vàng lá ngọc, song vị tất nhưng những cô gái cành vàng lá ngọc khác khó thể tận tụy với Olivier như nàng. Thời gian 5 năm đã cho họ thấy Michèle là cô gái nết na. Nàng làm nghề lầu xanh chẳng qua là do hoàn cảnh bắt buộc. Nàng đã chuộc lại lỗi lầm cũ. Nàng đã mang lại nguồn sống vô tận cho Olivier. Dầu chàng là con một, dầu chàng sẽ thừa hưởng cả một gia tài kếch sù, song thân chàng đã chấp thuận cho Michèle trở thành vợ chính thức của chàng.
Hôn lễ được sửa soạn linh đình.
Thì giông tố xảy ra.
Giông tố lần này không phải là chai nước át-xít làm thẹo mặt và mù mắt. Và nạn nhân lần này cũng không phải là Olivier.
Hôm ấy Michèle đi vắng. Nàng được tài xế nhà lái xe đến một tiệm may sang trọng thử lại áo cưới và mua sắm một số đồ cưới. Trong tư thất tráng lệ của gia đình Olivier chỉ còn lại Olivier và song thân chàng. Một chiếc xe của công an từ từ chạy vào hoa viên rộng rãi.
Một nhân vật công an cao cấp xuống xe. Người này đến thông báo một tin quan trọng: hung phạm trong vụ tạt át-xít đã bị thộp cổ. Hắn là một kẻ bán hàng xén tồi tàn. Hắn thú nhận đã đích thân tạt chai cường toan tai hại vào mặt Olivier. Sở dĩ hắn thú nhận tội lỗi là để khi thở hơi cuối cùng hắn trút bỏ được hối hận. Y sĩ cho biết hắn sắp chết vì bệnh hoại huyết. Và hắn đã gọi điện thoại cho cảnh sát, khai hết sự thật.
Sự thật…chao ôi, sự thật quá đỗi tàn bạo. Trong lời khai của anh bán hàng xén, một chi tiết kinh thiên động địa đã được phanh phui. Chi tiết này có tính chất bất ngờ nên thoạt nghe, chàng trai si tình mù mắt Olivier đã ngất xỉu.
Hung thủ thú nhận chính hắn tạt át-xít, song hắn không phải sở hữu chủ của chai át-xít. Hắn cũng không hề mảy may ghen tuông, thù hằn với nạn nhân. Hắn không hề ngửa tay lãnh một xu teng nào trả công cho vụ tạt át-xít.
Lý do khiến hung thủ đón đường tạt át-xít vào mặt Olivier là vì ái tình. Hắn trung thành với nàng như con chó trung thành với chủ. Nàng bảo hắn nhảy từ đỉnh tháp Eiffel xuống đất tự vận, hắn cũng tuân lệnh răm rắp chứ đừng nói là tạt một chai át-xít tầm thường nữa. Nàng trao át-xít cho hắn, dặn dò cẩn thận là đến đợi nạn nhân tại đâu, vào hồi mấy giờ, và sau khi tạt át-xít thì phải trốn đi đâu.
Nàng là ai? Chúng ta đã biết.
Nàng chủ mưu vụ tạt át-xít vì nghĩ rằng chỉ có làm chàng mù mắt thì mới độc chiếm được chàng. Đó là lời nàng khai trước tòa.
Điều nàng không khai, song tòa án đã biết rõ có thể được tóm tắt như sau: Nàng chủ mưu vụ tạt át-xít là để độc chiếm cái sản nghiệp khổng lồ mà chàng trai con một được thừa hưởng.
Truyện Thứ Mười
Anh Quốc Giòng Họ Ăn Thịt Người
Con người man rợ thường khác con người văn minh ở 2 điểm: thứ nhất, ăn thịt đồng loại ; thứ hai, loạn luân. Về vấn đề loạn luân, nghĩa là những người cùng máu mủ gia đình lấy nhau làm vợ chồng, thì lịch sử đã có nhiều trường hợp anh chị em vua chúa lấy nhau để giữ ngai vàng khỏi lọt vào tay người ngoài. Sự loạn luân hầu như trở thành phong tục trong những làng xã giỏi chuyên về một nghề bí truyền. Họ sợ trái gái kết hôn ở xa sẽ làm mất nghề do ông cha để lại.
Loạn luân vì hoàn cảnh còn có thể được xã hội tha thứ. Nhưng « ăn thịt người » thì không. Dường như ở trong rừng rậm thuộc một vài miền hẻo lánh Phi-Á đang còn sống sót một số rất ít bộ lạc ăn thịt người. Những phần tử tiền sử này dần dần bị mai một trước sự săn đuổi ráo riết của thế giới văn minh.
Đầu thế kỷ thứ 17, ở miền bắc Anh quốc có nhiều vụ ăn thịt người kỳ quặc. Đây không phải một bộ lạc. Mà là một giòng họ. Đúng hơn, một gia đình gồm già trẻ lớn bé 48 người. Họ cũng không phải là người tiền sử. Họ là dân Anh trăm phần trăm. Những trớ trêu của đời sống đã xô đẩy họ vào vòng « ăn thịt người ».
Họ là gia đình Beanes Sawney. Điều hơi lạ là gia đình Beanes tiếp tục hành nghề « ăn thịt người » trong đúng 25 năm. Phải, đúng một phần tư thế kỷ mới bị lột mặt nạ. Dầu muốn dầu không, tấn thảm kịch gia đình Beanes đã viết trong lịch sử nhân loại những trang đầy máu và nước mắt.
Câu chuyện rất giản dị. 48 người thuộc gia đình Beanes ăn thịt người, bị bắt rồi bị hành hình. Tuy rất giản dị, họ vẫn gây ra mối hoài nghi lay lứt. Nếu người ta không lưu lại hồ sơ, với đầy đủ bằng chứng cụ thể, vị tất có ai tin.
Vai chính trong câu chuyện Sawney sinh sống tại một quận miền bắc Anh quốc, gần Edinburg, dưới thời vua James đệ nhất. Cha của Sawney làm nghề cầy ruộng ở đó, cho nên sau ngày hắn chào đời ai cũng nghĩ hắn sẽ theo gương cha. Nghề nông vất vả, nhọc nhằn thật đấy, song đủ bảo đảm một nếp sống thoải mái, và nhất là tự do. Thế nhưng Sawney lại lý luận khác. Hắn ghét cay ghét đắng sự cần cù. Bất cứ cái gì đòi hỏi sự làm việc là hắn trốn tránh. Khi mọi người kéo nhau ra ruộng thì hắn kiếm cớ lẩn lút ở nhà. Hắn lại thù hằn sách vở. Hắn lớn tồng ngồng mà chưa biết đọc, chưa biết viết, thậm chí hai phép cộng trừ dễ nhất hắn cũng không biết.
Lười biếng đã đành, hắn còn xấu tính nữa. Bạ đồ đạc, tiền nong của ai hắn cũng thó. Cha mẹ răn dạy hắn không thèm nghe. Hễ cha mẹ hắn lên tiếng khuyên bảo là hắn sửng cồ, cãi lại tay đôi.
Lớn lên, Sawney bỏ nhà lập thân một mình. Cha mẹ hắn cầu mong hắn đi cho rảnh mắt nên không hề ngăn cản. Nhờ bộ óc lưu manh, Sawney sống ung dung một thời gian dài bằng thủ đoạn lừa bịp người khác. Hắn gặp một thiếu phụ cũng « bụi đời », lười biếng và gian giảo như hắn. Hắn lấy thiếu phụ làm vợ. Hai người rủ nhau đến một khu vực hẻo lánh dọc bờ biển Galloway.
Chẳng hiểu sao vợ chồng Sawney lại mầy mò đến giẻo đất quạnh hiu và tiêu điều này. Có lẽ di tích con người tiền sử man rợ thức dậy trong lòng Sawney. « Dinh thự » của đôi vợ chồng son giang hồ là một cái động không lấy gì làm rộng, tọa lạc dưới những mỏm đá nhọn chĩa ra biển. Khi nước thủy triều rút xuống, miệng hang được lộ ra. Tiếp theo miệng hang là một cái « sân » nhỏ bằng cát. Thạch động không rộng nhưng khoét sâu trong lòng núi đá, khoảng 1.500 đến 2.000 mét. Nó gồm nhiều ngõ ngách quanh co trông như mê hồn trận. Xế cửa động có một tảng đá khổng lồ chắn ngang, người đứng ngoài không thể nhìn thấy. Lối vào cửa động lại quá nhỏ hẹp, nếu ai khám phá ra chắc sẽ không tiến vào vì tưởng đó chỉ là rãnh núi, không ngờ đó là hang ngầm.
Mỗi ngày thủy triều lên xuống hai lần. Cứ mỗi lần nước dâng lên là khúc ngoài của thạch động bị chìm ngập. Khoảng một phần ba hang đã bị chìm ngập như vậy nên « dinh thự » của vợ chồng Sawney biến thành pháo đài bất khả xâm phạm.
Vợ chồng Sawney ăn ở trong hang ngầm với ý định rõ rệt. Họ muốn dùng nó làm sào huyệt cho những hoạt động tiền sử của họ.
Thoạt đầu, Sawney chỉ đặt nặng vấn đề cướp bóc. Chung quanh hang đá là một vùng hoang vắng, cách một quãng xa mới có làng mạc. Và những trung tâm dân cư thưa thớt này cũng ở rải rác, liên lạc với nhau bằng những con đường độc đạo lượn ngoằn ngoèo giữa núi đá và biển khơi mênh mông. Phục kích bên đường, lắt túi khách thương đi qua là chuyện dễ ợt. Sawney là người biết cân nhắc nên sau một thời gian đón đường mãi lộ, hắn thay đổi chương trình. Hễ chộp được người nào, cướp tiền bạc, hành lý xong là hắn làm thịt người ấy. Như vậy để phi tang.
Sawney chỉ cần tiền mặt để mua lương thực ở các chợ và tiệm tạp hóa trong vùng. Tuy vậy, hắn cũng đoạt đồ nữ trang, đồng hồ, quần áo và những đồ vật nào xét thấy đáng giá, khả dĩ bán được. Hắn khôn như ranh, hắn chọn lựa kỹ càng. Những món nào không tạo ra sự nghi ngờ hoặc không có dấu vết riêng hắn mới đem đi tiêu thụ. Kỳ dư những món còn lại đều được hắn xếp chất thành đống trong kẹt hang.
Đồng hồ, nữ trang mỗi ngày một nhiều, vậy mà tiền mặt lại hiếm. Hiếm đến nỗi vợ chồng Sawney sinh sống một cách vô cùng đạm bạc mà vẫn không đủ cung cấp. Chẳng qua dân chúng địa phương không có thói quan mang theo nhiều tiền trong mình. Vợ chồng Sawney vắt mũi đút miệng cũng bị thiếu hụt thường trực. Đem bán tống bán tháo những vật dụng tước đoạt được thì có thể dư dả, nhưng lại có thể dẫn đến tòa án và pháp trường.
Cho nên Sawney áp dụng một phương pháp thích hợp: ăn thịt luôn nạn nhân.
Thói quen ăn thịt người khởi đầu từ đó. Vô chồng Sawney chặn giết một khách thương trên con đường độc đạo, kéo xác về thạch động, rồi trong bóng tối được chiếu sáng lờ mờ bằng cây đèn cầy lập lòe, dùng dao nhọn mổ bụng nạn nhân, lấy bộ lòng ra, rồi lần lượt chặt tay, chặt chân ra từng khúc ngắn. Đùi nạn nhân và những khúc có thịt được phơi khô, ướp muối đàng hoàng, cùng với một số gia vị thơm tho trước khi được treo thành hàng dài vào những cái móc sắt do Sawney rèn chế, trông như móc hàng thịt. Kho thịt người ướp muối này nuôi sống gia đình Sawney trong suốt 25 năm trời. Xương xẩu còn lại được chất trong một góc thạch động.
Những vụ mất tích đột ngột trong vùng đã gây ra sự hoảng sợ. Trước đó nạn nhân chỉ bị chặn cướp và giết chết. Tuy vậy xác chết vẫn còn. Giờ đây, những thi hài đã biến mất. Sự hạ sát không làm dân chúng địa phương hoảng sợ bằng sự biệt tích. Nhất là sự biệt tích vô cùng bí mật. Sự biệt tích không ai có thể giải thích.
Các cơ quan an ninh sở tại gia tăng nỗ lực điều tra hòng khám phá nơi xác chết được giấu nhẹm. Đặc biệt là khám phá hung thủ. Nhưng vợ chồng Sawney vẫn tiếp tục hoạt động an toàn. Hang đá ở mấp mé mặt biển, mỗi ngày bị ngập nước hai lần, nên không ai ngờ bên trong có người ở. Tất nhiên không ai ngờ là những nạn nhân bị chặn cướp và hạ sát được chở về đó. Hung thủ cũng sinh sống trong đó. Và tất nhiên không ai ngờ là nạn nhân đã bị…ăn thịt.
Nếp sống của vợ chồng Sawney vẫn trôi chảy một nhịp bình thường. Họ cũng sinh con đẻ cái như mọi cặp vợ chồng văn minh khác. Duy khác một điều là con cái họ được nuôi luôn trong hang ngầm. Nói cho đúng, gia đình Sawney không hoàn toàn sống trong thạch động. Từ khi vấn đề lương thực được giải quyết thỏa đáng với thịt sống thừa thãi, Sawney có thể dùng tiền bạc cướp được để mua sắm vật dụng cần thiết khác. Thỉnh thoảng vợ chồng Sawney rời hang đá, phục sức chỉnh tề đến các cửa tiệm trong làng kế cận. Họ không có những nét bất lương khiến nhân viên an ninh tưởng họ là dân tôn trọng pháp luật. Họ cũng không có những nét đặc biệt cho nên họ có thể trà trộn giữa đám đông, không sợ ai để ý.
Bầy con của Sawney gồm toàn những đứa khỏe mạnh, mặc dầu chúng thiếu thuốc men, thiếu ánh sáng. Chúng được ăn đầy đủ chất thịt, có lẽ vì vậy mà chúng ít đau ốm. Sự giết chóc và ăn thịt người trở thành thói quen, ăn sâu trong xương máu chúng. Đó là một cách đấu tranh để sinh tồn. Một cuộc đấu tranh hợp lý vì vợ chồng Sawney đã sinh sản được những 14 đứa con. Họ không làm hắc điếm thì chúng phải chết. 14 đứa con này gồm trai gái lẫn lộn. Chúng sống với nhau từ nhỏ đến lớn, rồi khi chúng trưởng thành, đứa này ăn nằm với đứa kia để sinh sản thêm một giòng con mới gồm 8 đứa trai và 14 đứa gái. Nghĩa là Sawney có 22 đứa cháu cả thảy.
Gia đình đông đúc như vậy mà chẳng hiểu sao cơ quan an ninh địa phương lại để họ được sống yên ổn. Nghe đâu một số nhân viên cảnh sát héo lánh tới khu vực hang ngầm là bị bầy con nhung nhúc của Sawney bắt làm thịt nên từ đấy không ai dám đi lang thang một mình nữa.
Đám con cháu của Sawney không hề được học hành. Chúng chỉ được dạy cách nói chuyện với nhau, cách giết người và cách mổ bụng nạn nhân, xẻ thịt ướp tiêu muối. Đứa nhỏ thì được nuôi giấu trong hang. Khi bắt đầu lớn, có sức khỏe và trí khôn mới được ra khỏi động, và tháp tùng đàn anh, đàn chị trong các cuộc chặn đường đoạt của rồi phụ lực làm thức ăn thịt người. Chỉ khi nào thu thập đầy đủ kinh nghiệm chúng mới được giao nhiệm vụ hẳn hòi.
Bầy con cháu của Sawney mỗi năm một gia tăng. Tuy vậy, số nạn nhân bị lóc thịt phơi khô cũng gia tăng. Gia tăng đến nỗi một phần thịt phơi khô bị hư thối. Gia đình Sawney quen ăn thịt người, nhưng cũng khảnh ăn ra phết. Do đó họ đành vứt bỏ thịt hư xuống biển.
Kết quả là thỉnh thoảng người ta tìm thấy những thỏi thịt nổi lềnh bềnh trên mặt biển, bị tấp vào bãi cát. Cơ quan an ninh đoán biết là thịt người nhưng không thể xác định được danh tính của nạn nhân cũng như thời gian hạ sát. Dầu sao thì cơ quan an ninh cũng xác định được đó là di tích của hàng trăm người đã bị mất tích.
Thoạt tiên, dư luận chưa tin. Dần dà, một phần sự thật được hé lộ làm ai cũng bàng hoàng. Giết người cướp của là chuyện thường xảy ra, không đáng kinh ngạc. Cho dẫu nạn nhân bị chăt chân, chặt tay chăng nữa cũng không đáng kinh ngạc lắm. Chứ còn lóc thịt, ướp muối tiêu rồi đem phơi khô thì thật là quái gở. Bởi vậy dư luận xa gần đều sôi sùng sục.
Ngọn trào phẫn nộ của công chúng đã dẫn đến thái độ nóng nẩy của cơ quan an ninh. Họ không chịu đựng được những lời ta thán, thóa mạ nên hốt hoảng phóng ra nhiều cuộc bắt bớ. Dĩ nhiên là bắt bớ toàn những kẻ vô tội. Thành thử hơn nữa là nhiều kẻ vô tội này đã bị hành quyết. Trong khi đó, gia đình Sawney vẫn sống an toàn phây phây dọc bờ biển hoang vu, bên trong thạch động bất khả xâm phạm.
Rồi ngày tháng lặng lẽ trôi qua. Kế hoạch « hắc điếm » của Sawney được tiến hành trên một quy mô rộng lớn hơn. Có lần Sawney tung hơn một tá con cháu vào vòng chiến, phục kích khoảng 6 khách thương. Như thường lệ, khách thương bị hạ sát toàn bộ, không một ai trốn thoát. Sawney tổ chức cuộc chặn đánh như viên tướng cầm quân. Một toán chặn đầu. Toán thứ hai chặn hậu. Hai toán khác núp dọc theo đường độc đạo, chờ hiệu lệnh được ban ra là ồ ạt tấn công chớp nhoáng và ác liệt. Khách thương chạy lên phía trước hoặc thót ra phía sau đều lọt vào ổ phục kích.
Cơ quan an ninh lại mở các cuộc điều tra, và cũng như trong quá khứ họ không vớ được dấu vết khả nghi. Hơn một lần, các nhóm tuần tiễu võ trang hùng hậu của chính quyền đã rầm rộ kéo qua hang ngầm mà không ai để ý.
Thế nhưng tình hình an toàn kỳ lạ này không thể kéo dài được mãi. Không ai trên đời có thể không mắc phải lỗi lầm. Sawney đã làm ăn thông suốt trong đúng một phần tư thế kỷ, sớm muôn hắn sẽ để lại hớ hênh.
Hớ hênh của gia đình Sawney rất giản dị. Cũng giản dị như nếp sống loạn luân và ăn thịt người của họ. Đúng ra, Sawney phải hớ hênh như vậy từ nhiều năm trước. Chờ những 25 năm hắn mới bị lột mặt nạ, dầu muốn dầu không Sawney đã lập được thành tích phi thường.
Lần thứ nhất sau 25 năm, bầy con cháu của Sawney chặn đường giết người đã bị đánh bại. Một cặp vợ chồng cưỡi ngựa từ chợ làng bên dại dột đi qua con đường độc đạo. Có hai người nên gia đình Sawney coi là trò đùa. Sau khi bố trí cẩn thận, chúng tóm bắt người vợ, lôi xềnh xệch đến bụi rậm. Và trong khi một nhóm vật lộn với người chồng cứ bám chặt lấy lưng ngựa, một nhóm khác bắt tay ngay vào việc làm thịt sống. Chúng hối hả xé nát quần áo người vợ rồi thản nhiên cắt họng, chặt tay, chặt chân mặc cho nạn nhân vùng vẫy kêu la. Cảnh tượng này làm người chồng sợ toát bồ hôi. Y nhận thấy y không có hy vọng sống sót. Trừ phi y liều mạng.
Và y liều mạng tả xung hữu đột, huy động sức mạnh cuối cùng tiềm ẩn trong cơ thể để phá mở đường máu. Một số con cháu của Sawney bị y quật ngã và đấm đá trọng thương. Nhưng bọn chúng kéo tới mỗi lúc một đông.
Suýt nữa người chồng đã bị làm thịt nếu một toán khách thương khác không xuất hiện kịp thời trên con đường ngoằn ngoèo. Toán này gồm trên 20 người đàn ông lực lưỡng. Nghĩa là đông hơn, khỏe hơn đạo quân của Sawney. Toán khách thương phi ngựa đến nơi giữa lúc người chồng bị giật ngã xuống chân ngựa, và bọn man rợ sửa soạn thọc tiết.
Một màn giao phong diễn ra. Bọn con cháu của Sawney chỉ quen hiếp đáp khách thương cô đơn chứ chưa bao giờ so tài với một lực lượng ngang bằng. Huống hồ lần này chúng lại rơi vào phe thiểu số.
Tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng, bọn chúng đánh nhau được một lúc thì hè nhau chạy thẳng một mạch, vứt bỏ thi thể của thiếu phụ bị chặt mổ đầm đìa máu lại trên bãi cát. Toán khách thương không dám đuổi theo vì trời đã xẩm tối. Hơn nữa, họ không quen thuộc địa hình địa vật trong vùng.
Dù sao chính quyền địa phương cũng đã nắm được những bằng cớ quan trọng. Một nạn nhân chết. Một nạn nhân sống sót. Và hơn 20 người chứng kiến tận mắt những gì rùng rợn ngoài sức tưởng tượng đã xảy ra. Cuộc giao phong ngắn này là lầm lẫn đầu tiên và cũng là lầm lẫn cuối cùng của gia đình Sawney.
Người chồng về ngay thị trấn, trình báo nội vụ lên quan tòa. Từ lâu, tòa án vẫn chờ mở lại đống hồ sơ ám bụi về hàng trăm nạn nhân bị mất tích một cách bí mật, về những khúc thịt ướp muối dọc bờ biển…Nhờ lời khai của người chồng mất vợ và của toán khách thương, tòa án đã có thể kết luận là đám cướp gồm toàn thanh niên, chúng ăn hàng trong nhiều năm. Chúng còn có những hành động man rợ, và điều quan trọng nhất là chúng sinh sống trong vùng.
Sống trong vùng, nghĩa là ở đâu? Cơ quan an ninh đã tìm kiếm đỏ mắt mà không thấy mặc dầu họ không bỏ qua một tấc đất nào.
Viên quan tòa bèn thảo tờ trình đệ lên quốc vương James đệ lục, khi ấy trị vì Anh quốc. Nhà vua đích thân xem xét nội vụ, và đích thân ngự giá đến nơi với một đạo quân nhỏ gồm 400 binh lính võ trang và một số chó săn giỏi.
Đạo quân này, với sự tiếp sức của dân chúng địa phương, dưới sự điều khiển trực tiếp của quốc vương xục xạo khắp hang cùng ngõ hẻm. Nhưng kết quả vẫn là con số không. Còn lại rặng núi đá và con đường độc đạo dọc bờ biển luôn luôn bị nước chìm ngập. Nhà vua ra lệnh cho toán quân lục lọi từng hốc đá, bụi cỏ. Không may cho gia đình Sawney: toán quân tìm kiếm đến gần thạch động giữa khi nước triều rút xuống để lộ một lối đi hiểm trở. Nhóm tiền sát sửa soạn thoái lui thì đàn chó sủa vang.
Thì ra đàn chó đánh hơi thấy mùi thịt chết. Và mùi người sống. Đàn chó ùa nhau chạy vào trong hang ngầm. Biết có người núp bên trong, nhà vua bèn dàn quân tứ phía, rải rác trên một diện tích rộng lớn, hầu ngăn chặn đối phương tẩu thoát.
Nhà vua đoán đúng. Đường trong hang ngầm lượn vòng như con rắn, đi hoài đi mãi không hết. Những bó đuốc tẩm nhựa được đốt cháy, thạch động tối om vụt sáng như ban ngày để thấy toàn thể già trẻ lớn bé của giòng họ Sawney. Nghe tiếng động, gia đình Sawney kéo nhau rút sâu vào tận trong xa, và nằm ép trong kẹt đá, với hy vọng quân đội của nhà vua chỉ vào nửa chừng rồi bỏ cuộc.
Sawney đã lầm.
Đàn chó vẫn sủa. Toán quân thận trọng tiến từng bước. Gươm giáo được tuốt sáng ngời. Theo lệnh vua, kẻ nào toan chạy trốn sẽ bị đâm chết tại chỗ.
Mới đầu, toán quân tới nơi treo thịt ướp. Hàng chục xác người, đàn ông và đàn bà, bị treo ngược đầu, xương được lóc sạch, da và thịt đã đổi màu, một mùi in ỉn xông lên làm mọi người phải bịt mũi để khỏi nôn ọe. Trong hang kế bên là quần áo, đồ vật của nạn nhân, chất thành đống cao nghễu nghện. Nhiều món đã mủn, đụng nhẹ là nát bấy vì thiếu hơi nắng. Đâu đâu cũng có mùi tanh hôi. Vào xa hơn nữa là nơi cất giữ xương tay, chân dài lòng thòng, và đầu lâu, dưới ánh đuốc bập bùng, những cái sọ dừa nhe răng khủng khiếp.
Sau cùng toán quân đụng độ gia đình Sawney. Bọn con cháu của Sawney chống trả quyết liệt, nhưng không đi đến đâu. Binh lính được tập luyện thuần thục, bọn con cháu Sawney võ trang bằng dao gậy không nghĩa lý gì đối với họ. Chúng bị đánh ngã và trói gô lại một loạt, rồi bị giải về thị trấn kế cận.
Gia đình Sawney gồm 27 nam và 21 nữ không được đưa ra tòa án xét xử. Quốc vương phán rằng bọn man rợ ăn thịt người không xứng đáng hưởng luật pháp của xã hội văn minh. Ngài tuyên án tử hình toàn bộ gia đình Sawney và cho hành quyết ngay hôm sau.
Nếu hành động ăn thịt người của gia đình Sawney làm dư luận kinh hồn thì sự trừng trị của quốc vương cũng làm dư luận kinh hồn không kém. Những đứa trẻ bé bỏng, hoàn toàn vô tội, chưa hề dính dáng đến tội ác của giòng họ chúng, cũng không được ân xá. Toàn thể phải đền tội. Đàn ông thì bị chặt tay, chặt chân như thể những nạn nhân trước kia của họ. Tử tội bị trói ghì trên cái thớt lớn, đao phủ thủ dùng dao bén, từ từ chặt đứt hai tay họ trước khi chặt đứt hai chân. Tử tội rên la cho đến khi hết máu mà chết. Trong khi đó 21 đàn bà con gái phải chứng kiến cuộc phanh thây. Đàn ông chết xong, đàn bà con gái bị dồn lên giàn hỏa và bị thiêu sống.
Từ đầu đến cuối, không một tử tội nào tỏ vẻ hối hận. Bọn con cháu của Sawney không hối hận là đúng vì chúng được nuôi nấng trong hang đá, tách khỏi đời sống bình thường. Chúng không biết việc gì khác ngoài việc chặn đường khách thương để cướp của giết người và ướp thịt người mà ăn. Trên một phạm vi nào đó, chúng là người vô tội. Sawney và vợ mới là người có tội.
Liệu chúng có biết được hành động của chúng là hành động phạm pháp hay không? Chắc là không.
Vả lại, chúng biết nữa cũng vô ích. Vì chúng đã bị hành quyết. Hành quyết một cách man rợ.
Truyện Thứ Mười Một
Anh Quốc Luật Giang Hồ
«Thưởng 50.000đ, theo luật giang hồ, cho ai tìm thấy chiếc Honda bảng số…, số sườn…bị thất lạc ngày…tại…Cam đoan không làm khó dễ. »
Trên đây là đại để một trong nhiều mẩu rao vặt đăng hàng ngày trên mặt báo. Xe bị mất trộm, gian phi bẻ khóa thì khổ chủ nói trệch ra là xe bị thất lạc, hoặc anh em giang hồ nào đã cầm nhầm, lấy lộn, vân vân…Tùy theo loại xe, giá biểu chuộc được lên xuống. Xe gắn máy cũng như xe hơi, nó cũng có giá biểu hẳn hòi. Chẳng hạn xe Mazda của Nhật, kiểu 1500cc, số đăng bộ EI hoặc EO thì tồi ra cũng 500 ngàn, hoặc 700 ngàn…
Đọc những lai cảo chuộc xe theo « luật giang hồ », một số người tỏ ra bực bội. Chuộc xe như vậy phải chăng là khuyến khích kẻ gian gia tăng hoạt động? Phải chăng là vô tình coi thường luật pháp!
Và phải chăng thói quen chuộc xe theo luật giang hồ này chỉ là hậu quả của cuộc
sống đã bị tai họa quốc gia và hưởng thụ vật chất làm đảo lộn?
Sự thật không phải thế. Vì từ nhiều thế kỷ trước, « luật giang hồ » đã được tôn thành khuôn vàng thước ngọc ở Âu châu, và riêng tại Luân đôn. Khi ấy Luân đôn đang sống trong hòa bình và thịnh vượng.
Câu chuyện thật sau đây kể lại những hoạt động kỳ quặc của Jonathan Wild, người được đặt hỗn danh là ông hoàng ăn trộm, người đã có sáng kiến mở những văn phòng công khai làm nghề cho chuộc xe, hoặc chuộc mọi đồ đạc bị mất khác theo…luật giang hồ.
Ông hoàng ăn trộm chào đời năm 1682 tại thị trấn Wolvershampton, gần Luân đôn. Hắn chỉ sống được 43 tuổi. Tuy nhiên, hắn không chết bệnh. Mà là chết ở pháp trường. Bị treo cổ. Kể ra luật pháp nước Anh phải vất vả lắm mới bỏ tù được hắn, và tuyên án xử giảo, vì hắn khôn ngoan khác thường. Có thể nói trong số những trùm ăn cắp ăn trộm từ đông sang tây và từ xưa đến nay chưa ai khôn ngoan bằng hắn. Jonathan là ông hoàng ăn trộm mà không hề ăn trộm, không hề lươn lẹo của ai một đồng xu, thế mới lạ. Cuối thế kỷ thứ 17, tòa án Anh rất nghiêm khắc đối với trộm cắp, nhẹ thì lưu đầy, còn nặng thì treo cổ. Jonathan nổi danh là ông hoàng, nghĩa là xếp sòng bọn trộm cắp chuyên nghiệp mà được tự do hành nghề mấy chục năm…Cho nên hắn chỉ sống được 43 tuổi, nhưng thật ra đã là quá thọ.
Thuở nhỏ, hắn chẳng có gì đặc biệt. Khoảng 24, 25 hắn lấy vợ, và vợ hắn đẻ một đứa con trai kháu khỉnh. Hắn không khoái làm chồng, làm cha nên sau khi có gánh nặng gia đình, hắn liền bỏ phế vợ con, vù luôn một mạch đến thủ đô Luân đôn làm lại cuộc đời.
Làm lại cuộc đời, được lắm, nhưng hắn là kẻ văn dốt, vũ rát, không biết một nghề cỏn con nào. Hơn nữa, lại không ưa làm việc cần mẫn lương thiện nên chẳng bao lâu hắn mắc nợ lung tung để rồi hắn bị các chủ nợ lôi ra tòa. Quan tòa phết cho hắn 4 năm tù.
Người ta bảo nhà tù là trại huấn luyện rất đúng. 4 năm tù của Jonathan đã tạo cơ hội khiến hắn móc nối được với bọn trộm cướp đang bị giam giữ, đồng thời hắn học được những kỹ thuật tinh vi của nghề đi khuya về tối. Hắn được trả tự do và bắt tay vào nghề nghiệp mới. Nghề nghiệp khỏi cần tiền vốn, khỏi cần bằng cấp chuyên môn, khỏi cần cố gắng. Nghề ngồi mát ăn bát vàng.
Bọn trộp cướp trong tù giới thiệu hắn với bọn trộm cướp bên ngoài. Hắn ghé thăm từng người, trò truyện thân mật trước khi bàn bạc công việc. Thoạt tiên hắn giải quyết vấn đề tình cảm cá nhân bằng cách chung sống với một cô ả lầu xanh ba chìm bảy nổi tên là Mary Millimer. Cô ả quen rộng trong giới anh chị của Luân đôn ban đêm, và sự quảng giao này rất có lợi cho hoạt động nghề nghiệp của hắn. Hắn thuê một căn nhà để chứa đồ trộm cắp. Bọn gian thó được gì mang về nhờ hắn cất giấu trước khi đem bán. Hồi ấy, oa trữ đồ gian chưa bị coi là phạm pháp. Mãi sau này, Nghị viện Anh mới thông qua một đạo luật phạt tù và phát vãng.
Kiếm được một món tiền lớn, hắn bèn mở văn phòng hẳn hoi ở một khu đông đúc trong thành phố. Hắn chưa kịp làm ăn thì đạo luật của Nghị viện được ban hành. Hắn không thể tiếp tục chứa đồ gian nữa. Nhưng hắn không phải là người dễ mất tinh thần. Luật pháp muốn nghiêm khắc thế nào chăng nữa cũng có kẽ hở và hắn khai thác những kẽ hở này. Tuy không học một giờ nào về luật, hắn vẫn tìm ra được một thủ đoạn tài tình để qua mặt tòa án. Hắn có thể kiếm tiền bằng nghề chứa đồ gian mà tòa án không đụng nổi lông chân hắn. Các khổ chủ còn phải tri ân hắn nữa là khác.
Thể thức oa trữ của hắn như sau: những đồ trộm cắp được sẽ do bọn gian mang đến một căn nhà kín đáo do hắn làm chủ song không cư ngụ. Mỗi đồ vật đều được ghi rõ đặc điểm. Bọn gian lại còn cho hắn biết thêm khổ chủ là ai. Xong xuôi, hắn tiếp xúc với khổ chủ, và thông báo rằng hắn có một người bạn tốt. Người bạn này đã tóm bắt được tên gian, lấy lại được món đồ bị mất. Người bạn tốt này nhận thấy tên gian đáng thương chứ không đáng nghiêm trị nên chỉ đánh đập cảnh cáo, khuyên răn một hồi rồi buông tha vì nếu đưa ra tòa chắc chắn tên gian sẽ bị treo cổ. Nên làm điều thiện, để đức lại cho con cháu, phải không quý vị?
Cái điệp khúc nhân nghĩa ấy đánh lừa được vô khối khổ chủ. Món đồ thất lạc được quy hoàn, và khổ chủ phải tạ ơn « người bạn tốt » của Jonathan bằng một số tiền hậu hĩ, theo giá biểu định sẵn, thường từ một phần ba đến phân nửa trị giá món đồ. Và cứ thế ông hoàng ăn trộm hốt bạc…
Công việc kinh doanh bành trướng mạnh mẽ đến nỗi Jonathan phải mở một văn phòng lớn. Tiếng tăm của hắn đồn đại khắp nơi. Do đó hắn khỏi cần đích thân đến nhà khổ chủ để dạm chuộc như trước kia, mà khổ chủ tìm tới văn phòng hắn. Trên thực tế, nhiều khổ chủ muốn chuộc những món đồ không do « đồng chí » của hắn đánh cắp cho nên hắn phải phát triển thêm nữa những liên hệ với giới ăn sương.
Jonathan làm việc rất khoa học, khổ chủ được tiếp đãi ân cần. Nếu không xin hẹn trước, họ phải ngồi đợi, đến lượt mới được vào phòng giám đốc. Một cuốn sổ lớn được cập nhật hóa hàng ngày, ghi chú đầy đủ đặc điểm của món đồ bị mất, tên và địa chỉ của khổ chủ, nơi mất đồ, và số tiền hứa thưởng của khổ chủ. Khổ chủ sẽ trở lại văn phòng trong vòng 3, 4 ngày để lấy kết quả. Nhiều khi tiền thưởng quá ít, Jonathan sẽ nói với khổ chủ rằng tên trộm không đồng ý (vì đem món đồ đi cầm hoặc bán rẻ cũng kiếm được nhiều tiền hơn), nếu khổ chủ muốn châu về Hợp phố thì phải tăng tiền thưởng. Thủ đoạn nài ép của Jonathan rất khéo léo, hầu hết khổ chủ đều vui vẻ chấp thuận. Hồi mới hoạt động, hắn còn núp sau bình phong một « người bạn tốt », giờ đây hắn chẳng cần giải thích, mặc nhiên khổ chủ hiểu rằng hắn đã đặt được một hệ thống nghe ngóng, thương lượng trong thế giới đồ trộm cắp.
Uy tín của hắn -nếu có thể gọi đó là uy tín- cũng lên vùn vụt trong giới trộm cắp. Thứ nhất, hắn được khách hàng tin cậy, giới trộm cắp cảm thấy có lợi và an toàn hơn trong việc dùng hắn làm trung gian. Thứ hai, luật pháp Anh quốc phạt thật nặng các vụ trộm cắp. Jonathan biết rõ hầu hết đường đi nước bước của bọn anh chị, nếu hắn trở mặt thì bọn anh chị sẽ bị thộp đầu và treo cổ là cái chắc. Bởi vậy, giới trộm cắp có vẻ kính nể (và sợ sệt) Jonathan. Hắn muốn gì là chúng chiều ngay. Chúng luôn luôn trung thành với hắn. Trung thành tuyệt đối.
Jonathan đã khôn lại ngoan, hắn dùng tiền tài mua chuộc một số viên chức an ninh để che chở cho hắn. Điển hình là ông cò Hitchin. Ông cò này có thế lực lớn trong thành phố. Ông chuyên sống về nghề che chở, nói dễ hiểu hơn bọn anh chị muốn làm ăn được yêu ổn, không bị cò bót bắt bớ thì mỗi tuần hoặc mỗi vụ nộp cho ông một số tiền gọi là tiền thuế che chở. Jonathan hợp tác chặt chẽ với ông cò tham nhũng. Hắn giúp ông cò khám phá thêm những nhà chứa gái, những sòng bạc và ổ hút sách để ông cò vòi tiền. Sự phụ lực này đã mang lại cho ông cò Hitchin một hoa lợi kếch sù. Và Jonathan cũng chấm mút được khá.
Đành rằng sự hợp tác với ông cò không kéo dài được lâu, nhưng dầu sao nó cũng gây thêm thanh thế cho Jonathan. Giới trộm cắp cũng như giới khổ chủ có cảm tưởng là hắn được các ông bự trong ngành an ninh bảo trợ.
Jonathan mỗi lúc một giàu có. Hắn bắt đầu tiêu xài hoang phí. Quần áo hắn toàn bằng hàng len thượng thặng và được may cắt tại cửa tiệm sang trọng nhất nhì Luân đôn. Trên người hắn óng ánh hạt soàn, và hắn còn sắm cả một thanh gươm quý để tỏ cho thiên hạ biết hắn thuộc giòng quý tộc.
Jonathan nóng tính như lửa. Một ngày kia, cãi cọ với Mary, cô vợ xuất thân từ xóm thanh lâu, hắn vung gươm xẻo luôn một cái tai của nàng. Nàng bèn bỏ hắn, và từ đó hắn sống một mình. Tai nạn cắt tai này do hắn nóng tính mà ra, nhưng cũng có lẽ hắn chủ tâm nóng tính như vậy. Mary là đống bùn hôi thối. Jonathan đã trèo lên địa vị ngựa xe huênh hoang, sự hiện diện của nàng có thể làm hắn mất oai. Vả lại, nàng quen thân bọn anh chị, kỹ nghệ chuộc đồ của Jonathan đã bành trướng đại qui mô, hắn không còn cần những dây nhợ này nữa, những dây nhợ dễ gây bất lợi trên bước đường tiến thủ của hắn.
Ngày nay, nhiều người còn ngạc nhiên không hiểu sao Jonathan có thể ngang nhiên làm nghề oa trữ và chuộc đồ trộm cắp mà công an, tòa án không phản ứng. Thật ra, công an và tòa án muốn phản ứng mà không được. Vì hắn đã rào trước đón sau chu đáo. Hắn đã thiết lập được một màng lưới lấy tin hùng hậu và hữu hiệu trong giới trộm cắp. Mỗi khi khổ chủ đến gặp hắn và xin chuộc đồ, hắn bèn sai những cộng sự viên thân tín tiếp xúc với bọn chúa trùm. Thành thử ra Jonathan không hề giáp mặt những tên trộm cắp. Hắn cũng không hề đụng tới đồ gian. Luật là luật, có bằng chứng hắn làm ăn với bọn gian và oa trữ đồ mất trộm thì người ta mới áp dụng được luật để bỏ tù hắn.
Hệ thống tình báo của Jonathan không phải là một huyền thoại. Hắn có tai mắt và tay chân khắp nơi. Hắn chỉ huy nhân viên bằng kỷ luật thép. Hắn rất hào phóng và khoan dung. Hắn cũng rất sòng phẳng. Nhưng coi chừng…hắn tốt kinh khủng với những kẻ thật tâm hợp tác. Kẻ nào không tuân lệnh hắn, kẻ nào một mặt hai lòng, kẻ nào ăn không nói có, hắn sẽ tiêu diệt không thương tiếc. Bằng chứng là nhiều tên gian trung thành với hắn bị bắt giữ và bị đưa ra tòa đều được hắn tung tiền mua chuộc nhân chứng, thuê mướn luật sư hùng biện, hầu đảm bảo sự miễn nghị. Jonathan có biệt tài tạo ra nhân chứng giả mạo, hoặc loại trừ những nhân chứng bất lợi. Hắn còn có biệt tài bịa đặt những chuyện chan chứa tình cảm khiến quan tòa phải xử nhẹ hoặc tha bổng bạn bè thân thiết của hắn.
Dân anh chị ở Luân đôn gọi hắn là ông hoàng ăn trộm cũng không quá đáng. Jonathan quả là ông hoàng. Hắn là người lãnh đạo và bao bọc cho giới trộm cắp.
Vì hắn là ông hoàng ăn trộm nên nhiều khi hắn có ảnh hưởng lớn trong giới trộm cắp mạnh hơn cả các cơ quan an ninh. Nhiều khi cảnh sát Luân đôn làm việc bở hơi tai mà không tìm ra manh mối, hoặc tóm bắt được thủ phạm, trong khi Jonathan chỉ có một mình, hắn chỉ giơ một ngón tay lên là đâu trở về đấy.
Trên chiều hướng này, Jonathan đã giúp cảnh sát và dân chúng Luân đôn trừ khử được một số gian phi. Chẳng hạn trong tháng 3/1716, một thanh niên tên Knap và mẹ của y bị 5 tên côn đồ tấn công ở vùng ngoại ô. Knap bị đánh ngã, bọn côn đồ cướp đoạt hết tiền bạc. Mẹ của Knap kêu cứu vang rân nên bị bọn côn đồ giết chết. Các hung phạm trốn thoát, công an mất bao công phu điều tra mà màn bí mật vẫn kín như bưng. Rốt cuộc họ treo một giải thưởng lớn cho ai giúp họ phăng ra manh mối. Jonathan huy động hệ thống tình báo dưới quyền, và chỉ cần một thời gian ngắn đã nắm trong tay danh sách 5 tên côn đồ và cung cấp cho nhà cầm quyền. Cả bọn đều bị bắt, sau đó 3 tên bị xử treo cổ, Jonathan lãnh tiền thưởng. Tuy vậy, hắn tố giác 5 tên cướp của giết người không hẳn để lãnh tiền thưởng. Chẳng qua hắn muốn nhân cơ hội dư luận sôi sục phẫn nộ về vụ cướp của giết người tàn bạo để nhảy ra, đóng góp tận tình vào việc bảo vệ anh ninh và công lý. Hắn còn một lý do thầm kín khác: 5 tên côn đồ đã bất chấp lời khuyên bảo của hắn. Jonathan sẵn sàng nhắm mắt trước những vụ trộm cắp, nhưng không thể chấp nhận sự hạ sát vô ích. Hắn biết rằng dư luận rất nghiệt ngã đối với những vụ đổ máu, nhất là nạn nhân đã luống tuổi, yếu ớt và thuộc phái nữ.
Nhà cầm quyền theo dõi những hoạt động nửa lưu manh nửa nghiêm chỉnh của Jonathan với một thái độ đặc biệt. Họ khen ngợi sự giúp sức bài trừ trộm cắp của hắn, song mặt khác họ nhận thấy hắn nguy hiểm hơn bọn trộm cắp nhiều. Vì hắn đã lợi dụng những kẽ hở của luật pháp để chà đạp luật pháp, phá hoại pháp luật.
Nhưng làm cách nào truy tố được Jonathan?
Chỉ còn cách thay luật cũ bằng luật mới. Các nhà làm luật sẽ trám bít hết kẽ hở hầu chặn đứng công cuộc làm ăn phi pháp của Jonathan. Do đó, năm 1718 Nghị viện Anh thông qua một đạo luật đặt những điều khoản nghiêm trị các hành động chuộc đồ mất. Theo đạo luật này, ai tìm được đồ mất và hoàn lại cho khổ chủ để lấy thưởng mà không tố giác kẻ gian với cảnh sát thì sẽ bị coi là phạm pháp, khả dĩ bị truy tố và bị án tù.
Các nhà làm luật đinh ninh Jonathan sẽ bị trói tay và hắn phải bỏ nghề. Nhưng không, hắn vẫn tiếp tục. Hắn chỉ thay đổi mánh lới. Người mất đồ đến gặp hắn, hắn cho biết là trong trường hợp khổ chủ mang tiền tới một địa điểm nào đó, vật thất lạc sẽ được giao hoàn. Bằng phương thức này, Jonathan có thể chứng tỏ với luật pháp là hắn không có liên lạc với quân gian, hắn cũng không đòi tiền thưởng và lãnh tiền thưởng. Mặc dầu đứa con nít cũng dư biết tiền chuộc mà khổ chủ mang tới một địa điểm nào đó rốt cuộc sẽ được nằm gọn trong túi Jonathan.
Dầu sao, Jonathan cũng có một văn phòng, và văn phòng này phải thu hoạch được một số lợi tức (vì mở văn phòng mà không có lợi tức thì mở làm gì, trừ phi với mục đích gian manh…) cho nên mỗi khi thương lượng với khổ chủ dễ dãi và giàu có, hắn thường tâm sự là luật pháp cấm hắn nhận tiền công, song hắn sẽ không từ chối nếu khổ chủ tự ý tặng hắn một số tiền. Khổ chủ không muốn hỏi han lôi thôi, chỉ mong sao lấy lại đồ mất. Thành ra ai cũng tặng hắn tiền răm rắp.
Đạo luật của Nghị viện đã bị Jonathan qua mặt cái vù. Công việc của hắn ngày một phát đạt. Hắn phải mở thêm một chi nhánh « chuộc đồ » khác trong thành phố, và cử một cộng sự viên thân cận tên là Abraham là « giám đốc ». Abraham tỏ ra rất trung thành, tin cậy và hữu hiệu. Có lần một mệnh phụ bị mất cắp 7.000 Anh kim. Abraham tìm ra ngay bọn gian và lấy lại toàn vẹn số tiền. Khổ chủ đền ơn 400 Anh kim. Abraham không lươn lẹo một xu, hắn nộp đủ 400 cho Jonathan. Bọn gian được chia phần và không hề bị Nhà nước « hỏi thăm sức khỏe » nhờ được tổ chức của Jonathan che chở.
Người ta có thể đặt câu hỏi tại sao Jonathan không ỉm luôn số tiền 7.000 mà lại dại dột hoàn trả cho khổ chủ để chỉ đổi lấy 400 ít ỏi. Đã đành hắn là người không lương thiện, hắn vẫn phải làm ăn rất sòng phẳng để « lấy tiếng ». Hắn lại còn có cảm nghĩ là hắn phụng sự đắc lực cho nhân quần bằng văn phòng chuộc đồ. Jonathan lý luận rằng nếu không có văn phòng chuộc đồ của hắn, hàng trăm người sẽ bị thiệt thòi lớn.
Jonathan tự vạch cho mình một kim chỉ nam rõ rệt: không bao giờ tham lam. Hắn làm việc là để lãnh tiền công, vì việc hắn làm có nhiều nguy hiểm nên hắn đỏi hoa hồng trên 10 phần trăm. Và hắn tìm mọi cách để tránh vi phạm luật pháp.

Có hai thiếu phụ đề nghị hắn hợp tác để đoạt tiền của một bà già giàu nứt đố đổ vách. Hai thiếu phụ này cho hắn biết bà già này cất giấu trong nhà băng hàng vạn Anh kim, và việc ăn trộm dễ ợt. Nhưng Jonathan đã tố giác hai thiếu phụ gian manh với cảnh sát, và kết quả là họ bị tòa án bỏ tù 6 tháng. Jonathan từ chối hợp tác có lẽ vì hắn sợ người ta lừa hắn sa bẫy. Song hắn lại tuyên bố rằng sở dĩ hắn giải giao hai thiếu phụ gian manh là hắn chỉ muốn hành nghề lương thiện.
Một tên trộm tên là John Butler, lường gạt Jonathan, ăn trộm được một món tiền lớn mà lại khai với hắn thật ít. Nộ khí xung thiên, hắn rượt Butler đến một căn nhà ở ngoại ô. Butler sợ cuống cuồng phải lẩn trốn trong hầm chứa than. Jonathan dọa bán Butler cho cảnh sát, trừ phi Butler chịu thanh toán sòng phẳng tiền hoa hồng. Butler bèn trả tiền. Sau đó một thời gian, Butler bị bắt và bị lôi ra tòa. Căn cứ vào bản cáo trạng, Butler có thể bị xử tử hình, song Jonathan đã dùng tiền bạc và ảnh hưởng để can thiệp. Butler đã trả tiền hoa hồng sòng phẳng nên hắn không thể bỏ rơi « anh em ». Butler khỏi bị treo cổ, và chỉ bị phát lưu.
Đàn em của Jonathan ăn trộm được nhiều đồ vật, một phần được hắn trả lại cho khổ chủ, song có nhiều đồ vật khác bị vứt bỏ lăn lóc chờ hàng tháng, đôi khi hàng năm, không ai nhìn nhận. Jonathan phải giải quyết sự ứ đọng bằng cách tậu một chiếc tàu biển, giao quyền điều khiển cho một tên anh chị lão luyện trong nghề mõi tên là Johnson. Chiếc tàu này đảm nhận việc chuyên chở đồ đạc vô thừa nhận từ Anh quốc qua Âu châu đem bán rồi mua thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng như rượu vang, rượu mạnh, trang sức, vân vân…vận chuyển lén lút về nước, vượt qua hàng rào quan thuế. Thành ra Jonathan không mất vốn mà lại thu hoạch được tiền lời khổng lồ.
Công cuộc làm ăn đại quy mô này kéo dài đã 2 năm thì đổ bể. Nếu Jonathan chỉ lưu tâm đến thị trường nội địa thì có lẽ còn lâu (hoặc không bao giờ) nhà chức trách mới loại bỏ được hắn. Chẳng qua Johnson phản hắn, một số đồ trang sức bị mất và Jonathan nghi ngờ Johnson lấy đút túi kiếm tiền xài riêng. Hai người cãi nhau một trận nên thân. Johnson căm thù Jonathan và Johnson mật báo với cảnh sát những hoạt động đen tối của Jonathan. Cảnh sát mở cuộc điều tra. Nhân viên an ninh do Johnson điềm chỉ bất thần ập vào kho chứa hàng với Jonathan, và tịch thu được một số đồ đạc bị trộm. Jonathan hết đường chối cãi. Hắn tìm cách bỏ trốn. Trong những ngày sau đó, hắn tìm cách trút đổ trách nhiệm cho người khác. Tuy nhiên, Johnson đã cung cấp khá nhiều tin tức và tài liệu nên rốt cuộc Jonathan vẫn sa lưới tòa án.
Jonathan bị truy tố về 11 tội. Chỉ riêng 1 tội cũng đủ dẫn hắn ra pháp trường, huống hồ 11 tội. Biết không tránh khỏi án tử hình, hắn dồn hết nỗ lực vào thủ đoạn trì hoãn phiên xử. Luật sư của hắn trình tòa rằng có hai nhân chứng của bị cáo chưa nhận được trát tòa. Nhưng tòa không đình theo lời yêu cầu của luật sư.
Để chứng tỏ hắn là công dân nghiêm chỉnh, luật sư của hắn công bố danh sách những tên trộm cắp bị lột mặt nạ và lãnh án do hắn tố giác. Bản danh sách gồm 32 tên cướp đường, 22 tên trộm vườn và 10 tên cựu tội phạm bị kết án phát lưu đã lén lút trở về. Jonathan khai rằng sở dĩ hắn bị lôi ra tòa là do một số tên du đãng, cướp của, giết người sợ hắn được sống tự do sẽ di hại cho chúng nên cấu kết với nhau để khai bậy và cáo gian.
Jonathan biện hộ rất hùng hồn -luật sư của hắn cũng vậy- song tòa không xúc động. Vải thưa không thể che nổi mắt thánh. Jonathan đã che mắt cảnh sát và tòa án trong thời gian quá lâu rồi. Đã đến lúc hắn phải đền tội.
Jonathan bị kết án tử hình.
Hắn mang lén thuốc độc vào nhà giam. Trước ngày bị hành hình, hắn quyên sinh nhưng không chết. Hắn chỉ mệt mỏi và ngủ thiếp đi một lát. Hắn tỉnh dậy thì đao phủ thủ đã chờ sẵn. Trên đường từ nhà giam ra nơi xử giảo, Jonathan bị dân chúng ném đá và quăng rác rưởi đầy người.
Thuốc độc chưa rã hết nên Jonathan còn buồn ngủ. Đao phủ thủ hắt nước cho hắn tỉnh. Hắn được ngồi nghỉ cho đến khi khỏe hẳn. Rồi đao phủ thủ mới thi hành bản án.
Ông hoàng ăn trộm bị treo cổ giữa tiếng reo hò của dân chúng hiếu kỳ. Tử tội được chôn cất đàng hoàng trong nghĩa trang kế cận nhưng chỉ mấy ngày sau, người ta đã ăn trộm xác hắn đem bán cho sinh viên y khoa tập mổ.
Định mạng thật trớ trêu! Xác của ông hoàng ăn trộm suốt đời điều khiển xã hội ăn trộm lại bị ăn trộm.
Truyện Thứ Mười Hai
Tây Ban Nha Một Truyện Xâm Mình Thê Thảm
Dân giang hồ hành nghề ở mỗi nơi một khác. Nơi họ dùng võ khí nặng như đại liên, nơi khoái dao bén, nơi chỉ thi tài bằng tay chân. Nếp sống của họ khác nhau như sự khác biệt của gần chục màu da, của gần hai trăm quốc gia, và của gần một ngàn tiếng nói trên trái đất. Tuy vậy, dân giang hồ lại giống nhau ở một điểm thú vị: hầu hết đều thích xâm mình.
Những người lênh đênh trên biển cả cũng thích xâm mình như dân anh chị dao búa. Nhưng nếu dân anh chị thích xâm hình xương tréo đầu lâu, rồng rắn thì giới thủy thủ lại chỉ tỏ thiện cảm với hình đàn bà. Đàn bà đẹp. Có lẽ vì quanh năm ngày tháng họ luôn luôn bềnh bồng trên sóng, họ ở xa đất liền, xa đàn bà, xa những mơn trớn da thịt thần tiên nên họ phải in hình mỹ nhân ngay trên thân thể họ để khỏi nhung nhớ.
Nghệ thuật xâm mình đã có từ ngày xửa ngày xưa. Giờ đây người ta đã sáng chế ra máy xâm mình, song ở nhiều hải cảng nơi lui tới của người đi biển, các nghệ sĩ xâm mình vẫn áp dụng phương pháp cổ xưa. Mateo là một nghệ sĩ xâm mình nổi danh ở miền biển phía nam Tây ban nha.
Ông nổi danh đến nỗi ai cũng gọi ông là giáo sư. Giáo sư Mateo mở một cửa tiệm nhỏ xíu trong khu vực bến tàu của thị trấn El Puerto. Lệ thường người ta phải phô trương tài năng dọc những con đường lớn, sang trọng và sầm uất, hoặc ít ra cũng phải quảng cáo rầm rộ. Giáo sư Mateo lại biểu diễn nghề xâm mình trong sự thầm lặng vô danh. Ông không thuê đăng lai cảo trên mặt báo, cửa hiệu của ông không gắn đèn nê-ông xanh xanh đỏ đỏ. Ông lại cũng không thèm treo bảng hiệu trước nhà. Nói tóm lại, ông là nhà nghệ sĩ ẩn dật, ai biết đến ông thì tìm đến, ông không cần tìm ai.
Mà tìm đến nhà ông đâu phải dễ. Cái được gọi là cửa tiệm của ông giáo sư lỗi lạc nằm khuất trong đáy hẻm, một hẻm ngoằn ngoèo và khấp khểnh. Anh nào say rượu -thủy thủ luân lạc năm châu nhớ nước, nhớ tình, thường say rượu mỗi khi lên bộ- là chắc chắn vấp ngã và bị bong gân. Thiên hạ tìm đến ông giáo sư thường say rượu vì hỡi ôi, cửa tiệm của ông ở sát nách một quán nhậu nhẹt đông nghẹt từ khi mở đến khi đóng cửa.
Tây ban nha là thiên đường của Lưu Linh, la-ve ở đó thơm ngon đã đành, rượu vang địa phương còn thơm ngon hơn rượu bia một bậc nữa. Một loại vang trắng, gọi là Sherry có đủ tài lôi kéo những kẻ thù rượu nhất. Quán nhậu cạnh cửa hàng Mateo chuyên bán Sherry thượng hạng nên khách đến xâm mình thường say. Kể ra, say cũng chẳng sao, vì cách quán nhậu mấy bước chân là một ổ nhện bất hủ của mụ dầu Gorda. Rượu và gái là bạn đồng minh keo sơn, thủy thủ say tít cung thang được các em bé của má Gorda vuốt ve, o bế một hồi là tỉnh lại như sáo sậu.
Sào huyệt ái tình của má Gorda ầm ỹ suốt ngày, suốt đêm. Chỉ trừ một lát buổi trưa. Vì dân Tân ban nha mắc bệnh ngủ trưa, để thức đêm du hí. Cho nên những giờ giáo sư Mateo mở cửa tiệm cũng là những giờ hoạt động náo nhiệt của sào huyệt ái tình. Mùi rượu, mùi da thịt gái chơi (và đương nhiên cả mùi bồ hôi vì Tây ban nha là xứ có nhiều mặt trời) ùa vào giang sơn của ông giáo sư, kèm theo tiếng cười nói, tiếng đàn đúm, tiếng la hét. Nghĩa là đủ mọi âm thanh. Đủ mùi vị.
Nhưng giáo sư vẫn phớt tỉnh hành nghề.
Ông phớt tỉnh vì một lý do dễ hiểu. Ông không mấy tha thiết tới đạo quân mày trắng mĩ miều của mụ dầu. Chẳng phải ông là con vật vô tri vô giác, đứng trước phái yếu, gân cốt ông cũng biết rung động ra phết. Ông hoàn toàn vô tình là do các cô ả bán duyên của má Gorda chỉ là rác rưởi thối tha so sánh với lá ngọc cành vàng vợ yêu nhất đời của ông.
Vợ ông đẹp kinh khủng.
Những ai từng ghé Tây ban nha đều nhận thấy đàn bà con gái ở đó rất đẹp. Phía bắc có núi phủ đầy tuyết nhưng phía nam lại rực nắng, khí hậu không giống nhau. Có những cô gái da trắng nõn nà, tóc đen nhánh, tính tình rụt rè, song cũng có những cô gái tóc vàng óng ánh, da bánh mật, mắt nâu và ướt. Vợ ông giáo sư xâm mình là giai nhân tổng hợp. Những cái đẹp nhất của nữ lưu Tây ban nha đều được tập trung vào thân thể nàng. Nàng sinh trưởng ở xứ trồng cam có khác. Thân thể tròn trịa, nhỏ nhắn, nẩy nở của nàng lúc nào cũng thoang thoảng mùi hoa cam.
Tây ban nha có hai đặc điểm dân tộc, món ăn luôn luôn trộn tỏi nên đàn bà con gái đẹp thật song hơi thở lại quyện mùi tỏi nên vẻ đẹp bị sút giảm rất nhiều. Bàn chân đàn bà con gái thường nở bề ngang và hụt bề dài -chứ không thuôn thuôn như bàn chân người đẹp phương đông- do đó trở thành thô tháp. Vợ ông giáo sư thơm mùi hoa cam chứ không ngạt mùi tỏi. Bàn chân nàng lại thuôn thuôn, khả ái dị thường.
Mateo yêu vợ hơn cả yêu tôn giáo - người Tây ban nha vốn ngoan đạo - hơn cả yêu nghệ thuật xâm mình nữa. Vợ ông cũng rất mực yêu ông. Sự chung thủy của người vợ trẻ mang lại cho ông Mateo một niềm tin mãnh liệt và một sức lực vô tận.
Ông chẳng còn trẻ nữa. Ông hơn nàng gần 20 tuổi. Thế mà nàng khăng khít với ông. Chắc vì tài nghệ xâm mình của ông. Chắc vì ông luống tuổi mà diện mạo còn rộn xuân tình.
Mỗi buổi sáng ông đạp xe đến tiệm. Ông dùng ngựa sắt, không phải vì ông nghèo, nghề xâm mình đã cung cấp một nguồn lợi tức rồi rào. Xe đạp là một phương pháp giúp ông giữ vững phong độ.
Những người ở chung quanh tiệm xâm mình không biết ông Mateo cư ngụ ở đâu. Hỏi ông thì ông cười ruồi không đáp. Nếp sống của ông luôn luôn chừng mực, pha lẫn kín đáo, gần như ẩn dật. Ông không ăn trưa ở quán nhậu mặc dầu ông làm việc đến tối mịt mới về. Ông mang theo một giỏ thức ăn, ông ăn gì không ai nhìn thấy. Láng giềng tò mò khám phá được một chi tiết lý thú: ông nhai rất chậm, và ông chỉ dám ăn đồ mềm vì hàm răng ông giả hoàn toàn.
Ngoài việc xâm mình cho khách, ông giáo sư còn giỏi về khoa pha chế. Ông thu góp được nhiều rễ lá, phơi khô, tán nhỏ, cất vào chai, gắn si lại cẩn thận. Theo lời ông, những chai này đựng thuốc mê và thuốc độc.
Mụ dầu Gorda tìm cách lôi kéo ông với quà cáp, biếu xén thường xuyên. Song Mateo vẫn trơ như đá, vũng như đồng. Các cô gái xinh như mộng của má Gorda chỉ còn thiếu nước thoát y ra trước mặt ông mà ông không hề xao xuyến. Mụ dầu phải bực mình thốt lên:
-Hừ…lão không phải là giáo sư Mateo. Mà là ông sư. Có lẽ còn khô khan hơn cả ông sư già khọm nữa là khác.
Gọi là gì nữa, ông Mateo cũng chẳng cần. Danh tiếng của ông cứ nổi cao như cồn. Những hình xâm của ông lênh đênh trên khắp các đại dương, đến đâu cũng được lời khen ngợi trầm trồ. Gần 50 quốc tịch khác nhau đã là khách hàng của ông. Thủy thủ ở Âu châu, Phi châu nghe tiếng ông đã đành, thậm chí thủy thủ ở những bến cảng xa xăm trên Ấn độ dương, Hoàng hải…cũng mầy mò tìm đến căn nhà ở cuối con hẻm ngoằn ngoèo và khấp khểnh.
Ông Mateo xâm gì cũng đẹp, riêng về hình đàn bà ông lại có hoa tay đặc biệt. Người ta hỏi ông tại sao ông xâm toàn hình mỹ nhân, ông nhún vai đáp:
- Xâm hình đàn bà xấu như ma lem thì chịu sao nổi? Ông ơi, ông chưa đi biển đấy thôi. Đi biển, nhớ và thèm đàn bà ghê gớm. Nhớ và thèm đàn bà có thể điên lên được. Phải có hình đàn bà trên cánh tay, trên ngực, trên bụng…thì may ra khuây khỏa được phần nào…
Điều đáng chú ý là hình xâm nào của ông giáo sư cũng giống nhau như đúc từ một khuôn mà ra. Có thể khác bề cao, bề ngang, khác hình thù bộ ngực, khác cái eo mỏng, khác cái mông cong, khác lề lối phục sức. Nhưng về khuôn mặt, về nét diện mạo thì không khác li nào. Mặt bao giờ cũng dài, kiểu mặt trái soan. Mắt thì tròn, sâu thăm thẳm, và thập phần ướt át. Hình xâm mà trông như người thật. Trông như tố nữ hừng hực xuân tình. Miệng cũng là miệng đẹp xuất phàm, mặc dầu làn môi hơi dầy, và mặc dầu có một chiếc răng khểnh tục gọi là răng chó. Khách hàng thắc mắc về làn môi và chiếc răng khểnh thì ông giáo sư khoát tay, giọng đầy tự tin và kiêu hãnh:
- Môi hơi dầy và răng khểnh hả? A ha, ông bạn chỉ biết một mà chưa biết hai. Nếu là người đàn bà khác thì môi dầy và răng khểnh là điều bất lợi. Nhưng ông thử quan sát lần nữa xem? Ông còn thấy môi nàng dầy nữa hay không? Không rồi chứ? Đấy, tôi nói có sai đâu. Thoạt tiên ông thấy môi dầy, song chỉ một giây đồng hồ sau ông lại không thấy nữa: môi của mỹ nhân thường là thế, tưởng là dầy mà nó chẳng dầy. Thật ra, môi đàn bà nên dầy dầy đôi chút, ông có hiểu để làm gì không? Môi mỏng dính chỉ quen ăn nói ba hoa xấc xược, môi hơi dầy thì nụ hôn mới đằm thắm. Răng quá đều sẽ bị lầm với răng giả. Phải có một chiếc răng khểnh thì mới có duyên…
Ông giáo sư xâm mình nói thao thao bất tuyệt. Đến khi ông ngưng nói, khách sẽ nhận thấy ông có lý. Môi hơi dầy, răng hơi khểnh chính là món phụ tùng gia tăng duyên dáng và sức dai bền của phụ nữ.
Sáng hôm ấy, ông Mateo đang trộn màu thì cửa mở, hai thủy thủ bước vào. Họ mặc thường phục khá chải chuốt song con mắt lão luyện của ông đã biết họ là dân đi biển chuyên nghiệp.
Ông đứng dậy, giọng thân mật:
-Nô hay đê kê (no hay de qué: chào ông), mời hai ông ngồi. Các ông mới đến lần đầu, phải không?
Trả lời ông Mateo là gã thủy thủ bước vào đầu tiên. Hắn còn trẻ măng chỉ độ hăm mấy, răng trắng bóng, nước da đen sạm chứng tích của cuộc sống trên biển rộng bao la đầy nắng và gió mặn, tóc rậm, đen và quăn veo một cách tự nhiên. Hắn có đôi vai thuôn và tròn, loại vai đàn bà thích bám chặt lấy mỗi khi hôn hít hoặc làm tình. Cặp mắt của hắn cũng lẳng ghê gớm. Ông Mateo là đực rựa và là đực rựa già khằng, tim bằng xi-măng mà còn thất điên bát đảo huống hồ các cô thiếu nữ đang xuân. Gã thủy thủ thứ nhì lớn tuổi hơn nhiều, xoàng ra cũng 37, 38, tóc mai đã lấm chấm bạc, da dầy cộm như da kỳ đà, dáng dấp từ tốn gần như giữ miếng. Ông Mateo có cảm tưởng gã già này đi theo gã trẻ để làm nghề…vú nuôi.
Ông Mateo hỏi gã thủy thủ vú nuôi:
- Bạn ông muốn xâm?
Gã vú nuôi gật đầu:
- Vâng, nó không quen đường, nó bắt tôi phải chở tới đây. Đường xa mấy chục cây số, lại nắng chang chang, nếu nó không năn nỉ tôi và nếu giáo sư không phải là nghệ sĩ xâm mình đẹp nhất xứ này thì chắc chắn tôi đã nằm mọp dưới tàu. Đêm nay tàu nhổ neo. Liệu chúng tôi làm kịp không, thưa giáo sư?
Ông vốn ghét sự thúc giục. Nghệ thuật xâm mình là nghệ thuật của những người từ tốn, không bao giờ hối hả. Hễ khách hàng nào mở miệng hối hả là ông từ chối tức khắc. Không hiểu sao ông lại có thiện cảm với đôi bạn thủy thủ già trẻ này. Dầu sao họ cũng hâm mộ hoa tay độc nhất vô nhị của ông, ông không được phép khước bỏ, và làm họ thất vọng. Vả lại, cũng còn tùy sở thích của họ, nếu họ không đòi hỏi những bức hình xâm cầu kỳ và quá lớn, ông có thể làm xong trước khi trời tối mịt để họ kịp trở về tàu.
Ông bèn ngoảnh sang phía gã trẻ:
- Ông muốn xâm lớn hay nhỏ?
Gã trẻ đáp:
- Thưa giáo sư, nghệ thuật chỉ cần phẩm chứ đâu cần lượng. Giáo sư nhận xâm cho là quý lắm rồi.
- Ông thích con tàu, hoa quả hay thú vật?
- Nếu thế chúng tôi đã không cất công đến tận đây.
- Nghĩa là ông muốn hình phụ nữ?
- Vâng.
- Kiểu nào?
- Toàn thân hay bán thân, đứng hay ngồi, tùy giáo sư. Vả lại, tôi thiết nghĩ giáo sư không có thời giờ, riêng phần tôi, tôi chẳng khoái toàn thân bao nhiêu. Giáo sư xâm cho khuôn mặt nàng là đủ.
- Xâm ở đâu?
- Sau lưng.
Giáo sư Mateo lẩm bẩm nho nhỏ một mình « hừ, đàn bà đẹp mà lại giấu sau lưng ». Hai gã thủy thủ đều nghe câu buột miệng của ông Mateo, và cả hai đều cười tủm tỉm.
Ông Mateo chỉ cái ghế đẩu kê gần cửa ra sân lênh láng ánh nắng ban mai vàng chóe:
- Mời ông cởi áo, và ngồi xuống, quay mặt vào tường.
Gã thủy thủ già rút điếu xì gà to tướng ra lúi húi bứt một đầu, rồi châm lửa, ngửa cổ thở một hơi khói dài. Giáo sư Mateo bưng cái khay đựng đồ nghề ra cạnh ghế đẩu. Ông đeo cặp kiếng cận lên mắt để dễ làm việc gần. Cả ba người đều yên lặng, không ai nói với ai lời nào. Giá hai gã thủy thủ gợi chuyện, giáo sư Mateo cũng không trả lời. Ông nghe tiếng họ đâu mà bắt ông trả lời. Khi ông làm việc, tâm trí ông được tập trung hẳn vào bức hình ông vẽ bằng mũi kim và mực màu trên da thịt khách. Ông như bị người đẹp vô hình lôi cuốn khiến ông tách khỏi thực tại.
Và như thường lệ, ông bâng khuâng nghĩ đến vợ ông. Vợ trẻ lấy chồng già ít khi trung thành. Ông có mấy người bạn bị vợ trẻ cắm hàng đống sừng lên đầu. Họ còn khỏe, còn đẹp mà vợ còn cho « de » huống hồ ông…Vậy mà nàng vẫn một lòng một dạ với ông. Ông quả là tốt phước…
Ông vắng nhà từ sáng đến tối. Trong thời gian dài giằng giặc ấy, nàng đóng cửa đi đâu, nàng chăm lo miếng ăn thức uống cho ông, nàng về làm vợ ông từ lâu mà chưa mang thai. Tuy vậy mối tình giữa hai người vẫn không vì thế mà phai giảm, trái lại còn gia tăng đậm đà hơn xưa nữa.
Ông gặp nàng trong một cuộc dạ vũ. Tây ban nha là quê hương của vũ. Từ ngàn xưa, nghệ thuật vũ ở đó đã làm bao bậc anh hùng si mê. Giáo sư Mateo vừa giỏi xâm mình, lại vừa giỏi vũ nữa. Tuy đã luống tuổi, ông còn cặp giò dẻo dai và trái tim không biết mệt. Nàng cũng là thiên tài về vũ. Điệu flamenco đòi hỏi một tốc độ thật nhanh, nàng vũ còn nhanh hơn tốc độ này một bậc. Nàng còn biết nhảy vitô, nghĩa là điệu vũ dân tộc độc đáo rất khó tập luyện. Khi nhảy, phải đứng trên mặt bàn, mỗi tay cầm một ly rượu vang đầy tới miệng. Tục ngữ Tây ban nha có câu « điệu boléro làm cho ta say chếnh choáng, đến điệu fandango thì ta có cảm giác toàn thân bốc lửa ». Nàng đốt lửa trong lòng giáo sư Mateo đêm ấy bằng những bản fandango kỳ diệu. Rồi nàng trở thành vợ ông.
Ông Mateo ngừng tay, lấy mù soa lau bồ hôi trán. Gã thủy thủ già suýt soa:
-Trời, đẹp quá!
Gã trẻ nôn nóng:
-Đâu, xong rồi hả? Cho tôi ngắm một chút được không, thưa giáo sư?
Giáo sư Mateo cười:
-Ông được quyền ngắm suốt đời, cần gì phải ngắm một chút. Xong rồi đó.
Gã già bê tấm gương lại. Gã trẻ liếc nhìn sau lưng. Mặt hắn bỗng biến sắc:
-Thật đẹp…không những thật đẹp, còn thật giống nữa kia. Giống đến nỗi tôi tưởng là hình chụp của nàng.
Giáo sư Mateo suýt đánh rơi cây kim xuống đất:
-Ông vừa nói gì? Cái gì thật giống? Hình xâm trên lưng giống hình chụp ư?
Gã trẻ gật đầu lia lịa:
-Phải, phải. Không tin giáo sư cứ hỏi bạn tôi mà xem. Anh ta đã từng thấy nàng.
Giáo sư Mateo chấm đầu kim vào mực:
-Còn vài ba chấm nữa thôi, ông chịu khó ngồi xuống cho tôi làm nốt. Hay ông cứ đứng như vậy cũng được. Ông và ông bạn đã được thấy mặt người trong hình xâm này rồi hả?
Gã trẻ vùng quay lại, mũi kim của giáo sư Mateo bị trật ra ngoài. Hắn cười lớn:
-Thấy mặt, chỉ thấy mặt nàng thôi ư? Giáo sư ơi, nếu được chiêm ngưỡng dung nhan nàng thì tôi dám nói làm gì. Tôi còn được hưởng nhiều điều quý báu hơn nữa.
-Nhiều điều quý báu?
-Vâng. Như môi nàng chẳng hạn. Môi nàng hơi dầy này…
-Môi nàng hơi dầy thì làm sao?
-Ha ha…tạo hóa nặn ra làn môi để hôn hít chứ còn để làm gì nữa, thưa cụ giáo sư? Môi hơi dầy hôn hít thú vị gấp trăm lần môi quá mỏng hoặc môi quá dầy. Nàng lại có lối hôn tuyệt…cú mèo.
Giáo sư Mateo quăng luôn cây kim, và đứng bật dậy:
- Ông đã hôn nàng?
Gã trẻ vẫn cười khoái trá:
- Dĩ nhiên. Hôn nàng mới là một phần rất nhỏ của những giây, những phút được sống bên nàng. Giáo sư biết không, da nàng mềm mại ghê, thân thể nàng lại thật lạ, nó toát ra hơi nóng như có lửa, được làm tình với nàng tôi sung sướng đến nỗi có thể chết được. Nàng tâm sự với tôi là nàng chưa hề gặp người đàn ông nào làm tình thành thạo và say sưa vũ bão như tôi. Tôi là thủy thủ, quanh năm đi biển nên luyện được nghệ thuật làm tình siêu phàm…
- Hừ, tôi thành thật chia vui cùng ông. Tuy nhiên, tôi xin phép ông được nêu lên một nghi vấn. Người đàn bà tuyệt vời ông vừa ca ngợi chỉ có thể ở trong trí tưởng tượng.
Gã thủy thủ trẻ tuổi trợn tròn mắt ngó giáo sư Mateo. Hắn không cười ngặt nghẽo nữa, mặt trở nên nghiêm trang. Hắn hỏi gã già thì gã già nhún vai:
- Ông giáo sư không tin tài tán gái độc nhất vô nhị này thì mày trưng ảnh cho ông ta thấy.
Gã trẻ lục túi, và một xấp ảnh đen trắng rơi tuột ra ngoài. Hắn lượm một tấm, dí tận mắt ông Mateo:
- Nàng đấy, ông giáo sư bằng lòng chưa?
Ông Mateo chỉ nhìn tấm hình mà không đáp. Giây lâu ông mới hỏi:
-Tự tay ông chụp?
Gã trẻ ưỡn ngực:
- Vâng, ngoài tài chim gái, tài làm tình, tôi còn có tài chụp hình nữa. Ông giáo sư thấy tôi chụp hình có ngon không? Tôi phải ví von hồi lâu nàng mới chịu cho tôi chụp trần truồng đấy.
Người đẹp trong ảnh đang nằm trên giường. Nàng quay mặt về ống kính nên phía trước của nàng từ đầu xuống chân được hoàn toàn phơi bày. Gã trẻ là thợ ảnh giỏi có khác, không một nét nào trên thân thể nàng bị bóng tối che khuất.
Gã trẻ nói tiếp:
- Chả mấy khi chụp được tấm hình bất hủ như vậy nên tôi đã cho in ra mấy tá. Đồng thời cũng phóng lớn gần chục bức, lồng trong khung mạ vàng đàng hoàng. Tôi đinh ninh bán một vài tuần mới hết, ai ngờ chỉ trong một ngày bán sạch bách. Tối nay, về tàu, tôi sẽ in thêm nữa. Nếu ông giáo sư thích, tôi sẽ gửi biếu một tấm để treo chơi.
- Cám ơn ông.
- Giáo sư từng gặp người đàn bà nào đẹp và dễ yêu bằng nàng chưa?
Giáo sư Mateo chấm đầu kim vào cái ve nhỏ, đựng chất nước đen mà ông vừa mở nút. Và nhanh như điện, ông đâm mạnh vào lưng gã thủy thủ. Ông đâm cả thảy hai lần, ông nhắm giữa tròng mắt của mỹ nhân. Ông vừa rút kim ra thì gã thủy thủ trẻ oằn oại rồi gục xuống.
Nhưng hắn còn tỉnh. Hắn rướn người hỏi:
- Ông giáo sư, ông làm gì tôi thế?
Ông Mateo gằng giọng:
- Giết mày. Giết mày bằng thuốc nọc rắn.
- Tại sao ông giết tôi?
- Vì người đàn bà nhân tình của mày mà mày chụp hình lõa thể ấy là Nàng.
- Nàng là ai?
Ông Mateo chưa kịp đáp thì nạn nhân đã giẫy lên một cái mạnh rồi nằm thẳng cẳng.
Chết.
Thuật lại chuyện tình thê thảm này, nhiều người ở Tây ban nha không biết rõ số phận của nàng ra sao. Dường như sau khi hạ sát gã thủy thủ, ông giáo sư xâm mình phóng xe về nhà, lôi nàng ra vườn hỏi tội. Nàng thú nhận với ông những gì, không ai biết. Ông Mateo cũng kết liễu đời vợ bằng cây kim dúng độc dược.
Té ra nàng cắm sừng trên đầu giáo sư từ lâu. Ông đi khỏi nhà là nàng ngã vào lòng những gã thanh niên từ xa đến bến tàu.

Tây ban nha mất một giáo sư thượng thặng về nghệ thuật xâm mình. Thủ phạm Mateo bị xét xử ngay sau đó. Và bị đền tội
2/7/2022
Người Thứ Tám
Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nhà thám tử cô đơn 00000000

Nhà thám tử cô đơn Truyện thứ nhất Pháp Ô Hô… Nhà Thám Tử Cô Đơn Tuy nước nhà lâm vào tình trạng chiến tranh, công cuộc sản xuất tinh thần...