Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025
Nguyễn Việt Hà - Toàn là lửa xanh
Nguyễn Việt Hà
Tiểu thuyết dạng trinh thám – kiếm hiệp Tuyệt không dấu vết (Giải thưởng Hội Nhà văn 2023) dày 388 trang, được viết trong 5 năm, chứng tỏ một sự dụng công khá lớn của nhà văn Nguyễn Việt Hà.
Giao hưởng Điện Biên - Thành tựu mới của nhà thơ Hữu Thỉnh
Giao hưởng
Điện Biên - Thành tựu
mới của nhà thơ Hữu Thỉnh
Chiến
thắng Điện Biên là một chiến thắng vĩ đại của chúng ta “Lừng lẫy Điện Biên chấn
động địa cầu” (Tố Hữu). Chiến thắng đó làm rạng danh nước Việt trên thế giới. “Nước
Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Ngày 7
tháng 5 năm 1954, lá cờ Quyết chiến Quyết thằng bay trên nóc hầm tướng Đờ cát,
ngày 12 tháng 5 Bác Hồ đã có bài thơ dài đăng trên báo Nhân Dân : “Quân ta toàn
thắng ở Điện Biên Phủ”. Rồi sau đó Tố Hữu mới có bài thơ nổi tiếng “Hoan hô chiến
sĩ Điện Biên”. Điện Biên còn được các nhà thơ, nhà văn Việt Nam nhắc đến nhiều
trong các bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Điện Biên cũng được nhắc đến trong
các cuốn sách của đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, nhà báo của ta và
phương Tây.
Năm nay kỉ
niệm 70 năm ngày quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ, nhà thơ Hữu Thỉnh đã
ở tuổi 82 vừa cho ra mắt tập trường ca “Giao Hưởng Điện Biên”. Đây là một cố gắng
rất lớn, một thành tựu mới đáng ghi nhận của nhà thơ.
Theo chúng
tôi, có hai nhà thơ viết trường ca giàu thành tựu nổi bật là Thanh Thảo
và Hữu Thỉnh, trong đội ngũ đông đảo các nhà thơ chiến sĩ viết trường
ca như Thu Bồn, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Trọng Tạo,
Trần Anh Thái, Nguyễn Anh Nông, Nguyễn Quang Thuyên,…
Nhà thơ Hữu
Thỉnh đã từng viết Đường tới thành phố (1979), Trường ca biển (1994), Sức
bền của đất (2004), Trăng Tân Trào (2016) và năm nay 2024 là trường
ca Giao hưởng Điện Biên.
Một con số ấn
tượng.
Khi đã viết
và công bố nhiều trường ca, sẽ có nhiều kinh nghiệm tổ chức tác phẩm, nhiều
kinh nghiệm xử lí đề tài, nhưng sẽ có một khó khăn cực lớn là có thể cảm
xúc sẽ không còn dồi dào, năng lực sáng tạo có thể không còn sung mãn. Liệu người
viết có thể vượt qua được thử thách đó không? Chưa kể một khó khăn khác là :
“Chiến thắng Điện Biên Phủ đã được các nhà quân sự, các sử gia, các nhà văn,
nhà báo và nhất là những người trong cuộc nói tới rất nhiều rồi, khai thác dưới
mọi khía cạnh rồi, đến lượt mình, liệu tôi còn có thể đem đến một cái gì mới?”
(Lời tác giả).
Vượt qua tất
cả những thách thức, khó khăn đó, nhà thơ khởi viết bản trường ca này ngày 7
tháng 5 năm 2023 và hoàn thành ngày 20 tháng 3 năm 2024, chưa đầy một năm, kịp
chào đón 70 năm chiến thắng Điện Biên đang tới. Một cường độ làm việc
cao, rất cao với người viết đã vào tuổi ngoài 80.
Trường ca gồm
có 21 chương và 5 bình luận xen kẽ viết bằng thơ về các sự kiện quan trọng.
Theo tác giả, cảm hứng lớn là nhờ đọc cuốn sách “Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch
sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do nhà văn Hữu Mai thể hiện. Hữu Thỉnh cũng
nhiều lần trở lại Điện Biên và gặp gỡ một số nhân chứng. Điện Biên Phủ là một
chiến dịch Lịch sử, nên nhà thơ muốn tái hiện trong trường ca của mình chính
xác những chi tiết lịch sử. Với tinh thần như thế nên “các câu thơ ảo” vốn là
điểm mạnh của tác giả đã nhường chỗ cho các câu thơ thực, trung thực với Lịch sử.
Nhà thơ lo lắng, băn khoăn “liệu tôi có thể đem đến một cái gì mới?”.
Thưa, rất nhiều cái mới. Chưa kể những câu thơ mới mẻ được viết với nhiệt
huyết, với cảm hứng tri ân “Kính dâng hương hồn Đại tướng Võ Nguyên Giáp và thế
hệ cha anh đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”. Bạn đọc có thể thấy
Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc bí mật ra nước ngoài trong chương
I “ Người ra trận đầu tiên”. Tư liệu này mới được công bố năm 1995.
Những câu thơ ảo quen thuộc gợi cảm của ngòi bút tài hoa Hữu Thỉnh: Bác
lẫn vào mây, mây lẫn núi/dốc dài dép mỏng bước du xuân/Việt Bắc tiễn người chim
náo nức/biên giới ngày qua lại xích gần.
Sẽ gặp
hình ảnh sinh động của nhà thơ Chính Hữu (chương VIII) cùng với các văn nghệ
sĩ khác trong kháng chiến mà ông gặp gỡ như Nguyễn Tuân, Trần
Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Thâm Tâm,… Cũng có thể thấy cảnh chiến sĩ đọc thơ Bác
trước khi nổ súng (chương X), gặp “Người đóng cối xay bên đường 41”, người tham
gia “đánh Điện Biên theo cách của mình” (chương XIII). Và thấy
“Làng phản chiến bên bờ sông Nậm Rốm” (chương XVI). Mặc dù những chi tiết, nhà
thơ căn cứ vào cuốn sách dịch “Tướng Nava với trận Điện Biên Phủ”, nhưng số phận
của những người lính Pháp nhiều quốc tịch khác nhau cùng với người phụ nữ Việt
có tên Lò Thị Trinh được diễn tả bằng những câu thơ cảm động. Trong chương XVII
“ Những bí mật trên đồi A1”, nhà thơ viết về người chiến sĩ thầm lặng phá bom lấy
thốc nổ và điểm hỏa tấn bộc phá dưới hầm sâu Nguyễn Văn Bạch.
Chương XX,
tác giả viết về những nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà lãnh đạo
Lương Ngọc Trác, Đỗ Nhuận, Hoàng Vân, Thái Duy, Thép Mới, Vũ Cao, Văn Phác,
Phác Văn, Mạc Ninh, Trần Độ, Nguyễn Bích, Mai Văn Hiến, Nguyễn Sáng, Tố Hữu,
Hữu Mai, Trần Dần. Chương này như một bảng vàng ghi danh những đóng góp của văn
nghệ sĩ với tên chung “Binh chủng tinh thần”.
Trong 5 bình
luận bằng thơ xen kẽ các chương, chúng tôi muốn lưu ý bạn đọc bình luận thứ nhất
về tướng Na Va: Ông đích thân kiểm tra từng cứ điểm/ Ngó nghiêng từng lỗ
châu mai/ ông hài lòng vỗ vai binh lính/ chụp ảnh chung bên khẩu pháo nòng dài/
Đêm sập xuống. Sâm panh sủi bọt/ cây no en nhấp nhánh đèn mầu/ xung quanh ông
những sĩ quan cấp dưới/ chạm li rồi tâng bốc lẫn nhau.
Nhà thơ bình
luận khá khách quan, hiền lành và đúng mực. Chúng ta hãy xem Bác Hồ bình luận
1954: Chúng khoe rằng: “Kế hoạch Na-va/ Thật là mạnh dạn và tài hoa./ Phen
này Việt Minh phải biết tay,/ Quan thầy Mỹ thì vui lòng thay!”/ Các báo phản động
khắp thế giới/ Inh ỏi tâng bốc Na-va tới.[ ]/ “Mình có thầy Mỹ lo cung cấp;/
Máy bay cao cao, xe tăng thấp,/ Lại có Na-va cùng Cô-nhi,// Những tay tướng giỏi
nắm chỉ huy./ Chúng mình chuyến này nhất định thắng,/ Việt Minh ắt thua chạy
quýnh cẳng”.[ ]/ Quân giặc chống cự tuy rất hăng,/ Quân ta anh dũng
ít ai bằng./ Na-va, Cô-nhi đều méo mặt,/ Quân giặc tan hoang, ta vây chặt,- (Quân
ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ).
Dẫn ra điều
này chúng tôi muốn chứng minh rằng nhà thơ Hữu Thỉnh đã tìm cách thể hiện
mới và khác, mang bản sắc riêng của mình đối với một sự kiện.
Đánh giá
khái quát về tập trường ca này, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho rằng: “Tất cả
chương hồi, câu chuyện, sự kiện cơ bản ở vùng miền núi Tây Bắc đến các nhân vật
đã được nhà thơ Hữu Thỉnh tái hiện sinh động, sâu sắc và kỳ vĩ”.
Nhà thơ Trần
Đăng Khoa đánh giá: “nhà thơ Hữu Thỉnh đã một mình mở một trận Điện Biên
Phủ bằng văn chương, thơ Hữu Thỉnh luôn luôn có một giọng điệu riêng không lẫn
với ai”.
Nhà thơ Nguyễn
Đức Mậu, người cũng đã từng viết trường ca thì nhận định : “Với độ lùi 70
năm, được chiêm nghiệm sâu sắc, tác phẩm là ngọn lửa nhiệt huyết, bền bỉ lan tỏa
sức mạnh yêu nước của người Việt. 21 chương là 21 con dốc gian nan với chính
tác giả, thử thách sức bền của cây bút”. (Dẫn theo tường thuật của Thanh Bình –
Ra mắt trường ca Giao hưởng Điện Biên của nhà thơ Hữu Thỉnh,
vanvn.vn).
Có thể nói
đây là một cố gắng mới vượt bậc, thành công mới to lớn của nhà thơ Hữu Thỉnh.
Nếu có chút
lăn tăn thì đó là chuyện dẫn sai một từ bản dịch thơ Bác ở trang
17. Cũng thiếu chính xác một từ trong trích câu thơ của Nguyễn Đình Thi ở
trang 68. Trang 84 có dòng thơ “Thiếu thuốc lục phân rơi”. Phải là phân dơi mới
đúng. “Theo kết quả phân tích của các nhà khoa học, trong phân của loài dơi có
chứa rất nhiều muối kali nitrate hay còn được gọi là diêm tiêu. Hóa chất này là
thành phần chính trong nhiều loại phân bón. Đồng thời, nó cũng được sử dụng để
làm thuốc nổ và ngòi nổ” ( Nguồn: Toplist). Và tất nhiên, ưu tiên cho thơ
viết về người thật, việc thật nên một đôi chỗ thơ có tính chất “diễn ca”,
kể chuyện “nôm na”. May mà những câu như thế không nhiều, nếu được gia công,
trau chuốt hơn, ảo hơn, thì tốt biết bao.
Bảy mươi năm
Điện Biên Phủ chiến thắng giặc Pháp. Cũng là 51 năm Điện Biên Phủ trên không
chiến thắng máy bay Mĩ trên bầu trời Hà Nội. Điện Biên là một mốc son
chói lọi trong chiến công của dân tộc cùng với chiến công Bạch Đằng, Chi Lăng,
Đống Đa,.. mãi mãi âm vang.
Thật tự hào
với chiến thắng Điện Biên. Như bốn câu thơ đề từ của tác giả Hữu Thỉnh và được
trích trang trọng trên bìa 4:
Điện Biên Phủ
từng giờ từng phút/Đang gửi đi thông điệp khắp hành tinh/ những lời hịch của tự
do, độc lập/ những khát khao cháy bỏng hòa bình.
“Giao hưởng
Điện Biên” đang góp âm thanh hùng tráng vào bản hùng ca Đại hợp xướng –
ca ngợi đất nước, ca ngợi khát vọng hòa bình của dân tộc, thật vô cùng kịp
thời, có ý nghĩa to lớn, có giá trị lâu dài.
12/5/2024
Vũ Nho
Theo https://vanvn.vn/
Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn và những câu thơ dự cảm
Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn
và những câu thơ dự cảm…
Một ngày giữa tháng 3 năm 2024, tôi cùng một nhóm nhà
văn ghé thăm tư gia của họa sĩ điêu khắc Nguyễn Văn Tuấn ở Phú Xuyên, Hà Nội.
Sau buổi hàn huyên Tuấn trao cho tôi 2 tập bản thảo và dặn: “Tôi xuất bản hai tập
thơ này, ông giúp tôi nhé!”. Giờ đây, khi những trang bản thảo của hai ấn phẩm Từ
trong thớ gỗ và Cởi áo mùa yêu có quyết định xuất bản, thì người họa
sỹ tài hoa và hào sảng ấy đã về miền mây trắng.
Họa sĩ điêu khắc Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1974, năm Giáp Thìn
này anh vừa chạm tuổi ngũ tuần, cái tuổi bắt đầu “chín” cả về sự lao động nghệ
thuật và cuộc sống, bởi vậy nên sau sự ra đi đột ngột của anh là bao dở dang gửi
lại. Người họa sỹĩ ấy đi rồi, nhưng bạn bè và bạn đọc như vẫn thấy anh đâu đó
trong hồn vía một câu thơ, một pho tượng, một bức vẽ ấn tượng mà anh để lại cõi
này! Nguyễn Văn Tuấn là một nhà điêu khắc, một thi sĩ thực sự có tài. Những tác
phẩm điêu khắc của anh hiện diện trong rất nhiều công trình đền chùa miếu mạo
trong vài chục năm trở lại đây!
Với thơ, Nguyễn Văn Tuấn chưa xuất bản tập thơ riêng nào,
nhưng số lượng thơ mà anh sáng tác đã đến cả mấy trăm bài, thơ của Tuấn luôn phảng
phất những sắc màu khác lạ. Khi Tuấn đi rồi, tôi ngồi đọc cả hai tập bản thảo
thơ anh, và nhận ra nhiều bài thơ trong ấy chạm đến sự tử sinh, ly biệt theo
cách của một cuộc xê dịch và giải thoát. Thơ ấy, như là sự dự cảm về một cuộc
thiên di của người họa sỹ, thi sỹ ấy!
Từ trong thớ gỗ là một tập thơ mang những phát hiện và chiêm
nghiệm của người thơ đã bắt đầu có sự đốn ngộ để chạm đến những tầng thức mới
trong cõi chữ của mình. Thơ Nguyễn Văn Tuấn đa diện, đa chiều, câu chữ hàm
ngôn, ám gợi, tư tưởng thơ đọng lại ở sự quyết liệt và tận hiến cho những gì
thuộc về bản thể của cõi người. Mở một cung Tết được kích hoạt bằng sự tinh tế
kỳ diệu của mùa xuân: Những ký tự chồi non bừng thức/ Những nhụy hoa chấp
chới gió mơn/ Mưa lún phún dậy thì phơi phới/ Đất chuyển mình hòa nhịp trời
cao/ Nhân gian rùng mình xóa nợ/ Những trắng đen được mất đón giao thừa/ Vò rượu
mạnh bên mái nhà gianh cũ/ Ánh đèn dầu bùng cháy thuở xưa/ Làn khói bếp bây giờ
còn ngái/ Chúng mình chúc nhau bằng ký tự lên men. (Kích hoạt).
Cái cách lập ngôn ấy, đã hứa hẹn những tìm tòi mới mẻ trong
ngôn ngữ thơ. Thơ ấy sống bằng sự lay gợi, thơ ấy tiếp cận và đưa những cung bậc
cảm xúc của con người, hòa nhập vào tự nhiên ở những chiều thức mới:
Trăng đêm nay nóng lạnh/ Gió đêm nay non mềm/ Những hàng cây
làm mẫu/ Đứng khỏa thân cho lũ chim ngủ mê/…/…/ Em đòng đòng mẩy quá/ Uống gió
hân hoan/ Thơm mùi đa đoan/ Hẹn ngày căng sữa/ Hẹn ngày giáp hạt/ Em ta mắt môi
giáp hạt/ Ta giáp hạt/ Đêm giáp hạt bình minh/ Sớm mai người cắt cỏ/ Nhặt lên
những chiếc khuy… (Giáp hạt).
Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Văn Tuấn có nhiều câu chữ được lạ hóa
để tạo nên những đơn vị ngôn ngữ có sức gợi mở mới, khiến những thi ảnh quen
thuộc được nâng tải lên một tầng nghĩa mới: Thời gian đi qua…/ Ba mươi mùa
lá thức/ Lá vẫn xanh, sợi tóc vẫn xanh/ Trời kia điểm bạc/ Sợi tóc đã hóa dòng
Nhuệ Giang/ Ta ngụp lặn/ Giặt lại chính mình/ Giặt mùi phố thị. (Sợi tóc ta
say).
Có thể nói ý thức sáng tạo đã dựng thành một hệ thống ngôn ngữ
thơ trong sáng tác của anh! Thơ ấy là kết quả của sự lao động nghệ thuật từ tư
duy, chứ không phải là những câu chữ ngẫu hứng, được mặc sức sinh ra từ cảm
xúc: Cởi trần ngực núi/ Cởi trần mắt ai…/…/…Rượu Bắc Hà nghiêng mây/
Nghiêng cạp váy/ Ta uống em say/ Ta uống cho mây đầy ngực/ Uống cho thung lũng
phì nhiêu/ Uống cho con suối róc rách/ Ta dốc ngược Bắc Hà trong nhau. (Bắc
Hà nghiêng mây).
Đọc thơ là lúc chúng ta được dự khán những cuộc lập ngôi của
câu chữ, bởi vậy nó tuyệt nhiên không thể là những câu chữ dễ dãi, mà không ít
người viết đã sử dụng để lắp đặt cho đủ số lượng, vần điệu, nhịp mạch của một
thể thức thơ nào đó. Người làm thơ là người viết ra những gì anh ta nghĩ, anh
ta tư duy về cái anh ta đã thấy trong cuộc sống, thơ ấy mới là thơ của trí tuệ,
của tư tưởng, đó là cái đích đến của thi ca muôn thuở: Sớm nay cơn mưa tư
duy/ Thẩm thấu vào sỏi đá…/…/… Ta ngồi thiền quá khứ/ Ta vặn ngược hồng cầu/ Trở
về một thời loa kèn trắng/ Thổi vào nhau những giai điệu nhiệm màu. (Vặn
ngược hồng cầu).
Đọc thơ Nguyễn Văn Tuấn qua hai tập thơ này, thấy rất nhiều
câu chữ tự lập ngôi vị của mình bằng sự mới lạ, bằng một tư duy thơ khá độc
đáo: Những con chữ giao hoan/ Những con chữ tha hồ đẻ trứng/ Ngày tiếp
ngày đong sấp ngửa bày ra/ Lộ rõ những mặt người trăm vạn thể. (Thả vía
facebook).
Tiếc thế, nhiều năm qua những trang thơ của họa sỹ điêu khắc
Nguyễn Văn Tuấn đã thầm lặng một hành trình thơ tản mạn trong cõi thế, vừa mới
chọn được duyên để xuất bản và khởi động một hành trình mới, thì người thơ đã vội
vã phiêu du miền mây trắng. Người thơ đã ra đi, để lại những khoảng trống hun
hút, những dở dang tiếc nuối từ bạn bè và người đọc phía sau câu chữ ấy!
Trong khoảng vài năm trở lại đây, đọc những sáng tác của Tuấn,
thấy anh đề cập và lý giải chuyện sinh tử, chuyện “ra đi” với tần suất khá nhiều,
có vẻ như thơ đã dự cảm được cuộc thiên di lớn nhất của đời anh: Nếu một
mai anh đi xa/ Em đừng buồn đừng rơi nước mắt/ Mỗi khi hoàng hôn vụt tắt/ Em lặng
ngồi trên nấm mộ xanh/…/ Xin run rẩy suối nguồn mát ngọt/ Để âm thầm anh uống
những giọt em. (Những giọt em).
Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn đột ngột rời cõi tạm trong lúc đang ngủ,
do đột quỵ lúc 02h sáng ngày 01.4.2024. Sự ra đi của anh khiến nhiều bạn văn, bạn
vẽ của anh cảm thấy sốc, nhưng giờ đây, khi ngồi đọc thơ Tuấn thì tôi ngạc
nhiên, bởi cả cái sự đột ngột giã từ cõi thế và cái cách “ra đi” của anh cũng
đã nằm phục sẵn trong bài thơ Tái sinh anh viết từ năm 2018: Chẳng còn giọt
nào để sống trong tình này/ Tim đột tử xuống Diêm Vương phán xử/ Cân tội tình
nhân gian thế sự/ Diêm Vương phán tội chung tình/ Chuyển sang gặp Mạnh Bà/ Ăn
bát cháo lú/ Qua cầu Nại Hà/ Tái sinh… (Tái sinh).
Sự chết trong thơ Tuấn không nặng nề, bi lụy bởi cách lập
ngôn của anh, phải chăng những câu thơ dự cảm này, muốn người ở lại đỡ đau, đỡ
nghẹn trước khi người thơ ấy rời bỏ thế gian này: Ký ức về trên khói thuốc/
Ta đóng đinh bên ly cà phê/ Ta đếm giọt/ Giọt này cho mắt em/ Giọt này cho tim
anh/ Giọt này cho những ngày xa/ Giọt này cho bài thơ hóa kiếp… (Mùa thu chịu
tang).
Ấn phẩm Từ trong thớ gỗ được tạo nên bởi những câu
chữ thiên về những sự ngộ giải của kiếp người trong cõi tạm. Còn tập Cởi
áo mùa yêu là một tập thơ tình, vậy mà người đọc cũng gặp rất nhiều câu
thơ tiếp cận cõi tử của Tuấn, thơ ấy anh viết như anh đã từng đến, đã tiếp cận
với cõi tử ấy: Đôi bờ bỉ ngạn trổ hoa/ Vong Xuyên sông thắm máu nhòa tình
ai/ Mạnh Bà canh dứt tình dài/ Nại Hà ai đợi sương phai mịt mùng. (Bỉ Ngạn).
Thơ Tuấn đan xen rất nhiều cung bậc, có những cung chữ ám gợi
và dẫn động, lại có những cung bậc dịu dàng như hương đồng gió nội, vô tư gieo
trổ vào một cuộc phù sinh: Tháng Tư về ngang ngõ/ Trải nắng vàng non tơ/ Ô
kìa gió ngủ nướng/ Để mây hồng ngẩn ngơ…/…/… Em như hoa đồng nội/ Nở trong đáy
mắt anh/ Nồng nàn và dịu mát/ Ươm tình ta mãi xanh. (Tháng Tư về).
Đôi chỗ, thơ Tuấn nền nã, dịu mềm trong một vuông cổ tích,
cái mềm dịu mamg màu nho nhã của một văn nhân: Mưa bay rắc bụi mưa ơi/ Gió
non nhắn nhủ những lời cỏ hoa/ Mực Tàu, giấy đỏ giao thoa/ Văn chương khai bút,
thơ hòa vào xuân. (Vào xuân).
Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn là người làm chuyên sâu về tượng thờ
và phù điêu cho nhiều công trình văn hóa tâm linh, tác phẩm của anh đã được giới
chuyên môn đánh giá cao! Những tác phẩm điêu khắc của Tuấn thì ấn tượng, rõ
nét, chứa chất hồn vía các tầng văn hóa phương Đông, còn thơ của Tuấn thì đầy
những bung mở, tìm tòi sáng tạo! Câu chữ thơ ấy được sinh ra từ góc nhìn và tư
duy của một họa sỹ, đã làm nên cái nét riêng trong những trang thơ của anh!
Người họa sỹ, nghệ nhân điêu khắc, người thơ hào sảng ấy đã
đi xa, căn nhà nơi anh ở tại xã Hồng Minh, huyện Phú Xuyên, Hà Nội vẫn còn đó
ngổn ngang những sáng tạo dở dang của một người nghệ sỹ! Một trang đời đã khép
lại, nhưng những trang thơ từ hai thi phẩm Từ trong thớ gỗ và Cởi
áo mùa yêu của Nguyễn Văn Tuấn thì còn mãi mở ra cùng những buồn vui nơi
thế cuộc này!.
12/5/2024
Nguyễn Thế Kiên
Theo https://vanvn.vn/
Nhà thơ Chế Lan Viên "Gặp" Nguyễn Du trên đất Quảng Bình
Nhà thơ Chế Lan Viên "Gặp"
Nguyễn Du trên đất Quảng Bình
Nhà thơ Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan (SN
1920), tại Cam Lộ, Quảng Trị; học và thành danh ở Quy Nhơn, Bình Định với tập
thơ “Điêu tàn” lúc mới 17 tuổi. Ông là một trong những nhà thơ đương
đại được nhiều người mến mộ. Đúng dịp kỷ niệm 200 ngày sinh Nguyễn Du
(1765-1965), ông có chuyến thực tế Quảng Bình và một trong những bài thơ nổi tiếng
được ông sáng tác trong chuyến đi thực tế này là bài Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ.
Năm 1965, giặc Mỹ leo thang bắn phá Bắc miền Trung hết sức ác
liệt. Khi nhà thơ đi ngang qua Nghệ-Tĩnh thì “Pháo sáng đốt trên nhà của Nguyễn”
và “Bến phà Vinh bom cắt hai đầu”. Tác giả nói với “em”-đối tượng trữ tình
trong bài thơ:
Anh qua nhà của Nguyễn chả dừng lâu
Nhớ đến Nguyễn, ngước nhìn Hồng Lĩnh vậy
Tại sao nhớ đến Nguyễn Du, tác giả “ngước nhìn Hồng Lĩnh”? Có
3 lý do sau đây: Thứ nhất bởi Hồng Lĩnh là quê hương của Đại thi hào, thứ hai bởi
Hồng Lĩnh xuất hiện khá nhiều trong “Thanh Hiên thi tập” và “Nam
Trung tạp ngâm” (hai tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du), thứ ba bởi trong 99 đỉnh
núi Hồng, Đại thi hào Nguyễn Du là đỉnh cao nhất (ý thơ Nguyễn Hành-cháu ruột
Nguyễn Du).
Vừa đặt chân đến đất Quảng Bình, điều làm nhà thơ Chế Lan
Viên ngạc nhiên nhất là:
Có ngờ đâu cồn cát trắng cây xanh
Gặp Nguyễn nơi đây trên đất Quảng Bình
Đất hỏa tuyến những chàng trai lớp bảy
Lại ngâm Kiều sau một cuộc giao tranh
Qua Nghệ-Tĩnh, nhà thơ “nhớ đến Nguyễn”, nhưng khi đến Quảng
Bình thì nhà thơ mới thực sự “gặp Nguyễn”. Bởi vì, tuy Quảng Bình không phải
quê hương Đại thi hào nhưng người dân Quảng Bình lại rất mê Truyện Kiều.
Quảng Bình vào thời điểm đó đang có phong trào “Tiếng hát át tiếng bom”. Quân
và dân Quảng Bình không chỉ ca hát mà còn đọc thơ, ngâm thơ, diễn kịch… Không
khí lạc quan, yêu đời lan truyền khắp thôn, làng.
“Các chàng trai lớp bảy” ở Quảng Bình thời ấy trong đó có “một
lứa bên trời”, gồm: Hoàng Vũ Thuật, Lê Xuân Đố, Hải Kỳ, Ngô Minh, Đỗ Hoàng, Lý
Hoài Xuân, Lê Đình Ty, Hồng Thế… và lớp sau, gồm: Hoàng Hiếu Nhân, Nguyễn Hữu
Quý, Trần Quang Đạo, Thai Sắc, Mai Nam Thắng… Họ đọc thuộc lòng hàng trăm câu
thơ Kiều. Ngoài giờ học, thanh thiếu niên còn tham gia tiếp tế cơm nước, bánh
trái, đạn dược cho pháo thủ ở các trận địa phòng không. Bởi vậy, câu: Đất
hỏa tuyến những chàng trai lớp bảy/Lại ngâm Kiều sau một cuộc giao tranh dù tác
giả có hư cấu đi chăng nữa thì cũng hư cấu trên cơ sở có thực.
Không chỉ lớp trẻ, mà lớp người đứng tuổi như mẹ Suốt cũng rất
mê Kiều:
Đêm thắng giặc Bảo Ninh, mẹ Suốt ngâm Kiều
Mẹ dám đâu quên cái thuở khổ nghèo
Nhà ai đó lẩy Kiều, câu được, mất
Mẹ nấp gốc dừa, nước mắt ràn theo
Điều này chứng tỏ dân Quảng Bình mê Truyện Kiều từ
thế hệ này qua thế hệ khác. “Cái thuở khổ nghèo” là cái thuở mẹ Suốt “Lớn
đi ở bốn cửa người/Mười hai năm lẻ một thời xuân qua” (Tố Hữu). Mẹ
khóc cho số phận nàng Kiều cũng là khóc cho số phận hẩm hiu của mình. Bởi “Thơ
là một điệu hồn đi tìm đến những tâm hồn đồng điệu” (Tố Hữu). Thời xa xưa ấy,
nhà ai đó ở Bảo Ninh đã biết lẩy Kiều rồi. Người Quảng Bình không chỉ thuộc Kiều,
ngâm Kiều, lẩy Kiều mà còn biết tập Kiều, hát Kiều, đố Kiều, bói Kiều… Nhà giáo
Hoàng Hiếu Nghĩa ở xã Quảng Hòa (TX. Ba Đồn) đã đúc kết điều đó trong tập sách
dày 200 trang với tựa đề “Vui với Truyện Kiều” (Nhà xuất bản Thuận
Hóa, 2018).
Có bà cụ ở xã Thanh Trạch, Bố Trạch (cô ruột nhà văn Hoàng
Bình Trọng) còn đọc ngược Truyện Kiều mà không nhìn vào sách. Nhà văn
Hoàng Bình Trọng đã viết thành truyện ngắn lấy bà làm nguyên mẫu. Giáo sư, tiến
sĩ Nguyễn Đình Cống (quê Quảng Phong, TX. Ba Đồn) nhờ nắm được bí quyết đọc ngược Truyện
Kiều từ truyện ngắn của nhà văn Hoàng Bình Trọng mà chiếm giải đặc biệt
trong cuộc thi “Đọc thuộc Truyện Kiều” do Hội Kiều học Việt Nam tổ chức tại Hà
Nội, năm 2020. Cũng hiếm địa phương nào trong cả nước có nhiều câu lạc bộ (CLB)
hát Kiều như ở Quảng Bình, như: CLB hát Kiều Pháp Kệ, CLB hát Kiều Lâm Lang,
CLB hát Kiều Quảng Phương…
Tác giả Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ không chỉ
gặp Nguyễn Du qua người Quảng Bình mà còn gặp Nguyễn Du qua cảnh sắc thiên
nhiên Quảng Bình. Đó là “Cồn cát trắng”; đó là “Thuyền ai thấp
thoáng”; đó là “Nhật Lệ sông dài”… mà Nguyễn Du đã từng nhìn ngắm trong bốn
năm làm Cai bạ Quảng Bình và tái hiện qua những câu: “Cát vàng cồn nọ”,
“Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”, “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”,
“Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”…
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà thơ Chế Lan Viên có
khoảng 40 bài thơ viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều với những suy ngẫm
hết sức sâu sắc. Nhưng có thể khẳng định, bài Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ là
bài ấn tượng nhất. Phải đến Quảng Bình trong những ngày tháng bom đạn ngút trời,
nhà thơ mới cảm nhận hết sức sống mãnh liệt của Truyện Kiều. Tác giả
mới nhận ra rằng:
Bốn phía ruộng đồng mái rạ bờ tre
Trận địa nằm man mác giữa hương quê…
Thơ dân tộc lẫn màu nâu dân dã
Nên câu Kiều đồng vọng, họ còn nghe
Tác giả mới phát hiện:
Câu thơ Nguyễn cũng góp phần chống Mỹ
Một mái chèo trong lửa đạn xông pha
Và:
Hai trăm năm… ờ nhỉ… hai trăm năm
Thuở vui buồn… Kiều sống giữa lòng dân
Nhà thơ nhắn gửi với “em”-đối tượng trữ tình-nhưng cũng là lời
nhắc nhở với chính mình:
Đất nước mình nghèo lắm, hỡi em yêu
Cho đến giọt lệ cha ông cũng còn có ích với ta nhiều…
Dẫu súng đạn nặng đường ra hỏa tuyến
Đi đường dài, em giữ Truyện Kiều theo.
14/5/2024
Mai Văn Hoan
Nguồn: Báo Quảng Bình 2024
Theo https://vanvn.vn/
Bạo lực và rối loạn tâm trí trong sáng tác của Edgar Allan Poe
Bạo lực và rối loạn tâm trí trong
sáng tác của Edgar Allan
Poe
Edgar Allan Poe đã “trình làng” ngài thám tử lập dị C.
Auguste Dupin, nhân vật truyền cảm hứng cho Sherlock Holmes của Conan Doyle
hay Hercule Poirot của Agatha Christie.
Edgar Allan Poe (1809-1849) là một nhà văn, nhà viết kịch,
nhà phê bình người Mỹ. Ông được xem là người đặt ra các quy ước về truyện trinh
thám cổ điển, khởi đầu cho thể loại khoa học viễn tưởng hiện đại và nâng tầm tiểu
thuyết Gothic đầy chất nghệ thuật hơn.
Bầu không khí rờn rợn trong truyện của Edgar Poe
Poe từng trải qua một thời thơ ấu đau thương khi cha mẹ lần
lượt qua đời, chính điều đó đã ám ảnh vào từng trang viết của ông, khiến những
câu chuyện mang một bầu không khí u uẩn và rờn rợn. Năm 1891, truyện ngắn nổi
tiếng Vụ án mạng đường Morgue với sự xuất hiện của Dupin đã mở
đường cho thể loại truyện chủ đề trinh thám – hình sự đầu tiên trên thế giới và
mô típ án mạng căn phòng kín (whodunnit).
Truyện ngắn Sự sụp đổ của dòng họ Usher là tập
hợp của những gì thường thấy trong một câu chuyện của Poe: một ngôi nhà kiểu
Gothic, một người kể chuyện điên loạn, nỗi cô độc, chuyện chôn sống và một bộ
óc tâm thần.
Người khách vô danh nhận được một lá thư mời đến nhà từ
Roderick Usher. Tại đây, người dẫn truyện phát hiện ra Roderick còn có một người
em song sinh tên là Madeline đang bị hôn mê. Roderick dần có những hành động kỳ
quái và rồi anh tuyên bố em gái mình đã chết.
Anh nhờ người dẫn chuyện cùng khiêng quan tài cô gái đi chôn.
Tới đây, những âm thanh nỉ non quái đản dần xuất hiện, gieo vào lòng Roderick nỗi
nghi hoặc và dần mất đi lý trí. Trước khi ngành tâm thần học ra đời, Poe đã viết
về hội chứng thúc đẩy giác quan diễn ra khi mọi cảm xúc bị đẩy nhanh vì nhạy cảm
quá mức, về hội chứng sức ép bệnh tật và chứng lo âu cấp tính.
Thế giới nội tâm đầy bạo lực và rối loạn là một nét đặc trưng
trong nhiều truyện ngắn của Poe, xuất hiện rõ nét nhất trong Con mèo
đen với ngôi kể thứ nhất. Theo Moldenhauer (1968) định nghĩa về chủ
nghĩa hùng biện xưng tội là một phong cách viết trong đó người dẫn chuyện “giới
thiệu hoặc kết thúc lời tường thuật của mình bằng những cử chỉ tự lên án phức tạp
với những dự báo thảm khốc về sự dằn vặt vĩnh viễn trong linh hồn anh ta”.
Kĩ thuật xây dựng truyện cần phải có dung lượng vừa đủ để độc
giả tập trung đọc liền mạch, những hình ảnh tưởng tượng độc đáo đem lại cảm
giác ghê rợn đến kì lạ. Đây cũng là lí do khiến những truyện ngắn của Poe có vị
trí vững chắc trong lòng người đọc đồng thời các phương pháp ẩn dụ và tượng
trưng trong truyện của Poe gợi nhớ nhiều đến Nathaniel Hawthorne và Herman
Melville.
Trong văn học, hình ảnh mang tính biểu tượng được dùng để
truyền tải một thông điệp ẩn ý hoặc mang ý nghĩa tượng trưng nào đó. Ở truyện
ngắn Con mèo đen, Poe đã xây dựng hình ảnh con mèo đen làm trung tâm để phát
triển cốt truyện tổng thể và các chủ đề xoay quanh.
Từ trước đến nay, mèo đen thường bị gắn liền với nỗi bất hạnh,
vận rủi, chết chóc, đặc biệt là đối với những người mê tín. Trong câu chuyện,
người kể rất yêu quý con mèo đen nhưng nó sắp thay đổi cuộc đời anh mãi mãi.
Con vật u ám đó sắp mang lại bi kịch ập đến hai vợ chồng. Mặc dù không tin,
nhưng cô vợ vẫn thường xuyên nhắc đến quan niệm phổ biến cổ xưa, coi tất cả mèo
đen đều là những phù thủy ngụy trang. Để đào sâu vào bi kịch, Poe đã đặt tên
cho con mèo là Pluto – tên vị thần cai quản địa ngục của người Hy Lạp.
Sự rùng rợn của câu chuyện không đến từ cách thức sát hại mà
nằm trong chính sự tâm thần loạn trí của người kể chuyện. Sinh vật mèo đen
chính là phép ẩn dụ về tính nghiện rượu đến bê tha của nhân vật người chồng.
Linh hồn anh ta đã bị nhuộm đen, thói rượu chè bê tha đã biến
anh từ một người yêu động vật rơi vào trạng thái rối loạn tâm lý, và phản kháng
những gì mình đã từng thích thú. Anh ta trở thành tên sát nhân không ghê tay và
đổ lỗi tai ương của mình cho con mèo đen. Ngôi nhà trong trường hợp này, là
cách ẩn dụ về nấm mồ. Tất cả đã được tác giả dày công chuẩn bị nhằm dẫn dắt độc
giả vào hố sâu ngờ vực.
H.P Lovecraft, một trong những người thừa hưởng tinh thần của
Poe rõ rệt nhất đã nói “Tình cảm cổ xưa nhất và mạnh mẽ nhất của loài người là
nỗi sợ hãi và nỗi sợ hãi cổ xưa nhất, mạnh mẽ nhất là sợ cái gì không biết”.
Poe đã khai thác triệt để trong những truyện ngắn của mình, nỗi sợ hãi len lỏi
vào tâm trí người đọc, chứ không đơn thuần chỉ là những màn hù dọa giật gân.
14/5/2024
Hiểu Yên
Nguồn: Znews
Theo https://vanvn.vn/
Về một cuốn sách lớn
Về một cuốn sách lớn
Trong dòng chảy văn học Việt Nam, văn học miền Nam giai đoạn
1954 – 1975 là một mảng hiện thực phong phú, đa dạng, phản ánh những xu hướng
sáng tác và phê bình với dấu ấn đặc thù. Tuy nhiên, do nhiều lý do lịch sử giai
đoạn này chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và khách quan. Cuốn sách
chuyên luận “Lý luận – phê bình văn học miền Nam 1954 – 1975: Tiếp nhận và ứng
dụng” (Nxb. Hội Nhà văn, 2023) của PGS.TS Trần Hoài Anh là một công trình quan
trọng, góp phần hệ thống hóa và luận giải những khuynh hướng lý luận – phê bình
nổi bật trong thời kỳ này, đồng thời đánh giá sự tiếp biến và ảnh hưởng của nó
đối với văn học Việt Nam đương đại.
Về cuốn sách của Trần Hoài Anh, đã có những bài phân tích sâu
rộng và toàn diện của PGS.TS Cao Thị Hồng: “Trần Hoài Anh với lý luận – phê
bình văn học trong đời sống văn học đương đại” qua hai khía cạnh: “Hành trình dấn
thân “đi tìm ẩn ngữ văn chương” từ di sản văn học miền Nam 1954 – 1975; và,
Hành trình dấn thân “đi tìm ẩn ngữ văn chương” trong văn học thời kỳ đổi mới”.
Tác giả Võ Quốc Việt cũng có bài viết khá tỉ mỉ về tác phẩm này, nhấn mạnh vào
tinh thần dân tộc, nhân bản, khai phóng trong cuốn sách, coi đây là một đóng
góp lớn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân tộc. Những bài viết
trên đều mang tính chuyên môn cao, rất giá trị. Riêng tôi khi đọc tác phẩm này
lại tiếp nhận dưới góc độ của một người làm thơ, xem đây là một nguồn tư liệu học
thuật quan trọng, giúp tôi phản tư và khám phá những khả thể mới của thơ ca.
Điểm nổi bật trong công trình của Trần Hoài Anh là cách ông hệ
thống hóa các khuynh hướng lý luận – phê bình, đồng thời đặt ra những câu hỏi gợi
mở về mối quan hệ giữa diễn ngôn nghệ thuật và diễn ngôn phê bình. Cách ông
nghiên cứu và lý giải từng đối tượng văn học, từ trung đại đến hiện đại, dựa
trên phương pháp tiếp cận khoa học, thể hiện tư duy sắc bén, khách quan, đồng
thời kết hợp với trực cảm thẩm mỹ tinh tế. Điều đó giúp chuyên luận này vượt ra
khỏi phạm vi một khảo cứu đơn thuần, phát triển thành những diễn giải sâu sắc
hơn, góp phần định hình lại cách tiếp cận và đánh giá về nền lý luận – phê bình
văn học của miền Nam trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Từ đó, Trần Hoài Anh đặt ra
những vấn đề mang tính liên ngành, liên thời đại, mở ra hướng tiếp cận mới cho
cả giới nghiên cứu và sáng tác trong việc tiếp cận và ứng dụng lý luận – phê
bình vào thực tiễn văn chương.
Lý luận – phê bình, theo tôi, không chỉ là công cụ kiến giải
mà cần trở thành cuộc đối thoại giữa tác giả, độc giả và nhà nghiên cứu. Nhìn lại
lý luận – phê bình văn học miền Nam trước 1975, có thể thấy một nền phê bình đa
dạng, cởi mở, đề cao tinh thần tranh biện và khơi gợi sáng tạo. Nó khác biệt với
những cách tiếp cận khuôn mẫu, vốn thiên về diễn giải hơn là khơi gợi tranh luận,
làm hạn chế khả năng khám phá giá trị mới của tác phẩm và thu hẹp không gian
sáng tạo.
Chính trong môi trường học thuật cởi mở ấy, tinh thần canh
tân đã trở thành động lực thúc đẩy việc khám phá những khả thể mới của thi ca,
giúp nó vượt ra khỏi những khuôn khổ quen thuộc. Với tôi, cách tân thi pháp
không phải là đoạn tuyệt với truyền thống mà là cuộc đối thoại không ngừng nghỉ.
Các nhà lý luận – phê bình văn học miền Nam trước 1975 đã đặt ra những vấn đề về
sự đổi mới thi ca, góp phần mở rộng biên độ biểu đạt của thơ. Điều đó tiếp tục
đặt ra một câu hỏi mà người làm thơ hôm nay luôn trăn trở: thơ ca sẽ đi về đâu
trong thời đại mới? Lịch sử lý luận – phê bình, những khuynh hướng tư tưởng và
tác động của nó đối với nền văn học Việt Nam được trình bày rất khúc chiết
trong cuốn sách của Trần Hoài Anh; những cuộc tranh luận mang tính lý luận –
phê bình ở miền Nam trước 1975 mà ông đề cập đến trong chuyên luận này cho tôi
một bức tranh rõ nét về tư tưởng của các tác giả lý luận – phê bình thời đó,
trong đó nổi bật lên tầm quan trọng của sự tiếp nối và sáng tạo trong việc mở rộng
biên độ tiếp nhận, đồng thời duy trì tinh thần phản tỉnh và khả năng tương tác
với những chuyển biến của văn học và đời sống.
Cuốn sách là một công trình nghiên cứu công phu, được xây dựng
trên nền tảng khảo cứu và tổng hợp một khối lượng tư liệu đồ sộ về lý luận –
phê bình văn học miền Nam trước 1975. Tác giả đã tiến hành phân tích và đánh
giá: “đây là một nền lý luận – phê bình mang tính ứng dụng, thể hiện qua việc vận
dụng lý thuyết văn học cả phương Đông lẫn phương Tây, đặc biệt là ứng dụng tư
duy mỹ học hiện đại phương Tây để luận giải, khám phá các hiện tượng văn học,…”
(tr. 6). Qua đó, Trần Hoài Anh làm sáng tỏ cách thức mà các nhà lý luận – phê
bình văn học miền Nam vận dụng vào thực tiễn văn học miền Nam thời ấy và tạo ra
những diễn ngôn học thuật có ảnh hưởng sâu rộng. Những cây bút lý luận – phê
bình văn học miền Nam trước 1975 được đề cập đến hầu như toàn diện và đầy đủ
trong cuốn sách này, với những tên tuổi lớn như Quách Tấn, Nhất Linh, Vũ Bằng,
Thạch Chương, Phạm Công Thiện, Tạ Tỵ… và rất nhiều tên tuổi khác.
Bên cạnh việc tái hiện lịch sử lý luận – phê bình văn học miền
Nam, cuốn sách còn đưa ra những nhận định sắc sảo về tác động của các khuynh hướng
lý luận – phê bình đối với sự vận động và phát triển của văn học Việt Nam, vai
trò của nó trong định hướng sáng tác, khuyến khích tinh thần đổi mới và mở rộng
biên độ sáng tạo. Nhờ công trình này, nhiều người đọc trong đó có tôi có thể
nhìn nhận lại giai đoạn lịch sử ấy một cách khách quan hơn, đồng thời tiếp cận
được những giá trị học thuật vốn chưa được khai thác đầy đủ.
Những vấn đề mà các nhà phê bình văn học miền Nam đặt ra –
như tự do sáng tạo, bản sắc dân tộc trong tiếp biến văn hóa, ảnh hưởng của văn
học thế giới, nhất là phương Tây đối với văn học Việt Nam – vẫn mang tính thời
sự đối với người viết hôm nay. Trong một nền văn học hiện đại không ngừng vận động,
các câu hỏi về đổi mới thi pháp, về ranh giới giữa truyền thống và cách tân,
hay về mối quan hệ giữa cá nhân sáng tạo và thời đại vẫn tiếp tục được đặt ra.
Thông qua việc phân tích các trường phái mà các nhà lý luận – phê bình văn học
miền Nam đã ứng dụng, như Chủ nghĩa hiện sinh, Phân tâm học, Cấu trúc luận, Hiện
tượng luận, Mỹ học tiếp nhận…, cuốn sách của Trần Hoài Anh giúp soi chiếu những
vấn đề này dưới góc nhìn lịch sử, đồng thời mở ra hướng tiếp cận mới cho sáng
tác đương đại, mang đến những gợi mở quan trọng cho những ai đang tìm kiếm
phương thức biểu đạt mới trong sáng tác, nghiên cứu và phê bình văn học. Như
tôi thấy, việc sáng tác thơ không nhất thiết phải bám vào những mô hình cũ mà
có thể kế thừa và vận dụng những tư tưởng lý luận – phê bình văn học từ miền
Nam trước 1975 để phát triển theo hướng rộng mở hơn. Sự liên kết giữa quá khứ
và hiện tại trong nghiên cứu của Trần Hoài Anh giúp người đọc thấy rõ hơn những
dòng chảy tư tưởng đã và đang ảnh hưởng đến thơ Việt Nam đương đại như thế nào.
Cuốn sách này là công trình học thuật có giá trị, một nguồn
tham khảo quan trọng, giúp thế hệ sáng tác hôm nay kết nối với quá khứ để tiếp
tục đổi mới, sáng tạo. Bằng việc nhận diện lại các khuynh hướng phê bình văn học
miền Nam trước 1975, nó góp phần mở ra những triển vọng mới cho sáng tạo văn
chương, đặc biệt trong bối cảnh văn học Việt Nam đang từng bước hội nhập với thế
giới.
Từ tinh thần cởi mở của lý luận – phê bình văn học miền Nam
trước 1975, tôi nhận thấy sự cần thiết của một nền phê bình hôm nay phải năng động,
đa chiều, không bị giới hạn bởi định kiến. Những cuộc tranh luận học thuật cởi
mở, công bằng sẽ làm phong phú đời sống văn học, thúc đẩy sáng tạo, mở ra nhiều
hướng đi mới cho nghệ thuật ngôn từ. Đó là bài học thiết thực cho nền phê bình
đương đại: đồng hành với sáng tác, không ngừng đặt ra những câu hỏi lớn về bản
sắc, thi pháp và khả năng đổi mới của thơ ca. Một nền lý luận – phê bình thực sự
có sức sống không dừng lại ở việc diễn giải tác phẩm, mà còn góp phần tạo ra những
không gian thẩm mỹ mới, giúp người sáng tác mở rộng biên độ ngôn ngữ và hình thức.
Cuốn chuyên luận này của Trần Hoài Anh là tác phẩm đầu tiên cho ta một bức
tranh bao quát để thấy rõ vai trò quan trọng của lý luận – phê bình trong việc
thúc đẩy sự vận động sáng tạo.
Thơ ca vốn không chỉ là cảm xúc, mà còn là ý niệm, là sự tìm
kiếm những hình thức biểu đạt mới. Một bài thơ không đơn thuần ghi lại trạng
thái tinh thần của người viết, mà còn là sự thể nghiệm không ngừng về cấu trúc,
nhịp điệu, ngôn ngữ và tư duy nghệ thuật. Trong quá trình đó, việc tiếp cận lý
luận – phê bình, đặc biệt là những nền lý luận – phê bình giàu tinh thần khai
phóng và tự do, sẽ giúp kẻ sáng tạo mở rộng tầm nhìn và khám phá những khả thể
đa dạng hơn. Những vấn đề như tự do sáng tạo, ranh giới giữa truyền thống và hiện
đại luôn được các nhà thơ và nhà phê bình miền Nam tranh luận trước 1975 vẫn
đang tiếp tục được đặt ra trong thơ ca hôm nay. Cuốn sách của Trần Hoài Anh
giúp tôi nhận ra rằng những cuộc tìm kiếm này không phải là mới mẻ hay đơn lẻ,
mà là một phần của dòng chảy tư duy nghệ thuật, nơi mỗi thế hệ sáng tác và phê
bình đều góp phần định hình, làm phong phú thêm diễn ngôn văn học.
Một nền thơ ca sôi sục sức sống không thể thiếu một nền lý luận
– phê bình sắc bén, có khả năng đặt ra những câu hỏi lớn về nghệ thuật và đời sống.
Phê bình không chỉ làm nhiệm vụ nhận diện, lý giải, mà còn góp phần thúc đẩy
sáng tác phát triển theo những chiều kích mới. Sự thiếu vắng một nền lý luận –
phê bình có chiều sâu sẽ khiến thơ ca dễ rơi vào tình trạng tự lặp lại, thiếu sự
phản tỉnh cần thiết để bứt phá khỏi những giới hạn cũ.
Cuốn chuyên luận của Trần Hoài Anh là minh chứng cho giá trị
của phê bình mang tính học thuật trong việc thúc đẩy sáng tạo. Không chỉ hệ thống
lại một giai đoạn phê bình giàu năng lượng, tác phẩm còn cho thấy cách lý luận
văn học tác động trực tiếp đến sáng tác, làm thay đổi tư duy nghệ thuật của cả
người viết lẫn người đọc. Cuốn chuyên luận này mang tính gợi mở lớn đối với những
ai quan tâm đến sự vận động của văn học Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò
của lý luận – phê bình trong việc đổi mới sáng tác; nó khẳng định giá trị học
thuật và vai trò của phê bình trong việc soi rọi, thúc đẩy sáng tác đương đại.
Vì vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi cuốn sách này đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn
Việt Nam 2024: một ghi nhận thật xứng đáng với tầm vóc của nó. Qua đó, ta không
chỉ hiểu rõ hơn về di sản lý luận – phê bình văn học miền Nam trước 1975 mà còn
nhận thấy sự tiếp nối của những khuynh hướng ấy trong văn chương đương đại.
“Văn chương bao giờ cũng là văn chương của mọi thời chứ không phải là văn
chương của một thời” (tr. 375).
Bên cạnh giá trị học thuật, tác phẩm còn giúp người sáng tác
như tôi soi chiếu lại con đường nghệ thuật của mình. Khi đọc những biện giải của
Trần Hoài Anh về cách tiếp cận tác phẩm lý luận – phê bình văn học miền Nam trước
1975, ta dễ nhận ra tinh thần tìm tòi, khám phá ấy vẫn tiếp diễn trong thế hệ
hôm nay. Tôi kỳ vọng vào một nền phê bình hôm nay có thể tiếp tục đào sâu,
không ngại tranh luận, tạo diễn đàn mở để văn chương Việt Nam phát triển trong
tinh thần khai phóng và sáng tạo. Một nền lý luận – phê bình với “tư duy năng động,
cởi mở, đa diện, đa chiều” (tr. 512) sẽ không chỉ định hình thẩm mỹ mà còn khơi
nguồn cảm hứng, thúc đẩy văn học tiến về phía trước.
Tôi tâm đắc với nhận định của PGS.TS Trần Hoài Anh khi ông khẳng
định rằng “lý luận – phê bình văn học ở miền Nam mặc dù có những giới hạn nhất
định, nhưng xét cả hai phương diện khoa học và thực tiễn, lý luận – phê bình
văn học miền Nam vẫn là một nền lý luận – phê bình văn học có diện mạo riêng,
có đời sống riêng, có những đóng góp vào quá trình vận động và phát triển của
lý luận – phê bình văn học dân tộc và là một bộ phận không thể thiếu trong nền
lý luận – phê bình văn học dân tộc.” (tr. 512, 513)”. Nhìn từ góc độ đó, có thể
thấy rằng việc tiếp cận di sản lý luận – phê bình văn học miền Nam, giai đoạn
1954 – 1975, với tinh thần cởi mở và khách quan không chỉ cho phép nhận diện rõ
hơn những đóng góp của lĩnh vực này đối với tiến trình vận động của nền lý luận
– phê bình văn học dân tộc, mà còn tạo tiền đề mở ra những triển vọng mới cho
nghiên cứu và sáng tác văn học đương đại.
Hải Phòng, 3/3/2025
Mai Văn Phấn
Theo https://vanhocsaigon.com/
"Xuống biển lên trời" - Hành trình trong tưởng tượng
"Xuống biển lên trời"
Hành trình trong tưởng tượng
Chắc hẳn nhiều người đồng tình với suy nghĩ của tôi khi bắt gặp
nhan đề Xuống biển lên trời, sẽ nghĩ đó là hành trình của một người có sở
thích giang hồ nhưng sự thực lại là cuốn tiểu thuyết thể hiện trí tưởng tượng
phong phú của nhà văn Đỗ Xuân Thu về thế giới phẳng của những ký tự trong một
chiếc laptop.
Nhà văn Đỗ Xuân Thu nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật
tỉnh Phú Thọ là một tác giả rất quen thuộc trên văn đàn cả nước nói chung và tỉnh
Phú Thọ nói riêng. Đã từ lâu tôi định bụng viết một cái gì đó về anh, Vượt sông
ư đã có nhiều người viết và chưa kịp hoàn thiện bài viết thì anh đã lại xuất bản
tập mới! Mỗi tác phẩm của anh ra đời hầu như đều có người viết cảm nhận, phê
bình…
Năm 2024 là một năm thành công đối với nhà văn Đỗ Xuân Thu,
truyện ngắn của anh xuất hiện hầu như ở khắp các trang báo, tạp chí trung ương
và địa phương đủ khắp các miền trên đất nước. Bên cạnh truyện ngắn anh còn sáng
tác thơ, dù là thơ hay truyện ngắn thì các sáng tác của nhà văn Đỗ Xuân Thu
cũng luôn luôn giản dị, gần gũi, mộc mạc và thân thương. Có ai đó đã nói rằng
cái đẹp nằm trong sự giản dị và với văn Đỗ Xuân Thu thì trường hợp này thật
đúng và năm 2025 trên đà thành công, nhà văn tiếp tục hành trình đi và viết, lại
có báo chí khắp các tỉnh thành, lại xuất hiện trên trang điện tử hoặc báo giấy
từ trung ương đến các địa phươnng và Quý II năm 2025 anh xuất bản tiểu thuyết Xuống
biển lên giời.
Đỗ Xuân Thu trong đời thường là một người giản dị thường gắn
với biệt danh là Chõe Bò. Trên trang Facebook bài viết của anh thường gắn với địa
danh là Phượng Hùng, Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ.
Đỗ Xuân Thu là người đi nhiều và viết nhiều, chất liệu hiện
thực cuộc sống khá giàu có, khá phong phú; đi đến đâu anh cũng có tác phẩm vừa
để lưu lại dấu ấn kỷ niệm với mảnh đất mình từng qua vừa để chiêm nghiệm những
thực tại mà anh đã được đón nhận trong cuộc sống. Chính vì vậy nên Xuống biển
lên giời ban đầu chắc nhiều người đồng ý nghĩ như tôi rằng cuốn tiểu thuyết này
chắc hẳn lại mang đậm tính chất ký sự, ghi chép lại hành trình dọc dài đất nước,
ghi lại những chặng đường mà anh đã đi qua những mảnh đất mà anh đã đặt chân tới…
Nhưng khi đọc vào tác phẩm mới té ra rằng anh đang viết về những
ký tự trên một chiếc laptop. Không thể không thừa nhận trí tưởng tượng của nhà
văn thật sự phong phú. Tôi cũng hơn 20 năm làm việc với bàn phím, có những ký tự
nhắm mắt vẫn nhớ vị trí nhưng không hề nghĩ sẽ có ngày biến mỗi ký tự hoặc một
số ký tự thường dùng thành nhân vật trong sáng tác của mình. Vì lẽ ấy, sự cảm
phục của tôi tăng lên gấp nhiều lần khi đọc Xuống biển lên giời của
nhà văn Đỗ Xuân Thu.
Xuống biển lên giời là cuốn tiểu thuyết đáng đọc, 260
trang viết chia làm 9 chương với tên gọi khá độc đáo “Chương 1 Những năm tháng
bình yên; Chương 2 Biến cố; Chương 3 Thất lạc; Chương 4 Dưới đại dương; Chương
5 Trong mây, Chương 6 Đại dịch, Chương 7 Gặp gỡ; Chương 8 Trợ thủ A.I và Chương
9 Đoàn viên”. Cách đặt tên từng chương, theo trật tự tuyến tính của thời gian
có thể hình dung như một hành trình của câu chuyện cổ tích: Có mở đầu bình yên
(chương 1) có diễn biến thăng trầm, thất lạc, gặp khó khăn (chương 2 đến
6) , được giúp đỡ (chương 7,8) và kết thúc Đoàn viên (Chương 9). Có nét
giống hành trình cổ tích bởi cổ tích cũng diễn biến bình yên – biến cố – vượt
khó và kết thúc có hậu trong sự đoàn viên hạnh phúc. Có sự tuân thủ cấu trúc
thông thường mang tính đặc trưng nổi bật của một tiểu thuyết là phạm vi không
gian rộng (như nhan đề gợi ra Xuống biển lên giời); có chia ra từng chương gắn
với hành trình số phận nhân vật, gắn với thực tại biến cố của đời sống xã hội
theo trình tự thời gian; có hư cấu, tưởng tượng gắn với số phận nhân vật .v.v…
Trước hết, cần khẳng định một điều chắc chắn rằng nhà văn Đỗ
Xuân Thu rất chăm làm việc cùng máy tính, có cảm xúc và sự trân trọng, biết ơn
đối với những ký tự đã ngày ngày cần mẫn và linh hoạt giúp anh viết nên thơ,
nên truyện ngắn và tiểu thuyết. Văn chương chỉ thực sự giá trị khi được sinh ra
từ cảm xúc và đồng hành cùng cảm xúc mang thông điệp đến độc giả. Xuống biển
lên giời có một thế giới nhân vật phong phú được gọi tên thật dí dỏm Tý chuột
(chuột máy tính), bác An (Alt), Y cờ lét (Y) và I bị thịt (I).v.v… Mỗi nhân vật
(thực chất là các ký tự được nhân hóa) có tính cách khác nhau, cách hành xử
khác nhau nhưng cùng chung ý chí và tâm huyết, trách nhiệm phục vụ “Ông chủ”. `
Xuống biển lên giời kể về làng Chữ Coco, ở đó cuộc sống
thanh bình, mỗi nhân vật là mỗi ký tự trên bàn phím được hư cấu thành một thế
giới sinh động và bình yên, vui vẻ. Bỗng một ngày xuất hiện những con virut độc
hại (tựa như thế giới của con người gặp thiên tai, gặp dịch bệnh…) khiến nhà cửa
sập đổ, đường xá không còn nguyên vẹn, dân làng nháo nhác thất lạc, bạt xứ muôn
nơi. Và để tìm lại sự bình yên vốn có, mỗi người đều phải nỗ lực trong hành
trình tìm kiếm người thân. Nhờ công nghệ A.I, nhờ ChatGPT, sau bao biến cố, hoảng
loạn, mọi người đã tìm thấy nhau, về làng đoàn tụ và chung tay xây dựng lại
ngôi làng cũ vốn một thời tươi đẹp, bình yên.
Xuống biển lên giời có những đoạn đối thoại thực sự hấp
dẫn như trang 23 “4. Ngồi trên chiếc “a còng”, cưỡi trên vầng mây trắng, họ
hàng nhà giá An bay trên không trung. Tất cả mọi người ai nấy đều hớn hở…” và
trong không khí ấy các nhân vật Tý chuột, Y-cờ-lét, bà Bê béo, Cúc cổ cò, già
An, I-cù- lần, I-bị-thịt… đều bị cuốn vào câu hỏi của Y-cờ-lét dành cho Tý chuột
Cậu tên là Tý phải không ?, “Vậy cậu là Tý “y dài” hay là Tí “i ngắn” ? Rất thực
tế bởi “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”, nhiều khi khó phân định
rạch ròi Y, I vì có trường hợp viết được cả hai, như tên người (Tý/ Tí hoặc Sỹ/
Sĩ..), hoặc một số khái niệm khác như Quản lý/ quản lí, Vật lý/ Vật lí.v.v…).
Có những trang viết đậm sắc màu thôn quê bình yên và gần gũi,
thân thương, có những trang viết cập nhật thông tinn thời đại số (Chương 8 Trợ
thủ A.I)… Cách diễn đạt khéo léo và xây dựng đối thoại hợp tình, hợp lý để thể
hiện rõ thông điệp A.I là trí tuệ nhân tạo, thông minh, nhanh, khả năng tổng hợp
và tích lũy, kết nối số liệu tốc độ chóng mặt. Tuy nhiên, không thể thay thế
hoàn toàn con người được. Là công nghệ nên A.I mang tính kỹ thuật, không chuyển
tải được cảm xúc đích thực của con người (Tý chuột và các bạn tìm Y-cờ-lét,
Ích-xì- Xuân và cái Chấm chỉ nhờ được A.I với vai trò trợ thủ chứ không có được
kết quả hoàn toàn trong hành trình tìm kiếm).
Xuống biển lên giời thành công về sự hư cấu tưởng tượng
(yêu cầu mang tính bắt buộc của tiểu thuyết là hư cấu), thành công về giọng điệu
dí dỏm tạo sự hấp dẫn… thành công về cách kết nối các chi tiết trong mối quan hệ
nhân vật với nhân vật một cách thật khéo léo, vừa “khoe” được chất thơ (của nhà
văn từng sáng tác và thành công về thơ), vừa “khoe” được sự lao động công phu,
trách nhiệm và vốn sống, vốn ngôn ngữ tiếng Việt phong phú (Thủ trưởng tôi để
chào đón năm Canh Tý của “ông chủ” có đến gần 3 trang viết được kiến tạo từ chữ
cái T hoặc Th).v.v…
Xuống biển lên giời còn đặc biệt thành công khi nhà văn ở
tuổi cách xa thời niên thiếu vài chục niên nhưng sự hóa thân vào độ tuổi thiếu
nhi lại tự nhiên và nhuần nhuyễn như chính tác giả đang ở độ tuổi ấy. Thật đáng
yêu những chõm chọe, chòng ghẹo của Y-cờ-lét dành cho Tý chuột; thật đáng yêu
khi các nhân vật có những sở thích và hành vi vừa hồn nhiên vừa có phần già dặn.
Đó là sự hồn nhiên trong veo, tự thân của độ tuổi sinh học, nhưng đó cũng là sự
già dặn của một thế hệ được sinh ra, lớn lên khi xã hội trang bị quá nhiều công
cụ cho các em trưởng thành, nhất là công cụ của khoa học công nghệ. Nhà văn Đỗ
Xuân Thu không chỉ am hiểu mà nhiều khi còn nhập thân vào từng nhân vật nhỏ tuổi
để trang viết của mình thêm phần hấp dẫn đối với lứa tuổi thần tiên.
Bên cạnh những thành công của tiểu thuyết Xuống biển lên
giời, người đọc mong muốn ở anh gia công thêm ở một số chi tiết ví như “Ngày
xưa, Tết đến là lo lắm. Chả thế mà các cụ có câu” Tết đến sau lưng bố mẹ thì mừng,
con cháu thì lo”. Lạ đời thế cơ chứ. Chẳng qua là các cụ hài hước, nói ngược để
tếu táo cho vui thôi”. Nên thay từ thôi bằng một cách so sánh tương đồng xuất
hiện từ đồng dao kiểu “Bong bóng thì chìm/ Gỗ lim thì nổi” bởi như thế thông điệp
được rõ ràng và còn được mở rộng sự liên tưởng (vốn là một yêu cầu nên có trong
tiểu thuyết).
Không thể phủ nhận nhà văn Đỗ Xuân Thu là người lao động nghệ
thuật công phu, cần mẫn; có vốn từ phong phú và tiểu thuyết Xuống biển lên giời
với lối diễn đạt giản dị, giọng điệu hóm hỉnh đã thực sự chinh phục được độc giả,
cho dù họ là độc giả khó tính. Cuốn tiểu thuyết thành công đã đưa vị thế nhà
văn Đỗ Xuân Thu lên một nấc thang cao hơn trên hành trình cống hiến những giá
trị văn hóa, văn học nghệ thuật đích thực cho cộng đồng. Đọc tác phẩm của anh,
thêm yêu văn học, đã đành; thêm yêu và trân trọng công cụ lao động gắn bó với
nghề viết đó là chiếc máy tính để bàn hoặc laptop cầm tay. Biết ơn công cụ đã
hiện thực hóa ý tưởng trong đầu văn nghệ sỹ và làm cầu nối để văn học thực sự
phục vụ đời sống con người như sứ mệnh vốn có của nó.
Đất Tổ, 1/5/2025
Đỗ Nguyên Thương
Theo https://vanhocsaigon.com/
Tiểu luận Nguyễn Quỳnh Anh: Đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ
Tiểu luận Nguyễn Quỳnh Anh:
Đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ (1948-1988) là một nghệ sĩ tài năng trên nhiều
lĩnh vực: thơ, văn, kịch, họa… ông được đánh giá là nhà viết kịch xuất sắc nhất
của nền kịch Việt Nam hiện đại, bên cạnh đó ở lĩnh vực thơ ông cũng có những
đóng góp giá trị. Thơ Lưu Quang Vũ không chỉ giàu cảm xúc mà còn đậm tính triết
lý và cũng đầy suy tư, trăn trở về con người, về thời đại.
Với các tập thơ Hương cây – Bếp lửa (in chung với Bằng
Việt), Mây trắng của đời tôi, Bầy ong trong đêm sâu, Di cảo… Lưu
Quang Vũ đã định hình một phong cách thơ độc đáo của một người cầm bút tài hoa
và trách nhiệm với cuộc đời, với Đất nước.
Lưu Quang Vũ đến với thơ ca từ những năm bảy mươi của thế kỷ
XX, với khoảng 20 năm cầm bút ông đã để lại cho đời hàng trăm bài thơ giá trị.
Nổi bật trong các sáng tác của ông là cảm hứng về Đất nước, một Đất nước
có bề dày văn hóa lịch sử, có truyền thống kiên cường, bất khuất, một Đất nước
tươi đẹp ân tình. Tất cả những điều đó được ông cảm nhận, suy tư theo cách của
riêng mình với những mái nhà, dòng sông, luống cày, cây cỏ… và thấm đẫm trong
đó là tình yêu Đất nước sâu nặng của nhà thơ. Những bài thơ Sông Hồng, Tiếng
Việt, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Thức với quê hương… là những
sáng tác tiêu biểu.
Tình yêu Đất nước của Lưu Quang Vũ trước hết là tình yêu với
tiếng Việt, ông nhận diện tiếng Việt từ những quan sát, những suy tư, những tìm
tòi từ quá khứ. Lịch sử hình thành ngôn ngữ của một dân tộc gắn liền với sự
hình thành của tộc người ấy qua hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử:
Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.
Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.
(Tiếng Việt)
Tiếng Việt gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của bao
thế hệ, một dân tộc từ trong lam lũ, nhọc nhằn và nhiều lúc khó khăn nhưng vẫn
giữ trọn tình yêu với tiếng nói của mình, ngay cả khi Đất nước tạm thời bị xâm
chiếm, cai trị tiếng nói ấy vẫn trường tồn. Thông qua nhiều hình ảnh so sánh,
nhà thơ đã làm sáng lên những vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc:
Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.
Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.
Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.
Một đảo nhỏ ngoài khơi nhiều kẻ nhận
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già.
(Tiếng Việt)
Trong cảm nhận của nhà thơ tiếng Việt thuở sơ khai như mảnh
đá thô sơ nhưng qua thời gian chuốt mài ngày càng trở nên óng ánh, đó là thứ tiếng
để hòa hợp lòng người, là thứ tiếng để hướng về nguồn cội, là tiếng nói của
tình yêu, của những điều đẹp đẽ, nhân văn. Suy ngẫm và trăn trở của Lưu Quang
Vũ về tiếng Việt cũng là sự nhắc nhở với những thế hệ mai sau phải giữ gìn tiếng
nói cha ông, phải làm phong phú tiếng Việt cũng như trách nhiệm giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt từ chính bản thân mỗi người:
Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu?
Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình…
(Tiếng Việt)
Cảm hứng Đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ gắn với những không
gian hữu hình như một ngã ba thị xã, một thôn xóm, một cây cầu, một bờ đê, một
con suối, một dòng sông… Bài thơ Sông Hồng của nhà thơ cũng mang
trong đó những cảm nhận cùng những phát hiện mới mẻ, lý thú. Đó là con sông chảy
dài từ biên giới Việt – Trung đổ ra biển Đông, con sông gắn với một miền châu
thổ êm đềm, trù phú, con sông gắn với thăng trầm lịch sử với bao trận chiến hào
hùng. Lưu Quang Vũ đã từ những trầm tích dòng sông để tạo dáng hình một con
sông Hồng trong thi ca: một con sông chảy qua thời gian/ chảy qua lịch sử/ chảy
qua triệu triệu cuộc đời/ chảy qua mỗi trái tim người/ khi êm đềm khi hung dữ/
một con sông rì rầm sóng vỗ/ trong muôn vàn trang thơ/ làm nên xóm thôn, hoa
trái, những ngôi nhà/ tạo sắc áo, màu cây và tiếng Việt/ một giống nòi sinh tự
một dòng sông/ trăm đứa con xuống biển lên rừng.
Cảm nhận sông Hồng của Lưu Quang Vũ luôn gắn liền với lịch sử
đó là con sông gắn liền với truyền thuyết về thời Hùng Vương và nhà nước Văn
Lang, con sông của những trận chiến thắng chống ngoại xâm, con sông gắn với những
triều đại trong lịch sử nhưng trên hết đó là con sông của đời thường với những
làng mạc, cây cối, triền đê, bè mảng, cánh buồm, ngọn dâu, câu hát và nhất là
những bờ bãi phù sa cho cuộc sống con người. Đó là con sông Cái, sông Mẹ của cả
vùng châu thổ rộng lớn trên Đất nước này.
Bằng sự quan sát từ rất nhiều góc độ, từ những vỉa tầng trầm
tích văn hóa Lưu Quang Vũ đã đem đến cho người đọc những tri thức văn hóa về một
dòng sông mà ít bài thơ có được. Viết về sông Hồng cũng là viết về Đất nước của
những cư dân có màu da mang sắc nước dòng sông rắn rỏi, kiên cường trong lao động
và đấu tranh chống ngoại xâm. Cũng từ đó Lưu Quang Vũ đem đến những triết lý về
lịch sử về Đất nước:
sóng và phù sa – khái niệm đầu tiên
nước và đất để nay thành Đất Nước
một con sông dịu dàng như lục bát
một con sông phập phồng muôn bắp thịt
một con sông đỏ rựcnhuộm hồng nâu da người.
(Sông Hồng)
Cuối cùng dòng sông để lại không phải những thù hận, oán hờn
mà là những bãi bờ ăm ắp phù sa cho cây trái đơm hoa, mùa màng tươi tốt và trên
hết là tâm hồn người Việt đằm thắm yêu thương. Bài thơ lấp lánh vẻ đẹp của một
trường ca về dòng sông Đất nước:
sông để lại trước khi về với biển
không phải máu đen độc ác của quân thù
không phải gươm đao ngàn năm chiến trận
không phải nghẹn ngào tiếng nấc
sau sụp lở hưng vong sau thù hận sóng trào
là bãi mới của sông xanh ngát
là đất đai lấn dần ra biển
là tâm hồn đằm thắm phù sa
dâng yêu thương đỏ rực đôi bờ.
(Sông Hồng)
Cùng chung mạch nguồn cảm hứng về Đất nước, bài thơ Đất
nước đàn bầu đã đem đến những cảm nhận và lí giải về quá trình hình thành
Đất nước với chiều sâu văn hóa, bề dày của lịch sử. Tiếng đàn bầu cũng là tiếng
nói của cha ông, nhân vật trữ tình trong bài thơ là một người cháu đang trò
chuyện với bà. Đó là câu chuyện dài lịch sử theo cả thời gian và không gian,
đây cũng là một bài thơ dài nhất của Lưu Quang Vũ. Lịch sử Đất nước là những
trang buồn khi nàng Mị Châu chết mà vẫn không sao hiểu được Trọng Thủy là kẻ
thù, là những tiếng kêu ai oán, xót xa nhưng lịch sử cũng là những chiến thắng
Chương Dương, Hàm Tử lẫy lừng. Đất nước cũng được cảm nhận là một không gian trải
dài từ Vân Đồn, kinh Bắc, kẻ Chợ, Tràng An đến cửa Thuận, cửa Hàn, Hà Tiên, Cà
Mau…
Đất nước trải qua vô vàn đau thương mất mát nhưng luôn biết
yêu thương trong nghĩa đồng bào:
Cháu nghe mãi vẫn lạ lùng tiếng Việt
Chữ “thương” liền với chữ “yêu”
Chữ “thương” đi cùng chữ “nhớ”
Dân tộc trải xót xa nhiều nỗi khổ
Phải thương nhau mới sống được trên đời
(Đất nước đàn bầu)
Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh những dấu chân, những đoàn
quân vô tận cùng hình ảnh người bà chan chứa yêu thương, đó là điểm tựa tinh thần
vững chắc để nhân vật trữ tình hướng tới ngày mai. Đất nước cũng như tiếng đàn
bầu chứa trong đó biết bao cung bậc cảm xúc:
Đất phù sa vô tận dấu chân người
Những đoàn quân lại ra đi từ đất
Bà đứng đó miệng trầu cay thơm ngát
Vầng yêu thương soi sáng suốt cuộc đời
Khắp triền sông vang tiếng trẻ con cười
Đất nước đàn bầu
Đất nước ban mai…
(Đất nước đàn bầu)
Khi nói về cảm hứng Đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ không thể
không nhắc đến bài thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi. Bài thơ đã
xây dựng thành công hình tượng gió để để găm vào trong đó bao ý tình của nhà
thơ. Gió là hiện tượng của tự nhiên tồn tại vĩnh hằng và có mặt khắp mọi nơi
cũng như tình yêu của loài người vẫn đang tồn tại từ xa xưa tới mai sau. Đó là
ngọn gió thổi suốt dọc dài lịch sử hay đó cũng là tiếng gọi ngàn đời không khuất
phục, nhà thơ cảm nhận Đất nước như con thuyền xuyên gió mạnh lướt trên sóng dữ
trùng khơi:
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
Chưa xóm mạc đã bắt đầu ngọn gió
Thổi không yên suốt dọc dài lịch sử
Qua đất đai và đời sống con người.
Gió gieo tung những hạt giống trên tay
Giọt nước mắt mau khô, tiếng gọi đò vọng mãi
Vầng trán với bể khơi chung gió ấy
Ở nơi đâu cũng tới được chân trời.
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
Như tiếng gọi ngàn đời không khuất phục
Đất nước giống như con thuyền xuyên gió mạnh
Những mối tình trong gió bão tìm nhau.
(Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi)
Lưu Quang Vũ muốn hóa thân thành ngọn gió để hiến dâng cho Đất
nước, để được trường tồn với thời gian và Đất nước. Thi nhân đã vĩnh viễn hóa
tình yêu Đất nước bằng những câu thơ kết mang đầy sức nặng và làm lay động bao
trái tim người đọc:
Ước chi được hóa thành ngọn gió
Để được ôm trọn vẹn nước non nà
Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá
Để mát rượi những mái nhà nắng lửa
Để luôn luôn được trở lại với đời…
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi…
Thơ Lưu Quang Vũ phần lớn được viết theo thể thơ tự do, cảm
xúc tự nhiên, phóng túng, ngôn từ, hình ảnh mới lạ, có sự kết hợp hài hòa mạch
cảm xúc và triết lý. Mặc dù cuộc đời ngắn ngủi nhưng sự nghiệp văn học mà ông để
lại vô cùng phong phú và mang giá trị. Gần bốn mươi năm Lưu Quang Vũ rời xa cõi
thế nhưng những vần thơ, nhưng vở kịch mà ông để lại vẫn còn làm lay động lòng
người, chúng ta khó có thể hình dung diện mạo Văn học Việt Nam giai đoạn sau
1975 nếu thiếu Lưu Quang Vũ.
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến nhận định: “Có lẽ thời gian qua,
chúng ta chưa đánh giá đầy đủ những đóng góp của cố nhà thơ Lưu Quang Vũ cho
thơ đương đại Việt Nam sau 1975. Theo tôi, anh là một gương mặt thơ tiêu biểu
và chói sáng lặng lẽ qua thời gian bên cạnh những gì mờ nhạt và thiếu sức sống
ngôn ngữ… Lưu Quang Vũ là một tài năng thơ bẩm sinh rất đặc biệt và độc đáo. Bản
năng thi sĩ của anh giàu có trong những nỗi buồn, trong nỗi cô đơn và khổ hạnh.
Khi bị dồn vào chân tường, trong những khoảnh khắc chập chờn sáng tối, những vần
thơ ám ảnh của ông tung bứt lên như muốn đối mặt với buồn đau. Và, tập
thơ “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” của Lưu Quang Vũ được
trao “Giải thưởng Thành tựu văn học trọn đời” của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2010
là một ghi nhận xứng đáng.”.
Để khép lại bài viết nhỏ này, chúng tôi xin mượn lời nhận định
của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Điệp: “Sáng tạo văn học của Lưu Quang
Vũ, về bản chất chính là những truy vấn và đối thoại không ngừng về nhân sinh,
lịch sử, đất nước, con người từ góc nhìn văn hóa và tinh thần nhân bản. Bằng
tài năng và sức lao động đến mức phi thường, Lưu Quang Vũ đã truyền năng lượng
và khát vọng đổi mới của ông đến hàng triệu người, tạo nên hiệu ứng nghệ thuật
hết sức to lớn. Đó là hạnh phúc không dễ gì có được của bất cứ người nghệ sĩ
nào”.
Lưu Quang Vũ (1948-1988) là con trai của nhà văn, nhà viết kịch
Lưu Quang Thuận (Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật – 2000).
Lưu Quang Vũ thuở nhỏ sống cùng gia đình ở chiến khu Việt Bắc,
sau đó về lại Hà Nội. Năm 1965 – 1970, ông xung phong vào bộ đội, thuộc Quân chủng
Phòng không – Không quân. Những năm sau đó, Lưu Quang Vũ làm nhiều nghề khác
nhau như vẽ tranh, viết kịch, viết báo, làm thơ… Từ tháng 8.1979 cho tới khi mất,
ông làm phóng viên Tạp chí Sân khấu.
Lưu Quang Vũ được nhận bảy Huy chương Vàng trong các kỳ hội
diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, hai lần được giải thưởng của Hội Văn nghệ
Hà Nội, hai lần được Giải thưởng của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Tặng thưởng
Văn học của Bộ Quốc phòng năm 1992, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật
đợt II năm 2000.
2/6/2025
Nguyễn Quỳnh Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Tơ trời lắng sâu cùng “Đồng vọng” của Võ Văn Hân Nhà thơ nữ Ba Lan Wisława Szymborska – người được mệnh danh là “Mozart của thơ”, được G...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...


.gif)
.gif)
.gif)


