Hồi ký và bút ký thời kỳ đổi mới
Trong văn học, các thể loại luôn được đặt trong quan hệ đồng
đẳng về giá trị nghệ thuật. Song mỗi thể loại là sự thể hiện “một thái độ thẩm
mỹ đối với hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con
người” (Bakhtin). Đó là sự vận động tất yếu của đời sống thể loại. Cùng với tư
tưởng đổi mới nhất quán trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, những năm 1986
trở đi cũng là thời kỳ nhìn nhận, định vị lại nhiều giá trị văn hóa, văn
chương. Không phải ngẫu nhiên vào những năm cuối thập niên 90 thế kỷ XX đầu thế
kỷ XXI, trên văn đàn xuất hiện nhiều tác phẩm Hồi ký, Bút ký của văn
nghệ sĩ, chủ yếu là các nhà văn đã tạo nên một mảng sinh động của đời
sống văn học mà có thể nói ngay rằng trước đó là chưa thể có. Nhiều sự kiện văn
học quá khứ, nhiều số phận văn chương cùng nhiều vấn đề phức tạp của quá khứ gần,
xa… đã được tái dựng theo một cách nhìn mới, không đơn giản, một chiều mà khoan
dung, thấu tình đạt lý hơn. Những chuyển động ban đầu báo hiệu tầm ảnh hưởng
sâu rộng của hồi ký đối với đời sống đương đại có thể kể đến Đặng Thai Mai
hồi ký, Từ bến sông Thương của Anh Thơ và tiếp đó là những tác phẩm
thu hút sự quan tâm, tạo được ấn tượng mạnh đối với độc giả như Cát bụi
chân ai, Chiều chiều của Tô Hoài, Hồi ký song đôi của Huy Cận, Nhớ
lại một thời của Tố Hữu,Nhớ lại của Đào Xuân Quý, Bốn mươi năm
nói láo của Vũ Bằng… Thể bút ký “pha” hồi ký cũng đã nhanh chóng tìm đến mối
giao lưu, giao cảm, khẳng định được vị thế của mình trước văn hóa đọc: Chân
dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần
đến nước Mỹ, Tản mạn đầu ô, Đi một ngày đàng của Hà Minh Đức, Tản mạn
trước đèn của Đỗ Chu, Ai đã đặt tên cho dòng sông, Trịnh Công Sơn và cây
đàn lia của hoàng tử bé của Hoàng Phủ Ngọc Tường… Trong số đó có những tác
phẩm gây được tiếng vang làm xôn xao dư luận và nhờ sự hâm nóng của báo chí, những
tác phẩm của Trần Đăng Khoa, Tô Hoài được coi là những hiện tượng mới và trở
thành những cuốn sách best-seller (bán chạy nhất) hàng năm.
Dù viết về quá khứ, là tái dựng ký ức “thời gian đã mất”,
song giá trị và khả năng cảm hóa của tác phẩm hồi ký lại được xác lập bởi góc
nhìn hiện tại. Vượt qua mục đích “thanh minh” hoặc tự “đánh bóng” tên tuổi của
mình, những tác phẩm hồi ký được đón nhận nồng nhiệt và đánh giá cao trong và
ngoài nước gần đây mang đến cho “người đương thời” những câu trả lời, những bài
học quý giá. Nói cách khác, từ những trang viết có nội dung xã hội phong phú,
tác phẩm hồi ký góp phần soi sáng hiện tại, phải đáp ứng được nhu cầu nhận thức
thực tại.
Một trong những phương diện được quan tâm sâu sắc trong các
tác phẩm hồi ký, bút ký ra đời trong thời kỳ Đổi mới - bên cạnh bức tranh muôn
màu muôn sắc của cuộc sống đương đại - vẫn là chân dung hiện thực của đất
nước, của dân tộc qua chiều dài thế kỷ, đặc biệt qua hai cuộc chiến tranh cứu
quốc vĩ đại (1945-1975). Nghĩa là những vấn đề tưởng như đã thuộc về “một
thời quá khứ” vẫn luôn là mối ưu ái đặc biệt của các tác phẩm ký hiện tại - đặc
biệt là các tác phẩm hồi ký.
Hồi ký Đặng Thai Mai có chiều hướng nhìn lại lịch sử đất nước
nửa đầu thế kỷ từ phía lịch sử tư tưởng của một thế hệ thanh
niên trí thức Việt Nam đầy hoài bão, trăn trở trước vận mệnh dân tộc
(thông qua những trải nghiệm cá nhân của tác giả - một mẫu “trí thức” điển hình
của thời đại ấy). Xuất phát từ nền tảng giáo dục Nho học với những giá trị và
lý tưởng riêng bền vững, trải qua rất nhiều những biến cố dữ dội của gia đình,
của quê hương đất nước, chứng kiến vô vàn cảnh đau khổ lầm than của nhân dân và
tiếp thu nhiều luồng tư tưởng mới mẻ tiến bộ từ thế giới bên ngoài, người thanh
niên trí thức đã dần dần “phân biệt được cái thực học với cái hư danh”(1). Đó
là khởi điểm để họ biết gắn liền vận mệnh đất nước quê hương với những bước đi
của cuộc đời mình. Và đó cũng là con đường tất yếu dẫn họ đến với chủ nghĩa Mác
- Lênin: từ lúc còn đầy ngỡ ngàng ở mức độ “có cảm tình” song vẫn chưa “tin tưởng
hoàn toàn” cho đến lúc “thực sự xây dựng cho mình một đức tin” và khao khát
hành động: “một người tự nghĩ mình là mác-xít trước hết phải nghĩ đến mục đích
cuối cùng là làm thế nào để áp dụng cái mà mình tin là chân lý vào thực tế của
nước mình, vào dân tộc mình”(2).
Như một sự tiếp nối lịch sử mấy mươi năm đầu thế kỷ trong hồi
ức của giáo sư Đặng Thai Mai, hai cuốn hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều
chiều của nhà văn Tô Hoài lại là những cuốn phim tư liệu dài ghi lại hai
cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta
(1945-1975). Đứng ở điểm nhìn cuối đời và cũng là cuối thế kỷ, tác phẩm của Tô
Hoài thông qua những mảng hiện thực phong phú của cuộc sống đời thường đã tái
hiện sinh động, sâu sắc bức tranh về một chặng đường lịch sử chất đầy những biến
cố lớn lao của dân tộc. Tô Hoài không đi vào diện rộng như một nhà sử học - những
cái ông nắm bắt được là những vấn đề mà ông cho là điển hình, là mang tính biểu
trưng hoặc gây ấn tượng đặc biệt cho nhà văn.
Cùng với việc tái hiện bức tranh hào hùng một thuở của hai cuộc
chiến tranh vệ quốc, các tác giả thời kỳ này cũng đặc biệt lưu tâm đến công cuộc
xây dựng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc khi ấy, với những sự kiện và biến cố để
lại nhiều “ngẫm suy” cho người đọc. Trong Chiều chiều, Tô Hoài đưa chúng
ta về một làng quê ở Thái Bình với câu chuyện “cải cách ruộng đất” và “sửa sai”
liên quan đến số phận của bao con người - nơi những cảm xúc buồn vui, những hiện
tượng trớ trêu ngang trái, những tình tiết “dở khóc dở cười”… hiện lên chân thực
không hề dấu diếm.
Một chủ đề rất thú vị khác được các tác giả hồi ký, bút ký ưa
thích là mảng ký ức hay sự kiện về các biến động trên thế giới, những vùng văn
hoá đa dạng trên toàn cầu… Tô Hoài trong Chiều chiều, và sau này, Hà Minh
Đức trong Ba lần đến nước Mỹ, Tản mạn đầu ô đã dành một góc lớn trong
tác phẩm của mình để ghi lại những ấn tượng, cảm xúc về các chuyến đi ra ngoài
Việt Nam, hoặc ra “ngoài phương Đông” của họ. Với Tô Hoài, đó một vùng kỉ niệm
ăm ắp, tươi nguyên về những đất nước nằm trong khối “xã hội chủ nghĩa” (cũ): cảnh
rừng Taiga mênh mông rầu rĩ ở xứ Xibêri, cảnh cởi trần tắm hơi ở Udơbêkixtan, cảnh
nhảy sàn khoả thân ở Lahabana, cảnh luyện thép ở Bắc Kinh… và đặc biệt đẹp đẽ,
thân thương là nước Nga của tuyết trắng, của những con người đôn hậu và cách mạng
tháng Mười còn mãi toả bóng xuống lịch sử… Còn với Hà Minh Đức, đó lại là một
thế giới rộng lớn của nhiều nền văn hoá giữa thời đại giao lưu, mở cửa đón gió
bốn phương: Ba lần đến nước Mỹ, Mùa hạ Toronto, Trên đất nước chùa Tháp,
Những ngày đầu tháng năm trên đất nước Liên Xô…
Bên cạnh việc khai thác những chủ đề - đề tài mang tầm “vĩ
mô”, tầm đất nước - dân tộc, các tác phẩm ký thời kỳ này cũng luôn bám sát cuộc
sống “vi mô” với “muôn mặt đời thường” của nhân tình thế thái, của những số phận
và chân dung con người… Những thập niên cuối thế kỷ, đúng hơn là từ sau Đổi mới
1986, con người sống trong một cơ chế mới, với những cách tư duy, những tư tưởng
mới về hiện thực và cuộc sống, do đó bản thân các nhà văn và hình ảnh con người
xuất hiện trong tác phẩm của họ - cũng trở nên thật sự mới mẻ và khác lạ so với
trước đây. Cuộc sống thời bình (kinh tế thị trường, xã hội “mở cửa”) với biết
bao ngổn ngang, bề bộn, xô bồ không tránh khỏi là một thực tế mà họ phải đối mặt
– như những gì tác giả Tản mạn đầu ô đã cảm nhận về một vùng không gian
vốn từng là cảm hứng dào dạt của các thi sĩ: “… không có những áng mây đầu ô
lang thang mà chủ yếu là cảnh đầu ô đang đổi thay trong những vất vả, nhọc nhằn
(…) Ở đấy đã cho chào đời nhiều số phận vất vả đắng cay và liệu hôm nay có thể
sinh ra những tài năng”. Song đâu đó vẫn là những “vùng miền ấm áp”, những “khoảng
trời xanh trong” được các cây bút đầy tâm huyết ghi lại, gom nhặt, gìn giữ và
trân trọng như “những hạt bụi vàng” (theo cách nói của Pauxtopxki). Cái đời thường
và con người bình thường (chính xác hơn là phương diện đời thường của con người)
có một sức cuốn hút riêng với các tác giả viết ký. Vị giáo sư và ẩn sĩ đường,
Ba lần đến nước Mỹ, Tản mạn đầu ô… - Hà Minh Đức, Nhớ lại một thời -
Tố Hữu, Tản mạn trước đèn - Đỗ Chu… là những tác phẩm hồi ký, bút ký
tập trung vào mảng hiện thực không kém phần phong phú và hấp dẫn này.
“Nhân vật chính” trong các trang ký đó là những con người
khác nhau với những tính cách và số phận mang tính cá thể. Họ đến và đi
qua một vài trang viết, nhưng ấn tượng và dư vị cảm xúc họ để lại cho người đọc
thì thật sự thấm thía, dài lâu (lão Ngải nông dân trong Chiều chiều, “người
muôn năm cũ” Bùi Văn Nguyên trong Tản mạn đầu ô, chiến sĩ biên phòng
Hứa Trung Bộ trong Ai đã đặt tên cho dòng sông…). Những dòng chữ “chân thực
đến đáy” nhưng vẫn đầy trân trọng, yêu thương của các tác giả viết ký đã để lại
cho người đọc niềm xúc cảm sâu xa về từng con người cụ thể, từng cảnh ngộ
cụ thể với từng tâm hồn và số phận riêng tây. Họ là những nhân vật chính của một cảm
hứng “thế sự - đời tư” đang ngập tràn trong văn chương thời kỳ Đổi mới
(thay thế cho cảm hứng sử thi - lãng mạn của những năm chiến tranh).
Trong các tác phẩm kí thời kỳ Đổi mới, song song với dòng
chảy lịch sử mà các tác giả - với tư cách là những nhân chứng của nó - đã
tái hiện khá toàn vẹn, chân thực; là dòng chảy văn chương mà họ - với
tư cách là những thành viên tích cực - cũng đã nỗ lực đưa đến một cái nhìn cận
cảnh, chính xác. Thông qua sự phát triển song song của cả hai mạch nguồn cảm hứng
này, chúng ta có thể nhận thấy sự tác động mạnh mẽ của lịch sử đối với văn học
nghệ thuật, với mỗi cá nhân nghệ sĩ trong ngôi nhà chung của văn học Việt Nam.
Điều đầu tiên hiện diện rõ nét trên các trang ký là công cuộc
“nhận đường” và “lên đường” đầy khó khăn thử thách của các nhà văn, nhà thơ thời
kỳ đầu kháng chiến. Đúng như Tô Hoài nhận định: “Mỗi một cuộc đời, một trường hợp
đến với cách mạng không giống nhau”, nhưng dù khác nhau về cách đi, các nghệ sĩ
đều đã tìm thấy một chân lý: “… sáng tác là gì nếu không lăn lộn, phản ánh được
chiến đấu”. Từ đó, rất nhiều gương mặt quen thuộc của văn học hiện đại Việt Nam
như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao… đã thực sự nhập cuộc và
tìm ra được cảm hứng sáng tạo mới từ “hiện thực lao động và chiến đấu vĩ đại” của
nhân dân.
Tác giả của Chiều chiều và Cát bụi chân ai -
với một cái nhìn tỉnh táo điềm đạm - đã nhìn nhận lại “Nhân văn - Giai phẩm” và
những vấn đề văn chương phức tạp một thời với tất cả tính thời sự và cả tính bi
kịch của nó. Bằng sức mạnh của hồi tưởng, nhà văn đã mạnh dạn, thẳng thắn nói
ra những “chuyện buồn quá khứ”, những “ấu trĩ trong quan niệm văn học và chính
trị một thời”, giúp người đọc có được một hình dung và nhận thức “tường minh”
hơn về lịch sử văn học nước nhà những năm tháng đầy biến động…
Bước vào Đổi mới, nền văn học của nước ta lại chuyển động mạnh
mẽ về nhiều mặt. Cùng với sự cởi mở hơn về quan niệm văn chương, sự tự do dân
chủ hơn trong không khí sáng tác và tiếp nhận, đời sống văn học đã phát triển
trên cả bề rộng lẫn chiều sâu. Lúc này nhà văn có thể nói lên tất cả những gì
thuộc về con người, đi đến tận cùng giới hạn của tâm hồn và số phận nhân vật với
rất nhiều phong cách - bút pháp nghệ thuật khác nhau.
Nổi bật lên những trang bút ký, hồi ký thời kỳ Đổi mới là những chân
dung và số phận văn chương trong qua khứ cũng như trong hiện tại; là những trải
nghiệm thấm thía và những suy tư sâu lắng về nghiệp, về nghề…
Trên trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đọc thường gặp
những nghệ sĩ tài tử, tài hoa, mang nhiều uẩn khúc trong tâm tưởng hoặc trong
cuộc đời và đôi khi có những nét “tương đồng, tương liên” với tác giả. Đó là
Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Trịnh Công Sơn, Văn Cao, Đinh
Cường, Bùi Giáng, Phùng Quán, Điềm Phùng Thị… - một dãy lấp lánh những khuôn mặt
ẩn hiện trong dòng lịch sử. Họ có thể là “người của thời xưa” hay “người của thời
nay”, song tác giả luôn viết về họ với một niềm yêu kính thiêng liêng như viết
về những người của cõi bất tử - “người của muôn thời”! Suy nghĩ về
cuộc chiến đấu bền bỉ vì “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi, ông khẳng định: “sự lựa
chọn đó là quá trình tự phá vỡ bản thân và rốt cuộc sự có mặt của ông vẫn mới mẻ
cho đến ngày sau, làm cho ông trở thành một con người mạnh hơn cái chết”(3). Viết
về Văn Cao - người nghệ sĩ đa tài mà ông đặc biệt dành tình cảm, câu chữ của
Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng như “hát” lên bằng những thanh âm diệu vợi thanh
thoát và “cùng tông” với Suối mơ, Thiên Thai…: “cây Aleo dichotoma trên đỉnh
núi đá Vọng Phu ở Lạng Sơn, cứ tự chia hai đến cùng trong hành động sống, hay
nói cách khác, trong quá trình từ thể hiện bản thân mình nhằm đạt tới những chiều
hướng khác nhau giữa những giới hạn vốn dĩ chật chội như một đời người và ở khắp
mọi nơi của hiện hữu. Văn Cao là một con người luôn tìm cách phá vỡ Giới Hạn”(4).
Khác với Hoàng Phủ Ngọc Tường thường dựng chân dung các “tri
âm tri kỷ” bằng sương mờ cảm xúc và quãng ngưng tưởng vọng, Tô Hoài lại khắc
hoạ hình ảnh những người bạn văn chương của mình bằng những nét bút tả thực
sống động trên một “hậu cảnh” sáng rõ của hồi ức. Tô Hoài viết về Nguyễn Tuân,
Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Huy Tưởng… - những
“tên tuổi lớn” của nền văn học hiện đại Việt Nam - giống như để nhớ đến vùng kỷ
niệm khó mờ phai về một thời đoạn thăng trầm của nền văn học ấy, nơi chính ông
đã gắn bó phần lớn văn nghiệp của mình. Đi vào những “ngõ ngách” của đời sống
văn chương và những “khúc đoạn” gập ghềnh của các số phận nghệ sĩ, Tô Hoài đã tạo
được trong hồi ký của ông những bức chân dung đầy sắc cạnh, đầy dấu ấn song
cũng vô cùng gần gũi, chân thực. Tô Hoài đã khiến cho bạn đọc không chỉ yêu mến
các tác phẩm văn chương của họ mà ông còn giúp bạn đọc hiểu được cuộc sống, sự
nghiệp, phong cách và cá tính của mỗi người.
Tất cả những con người, những số phận văn chương ấy - qua cái nhìn ấm áp chân tình của tác giả hồi ký - đã gieo vào người đọc một niềm cảm thương, chia xẻ mênh mang. Tô Hoài không hề “lạ hóa” bất cứ chân dung văn chương nào. Trong hồi ký của ông, họ là những tài năng nghệ thuật, song họ cũng là những con người của cuộc sống đời thường, của vô vàn những “tuế toái”, “chi li”, “phiền phức”, những yêu ghét, buồn vui, thăng trầm, được mất… của một kiếp người. Sau này, chúng ta còn bắt gặp tinh thần xây dựng chân dung nhiều chiều, phong phú và ấm áp nhân tình này ở một tác giả viết ký tài hoa khác: Hà Minh Đức. Chỉ cần lướt qua các tiêu đề bài viết: “Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ”, “Huy Cận, đường thơ đến với đích xa”, “Tô Hoài, một đời văn sáng tạo”, “Giáo sư N.I. Niculin nhà nghiên cứu uyên bác, người bạn thân thiết của giới nghiên cứu văn học Việt Nam”… (Tản mạn đầu ô), người đọc dễ dàng nhận ra quan niệm chung của người viết – đúng như ông từng tâm sự: “Viết về họ tôi có ý thức phải làm sao tạo dựng được bức chân dung tổng hợp cả phần “đời” lẫn phần “đạo” (…) tôi kính trọng nhất là tài năng và nhân cách. Tôi chấp nhận nhiều màu vẻ của cá tính và sở thích riêng”(5).
Tất cả những con người, những số phận văn chương ấy - qua cái nhìn ấm áp chân tình của tác giả hồi ký - đã gieo vào người đọc một niềm cảm thương, chia xẻ mênh mang. Tô Hoài không hề “lạ hóa” bất cứ chân dung văn chương nào. Trong hồi ký của ông, họ là những tài năng nghệ thuật, song họ cũng là những con người của cuộc sống đời thường, của vô vàn những “tuế toái”, “chi li”, “phiền phức”, những yêu ghét, buồn vui, thăng trầm, được mất… của một kiếp người. Sau này, chúng ta còn bắt gặp tinh thần xây dựng chân dung nhiều chiều, phong phú và ấm áp nhân tình này ở một tác giả viết ký tài hoa khác: Hà Minh Đức. Chỉ cần lướt qua các tiêu đề bài viết: “Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ”, “Huy Cận, đường thơ đến với đích xa”, “Tô Hoài, một đời văn sáng tạo”, “Giáo sư N.I. Niculin nhà nghiên cứu uyên bác, người bạn thân thiết của giới nghiên cứu văn học Việt Nam”… (Tản mạn đầu ô), người đọc dễ dàng nhận ra quan niệm chung của người viết – đúng như ông từng tâm sự: “Viết về họ tôi có ý thức phải làm sao tạo dựng được bức chân dung tổng hợp cả phần “đời” lẫn phần “đạo” (…) tôi kính trọng nhất là tài năng và nhân cách. Tôi chấp nhận nhiều màu vẻ của cá tính và sở thích riêng”(5).
Khác với văn phong điềm tĩnh, sâu lắng, trầm tư của các cây
bút “tiền bối” trên đây, Trần Đăng Khoa lại mang đến cho đời sống phê bình một
“luồng gió lạ” bằng những cuộc “đối thoại” dài hơi, bạo dạn, sôi nổi với các
“chân dung” văn chương nước nhà. Bằng một lối tiếp cận chủ yếu theo kiểu dựng
chân dung phương Tây: áp sát, trực diện, đôi khi ngẫu hứng và thường mang đậm
tính chủ quan, cuốn sách Chân dung và đối thoại (1998) gần như đã
phác hoạ nên một Xuân Diệu, một Tố Hữu, một Lê Lựu, một Nguyễn Khắc Trường…
theo cách - của - Trần - Đăng - Khoa, kiểu - Trần – Đăng - Khoa. Những bức
chân dung ấy chưa hẳn đã ăn nhập với sự mong đợi và hình dung của công chúng,
càng chưa hẳn là những phác thảo toàn vẹn về cả con người đời sống lẫn con người
văn chương, song tất cả đều để lại một ấn tượng đặc biệt nào đó trong người đọc:
hoặc sự bất ngờ, hoặc nỗi ám ảnh, hoặc cảm giác “bị khiêu khích” và muốn được
tranh luận... (như cách xây dựng chân dung Nguyễn Tuân là một ví dụ tiêu biểu).
Mặc dù tính ngẫu hứng và tính chủ quan đôi khi đã đẩy ngòi bút tác giả đi “quá
đà”, song không thể phủ nhận rằng: Lối viết dí dỏm, thoải mái, tự nhiên và luôn
tạo cảm giác muốn đối thoại đó của Trần Đăng Khoa đã phần nào khuấy động lên
cái không khí phê bình bằng lặng, bình yên những năm cuối thập kỷ 90; và cũng mở
rộng thêm đường biên cho thể loại bút ký.
Cùng với những suy tư về “người văn”, chúng ta bắt gặp thường
xuyên trong hồi ký - bút ký thời kỳ Đổi mới những chiêm nghiệm về nghề văn, về
nghiệp văn… Trong Tản mạn trước đèn(2005) của Đỗ Chu, người đọc có thể cảm
nhận sâu sắc nỗi “ưu tư” lớn của tác giả về con đường mà chính ông cũng đang là
“người bộ hành” can đảm và cô độc. Chứng kiến những đổi thay dữ dội của một thời
kỳ sáng tác mới (nơi các giá trị còn lẫn lộn và chưa kịp định hình), Đỗ Chu muốn
“đặt lại và tái khẳng định vấn đề trách nhiệm của nhà văn đối với vận mệnh đất
nước, bản lĩnh văn hóa của người viết, sự cô đơn của nghệ sĩ trên hành trình đi
tìm cái đẹp, sự tỉnh táo cần thiết của một nhà văn giữa muôn nẻo đường sáng tạo
để làm sao thoát khỏi mê lầm”(6).
Đi đến tận cùng tâm thức của nhà văn vẫn là nỗi đau đáu về đạo của người cầm bút như một thứ “thập tự giá” mà họ phải và được mang trong cuộc đời: “Để có những trang sách hay là cả một cuộc lên đường đầy gian nan, có khi vất vưởng suốt đời mà tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Người xưa xem văn là một thứ đạo cũng bởi lẽ đó”(7).
Đi đến tận cùng tâm thức của nhà văn vẫn là nỗi đau đáu về đạo của người cầm bút như một thứ “thập tự giá” mà họ phải và được mang trong cuộc đời: “Để có những trang sách hay là cả một cuộc lên đường đầy gian nan, có khi vất vưởng suốt đời mà tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Người xưa xem văn là một thứ đạo cũng bởi lẽ đó”(7).
Với tất cả sự phong phú của nội dung, sự đột phá trong cảm
quan về hiện thực, thể loại bút ký - hồi ký thời kỳ Đổi mới cũng đã mang đến những
cách tân đáng ghi nhận trong nghệ thuật thể hiện và thi pháp thể
loại. Đến đây, mỗi “tiểu loại”: hồi ký và bút ký, lại thể hiện một
ưu thế và một sức mạnh khác nhau trong phương thức tái hiện cuộc sống.
Hồi ký là một thể quan trọng trong ký tự sự. Nó ghi lại
diễn biến của câu chuyện và nhân vật theo diễn biến của thời gian qua dòng hồi
tưởng. Hồi ký có đặc điểm là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lại
những sự việc trong quá khứ. Hồi ký đòi hỏi phải hết sức tôn trọng tính chân thật
của câu chuyện; sự việc, số liệu, thời gian, địa điểm phải chính xác. Đó có thể
là một câu chuyện mà tác giả tham dự và chứng kiến hoặc cũng có thể lấy chất liệu
từ chính cuộc đời mình làm đối tượng khai thác (như trong Bốn mươi năm nói
láo - Vũ Bằng, Cát bụi chân ai - Tô Hoài…)
Những năm cuối thế kỷ XX, hồi ký nở rộ trong đời sống văn học
ngày càng thu hút sự quan tâm của độc giả hiện đại. Bởi hồi ký cũng là một cách
thể hiện nhu cầu khám phá đời sống. Các tác giả không chỉ xây dựng được diện mạo
của người cùng thời mà qua chuyện của mình phác hoạ được gương mặt của thời đại.
Nói như nhà thơ Huy Cận: “Viết hồi ký là sống lại một lần nữa cuộc đời mình,
cũng là san sẻ cho người trong thiên hạ vui buồn của mình, thân phận của mình
và phần nào những trải nghiệm dọc đời đã sống”(8).
Sức hấp dẫn của tác phẩm hồi ký chính là sự tường minh của hồi
ức và sự liền mạch của hồi ức ấy. Trong các tác phẩm Đặng Thai Mai hồi
ký (Đặng Thai Mai),Cát bụi chân ai, Chiều chiều (Tô Hoài)… người
đọc có thể nhận thấy rất rõ đặc điểm này. Những kỷ niệm chung - riêng, xa - gần
không rời rạc tản mát mà hòa chảy thành một dòng sông cuồn cuộn đổ về biển cả cảm
xúc. Trong văn Tô Hoài, đó là sự đan xen, tiếp nối của những mảng hồi ức khác
nhau về nghề nghiệp, về bạn bè, bởi không gian và thời gian đều gắn liền với cuộc
đời riêng của tác giả. Vì lẽ ấy, đằng sau cái “lộ trình” của hoài niệm có vẻ
lan man và thường xuyên bị ngắt quãng, ở Cát bụi chân ai và Chiều
chiều vẫn có được sự liền mạch, nhất quán trong cảm hứng và trong mạch
truyện. Biết bao nhiêu số phận, tính cách, nỗi niềm… đều được tác giả khéo léo
đan chéo trên một cái nền lịch sử chung sôi động. Những văn nghệ sĩ nổi tiếng
như Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Phùng Quán, v.v… hay những người dân
bình thường “vô danh” - chẳng ai giống ai trong cuộc đời hay sự nghiệp nhưng
cũng chẳng ai khác ai trong bối cảnh thời đại mà họ đang sống. Những biến động
riêng trong cuộc đời mỗi người lại hoà nhịp vào những biến động chung của số phận
dân tộc, đất nước, của dòng lịch sử.
Một điểm độc đáo là, mặc dù minh bạch, thông suốt về nội
dung, sáng tỏ, nhất quán về kết cấu, song hồi ký thời kỳ này lại khá đa dạng về
giọng điệu. Mặc dù “giọng điệu thể loại” chủ đạo của hồi ký là thuật kể khách
quan những sự kiện đã qua, nhưng do sự cởi mở, phong phú về mặt phong cách và cá
tính sáng tạo từ sau Đổi mới, mỗi tác giả lại mang đến cho thể loại một giọng
điệu riêng của mình. Ví như, người ta có thể nói đến một kiểu hồi ký
mang phong vị Tô Hoài: “thâm hậu mà dung dị, thì thầm mà không đơn điệu
nhàm chán, lan man tý chút nhưng không kẻ cả vô vị, không chút u mặc với cái giọng
khơi khơi mà nói, anh muốn nghe thì nghe, không bắt buộc nghe rồi hiểu, đừng cật
vấn… Và vì thế, sức hấp dẫn chủ yếu là sự chân thật”(9). Cát bụi chân ai và Chiều
chiều hấp dẫn bạn đọc bởi sự linh hoạt trong cách kể chuyện, bằng giọng điệu
dí dỏm, khôi hài pha chút bông đùa nhưng cũng vô cùng nghiêm trang, thâm thuý.
Ví như đoạn ông viết về Phan Khôi: “Mình đọc Phan Khôi nhiều đến thế từ thuở
bé, ông phải khoái lắm chứ. Thế mà ông ấy đốp một câu: “Tôi chưa xem bài nào của
anh. Chẳng biết anh viết ra cái gì. Nghe có người nói anh viết truyện con giun,
con dế”(10) hay về Nguyễn Tuân: “Cứ cái kiểu ấy, một đời còn biết bao gian
truân”. Giọng điệu của Đặng Thai Mai trong hồi ký của ông lại nhẹ nhàng, trầm
tư, sâu lắng và thường hay nhấn nhá vào những “điểm sâu” trong tiềm thức. Giọng
của tác giả Anh Thơ trong hồi ký Từ bến sông Thương là giọng đầy “nữ
tính”, ấm áp, uyển chuyển…
Sự phong phú của giọng điệu ấy đã góp phần quan trọng trong sự
“phục sinh” hồi ức và “đa dạng hoá” cái kết cấu hồi ức mà các tác giả
xây dựng cho tác phẩm của mình. Đặng Thai Mai hồi ký thể hiện rất rõ
sự lựa chọn lối hồi tưởng “theo tuyến tính thời gian” của tác giả: ông như muốn
đi từ điểm xa nhất về đến điểm gần nhất để ngầm nói về cái quá trình - một con
đường “có đầu có cuối” để đào luyện nên một Đặng Thai Mai như ngày hôm nay.
Chính ông cũng đã tâm sự một cách hài hước và chân thành, ngay từ đầu cuốn sách
về lựa chọn kết cấu của mình: “Viết hồi ký nên bắt đầu từ đâu? Mình thì có cái
tật “cổ điển” là kể từ đầu kể đi. “Đầu đi đuôi lọt” là lời dạy của của tục ngữ
phương ngôn (…) Khác với Đặng Thai Mai, Tô Hoài lại thường xuyên sử dụng phép đồng
hiện giữa quá khứ và hiện tại, giữa quá khứ gần và quá khứ xa trong mạch chuyện
kể. Nhà văn luôn tìm cách phá vỡ trình tự thời gian và không gian, hay nói cách
khác, đảo ngược, xen kẽ không - thời gian trong thế giới hoài niệm của
mình. Thay vì sắp xếp chúng theo trật tự biên niên như từ gần tới xa, từ hẹp
sang rộng, ông lại xáo trộn chúng bằng một “dòng ý thức” miên man - với hình thức
nhiều khi phi logic, hay đứt đoạn, chia nhỏ…
Giống như hồi ký, bút kí là một bộ phận của kí
văn học - một thể ký có độ nhòe khá cao về ranh giới thể loại. Hoàng Phủ Ngọc
Tường, bằng những trải nghiệm nghề nghiệp của riêng mình, đã nhấn mạnh: “Cùng với
cảm xúc văn học, bút kí còn chứa đựng tất cả sức nặng vật chất của các sự kiện
được giữ lại từ trong cõi thực vốn là bản gốc của tác phẩm. Sức nặng ấy được
chuyển đi, không giống như một cảm giác mĩ học; mà như một quả táo Newton rơi
xuống tâm hồn người đọc”(11). Rõ ràng, sức hấp dẫn và thuyết phục của bút ký tuỳ
thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khả năng biểu đạt của tác giả
đối với các sự kiện được đề cập nhằm phát hiện những khía cạnh nổi bật, những ý
tưởng mới mẻ và sâu sắc trong các mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh, cá
nhân và môi trường.
Trong các tác phẩm bút ký thời kỳ Đổi mới của Hoàng Phủ Ngọc
Tường, Đỗ Chu… phương diện nghệ thuật nổi bật nhất thể hiện sự sáng tạo, cách
tân của các tác giả chính là nghệ thuật sử dụng ngôn từ và kiến tạo giọng
điệu chủ thể. Có thể nói, các tác phẩm bút ký giai đoạn này đã phát huy tối đa
những “ưu thế thể loại” của chúng, đặc biệt là tính “phóng khoáng, tự do mà cá
tính nghệ sĩ thường trực tiếp tham gia vào” (Trần Đình Sử). Trong bút ký của Đỗ
Chu, người đọc lại bắt gặp một thứ ngôn từ giản dị, chân phương, nhẹ nhàng song
vẫn thấm đượm chất triết lý, suy tư: “Thời gian là gì vậy, nó là thứ không nhìn
thấy nhưng lại có thể đo đếm, có thể cảm nhận, và nó rất nặng. Nó bâng khuâng
có lý và vô lý như những câu hát, ngõ nhỏ phố nhỏ nhà tôi ở đó, cây cơm nguội
vàng cây bàng lá đỏ, nằm kề bên nhau phố xưa nhà cổ, sẽ có một ngày từng con đường
nhỏ trả lời cho tôi…”(12). Hà Minh Đức cũng gần gũi với Đỗ Chu ở thứ
ngôn ngữ và giọng điệu nhẩn nha, nhỏ nhẹ, tâm tình nhưng lắng đọng một chiều
sâu xúc cảm…
Một điểm chung không thể bỏ qua trên các trang hồi ký, bút ký
kể trên là “ngôn ngữ và giọng điệu của người kể chuyện” - mà chủ yếu là ngôn
ngữ, giọng điệu của cái Tôi cá nhân tác giả trong tác phẩm. Tuy là cái tôi
cá nhân, giàu xúc cảm, tình cảm, song nó cũng rất khách quan trong phản ánh hiện
thực cuộc sống. Có lẽ đó chính là “hạt nhân”, là “cốt lõi” làm nên những phong
cách sáng tạo khác nhau của mỗi một tác giả viết ký.
Từ những năm 70 cho đến nay, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một tác
giả luôn luôn tìm tòi, cách tân thể bút kí với một phương thức riêng độc đáo. Lật
giở những trang viết của ông, người đọc cảm thấy tác giả tìm đến thể ký như một
điều tất yếu, bởi ký là một thể loại phóng khoáng, tự do mà với cá tính nghệ
sĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường có khả năng phát huy sở trường của một cái tôi trữ
tình nồng nàn, từng trải đầy chiêm nghiệm, suy tưởng và thấm đẫm chất thơ, như
có người nói ngoài câu chữ, văn bản là “phần ký tâm hồn”.
Trong khi đó, hồi ký của Tô Hoài lại thể hiện một cái Tôi tự
sự giản dị, tỉnh táo, điềm tĩnh ghi nhận mọi sự và thể hiện nó bằng thứ “ngôn
ngữ của văn xuôi” - một thứ ngôn ngữ đa dạng, lắm cung bậc và thật nhiều sắc
thái. Cái chất hài hước, sự khôn ngoan minh mẫn, vẻ “đáo để” của người viết
cũng bộc lộ thật sắc nét trên các trang hồi ký - như cách Tô Hoài mô tả việc đi
xem một vụ án giết người do chính một “thượng cấp” của mình gây nên: “Vụ án giết
vợ này ở phòng khác to rộng… Tôi chen vào…Tôi lại chen ra. Tôi chen ra vì tôi sợ
nhỡ lại phải nghe thằng ấy nói lời cuối cùng: Tôi đã được Đảng giáo dục… tôi
đã… tôi đã…”(13).
Việc luôn mở rộng các “đường biên” của thể loại từ phía chủ
thể, phía của quan niệm về hiện thực-con người, của ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu…
khiến cho bản thân ranh giới các thể loại (bút ký, hồi ký…) thời kỳ Đổi mới
cũng bị “lung lay”, dẫn đến sự giao thoa, thâm nhập giữa chúng với nhau. Tô
Hoài đã có một nhận định tinh tế về vấn đề này: “Bây giờ ta có thể đọc một bài
bút kí trong đó không thiếu những đoạn viết theo lối phóng sự, lẫn hồi ký, có
khi cả thể truyện ngắn”(14). Quả vậy, chúng ta vẫn gặp trong những trang tuỳ
bút trữ tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường nhiều đoạn có tính chính luận mạnh mẽ
(phê phán cái ác, cái xấu đang hiện hữu từng ngày, từng giờ…); lại có những bài
“nhàn đàm” chính luận mang đậm chất thơ, thể hiện những xúc cảm bất chợt,
“riêng tây” của tác giả. Hồi ký của Tô Hoài giàu chất “truyện” và chất “tiểu
thuyết” trong cách kết cấu mạch lạc, rõ ràng, mang tính tự sự, trong giọng điệu
“đa âm” và ngôn ngữ chính xác, linh hoạt. Đôi khi người ta không thể phân biệt
rạch ròi đâu là Văn học, đâu là Báo chí; đâu là Bút ký, Tuỳ bút; đâu là Bút ký
chính luận hay trữ tình… trong các tác phẩm ký thời kỳ này. Chính sự “giao thoa
thể loại” đó càng chắp thêm đôi cánh cho các tác phẩm ký ấy vươn ra những chân
trời mới của việc tái hiện hiện thực. Nó cũng đồng thời thể hiện tính hiện đại,
năng động, linh hoạt của thể loại ký nói chung trong thời kỳ “mở rộng và đổi mới
tư duy nghệ thuật” sôi nổi này.
Với tất cả những nỗ lực tìm tòi, khám phá, cách tân về nội
dung ý nghĩa cũng như nghệ thuật biểu hiện và quan trọng nhất là với sự tự khẳng
định không ngừngphong cách cá nhâncủa các tác giả hồi ký, bút ký thời kỳ Đổi mới,
chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định sự thành công và chín muồi của thể loại ký
ở giai đoạn này. Làm nên độ “chín” của từng thể loại trong từng giai đoạn nào
đó, ngoài yếu tố tâm huyết và tài năng của mỗi tác giả sử dụng thể loại (“nhân
hoà”) còn cần đến sự mở cửa, sự giải phóng về mặt đời sống chính trị, tư tưởng
trong xã hội (“địa lợi”) và cả sự phù hợp, “ăn ý” của tinh thần thể loại đó với
tinh thần chung của thời đại (“thiên thời”). Các tác phẩm Đặng Thai Mai hồi
ký - Đặng Thai Mai, Từ bến sông Thương - Anh Thơ, Cát bụi
chân ai, Chiều chiều - Tô Hoài, Chân dung và đối thoại - Trần
Đăng Khoa, Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, Tản mạn đầu ô -
Hà Minh Đức, Tản mạn trước đèn - Đỗ Chu, Ai đã đặt tên cho dòng
sông, Trịnh Công Sơn và cây đàn lia của hoàng tử bé - Hoàng Phủ Ngọc Tường…
có lẽ đã hội tụ đầy đủ cả ba yếu tố đó: tác giả tài hoa và say mê với thể loại;
tư tưởng Đổi mới chan hòa nhuần thấm trong không khí sáng tác nghệ thuật; sự
linh hoạt, ngẫu hứng, cơ động của thể ký phù hợp với một thời đại mà nhịp độ sống
đang ngày càng tăng cường, gấp gáp… Với tất cả những ưu thế và cơ sở vững vàng
đó, thể loại ký nói chung và các thể hồi ký - bút ký nói riêng sẽ còn có những
bước tiến xa hơn nữa trong thế kỷ mới - thế kỷ XXI. Dấu hiệu của điều này có thể
nhận thấy rõ ràng trong hiện tượng hàng loạt các cuốn nhật ký, tự truyện xuất bản
thời gian gần đây đã nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng: Mãi
mãi tuổi hai mươi, Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Lê Vân yêu và sống…
Như đã trình bày ở phần mở đầu, trong văn xuôi thời kỳ Đổi mới,
ngoài phóng sự và hồi ký, bút ký, các thể ký khác xuất hiện
với tần số khá ít ỏi. Điều đó có thể được cắt nghĩa bởi ký sự chỉ thích ứng với
bối cảnh chiến tranh. Và, trong khi truyện ngắn “tăng trưởng” rất nhanh thì
truyện ký trở nên hiếm hoi và ít thành tựu. Thơ văn xuôi có tỷ lệ cao hơn nhiều
so với trước đây thì tùy bút lại có phần thưa thớt và dường như đang bị tản văn
lấn lướt. Phải chăng đó là sự phản ánh những đặc điểm tư duy, thị hiếu của thời
đại nghe nhìn? Thực tế là cùng với sức mạnh của báo chí, ký văn học ngày
càng hiện đại hơn. Thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi. Ngoài khả năng kết
hợp tư duy logic với tư duy hình tượng, giọng điệu sắc bén, tỉnh táo với giọng
trữ tình mềm mại… ký hiện đại đòi hỏi một lối viết mạch lạc, cô đúc và đặc biệt
là nhiều hàm lượng thông tin. Ngoài các nhà văn tên tuổi, một lực lượng đông đảo
các cây bút trẻ đang trưởng thành và bước đầu khẳng định phong cách của mình
như Văn Chinh, Xuân Ba, Nguyễn Việt Chiến, Huỳnh Dũng Nhân, Minh Chuyên, Vũ Hữu
Sự, Đỗ Doãn Hoàng… Chính họ đã mang đến “sức trẻ” cho dòng văn học báo chí suốt
thời gian qua.
Về mặt nguyên lý, sức sống của một thời đại văn học phụ thuộc
vào sự phong phú và khả năng hồi sinh, đổi mới của các thể loại. Việc
khảo sát những biến đổi “trên bề mặt thể loại” cùng những “biến thái tinh vi
bên trong đời sống mỗi thể loại” giúp chúng ta nhận thức sâu sắc và đầy đủ hơn
một giai đoạn văn học. Nhìn vào sự vận động và phát triển của hệ thống thể loại
trong văn học thời kỳ đổi mới, tuy ranh giới không bị xóa nhòa song sự thâm nhập,
pha trộn, chuyển hóa lẫn nhau giữa các thể loại đã trở thành hiện tượng nổi bật.
Đáng chú ý là sự thâm nhập của thể ký vào “lãnh địa” của tiểu thuyết đã tạo nên
một dòng tiểu thuyết tự truyện có sức hút lớn trong đời sống văn học
đương đại. Chính từ những vùng này, các thể loại cũ đã có thêm nhiều tố chất mới1.
Ghi chú :
([1]), (2), (11) Đặng Thai Mai hồi ký, tr.295, 372, 31.
(3), (4) Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tập 3, tr.208,
269.
(5) Tản mạn đầu ô, tr.257.
(6) Phan Huy Dũng: Đỗ Chu chiêm nghiệm về nghề
văn và nghệ thuật, Tạp chí Nhà văn, số 3-2007, tr.57.
(7), (12) Đỗ Chu: Tản mạn trước đèn, Nxb. Hội Nhà
văn, 2004, tr.222, 213.
(8) Núi mộng gương hồ, Tập 1, Nxb. Trẻ thành phố Hồ Chí
Minh, 1988, tr.11.
(9) Tô Hoài - Về tác gia và tác phẩm, Nxb. Giáo dục,
2000, tr.414.
([1]0), (13) Chiều chiều, Nxb. Hội Nhà văn, 1999, tr.40,
151.
(11) Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, tập 3.
([1]4) Người bạn đọc ấy, Nxb. Văn học, 1963, tr.70.
Hà Nội, 5/2008
Lý Hoài Thu
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu Văn học số 10.2008









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét