Đồng dao và trò chơi trẻ con
Chơi Chong chóng, tranh Võ đình, UNICEF 63
Đồng dao, đồng diêu: câu
hát chơi, con nít hay hát. Đó là định nghĩa đơn giản nhất
của Huình Tịnh Paulus Của, trong đại Nam Quấc Âm Tự Vị, cuốn
tự điển đầu tiên của Việt Nam, xuất bản năm 1895 tại Sài Gòn.36 năm sau, Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến
đức khởi thảo Việt Nam Tự điển, Mặc Lâm xuất bản tại Hà Nội
năm 1931 và Nhà In Imprimarie Trung Bắc Tân Văn phát hành, cũng định nghĩa ngắn
gọn. Đồng dao: câu hát trẻ con. Hơn thế kỷ sau, tức là
cả 103 năm sau, Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, do Bộ
Giáo dục và đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa
Việt Nam, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành năm 1998, định nghĩa đồng
dao: lời hát truyền miệng của trẻ con, nhưng không đưa ra một câu nào.Đồng dao được truyền từ đời này tiếp đời nọ, vùng này qua vùng
kia, có khi thay đổi, có khi sai lạc, có khi thất truyền, và bị quên
lãng. Tác giả hẩu hết vô danh, hay nói đúng hơn, chính dân gian là tác
giả.Dạy con từ thuở
lên ba, nhưng
từ lúc lọt lòng mẹ qua ba tháng biết lẩy bẩy tháng biết bò cho
đến khi lổm ngổm tập ngồi bi bô tập nói lựng chựng bước đi, với Việt Nam ta,
tiếp nối lời mẹ ru, đồng dao giữ phần quan trọng trong giáo dục gia đình, chuẩn
bị cho trẻ đến trường với khoa sư phạm áp dụng phương pháp giúp trẻ con vừa vui
chơi giải trí vừa học hỏi, phát triển các khả năng cơ thể và mở mang trí tuệ. Hát
mà chơi. Hát mà học. Hát chơi mà học thật.Thuở ban đầu, đồng
dao chỉ được truyền miệng, nhưng nhờ ngắn gọn đơn giản ba, bốn hoặc năm chữ, có
khi ngô nghê, nhưng vần điệu tiết tấu nhịp nhàng nên rất dễ hiểu dễ nhớ. Về sau, rất nhiều bài đồng dao được đặt nhạc nên được phổ biến rộng rãi. Trong hàng trăm bài đồng dao truyền miệng và hàng ngàn bản nhạc, chúng tôi chỉ
nêu một số bài đồng dao truyền miệng từ Bắc qua Trung vào Nam, còn nhớ hoặc tìm tòi sưu tầm được, và đồng dao được phổ nhạc, cùng một số nhạc phụ
lục. Chuyện bổ túc theo đà tiếp nối rất dễ dàng thuận tiện.Chơi Diều, tranh Võ đình,
UNICEF 69 Những trò chơi đầu tiên chỉ có mẹ và
con. Khi trẻ bớt ngủ ngày, tức vào khoảng một tháng sau khi ra đời, trẻ
bắt đầu biết nghe và nhìn. Bài học đầu tiên có thể chỉ tập cho con theo
dõi, nhận xét, ghi nhận. Mẹ chỉ cho con biết những phần trên cơ thể, cả danh
từ lẫn động từ tĩnh từ: mắt mở mắt nhắm, mắt đen mắt nâu, miệng nói môi
cười, răng trắng, tai nghe, tóc đen tóc trắng, tóc ngắn tóc dài, tay nắm, chân
đạp...Trẻ chưa biết ngồi, có thể cùng mẹ chơi
trò Cất Rớ Chống Rớ, đặt con nằm ấp trên hai ống chân
mẹ, mông con an vị trên hai bàn chân mẹ, hai tay nắm chặt hai tay con, mẹ nằm
ngửa, vừa nâng hai chân lên cao vừa đọc:Cất rớ lên! Bỏ rớ
xuống!Cá chi? Cá bống! Chống rớ!Cá chi? Cá rô! Chống rớ!!Cá chi? Cá hồng! Chống rớ!...Vẫn vị thế đó, có thể đổi cách chơi qua
trò cỡi ngựa, hát mà chơi, nhún nhẩy đong đưa theo bài đồng dao:Nhong nhong nhong nhongNgựa ông đã vềCắt cỏ bồ đềCho ngựa ông ănNhong nhong nhong nhong...Mẹ tập con chơi mà học, quan
sát theo dõi:Một ngón tay nhúc nhích
này/ một ngón tay nhúc nhích nàyMột ngón tay nhúc nhích cũng đủ cho ta vui vầy...Hai ngón tay nhúc nhích này/ hai ngón tay nhúc nhích này!Hai ngón tay nhúc nhích cũng đủ cho ta vui vầy!...và cứ thế tiếp tục cho đến mười ngón. Bài này có phần nhạc ở phụ lục.Tay mẹ tay con có nhiều trò thú
vị. Hát mà chơi với bài đồng dao Kéo Cưa Lừa Xẻ,
khi con biết ngồi, hai mẹ con cùng nắm tay nhau kéo qua kéo lại:Kéo cưa lừa xẻ/ ông thợ
nào khỏe/ về ăn cơm trưaÔng thợ nào thua/ về bú tí mẹhay: Cút ca cút kít/ làm ít
ăn nhiều/ nằm đâu ngủ đấyNó lấy mất cưa/ lấy gì mà kéo!!!Vẫn tay mẹ tay con:Xỉa cá mè/ đè cá chépTay nào đẹp/ đi hái hoaTay nào thô/ đi mót củiTay dính bụi/ đừng dụi mắt...Cũng bài Xỉa Cá Mè nhưng
chơi với hai chân:Xỉa cá mè/ đè cá chépChân nào đẹp/ đi buôn menChân nào đen/ ở nhà làm... chó (hay mèo) và sủa
gâu gâu như chó hoặc kêu meo meo như mèo để mẹ con cùng vui.Mẹ con vuốt tay vỗ đập tay nhau nhịp hai
theo bài đồng dao Vuốt hột nổ nói đến những vật dụng hàng ngày. Bảo con
chắp tay lai, mẹ cũng chắp tay xong mở ra vuốt hai bàn tay con, vừa vuốt
vừa đọc, mỗi lần vuốt xong là vỗ tay, và có thể tiếp nối vô tận:Vuốt hột nổđổ bánh bèoXao xác... quạ kêuNồi đồng vung méo/ cái kéo thợ mayCái guộng đắp bờ/ cái cờ làng tếCái ghế để trèo/ cái khoèo mót củiCái chủi tòe loe/ cái khe nước chảyCái xảy xảy rơm/ cái nơm chơm cáCái ná bắn chim/ cái kim may áoCái gáo múc nước/ cái lược chải đầuCái câu câu cá/ cái rá vo gạo...Mẹ con ngồi đối mặt nhau, mẹ vừa hát vừa
tập con vỗ tay. Hát mà học, vì khi lớn lên bé sẽ cùng
vui chơi với anh hoặc chị, và cách chơi khó hơn: vừa đọc bài đồng dao vừa
tự vỗ tay mình xong vỗ tay trái chéo vào tay trái người kia; trở lại tự vỗ tay,
rồi vỗ tay phải mình chéo qua tay phải người kia, và tiếp tục ban đầu chậm sau
nhanh dần cho đến hết bài. Một bài đồng dao khác cho trò chơi này là:Tập tầm vôngChị lấy chồng/ em ở góa/ chị ăn cá/ em mút xươngChị nằm giường/ em nằm đất/ chị húp mật/ em liếm veChị ăn chè/ em liếm bát/ chị coi hát/ em vỗ tayChị ăn mày/ em xách bị/ chị làm đĩ/ em thâu tiềnChị đi thuyền/ em đi bộ/ chị kéo gỗ/ em lợp nhàChị trồng cà/ em trồng bí/ chị tuổi Tý/ em tuổi ThânChị tuổi Dần/ em tuổi MẹoChị kéo kẹo/ em nấu đường/ chị trồng thơm/ em trồng khómChị đi xóm/ em coi nhà/ chị thờ cha/ em nuôi mẹChị trồng hẹ/ em trồng hành/ chị để dành/ em ăn hếtChị đánh chết/ em la làng/ chị đào hang/ em chui tuốt...Vẫn trò chơi dùng hai tay nhưng đông người
hơn, có thể dùng một cái gậy hay thanh trúc để các em nắm tay chồng lên nhau
lần lượt và tiếp tục cho hết bài. Không có gậy thì chỉ cần chồng tay lên
nhau. Trò chơi này gọi là Hát đúm/ Cùm nụm cùm
nịu hay Tay tí tay tiên:Cùm nụm cùm nịu/ tay tí
tay tiênđồng tiền chiếc đũa/ hột lúa ba bôngăn trộm ăn cắp trứng gàBù xa bù xít/ con rắn con rítThì ra tay này!Vẫn tay mẹ tay con, khi con biết xử dụng
tay chân, mẹ con cùng chơi trò thi chân đẹp hoặc mẹ giúp con
theo dõi chơi Nu na Nu nống cùng các anh chị. Ngồi trong lòng
mẹ, bé chỉ tập trung theo dõi, chăm chú nghe và nhìn, lanh mắt lẹ tay nhanh
chân học mà chơi theo luật chung:Nu na nu nống/ cái cống
nằm trongCái ong nằm ngoài/ củ khoai chấm mậtPhật ngồi Phật khóc/ con cóc nhảy ra/ con gà ú ụNhà mụ thổi xôi/ nhà tôi nấu chèTè he cống rụt!Nu na nu nống/ thằng công cái cạcđá xỉa đá xoi/ đá đầu con voi/ đá lên đá xuốngđá ruộng bồ câu/ đá râu ông giàđá ra đường cái/ gặp gái đi đườngCó phường trống quân/ có chân thì rút!Nu na nu nống/ đánh trống phất cờ/ mở cuộc thi đuaThi chân đẹp đẽ/ chân ai sạch sẽ/ gót đỏ hồng hàokhông bẩn tí nào/ được vào đánh trống!Khi trẻ khá lớn đi đứng chạy nhảy vững
vàng và đến trường, gia nhập những trò chơi tập thể dễ dàng cũng như học những
bài đồng dao dần dà dài khó hơn, và mẹ chỉ để mắt theo dõi, hướng dẫn hoặc nhắc
nhở giúp đỡ khi cần.Có những bài đồng dao kết cấu liên hoàn
lập đi lập lại, làm điệu bộ theo lời diễn đi diễn lại cho đến khi mệt nghỉ:Con vỏi con voi/
cái vòi đi trướcHai chân trước ịch đi ịch trướcHai chân sau ịch đi ịch sauCòn cái đuôi thì đi là sau rốtTôi xin kể nốt cái chuyện con voi i í ị con voiCái vòi í i ị đi trước...Con công hay múa/ nó múa làm sao?Nó rụt cổ vào/ nó xòe cánh raNó đỗ cành đa/ nó kêu ríu rítNó đỗ cành mít/ nó kêu vịt chèNó đỗ cành tre/ nó kêu bè muốngNó đỗ dưới ruộng/ nó kêu tầm vôngCon công hay múa ...Lúa ngô là cô đậu nành/ đậu nành là anh dưa chuộtDưa chuột là ruột dưa gang/ dưa gang là nàng dưa hấuDưa hấu là cậu lúa ngô/ lúa ngô là cô đậu nành...Ba bài liên hoàn khác về chim:Ác là là cha
ca cưỡng/ ca cưỡng là dượng bồ câuBồ câu là dâu ác là/ ác là là cha cà cưỡng...Bồ các là bác chim gi/ chim gi là dì sáo sậuSáo sậu là cậu sáo đen/ sáo đen là em tu húTu hú là chú bồ các/ bồ các là bác chim gi...Cái cò mày mổ cái tôm/ cái tôm quắp lại mà ôm cái còCái cò mày mổ cái trai/ cái trai quặp lại mà nhai cái còCái cò mày mổ cái tôm...Một bài đồng dao liên hoàn khác được Đức
Quỳnh phổ nhạc và hát từ Bắc vào Nam, lời lẽ ngụ ý hài hước châm biếm:Con chim chích chòe/ nó
kêu chích chòeNó đậu cành chanh/ nó kêu chích chòeTôi ném hòn sành/ nó quay lông lốcTôi làm một chốc/ được ba mâm đầyÔng thầy ăn một/ bà cốt ăn haiCái đầu cái tai/ đem về biếu chúaChúa hỏi chim gì? - Là con chim chích chòe!Nó kêu chích chòe/ nó đậu cành chanh...Bài đồng dao có nhạc trong Nam lời hát như
sau:Con chim manh manh/ nó
đậu cây chanhTôi vác miểng sành/ tôi liệng nó chếtTôi làm được bảy mâm/ tôi dâng cho ông một mâmTôi dâng cho bà một đĩa/ bà hỏi tôi con chim gì?Tôi nói con chim manh manh...Có một trò chơi trong Nam gọi là Bắc
Kim thang, dùng bài đồng dao ngô nghê ngộ nghĩnh khi các em làm thành
vòng tròn, chân trái xỏ rế ngoéo vào chân trái bạn, vừa vỗ tay vừa nhảy lò cò
bằng chân phải và giữ không bị té, cùng hát:Bắc kim thang, cà lang
bí rợCột qua kèo là kèo qua cộtChú bán dầu qua cầu mà téChú bán ếch ở lại làm chi?Con le le đánh trống thổi kènCon bìm bịp thổi tò te tí te...Em nào không vững thăng bằng bị té là
thua, bị phạt búng tai hoặc khẻ tay nếu là con gái, hoặc phải cõng bạn cùng cặp
chạy một vòng nếu là con trai. Vui tếu thì phạt bằng quẹt nhọ
nồi/ lọ nghẹ lên mặt. Các em trai còn bị phạt làm ngựa cho bạn
cỡi, nhẹ thì dùng bài đồng dao ngắn Nhong nhong nhong nhong, mà
phạt nặng hoặc trẻ lớn thì dùng bài Lý Ngựa ô. Lý Ngựa ô
cũng có ba điệu phổ nhạc, Bắc, Trung và Nam.Trò trốn tìm/ ú tim/cút bắt được
trẻ con khắp thế giới vui chơi, và đồng dao ta có rất nhiều bài cả đám cùng
loạt đọc lên để chọn người phải đi tìm. Bài đặc biệt có tính cách một bài sấm dính đến lịch sử, nói về giai đoạn rối loạn của triều đình Nhà
Nguyễn và phong trào Cần Vương, thời ta bị Pháp đô hộ:Chu tri rành rành/ Cái đanh nổ lửaCon ngựa đứt cương/ ba vương tập đếCấp kế đi tìm/ ú tim... òa ập!Bài đồng dao trốn tìm/ thả đỉa ba
ba:Thả đỉa ba ba/ con đỉa
đeo bàCon gà tục tác/ mỏ nhát cầm chầuCon mèo cầm lái/ con rái chạy buồmCon tôm tát nước/ vọc nước giỡn trăngBài Thả đỉa ba ba khác:Thả đỉa ba baChớ bắt đàn bà/ phải tội đàn ôngCơm trắng như bông/ gạo tiền như nướcSang sông về đò/ đổ mắm đổ muốiđổ nải chuối tiêu/ đổ niêu cứt gàđổ phải nhà nào/ nhà ấy phải chiu!Khi đám trẻ chạy tìm chỗ nấp, em còn lại
phải bịt mắt đọc bài đồng dao khác đến hết mới được mở mắt đi tìm:Mít mật mít gai/ mười
hai thứ mítđi vào ăn thịt/ đi ra ăn xôiBởi chẳng nghe tôi/ tôi bịt mắt chúChơi bịt mắt bắt dê, tranh Võ
đìnhNgoài Bắc có bài đồng dao khác và Phạm Duy đã mượn ý phổ nhạc:Ông trẳng ông
trăngXuống chơi với tôi/ có bầu có bạnCó oản cơm xôi/ có nồi cơm nếpCó nệp bánh chưng/ có lưng hũ rượuCó chiếu bám đu/ thằng cù xí xoạiBắt trai bỏ giỏ/ cái đỏ ẵm emđi xem đánh cá/ đem rá vo gạoCó gáo múc nước/ có lược chải đầuCó trâu cầy ruộng/ có muống thả aoÔng sao trên trời...Hoặc:Ông tiễn ông
tiênÔng có đồng tiền/ ông giắt mái tai/ ông cài lưng khốÔng ra hàng phố/ ông mua miếng trầu/ ông nhai tóp tépÔng mua con tép/ về ông ăn cơmÔng mua mớ rơm/ về ông đánh thổiÔng mua cái chổi/ về ông quét nhàÔng mua con gà/ về cho ăn thócÔng mua con cóc/ về thả gậm giườngTranh dân gian của Henry Oger
đầu thế kỷ XX,Làm Hùm Bắt Lợn, tranh dân
gian Henry OgerKhi trẻ đã lớn, đã đi học và có
nhiều bạn cùng lứa, có rất nhiều trò chơi dùng những thứ kiếm được ngay chung
quanh hoặc tự chế lấy, ví như bắn ná làm bằng nạng ổi, bắn súng bẹ sống
lá chuối, bắn súng ống hóp đạn hạt sầu đông hoặc hạt mâm xôi, bắt chuồn chuồn,
buôn bán bằng hoa lá, cái lung tung/ cái trống bỏi, chong chóng bằng lá dừa,
cái tó he hay con gà đất có gắn ống cói ống sậy thổi te te, con giống, cối xay
làm bằng hạt xoài cưa hai, đánh căn với hai khúc tre hay gỗ, đánh bi, đánh cờ
chân chó, cờ gánh bằng vỏ nghêu vỏ sò, đánh đáo, đánh đu dựng bằng tre,
đánh trận giả với cây cành hoa lá như Cờ Lau Tập Trận của đinh Bộ Lĩnh thuở còn
chăn trâu, đánh thẻ, đánh vụ làm bằng gỗ, đá kiện làm bằng đồng xu buộc lông,
đá cầu lông, đạp mạng, đạp lon, đi chợ về chợ, kéo co với giây dừa, làm hùm bắt
lợn, lộn cầu vồng, lộn chuồn chuồn, liệng cống, năm tiền liền quan, ném còn làm
bằng vải vụn, ném vòng làm bằng tre hoặc mây vào cọc tre hay gỗ, nhảy
giây làm bằng giây dừa, nhảy lò cò với mảnh ngói mảnh sành mảnh sứ, rải ô
quan/ rải ô làng dùng sỏi, sạn hay hạt đậu, xây khăn/ bỏ khăn/ chuyền khăn, thả
diều làm bằng tre dán giấy... vô số kể.Cờ Lau Tập Trận, tranh
Võ đìnhNhững trò chơi hầu hết cần vận dụng
đầu óc bén nhạy tinh tế tính toán chính xác, điều động tay chân nhanh nhẹn,
thích nghi với môi trường thiên nhiên và luyện tập quen dần với đời sống tập thể
trong cộng đồng. Hát chơi mà học thật.
Chơi Diều, tranh Võ đình,
UNICEF 69
Cờ Lau Tập Trận, tranh
Võ đình
Những trò chơi hầu hết cần vận dụng
đầu óc bén nhạy tinh tế tính toán chính xác, điều động tay chân nhanh nhẹn,
thích nghi với môi trường thiên nhiên và luyện tập quen dần với đời sống tập thể
trong cộng đồng. Hát chơi mà học thật.Đá cầu bằng đồng xu, tranh dân
gian Henry Oger
Bài đồng dao trò chơi Xây khăn trong Nam, trẻ ngồi thành vòng tròn, một em cầm khăn chạy
ngoài, cùng đọc cho đến hết thì bỏ khăn sau lưng một bạn. Em này phải chú
ý theo dõi để nhặt khăn chạy vòng, nhường chỗ cho bạn, nếu không biết sẽ bị
loại khỏi cuộc chơi.
Xây khăn, khăn
nổi khăn chìm
Ba bên bốn phía đi tìm cái khăn
Thằng chăn bận áo rách vai
Không ai may vá, thằng chăn bận hoài
Trò chơi Chuồn
chuồn miền Trung và Lộn Cầu Vồng ngoài Bắc có cách
chơi giống nhau nhưng khác bài đọc:
- Chuồn
chuồn đạp nước kim cang/ bên tê mở cửa bên ni sang lòn
- Lộn cầu vồng nước trong nước chảy
Có anh mười bảy có chị mười ba
Hai chị em ta cùng lộn cầu vồng
Bài đồng dao
trò Dung giăng dung giẻ đọc khi đi quanh nhiều vòng
tròn, những vòng này luôn thiếu một để đến cuối khi ngồi xệp xuống sẽ có
một em chậm chạp bị loại:
Dung giăng dung
giẻ/ dắt trẻ đi chơi
đi tới cổng trời/ gặp cậu gặp mợ
Cho cháu về quê/ cho dê đi học
Cho cóc ở nhà/ cho gà bới bếp
Ngồi xệp xuống đây!
Một bài đồng dao
về cuộc sống luẩn quẩn loanh quanh trong nhà ngoài vườn trong xóm ngoài làng
là Ông Ninh Ông Nang được Lê Thương phổ nhạc:
Ông Nỉnh ông
Ninh/ ông ra đầu đình/ ông gặp ông Nảng ông Nang
Ông Nảng ông Nang/ ông ra đầu làng/ ông gặp ông Nỉnh ông Ninh
Nang Ninh đầu đình/ và Ninh Nang đầu làng
Nang Ninh làng đình/ rồi Ninh Nang đình làng
Nang Ninh làng đình Nang Ninh/ Ninh Nang đình làngNang Ninh
Nang Ninh làng đình Ninh...
Cô Chiểu cô Chiêu/ cô qua cầu Kiều/ cô gặp cô Thỏa cô Thoa
Cô Thỏa cô Thoa/ cô qua vườn cà/ cô gặp cô Chiểu cô Chiêu
Thoa Chiêu cầu Kiều/ và Chiêu Thoa vườn cà
Rồi Thoa Chiêu cầu Kiều/ rồi Chiêu Thoa vườn dừa
Cả Chiêu Thoa cầu Kiều Chiêu Thoa/ Thoa Chiêu vườn cà Chiêu Thoa
Thoa Chiêu vườn cà Thoa...
Em Thở em Thơ/ em qua hàng dừa/ em gặp em hải em Hai
Em Hải em Hai/ em qua vườn xoài/ em gặp em Thở em Thơ
Thơ Hai vườn xoài/ và Hai Thơ vườn dừa
Rồi Thơ Hai vườn xoài/ và Hai Thơ vườn dừa
Cả Thơ Hai vườn xoài Thơ Hai/ Hai Thơ vườn dừa Thơ Hai
Thơ Hai vườn xoài Thơ...
Một bài đồng dao
khác được phổ nhạc là Thằng Bờm, nói lên đầu óc thực tiễn của dân
quê không cần xa hoa phù phiếm cung ngũ long lầu ngũ phụng dinh thự cao ốc hay
đặc sản miếng ngon vật lạ, mà chỉ muốn no bụng:
Thằng Bờm có
cái quạt mo/ phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu/ phú ông xin đổi ao sâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè/ phú ông xin đổi ba bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim/ phú ông xin đổi một đôi chim mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi... Bờm cười!!!
Thuở nhỏ tôi nghịch ngợm hát bài đồng dao Thằng Bờm và có nhịp điệu
khác: Thì ra mo cau vàng mới tinh/ phú ông lập tâm mua liền! Thằng Bờm mà biết cóc chi/ Thằng Bờm mà biết cái cóc chi! Chăng chẳng lấy
trâu/ Bờm rằng thì là Bờm chăng chẳng lấy trâu đâu!!!
Trò chơi tôi thích
nhất hồi còn tiểu học là đánh thẻ chuyền/ đánh banh đũa, nhưng
đến nay không nhớ được trọn bài đồng dao đọc đệm. Duyên may quen một gia
đình nhà quê mộc mạc, bà mệ tám mươi sáu và bà mạ sáu
mươi, không biết đọc biết viết nhưng còn nhớ kỹ. Bỏ một ngày thăm hỏi
cùng ôn trí nhớ, ghi trọn được trò chơi này.
Dùng tay phải nắm
nguyên bó đũa 6 chiếc hoặc nhiều hơn, cùng một trái banh, có khi chỉ là quả
chanh hay một bó vải vụn cuộn thành hình trái banh. Vừa thảy banh lên là
trải đũa ra nhanh cho kịp bắt chụp lại trái banh, rồi lần lượt ném banh vừa bắt
từng cây đũa một, rồi hai, ba, bốn... tức là phải tính chính xác làm sao vừa
ném banh lên là phải nhanh mắt nhanh tay tính toán nắm đúng số đũa cần lấy đưa
ngay sang tay kia và kịp thời bắt chụp lại trái banh. Trò chơi này hình
như chỉ có trẻ Việt Nam ta yêu thích và hợp với con gái. Bài đồng dao đọc
theo lúc ném banh, bắt đầu ném banh và bắt một đũa, đọc tối đa đến cuối câu
phải tóm lại được trái banh, nếu trật phải nhường người kia chơi:
Cái mốt (bắt một đũa)
Cái mai/ con trai/ con hến
Con nhện/ giăng tơ/ quả táo/ cái gáo
Lên đôi (bắt hai đũa)
đôi cái mõ/ đôi nồi chõ
đôi thổi xôi/ đôi nấu chè/ đôi cành tre
Lên ba (bắt ba đũa)...
Cái mai/ con trai/ con hến
Con nhện/ giăng tơ/ quả táo/ cái gáo
Lên đôi (bắt hai đũa)
đôi cái mõ/ đôi nồi chõ
đôi thổi xôi/ đôi nấu chè/ đôi cành tre
Lên ba (bắt ba đũa)...
Cái mai/ con trai/ con hến
Con nhện/ giăng tơ/ quả táo/ cái gáo
Lên đôi (bắt hai đũa)
đôi cái mõ/ đôi nồi chõ
đôi thổi xôi/ đôi nấu chè/ đôi cành tre
Lên ba (bắt ba đũa)...
Khi nhặt hết đũa
thì bỏ tất cả xuống để ném banh bốc cả nắm đổi sang các giai đoạn kế tiếp
là con ba lại, con gang, sang tay cầm, kẹp nách, cầm quạt rẽ
xương, sang tay giã, giã đơn hoặc giã đôi tùy giao ước ban đầu,
nhập giã, rút ống, nhập ống, sang tay tao tức là chuyền. Mỗi giai đoạn này đọc tên báo sự thay đổi chuyển tiếp. Giai đoạn chuyền, một
vòng hoặc hai vòng tùy giao ước trước khi chơi, vừa chuyền vừa ném banh rồi
chụp banh lại và đọc:
Chuyền chuyền
một/ chuyền chuyền hai/ chuyền chuyền ba
Chuyền chuyền bốn/ chuyền chuyền năm/ chuyền chuyền sáu
Cuối cùng là nẻ hay khẻ, tức
là đập cả bó đũa vào chân người thua cuộc, vừa đập vừa thảy banh vừa đọc đoạn
cuối bài đồng dao:
Qua cầu, lặn
cỏ/ núi đỏ như ma/ hầm sa/ mây sắc
Bắt con cá, chặt đuôi, chặt đầu
Têm miềng trầu, hầu chén rượu
Ai có tiền, ngồi liền lên ghế
Ai không tiền, liệu thế liệu thần
Chơi thẻ chuyền, Võ Đình vẽ
Lai Hồng tuổi mười ba
Nẻ/ khẻ chân xong là
thắng, đoạn đồng dao cuối này lại khác nếu do các nữ sinh Đồng Khánh mà
nay là những mệ có cháu nội ngoại đề huề:
Ai muốn cao, ngồi ghế/ ai muốn thấp, ngồi đòn
Ai muốn đỏ, bôi son/ ai muốn vàng, bôi nghệ
Qua cầu Chợ Kệ/ về cầu Thanh Lương
Sang tay bắt con một. - Ăn! (tức là thắng)
Đoạn cuối lúc nẻ, mấy mệ ngoài
Bắc lại đọc khác:
Đầu quạ quá giang/ sang
sông về đò
Cò nhẩy gãy cây/ mây bay bèo trôi
Ổi xanh, hành bóc/ róc vỏ, đỏ lòng
Tôm cong đít vịt
Sang cành nẻ/ bẻ cành xanh
Vét bàn thiên hạ (tức là thắng)
Trong số 54 sắc dân sinh sống tại Việt
Nam, người Mường là chị em của người Việt, cùng thờ Vua Hùng, cùng chung truyền
thuyết một mẹ trăm con, cùng mặc yếm váy và áo tứ thân và đặc biệt cùng nói
chung ngôn ngữ. Trẻ con Mường cũng có đồng dao kèm trò chơi. Ghi
lại sau đây một:
Lếu lêu làng lôộc
Tộc ngộc ngọn cơn bo (cây hoang nhỏ có trái
trẻ hay hái ăn)
Bò ăn no bò ngứa củ ráy
Ngứa củ ráy ngứa cả cơn rư (cây nưa)
đưa bò về Mường Tráng
Tám mươi người kiếm cỏ/ bò đỏ bò nhà lang
Bò vàng, bò nhà đạo Ống
Tùng tùng tùng tùng/ ai đánh trống mường trên
Lền khên con ca trống
gáy (con gà)
Gáy gáy trong rẫy ngoài mường/ vườn như vườn nhà ai
Ông mo biểu mụ máy/ trấy bín biểu trấy bù (trái bí/ bầu)
Măng mu biểu măng nứa/ bố đạo biểu mệ nàng
Quan sang biểu kẻ khó/ bó ló biểu bó nếp (bó
lúa)
Cơm nếp biểu cơm chim/ cào cào biểu châu chấu (một loại
gạo ngon)
Cắt nứa rào cho ta chào cấm/ lấy lưỡi lấm cho ta cầm tiền
Lấy lưỡi liềm cho ta cắt bái (cỏ tranh)
Lấy lưỡi hái cho ta hái ló (lúa)
Náng lấy chó cho ta ăn thịt/ náng con vịt cho
ta ăn đùi (nướng)
Nuôi con ca cho ta lấy mỡ (gà)
Dệt lấy mớ lụa điều/ dệt nhiều nhiều cho ta cưới vợ...
Trẻ con miền Bắc ngày trước rất thích
chơi Phụ đồng Phụ chổi, có tính cách huyền bí như lên đồng. Bài đồng dao được đọc đi đọc lại cho đến khi đứa trẻ ngồi đồng được vía nhập:
Phụ đồng phụ chổi/ thổi
lổi mà lên
Ba bề bốn bên/ sôi lên cho chóng
Nhược bằng cửa đóng/ phá ra mà vào
Cách chuôm cách ao/ cách ba ngọn rào
Cũng vào cho lọt
Cái roi von vót/ cái vọt cho đau
Hàng trầu hàng cau/ hàng hương hàng hoa
Là đồ cúng Phật
Hàng chuối hàng mật/ hàng kẹo mạch nha
Nào cô bán quế/ vừa đi vừa tế
Một lũ học trò/ người cầm quạt mo
Là vợ Ông Chổi
Thổi lổi mà lên...
Một trò chơi được đám trẻ gái yêu thích,
cách chơi giống nhau nhưng ngoài Bắc gọi là là Trồng Nụ Trồng Cà/ Trồng
Nụ Trồng Hoa, và miền Trung gọi là đi Chợ Về Chợ. Phải
có bốn em, chia làm hai cặp. Một cặp ngồi, lần lượt duỗi chồng từng bàn
chân lên nhau rồi chồng bàn tay làm hoa, trong khi cặp kia đi qua đi lai rồi
nhảy qua nhảy lại, vừa đọc:
đi chợ/ về
chợ (chưa đưa chân)
đi canh một/ về canh một (đưa một bàn chân)
đi canh hai/ về canh hai (chồng thêm một chân,
là hai bàn chân)
đi canh ba/ về canh ba (chồng thêm,
ba bàn chân)
đi canh tư/ về canh tư (chồng
thêm, bốn bàn chân)
đi sen búp/ về sen búp (chồng
thêm một bàn tay chụm lại)
đi sen nở/ về sen nở (chồng thêm bàn tay hơi xòe nở)
đi sen tàn/ về sen tàn (bàn tay hoa nở xòe rộng hết cỡ)
đi canh một/ về canh một (đưa một bàn chân)
đi canh hai/ về canh hai (chồng thêm một chân,
là hai bàn chân)
đi canh ba/ về canh ba (chồng thêm,
ba bàn chân)
đi canh tư/ về canh tư (chồng
thêm, bốn bàn chân)
đi sen búp/ về sen búp (chồng
thêm một bàn tay chụm lại)
đi sen nở/ về sen nở (chồng thêm bàn tay hơi xòe nở)
đi sen tàn/ về sen tàn (bàn tay hoa nở xòe rộng hết cỡ)
đi canh một/ về canh một (đưa một bàn chân)
đi canh hai/ về canh hai (chồng thêm một chân,
là hai bàn chân)
đi canh ba/ về canh ba (chồng thêm,
ba bàn chân)
đi canh tư/ về canh tư (chồng
thêm, bốn bàn chân)
đi sen búp/ về sen búp (chồng
thêm một bàn tay chụm lại)
đi sen nở/ về sen nở (chồng thêm bàn tay hơi xòe nở)
Đi Chợ Về Chợ, tranh Võ đình,
XI-07
Trong trò chơi này, hai em ngồi chồng chân và xòe tay
phải giữ thăng bằng, nếu bị đổ chân là thua. Hai em đi qua đi lại nhảy
qua nhảy về nếu bị đụng chân hay tay hai em kia là thua. Cặp thua bị loại
để hai em khác vào thay.
Nhưng trong mấy trò chơi tập thể nhân Tết
Trung Thu và Ngày Nhi đồng Việt Nam, trẻ con Bắc Trung Nam đểu thích trò Rồng
Rắn, gồm một đoàn ôm eo ếch nhau nối dài đi vòng vòng quanh sân, vừa đi vừa
reo hò theo một em dẫn dầu làm thầy thuốc đọc:
- Này, rồng kia!
- Dạ!
- Rồng đen hay rồng trắng?
- Rồng trắng!
- Rồng trắng lấy nước gạo mùa
Rồng đen lấy nước cho vua đi cày!
- Anh em ta cùng kéo lúa về!
Tranh dân gian của Henry Oger
Chú thích bằng chữ Nôm: Trẻ Con Làm Rồng Rắn
Bài đồng dao Rồng Rắn cản thầy
thuốc cầm cái quạt mo không cho ông bắt em nào trong đoàn, vừa đi vừa hát:
Rồng rồng rắn rắn/ kéo
rắn lên mây
Thấy cây lúc lắc/ hỏi ông thầy thuốc có nhà hay không?
- Có!
- Mở cửa cho vào!
- Vào làm gì?
- Mượn cái liềm
- Liềm làm gì?
- Hái củi
- Củi làm gì?
- Nấu bánh chưng
- Cho thầy ăn không?
- Không!
Trò chơi Rồng Rắn không
rõ có từ giai đoạn lịch sử nào, có thể liên hệ đến thảm kịch thời Trịnh Nguyễn
phân tranh chiến tranh đẫm máu giữa đàng Ngoài đàng Trong, hay gần hơn, là cuộc
nội chiến Quốc Cộng xốc nổi đến tận cùng đời sống... với những
nhân vật níu áo số mệnh nhau, như truyện dài Rồng Rắn của
Lê Thị Huệ dẫn nhập. Trò Rồng Rắn được trẻ con
tham dự đông đảo nhất, cũng ôm eo ếch nối dài làm con rồng, vừa chạy vòng vòng
vừa cùng đọc:
Rồng rắn lên mây có cây
xúc xắc
Xúc xắc xúc xẻ... Có thầy thuốc ở nhà không?
Một trẻ lớn làm ông thầy thuốc cầm quạt
nan phe phẩy đi ra, đủng đỉnh hỏi:
Thầy thuốc: - Rồng rắn đi đâu?
Rồng rắn: - Rồng rắn đi lấy
thuốc cho con.
Thầy thuốc: - Con lên mấy?
Rồng rắn: - Dạ, con lên một.
Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!
Rồng rắn: - Con lên hai.
Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!
Rồng rắn: - Con lên ba.
Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!
Rồng rắn: - Con lên bốn.
Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!
Rồng rắn:..
Thầy thuốc:...
Rồng rắn: - Con lên chín.
Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!
Rồng rắn: - Con lên mười.
Thầy thuốc: - Thuốc ngon vậy! Xin khúc đầu!
Rồng rắn: - Những xương cùng
xẩu!
Thầy thuốc: - Xin khúc giữa!
Rồng rắn: - Những máu cùng me!
Thầy thuốc: - Xin khúc đuôi!
Rồng rắn: - Tha hồ mà đuổi!
đến đây thì đoàn rồng rắn vẫn ôm eo ếch
nối nhau chạy đuổi bắt ông thầy thuốc cho kỳ được mới tan cuộc, giữa những
tiếng vỗ tay reo hò cổ võ của những người đứng xem, trong số có những bà mẹ
chứng kiến con mình lớn khôn trong tập thể, trong cộng đồng. Bài đồng dao
này có giá trị như một bài sấm, một bài học lịch sử, và cũng là một bài luân lý
giáo khoa thư nói lên tình đoàn kết nhất trí của Rồng Rắn, toàn dân quyết giữ
gìn trọn khối chung, đánh đuổi quân xâm lược lăm le chiếm đất đai, đã hớt khúc
đầu Nam Quan, lại xén đoạn giữa Trường Sa và gây tai hại đồng bằng Cửu Long
miền Nam.
Những bài đồng dao và trò
chơi trẻ con góp nhặt ở đây chưa đầy đủ và cần bổ túc, nhưng có chủ đích góp
phần gìn giữ kho tàng văn học dân gian trước khi bị thất truyền hay quên lãng,
chôn vùi dưới hàng hàng lớp lớp đồ nhựa lắp ráp máy móc Toys 'R' Us, CDs, DVDs,
video games, PC Games, puzzles, dominos, bingo, i-pods, cell phones... và vô
số trò khác ào ạt trên mạng lưới điện tử của thời đại @ còng. Ngay tại
các nước Âu Mỹ, nhiều tài liệu cũng sưu tầm ghi lại trò chơi trẻ con kèm
những ballads, là thơ xưa từ thế kỷ XV/ XVI được phổ nhạc có điệp
khúc lập đi lập lại, và Shakespeare từng trích dẫn vào tác phẩm.
Chúng ta đang ở đầu thế
kỷ XXI. Mai sau, dù có bao giờ, phần sưu tầm biên khảo nhỏ nhoi
này mong còn được đôi khi lần giở trước đèn, để may ra có người mở
trang sách cũ tìm hiểu về đất lề quê thói, thấy rõ ràng kho tàng
văn học dân gian đặt nặng giáo dục gia đình trên vai người mẹ. Những lời
ru ca dao ạ ơi ời hà hơi văn hóa mẹ vào tâm hồn trẻ từ lúc mở
mắt chào đời cho đến khi chập chững lững thững những trò chơi đi kèm đồng dao,
để từ đó vững bước vào xã hội.
Hát mà chơi. Hát
mà học. Hát chơi mà học thật.
Học làm NGƯỜI.
Tài liệu tham khảo:
- Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến đức, Việt
nam Tự điển, Mặc Lâm xuất bản, Hà Nội 1931
- Henry
Oger, La Technique du Peuple Annamite, NXB Jouve & Cie, Paris
1908
- Hùinh Tịnh
Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Imprimerie Rey, Curiol &Cie,
Saigon 1895
- Hướng đạo Ca,
Kỷ niệm70 năm Hướng đạo Việt Nam 1930-2000
- Jack
Maguire, Hopscotch, Hangman, Hot Potato & Ha,Ha, Ha,
Rockefeller Center, 1990
- Lê thị
Huệ, Rồng Rắn, Lũy Tre Xanh xuất bản, San José 1989
- Lư Nhất Vũ/ Lê
Giang, Tìm Hiểu Dân ca Nam bộ, NXB TPHCM, 1983
- Mệ Bê, tài
liệu sống, San Diego, CA
- Mệ Nguyễn
đề, tài liệu sống, West Palm Beach, FL
- Minh Hiệu, Tục
ngữ Dân ca Mường Thanh Hóa, NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội 1999
- Nguyễn Mạnh
Hùng, Ký họa Việt nam, NXB trẻ, Saigon 1989
- Nguyễn Như
Ý, Đại Tự điển Tiếng Việt, Bộ Giáo dục và Dân Tộc, Trung tâm Ngôn
ngữ và Văn Hóa CHXHCN, Hà Nội 1998
- Nguyễn Tấn
Long/ Phan Canh, Đất Lề Quê Thói, NXB Sống Mới, Saigon 1970
- Nguyễn Thuyết
Phong and Patricia Shehan, From Rice Paddies and Temple Yards:
Traditional Music of VietNam, World Music Press 1989
- Nguyễn Trúc
Phượng, Văn học Bình dân, Nhà Sách Khai Trí, Saigon 1964
- Nguyễn Văn
Vĩnh, Trẻ Con hát Trẻ Con Chơi, NXB Alexandre de Rhodes, Hà Nội
1943
- Ôn Như Nguyễn
Văn Ngọc, Thi Ca Bình Dân Việt Nam, NXB Sống Mới, Saigon 1978.
- Ôn Như Nguyễn
Văn Ngọc, Tục Ngữ Phong Dao, NXB Vĩnh Hưng Long, Hà Nội 1928- Trần Quang Đức, 175 Trò Chơi Tập thể, NXB Thanh Niên, Hà Nội 2006- Trương Anh
Thụy, Trường ca Lời Mẹ Ru, NXB Cành Nam 1989- Trương Tửu, Kinh
Thi Việt Nam, Tủ Sách Văn Hóa Hàn Thuyên, Saigon 1940, Xuân Thu tái bản
Houston, TX- Vũ Ngọc
Phan, Tục Ngữ và Dân ca Việt Nam, NXB Văn Sử địa, Hà Nội 1956- William Wells
Newell, Games and Songs of American Children, Dover Publications,
Inc. New York 1903.Từ tiểu
bang xanh 1987 qua Hoa bang 2007Trần Thị Lai Hồng











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét