Thơ Halmosi Sándor: Bóng
núi đổ xuống lưng lạc đà
Thơ Halmosi Sándor rất
khó đọc. Đọc một lần khó nắm bắt được thông điệp và vẻ đẹp thi ca mà tác giả
đưa ra. Bởi thơ ông là một lối thơ duy lý, thi ảnh chồng lên thi ảnh, ý chồng
lên ý, trong cơn thăng hoa của “cảm xúc trào lên”, bởi những “day dứt bủa vây”
đã “cài bẫy” (không phải đánh đố) sự thưởng thức của người đọc. Nhưng khi đã mở
được cái kíp nổ “quả pháo hoa thơ” kia, vô hiệu hóa nó, thì ta thở phào nhẹ
nhõm, thưởng thức sự khám phá của mình và sự sáng tạo của nhà thơ.
Lần đầu tiên tôi đọc tập thơ của một tác giả nước ngoài trọn vẹn và kỹ càng – Đó là đọc tập Xương của nắng của Halmosi Sándor, nhà thơ người Hungary. Đây là một tác giả mới toanh đối với tôi, vì trước đó tôi chưa đọc bài thơ, tập thơ nào của ông, dù ông đã có một tập thơ in ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2020. Và tập thơ này của ông như một bóng núi đổ xuống tấm lưng lạc đà của tôi trên con đường khám phá cái đẹp của ngôn từ, hình ảnh, khám phá vẻ đẹp của tư tưởng thơ… qua một tập thơ đến từ Hungary. Tôi đã khó nhọc nắm bắt và cắt nghĩa từng thi ảnh, từng ý tưởng, từng bài thơ và gộp lại cả tập thơ để nói lên cảm nhận của mình về tập thơ có cái tên rất “đánh đố”.
Quả thật thơ của Halmosi
Sándor rất khó đọc. Nó càng khó đọc hơn khi phải chuyển ngữ, nghĩa là đã qua sự
thẩm dịch của người dịch. Mà dịch thơ thì vô cùng khó khăn nan giải. Đặc biệt
là thơ của Halmosi Sándor – một loại thơ phải nghĩ rồi mới cảm, từ cảm phải
nghĩ tiếp mới mong tiếp nhận được.
Tôi thật sự “choáng” khi
đọc bài thơ đầu tiên – Bài thay lời giới thiệu, mà dịch giả Phan Anh Sơn đã viết
theo phong cách tác giả Halmosi Sándor để miêu tả một tuyên ngôn về thơ của
Halmosi Sándor, theo đúng giọng điệu thơ ông:
Nếu bỏ đi tất cả cái vẻ
ngoài hào nhoáng của ngôn từ và vần điệu
Phần còn lại có còn thơ?
Có còn làm cho ta rung động?
Có!
Ta rung động bởi những cảm
xúc trào lên không che đậy
Bởi những ý thơ bung ra
không theo mạch theo đường
Bởi những day dứt của nhà
thơ bủa vây không cho ta chạy trốn
Bởi đọc lại mỗi lần thêm
ý mới mở ra
Bởi tác giả chính là thơ,
sống trong thơ, thở trong thơ
Nên tất cả những điều viết
ra đều là thơ mà không cần vần điệu.
Tuyên ngôn về thơ của
ông: 1- Sự rung động của thơ: không bắt nguồn từ vẻ hào nhoáng bên ngoài
của ngôn từ và vần điệu; 2 – Thơ là ý nghĩ, là chuỗi ý nghĩ bung ra, trào lên
trong lòng, bởi những day dứt của nhà thơ trước cái mới, và cái mới này vây bủa
không cho độc giả chạy trốn; 3 – Nhà thơ là một bài thơ, là nguồn thơ, nên những
gì ông ta viết ra “đều là thơ ”; 4 – Thơ không đơn nghĩa, mà phải đa nghĩa, người
đọc phải đọc nhiều, mỗi lần đọc là mỗi lần khám phá ra cái hay, cái đẹp của bài
thơ.
Quả là rất tự tin khi có
thể đưa ra tuyên ngôn về thơ một cách dứt khoát, mang đầy màu sắc chủ quan như
thế. Điều này rất dễ dị ứng đối với hầu hết độc giả, những nhà thơ, những nhà
phê bình Việt Nam. Bởi vì người Việt, theo thói quen, thưởng thức một lối thơ
duy tình, ưa vần điệu du dương và ý nghĩa nổi trên mặt giấy. Liệu tập thơ Xương
của nắng có cuốn hút độc giả Việt Nam hay không, bởi một tuyên ngôn
thơ quá xa lạ, quá “nghịch nhĩ” đối với đa số người thưởng thức thơ Việt Nam?
Thơ Halmosi Sándor rất
khó đọc. Đọc một lần khó nắm bắt được thông điệp và vẻ đẹp thi ca mà tác giả
đưa ra. Bởi thơ ông là một lối thơ duy lý, thi ảnh chồng lên thi ảnh, ý chồng
lên ý, trong cơn thăng hoa của “cảm xúc trào lên”, bởi những “day dứt bủa vây”
đã “cài bẫy” (không phải đánh đố) sự thưởng thức của người đọc. Nhưng khi đã mở
được cái kíp nổ “quả pháo hoa thơ” kia, vô hiệu hóa nó, thì ta thở phào nhẹ
nhõm, thưởng thức sự khám phá của mình và sự sáng tạo của nhà thơ.
Chúng ta thử đọc bài thơ
được lấy làm tên tập thơ để minh chứng cho điều này. Khi mới đọc đầu đề của bài
thơ tôi đã ngỡ ngàng, bởi hình ảnh “xương của nắng”. Sao nắng lại có xương nhỉ?
Vô lý quá! Vì thế, có người khi mới đọc qua tiêu đề bài thơ vài dòng đầu đã
buông bỏ, và cho rằng, đây là một loại “thơ thẩn”. Nhưng không, hãy đọc bài thơ
một lần, nhắm mắt lại tưởng tượng và suy nghĩ. Đọc lại bài thơ lần hai, lần ba,
thậm chí tiếp tục đọc và nhâm nhi, phân tích từng thi ảnh, từng ý và chuỗi ý tưởng
nhà thơ đưa ra trong cuộn chỉ thơ tưởng là rối rắm, để tìm ra mối chỉ và rút ra
mối chỉ ánh sáng dẫn lối khám phá. Và ta phát hiện trên sợi chỉ kia từng vệt nắng
tư tưởng, từng vệt nắng nghệ thuật thơ lung linh, làm thăng hoa cảm xúc và cảm
nhận.
Đây là bài thơ Xương của
nắng:
Ngày đầu tiên tất cả còn
lấp lánh, còn nhìn thấy rõ
Và thế là họ nhận ra cái
dằm đầu tiên trong mắt anh, họ lấy ra, cái dằm bằng gỗ Họ nghĩ thế là ổn rồi, rồi
trời tối, rồi rạng đông, ngày thứ hai.
Xung quanh bắt đầu mục
nát, chỉ còn các thanh xà ngang to đã được ngâm tẩm kỹ mới chưa bị. Một cái
bóng mờ hắt lên tất cả, tiếng đàn vĩ cầm vang lên rè rè. Và họ nhận ra cái dằm
thứ hai trong mắt anh, họ lấy ra, cái dằm bằng kim loại. Họ nghĩ thế là ổn rồi,
rồi trời tối, rồi rạng đông, ngày thứ ba.
Và gió rít lên tiếng đồng
tiếng thép, và anh đã thở nặng nề hơn khi họ lấy ra cái dằm thứ ba, cái dằm
gánh đỡ buồng phổi và các sợi dây thần kinh của tất cả các loài hữu tình và cây
cỏ, làm anh rất đau. Họ chỉ cười nghĩ thế là ổn rồi, rồi trời tối, rồi rạng
đông, ngày thứ tư.
Và xung quanh bắt đầu sầm
tối lại, mưa buồn giăng giăng khi họ lấy ra cái dằm thứ tư, tức là cái chấm
sáng nhỏ tí ti kia, cái mà họ nghĩ là cái dằm. Và họ nghĩ thế là ổn rồi, rồi trời
tối, rồi rạng đông, ngày thứ năm.
Cái lạnh rùng mình chạy
khắp trên cánh đồng, nhưng không ai kiếm tìm những người đã ngã xuống, những
ngôi mộ chung nằm im dưới sức nặng khổng lồ, nhưng bàn tay thứ năm không hề run
rẩy khi lấy ra cái gì đó, cái mà họ nghĩ là cái dằm thứ năm. Và họ nghĩ thế là ổn
rồi, rồi trời tối, rồi rạng đông, ngày thứ sáu.
Khi mà họ không tìm thấy
cái dằm cuối cùng, không tìm thấy dù dùng cả kính lúp soi đi soi lại. Trời đã
chạng vạng rồi họ nhìn thấy cái gì đó, lấp lánh lên ấm áp, và trong họ nảy lên
một nghi ngờ, là các cái dằm kia cũng rất giống thế này. Nhưng họ vẫn lấy ra, lấy
ra theo đúng quy trình của nó. Bởi vì cái gì đã được viết ra thì sẽ thành sự thực.
Vì tất cả những gì được viết ra đều sẽ thành sự thực. Và họ vui mừng vì công việc
đã được hoàn thành tốt, họ vui mừng nghĩ rằng mình không bao giờ có thể nhầm lẫn,
họ ngả người ra phía sau thư giãn và quyết định rằng ngày hôm sau, ngày thứ bảy
họ sẽ chỉ nghỉ ngơi và ăn mừng. Rồi trời tối.
Bài thơ dựng lên một cuộc
phẫu thuật để nhằm lấy ra những dị tật, những nguồn bệnh trong cơ thể con người.
Bằng lối cấu tứ lặp lại và tịnh tiến thời gian, tác giả đã dựng lên cuộc phẫu
thuật mang tính hiện thực đa chiều: Ngày thứ nhất: Họ lấy đi “cái dằm trong mắt”
của cơ thể người, mặc dù con mắt của người còn ‘lấp lánh, còn nhìn thấy rõ”. Và
họ tìm ra “bệnh”, đó là “cái dằm bằng gỗ”. Ngày thứ hai: Mắt người bệnh không
còn nhìn thấy rõ nữa, mắt chỉ còn nhìn được “cái bóng mờ”. Và các nhà phẫu thuật
cố tìm, và họ tìm ra “cái dằm kim loại”, mặc dù hôm qua họ cho là trong mắt người
bệnh không còn cái dằm nào nữa. Họ nghĩ “thế là ổn”. Ngày thứ ba: Người bệnh bắt
đầu kiệt sức, họ lấy ra cái dằm trong buồng phổi, cái dằm “đã gánh đỡ buồng phổi
và các sợi dây thần kinh”. Ngày thứ tư: Lúc này vây quanh “người bệnh” một màu
sẫm tối, mưa buồn giăng mắc”, trong khi các nhà phẫu thuật lấy cái dằm thứ tư
trong cái cười vô cảm. Mà cái dằm này là cái “chấm sáng nhỏ tí ti”. Ngày thứ
năm: Người bệnh lúc này đã kiệt sức, cái lạnh đã ngấm vào cơ thể, bắt đầu nhìn
thấy “hình bóng những ngôi mộ”. Các nhà phẫu thuật tìm mãi, tìm mãi, và họ cố
tìm ra “Cái gì đó, cái mà họ nghĩ là cái dằm”. Ngày thứ sáu: Các nhà phẫu thuật
không tìm thấy cái dằm cuối cùng, dù phải “mang kính lúp soi đi soi lại”. Và rồi
họ cũng tìm thấy cái gì đó “lấp lánh, ấm áp” để họ lấy ra. Và họ nghi ngờ “những
cái dằm kia cũng giống thế này”. Xong việc, họ tự vui vẻ với thành quả đã đạt
được và nghĩ: “Tất cả những gì viết ra đều trở thành sự thực!”. Họ vui mừng hưởng
thành quả của mình vì họ nghĩ họ không bao giờ nhầm lẫn!”.
Bài thơ được cấu tứ theo
cấp độ tăng dần của hiện thực qua tay bay của nhà thơ xây cất từng viên gạch
ngôn ngữ cho công trình thơ của mình. Thời gian: ngày 1 đến ngày 6. Cái dằm được
lấy ra từ cái dằm vô tri “bằng gỗ”, rồi bằng “kim loại”, đến những cái dằm lấp
lánh ánh sáng trí tuệ, lấp lánh ánh sáng tư tưởng: “cái dằm gánh đỡ buồng phổi”,
cái dằm “chấm sáng nhỏ tí ti”, rồi cái dằm vô hình, cái dằm “lấp lánh sáng lên ấm
áp”. Từng thang bậc của cảm xúc, tư tưởng lộ dần, ta nắm bắt được chúng. Cuộc
phẫu thuật lấy những cái dằm chỉ là cái cớ, cái nhà thơ mượn nó để nói một điều
khác lớn lao vượt ra ngoài nghĩa đen. Đó là sự tàn nhẫn tước bỏ đi những gì đẹp
đẽ quý giá của con người, cuộc sống trong sự kém hiểu biết, vô cảm… của những
người “cầm cân nảy mực”, của thể chế… Tư tưởng bài thơ này đưa ra, có thể áp dụng
vào trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống. Ta thử ví dụ: Bài thơ, tập thơ nằm
trong “lưỡi dao” của các nhà phê bình. Họ bóc tách, vứt bỏ, chà đạp không
thương tiếc lên câu chữ, hình ảnh của bài thơ. Dù sau khi bóc tách, vứt bỏ, chà
đạp… họ vỡ lẽ ra, những cái mình vứt đi đó là “ánh sáng lấp lánh”, nhưng họ vẫn
“vui mừng vì công việc đã hoàn thành”, và họ “không bao giờ nhầm lẫn được”. Hay
vận vào một cuộc phê bình, ta cũng có kết quả đó. Cao hơn là một thể chế khi
đánh đổ một thể chế khác. Cơ thể chính trị của thể chế cũ sẽ bị tước bỏ vứt đi
“những ánh sáng lấp lánh” mà nó vốn có. Thật tàn nhẫn! Bài thơ vì thế rất đa
nghĩa!
Thông điệp bài thơ, và
làm chủ đề cho cả tập thơ là: Những thứ quý giá, đẹp đẽ là ánh sáng lấp lánh, ẩn
sâu trong con người. Phải tìm hiểu, khám phá để tìm ra, thấy được giá trị, sức
lan tỏa của nó đối với cuộc sống để mà nâng niu, trân trọng. Đừng chà đạp, vứt
bỏ nó bởi bất kỳ nhân danh nào!
Với lối tư duy duy lý, vận
dụng một thể thơ tự do mềm mại bằng cách tạo câu ngắn dài khác nhau, ngắt dòng
uyển chuyển, sử dụng hình ảnh mới lạ, độc đáo, làm cho câu thơ, bài thơ mang một
nhịp tâm hồn riêng biệt, Halmosi Sándor đã thuyết phục người đọc khi lấy hiện
thực cuộc sống và những gì ẩn chứa phía sâu xa của cảm thức để làm nền cho ý tưởng
và tư tưởng của mình thăng hoa.
Im lặng trước sự thật là
một hành động đáng lên án, Nhà thơ đã dùng một hình ảnh thật đắc địa để diễn tả
nó:
Sự im lặng bị xiên vào cọc
nhọn.
(Bạn là tôi)
Ngay cả cái “vết sẹo đã
lành” của chỗ trống trang thơ cũng phát sáng trong ta một cảm nhận về việc bồi
đắp cho vẻ đẹp tâm hồn: Cần phải biết cái đẹp ẩn giấu trong bạn, trong tôi, cần
phải phát hiện ra vết sẹo đã lành và làm cho những thứ xấu xa không bám víu vào
con người:
Trong thơ luôn có một chỗ
trống
Trong sáng thế một vệt hồng
tươi rói
Vết sẹo đã lành
Bạn đã thấy tôi khóc
Còn tôi thấy bạn hì hụi tối
ngày thổi bụi bay đi để không bám víu tâm hồn
(Một phân tử)
Halmosi Sándor luôn nhắc
đến vai trò của thơ và của nhà thơ bằng những hình ảnh suy gợi của “Người biết
nói tiếng thơ thì lặng im nghe bằng cả tấm lòng”
Cái thiếu muôn đời co giật
nơi dạ dày và cổ họng. Đốt xương cột sống nhói đau. Sự im lặng ngàn cân sau câu
nói cuối cùng, thơ đấy. Giãy chết. Sự tàn nhẫn tạo lập của suy nghĩ. Cái thiếu
vắng của ngôn từ. Và rồi vẫn nói, vẫn còn cứ nói.
(Đỉnh núi Dobogoko)
Bài thơ Cần phải say tới
mức cuồng điên là một bài thơ duy lý mà chỉ đọc một lần khó nắm bắt được thông
điệp của nhà thơ:
Cần phải say mê tới mức
cuồng điên thì chúng ta mới luôn luôn dám liều mình nhảy ra ngoài, phải say mê
và cuồng điên. Phần xác càng không dám thì phần hồn càng muốn hơn. Những sợi
gân đứt rách cuối cùng đã không còn níu giữ, không còn kéo giật lại nữa. Cú bước
ra huyền bí, nguồn sống đập nhịp nhàng không thành tiếng, dừng. Những mùi hương
lạ lẫm. Chuyển cảnh. Đồ vật rơi xuống đập vào nền đất mà không có tiếng kêu.
Phim câm. Giẫy giụa, ánh đèn flash. Khoảng dừng bất tận. Rồi quay trở lại vào
thân xác, lại câu chữ, lại giả vờ như nói chuyện. Ồn ào. Trống rỗng.
Dùng thủ thuật điện ảnh với
trường đoạn, chuyển cảnh và ánh sáng tắt/ mở bất ngờ, ông đã đưa ta nhập
vào mê cung say để xem cảnh nhân vật thoát xác tìm tự do, tìm ánh sáng tư
tưởng, tạo lập nên giá trị của chính mình. Nhà thơ khi sáng tác cũng phải vậy.
Phải “say tới mức cuồng điên” mới thấy và làm nên cái “huyền bí, nguồn sống đập
nhịp nhàng không thành tiếng. Những mùi hương lạ lẫm” là loại thơ mà người thưởng
thức cần đến, chứ không phải những loại “ồn ào, trống rỗng”. Đó là một phương
châm sống mà nhà thơ thông điệp với người đọc.
Trách nhiệm của nhà thơ
trước cuộc đời là trách nhiệm của người “truyền đạo”. Nhà thơ phải có những bài
thơ chắt ra từ máu thịt mình, đem tới cho người đọc để họ nhận chân cuộc sống,
để họ sống tốt hơn lên; niềm vui, lạc quan luôn tràn ngập tâm hồn. Halmosi
Sándor đã làm rất tốt trọng trách của nhà thơ trước cuộc đời, trước nhân dân
mình:
Hãy biến cuộc đời thành lời
cầu nguyện
Đừng biến lời cầu nguyện
thành ra cuộc đời
Thể xác nhẹ hơn mỗi khi
buổi tối
Tinh thần nhẹ hơn mỗi lúc
rạng đông.
Niềm vui có ý nghĩa gì nếu
dễ để mất vui
Thế giới có ý nghĩa gì nếu
dễ dàng chiếm được?
(Kịch nói Hy Lạp)
Halmosi Sándor đã dùng lối
thơ duy lý bằng các triết lý được đúc rút trong cuộc sống để tạo dựng bài thơ,
nên bài thơ có một sức nặng trí tuệ. Ta hãy đọc một bài thơ về “quá trình trở
thành một con người khác” với những triết lý và thi ảnh đẹp:
Ta vấp ngã bởi vì ta tin
tưởng
Ta đứng lên bởi vì ta đã
mất lòng tin
Bây giờ ta đứng đây trong
mùa xuân ngây ngất
Phủi bụi đi, tắm rửa cho
ta sạch sẽ
Hóng mát, phơi khô trong
gió
(Các chặng đường)
Halmosi Sándor đưa ra một
cách “bảo dưỡng tâm hồn” thật đáng trân trọng:
Chúng ta cũng vậy, cần phải
học cách bảo dưỡng tâm hồn mình, cần giữ cho sự nhạy cảm của mình luôn sẵn
sàng, không né tránh điều gì cả, cứ để cho những sự xấu xa bẩn thỉu như bùn đỏ
chảy qua các xóm các làng trong cơn lũ, cứ để cho chúng chảy qua tâm hồn bạn.
Chúng sẽ làm cho bạn trở nên sạch sẽ hơn.
Nhiều lần, nhiều lần nữa.
(Thế này làm sao mà không điên được)
Ta gặp trong thơ Halmosi
Sándor nhiều câu thơ mang tính triết luận sâu sắc về cuộc sống nhân sinh:
Nếu ta bỏ đội hình, ta sẽ
bị chúng nó săn lùng từng người một. Nếu ta muốn không bị hại, ta cần tản ra
phá bỏ đội hình.
Vòng tròn ma quỷ.
(Nếu chúng ta bỏ đội
hình)
Điều tôi không chịu nổi
không phải là cái đẹp, mà là những gì bên dưới. Khi đó tôi còn chưa biết rằng
cái đẹp là vỏ bọc ở trên cùng.
(Diệu tango Argentina)
Bức tượng biết gì về đá
lúc trời mưa?
Thế giới biết gì về Chúa
Trời khi lạnh giá?
(Biết gì)
Những điều chúng ta không
nói ra, các thiên sứ sẽ gom vào, ghi chép lại.
Những điều ngay cả các
thiên sứ cũng không lưu truyền tiếp nữa, sẽ là các cột trụ gánh trời.
(Bên lề)
Nhà thơ cũng dựng lên một
hiện thực của cách sống mới, cách viết mới. Nhà thơ chịu trách nhiệm với việc
làm của mình và đau nỗi đau của con người:
Chủ nghĩa tượng trưng đã
hết thời rồi.
Con người bước vào một
liên minh mới với các khái niệm và sự vật, sẵn sàng bỏ qua tất cả sự hoa mỹ và
mánh lới để nói về chúng đúng theo các quy luật và trọng lượng của vấn đề. Chịu
trách nhiệm khi làm xây xước thực tế. Đau xé mình theo tờ giấy bị xé đi. Mỗi
người đúng thật là chính mình.
Cánh cửa xuống hầm nhà mở
rộng.
Cây sồi và mặt bàn ướt đẫm
sương mai.
Con người sống bon chen mệt
mỏi trên trái đất, chỉ mong có một cuộc sống đẹp đẽ. Họ mơ đến một bầu trời hạnh
phúc. Nhà thơ đã dựng nên một bầu trời đó trong bụng máy bay – Một bầu trời mơ,
một bầu trời để vươn tới. Nhưng liệu có là hiện thực?
Đang là ngày hội.
Bầu trời Omszk giống như
bầu trời trên bất cứ chiếc bình cổ làm bằng sứ nào bên Trung Quốc
Ở trên này mọi thứ được
điều hành bằng tình thương yêu của Chúa
Như thể bạn là người theo
Đạo
Như thể các người khác
cũng là người theo Đạo
Các hành khách ngoan đạo
ngủ yên trong bụng máy bay, nghỉ cho tan đi cái mệt mỏi vì chen lấn nhau trên mặt
đất
Con mắt của các tiếp viên
nhìn thấy hết tất thảy
(Bầu trời Omszk)
Đề cao cái “tôi” trong
thơ, ý thức trách nhiệm người cầm bút luôn thôi thúc nhà thơ bởi những trở
trăn, luôn phải gối lên những chiếc gai hiện thực để tìm cái mới, nếu không tìm
thấy thì theo đuổi đến cùng để sáng tạo:
Cái tôi trải nghiệm chỉ
trải nghiệm thôi, không nhớ lại. Cái tôi kể chuyện nhớ lại cả những chuyện chưa
bao giờ xảy ra. Các thiên sứ miễn tội cho. Nhưng Thơ không cho phép.
(Phân loại)
Chúng ta là những nhà
thơ, có phải không?
Còn ai khác ngoài chúng
ta dùng những chiếc vương miện quấn từ gai thay cho gối?
(Những cái gai)
Em sẽ ra đi. Tìm kiếm điều
em muốn
Thứ em tìm được sẽ không
làm em vui lòng
Thứ không tìm thấy sẽ làm
em đeo đuổi
(Em nói đi, những con ngựa
thành Troa đã mang gì vào đó)
Halmosi Sándor quan niệm
thơ làm tác nhân để cứu rỗi tâm hồn con người. Nếu trái đất còn, vạn vật còn,
thì còn thơ:
Nếu tiếp tục như thế này,
bạn sẽ rồi chán ngấy việc đọc thơ. Bạn sẽ chỉ sống bằng nước, bằng bánh mì và
thịt mỡ hun khói. Đấy là nếu như loài lợn còn tồn tại được cho đến ngày ấy, để
có cuộc vật lộn tay đôi giữa người và vật. Và nếu như lúc đó vẫn còn có thơ –
giải phẫu không thuốc tê trên người sống
(Giải phẫu không thuốc tê
trên người sống)
Tư duy thơ theo lối duy
lý xuyên suốt cả tập thơ Xương của nắng. Với lối tư duy này,
Halmosi Sándor bắt người đọc phải dừng lại trên từng chữ, từng câu thơ, khám
phá từng hình ảnh thơ, cách cấu trúc bài thơ để tìm thông điệp ông đưa ra. Nhà
thơ đã dùng thủ pháp nghệ thuật của điện ảnh bằng những chuyển cảnh bất ngờ,
táo bạo, tạo ra “những khoảng đen” của không gian, thời gian trong bài thơ, làm
người đọc chìm vào không gian của hình ảnh 3D và âm thanh nổi của ngôn từ phát
ra để truyền đạt tư tưởng, tình cảm của mình. Để chắt lọc ra tinh túy thơ của
Halmosi Sándor, vì thế vừa hấp dẫn vừa khó nhọc. Khó nhọc vì phải “đánh vật” với
ngôn từ, hình ảnh thơ không dễ nắm bắt; hấp dẫn vì cái vỏ âm thanh cuồn cuộn những
suy tưởng vang lên và điệp trùng bất tận, mở ra một ánh sáng mơ hồ, một mạch nước
và những ánh chớp của tư tưởng. Đó là ánh chớp của sự vươn tới cái đẹp, gìn giữ
cái đẹp, trau dồi cái đẹp, khát khao và khai phóng tự do, mà ở đó con người như
thơ, những thực thể thơ với vẻ đẹp cao thượng của nó!
Ngôn ngữ thơ của Halmosi
Sándor là một thứ đèn chùm của ngôn ngữ nhiều màu sắc: lấp lánh, êm dịu và
không ít khi chói gắt. Mặc dù phải thông qua bản dịch thơ, nhưng chúng ta dễ cảm
nhận điều này bởi nghĩa chữ và hình ảnh lúc trần trụi mộc mạc đầy bụi đất lam
lũ từ cuộc sống, hay những hình ảnh với lối ví von thông qua tầng suy cảm của
lý trí, thậm chí có lúc không ngần ngại dùng những từ ngữ, hình ảnh “nghịch
nhĩ”:
– Mỗi người đúng
thật là chính mình.
Cánh cửa xuống hầm nhà mở
rộng.
Cây sồi và mặt bàn ướt đẫm
sương mai.
– Bây giờ ta đứng đây
trong mùa xuân ngây ngất
– Phủi bụi đi, tắm rửa
cho ta sạch sẽ
Hóng mát, phơi khô trong
gió
(Các chặng đường)
– Cái thiếu muôn đời co
giật nơi dạ dày và cổ họng. Đốt xương cột sống nhói đau. Sự im lặng ngàn cân
sau câu nói cuối cùng, thơ đấy. Giãy chết. Sự tàn nhẫn tạo lập của suy nghĩ.
Cái thiếu vắng của ngôn từ. Và rồi vẫn nói, vẫn còn cứ nói.
(Đỉnh núi Dobogoko)
– Sự im lặng bị
xiên vào cọc nhọn.
(Bạn là tôi)
Tôi rất thích cái điệu
buông trong thơ Halmosi Sándor khi tạo nhịp tâm hồn cho đoạn thơ, bài thơ. Cái
điệu buông này như một chỗ xuống giọng của âm vực khác, làm mềm câu thơ văn
xuôi, làm cho nhịp đọc của ta có khi dừng lại hay chìm xuống theo cảm xúc và ý
tưởng mà nhà thơ tạo dựng. Đó là câu thơ ngắn, kết ở cuối đoạn thơ, bài thơ:
– Trong thơ luôn có một
chỗ trống
Trong sáng thế một vệt hồng
tươi rói
Vết sẹo đã lành
– Nếu ta bỏ đội
hình, ta sẽ bị chúng nó săn lùng từng người một. Nếu ta muốn không bị hại, ta cần
tản ra phá bỏ đội hình.
Vòng tròn ma quỷ
Tôi cũng thích cái điệu
nhấn trong thơ Halmosi Sándor khi muốn tạo không khí cho câu thơ, đưa ra phán
quyết của mình trước một vấn đề nào đó. Những lúc này cái sự “lên gân”, “ức hiếp”
của câu chữ làm những băn khoăn, suy nghĩ của người đọc cuốn theo vấn đề ông
đưa ra:
– Cái tôi trải nghiệm chỉ
trải nghiệm thôi, không nhớ lại. Cái tôi kể chuyện nhớ lại cả những chuyện chưa
bao giờ xảy ra. Các thiên sứ miễn tội cho. Nhưng Thơ không cho phép.
(Phân loại)
Tập thơ Xương của
nắng được chia làm 4 phần: Mạnh mẽ, Xương của nắng, Cổ thư, Bầu trời
Omszk với lời đề từ: Đây là thánh lễ/ Buổi hiến tế cuối cùng của
Pilinszky – thi hào kiệt xuất của Hungary. Mỗi phần thơ với nội dung đề
cập một chủ đề, nhưng nằm trong một cột sống của cơ thể sống, có phần hồn, phần
xác của một con người riêng biệt hay là một cơ thể xã hội. Một cơ thể mạnh mẽ, ẩn
chứa những tinh túy của cuộc sống với ánh sáng xương của nắng; một tâm hồn cô
đơn trong các tầng mức chìm lắng hoặc độc cô tỏa sáng; một khát khao tự do,
khát khao sống vì cái đẹp, tận hiến cho cái đẹp trong bầu trời Omszk được gói gọi
trong tập thơ nhẹ về trọng lượng, nhưng có sức nặng của trí tuệ và tư tưởng. Với
lời đề từ lấy từ thơ của Pilinszky – Một nhà thơ vĩ đại Hungary thế kỷ XX,
thông qua tư tưởng Pilinszky: Sự kết hợp giữa đức tin Công giáo La Mã và sự bất
mãn về trí tuệ, câu đề từ như một xác tín cho tập thơ, rằng, Halmosi Sándor
đang truyền đạo từ những bài thơ của mình trong một thánh lễ có tên Xương
của nắng. Những ánh sáng đẹp đẽ lấp lánh trong cơ thể phát sáng bởi một đức
tin: Những gì tốt đẹp sẽ được nâng niu, gìn giữ, bồi đắp và thăng hoa trên một
ý chí độc sáng của tự do.
Thơ là Chúa Trời! Halmosi
Sándor đã chứng minh bằng tập thơ Xương của nắng. Tập thơ tuy mỏng,
nhưng tôi đã chịu sức nặng lý trí và tư tưởng của nó như một con lạc đà thồ những
bồ chữ trên lưng qua sa mạc. Và tôi đưa bồ chữ đó đến với bạn đọc với những cảm
nhận chủ quan nhất của mình.
Tôi thở phào và ngâm mấy
câu thơ của Halmosi Sándor được dịch giả Phan Anh Sơn dịch thật tuyệt vời:
Tiếng lạo xạo của ở đây
và bây giờ
Tiếng rú rít điếc tai sau
tĩnh lặng yên bình
Thế giới này sẽ đổi thay
bởi vì Cái đẹp
hay vì tia nắng trong mắt
em
hay là phần còn lại của
tia nắng đó…
Hà Nội, 9/2/2022
Trần Quang Đạo
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét