Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

Nguyễn Việt Hà - Toàn là lửa xanh

Nguyễn Việt Hà
Toàn là lửa xanh

Tiểu thuyết dạng trinh thám – kiếm hiệp Tuyệt không dấu vết (Giải thưởng Hội Nhà văn 2023) dày 388 trang, được viết trong 5 năm, chứng tỏ một sự dụng công khá lớn của nhà văn Nguyễn Việt Hà.
Tác phẩm cũng đòi hỏi sự dụng công nơi người tiếp nhận, vì không thể đọc lướt qua mà nắm bắt được cốt truyện, cấu trúc và cả thủ pháp của nó. Ban Biên tập Vanvn trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn Trần Chiến về tiểu thuyết này.
Tôi đã đọc Cơ hội của Chúa, Ba ngôi của người, Thị dân tiểu thuyết, (Khải huyền muộn không đọc hết) của  Nguyễn Việt Hà, mang máng thấy mình chẳng thể, chẳng nên theo sát quá cái mạch nào, nhân vật, kết cấu hoặc “tư tưởng chủ đề”. Đến Tuyệt không dấu vết (NXB Trẻ, 2023) cũng cứ từ xa mơ mơ hồ hồ, chứ cẩn thận ngâm cứu những trận hình, thức với chiêu thoăn thoắt thay đổi của ông nhà văn này thì chóng mặt lắm. Tiếp cận thế e chả nghiêm túc, nhưng không bị “ngã”.
Hai mươi “hồi” thì bấy nhiêu tựa mang “xì-tai” chả nhất quán, hình như nhào trộn những dấu ấn văn hóa và nhất định không viết hoa. Đang kiếm hiệp, chưởng Tàu (tàng kiếm giai nhân, người vô tình kiếm có vô tình) lại na ná ông Tây (đi tìm thời gian sẽ mất, ma-đam An-na Kha Lệ Ninh), giật mình gặp tiếng Anh (the confession) mí cả cụ Nguyễn Du (đoạn trường vô thanh).
Những hồi (hộp) ấy đẩy người đọc vào cái có vẻ như cuộc kiếm tìm, mang màu trinh thám. Các thám tử, công an, võ sư… dắt tới bao nhiêu “a bê xê đê” khác, bật mí tiếp các ngờ vực cũng đáng ngờ.
Hiện thực dần dần lộ ra, những gương mặt thị dân của khu vực phố cổ mà  Nguyễn Việt Hà từng khoanh vùng trong các tiểu thuyết trước. Các thế hệ nhà Đông Ký, thông phán, lãng tử, nhà báo, thiếu phụ, hót-gơn, công chức…, đa phần ở giai tầng không còn phải lo cơm áo, mà đã sang chơi xì gà, rượu Tây. Phận người phận phố, đằng sau họ là một thành thị quá từng trải với các đoạn chiến tranh, nông dân hóa, bình dân một màu đến nỗi làm ăn giàu có phải gánh tội. Thời thương trường đến, họ vừa nhung nhớ sang trọng xưa, vừa ăn chơi lấy được. Mà vẫn mệt mỏi: “Bất hạnh nhất là khi con người ta chẳng biết mình còn mong muốn điều gì… Họ giống những con khỉ khỏe mạnh, mồm ngậm đầy hoa quả, đang nhảy
nhót trong chảo gang”.
“Quá nhiều người vẫn vô minh không biết rằng mình đã bị chết”. Chiêm nghiệm ấy của các nhân vật còn chưa kinh bằng câu kể lạnh tanh: “Bốn chín ngày bà tao xong thì bán nhà. Khi nhận phần vàng được chia, ai nấy ấm ức cho là mình thiệt, càu nhàu giống hệt nhau, chẳng qua là mình thương mẹ”.
Cuộc truy tìm đặt ra đầu sách, trải qua đến nhiều chuyện và trò, rút cục dừng vì nguyên cớ không đâu, vớ vẩn kiểu phi lý: Có thể mang lại hệ lụy cho “nơi” nào đó. Cái cốt tô màu trinh thám dẫn đến vô tăm tích. Quan trọng là tác giả treo được vào đây bao nhiêu cảm giác của mình, tung tẩy cuộc chơi văn lắm khi “mo phú” người đọc. Lại phải quy công cho kết cấu chương hồi “đa phong cách”. Nghĩ ra cái này rồi thì tha hồ triết lý triết học, cao đạo xen nhả nhớt đùa nhả, đùa dai.
“Khoa học là cái thứ chỉ có thể phanh phui quá khứ, lột truồng hiện tại, nhưng mù mịt ở tương lai. Phẩm chất ưu tú nhất của khoa học là tự biết mình rồi đây có thể sai”, nghiêm túc trộn sếch-xy kiểu thế. Nếu theo nguyên tắc “mạch kị thẳng, ý kị lộ” thì nhà văn đã đạt đến trình “lô hỏa thuần thanh”, chữ truyện chưởng Tàu thường dùng chỉ người luyện đan giỏi, trong lò toàn lửa xanh. Trong một câu ý “ngoặt”, nhịp “đảo” liên tục, chữ sau vênh chữ trước, nhưng vẫn có mạch hợp lý, viết thế khó lắm.
Và hiểu cũng chả dễ.  Nguyễn Việt Hà dành phần to đùng cho người đọc “sáng tạo tiếp”, dễ là không ai giống ai.
Nếu theo nguyên tắc “mạch kị thẳng, ý kị lộ” thì nhà văn đã đạt đến trình “lô hỏa thuần thanh”, chữ truyện chưởng Tàu thường dùng chỉ người luyện đan giỏi, trong lò toàn lửa xanh.
Cốt truyện “Tuyệt không dấu vết”
Rất khó tóm tắt cốt truyện của tiểu thuyết này. Chuyện bắt đầu bằng 2 sự vụ “Mission 12 – thiếu phụ 7” và “Mission 14 – thiếu phụ 9” mà thám tử Tuấn của văn phòng Tam Tuấn đang thụ lý. Chồng của Diệu Phong – thiếu phụ 7, còn có biệt danh Hà Thành lãng tử, mối tình đầu của Sơn Linh (thiếu phụ 9). Nên mới có chuyện ông ăn chả, bà ăn nem, với các quan hệ ái tình khá dây dưa.
Nhận thấy vụ án này nhì nhằng, nên thám tử đã lập lá số tử vi cho thấy bát tự là giờ Bính Ngọ, ngày Nhâm Ngọ, tháng Quý Hợi, năm Mậu Ngọ, nó trùng khít với sinh nhật của của thám tử lúc 12h ngày 16.11.1978. Những chỉ dấu song trùng rất khó nắm bắt, khiến độc giả phải rất tập trung mới theo kịp.- VB.
12/5/2024
Trần Chiến
Nguồn: Thể Thao và Văn Hóa
Theo https://vanvn.vn/

Giao hưởng Điện Biên - Thành tựu mới của nhà thơ Hữu Thỉnh

Giao hưởng Điện Biên - Thành tựu
mới của nhà thơ Hữu Thỉnh

Chiến thắng Điện Biên là một chiến thắng vĩ đại của chúng ta “Lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu” (Tố Hữu). Chiến thắng đó làm rạng danh nước Việt trên thế giới. “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ Quyết chiến Quyết thằng bay trên nóc hầm tướng Đờ cát, ngày 12 tháng 5 Bác Hồ đã có bài thơ dài đăng trên báo Nhân Dân : “Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ”. Rồi sau đó Tố Hữu mới có bài thơ nổi tiếng “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”. Điện Biên còn được các nhà thơ, nhà văn Việt Nam nhắc đến nhiều trong các bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Điện Biên cũng được nhắc đến trong các cuốn sách của đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, nhà báo của ta và phương Tây.
Năm nay kỉ niệm 70  năm ngày quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ, nhà thơ Hữu Thỉnh đã ở tuổi 82 vừa cho ra mắt tập trường ca “Giao Hưởng Điện Biên”. Đây là một cố gắng rất lớn, một  thành tựu mới đáng ghi nhận của nhà thơ.
Theo chúng tôi, có hai nhà thơ viết trường ca giàu thành tựu nổi bật  là Thanh Thảo và Hữu Thỉnh, trong đội ngũ  đông đảo các  nhà thơ chiến sĩ viết trường ca  như  Thu Bồn, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Anh Thái, Nguyễn Anh Nông, Nguyễn Quang Thuyên,…
Nhà thơ Hữu Thỉnh đã từng viết Đường tới thành phố (1979), Trường ca biển (1994),  Sức bền của đất (2004), Trăng Tân Trào (2016) và năm nay 2024 là trường ca Giao hưởng Điện Biên.
Một con số ấn tượng.
Khi đã viết và công bố nhiều trường ca, sẽ có nhiều kinh nghiệm tổ chức tác phẩm, nhiều kinh nghiệm xử lí đề tài, nhưng sẽ có một khó khăn  cực lớn là có thể cảm xúc sẽ không còn dồi dào, năng lực sáng tạo có thể không còn sung mãn. Liệu người viết có thể vượt qua được thử thách đó không? Chưa kể một khó khăn khác là : “Chiến thắng Điện Biên Phủ đã được các nhà quân sự, các sử gia, các nhà văn, nhà báo và nhất là những người trong cuộc nói tới rất nhiều rồi, khai thác dưới mọi khía cạnh rồi, đến lượt mình, liệu tôi còn có thể đem đến một cái gì mới?” (Lời tác giả).
Vượt qua tất cả những thách thức, khó khăn đó, nhà thơ khởi viết bản trường ca này ngày 7 tháng 5 năm 2023 và hoàn thành ngày 20 tháng 3 năm 2024, chưa đầy một năm, kịp chào đón 70  năm chiến thắng Điện Biên đang tới. Một cường độ làm việc cao, rất cao với người viết đã vào tuổi ngoài 80.
Trường ca gồm có 21 chương và 5 bình luận xen kẽ viết  bằng thơ về các sự kiện quan trọng. Theo tác giả, cảm hứng lớn là nhờ đọc cuốn sách “Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do nhà văn Hữu Mai thể hiện. Hữu Thỉnh cũng nhiều lần trở lại Điện Biên và gặp gỡ một số nhân chứng. Điện Biên Phủ là một chiến dịch Lịch sử, nên nhà thơ muốn tái hiện trong trường ca của mình chính xác những chi tiết lịch sử. Với tinh thần như thế nên “các câu thơ ảo” vốn là điểm mạnh của tác giả đã nhường chỗ cho các câu thơ thực, trung thực với Lịch sử. Nhà thơ lo  lắng, băn khoăn “liệu tôi có thể đem đến một cái gì mới?”. Thưa, rất nhiều cái mới. Chưa kể  những câu thơ mới mẻ được viết với nhiệt huyết, với cảm hứng tri ân “Kính dâng hương hồn Đại tướng Võ Nguyên Giáp và thế hệ cha anh đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”. Bạn đọc có thể thấy Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc  bí mật ra nước ngoài trong chương I “ Người ra trận đầu tiên”. Tư liệu này mới được công bố năm 1995.   Những câu thơ ảo quen thuộc gợi cảm  của ngòi bút  tài hoa Hữu Thỉnh: Bác lẫn vào mây, mây lẫn núi/dốc dài dép mỏng bước du xuân/Việt Bắc tiễn người chim náo nức/biên giới ngày qua lại xích gần.
Sẽ gặp  hình ảnh sinh động của nhà thơ Chính Hữu (chương VIII) cùng với các văn nghệ sĩ  khác trong  kháng chiến mà  ông gặp gỡ như Nguyễn Tuân, Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Thâm Tâm,… Cũng có thể thấy cảnh chiến sĩ đọc thơ Bác trước khi nổ súng (chương X), gặp “Người đóng cối xay bên đường 41”, người tham gia “đánh Điện Biên theo cách của mình” (chương XIII). Và  thấy  “Làng phản chiến bên bờ sông Nậm Rốm” (chương XVI). Mặc dù những chi tiết, nhà thơ căn cứ vào cuốn sách dịch “Tướng Nava với trận Điện Biên Phủ”, nhưng số phận của những người lính Pháp nhiều quốc tịch khác nhau cùng với người phụ nữ Việt có tên Lò Thị Trinh được diễn tả bằng những câu thơ cảm động. Trong chương XVII “ Những bí mật trên đồi A1”, nhà thơ viết về người chiến sĩ thầm lặng phá bom lấy thốc nổ và điểm hỏa tấn bộc phá dưới hầm sâu Nguyễn Văn Bạch.
Chương XX, tác giả viết về những nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà lãnh đạo  Lương Ngọc Trác, Đỗ Nhuận, Hoàng Vân, Thái Duy, Thép Mới, Vũ Cao, Văn Phác, Phác Văn, Mạc Ninh, Trần Độ, Nguyễn Bích, Mai Văn Hiến,  Nguyễn Sáng, Tố Hữu, Hữu Mai, Trần Dần. Chương này như một bảng vàng ghi danh những đóng góp của văn nghệ sĩ với tên chung “Binh chủng tinh thần”.
Trong 5 bình luận bằng thơ xen kẽ các chương, chúng tôi muốn lưu ý bạn đọc bình luận thứ nhất về tướng Na Va: Ông đích thân kiểm tra từng cứ điểm/ Ngó nghiêng từng lỗ châu mai/ ông hài lòng vỗ vai binh lính/ chụp ảnh chung bên khẩu pháo nòng dài/ Đêm sập xuống. Sâm panh sủi bọt/ cây no en nhấp nhánh đèn mầu/ xung quanh ông những sĩ quan cấp dưới/ chạm li rồi tâng bốc lẫn nhau.
Nhà thơ bình luận khá khách quan, hiền lành và đúng mực. Chúng ta hãy xem Bác Hồ bình luận 1954: Chúng khoe rằng: “Kế hoạch Na-va/ Thật là mạnh dạn và tài hoa./ Phen này Việt Minh phải biết tay,/ Quan thầy Mỹ thì vui lòng thay!”/ Các báo phản động khắp thế giới/ Inh ỏi tâng bốc Na-va tới.[  ]/ “Mình có thầy Mỹ lo cung cấp;/ Máy bay cao cao, xe tăng thấp,/ Lại có Na-va cùng Cô-nhi,// Những tay tướng giỏi nắm chỉ huy./ Chúng mình chuyến này nhất định thắng,/ Việt Minh ắt thua chạy quýnh cẳng”.[  ]/ Quân giặc chống cự tuy rất hăng,/ Quân ta anh dũng ít ai bằng./ Na-va, Cô-nhi đều méo mặt,/ Quân giặc tan hoang, ta vây chặt,- (Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ).
Dẫn ra điều này chúng tôi  muốn chứng minh rằng nhà thơ Hữu Thỉnh đã tìm cách thể hiện mới và khác, mang bản sắc  riêng của mình đối với một sự kiện.
Đánh giá khái quát về tập trường ca này, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho rằng: “Tất cả chương hồi, câu chuyện, sự kiện cơ bản ở vùng miền núi Tây Bắc đến các nhân vật đã được nhà thơ Hữu Thỉnh tái hiện sinh động, sâu sắc và kỳ vĩ”.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa  đánh giá: “nhà thơ Hữu Thỉnh đã một mình mở một trận Điện Biên Phủ bằng văn chương, thơ Hữu Thỉnh luôn luôn có một giọng điệu riêng không lẫn với ai”.
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, người cũng đã từng viết trường ca thì  nhận định : “Với độ lùi 70 năm, được chiêm nghiệm sâu sắc, tác phẩm là ngọn lửa nhiệt huyết, bền bỉ lan tỏa sức mạnh yêu nước của người Việt. 21 chương là 21 con dốc gian nan với chính tác giả, thử thách sức bền của cây bút”. (Dẫn theo tường thuật của Thanh Bình – Ra mắt trường ca Giao hưởng Điện Biên của nhà thơ Hữu Thỉnh, vanvn.vn).
Có thể nói đây là một cố gắng mới vượt bậc, thành công mới to lớn của nhà thơ Hữu Thỉnh.
Nếu có chút lăn tăn thì  đó là chuyện dẫn sai một từ  bản dịch thơ Bác ở trang 17. Cũng thiếu chính xác một từ trong  trích câu thơ của Nguyễn Đình Thi ở trang 68. Trang 84 có dòng thơ “Thiếu thuốc lục phân rơi”. Phải là phân dơi mới đúng. “Theo kết quả phân tích của các nhà khoa học, trong phân của loài dơi có chứa rất nhiều muối kali nitrate hay còn được gọi là diêm tiêu. Hóa chất này là thành phần chính trong nhiều loại phân bón. Đồng thời, nó cũng được sử dụng để làm thuốc nổ và ngòi nổ” ( Nguồn: Toplist).  Và tất nhiên, ưu tiên cho thơ viết về người thật, việc thật nên một đôi chỗ  thơ có tính chất “diễn ca”, kể chuyện “nôm na”. May mà những câu như thế không nhiều, nếu được gia công, trau chuốt hơn, ảo hơn, thì tốt biết bao.
Bảy mươi năm Điện Biên Phủ chiến thắng giặc Pháp. Cũng là 51 năm Điện Biên Phủ trên không chiến thắng máy bay Mĩ trên bầu trời Hà Nội. Điện Biên  là một mốc son chói lọi trong chiến công của dân tộc cùng với chiến công Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa,.. mãi mãi âm vang.
Thật tự hào với chiến thắng Điện Biên. Như bốn câu thơ đề từ của tác giả Hữu Thỉnh và được trích trang trọng trên bìa 4:
Điện Biên Phủ từng giờ từng phút/Đang gửi đi thông điệp khắp hành tinh/ những lời hịch của tự do, độc lập/ những khát khao cháy bỏng hòa bình.
“Giao hưởng Điện Biên” đang góp âm thanh hùng tráng vào bản hùng ca Đại hợp xướng –  ca ngợi đất nước, ca ngợi khát vọng hòa bình của dân tộc,  thật vô cùng kịp thời, có ý nghĩa to lớn, có giá trị lâu dài.
12/5/2024
Vũ Nho
Theo https://vanvn.vn/

Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn và những câu thơ dự cảm

Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn
và những câu thơ dự cảm…

Một ngày giữa tháng 3 năm 2024, tôi cùng một nhóm nhà văn ghé thăm tư gia của họa sĩ điêu khắc Nguyễn Văn Tuấn ở Phú Xuyên, Hà Nội. Sau buổi hàn huyên Tuấn trao cho tôi 2 tập bản thảo và dặn: “Tôi xuất bản hai tập thơ này, ông giúp tôi nhé!”. Giờ đây, khi những trang bản thảo của hai ấn phẩm Từ trong thớ gỗ và Cởi áo mùa yêu có quyết định xuất bản, thì người họa sỹ tài hoa và hào sảng ấy đã về miền mây trắng.
Họa sĩ điêu khắc Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1974, năm Giáp Thìn này anh vừa chạm tuổi ngũ tuần, cái tuổi bắt đầu “chín” cả về sự lao động nghệ thuật và cuộc sống, bởi vậy nên sau sự ra đi đột ngột của anh là bao dở dang gửi lại. Người họa sỹĩ ấy đi rồi, nhưng bạn bè và bạn đọc như vẫn thấy anh đâu đó trong hồn vía một câu thơ, một pho tượng, một bức vẽ ấn tượng mà anh để lại cõi này! Nguyễn Văn Tuấn là một nhà điêu khắc, một thi sĩ thực sự có tài. Những tác phẩm điêu khắc của anh hiện diện trong rất nhiều công trình đền chùa miếu mạo trong vài chục năm trở lại đây!
Với thơ, Nguyễn Văn Tuấn chưa xuất bản tập thơ riêng nào, nhưng số lượng thơ mà anh sáng tác đã đến cả mấy trăm bài, thơ của Tuấn luôn phảng phất những sắc màu khác lạ. Khi Tuấn đi rồi, tôi ngồi đọc cả hai tập bản thảo thơ anh, và nhận ra nhiều bài thơ trong ấy chạm đến sự tử sinh, ly biệt theo cách của một cuộc xê dịch và giải thoát. Thơ ấy, như là sự dự cảm về một cuộc thiên di của người họa sỹ, thi sỹ ấy!
Từ trong thớ gỗ là một tập thơ mang những phát hiện và chiêm nghiệm của người thơ đã bắt đầu có sự đốn ngộ để chạm đến những tầng thức mới trong cõi chữ của mình. Thơ Nguyễn Văn Tuấn đa diện, đa chiều, câu chữ hàm ngôn, ám gợi, tư tưởng thơ đọng lại ở sự quyết liệt và tận hiến cho những gì thuộc về bản thể của cõi người. Mở một cung Tết được kích hoạt bằng sự tinh tế kỳ diệu của mùa xuân: Những ký tự chồi non bừng thức/ Những nhụy hoa chấp chới gió mơn/ Mưa lún phún dậy thì phơi phới/ Đất chuyển mình hòa nhịp trời cao/ Nhân gian rùng mình xóa nợ/ Những trắng đen được mất đón giao thừa/ Vò rượu mạnh bên mái nhà gianh cũ/ Ánh đèn dầu bùng cháy thuở xưa/ Làn khói bếp bây giờ còn ngái/ Chúng mình chúc nhau bằng ký tự lên men. (Kích hoạt).
Cái cách lập ngôn ấy, đã hứa hẹn những tìm tòi mới mẻ trong ngôn ngữ thơ. Thơ ấy sống bằng sự lay gợi, thơ ấy tiếp cận và đưa những cung bậc cảm xúc của con người, hòa nhập vào tự nhiên ở những chiều thức mới:
Trăng đêm nay nóng lạnh/ Gió đêm nay non mềm/ Những hàng cây làm mẫu/ Đứng khỏa thân cho lũ chim ngủ mê/…/…/ Em đòng đòng mẩy quá/ Uống gió hân hoan/ Thơm mùi đa đoan/ Hẹn ngày căng sữa/ Hẹn ngày giáp hạt/ Em ta mắt môi giáp hạt/ Ta giáp hạt/ Đêm giáp hạt bình minh/ Sớm mai người cắt cỏ/ Nhặt lên những chiếc khuy… (Giáp hạt).
Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Văn Tuấn có nhiều câu chữ được lạ hóa để tạo nên những đơn vị ngôn ngữ có sức gợi mở mới, khiến những thi ảnh quen thuộc được nâng tải lên một tầng nghĩa mới: Thời gian đi qua…/ Ba mươi mùa lá thức/ Lá vẫn xanh, sợi tóc vẫn xanh/ Trời kia điểm bạc/ Sợi tóc đã hóa dòng Nhuệ Giang/ Ta ngụp lặn/ Giặt lại chính mình/ Giặt mùi phố thị. (Sợi tóc ta say).
Có thể nói ý thức sáng tạo đã dựng thành một hệ thống ngôn ngữ thơ trong sáng tác của anh! Thơ ấy là kết quả của sự lao động nghệ thuật từ tư duy, chứ không phải là những câu chữ ngẫu hứng, được mặc sức sinh ra từ cảm xúc: Cởi trần ngực núi/ Cởi trần mắt ai…/…/…Rượu Bắc Hà nghiêng mây/ Nghiêng cạp váy/ Ta uống em say/ Ta uống cho mây đầy ngực/ Uống cho thung lũng phì nhiêu/ Uống cho con suối róc rách/ Ta dốc ngược Bắc Hà trong nhau. (Bắc Hà nghiêng mây).
Đọc thơ là lúc chúng ta được dự khán những cuộc lập ngôi của câu chữ, bởi vậy nó tuyệt nhiên không thể là những câu chữ dễ dãi, mà không ít người viết đã sử dụng để lắp đặt cho đủ số lượng, vần điệu, nhịp mạch của một thể thức thơ nào đó. Người làm thơ là người viết ra những gì anh ta nghĩ, anh ta tư duy về cái anh ta đã thấy trong cuộc sống, thơ ấy mới là thơ của trí tuệ, của tư tưởng, đó là cái đích đến của thi ca muôn thuở: Sớm nay cơn mưa tư duy/ Thẩm thấu vào sỏi đá…/…/… Ta ngồi thiền quá khứ/ Ta vặn ngược hồng cầu/ Trở về một thời loa kèn trắng/ Thổi vào nhau những giai điệu nhiệm màu. (Vặn ngược hồng cầu).
Đọc thơ Nguyễn Văn Tuấn qua hai tập thơ này, thấy rất nhiều câu chữ tự lập ngôi vị của mình bằng sự mới lạ, bằng một tư duy thơ khá độc đáo: Những con chữ giao hoan/ Những con chữ tha hồ đẻ trứng/ Ngày tiếp ngày đong sấp ngửa bày ra/ Lộ rõ những mặt người trăm vạn thể. (Thả vía facebook).
Tiếc thế, nhiều năm qua những trang thơ của họa sỹ điêu khắc Nguyễn Văn Tuấn đã thầm lặng một hành trình thơ tản mạn trong cõi thế, vừa mới chọn được duyên để xuất bản và khởi động một hành trình mới, thì người thơ đã vội vã phiêu du miền mây trắng. Người thơ đã ra đi, để lại những khoảng trống hun hút, những dở dang tiếc nuối từ bạn bè và người đọc phía sau câu chữ ấy!
Trong khoảng vài năm trở lại đây, đọc những sáng tác của Tuấn, thấy anh đề cập và lý giải chuyện sinh tử, chuyện “ra đi” với tần suất khá nhiều, có vẻ như thơ đã dự cảm được cuộc thiên di lớn nhất của đời anh: Nếu một mai anh đi xa/ Em đừng buồn đừng rơi nước mắt/ Mỗi khi hoàng hôn vụt tắt/ Em lặng ngồi trên nấm mộ xanh/…/ Xin run rẩy suối nguồn mát ngọt/ Để âm thầm anh uống những giọt em. (Những giọt em).
Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn đột ngột rời cõi tạm trong lúc đang ngủ, do đột quỵ lúc 02h sáng ngày 01.4.2024. Sự ra đi của anh khiến nhiều bạn văn, bạn vẽ của anh cảm thấy sốc, nhưng giờ đây, khi ngồi đọc thơ Tuấn thì tôi ngạc nhiên, bởi cả cái sự đột ngột giã từ cõi thế và cái cách “ra đi” của anh cũng đã nằm phục sẵn trong bài thơ Tái sinh anh viết từ năm 2018: Chẳng còn giọt nào để sống trong tình này/ Tim đột tử xuống Diêm Vương phán xử/ Cân tội tình nhân gian thế sự/ Diêm Vương phán tội chung tình/ Chuyển sang gặp Mạnh Bà/ Ăn bát cháo lú/ Qua cầu Nại Hà/ Tái sinh… (Tái sinh).
Sự chết trong thơ Tuấn không nặng nề, bi lụy bởi cách lập ngôn của anh, phải chăng những câu thơ dự cảm này, muốn người ở lại đỡ đau, đỡ nghẹn trước khi người thơ ấy rời bỏ thế gian này: Ký ức về trên khói thuốc/ Ta đóng đinh bên ly cà phê/ Ta đếm giọt/ Giọt này cho mắt em/ Giọt này cho tim anh/ Giọt này cho những ngày xa/ Giọt này cho bài thơ hóa kiếp… (Mùa thu chịu tang).
Ấn phẩm Từ trong thớ gỗ được tạo nên bởi những câu chữ thiên về những sự ngộ giải của kiếp người trong cõi tạm. Còn tập Cởi áo mùa yêu là một tập thơ tình, vậy mà người đọc cũng gặp rất nhiều câu thơ tiếp cận cõi tử của Tuấn, thơ ấy anh viết như anh đã từng đến, đã tiếp cận với cõi tử ấy: Đôi bờ bỉ ngạn trổ hoa/ Vong Xuyên sông thắm máu nhòa tình ai/ Mạnh Bà canh dứt tình dài/ Nại Hà ai đợi sương phai mịt mùng. (Bỉ Ngạn).
Thơ Tuấn đan xen rất nhiều cung bậc, có những cung chữ ám gợi và dẫn động, lại có những cung bậc dịu dàng như hương đồng gió nội, vô tư gieo trổ vào một cuộc phù sinh: Tháng Tư về ngang ngõ/ Trải nắng vàng non tơ/ Ô kìa gió ngủ nướng/ Để mây hồng ngẩn ngơ…/…/… Em như hoa đồng nội/ Nở trong đáy mắt anh/ Nồng nàn và dịu mát/ Ươm tình ta mãi xanh. (Tháng Tư về).
Đôi chỗ, thơ Tuấn nền nã, dịu mềm trong một vuông cổ tích, cái mềm dịu mamg màu nho nhã của một văn nhân: Mưa bay rắc bụi mưa ơi/ Gió non nhắn nhủ những lời cỏ hoa/ Mực Tàu, giấy đỏ giao thoa/ Văn chương khai bút, thơ hòa vào xuân. (Vào xuân).
Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn là người làm chuyên sâu về tượng thờ và phù điêu cho nhiều công trình văn hóa tâm linh, tác phẩm của anh đã được giới chuyên môn đánh giá cao! Những tác phẩm điêu khắc của Tuấn thì ấn tượng, rõ nét, chứa chất hồn vía các tầng văn hóa phương Đông, còn thơ của Tuấn thì đầy những bung mở, tìm tòi sáng tạo! Câu chữ thơ ấy được sinh ra từ góc nhìn và tư duy của một họa sỹ, đã làm nên cái nét riêng trong những trang thơ của anh!
Người họa sỹ, nghệ nhân điêu khắc, người thơ hào sảng ấy đã đi xa, căn nhà nơi anh ở tại xã Hồng Minh, huyện Phú Xuyên, Hà Nội vẫn còn đó ngổn ngang những sáng tạo dở dang của một người nghệ sỹ! Một trang đời đã khép lại, nhưng những trang thơ từ hai thi phẩm Từ trong thớ gỗ và Cởi áo mùa yêu của Nguyễn Văn Tuấn thì còn mãi mở ra cùng những buồn vui nơi thế cuộc này!.
12/5/2024
Nguyễn Thế Kiên
Theo https://vanvn.vn/

Nhà thơ Chế Lan Viên "Gặp" Nguyễn Du trên đất Quảng Bình

Nhà thơ Chế Lan Viên "Gặp"
Nguyễn Du trên đất Quảng Bình

Nhà thơ Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan (SN 1920), tại Cam Lộ, Quảng Trị; học và thành danh ở Quy Nhơn, Bình Định với tập thơ “Điêu tàn” lúc mới 17 tuổi. Ông là một trong những nhà thơ đương đại được nhiều người mến mộ. Đúng dịp kỷ niệm 200 ngày sinh Nguyễn Du (1765-1965), ông có chuyến thực tế Quảng Bình và một trong những bài thơ nổi tiếng được ông sáng tác trong chuyến đi thực tế này là bài Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ.
Năm 1965, giặc Mỹ leo thang bắn phá Bắc miền Trung hết sức ác liệt. Khi nhà thơ đi ngang qua Nghệ-Tĩnh thì “Pháo sáng đốt trên nhà của Nguyễn” và “Bến phà Vinh bom cắt hai đầu”. Tác giả nói với “em”-đối tượng trữ tình trong bài thơ:
Anh qua nhà của Nguyễn chả dừng lâu
Nhớ đến Nguyễn, ngước nhìn Hồng Lĩnh vậy
Tại sao nhớ đến Nguyễn Du, tác giả “ngước nhìn Hồng Lĩnh”? Có 3 lý do sau đây: Thứ nhất bởi Hồng Lĩnh là quê hương của Đại thi hào, thứ hai bởi Hồng Lĩnh xuất hiện khá nhiều trong “Thanh Hiên thi tập” và “Nam Trung tạp ngâm” (hai tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du), thứ ba bởi trong 99 đỉnh núi Hồng, Đại thi hào Nguyễn Du là đỉnh cao nhất (ý thơ Nguyễn Hành-cháu ruột Nguyễn Du).
Vừa đặt chân đến đất Quảng Bình, điều làm nhà thơ Chế Lan Viên ngạc nhiên nhất là:
Có ngờ đâu cồn cát trắng cây xanh
Gặp Nguyễn nơi đây trên đất Quảng Bình
Đất hỏa tuyến những chàng trai lớp bảy
Lại ngâm Kiều sau một cuộc giao tranh
Qua Nghệ-Tĩnh, nhà thơ “nhớ đến Nguyễn”, nhưng khi đến Quảng Bình thì nhà thơ mới thực sự “gặp Nguyễn”. Bởi vì, tuy Quảng Bình không phải quê hương Đại thi hào nhưng người dân Quảng Bình lại rất mê Truyện Kiều. Quảng Bình vào thời điểm đó đang có phong trào “Tiếng hát át tiếng bom”. Quân và dân Quảng Bình không chỉ ca hát mà còn đọc thơ, ngâm thơ, diễn kịch… Không khí lạc quan, yêu đời lan truyền khắp thôn, làng.
“Các chàng trai lớp bảy” ở Quảng Bình thời ấy trong đó có “một lứa bên trời”, gồm: Hoàng Vũ Thuật, Lê Xuân Đố, Hải Kỳ, Ngô Minh, Đỗ Hoàng, Lý Hoài Xuân, Lê Đình Ty, Hồng Thế… và lớp sau, gồm: Hoàng Hiếu Nhân, Nguyễn Hữu Quý, Trần Quang Đạo, Thai Sắc, Mai Nam Thắng… Họ đọc thuộc lòng hàng trăm câu thơ Kiều. Ngoài giờ học, thanh thiếu niên còn tham gia tiếp tế cơm nước, bánh trái, đạn dược cho pháo thủ ở các trận địa phòng không. Bởi vậy, câu: Đất hỏa tuyến những chàng trai lớp bảy/Lại ngâm Kiều sau một cuộc giao tranh dù tác giả có hư cấu đi chăng nữa thì cũng hư cấu trên cơ sở có thực.
Không chỉ lớp trẻ, mà lớp người đứng tuổi như mẹ Suốt cũng rất mê Kiều:
Đêm thắng giặc Bảo Ninh, mẹ Suốt ngâm Kiều
Mẹ dám đâu quên cái thuở khổ nghèo
Nhà ai đó lẩy Kiều, câu được, mất
Mẹ nấp gốc dừa, nước mắt ràn theo
Điều này chứng tỏ dân Quảng Bình mê Truyện Kiều từ thế hệ này qua thế hệ khác. “Cái thuở khổ nghèo” là cái thuở mẹ Suốt “Lớn đi ở bốn cửa người/Mười hai năm lẻ một thời xuân qua” (Tố Hữu). Mẹ khóc cho số phận nàng Kiều cũng là khóc cho số phận hẩm hiu của mình. Bởi “Thơ là một điệu hồn đi tìm đến những tâm hồn đồng điệu” (Tố Hữu). Thời xa xưa ấy, nhà ai đó ở Bảo Ninh đã biết lẩy Kiều rồi. Người Quảng Bình không chỉ thuộc Kiều, ngâm Kiều, lẩy Kiều mà còn biết tập Kiều, hát Kiều, đố Kiều, bói Kiều… Nhà giáo Hoàng Hiếu Nghĩa ở xã Quảng Hòa (TX. Ba Đồn) đã đúc kết điều đó trong tập sách dày 200 trang với tựa đề “Vui với Truyện Kiều” (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2018).
Có bà cụ ở xã Thanh Trạch, Bố Trạch (cô ruột nhà văn Hoàng Bình Trọng) còn đọc ngược Truyện Kiều mà không nhìn vào sách. Nhà văn Hoàng Bình Trọng đã viết thành truyện ngắn lấy bà làm nguyên mẫu. Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Đình Cống (quê Quảng Phong, TX. Ba Đồn) nhờ nắm được bí quyết đọc ngược Truyện Kiều từ truyện ngắn của nhà văn Hoàng Bình Trọng mà chiếm giải đặc biệt trong cuộc thi “Đọc thuộc Truyện Kiều” do Hội Kiều học Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, năm 2020. Cũng hiếm địa phương nào trong cả nước có nhiều câu lạc bộ (CLB) hát Kiều như ở Quảng Bình, như: CLB hát Kiều Pháp Kệ, CLB hát Kiều Lâm Lang, CLB hát Kiều Quảng Phương…
Tác giả Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ không chỉ gặp Nguyễn Du qua người Quảng Bình mà còn gặp Nguyễn Du qua cảnh sắc thiên nhiên Quảng Bình. Đó là “Cồn cát trắng”; đó là “Thuyền ai thấp thoáng”; đó là “Nhật Lệ sông dài”… mà Nguyễn Du đã từng nhìn ngắm trong bốn năm làm Cai bạ Quảng Bình và tái hiện qua những câu: “Cát vàng cồn nọ”, “Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”, “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”, “Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”…
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà thơ Chế Lan Viên có khoảng 40 bài thơ viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều với những suy ngẫm hết sức sâu sắc. Nhưng có thể khẳng định, bài Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ là bài ấn tượng nhất. Phải đến Quảng Bình trong những ngày tháng bom đạn ngút trời, nhà thơ mới cảm nhận hết sức sống mãnh liệt của Truyện Kiều. Tác giả mới nhận ra rằng:
Bốn phía ruộng đồng mái rạ bờ tre
Trận địa nằm man mác giữa hương quê…
Thơ dân tộc lẫn màu nâu dân dã
Nên câu Kiều đồng vọng, họ còn nghe
Tác giả mới phát hiện:
Câu thơ Nguyễn cũng góp phần chống Mỹ
Một mái chèo trong lửa đạn xông pha
Và:
Hai trăm năm… ờ nhỉ… hai trăm năm
Thuở vui buồn… Kiều sống giữa lòng dân
Nhà thơ nhắn gửi với “em”-đối tượng trữ tình-nhưng cũng là lời nhắc nhở với chính mình:
Đất nước mình nghèo lắm, hỡi em yêu
Cho đến giọt lệ cha ông cũng còn có ích với ta nhiều…
Dẫu súng đạn nặng đường ra hỏa tuyến
Đi đường dài, em giữ Truyện Kiều theo.
14/5/2024
Mai Văn Hoan
Nguồn: Báo Quảng Bình 2024
Theo https://vanvn.vn/

Bạo lực và rối loạn tâm trí trong sáng tác của Edgar Allan Poe

Bạo lực và rối loạn tâm trí trong
sáng tác của Edgar Allan Poe

Edgar Allan Poe đã “trình làng” ngài thám tử lập dị C. Auguste Dupin, nhân vật truyền cảm hứng cho Sherlock Holmes của Conan Doyle hay Hercule Poirot của Agatha Christie.
Edgar Allan Poe (1809-1849) là một nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình người Mỹ. Ông được xem là người đặt ra các quy ước về truyện trinh thám cổ điển, khởi đầu cho thể loại khoa học viễn tưởng hiện đại và nâng tầm tiểu thuyết Gothic đầy chất nghệ thuật hơn.
Bầu không khí rờn rợn trong truyện của Edgar Poe
Poe từng trải qua một thời thơ ấu đau thương khi cha mẹ lần lượt qua đời, chính điều đó đã ám ảnh vào từng trang viết của ông, khiến những câu chuyện mang một bầu không khí u uẩn và rờn rợn. Năm 1891, truyện ngắn nổi tiếng Vụ án mạng đường Morgue với sự xuất hiện của Dupin đã mở đường cho thể loại truyện chủ đề trinh thám – hình sự đầu tiên trên thế giới và mô típ án mạng căn phòng kín (whodunnit).
Truyện ngắn Sự sụp đổ của dòng họ Usher là tập hợp của những gì thường thấy trong một câu chuyện của Poe: một ngôi nhà kiểu Gothic, một người kể chuyện điên loạn, nỗi cô độc, chuyện chôn sống và một bộ óc tâm thần.
Người khách vô danh nhận được một lá thư mời đến nhà từ Roderick Usher. Tại đây, người dẫn truyện phát hiện ra Roderick còn có một người em song sinh tên là Madeline đang bị hôn mê. Roderick dần có những hành động kỳ quái và rồi anh tuyên bố em gái mình đã chết.
Anh nhờ người dẫn chuyện cùng khiêng quan tài cô gái đi chôn. Tới đây, những âm thanh nỉ non quái đản dần xuất hiện, gieo vào lòng Roderick nỗi nghi hoặc và dần mất đi lý trí. Trước khi ngành tâm thần học ra đời, Poe đã viết về hội chứng thúc đẩy giác quan diễn ra khi mọi cảm xúc bị đẩy nhanh vì nhạy cảm quá mức, về hội chứng sức ép bệnh tật và chứng lo âu cấp tính.
Thế giới nội tâm đầy bạo lực và rối loạn là một nét đặc trưng trong nhiều truyện ngắn của Poe, xuất hiện rõ nét nhất trong Con mèo đen với ngôi kể thứ nhất. Theo Moldenhauer (1968) định nghĩa về chủ nghĩa hùng biện xưng tội là một phong cách viết trong đó người dẫn chuyện “giới thiệu hoặc kết thúc lời tường thuật của mình bằng những cử chỉ tự lên án phức tạp với những dự báo thảm khốc về sự dằn vặt vĩnh viễn trong linh hồn anh ta”.
Kĩ thuật xây dựng truyện cần phải có dung lượng vừa đủ để độc giả tập trung đọc liền mạch, những hình ảnh tưởng tượng độc đáo đem lại cảm giác ghê rợn đến kì lạ. Đây cũng là lí do khiến những truyện ngắn của Poe có vị trí vững chắc trong lòng người đọc đồng thời các phương pháp ẩn dụ và tượng trưng trong truyện của Poe gợi nhớ nhiều đến Nathaniel Hawthorne và Herman Melville.
Trong văn học, hình ảnh mang tính biểu tượng được dùng để truyền tải một thông điệp ẩn ý hoặc mang ý nghĩa tượng trưng nào đó. Ở truyện ngắn Con mèo đen, Poe đã xây dựng hình ảnh con mèo đen làm trung tâm để phát triển cốt truyện tổng thể và các chủ đề xoay quanh.
Từ trước đến nay, mèo đen thường bị gắn liền với nỗi bất hạnh, vận rủi, chết chóc, đặc biệt là đối với những người mê tín. Trong câu chuyện, người kể rất yêu quý con mèo đen nhưng nó sắp thay đổi cuộc đời anh mãi mãi. Con vật u ám đó sắp mang lại bi kịch ập đến hai vợ chồng. Mặc dù không tin, nhưng cô vợ vẫn thường xuyên nhắc đến quan niệm phổ biến cổ xưa, coi tất cả mèo đen đều là những phù thủy ngụy trang. Để đào sâu vào bi kịch, Poe đã đặt tên cho con mèo là Pluto – tên vị thần cai quản địa ngục của người Hy Lạp.
Sự rùng rợn của câu chuyện không đến từ cách thức sát hại mà nằm trong chính sự tâm thần loạn trí của người kể chuyện. Sinh vật mèo đen chính là phép ẩn dụ về tính nghiện rượu đến bê tha của nhân vật người chồng.
Linh hồn anh ta đã bị nhuộm đen, thói rượu chè bê tha đã biến anh từ một người yêu động vật rơi vào trạng thái rối loạn tâm lý, và phản kháng những gì mình đã từng thích thú. Anh ta trở thành tên sát nhân không ghê tay và đổ lỗi tai ương của mình cho con mèo đen. Ngôi nhà trong trường hợp này, là cách ẩn dụ về nấm mồ. Tất cả đã được tác giả dày công chuẩn bị nhằm dẫn dắt độc giả vào hố sâu ngờ vực.
H.P Lovecraft, một trong những người thừa hưởng tinh thần của Poe rõ rệt nhất đã nói “Tình cảm cổ xưa nhất và mạnh mẽ nhất của loài người là nỗi sợ hãi và nỗi sợ hãi cổ xưa nhất, mạnh mẽ nhất là sợ cái gì không biết”. Poe đã khai thác triệt để trong những truyện ngắn của mình, nỗi sợ hãi len lỏi vào tâm trí người đọc, chứ không đơn thuần chỉ là những màn hù dọa giật gân.
14/5/2024
Hiểu Yên
Nguồn: Znews
Theo https://vanvn.vn/

Về một cuốn sách lớn

Về một cuốn sách lớn

Trong dòng chảy văn học Việt Nam, văn học miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 là một mảng hiện thực phong phú, đa dạng, phản ánh những xu hướng sáng tác và phê bình với dấu ấn đặc thù. Tuy nhiên, do nhiều lý do lịch sử giai đoạn này chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và khách quan. Cuốn sách chuyên luận “Lý luận – phê bình văn học miền Nam 1954 – 1975: Tiếp nhận và ứng dụng” (Nxb. Hội Nhà văn, 2023) của PGS.TS Trần Hoài Anh là một công trình quan trọng, góp phần hệ thống hóa và luận giải những khuynh hướng lý luận – phê bình nổi bật trong thời kỳ này, đồng thời đánh giá sự tiếp biến và ảnh hưởng của nó đối với văn học Việt Nam đương đại.
Về cuốn sách của Trần Hoài Anh, đã có những bài phân tích sâu rộng và toàn diện của PGS.TS Cao Thị Hồng: “Trần Hoài Anh với lý luận – phê bình văn học trong đời sống văn học đương đại” qua hai khía cạnh: “Hành trình dấn thân “đi tìm ẩn ngữ văn chương” từ di sản văn học miền Nam 1954 – 1975; và, Hành trình dấn thân “đi tìm ẩn ngữ văn chương” trong văn học thời kỳ đổi mới”. Tác giả Võ Quốc Việt cũng có bài viết khá tỉ mỉ về tác phẩm này, nhấn mạnh vào tinh thần dân tộc, nhân bản, khai phóng trong cuốn sách, coi đây là một đóng góp lớn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân tộc. Những bài viết trên đều mang tính chuyên môn cao, rất giá trị. Riêng tôi khi đọc tác phẩm này lại tiếp nhận dưới góc độ của một người làm thơ, xem đây là một nguồn tư liệu học thuật quan trọng, giúp tôi phản tư và khám phá những khả thể mới của thơ ca.
Điểm nổi bật trong công trình của Trần Hoài Anh là cách ông hệ thống hóa các khuynh hướng lý luận – phê bình, đồng thời đặt ra những câu hỏi gợi mở về mối quan hệ giữa diễn ngôn nghệ thuật và diễn ngôn phê bình. Cách ông nghiên cứu và lý giải từng đối tượng văn học, từ trung đại đến hiện đại, dựa trên phương pháp tiếp cận khoa học, thể hiện tư duy sắc bén, khách quan, đồng thời kết hợp với trực cảm thẩm mỹ tinh tế. Điều đó giúp chuyên luận này vượt ra khỏi phạm vi một khảo cứu đơn thuần, phát triển thành những diễn giải sâu sắc hơn, góp phần định hình lại cách tiếp cận và đánh giá về nền lý luận – phê bình văn học của miền Nam trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Từ đó, Trần Hoài Anh đặt ra những vấn đề mang tính liên ngành, liên thời đại, mở ra hướng tiếp cận mới cho cả giới nghiên cứu và sáng tác trong việc tiếp cận và ứng dụng lý luận – phê bình vào thực tiễn văn chương.
Lý luận – phê bình, theo tôi, không chỉ là công cụ kiến giải mà cần trở thành cuộc đối thoại giữa tác giả, độc giả và nhà nghiên cứu. Nhìn lại lý luận – phê bình văn học miền Nam trước 1975, có thể thấy một nền phê bình đa dạng, cởi mở, đề cao tinh thần tranh biện và khơi gợi sáng tạo. Nó khác biệt với những cách tiếp cận khuôn mẫu, vốn thiên về diễn giải hơn là khơi gợi tranh luận, làm hạn chế khả năng khám phá giá trị mới của tác phẩm và thu hẹp không gian sáng tạo.
Chính trong môi trường học thuật cởi mở ấy, tinh thần canh tân đã trở thành động lực thúc đẩy việc khám phá những khả thể mới của thi ca, giúp nó vượt ra khỏi những khuôn khổ quen thuộc. Với tôi, cách tân thi pháp không phải là đoạn tuyệt với truyền thống mà là cuộc đối thoại không ngừng nghỉ. Các nhà lý luận – phê bình văn học miền Nam trước 1975 đã đặt ra những vấn đề về sự đổi mới thi ca, góp phần mở rộng biên độ biểu đạt của thơ. Điều đó tiếp tục đặt ra một câu hỏi mà người làm thơ hôm nay luôn trăn trở: thơ ca sẽ đi về đâu trong thời đại mới? Lịch sử lý luận – phê bình, những khuynh hướng tư tưởng và tác động của nó đối với nền văn học Việt Nam được trình bày rất khúc chiết trong cuốn sách của Trần Hoài Anh; những cuộc tranh luận mang tính lý luận – phê bình ở miền Nam trước 1975 mà ông đề cập đến trong chuyên luận này cho tôi một bức tranh rõ nét về tư tưởng của các tác giả lý luận – phê bình thời đó, trong đó nổi bật lên tầm quan trọng của sự tiếp nối và sáng tạo trong việc mở rộng biên độ tiếp nhận, đồng thời duy trì tinh thần phản tỉnh và khả năng tương tác với những chuyển biến của văn học và đời sống.
Cuốn sách là một công trình nghiên cứu công phu, được xây dựng trên nền tảng khảo cứu và tổng hợp một khối lượng tư liệu đồ sộ về lý luận – phê bình văn học miền Nam trước 1975. Tác giả đã tiến hành phân tích và đánh giá: “đây là một nền lý luận – phê bình mang tính ứng dụng, thể hiện qua việc vận dụng lý thuyết văn học cả phương Đông lẫn phương Tây, đặc biệt là ứng dụng tư duy mỹ học hiện đại phương Tây để luận giải, khám phá các hiện tượng văn học,…” (tr. 6). Qua đó, Trần Hoài Anh làm sáng tỏ cách thức mà các nhà lý luận – phê bình văn học miền Nam vận dụng vào thực tiễn văn học miền Nam thời ấy và tạo ra những diễn ngôn học thuật có ảnh hưởng sâu rộng. Những cây bút lý luận – phê bình văn học miền Nam trước 1975 được đề cập đến hầu như toàn diện và đầy đủ trong cuốn sách này, với những tên tuổi lớn như Quách Tấn, Nhất Linh, Vũ Bằng, Thạch Chương, Phạm Công Thiện, Tạ Tỵ… và rất nhiều tên tuổi khác.
Bên cạnh việc tái hiện lịch sử lý luận – phê bình văn học miền Nam, cuốn sách còn đưa ra những nhận định sắc sảo về tác động của các khuynh hướng lý luận – phê bình đối với sự vận động và phát triển của văn học Việt Nam, vai trò của nó trong định hướng sáng tác, khuyến khích tinh thần đổi mới và mở rộng biên độ sáng tạo. Nhờ công trình này, nhiều người đọc trong đó có tôi có thể nhìn nhận lại giai đoạn lịch sử ấy một cách khách quan hơn, đồng thời tiếp cận được những giá trị học thuật vốn chưa được khai thác đầy đủ.
Những vấn đề mà các nhà phê bình văn học miền Nam đặt ra – như tự do sáng tạo, bản sắc dân tộc trong tiếp biến văn hóa, ảnh hưởng của văn học thế giới, nhất là phương Tây đối với văn học Việt Nam – vẫn mang tính thời sự đối với người viết hôm nay. Trong một nền văn học hiện đại không ngừng vận động, các câu hỏi về đổi mới thi pháp, về ranh giới giữa truyền thống và cách tân, hay về mối quan hệ giữa cá nhân sáng tạo và thời đại vẫn tiếp tục được đặt ra. Thông qua việc phân tích các trường phái mà các nhà lý luận – phê bình văn học miền Nam đã ứng dụng, như Chủ nghĩa hiện sinh, Phân tâm học, Cấu trúc luận, Hiện tượng luận, Mỹ học tiếp nhận…, cuốn sách của Trần Hoài Anh giúp soi chiếu những vấn đề này dưới góc nhìn lịch sử, đồng thời mở ra hướng tiếp cận mới cho sáng tác đương đại, mang đến những gợi mở quan trọng cho những ai đang tìm kiếm phương thức biểu đạt mới trong sáng tác, nghiên cứu và phê bình văn học. Như tôi thấy, việc sáng tác thơ không nhất thiết phải bám vào những mô hình cũ mà có thể kế thừa và vận dụng những tư tưởng lý luận – phê bình văn học từ miền Nam trước 1975 để phát triển theo hướng rộng mở hơn. Sự liên kết giữa quá khứ và hiện tại trong nghiên cứu của Trần Hoài Anh giúp người đọc thấy rõ hơn những dòng chảy tư tưởng đã và đang ảnh hưởng đến thơ Việt Nam đương đại như thế nào.
Cuốn sách này là công trình học thuật có giá trị, một nguồn tham khảo quan trọng, giúp thế hệ sáng tác hôm nay kết nối với quá khứ để tiếp tục đổi mới, sáng tạo. Bằng việc nhận diện lại các khuynh hướng phê bình văn học miền Nam trước 1975, nó góp phần mở ra những triển vọng mới cho sáng tạo văn chương, đặc biệt trong bối cảnh văn học Việt Nam đang từng bước hội nhập với thế giới.
Từ tinh thần cởi mở của lý luận – phê bình văn học miền Nam trước 1975, tôi nhận thấy sự cần thiết của một nền phê bình hôm nay phải năng động, đa chiều, không bị giới hạn bởi định kiến. Những cuộc tranh luận học thuật cởi mở, công bằng sẽ làm phong phú đời sống văn học, thúc đẩy sáng tạo, mở ra nhiều hướng đi mới cho nghệ thuật ngôn từ. Đó là bài học thiết thực cho nền phê bình đương đại: đồng hành với sáng tác, không ngừng đặt ra những câu hỏi lớn về bản sắc, thi pháp và khả năng đổi mới của thơ ca. Một nền lý luận – phê bình thực sự có sức sống không dừng lại ở việc diễn giải tác phẩm, mà còn góp phần tạo ra những không gian thẩm mỹ mới, giúp người sáng tác mở rộng biên độ ngôn ngữ và hình thức. Cuốn chuyên luận này của Trần Hoài Anh là tác phẩm đầu tiên cho ta một bức tranh bao quát để thấy rõ vai trò quan trọng của lý luận – phê bình trong việc thúc đẩy sự vận động sáng tạo.
Thơ ca vốn không chỉ là cảm xúc, mà còn là ý niệm, là sự tìm kiếm những hình thức biểu đạt mới. Một bài thơ không đơn thuần ghi lại trạng thái tinh thần của người viết, mà còn là sự thể nghiệm không ngừng về cấu trúc, nhịp điệu, ngôn ngữ và tư duy nghệ thuật. Trong quá trình đó, việc tiếp cận lý luận – phê bình, đặc biệt là những nền lý luận – phê bình giàu tinh thần khai phóng và tự do, sẽ giúp kẻ sáng tạo mở rộng tầm nhìn và khám phá những khả thể đa dạng hơn. Những vấn đề như tự do sáng tạo, ranh giới giữa truyền thống và hiện đại luôn được các nhà thơ và nhà phê bình miền Nam tranh luận trước 1975 vẫn đang tiếp tục được đặt ra trong thơ ca hôm nay. Cuốn sách của Trần Hoài Anh giúp tôi nhận ra rằng những cuộc tìm kiếm này không phải là mới mẻ hay đơn lẻ, mà là một phần của dòng chảy tư duy nghệ thuật, nơi mỗi thế hệ sáng tác và phê bình đều góp phần định hình, làm phong phú thêm diễn ngôn văn học.
Một nền thơ ca sôi sục sức sống không thể thiếu một nền lý luận – phê bình sắc bén, có khả năng đặt ra những câu hỏi lớn về nghệ thuật và đời sống. Phê bình không chỉ làm nhiệm vụ nhận diện, lý giải, mà còn góp phần thúc đẩy sáng tác phát triển theo những chiều kích mới. Sự thiếu vắng một nền lý luận – phê bình có chiều sâu sẽ khiến thơ ca dễ rơi vào tình trạng tự lặp lại, thiếu sự phản tỉnh cần thiết để bứt phá khỏi những giới hạn cũ.
Cuốn chuyên luận của Trần Hoài Anh là minh chứng cho giá trị của phê bình mang tính học thuật trong việc thúc đẩy sáng tạo. Không chỉ hệ thống lại một giai đoạn phê bình giàu năng lượng, tác phẩm còn cho thấy cách lý luận văn học tác động trực tiếp đến sáng tác, làm thay đổi tư duy nghệ thuật của cả người viết lẫn người đọc. Cuốn chuyên luận này mang tính gợi mở lớn đối với những ai quan tâm đến sự vận động của văn học Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của lý luận – phê bình trong việc đổi mới sáng tác; nó khẳng định giá trị học thuật và vai trò của phê bình trong việc soi rọi, thúc đẩy sáng tác đương đại. Vì vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi cuốn sách này đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2024: một ghi nhận thật xứng đáng với tầm vóc của nó. Qua đó, ta không chỉ hiểu rõ hơn về di sản lý luận – phê bình văn học miền Nam trước 1975 mà còn nhận thấy sự tiếp nối của những khuynh hướng ấy trong văn chương đương đại. “Văn chương bao giờ cũng là văn chương của mọi thời chứ không phải là văn chương của một thời” (tr. 375).
Bên cạnh giá trị học thuật, tác phẩm còn giúp người sáng tác như tôi soi chiếu lại con đường nghệ thuật của mình. Khi đọc những biện giải của Trần Hoài Anh về cách tiếp cận tác phẩm lý luận – phê bình văn học miền Nam trước 1975, ta dễ nhận ra tinh thần tìm tòi, khám phá ấy vẫn tiếp diễn trong thế hệ hôm nay. Tôi kỳ vọng vào một nền phê bình hôm nay có thể tiếp tục đào sâu, không ngại tranh luận, tạo diễn đàn mở để văn chương Việt Nam phát triển trong tinh thần khai phóng và sáng tạo. Một nền lý luận – phê bình với “tư duy năng động, cởi mở, đa diện, đa chiều” (tr. 512) sẽ không chỉ định hình thẩm mỹ mà còn khơi nguồn cảm hứng, thúc đẩy văn học tiến về phía trước.
Tôi tâm đắc với nhận định của PGS.TS Trần Hoài Anh khi ông khẳng định rằng “lý luận – phê bình văn học ở miền Nam mặc dù có những giới hạn nhất định, nhưng xét cả hai phương diện khoa học và thực tiễn, lý luận – phê bình văn học miền Nam vẫn là một nền lý luận – phê bình văn học có diện mạo riêng, có đời sống riêng, có những đóng góp vào quá trình vận động và phát triển của lý luận – phê bình văn học dân tộc và là một bộ phận không thể thiếu trong nền lý luận – phê bình văn học dân tộc.” (tr. 512, 513)”. Nhìn từ góc độ đó, có thể thấy rằng việc tiếp cận di sản lý luận – phê bình văn học miền Nam, giai đoạn 1954 – 1975, với tinh thần cởi mở và khách quan không chỉ cho phép nhận diện rõ hơn những đóng góp của lĩnh vực này đối với tiến trình vận động của nền lý luận – phê bình văn học dân tộc, mà còn tạo tiền đề mở ra những triển vọng mới cho nghiên cứu và sáng tác văn học đương đại.
Hải Phòng, 3/3/2025
Mai Văn Phấn
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Xuống biển lên trời" - Hành trình trong tưởng tượng

"Xuống biển lên trời"
Hành trình trong tưởng tượng

Chắc hẳn nhiều người đồng tình với suy nghĩ của tôi khi bắt gặp nhan đề Xuống biển lên trời, sẽ nghĩ đó là hành trình của một người có sở thích giang hồ nhưng sự thực lại là cuốn tiểu thuyết thể hiện trí tưởng tượng phong phú của nhà văn Đỗ Xuân Thu về thế giới phẳng của những ký tự trong một chiếc laptop.
Nhà văn Đỗ Xuân Thu nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ là một tác giả rất quen thuộc trên văn đàn cả nước nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng. Đã từ lâu tôi định bụng viết một cái gì đó về anh, Vượt sông ư đã có nhiều người viết và chưa kịp hoàn thiện bài viết thì anh đã lại xuất bản tập mới! Mỗi tác phẩm của anh ra đời hầu như đều có người viết cảm nhận, phê bình…
Năm 2024 là một năm thành công đối với nhà văn Đỗ Xuân Thu, truyện ngắn của anh xuất hiện hầu như ở khắp các trang báo, tạp chí trung ương và địa phương đủ khắp các miền trên đất nước. Bên cạnh truyện ngắn anh còn sáng tác thơ, dù là thơ hay truyện ngắn thì các sáng tác của nhà văn Đỗ Xuân Thu cũng luôn luôn giản dị, gần gũi, mộc mạc và thân thương. Có ai đó đã nói rằng cái đẹp nằm trong sự giản dị và với văn Đỗ Xuân Thu thì trường hợp này thật đúng và năm 2025 trên đà thành công, nhà văn tiếp tục hành trình đi và viết, lại có báo chí khắp các tỉnh thành, lại xuất hiện trên trang điện tử hoặc báo giấy từ trung ương đến các địa phươnng và Quý II năm 2025 anh xuất bản tiểu thuyết Xuống biển lên giời.
Đỗ Xuân Thu trong đời thường là một người giản dị thường gắn với biệt danh là Chõe Bò. Trên trang Facebook bài viết của anh thường gắn với địa danh là Phượng Hùng, Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ.
Đỗ Xuân Thu là người đi nhiều và viết nhiều, chất liệu hiện thực cuộc sống khá giàu có, khá phong phú; đi đến đâu anh cũng có tác phẩm vừa để lưu lại dấu ấn kỷ niệm với mảnh đất mình từng qua vừa để chiêm nghiệm những thực tại mà anh đã được đón nhận trong cuộc sống. Chính vì vậy nên Xuống biển lên giời ban đầu chắc nhiều người đồng ý nghĩ như tôi rằng cuốn tiểu thuyết này chắc hẳn lại mang đậm tính chất ký sự, ghi chép lại hành trình dọc dài đất nước, ghi lại những chặng đường mà anh đã đi qua những mảnh đất mà anh đã đặt chân tới…
Nhưng khi đọc vào tác phẩm mới té ra rằng anh đang viết về những ký tự trên một chiếc laptop. Không thể không thừa nhận trí tưởng tượng của nhà văn thật sự phong phú. Tôi cũng hơn 20 năm làm việc với bàn phím, có những ký tự nhắm mắt vẫn nhớ vị trí nhưng không hề nghĩ sẽ có ngày biến mỗi ký tự hoặc một số ký tự thường dùng thành nhân vật trong sáng tác của mình. Vì lẽ ấy, sự cảm phục của tôi tăng lên gấp nhiều lần khi đọc Xuống biển lên giời của nhà văn Đỗ Xuân Thu.
Xuống biển lên giời là cuốn tiểu thuyết đáng đọc, 260 trang viết chia làm 9 chương với tên gọi khá độc đáo “Chương 1 Những năm tháng bình yên; Chương 2 Biến cố; Chương 3 Thất lạc; Chương 4 Dưới đại dương; Chương 5 Trong mây, Chương 6 Đại dịch, Chương 7 Gặp gỡ; Chương 8 Trợ thủ A.I và Chương 9 Đoàn viên”. Cách đặt tên từng chương, theo trật tự tuyến tính của thời gian có thể hình dung như một hành trình của câu chuyện cổ tích: Có mở đầu bình yên (chương 1)  có diễn biến thăng trầm, thất lạc, gặp khó khăn (chương 2 đến 6) , được giúp đỡ (chương 7,8)  và kết thúc Đoàn viên (Chương 9). Có nét giống hành trình cổ tích bởi cổ tích cũng diễn biến bình yên – biến cố – vượt khó và kết thúc có hậu trong sự đoàn viên hạnh phúc. Có sự tuân thủ cấu trúc thông thường mang tính đặc trưng nổi bật của một tiểu thuyết là phạm vi không gian rộng (như nhan đề gợi ra Xuống biển lên giời); có chia ra từng chương gắn với hành trình số phận nhân vật, gắn với thực tại biến cố của đời sống xã hội theo trình tự thời gian; có hư cấu, tưởng tượng gắn với số phận nhân vật .v.v…
Trước hết, cần khẳng định một điều chắc chắn rằng nhà văn Đỗ Xuân Thu rất chăm làm việc cùng máy tính, có cảm xúc và sự trân trọng, biết ơn đối với những ký tự đã ngày ngày cần mẫn và linh hoạt giúp anh viết nên thơ, nên truyện ngắn và tiểu thuyết. Văn chương chỉ thực sự giá trị khi được sinh ra từ cảm xúc và đồng hành cùng cảm xúc mang thông điệp đến độc giả. Xuống biển lên giời có một thế giới nhân vật phong phú được gọi tên thật dí dỏm Tý chuột (chuột máy tính), bác An (Alt), Y cờ lét (Y) và I bị thịt (I).v.v… Mỗi nhân vật (thực chất là các ký tự được nhân hóa) có tính cách khác nhau, cách hành xử khác nhau nhưng cùng chung ý chí và tâm huyết, trách nhiệm phục vụ “Ông chủ”. `
Xuống biển lên giời kể về làng Chữ Coco, ở đó cuộc sống thanh bình, mỗi nhân vật là mỗi ký tự trên bàn phím được hư cấu thành một thế giới sinh động và bình yên, vui vẻ. Bỗng một ngày xuất hiện những con virut độc hại (tựa như thế giới của con người gặp thiên tai, gặp dịch bệnh…) khiến nhà cửa sập đổ, đường xá không còn nguyên vẹn, dân làng nháo nhác thất lạc, bạt xứ muôn nơi. Và để tìm lại sự bình yên vốn có, mỗi người đều phải nỗ lực trong hành trình tìm kiếm người thân. Nhờ công nghệ A.I, nhờ ChatGPT, sau bao biến cố, hoảng loạn, mọi người đã tìm thấy nhau, về làng đoàn tụ và chung tay xây dựng lại ngôi làng cũ vốn một thời tươi đẹp, bình yên.
Xuống biển lên giời có những đoạn đối thoại thực sự hấp dẫn như trang 23 “4. Ngồi trên chiếc “a còng”, cưỡi trên vầng mây trắng, họ hàng nhà giá An bay trên không trung. Tất cả mọi người ai nấy đều hớn hở…” và trong không khí ấy các nhân vật Tý chuột, Y-cờ-lét, bà Bê béo, Cúc cổ cò, già An, I-cù- lần, I-bị-thịt… đều bị cuốn vào câu hỏi của Y-cờ-lét dành cho Tý chuột Cậu tên là Tý phải không ?, “Vậy cậu là Tý “y dài” hay là Tí “i ngắn” ? Rất thực tế bởi “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”, nhiều khi khó phân định rạch ròi Y, I vì có trường hợp viết được cả hai, như tên người (Tý/ Tí hoặc Sỹ/ Sĩ..), hoặc một số khái niệm khác như Quản lý/ quản lí, Vật lý/ Vật lí.v.v…).
Có những trang viết đậm sắc màu thôn quê bình yên và gần gũi, thân thương, có những trang viết cập nhật thông tinn thời đại số (Chương 8 Trợ thủ A.I)… Cách diễn đạt khéo léo và xây dựng đối thoại hợp tình, hợp lý để thể hiện rõ thông điệp A.I là trí tuệ nhân tạo, thông minh, nhanh, khả năng tổng hợp và tích lũy, kết nối số liệu tốc độ chóng mặt. Tuy nhiên, không thể thay thế hoàn toàn con người được. Là công nghệ nên A.I mang tính kỹ thuật, không chuyển tải được cảm xúc đích thực của con người (Tý chuột và các bạn tìm Y-cờ-lét, Ích-xì- Xuân và cái Chấm chỉ nhờ được A.I với vai trò trợ thủ chứ không có được kết quả hoàn toàn trong hành trình tìm kiếm).
Xuống biển lên giời thành công về sự hư cấu tưởng tượng (yêu cầu mang tính bắt buộc của tiểu thuyết là hư cấu), thành công về giọng điệu dí dỏm tạo sự hấp dẫn… thành công về cách kết nối các chi tiết trong mối quan hệ nhân vật với nhân vật một cách thật khéo léo, vừa “khoe” được chất thơ (của nhà văn từng sáng tác và thành công về thơ), vừa “khoe” được sự lao động công phu, trách nhiệm và vốn sống, vốn ngôn ngữ tiếng Việt phong phú (Thủ trưởng tôi để chào đón năm Canh Tý của “ông chủ” có đến gần 3 trang viết được kiến tạo từ chữ cái T hoặc Th).v.v…
Xuống biển lên giời còn đặc biệt thành công khi nhà văn ở tuổi cách xa thời niên thiếu vài chục niên nhưng sự hóa thân vào độ tuổi thiếu nhi lại tự nhiên và nhuần nhuyễn như chính tác giả đang ở độ tuổi ấy. Thật đáng yêu những chõm chọe, chòng ghẹo của Y-cờ-lét dành cho Tý chuột; thật đáng yêu khi các nhân vật có những sở thích và hành vi vừa hồn nhiên vừa có phần già dặn. Đó là sự hồn nhiên trong veo, tự thân của độ tuổi sinh học, nhưng đó cũng là sự già dặn của một thế hệ được sinh ra, lớn lên khi xã hội trang bị quá nhiều công cụ cho các em trưởng thành, nhất là công cụ của khoa học công nghệ. Nhà văn Đỗ Xuân Thu không chỉ am hiểu mà nhiều khi còn nhập thân vào từng nhân vật nhỏ tuổi để trang viết của mình thêm phần hấp dẫn đối với lứa tuổi thần tiên.
Bên cạnh những thành công của tiểu thuyết Xuống biển lên giời, người đọc mong muốn ở anh gia công thêm ở một số chi tiết ví như “Ngày xưa, Tết đến là lo lắm. Chả thế mà các cụ có câu” Tết đến sau lưng bố mẹ thì mừng, con cháu thì lo”. Lạ đời thế cơ chứ. Chẳng qua là các cụ hài hước, nói ngược để tếu táo cho vui thôi”. Nên thay từ thôi bằng một cách so sánh tương đồng xuất hiện từ đồng dao kiểu “Bong bóng thì chìm/ Gỗ lim thì nổi” bởi như thế thông điệp được rõ ràng và còn được mở rộng sự liên tưởng (vốn là một yêu cầu nên có trong tiểu thuyết).
Không thể phủ nhận nhà văn Đỗ Xuân Thu là người lao động nghệ thuật công phu, cần mẫn; có vốn từ phong phú và tiểu thuyết Xuống biển lên giời với lối diễn đạt giản dị, giọng điệu hóm hỉnh đã thực sự chinh phục được độc giả, cho dù họ là độc giả khó tính. Cuốn tiểu thuyết thành công đã đưa vị thế nhà văn Đỗ Xuân Thu lên một nấc thang cao hơn trên hành trình cống hiến những giá trị văn hóa, văn học nghệ thuật đích thực cho cộng đồng. Đọc tác phẩm của anh, thêm yêu văn học, đã đành; thêm yêu và trân trọng công cụ lao động gắn bó với nghề viết đó là chiếc máy tính để bàn hoặc laptop cầm tay. Biết ơn công cụ đã hiện thực hóa ý tưởng trong đầu văn nghệ sỹ và làm cầu nối để văn học thực sự phục vụ đời sống con người như sứ mệnh vốn có của nó.
Đất Tổ, 1/5/2025
Đỗ Nguyên Thương
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tiểu luận Nguyễn Quỳnh Anh: Đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ

Tiểu luận Nguyễn Quỳnh Anh:
Đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ (1948-1988) là một nghệ sĩ tài năng trên nhiều lĩnh vực: thơ, văn, kịch, họa… ông được đánh giá là nhà viết kịch xuất sắc nhất của nền kịch Việt Nam hiện đại, bên cạnh đó ở lĩnh vực thơ ông cũng có những đóng góp giá trị. Thơ Lưu Quang Vũ không chỉ giàu cảm xúc mà còn đậm tính triết lý và cũng đầy suy tư, trăn trở về con người, về thời đại.
Với các tập thơ Hương cây – Bếp lửa (in chung với Bằng Việt), Mây trắng của đời tôi, Bầy ong trong đêm sâu, Di cảo… Lưu Quang Vũ đã định hình một phong cách thơ độc đáo của một người cầm bút tài hoa và trách nhiệm với cuộc đời, với Đất nước.
Lưu Quang Vũ đến với thơ ca từ những năm bảy mươi của thế kỷ XX, với khoảng 20 năm cầm bút ông đã để lại cho đời hàng trăm bài thơ giá trị. Nổi bật trong các sáng tác của ông là cảm hứng về Đất nước, một Đất nước có bề dày văn hóa lịch sử, có truyền thống kiên cường, bất khuất, một Đất nước tươi đẹp ân tình. Tất cả những điều đó được ông cảm nhận, suy tư theo cách của riêng mình với những mái nhà, dòng sông, luống cày, cây cỏ… và thấm đẫm trong đó là tình yêu Đất nước sâu nặng của nhà thơ. Những bài thơ Sông Hồng, Tiếng Việt, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Thức với quê hương… là những sáng tác tiêu biểu.
Tình yêu Đất nước của Lưu Quang Vũ trước hết là tình yêu với tiếng Việt, ông nhận diện tiếng Việt từ những quan sát, những suy tư, những tìm tòi từ quá khứ. Lịch sử hình thành ngôn ngữ của một dân tộc gắn liền với sự hình thành của tộc người ấy qua hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử:
Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.
Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.
(Tiếng Việt)
Tiếng Việt gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của bao thế hệ, một dân tộc từ trong lam lũ, nhọc nhằn và nhiều lúc khó khăn nhưng vẫn giữ trọn tình yêu với tiếng nói của mình, ngay cả khi Đất nước tạm thời bị xâm chiếm, cai trị tiếng nói ấy vẫn trường tồn. Thông qua nhiều hình ảnh so sánh, nhà thơ đã làm sáng lên những vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc:
Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.
Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.
Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.
Một đảo nhỏ ngoài khơi nhiều kẻ nhận
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già.
(Tiếng Việt)
Trong cảm nhận của nhà thơ tiếng Việt thuở sơ khai như mảnh đá thô sơ nhưng qua thời gian chuốt mài ngày càng trở nên óng ánh, đó là thứ tiếng để hòa hợp lòng người, là thứ tiếng để hướng về nguồn cội, là tiếng nói của tình yêu, của những điều đẹp đẽ, nhân văn. Suy ngẫm và trăn trở của Lưu Quang Vũ về tiếng Việt cũng là sự nhắc nhở với những thế hệ mai sau phải giữ gìn tiếng nói cha ông, phải làm phong phú tiếng Việt cũng như trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt từ chính bản thân mỗi người:
Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu?
Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình…
(Tiếng Việt)
Cảm hứng Đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ gắn với những không gian hữu hình như một ngã ba thị xã, một thôn xóm, một cây cầu, một bờ đê, một con suối, một dòng sông… Bài thơ Sông Hồng của nhà thơ cũng mang trong đó những cảm nhận cùng những phát hiện mới mẻ, lý thú. Đó là con sông chảy dài từ biên giới Việt – Trung đổ ra biển Đông, con sông gắn với một miền châu thổ êm đềm, trù phú, con sông gắn với thăng trầm lịch sử với bao trận chiến hào hùng. Lưu Quang Vũ đã từ những trầm tích dòng sông để tạo dáng hình một con sông Hồng trong thi ca: một con sông chảy qua thời gian/ chảy qua lịch sử/ chảy qua triệu triệu cuộc đời/ chảy qua mỗi trái tim người/ khi êm đềm khi hung dữ/ một con sông rì rầm sóng vỗ/ trong muôn vàn trang thơ/ làm nên xóm thôn, hoa trái, những ngôi nhà/ tạo sắc áo, màu cây và tiếng Việt/ một giống nòi sinh tự một dòng sông/ trăm đứa con xuống biển lên rừng.
Cảm nhận sông Hồng của Lưu Quang Vũ luôn gắn liền với lịch sử đó là con sông gắn liền với truyền thuyết về thời Hùng Vương và nhà nước Văn Lang, con sông của những trận chiến thắng chống ngoại xâm, con sông gắn với những triều đại trong lịch sử nhưng trên hết đó là con sông của đời thường với những làng mạc, cây cối, triền đê, bè mảng, cánh buồm, ngọn dâu, câu hát và nhất là những bờ bãi phù sa cho cuộc sống con người. Đó là con sông Cái, sông Mẹ của cả vùng châu thổ rộng lớn trên Đất nước này.
Bằng sự quan sát từ rất nhiều góc độ, từ những vỉa tầng trầm tích văn hóa Lưu Quang Vũ đã đem đến cho người đọc những tri thức văn hóa về một dòng sông mà ít bài thơ có được. Viết về sông Hồng cũng là viết về Đất nước của những cư dân có màu da mang sắc nước dòng sông rắn rỏi, kiên cường trong lao động và đấu tranh chống ngoại xâm. Cũng từ đó Lưu Quang Vũ đem đến những triết lý về lịch sử về Đất nước:
sóng và phù sa – khái niệm đầu tiên
nước và đất để nay thành Đất Nước
một con sông dịu dàng như lục bát
một con sông phập phồng muôn bắp thịt
một con sông đỏ rựcnhuộm hồng nâu da người.
(Sông Hồng)
Cuối cùng dòng sông để lại không phải những thù hận, oán hờn mà là những bãi bờ ăm ắp phù sa cho cây trái đơm hoa, mùa màng tươi tốt và trên hết là tâm hồn người Việt đằm thắm yêu thương. Bài thơ lấp lánh vẻ đẹp của một trường ca về dòng sông Đất nước:
sông để lại trước khi về với biển
không phải máu đen độc ác của quân thù
không phải gươm đao ngàn năm chiến trận
không phải nghẹn ngào tiếng nấc
sau sụp lở hưng vong sau thù hận sóng trào
là bãi mới của sông xanh ngát
là đất đai lấn dần ra biển
là tâm hồn đằm thắm phù sa
dâng yêu thương đỏ rực đôi bờ.
(Sông Hồng)
Cùng chung mạch nguồn cảm hứng về Đất nước, bài thơ Đất nước đàn bầu đã đem đến những cảm nhận và lí giải về quá trình hình thành Đất nước với chiều sâu văn hóa, bề dày của lịch sử. Tiếng đàn bầu cũng là tiếng nói của cha ông, nhân vật trữ tình trong bài thơ là một người cháu đang trò chuyện với bà. Đó là câu chuyện dài lịch sử theo cả thời gian và không gian, đây cũng là một bài thơ dài nhất của Lưu Quang Vũ. Lịch sử Đất nước là những trang buồn khi nàng Mị Châu chết mà vẫn không sao hiểu được Trọng Thủy là kẻ thù, là những tiếng kêu ai oán, xót xa nhưng lịch sử cũng là những chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử lẫy lừng. Đất nước cũng được cảm nhận là một không gian trải dài từ Vân Đồn, kinh Bắc, kẻ Chợ, Tràng An đến cửa Thuận, cửa Hàn, Hà Tiên, Cà Mau…
Đất nước trải qua vô vàn đau thương mất mát nhưng luôn biết yêu thương trong nghĩa đồng bào:
Cháu nghe mãi vẫn lạ lùng tiếng Việt
Chữ “thương” liền với chữ “yêu”
Chữ “thương” đi cùng chữ “nhớ”
Dân tộc trải xót xa nhiều nỗi khổ
Phải thương nhau mới sống được trên đời
(Đất nước đàn bầu)
Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh những dấu chân, những đoàn quân vô tận cùng hình ảnh người bà chan chứa yêu thương, đó là điểm tựa tinh thần vững chắc để nhân vật trữ tình hướng tới ngày mai. Đất nước cũng như tiếng đàn bầu chứa trong đó biết bao cung bậc cảm xúc:
Đất phù sa vô tận dấu chân người
Những đoàn quân lại ra đi từ đất
Bà đứng đó miệng trầu cay thơm ngát
Vầng yêu thương soi sáng suốt cuộc đời
Khắp triền sông vang tiếng trẻ con cười
Đất nước đàn bầu
Đất nước ban mai…
(Đất nước đàn bầu)
Khi nói về cảm hứng Đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ không thể không nhắc đến bài thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi.  Bài thơ đã xây dựng thành công hình tượng gió để để găm vào trong đó bao ý tình của nhà thơ. Gió là hiện tượng của tự nhiên tồn tại vĩnh hằng và có mặt khắp mọi nơi cũng như tình yêu của loài người vẫn đang tồn tại từ xa xưa tới mai sau. Đó là ngọn gió thổi suốt dọc dài lịch sử hay đó cũng là tiếng gọi ngàn đời không khuất phục, nhà thơ cảm nhận Đất nước như con thuyền xuyên gió mạnh lướt trên sóng dữ trùng khơi:
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
Chưa xóm mạc đã bắt đầu ngọn gió
Thổi không yên suốt dọc dài lịch sử
Qua đất đai và đời sống con người.
Gió gieo tung những hạt giống trên tay
Giọt nước mắt mau khô, tiếng gọi đò vọng mãi
Vầng trán với bể khơi chung gió ấy
Ở nơi đâu cũng tới được chân trời.
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
Như tiếng gọi ngàn đời không khuất phục
Đất nước giống như con thuyền xuyên gió mạnh
Những mối tình trong gió bão tìm nhau.
(Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi)
Lưu Quang Vũ muốn hóa thân thành ngọn gió để hiến dâng cho Đất nước, để được trường tồn với thời gian và Đất nước. Thi nhân đã vĩnh viễn hóa tình yêu Đất nước bằng những câu thơ kết mang đầy sức nặng và làm lay động bao trái tim người đọc:
Ước chi được hóa thành ngọn gió
Để được ôm trọn vẹn nước non nà
Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá
Để mát rượi những mái nhà nắng lửa
Để luôn luôn được trở lại với đời…
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi…
Thơ Lưu Quang Vũ phần lớn được viết theo thể thơ tự do, cảm xúc tự nhiên, phóng túng, ngôn từ, hình ảnh mới lạ, có sự kết hợp hài hòa mạch cảm xúc và triết lý. Mặc dù cuộc đời ngắn ngủi nhưng sự nghiệp văn học mà ông để lại vô cùng phong phú và mang giá trị. Gần bốn mươi năm Lưu Quang Vũ rời xa cõi thế nhưng những vần thơ, nhưng vở kịch mà ông để lại vẫn còn làm lay động lòng người, chúng ta khó có thể hình dung diện mạo Văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975 nếu thiếu Lưu Quang Vũ.
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến nhận định: “Có lẽ thời gian qua, chúng ta chưa đánh giá đầy đủ những đóng góp của cố nhà thơ Lưu Quang Vũ cho thơ đương đại Việt Nam sau 1975. Theo tôi, anh là một gương mặt thơ tiêu biểu và chói sáng lặng lẽ qua thời gian bên cạnh những gì mờ nhạt và thiếu sức sống ngôn ngữ… Lưu Quang Vũ là một tài năng thơ bẩm sinh rất đặc biệt và độc đáo. Bản năng thi sĩ của anh giàu có trong những nỗi buồn, trong nỗi cô đơn và khổ hạnh. Khi bị dồn vào chân tường, trong những khoảnh khắc chập chờn sáng tối, những vần thơ ám ảnh của ông tung bứt lên như muốn đối mặt với buồn đau. Và, tập thơ “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” của Lưu Quang Vũ được trao “Giải thưởng Thành tựu văn học trọn đời” của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2010 là một ghi nhận xứng đáng.”.
Để khép lại bài viết nhỏ này, chúng tôi xin mượn lời nhận định của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Điệp: “Sáng tạo văn học của Lưu Quang Vũ, về bản chất chính là những truy vấn và đối thoại không ngừng về nhân sinh, lịch sử, đất nước, con người từ góc nhìn văn hóa và tinh thần nhân bản. Bằng tài năng và sức lao động đến mức phi thường, Lưu Quang Vũ đã truyền năng lượng và khát vọng đổi mới của ông đến hàng triệu người, tạo nên hiệu ứng nghệ thuật hết sức to lớn. Đó là hạnh phúc không dễ gì có được của bất cứ người nghệ sĩ nào”.
Lưu Quang Vũ (1948-1988) là con trai của nhà văn, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận (Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật – 2000).
Lưu Quang Vũ thuở nhỏ sống cùng gia đình ở chiến khu Việt Bắc, sau đó về lại Hà Nội. Năm 1965 – 1970, ông xung phong vào bộ đội, thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân. Những năm sau đó, Lưu Quang Vũ làm nhiều nghề khác nhau như vẽ tranh, viết kịch, viết báo, làm thơ… Từ tháng 8.1979 cho tới khi mất, ông làm phóng viên Tạp chí Sân khấu.
Lưu Quang Vũ được nhận bảy Huy chương Vàng trong các kỳ hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, hai lần được giải thưởng của Hội Văn nghệ Hà Nội, hai lần được Giải thưởng của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Tặng thưởng Văn học của Bộ Quốc phòng năm 1992, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt II năm 2000.
2/6/2025
Nguyễn Quỳnh Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt Phùng Cung sinh ra ở làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhưng...