Vẳng tiếng chuông chùa
Tiếng chuông chùa ngân nga, văng vẳng trong không
gian rồi tan loãng giữa xóm làng sau khi đã thâm nhập chốn dương
trần và đưa nhân gian vào cõi tịch tĩnh hư không. Thời gian lắng
đọng cùng hồn người. Cảnh vật như cộng hưởng cùng tiếng chuông.
Tất cả đều trở nên lung linh trầm mặc. Tiếng chuông chùa thi vị và đầy
sức cảm hóa làm nảy sinh ra biết bao cảm hứng về âm nhạc và
thơ văn, chan chứa chất liệu cốt tủy của tinh thần Phật giáo cùng
với mối sầu cảm ướp đầy tình tự quê hương. Tiếng
chuông chùa quả thật có một năng lực hồi sinh rất
lớn.
Vì sự nhiệm mầu đó nên xưa nay đã
có biết bao người phát nguyện đúc chuông, từ vua, quan cho đến muôn
dân:
“Đúc chuông tạo tượng xây chùa
Trong ba phước ấy dân - vua đều làm.”
Trong ba phước ấy dân - vua đều làm.”
CHUÔNG VANG TRONG ÂM NHẠC
Tiếng chuông chùa đến
trong dòng nhạc Việt khơi lại tâm tình riêng tư của con người. Nguyễn Văn
Thương miêu tả quang cảnh hiu quạnh, cô đơn của lữ
khách trong những “đêm đông” lạnh lẽo:
“Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống.
Đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông.
Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời.
Cùng mây xám về ngang lưng trời…”
Đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông.
Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời.
Cùng mây xám về ngang lưng trời…”
Hoàng Trọng thời tìm lại giây
phút êm đềm lúc về lại mái nhà xưa khi đã “dừng bước giang hồ”
sau một đời rong ruổi:
“Chiều nay sương gió
lữ khách dừng bên quán xưa.
Mơ màng nghe tiếng chuông chiều
vương về bên quán tiêu điều…”
Mơ màng nghe tiếng chuông chiều
vương về bên quán tiêu điều…”
Tiếng chuông chùa vang vọng
trong khúc “nhạc chiều” khiến Doãn Mẫn như quên hết đi đám bụi trần
vương mắc:
…“Chuông chùa vương tiếng ngân.
Âm thầm trong chiều vắng.
Đường tơ lắng buông trong huy hoàng.
Ru hồn quên hết nỗi chứa chan niềm cay đắng…”
…“Vương sầu làm chi cho ngày thắm phai.
Mỗi khi tiếng chuông vẫn ngân dài…”
Đường tơ lắng buông trong huy hoàng.
Ru hồn quên hết nỗi chứa chan niềm cay đắng…”
…“Vương sầu làm chi cho ngày thắm phai.
Mỗi khi tiếng chuông vẫn ngân dài…”
Còn Y Vân và Nguyễn Hiền cảm nhận
thấy mùa xuân đầy hương sắc và muốn trai gái trong làng cùng trao
nhau câu ân tình “anh cho em mùa xuân” khi nghe tiếng
chuông chùa vẳng trong ánh trăng thanh:
“Ngoài đê diều căng gió.
Thoảng câu hò đôi lứa.
Trong xóm vang chuông chùa.
Trăng sáng soi liếp dừa…”
Thoảng câu hò đôi lứa.
Trong xóm vang chuông chùa.
Trăng sáng soi liếp dừa…”
Tô Vũ nhờ “tiếng chuông chiều
thu” mà nhớ lại bao kỷ niệm của thời niên thiếu:
…“Từ miền xa tiếng chuông ngân.
Hồi buông lớp lớp theo gió vàng”
Hồi buông lớp lớp theo gió vàng”
…“Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời.
Hồi chuông ngân nga trong chiều thu ngợp gió”
… “Hồi chuông ngân nga ru hồn mơ.”
…”Ngày nào khi chiến chinh xong.
Hồi chuông vui reo như tiếng đồng.
Chuông ran lời ước cũ.
Chuông ran lời ước cũ.
Tình ta đẹp bao nhiêu.
Riêng với Hoàng Giác tiếng
chuông gợi niềm nhung nhớ một bóng hình người đẹp trong giấc “mơ hoa” xa
xưa với lời tâm sự: “tôi liên tưởng ngay đến các cô ở làng hoa Ngọc
Hà mà sáng sáng tôi hay gặp trên đường tôi đi học… Và đấy là bản nhạc đầu tay
trong cuộc đời sáng tác của tôi”:
“Chuông chiều ngân tiếng vấn vương lòng trông theo
cô hái hoa.
Bước đi bâng khuâng muôn ngàn sầu nhớ bóng mờ mờ xa…”
Trong khói sương buổi chiều cao
nguyên Đà Lạt thời âm giai tiếng chuông chùa Linh Sơn khiến ưu
phiền trầm lắng và tình thương lên ngôi. Minh Kỳ nở nụ
cười khi lòng chợt dâng niềm nhớ “thương về miền đất lạnh” dấu yêu:
“Linh Sơn đâu đây buông tiếng chuông ban chiều.
Như ru ai say trong giấc mơ dạt dào.
Cho thế nhân thôi, ru hết u sầu.
Để lòng quay về bến yêu…”
CHUÔNG THỨC TỈNH LÒNG NGƯỜI
Âm hưởng của tiếng
chuông chùa cũng đã đi vào thi ca tạo nên một nét đẹp nhân
văn rất đáng quý. Tiếng chuông là phương tiện thiện xảo của cửa
thiền để mở đường nhập vào đời sống tâm linh, là âm thanh trầm
hùng kêu gọi thế nhân quay về trong thực tại. Chuông ngân như một
cuộc hành hương từ chốn phong ba về vùng tĩnh lặng an nhiên.
Tiếng chuông thức tỉnh cả âm
cảnh lẫn dương trần, thức tỉnh bao tâm hồn còn mãi đắm
chìm trong cõi mộng, tuy sống trong cõi vô thường mà không ý thức về sự
thật vô thường của vạn thể. Cuộc đời là một hơi thở rất
nhẹ và mong manh, chỉ cần ngừng lại nửa phút là giũ bỏ tất cả.
Tiếng chuông chùa như một thông
điệp của trí tuệ và từ bi, như lời nhắn nhủ của Đức Phật:
"tất cả những gì theo duyên khởi cũng đều theo duyên diệt."
Trong “Nghi thức thỉnh đại
hồng chung” mà các chùa thường đọc và thường được khắc lên chuông, có mấy
câu đại ý rằng: “Xin nguyện tiếng chuông này lan toả
trong pháp giới. Địa ngụcdù có tối tăm, tất cả đều được nghe.
Nghe âm thanh này tâm được thanh tịnh. Hết thảy chúng
sinh thành bậc chánh giác.” Sư Trí Hải dịch:
“Giờ con xin đánh chuông này
Tiếng vang thấu khắp mọi nơi xa gần
Ai nghe thấy lòng trần nhẹ bỗng
Đạo Bồ Đề được chứng lên ngay.”
Tiếng vang thấu khắp mọi nơi xa gần
Ai nghe thấy lòng trần nhẹ bỗng
Đạo Bồ Đề được chứng lên ngay.”
Đỗ Phủ khi đến “chơi thăm
chùa Phụng Tiên ở núi Long Môn”, trên núi cao ngửa mặt trông lên bầu trời
sao, thân mình tưởng như nằm ngủ trong mây, gần sáng cảm tác rằng:
“nghe tiếng chuông chùa khiến cho lòng người phải tỉnh ngộ sâu
sắc”:
“Dục giác văn thần chung
Linh nhân phát thâm tỉnh.”
Linh nhân phát thâm tỉnh.”
Với người dân Việt thì tiếng “chày
kình” gõ lên chuông chùa đã âm vang từ mấy nghìn năm lịch sử dân tộc
vẫn còn lắng đọng trong tâm hồn, cả ngày nay tới mãi mãi ngàn
sau.
Chày kình là chiếc
dùi thỉnh chuông có chạm hình con cá Kình. Tiếng chuông luôn dóng lên
để thức tỉnh lòng người. Trong “truyện Kiều” khi tới đoạn miêu tả sự hạ
thủ công phu của Thúy Kiều sau những năm lưu lạc với những
chán chường đau khổ, phải tìm về nương náu nơi cửa Phật để
mong thoát kiếp trần duyên, Nguyễn Du cũng đã có hai câu thơ:
“Sớm khuya lá bối phiến mây
Cũng nghe tiếng chày kình, nhưng giữa
“Hương Sơn phong cảnh” Chu Mạnh Trinh không chỉ say sưa với cảnh đẹp mà đã
giật mình tỉnh thức vì tiếng chuông. Tỉnh thức để thấy
cho rõ sự thậtvô thường của cuộc đời. Nhờ như vậy mà con
người sống có ý thức hơn, minh triết hơn. Tiếng chuông ở
đây vừa dẫn dắt con người hòa nhập với cảnh vừa thức tỉnh đưa con
người rời cõi mộng ảo quay về với thực tại:
“Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lửng lơ khe yến cá nghe kinh
Thoảng bên tai một tiếng chày kình
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.”
Thoảng bên tai một tiếng chày kình
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.”
“Muôn hồng nghìn tía tưng bừng
Suối khe hát nhạc, thông rừng dạo sênh
Chim cúng quả, cá nghe kinh
Then hoa cài nguyệt, chày kình nện sương".
Sư Huyền Không khi “nhớ
chùa” luôn nhớ đến mái ngói rêu phong ẩn mình trong hoa lá, hương
hoa hòa quyện lan tỏa. Trong cảnh tịch mịch đó âm ba của tiếng
chuông lại vang lên dịu dàng như lời vỗ về an ủi những cuộc
đời hiền lành lam lũ:
“Mỗi tối dân quê đón gió lành,
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân hiền mọi mái tranh.”
Tiếng chuông chùa đối với
Quách Tấn như một kỷ vật thiêng liêng nên mỗi lần trông thấy cảnh núi
non chùa chiền hay mỗi khi chợt tỉnh giấc nồng, tiếng chuông cũng
hiện đến:
…“Núi Nhạn chuông ngân trời bảng lảng,
Đầm Ô sen nở gió thơm tho.”
…“Mây nước nhuốm phong trần
Nơi đâu tình cố nhân
Những đêm buồn tỉnh giấc
Chùa cũ tiếng chuông ngân.”
Quách Tấn tâm sự: “Người đến viếng cảnh
chùa, lòng không rửa mà trong, thân không cánh mà nhẹ, ngồi tựa bóng cây đón
mát, tưởng chừng mình đã xa lánh hẳn cõi trần tục”… “Nếu không
có tiếng chuông lay mộng thì mộng còn mãi chìm trong bóng mây rán, hoặc
làm con cò vương hương bay lờ lững trong hồ sen yên tịnh”:
…“Gió ru hồn mộng thiu thiu
Chuông chùa rơi rụng bóng chiều đầu non”.
…“Mây tạnh non cao đọng nắng chiều
Tiếng chuông chùa cũ vọng cô liêu.”
…“Chùa ẩn non mây trắng
Bóng in hồ liễu xanh
Mai chiều chuông đã tạnh
Vòng sóng còn long lanh.”
Còn với Tuệ Nga thì “tiếng vọng hồng
chung” quả thật đã khiến cho người cõi trần được tỉnh
thức và riêng người tu thời thêm tinh tấn vô ngần:
…“Âm vang tiếng vọng hồng chung
Gọi người thức tỉnh thoát vòng u mê
Hồng chung ngát ý Bồ Đề
Chuông ngân thanh thoát đường về bến hoa”…
…“Đại Hồng Chung xóa sương mù
Quả thật tiếng chuông chùa
là pháp âm vi diệu, làm thức tỉnh khách hồng trần, quay
về bờ giác ngộ, bỏ ác làm lành, hồi tâm hướng thiện.
CHUÔNG TIÊU TRỪ PHIỀN NÃO
Trong “Nghi thức thỉnh đại
hồng chung” cũng ghi mấy câu ngụ ý rằng: “Nghe tiếng chuông, phiền
não vơi nhẹ, trí tuệ tăng trưởng, tâm bồ đề sinh, lìa
chốn địa ngục, ra khỏi hầm lửa, nguyện thành Phật để cứu độ chúng
sinh.”
Bao khổ đau, ách nạn, chướng duyên
phải đối diện trong đời chính là địa ngục, là hầm lửa, đốt
bùng lên bao nhiêu muộn sầu. Tiếng chuông chùa chính là nhân
duyên xúc tác để làm khởi sinh tâm bồ đề, hóa giải những xung đột,
trái ngang, những dằn vặt khổ đau của con người trần tục, tiêu
trừ các phiền não, vơi bớt đi bao nhiêu là ham hố dương trần, gieo
thiết tha tình người vào lòng cuộc sống.
Chính vì nghe tiếng chuông ngân mà khách hành
hương trút hết mọi nỗi ưu phiền, như Chu Mạnh Trinh đã tả:
“Lạ cho vừa bén mùi thiền
Mà trăm não với ngàn phiền sạch không”.
Sư Nhất Hạnh khi “nghe chuông” cũng đã cảm nhận thông
điệp của chuông:
“Nghe chuông phiền não tan mây khói,
Ý lặng, thân an, miệng mỉm cười Hơi thở nương chuông về chánh niệm Vườn tâm hoa tuệ nở xinh tươi”.
TIẾNG CHUÔNG CỦA LÀNG QUÊ NON NƯỚC
Mái chùa và tiếng chuông là hình
ảnh và hồn thiêng của đất nước đã thẩm thấu mặn mà trong tâm khảm
của dân tộc Việt Nam và trở thành một bộ phận hữu
cơ gắn liền với sinh hoạt làng xã, không thể tách rời. Cha ông ta có
câu: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Chùa đã trở thành trái
tim của làng quê và tiếng chuông là biểu tượng của tỉnh
thức.
Nhà nông nghe chuông công phu
khuya mà trở dậy, nhóm bếp thổi cơm rồi chuẩn bị lùa trâu ra đồng. Buổi
chiều họ nghe tiếng chuông thu không mà lùa trâu quay trở về chuồng.
Đêm về tiếng chuông là tiếng canh gà nhẹ nhàng đánh thức dân
làng trong những lúc ngủ say. Chuông chùa quả là cái “đồng hồ báo giờ” của
làng xóm:
“Tiếng chuông vượt núi len sông
Vào làng thức tỉnh dân nông ra đồng. Chuông không ngại ngày đêm mưa gió thổi Chuông không vì sông núi bể đèo ngăn Tiếng của chuông là bản thể xa xăm Đây vọng lại mấy ngàn năm âm hưởng.”
Chúng sinh hãy lắng
nghe tiếng chuông của Vương Duy đời Đường khi ông về vui
thú cỏ cây ở Võng Xuyên (Cốc khẩu sơ chung động, Ngư tiều sảo dục
hi):
“Nhẹ nhàng chuông ngân thung lũng
Ngư tiều lác đác dời chân”
Với Sư Huyền Không, tiếng
chuông và mái chùa đã sớm tối đồng hành với người dân
quê Việt Nam, từng nuôi dưỡng tâm hồn cho biết bao thế
hệ, để cùng nhau xây dựng quê hương xứ sở:
“Vì vậy, làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi dân xóm
Xây dựng tương lai xứ sở mình”.
Với Nguyễn Bính thì trong khung cảnh thiên
nhiên với nhịp sống hài hòa tinh tế, tiếng chuông chùa ấm áp
đã hiện hữu và gắn liền với con người, với quê hương dân
tộc. Tiếng chuông hiện hữu trong tâm thức mỗi người
dân như những hiện tượng thiên nhiên bình thường nhất:
“Quê tôi có gió bốn mùa
Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm
Chuông hôm, gió sớm, trăng Rằm
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi
Mai này tôi bỏ quê tôi,
Bỏ trăng bỏ gió, chao ôi bỏ chùa”.
Nguyễn Bính đã phác họa nên
một bức tranh thủy mặc làng quê thật đẹp đẽ nên đi xa ai
cũng nhớ cũng thương về chốn cũ:
“Mấy chiều vắng bặt hơi chuông
Sư bà khuyên giáo thập phương chửa về”.
NHỚ TIẾNG CHUÔNG CHÙA
Vua Trần Nhân Tông trong
cảnh “chiều thu làng Vũ Lâm” với suối khe lồng bóng cầu treo, với ngấn
nước long lanh cùng nắng chiều nghiêng soi đã để tiếng chuông ngân
vang trong chốn thâm sơn tĩnh mịch đó lại trong tâm hồn và thi
ca:
“Núi non quạnh quẽ lá rơi,
Phôi pha sương khói mây trôi chuông rền”.
Và trong “cảnh chiều Lạng Châu” thời:
“Mây thu lạnh lẽo chùa xưa
Thuyền ngư xao xác thoảng đưa chuông chiều”
Nguyễn Trãi trong thời gian lui
về trí sĩ ở Côn Sơn, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương khi “nghe mưa”
(“thính vũ”) cảm thấy tiếng chuông đi vào giấc mơ thật nhẹ
nhàng. Ngâm thơ rồi nhưng vẫn không ngủ được. Chập chờn mãi đến lúc sáng trời:
“Cửa ngoài tre sột soạt
Nhập mộng chuông khua hoài Thơ ngâm rồi khó ngủ Dứt nối đến trời mai”.
Sư Huyền Không với tâm
hồn sâu nặng tình quê nên khi nghe tiếng chuông ngân lại “nhớ
chùa”, mái chùa của dân tộc:
“Chuông vẳng nơi nao, nhớ lạ lùng,
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung.
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ tông”.
Hồ Dzếnh nhớ lại khi cùng chị nuôi
đi lễ chùa đầy hớn hở vui tươi. Nhớ lại thời tuổi trẻ với nỗi
u hoài. Nhớ cái tình, cái hồn tốt đẹp của thuần phong mỹ
tục Việt Nam cái không khí vui tươi dân dã của tục
đi lễ hội chùa "Rằm tháng Giêng" ngày xa xưa:
"Hàng năm tôi đi lễ chùa
Chuông vàng khánh bạc ngày xưa vẫn còn Chị tôi thấy vắng trong hồn Ít nhiều hương phấn khi còn ngày thơ Chân đi đếm tiếng chuông chùa Tôi ngờ năm tháng ngày xưa trở về".
Còn tiếng chuông chùa của
Quách Tấn như một kỷ vật thiêng liêng nên mỗi lần trông thấy cảnh
núi non, bóng tịch dương đổ xuống, chùa chiền từ đâu trong tiềm thức trỗi
dậy, cảnh thiên nhiên gợi nhớ:
…“Núi Nhạn chuông ngân trời bảng lảng
Đầm Ô sen nở gió thơm tho”.
…“Mây tạnh non cao đọng nắng chiều
Tiếng chuông chùa cũ vọng cô liêu”.
Dù cho mỗi khi Quách Tấn tỉnh
giấc nồng tiếng chuông cũng vẫn vọng đến:
“Mây nước nhuốm phong trần
Nơi đâu tình cố nhân
Những đêm buồn tỉnh giấc
Chùa cũ tiếng chuông ngân”.
Với Phạm Thiên Thư thời hình
ảnh cái chuông chùa treo trên gác chuông gợi nhớ lại kỷ niệm
hò hẹn tình cảm cũ:
“Ngày xưa anh đón em
Trên gác chuông chùa nọ
Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông”…
Trước “động hoa vàng” tiếng
chuông chùa đôi khi ngân vọng theo sóng nước đêm trăng rồi tan loãng vào
nhau cùng hình ảnh một chiếc thuyền con buông lái:
“Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào”
Nghe tiếng chuông vang vọng
chơi vơi dần dần thấm đẫm vào từng hạt bụi của thế
giới này và có khả năng làm đảo lộn diện mục của vũ
trụ, Phạm Thiên Thư tâm sự:
“Chuông ngân chiều lặng trầm tư
Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng”…
Riêng với Tâm Minh, kẻ
tha hương, thời cõi lòng vẫn rộn ràng dù Xuân đất khách chẳng còn tràng pháo
đỏ và thiếu cả bóng mai vàng. Giữa cái ồn ào náo nhiệt nơi xứ người, tiếng
chuông êm ả thanh thoát của ngôi chùa xưa quê cũ hình như vẫn còn
vang vọng mãi trong tâm hồn như một kỷ niệm khó quên:
“Chúc Xuân lời vẫn ươm tình nghĩa
Mừng Tết thơ luôn đượm ánh quang
Thoang thoảng hương trầm khơi kỷ niệm
Vẳng chuông chùa cũ tiếng còn vang.”
Và sau cùng, nói đến âm ba của
những hồi chuông kim cổ cần phải nhắc tới tiếng chuông chùa Thiên
Mụ và Hàn Sơn Tự.
Lần đầu ghé chốn Thần Kinh và
sau đó thực hiện liền bút ký “Mười ngày ở Huế” Phạm
Quỳnh không cố ý "biên tập" thơ tiền nhân. Ông chỉ mượn
nửa bài thơ cũ, thêm bớt đôi chỗ, nhằm "tức cảnh" khác.
Có người lại cho rằng ông chỉ ghi lại nguyên văn mà thôi. Hai câu thơ đó như
sau:
“Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”
Phạm Quỳnh viết thêm: “Cả
cái hồn thơ của xứ Huế như chan chứa trong hai câu ca ấy.
Chùa Thiên Mụ là một chốn danh lam, có cái tháp bảy tầng, làng
Thọ Xương thì ở bờ bên kia. Đêm khuya nghe tiếng chuông chùa với
tiếng gà gáy xa đưa văng vẳng ở giữa khoảng giời nước long lanh mà cảm đặt
thành câu ca".
Có người phân tích kỹ cho rằng tiếng
chuông Thiên Mụ ngoài âm sắc của tiếng đồng được chế tác bằng một kỹ
thuật đúc truyền thống hoàn hảo của Phường Đúc-Huế, nó được
vang xa nhờ vào vị trí đặt chuông trên đồi cao, lại có dòng sông
Hương trải dài như một chất dẫn truyền tự nhiên. Bên dòng Hương lững
lờ thơ mộng, tiếng chuông cứ ngân dài lan tỏa trong không gian. Không gian càng
rộng, càng yên tĩnh, tiếng chuông nghe càng sâu lắng. Chỉ một tiếng
chuông nhưng đã đọng bao buồn vui, khắc khoải của một đời người. Tiếng
chuông sẽ tùy hạnh nguyện đánh chuông của thiền tăng mà âm
sắc vang vọng thanh thoát và nhịp điệu của tiếng chuông sẽ
khác hẳn nhau.
Hàn Sơn Tự về sau được gọi
là Phong Kiều tự vì ở gần cầu Phong Kiều. Đến đời nhà Đường chùa lại được đổi
tên là Hàn San Tự. Chùa nổi tiếng nhờ có bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc”
của Trương Kế. Ông sáng tác bài này khi đi thi trượt trở về ghé
qua Tô Châu, tức cảnh mà sinh tình. Trương Kế đã vẽ ra cái hình ảnh kẻ
lữ thứ, đêm dài nằm trên thuyền bên bờ sông nghe quạ kêu sóng vỗ, ngắm đèn
chài leo lét về khuya đắm chìm trong trăng tà sương lạnh với tiếng
chuôngchùa đang ngân nga. Quả là hình ảnh của sự thức tỉnh, giải
thoát, bỏ lại thuyền ở bến mơ để vượt lên bờ giác.
“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”
Bản dịch của Tản
Đà:
“Quạ kêu trăng lặn sương rơi
Lửa chài, cây bãi đối người nằm co
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San”
Tiếng chuông chùa quả
thật đã làm nảy sinh ra nhạc và thơ, chan chứa chất liệu cốt tủy
của tinh thần Phật giáo cùng với tình tự đất nước
quê hương, nhất là với những kẻ phải sống kiếp tha phương!.
Tháng 2 năm 2016
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
|







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét