Là một thể thơ lâu đời ở Trung Quốc, thâm nhập và ảnh hưởng
sâu rộng trong đời sống văn học Việt Nam, thơ tứ tuyệt là một thể loại kết tinh
được khá nhiều nét độc đáo của những giá trị tinh thần văn hóa phương Đông.
Chính điều đó, dường như đã góp phần tạo nên những sức mạnh đặc biệt của tứ tuyệt.
1- Mối quan hệ vi mô - vĩ mô
Tứ tuyệt là một chỉnh thể vi mô toàn vẹn. Trước hết, nói về
con số 4. Chu Dịch và những con số thần bí của nó có thể là một cơ sở lý giải
hình thức thơ tứ tuyệt. Số 4 trong quan niệm của nhân loại (không chỉ phương
Đông) là con số hoàn thiện nhất, làm nổi bật vũ trụ trong tổng thể của nó: con
số chỉ 4 mùa, bốn phương, bốn biển… Chỉ riêng số 4 và bội số của nó: 4×2=8
câu, hoặc 4×7=28 chữ, 4×5=20 chữ, đã tạo nên một cấu trúc cân đối, toàn vẹn. Thậm
chí, trong truyền thống thơ ca Trung Quốc, người ta so sánh một cách thích thú
20 chữ của bài thơ tứ tuyệt ngũ ngôn với 20 “ông hiền”. Nhân cách mỗi ông hiền
và mối liên hệ lẫn nhau của họ biến bài thơ thành một hành vi lễ nghi mà ở đó
những điệu bộ và biểu tượng gợi lên những nghĩa luôn luôn được đổi mới [5]. Quy
luật đối lập âm dương, đảm bảo cân bằng âm dương qua việc phối hợp các thanh bằng-trắc,
các nhịp chẵn lẻ (nhịp 2/4, 4/3 đối với người Trung Quốc là nhịp cơ bản của vũ
trụ), tạo thành một cấu trúc có quy luật với những quan hệ nội tại chặt chẽ,
làm một bài tứ tuyệt dù rất nhỏ nhưng đảm bảo là một cấu trúc hình thức hoàn chỉnh
cân xứng, nhịp nhàng, chặt chẽ, khó phá vỡ.
Từ 20 đến 28 chữ gói gọn trong bốn câu thơ, đó là một kết cấu
nghệ thuật trang nhã, xinh xắn, cân đối. Từ nhan đề cho đến mỗi câu thơ đều có
khả năng đảm nhận những chức năng nghệ thuật độc lập.
Đề bài nhiều khi là biểu tượng, thần khí của bài thơ, là yếu tố
quan trọng để giải mã toàn bộ bài và phát triển tứ thơ: Tuyệt cú, Ngôn
hoài, Thiên trường vãn vọng, Vãn cảnh, Mộ, Cảnh khuya…
Câu kết thường giữ vị trí nâng cao vấn đề tạo khả năng đột ngột,
bất ngờ về chuyển ý, đưa bài thơ lên một tầm vóc mới. Tầm không gian mở ra vô tận,
vô biên: Vời trông chỉ thấy dòng sông ngang trời (Lý Bạch), Một
tiếng kêu vang lạnh cả trời (Không Lộ thiền sư). Thời gian hướng về vô hạn,
vĩnh cửu: Người xưa (Kinh Kha) đã khuất rồi, Nước sông ngày nay còn lạnh
buốt (Lạc Tân Vương); Thương một đời đâu phải tạm thương(Chế Lan
Viên). Một tư thế của chủ thể trữ tình: Hai tay gây dựng một sơn hà (Hồ
Chí Minh); Bỗng nghe vần thắng vút lên cao (Hồ Chí Minh). Một tâm sự
bất ngờ: Uổng theo vầng nguyệt đợi quân vương (Vương Xương
Linh), Cảnh xuân thực ra dành cho ai? (Lý Thương Ẩn), Chưa ngủ vì lo
nỗi nước nhà (Hồ Chí Minh). Một triết lý đúc kết: Xưa nay chinh chiến
mấy ai trở về (Vương Hàn).
Thậm chí một chữ trong bài cũng có nhiệm vụ tạo không khí, chứa
sức lan toả cao độ của ý nghĩa, được gọi là nhãn tự: Trường khiếu nhất
thanh hàn thái hư - Không Lộ thiền sư; Bao túc ma hoàn lô
dĩ hồng - Hồ Chí Minh. Mỗi từ được tinh luyện rất công phu khiến cho
“Thơ làm xong quỷ thần cũng phải sửng sốt” (Đỗ Phủ).
Chính vì con số 4 chứa đựng được cả vũ trụ nên bài thơ tứ tuyệt
được coi là một tổng thể toàn vẹn mang tính vi mô. Nhưng nội dung và cả cấu
trúc hình thức của tứ tuyệt không hề hạn chế ở cấp độ vi mô mà vươn tới hình ảnh
của thế giới vĩ mô. Đây là mối quan hệ biện chứng giữa cái nhỏ và cái lớn thể hiện
cảm quan triết lý phương Đông về vũ trụ.
Người Trung Quốc cổ xưa vốn cảm thấy vũ trụ là một thể thống
nhất, trong đó, cái nhỏ tồn tại trong cái lớn, cái nhỏ là biểu hiện của cái lớn.
I. X. Lixêvich trong Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa đã chỉ ra rằng,
người Trung Quốc cho đạo (quy luật khách quan), đại (cái lớn) được biểu hiện
trong tất cả: trong đoá hoa, trong vầng sáng ban mai, trong cái đập cánh của
con bướm non, trong tiếng rì rào của lá, trong giọt sương phản chiếu thế giới
[1, 328]. Thuật xem thiên văn để đoán số phận con người và vận mệnh quốc gia là
xuất phát từ cảm quan triết học này. Ngay trong cái nhỏ bé cũng chứa đựng cái
vô cùng. Kim Thánh Thán đã cảm nhận điều đó khi nhìn cách biến hoá màu sắc trên
chiếc lông ở cổ con chim. Hơn nữa, cái nhỏ cũng đóng góp một sức mạnh phi thường
trong cấu trúc thế giới: “Nếu nắm được cái chủ yếu tuy nhỏ cũng thành công dục:
Cũng như cái trục xe chỉ một tấc cũng làm cho bánh xe chuyển động, cái xe sở dĩ
đi ngàn vặn dặm là có cái trục ba tấc”[Lưu Hiệp, 2, 232].
Với cấu trúc rất bé nhỏ, tứ tuyệt là loại hình nghệ thuật biểu
hiện khá điển hình cho mối quan hệ vi mô - vĩ mô ấy. Nhà thơ phương Đông vốn đã
cảm thấy thế giới là một tản mạn vô vàn những sự vật, hiện tượng, là một bức
tranh được ghép từ các cành nhỏ. Chỉ cần ngắm sự vật nhỏ bé sẽ thấy được hình mẫu
của cả thế giới, thấy được cái đạo của vũ trụ. Nguyên tắc “dĩ thiểu kiến đa” được
vận dụng triệt để trong cách tiếp cận thế giới của tứ tuyệt: qua cái nhất thời
thấy được cái vĩnh cửu, qua một khoảnh khắc nhìn thấu cả chân lý cuộc đời, qua
một hiện tượng chiêm nghiệm được quy luật. Chỉ một tiếng trùng đêm đông ảo não
cũng diễn tả kiếp người buồn đến bạc trắng đầu (Bạch Cư Dị). Một cái cây trước
sân mùa đông còn trổ những bông hoa là ký hiệu của sự tàn tạ, xơ xác, tiêu điều
chốn phồn hoa (Sầm Tham). Có thể nói, tứ tuyệt chính là một góc nhìn hẹp ra thế
giới vô cùng.
Tuy nhỏ, song giác độ này không hề bị hạn chế sức mạnh và sức
bao quát. Ví như một ống kính thiên văn bé tí mà có thể chiếm lĩnh cả bầu trời
cao rộng, một vầng trăng nhỏ mà soi sáng cả muôn sông (nguyệt ấn vạn xuyên).
Trong một hình thức hữu hạn vẫn chứa đựng được nội dung khái quát (vô hạn). Muốn
làm được điều đó, tứ tuyệt phải thực hiện được nguyên tắc miêu tả những khoảnh
khắc dồn nén bản chất quá trình đời sống.
Với bốn câu thơ, tứ tuyệt không thể bao quát một phạm vi hiện
thực rộng lớn như các thể thơ trữ tình có quy mô lớn khác. Tứ tuyệt hướng tới
những thời điểm đặc biệt của hiện thực và tâm trạng. Đó là phút giây sững sờ trước
màu hoa đào tươi thắm gợi nhớ một bóng hình quá khứ (Thôi Hộ), là phút hối hận
khi sắc liễu xanh đánh thức những khát khao tuổi trẻ (Vương Xương Linh). Hiện
thực đã được tỉnh lược tối đa, các chi tiết mang tính chọn lọc và khái quát
cao. Tứ tuyệt có khả năng gói gọn được cái cốt lõi, cái tinh tuý nhất của đời sống
trong một hình thức nhỏ nhất là như vậy.
Khi cả vũ trụ dồn chứa trong một cấu trúc dồn nén, đòi hỏi cấu
trúc đó phải có khả năng tạo nên điểm bùng nổ, sức thăng hoa, gợi mở và những đợt
dư ba về ý nghĩa và cảm xúc. Vì lẽ đó, tứ tuyệt là một chỉnh thể không hề khép
kín. Chi tiết đời sống trong tứ tuyệt chỉ là những nét chấm phá nhưng đầy sức gợi,
sức thuyết phục và lan toả. Sức quyến rũ của bốn câu thơ ngắn gọn là ở độ mờ ẩn
sau từ ngữ với nguyên tắc “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời), “thính hồ vô
thanh”(nghe ở chỗ không có tiếng), “huyền ngoại chi âm”(âm thanh ngoài dây
đàn), một nguyên tắc phù hợp với mô hình tư duy nghệ thuật phương Đông. Đó là
tác phẩm nghệ thuật không bao giờ tìm đến cái trọn vẹn, hoàn chỉnh, tối đa mà
luôn để ngỏ trong cách miêu tả, mặc cho trí tưởng tượng của người thưởng thức
tung hoành. Cũng như tranh thủy mặc thường phác hoạ những hiện tượng thiên
nhiên không hoàn chỉnh, mờ ảo với những nét lộ, nét khuất, nét dở dang là để gợi
ẩn ý theo bút pháp “vẽ mây nẩy trăng”. Thơ Đường có miêu tả hoa nở hoa tàn cũng
là để cảm nhận dòng thời gian chảy trôi vĩnh hằng, có miêu tả tiếng chuông chùa
xa, mưa rơi, sáo mục đồng là để cảm nhận cái vang vọng nhiều hơn miêu tả chính
nó. Vì luôn mở ra, không khép kín nên thơ ca phương Đông mãi mãi là một thế giới
huyền bí, đầy ý vị, khơi gợi và hấp dẫn vô cùng, bởi đó là hình ảnh của chân lý
cuộc đời: luôn vận động, không có điểm dừng, không kết thúc. Kết cấu của tứ tuyệt
do đó là một kết cấu mở.
Mọi cung bậc tình cảm, mọi rung động sâu xa khó được miêu tả
kỹ càng trong tứ tuyệt. Chúng thường được thăng hoa từ những khoảng trống, những
nốt lặng vô hình, giữa những từ ngữ, những dư ba ý nghĩa, những ám ảnh xoay
vòng, qua kết cấu và miêu tả, qua các nhãn tự. Chữ hồng cuối bài thơ Chiều
tối của Hồ Chí Minh không chỉ giúp xua tan nỗi buồn thăm thẳm của thân phận
tù đầy mà còn kín đáo bộc lộ ước mơ về một mái ấm gia đình của người chiến sĩ
cách mạng. Tứ tuyệt có thể tả một mà gợi mười nhờ sự dồn nén sức biểu cảm trong
những chi tiết thực chắt lọc và tính đan chéo, trùng điệp của các quan hệ. Tương
quan giữa thuyền - bến, sáng - chiều, ở lại - ra đi, động - tĩnh, thời gian - không gian … đã tạo nên nỗi bàng hoàng hụt hẫng trong tâm trạng con người trước
cảnh biệt ly (Lòng anh làm bến thu - Chế Lan Viên ). Với hình thức rất ngắn,
hiệu quả tứ tuyệt cũng đi bằng con đường rất ngắn, dội thẳng vào trái tim con
người, không qua một lý thuyết, giãi bày dài dòng nào (Tiễn biệt trên sông Dịch - Lạc Tân Vương, Ngắm trăng - Hồ Chí Minh, Canh cá tràu - Chế
Lan Viên). Tính chinh phục của tứ tuyệt ngày càng cao cũng vì lẽ đó.
Về ngôn ngữ, khi tìm hiểu ngôn ngữ thơ cận thể (bát cú và tứ
tuyệt) các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng, do bài thơ vắng các hư từ, giới từ,
chủ từ, kết cấu danh từ là kết cấu chủ yếu, thiếu tiêu chí thời gian xác định,
cho nên cái đa nghĩa trong thơ cận thể không phải là ngẫu nhiên mà thành thường
lệ, làm cho hình tượng thơ “vừa trừu tượng vừa mơ hồ, vừa mông lung tràn trề”.
Hơn nữa vì các yếu tố miêu tả được rút xuống mức tối thiểu, tứ tuyệt phải dùng
sức mạnh của sự kết hợp để xây dựng một trật tự không gian, thời gian mới. Điều
đó góp phần tạo nên ưu thế ngôn hữu hạn, ý vô cùng của tứ tuyệt.
2- Tư duy tổng hợp và trực giác
Tư duy tổng hợp biện chứng là quá trình tìm đến cái tổng thể,
toàn vẹn của sự vật và hiện tượng thông qua các quan hệ. Từ việc tìm ra hệ thống
các quan hệ đó, người phương Đông nắm bắt cái yếu tố cùng bản chất nhưng đối lập
(nắng - mưa, nước - lửa, lạnh - nóng, ngày - đêm, sáng - tối, cứng - mềm…) để đưa
ra những kết luận: vàng gió đỏ mưa, đời cha ăn mặn đời con khát nước, gieo
gió gặt bão…
Tứ tuyệt sử dụng phương thức tư duy này như một cách đặc biệt
để khắc phục hình thức nhỏ để khám phá bản chất đời sống và thế giới tâm hồn
con người. Chính vì tứ tuyệt nhỏ nên nhu cầu nắm bắt cái thần, khí (cái toàn vẹn,
cái tinh thần) và bản chất sâu kín của đời sống càng mạnh. Hơn nữa, lối tư duy
cầu tính phương Đông (sự phối hợp các quá trình trực giác và lý tính, vô thức
và hữu thức, tiềm thức và ý thức) ít năng lực duy lý phân tích đã khiến cho nhà
thơ không thể dài dòng được mà phải đi ngay vào việc nắm bắt tinh thần thế giới,
làm cho bài thơ tứ tuyệt là nơi tập trung cao độ tính khái quát và triết lý.
Hạn chế trong miêu tả chiều rộng hiện thực, tứ tuyệt dồn khả
năng nghệ thuật vào chiều sâu khái quát. Quan điểm đời sống của tứ tuyệt thường
được gửi gắm trong những hạt nhân tư tưởng triết lý thông qua các cặp phạm trù
đối lập diễn tả bản chất và sự vận động của thế giới: hữu hạn - vô cùng, khoảnh
khắc - vĩnh cửu, có - không, thực - hư, xa - gần, quá khứ - hiện tại …
Giá trị khái quát đời sống thông qua các quan hệ diễn tả những
chân lý đời sống đưa tứ tuyệt đến gần hình thức siêu cá thể mang tính phổ quát.
Với ý nghĩa đó, cặp phạm trù hữu hạn - vô cùng trong bài thơ tiễn bạn của Lý Bạch
không chỉ thể hiện nỗi sầu ly biệt dâng đến không cùng mà còn diễn tả cảm giác
nhỏ bé, đơn côi của con người trước cái vĩ đại và vô tận của thiên nhiên, một cảm
quan mang tính nhân loại, có từ Đăng U Châu đài ca của Trần Tử Ngang, Đăng
cao của Đỗ Phủ đến Ngôn hoài của Không Lộ thiền sư rồiTràng
giang của Huy Cận. Không có thể loại văn học nào chứa đựng nhiều cặp phạm
trù đối lập mang tính triết lý với tần số cao trong một khuôn hình nhỏ như tứ
tuyệt.
Trong các cấu trúc ngữ pháp, tứ tuyệt thường lược bớt các hư
từ và khi lược bỏ cả chủ thể phát ngôn thì lời thơ đã đưa cảm giác cá nhân
thành chân lý: Thương nữ bất tri vong quốc hận (Đỗ Mục).
Ngoài ra, người nghệ sĩ phương Đông còn xây dựng được cách cảm
thụ vô thức về một thế giới có ý thức. Đó là cách cảm nhận thế giới bằng tư duy
trực giác với những phán đoán cảm tính trực tiếp mà không thể giải thích được bằng
lý lẽ và logic của ý thức (Bác sống như trời đất của ta - Tố Hữu; Hoa
cúc vàng như nỗi nhớ dây dưa - Tế Hanh). Bài thơ hay thường là kết quả của
quá trình trực giác, quá trình đạt đến “cảnh giới ngưng thần”. Khi tâm hồn giao
hòa tuyệt đối với cảnh giới cũng là lúc giới hạn của con người và cảnh vật bị
xoá nhòa. Sự sống con người và tạo vật hoà cùng một nhịp điệu, một dòng chảy.
Lúc ấy cảm xúc cá nhân hoà vào cảnh vật một cách vô thức:
Bỗng nhiên trời đất nhớ người yêu/ Cây vắng: chim bay, nắng: vắng
chiều/ Nước chảy lơ thơ, bờ líu ríu/ Mây chừng ấy đó, gió bao nhiêu (Tương tư - Xuân Diệu)
Khi tỉnh lược hầu hết các đại từ, giới từ, các miêu tả khách
quan trùng với việc miêu tả thế giới riêng tư. ấy là lúc xóa bỏ khoảng cách chủ
thể và khách thể, đưa con người giao cảm trực tiếp với tạo hóa. Trong bài thơ
trên, ai nhớ người yêu? Tác giả hay trời đất? Và có phải trời đất cũng lẻ loi
như con người trong nỗi tương tư của chính mình?
Cảm nhận thế giới bằng tư duy tổng hợp và trực giác, tứ tuyệt
cố nắm bắt cái thần lý, diệu lý, cái cốt lõi sâu thẳm của cảnh vật và lòng người
mà tư duy phương Đông thường vươn tới.
3- Xu hướng tĩnh hóa
Do quan niệm thế giới là tuần hoàn, đối xứng, hài hòa, dù trải
qua bao thăng trầm biến đổi với những vận động liên hồi thì trung tâm của thế
giới vẫn là tĩnh như “trục bánh xe không quay, như mắt bão bao giờ cũng lặng”,
nên thiên về tính tĩnh là một đặc trưng nổi bật của văn hóa phương Đông. Với
hình thức cô đọng, như những tuyên ngôn, tứ tuyệt cũng có xu hướng đi dần về sự
tĩnh hóa trong không gian, thời gian, nhịp điệu tâm hồn để tiến gần đến tính
vĩnh cửu của thế giới.
Hơn nữa, về cấu trúc hình thức ngữ âm của tứ tuyệt, chính sự
cân bằng âm dương trong các câu về thanh điệu cũng góp phần diễn tả trạng thái
tĩnh của thế giới. Vần của thơ luật (bát cú và tứ tuyệt) chủ yếu là vần bằng.Với
âm cơ bản là âm bằng, bài thơ thích hợp với việc thể hiện trạng thái tĩnh của
thế giới. Theo Phan Ngọc, trạng thái thế giới được bộc lộ trong bát cú Đường luật
là diễn tả sự bất biến của thế giới là trạng thái tĩnh [Thơ là gì?, 4]. Tứ tuyệt
cũng không ngoài cái nhìn thế giới trong trạng thái đó.
Bước vào thế giới tứ tuyệt, ta có cảm giác bước vào thế giới
của sự hoà điệu tĩnh lặng bởi tứ tuyệt thiên về một biểu hiện, một chiêm nghiệm,
một khoảng khắc bừng sáng “đốn ngộ”, một đúc kết, một ấn tượng hơn là miêu tả một
hiện thực quá cụ thể, rườm rà, ồn ào, phức tạp. Dường như phép thiền định phương
Đông đã đi vào phương thức chiếm lĩnh và tư duy nghệ thuật thơ, đem lại cho tứ
tuyệt một vẻ đẹp thâm trầm, trang nghiêm, thanh tao mà lặng lẽ, ít xôn xao, cao
giọng, ít tiếng nói trực tiếp của con người mà phần nhiều là tiếng vọng của hồn
người. Cho nên, nếu các nhà tứ tuyệt có cố ý dùng cái động để miêu tả cũng là để
tô đậm cái tĩnh mà thôi. Tiếng quạ kêu sương, tiếng chuông chùa Hàn San chỉ làm
tăng thêm cái tĩnh mịch, yên ắng trong giấc mộng đang bao trùm bến Cô Tô (Trương
Kế), tiếng suối trong như tiếng hát xa cũng là dấu hiệu của đất trời đã vào
khuya, đầy sâu lắng (Hồ Chí Minh). Thơ tứ tuyệt thường được vịnh đề tranh, được
coi là bức họa chính vì đã vĩnh viễn hoá được khoảnh khắc tĩnh lặng này.
4- Khả năng thể hiện chiều tâm linh của con người
Xuất phát từ quan điểm của con người là một “tiểu vũ trụ”
trong lòng “đại vũ trụ”, nền minh triết phương Đông đã phát hiện ra con người
không chỉ tồn tại ở ba chiều không gian mà còn ở chiều thứ tư - đời sống tâm linh,
thường dược thể hiện một cách trực giác mà không kém biến ảo, tế vi.
Tâm linh là phần sâu kín, nhạy cảm nhất, tinh vi nhất nhưng
cũng huyền ảo và khó nắm bắt nhất của đời sống tinh thần con người. Trầm ẩn sâu
trong tâm hồn, tâm linh chỉ thức dậy, vụt hiện ở những thời điểm nhất định (một
mình trong đêm, giấc mộng, cơn say, hồi ức, linh cảm, ấn tượng), trong một thời
gian tĩnh lặng, sâu lắng, vô biên (như thuộc về một cõi khác mà ở đó hồn người
gặp thần linh, gặp các nhân vật đã đi vào lịch sử như anh hùng, giai nhân, thi
sĩ … nơi hồn người phiêu diêu trong cõi vô cùng của trời đất). Tâm linh còn là
năng lực tưởng tượng về sự nhận thức vạn năng, siêu cảm tính, nghĩa là sự tưởng
tượng đã đi đến điểm không thể lý giải bằng logic hình thức. Chính quá trình siêu
cảm tính là con đường bộc lộ cõi tâm linh rõ nhất (thơ Hàn Mặc Tử, Bích Khê là
một thí dụ). Song dù được biểu hiện dưới hình thức nào thì sự thể hiện của thế
giới tâm linh cũng không ngoài nội dung bàn luận, cảm xúc về những điều mang
màu sắc vĩnh cửu, muôn thuở như sự sống, cái chết, cái hư ảo của cuộc đời, niềm
cô đơn, nỗi buồn… Với những dấu hiệu hình thức đích thực của trữ tình (ngắn gọn,
hàm súc, tính khái quát cao, tốc độ chậm rãi (tĩnh), ít sự kiện, tứ tuyệt phù hợp
với việc chớp lấy những khoảnh khắc vụt hiện trong tâm linh.
Đó là khoảnh khắc con người trở về với những tâm tư thầm kín
nhất của mình, mong hướng tới một cõi khác để làm điểm tựa tinh thần trong những
hữu hạn của kiếp người (Than già - Vương Duy, Tay thứ mấy - Chế
Lan Viên). Là khoảnh khắc không gian mở ra, im ắng vô cùng, niềm nội tâm con người
trải rộng trong cảm giác yên tĩnh sâu xa (Điểu minh giản - Vương
Duy, Phong Kiều dạ bạc - Trương Kế, Vọng nguyệt - Hồ Chí
Minh).
Giấc mộng, đêm vắng là cõi không gian tâm linh đi về. Vì thế,
không phải ngẫu nhiên mà hồn người trong đêm, khi phần tâm linh trỗi dậy nhiều
nhất thường đối diện với vầng trăng. Một vầng trăng với ánh sáng vô biên, huyền
bí, hoà đồng với vũ trụ. Theo mỹ học phương Đông, mặt trăng biểu hiện cái
nguyên lý âm của vũ trụ, tượng trưng cho cái tĩnh, là biểu tượng ánh sáng của
tâm linh. Do đó, dùng vầng trăng để khám phá sức sống của cõi mênh mông sâu thẳm
trong lòng người là cách thức quen thuộc thường gặp không chỉ ở các loại thơ
khác mà cũng có rất nhiều ở tứ tuyệt. Trong không gian tĩnh lặng ấy thường xuất
hiện những âm thanh (tiếng chuông, tiếng mưa, tiếng gió, tiếng mõ cầm canh, tiếng
côn trùng, tiếng suối …) như là những nốt nhấn, vang lên, xoáy sâu vào cõi sâu
kín của hồn người với những tâm sự chìm lắng…
Dù không phải lúc nào cũng biết nội dung của những tâm sự ấy bởi nét lớn của thơ phương Đông là kiểu tỏ lòng qua cảnh vật, song ta bắt gặp gián tiếp ở đây miền sâu ẩn của lòng người (Ngọc giai oán - Lý Bạch, Tự quân chi xuất hỹ - Trương Cửu Linh, Không ngủ được - Hồ Chí Minh).
Dù không phải lúc nào cũng biết nội dung của những tâm sự ấy bởi nét lớn của thơ phương Đông là kiểu tỏ lòng qua cảnh vật, song ta bắt gặp gián tiếp ở đây miền sâu ẩn của lòng người (Ngọc giai oán - Lý Bạch, Tự quân chi xuất hỹ - Trương Cửu Linh, Không ngủ được - Hồ Chí Minh).
Tâm linh, tinh thần là một thế giới có cấu trúc phức tạp, nhiều
tầng bậc, nhiều chiều, nhiều biểu hiện bí ẩn với những dấu hiệu mong manh mơ hồ
khó nắm bắt, nhưng khi tứ tuyệt có ưu thế trong việc nắm bắt các khoảnh khắc
đan cài giữa nhiều trạng thái tinh thần trong một không gian tĩnh lặng ít sự kiện,
bộc lộ phần tiềm ẩn rất sâu trong tâm thức con người, chính là lúc tứ tuyệt có
khả năng thể hiện chiều sâu tâm linh của con người khá hữu hiệu.
5- Tính biểu trưng cao và tính cân xứng nhịp nhàng
Người Trung Quốc thường hướng tới việc tạo ra những hình ảnh
tượng trưng một cách hệ thống. Chúng dệt nên một màng lưới huyền thoại rộng rãi
cho phép tinh thần con người tự do liên kết với thế giới khách quan. Thơ ca
Trung Quốc và Việt Nam đã sáng tạo và tích luỹ được một hệ thống biểu trưng
phong phú: mây trắng (tính hư ảo của mọi vận mệnh trên trần thế), sông (không
gian, thời gian, cái vĩnh hằng), cánh hồng (chí lớn người anh hùng), đá vàng (sự
bền vững)…
Vì không thể là đa ngôn, tứ tuyệt có một hệ thống hình ảnh vừa
dày đặc về mật độ, vừa phong phú về ý nghĩa biểu trưng, làm cho bài thơ trở nên
hàm súc và giàu sức gợi. Một cánh buồm, một dặm liễu gợi cảnh ly biệt. Một con
thuyền nhỏ trở thành biểu tượng cho số phận lênh đênh, trôi dạt. Trong từ ngữ,
xuất hiện nhiều công thức ước lệ bộc lộ xu hướng khái quát hoá: hoa đào
năm ngoái, chim bay mất, đám mây cô đơn, hoa ngày xưa, hoa tàn hoa nở, đài cao,
tiếng sáo, nước chảy trôi… Theo Bút pháp thơ ca Trung Quốc, những ẩn
dụ đầy ước lệ này không biến thành sáo mòn, khô cứng vì tuân theo một tính tất
yếu bên trong với một cấu trúc không lặp lại của chỉnh thể bài thơ [F. Cheng,
3].
Nghệ thuật nói chung thường dùng kết cấu cân xứng để diễn tả
cái đa dạng trong tính hoàn chỉnh của thế giới. Đó là nhịp tuần hoàn, chảy trôi
của trời đất: Sen tàn cúc lại nở hoa (Nguyễn Du). Là quy luật của
thói đời: Thớt có tanh tao ruồi đổ đến, Gang không mật mỡ kiến bò chi (Nguyễn
Bỉnh Khiêm). Là hai cách ứng xử với thời cuộc: Anh lại chốn mây xanh, Tôi
về nơi núi biếc (Mạnh Hạo Nhiên). Là một khái quát về số phận: Hoa thường
hay héo, cỏ thường tươi (Nguyễn Trãi). Là một không gian vĩnh hằng mở ra đối
xứng các chiều: Nắng xuống trời lên sâu chót vót, Sông dài trời rộng bến
cô liêu (Huy Cận)… Tính cân xứng góp phần làm cho hình tượng trở thành một
chỉnh thể trong miêu tả, cảm xúc.
Là một chỉnh thể hình tượng trọn vẹn (dù ở cấp độ vi mô) tứ
tuyệt tập trung rất cao tính cân xứng trong tỷ lệ câu-bài, ý-bài, hình ảnh-câu,
để diễn tả không chỉ bề mặt mà cả chiều sâu của cấu trúc thế giới. Ví như chỉ
qua hai cái tên mang tính đối xứng, Chế Lan Viên đã dựng lại rất có hồn cuộc đời
người chiến sĩ vô danh:
Người con trai miền Bắc có một danh hiệu thứ hai mình đánh giặc
ở phương Nam/ Tên vay mượn góp phần xương máu nhất/ Tên giả khắc rõ ràng trên bia
đục bằng tôn/ Còn tên thật khắc chìm dâng Tổ quốc
(Hai danh hiệu)
Nếu văn hóa phương Đông là một thế giới vĩ mô, thì có thể gọi
tứ tuyệt là một thế giới vi mô của chính nền văn hóa đó. Tuy nhiên, điều ấy
không có nghĩa là tứ tuyệt là một bản sao, một mô hình đồng dạng tuyệt đối thu
nhỏ của văn hoá phương Đông, mà tứ tuyệt được xem như là kết quả của một hệ tư
duy nghệ thuật độc đáo, với những khả năng nghệ thuật đặc biệt. Để từ đó, có thể
soi ngắm, thể nghiệm được phần nào những bí mật của thơ trữ tình và cả một nền
văn hóa lớn. Cũng như một giọt nước có thể phản chiếu cả bầu trời.
Chú thích:
1. I.X.Lixêvich,Tư tưởng văn họcTrung Quốc cổ xưa, Nxb Văn học, 1993, HN
2. Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, Nxb Văn học, 1999, HN
3. F.Cheng, Bút pháp thơ ca Trung Quốc, Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà Nẵng, 1997
4. Phan Ngọc, Thơ là gì?, TCVH, 1/1991
5. Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà Nẵng, 1997.
1. I.X.Lixêvich,Tư tưởng văn họcTrung Quốc cổ xưa, Nxb Văn học, 1993, HN
2. Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, Nxb Văn học, 1999, HN
3. F.Cheng, Bút pháp thơ ca Trung Quốc, Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà Nẵng, 1997
4. Phan Ngọc, Thơ là gì?, TCVH, 1/1991
5. Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà Nẵng, 1997.
Lê Lưu Oanh - Đinh Thị Nguyệt
Nguồn: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 1-2001







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét