Hình tượng nghệ thuật không phải là “bức tranh đời sống” đứng
yên mà luôn sống động, lung linh, huyền ảo, vừa giống vừa không giống cuộc đời
thực, vừa vô hình vừa hữu hình, cụ thể đấy mà mơ hồ đấy, như mặt trăng đáy nước,
bóng người trong gương, như không gian vốn ba chiều nay thu lại trong không
gian hai chiều của hội họa, như một mái chèo trên hai thước chiếu sân khấu mà tưởng
đang vẫy vùng trước đại dương… Cái ta nhìn thấy trong nghệ thuật vừa là nó
lại vừa không phải chính nó. Hình tượng nghệ thuật luôn có xu hướng mang ý
nghĩa vượt ra ngoài nó, và luôn bị ảo hóa, cấu trúc đặc thù này của hình tượng
nghệ thuật được tạo bởi nhiều lý do, trong đó có sự kết hợp của hai yếu tố thực
và hư, hai yếu tố làm cho chức năng thể hiện ý nghĩa của hình tượng thay đổi, để
hình tượng không chỉ là sự sao chép đơn giản đời sống mà còn có khả năng biểu
hiện những ý nghĩ chủ quan của con người, không chỉ khêu gợi sự tưởng tượng
sáng tạo mà còn mở rộng khả năng tự cảm thấy của con người về thế giới và chiều
sâu cuộc sống.
Cái thực bao gồm cả sự vật và hiện tượng, vừa cụ thể vừa trừu
tượng, tồn tại trong đời sống mà chúng ta có thể nhận biết trực tiếp bằng các
giác quan (mặt trời, hoa cỏ, con người, lao động, chiến tranh…). Chúng có những
số đo và tác động vật chất, vừa hữu hình (ánh trăng, mái tóc…) lẫn vô hình (ngọn
gió, giọng nói, nỗi đau…).
Cái hư là cái đối lập với cái thực, mang nghĩa gốc là trống
không, không có, không tồn tại trực tiếp. Con người cảm nhận cái hư bằng cảm nhận,
tưởng tượng, linh giác, suy diễn… của chính mình.
Trong văn học, cái hư có nhiều dạng. Có thể đó là những hình ảnh,
sự vật, hiện tượng siêu thực như thiên đàng, địa ngục, cõi trời, miền hư vô…,
là những cái kỳ ảo, linh hoá, quái dị, hoang đường như tấm thảm bay, đôi hài bảy
dặm, hồn ma, hồ ly mỹ nữ…, là những con người siêu nhiên với phẩm chất kỳ lạ: Nữ
Oa, Hằng Nga, nữ thần Băng giá, thần Dớt… Cái hư là cái không xác định toạ độ
không gian - thời gian, là cái không có gì, vô định, vô hình, vô ảnh, song người
ta nhận ra nó qua những cái thực làm điểm tựa: suối Hoa đào, chốn Thiên Thai,
lá diêu bông, núi Linh sơn… Cái hư là cái thực đã được huyền thoại hóa, cổ tích
hóa, kỳ ảo hóa: Rùa thần hồ Hoàn Kiếm, Quan Công hiển thánh, Phí Văn Vi thành
tiên cưỡi hạc bay đi từ lầu Hoàng Hạc, Chúa Giêsu tái sinh, bá tước Dacrula…
Là cái thực song thuộc về quá khứ, được bao phủ bởi màn sương của thời gian, của ký ức và hoài niệm, đã trở nên bảng lảng, mờ nhoè, mơ hồ: Ai đi Châu Mộc chiều sương ấy, Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ (Quang Dũng), Đêm vàng Kinh Bắc, Thuyền ngự đè sen chồm sóng rượu, Phi tần dâng hoa ngoài Thủy tinh cung (Hoàng Cầm). Là cái thực nhưng tồn tại với những màu sắc, hương vị và kích thước không gian - thời gian không thực: Cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên (Chế Lan Viên); Đô nhất là ai, Quê vùng đâu đó, Vươn tay chạm giời, Tóc hất sao mai (Hoàng Cầm). Cái hư còn là cái giả, tức là cái hiện tượng nhưng không phản ánh bản chất hiện thực, ví như chuyện Nồi cơm của Nhan Hồi, học trò Khổng Tử vậy, hoặc là những Phật giả, chùa giả, La hán giả như trong Tây du ký…
Là cái thực song thuộc về quá khứ, được bao phủ bởi màn sương của thời gian, của ký ức và hoài niệm, đã trở nên bảng lảng, mờ nhoè, mơ hồ: Ai đi Châu Mộc chiều sương ấy, Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ (Quang Dũng), Đêm vàng Kinh Bắc, Thuyền ngự đè sen chồm sóng rượu, Phi tần dâng hoa ngoài Thủy tinh cung (Hoàng Cầm). Là cái thực nhưng tồn tại với những màu sắc, hương vị và kích thước không gian - thời gian không thực: Cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên (Chế Lan Viên); Đô nhất là ai, Quê vùng đâu đó, Vươn tay chạm giời, Tóc hất sao mai (Hoàng Cầm). Cái hư còn là cái giả, tức là cái hiện tượng nhưng không phản ánh bản chất hiện thực, ví như chuyện Nồi cơm của Nhan Hồi, học trò Khổng Tử vậy, hoặc là những Phật giả, chùa giả, La hán giả như trong Tây du ký…
Về bản chất, cái hư là cái tồn tại trong một cấu trúc thời
gian - không gian không xác định, ít nhiều phi hiện thực, là cái không có,
không nhìn thấy, không xác định, song đã được hiện thực hóa, đã được “nhìn thấy”
bằng miêu tả văn học. Do vậy, kết hợp thực hư trong kết cấu hình tượng văn học
sẽ là sự đan xen giữa cái thực - ảo, có - không, chân - giả, tỏ - mờ, xác định - cái không xác định, cái nhìn thấy - cái không nhìn thấy, cái có lý - cái phi
lý, lịch sử - phi lịch sử, không thời gian thực - không thời gian ảo, thực tại - mơ ước… của hình tượng để nhằm những mục đích nghệ thuật nhất định.
1. Sự kết hợp thực - hư trong hình tượng diễn tả quan niệm về
một mô hình thế giới phức tạp, đa chiều
Theo triết học, thế giới vốn tồn tại và vận động trong những quan
hệ mang tính đối lập: giữa cái tồn tại và không tồn tại, giữa cái xác định,
có ngoại hình, vận động và cái trống không, không xác định, vô hình, bất động
(Đêmôcrit - Hilạp); giữa thực tại và ảo ảnh, tự nhiên và huyền thoại, cuộc đời
đan xen thần thoại (Triết học ấn Độ). Thế giới được tạo thành từ những thể thống
nhất của hai mặt đối lập, vừa xung khắc vừa liên hệ, dựa vào nhau để tồn tại:
âm và dương, nước và lửa, nước và trời (Nho giáo - Trung Quốc), có - không, khó - dễ, cao - thấp, trước - sau, xấu - đẹp, cương - nhu, mạnh - yếu, họa - phúc,
nắng - mưa, vinh - nhục, sinh - tử, thắng - bại, động - tĩnh, công - thủ, tiến - thoái, vụng - khéo, đen - trắng, trống - mái, cứng - mềm… (Đạo gia - Trung Quốc).
Có thể nhận thấy rằng, thế giới tự nhiên có cấu trúc vô cùng phức tạp, cân đối
và toàn diện, mà thực - hư chính là một trong những cặp phạm trù triết học thể
hiện bản chất đó.
Bằng kết hợp thực - hư, hình tượng nghệ thuật mở rộng khả
năng chiếm lĩnh, thể hiện và giải thích hiện thực trong tính chất phức tạp hoá,
đa chiều, bao quát và phong phú của nó. Thế giới phức tạp bởi vì luôn tồn tại với
nhiều mối liên hệ khó nắm bắt trong nhận thức con người. Trước hết là sự hiện
diện thực tế của khả năng mơ ước và khát vọng, của trí tưởng tượng, của tín ngưỡng
và tâm linh, của nỗi sợ hãi nguyên thủy của con người trước những lực lượng
siêu nhiên và niềm tự hào về sự công bằng của tạo hóa, sự hòa đồng sâu thẳm của
con người với và thiên nhiên… Muốn diễn tả những điều này, cái thực nhiều khi
không thể giúp nghệ sĩ một cách hữu hiệu, phải nhờ đến cái hư. Cái thực mà hư,
cái hư mà thực trong truyện Trang tử mơ thấy mình hoá bướm và tỉnh dậy không biết
mình thực ra là gì, người mộng hóa bướm hay bướm mộng hoá thành người, không chỉ
nói về quan niệm cuộc đời là hư ảo, thật hư khó lường, cái thật đang hiện hữu
nhiều khi là ảo, bởi cuộc đời qua đi như chốc lát, công danh, phú quý cũng chỉ
như áng mây trôi, mà còn là tư tưởng về tính có thực như nhau của hiện thực và
tưởng tượng. Đứng ở góc độ nghệ thuật, chúng ta thấy tư tưởng này có ý nghĩa
sau: Câu chuyện người hóa bướm là sự thực của tưởng tượng và ước mơ. Cái ảo ở
đây hóa ra là sự thực, bởi trong giấc mơ đó, tưởng tượng và ước mơ được thực hiện,
con người bộc lộ rõ nhất phần khao khát vô thức bản năng, giải phóng khỏi mọi
ràng buộc mang tính xã hội. Và nghệ thuật (câu chuyện được kể) là khác với cuộc
đời. Đó là mối liên kết giữa cái thực và cái hư trong cuộc sống và cả trong nghệ
thuật.
Bên cạnh đó, còn tồn tại sự thực của đời sống tâm linh con người,
một đời sống vừa linh thiêng huyền bí, vừa mong manh, mơ hồ, thường hiện hình
qua những giấc mơ, cơn say, linh cảm với hiện diện của một thế giới bên ngoài đời
sống hiện thực như thần linh, đức Chúa, đức Phật, anh hùng, mỹ nữ trong truyền
thuyết. Chuyện Thúy Kiều gặp Đạm Tiên, Bích Khê luôn thấy “ngoài trời là mộng cả”,
Hoàng Cầm luôn hoài niệm về xứ Kinh Bắc vang tiếng voi gầm ngựa hí, lông ngỗng
bay trắng trời… là hiện hữu của đời sống tâm linh phải nhờ đến sự đan xen thực - hư để bộc lộ.
Thế giới phức tạp còn vì là đan kết chồng chéo của vô vàn các
quan hệ đời sống, các kiểu người, các sự kiện. Chúng vốn không dễ chiếm lĩnh, lại
càng phức tạp hơn bởi cái nhìn đa chiều, đa góc độ. Câu chuyện Trong một
cánh rừng của Akutagaoa (Nhật Bản) là một minh chứng. Một sự kiện được kể
với nhiều góc kể khác nhau dẫn đến những bản chất hoàn toàn khác biệt bởi “Thực
hư lẫn lộn biết ai tỏ tường”. Một sự kiện có thể là thực với người này nhưng là
hư với người khác khiến việc nắm bắt bản chất thật sự là điều rất khó. Điều đấy
cho thấy tính tương đối của việc thấu hiểu đời sống trong nhận thức và tư duy của
con người.
Cái khái quát, tượng trưng chỉ cái phần hình tượng vượt ra khỏi
chính nó. Cái thực đi vào nghệ thuật luôn nhằm để nói đến một cái khác ngoài
nó, luôn bị hư hóa, nhòe đi, lớn lên, phong phú thêm, bởi thế giới nghệ thuật
là một thế giới bắt nguồn từ cái thực song đã được cấu trúc lại, mang tính ước
lệ cao. Một lá ngô đồng rụng là dấu hiệu của mùa thu sang, một tiếng chày đập vải
là âm thanh gọi mùa đông về là vì vậy. Hơn thế nữa, ngay trong cái thực đã đan
xen rất nhiều yếu tố hư. Truyện ngắn Lặng lẽ Sapa (Nguyễn Thành Long)
có ba nhân vật chính: người hoạ sĩ già, anh công nhân khí tượng và cô kỹ sư. Sự
gặp gỡ của họ thực mà như hư vì quá đẹp, quá thơ mộng. Cái hư càng tô đậm khi họ
lại đều không có tên. Nhưng cũng chính vì thế họ là những nhân vật mang ý nghĩa
khái quát: đại diện cho những người lao động vô danh đang say sưa cống hiến cho
cuộc đời.
Khi đưa thêm cái hư ảo vào nghệ thuật là khi người nghệ sĩ có
ý thức làm nhòe sự vật, xóa mờ đường nét, thuộc tính để đạt tới sự nhận thức
chính xác cái bản chất thực sự bên trong. Trong Hồng lâu mộng, với quan điểm dĩ
hư hàm thực, dĩ giả đối chân, những không gian thần thoại, không gian mơ mộng,
những không gian mờ tỏ, ẩn hiện mơ hồ đã khái quát một hiện thực mở rộng, hiện
thực của một thời mà như của nhiều thời kéo dài suốt hàng ngàn năm phong kiến
Trung Hoa. Khi nhà thơ Tố Hữu sững sờ hỏi: Em là ai, cô gái hay nàng tiên?,
đó là khi nhà thơ nhận thấy chí khí anh hùng bất khuất đến kỳ lạ không thể nào
tin được, đến mức hư ảo của chị Trần Thị Lý.
Điều đó có nghĩa, “văn học phản ánh cuộc sống trong tính tổng
thể bao la, trong khả năng biến đổi thường xuyên, vận động không ngừng, trong bản
chất tinh thần phong phú, đầy bất ngờ, bí ẩn, thì tư duy mơ hồ tỏ ra thích hợp
và chính xác hơn tư duy xác định. Và hình tượng ước lệ, không giống hệt lại có
khả năng thể hiện rõ nét hơn, sâu sắc hơn hình ảnh như thật” [Trần Đình Sử, Lý
luận phê bình văn học, 1996, 147].
Tuy nhiên, cái hư chỉ có giá trị khi nó phản ánh cái thực, lột
tả được tinh thần của cái thực vốn thuộc về bản chất sâu kín bên trong của hiện
thực mà chúng ta chỉ có thể nhận biết bằng phán đoán, suy lý và trừu tượng.
Bóng ma Đạm Tiên là hữu hình của tư tưởng về định mệnh. Chốn thiên thai của hai
chàng Lưu Nguyễn là thăng hoa của niềm mơ uớc về một xã hội công bằng tốt đẹp.
Đống xương trắng trong thơ của Đỗ Phủ đêm đêm vẫn trở về làm người trong mộng của
các chinh phụ càng có sức nặng thể hiện nỗi thê thảm của kiếp dân đen trong chiến
tranh. Trong ảo có chân, trong cái không thực có cái thực là thế. Thực - hư góp
phần đạt tới nhận thức bên trong, tới chiều sâu của hiện thực. Bên cạnh đó, còn
có việc dùng cái thực để hữu hình hoá cái hư. Khi Huy Cận viết: Nắng xuống
trời lên sâu chót vót, Sông dài trời rộng bến cô liêu, nhà thơ lấy độ sâu của bến
nước để diễn tả độ sâu chất ngất của mối sầu vũ trụ, là dùng cái thực để thực
hoá hình cái hư, dùng cái cụ thể hữu hình để thể hiện cái trừu tượng vô hình.
Vì vậy, kết hợp thực - hư đã trở thành một nguyên tắc tư duy
nghệ thuật từ xa xưa. Vương Ký Đức (đời Minh - Trung Quốc) đề cập đến một
nguyên tắc hý kịch là: Đạo của hý kịch, ra thì quý thực, dùng thì quý hư. Nghĩa
là khi quan sát, nhận thức hiện thực phải chú trọng tính chân thật, toàn diện,
khách quan của sự vật, còn khi làm nghệ thuật phải linh hoạt, giàu tưởng tượng,
hư cấu. Nhà văn Nguyễn Minh Châu khi nói về kỹ thuật viết truyện ngắn cũng cho
rằng: “Truyện phải có cái gì bay bay một chút, không nên mơ màng quá mà trần trụi
quá cũng không ổn… Phải có cốt truyện thực, lại có một cái bóng dáng đứng đằng
sau giúp người đọc liên tưởng đến nhiều truyện khác”. Phải có tưởng tượng, có
thăng hoa của ý tưởng trên nền cái thực mới có thể đột phá được những hạn hẹp
và ràng buộc ít nhiều của hiện thực để hướng tới sự khái quát.
3. Kết hợp thực - hư làm cho hình tượng vừa giống vừa
không giống hiện thực
Tính chất này khiến hình tượng vừa mơ hồ vừa vừa chính xác, vừa
lung linh huyền ảo, thực mà không thực nên rất sinh động và quyến rũ. Sự kết hợp
đó gắn liền với sự khêu gợi cảm xúc, khái quát tư tưởng, truyền đạt một cái
nhìn đối với cuộc đời. Theo Hêghen, sự vật sinh thành vừa là chính nó vừa là
cái khác, còn sự vật vận động vừa ở chỗ đó lại không ở chỗ đó. Tương tự, các
nhà lý luận nghệ thuật thường nhắc đến: độ dư của hình tượng và nghệ thuật,
nhân vật không trùng khít với chính nó (ngoài cuộc đời). Tề Bạch Thạch cũng viết:
nghệ thuật hay ở chỗ không giống quá thì dối đời, giống quá thì mị đời, là để
nói đến đặc tính giống và không giống này của hình tượng. Miêu tả con người, sự
vật như là nó, lại không phải là nó là phương diện quan trọng của tính sinh động
trong nghệ thuật. Sự xuất hiện của cái hư, bên cạnh cái thực sẽ tạo cái dư vị của
văn, cái ý vị ngoài lời của thơ, cái tiếng ngoài tiếng, cảnh ngoài cảnh. Nhà
thi thoại thời Minh là Tạ Trăn trong Tứ minh thi thoại đề xuất mệnh đề thơ
ca diệu tại hàm hồ, nghĩa là tả cảnh, phải không giống như thật mà phải hư ảo
làm cho người đọc có cảm giác mơ hồ, bí ẩn trước hình tượng. Ông chủ trương: Thơ
có chỗ khả giải, bất khả giải, giống như hoa dưới nước, trăng trong gương,
không cần câu nệ dấu tích. Còn nhà thơ Vương Sĩ Trinh cho rằng: Thơ khó ở chỗ:
không giải thích được thì vô vị mà giải thích được thì thơ hết vị cũng là nói đến
đặc tính mở, không khép kín này của nghệ thuật.
Vẻ đẹp hấp dẫn trong câu ca Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc (ca
dao), trong các hình ảnh đầu súng trăng treo (Chính Hữu), lá diêu bông (Hoàng
Cầm), hoa tử huyền (Nguyễn Huy Thiệp), cánh buồm đỏ thắm (Grin), con
đầm pích (Puskin) đã khiến người đời tốn khá nhiều giấy mực là vì vậy.
4. Kết hợp thực - hư bộc lộ quan hệ chủ thể và thế giới
Xét cho cùng, khi có sự tham gia của cái hư, nghệ sĩ đã đối ứng
giữa cái thấy được và cái không thể thấy, cái chủ động và bị động, thống nhất
không gian và thời gian, giữa cái nhìn được và cảm thấy, giữa hiện tượng và bản
chất… Chiếm được chiều hư, con người đã thoả mãn được những ước mơ, khát vọng của
mình, trình bày được những khúc khuỷu góc nẻo của tâm linh, tín ngưỡng, của những
quan hệ nhân sinh chồng chéo, của sự nhận thức về một thế giới phức tạp và toàn
diện. Khi chất Liêu Trai thấm đẫm từng sự kiện và hình ảnh của cuộc đời ấy là
khi tác giả Bồ Tùng Linh bày tỏ những quan hệ triết học và nhân sinh độc đáo.
Còn khi Lý Bạch viết: Đôi tóc mai khi vào Thu Phố, Một sớm mai xơ xác buồn
thương, Vượn kêu giục tóc trắng, Sợi dài sợi ngắn thảy dường như tơ (Thu
Phố ca số 4). Cái buồn bã của Thu Phố làm cho tóc trắng thêm hay sầu tóc trắng
đem lại nỗi buồn cho Thu Phố hoang sơ? Cái thực - hư đó làm cho ranh giới giữa
người và cảnh không còn. Khi xóa bỏ được khoảng cách với ngoại giới là lúc con
người đã chiếm lĩnh được nó.
Hình tượng nghệ thuật với những quan hệ dồn nén: ảo - thực,
có - không, có lý - phi lý, tự nhiên - nhân tạo… tạo thành những phức hợp quan hệ
mang nội dung khái quát, làm cho hình tượng mang tính đa nghĩa, hàm súc, như người
xưa nói: lời hết mà ý khôn cùng.
Tháng 6-2002






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét