Thứ Ba, 30 tháng 12, 2025

Trang văn Thái Bá Lợi: Gợi mở và suy ngẫm

Trang văn Thái Bá Lợi:
Gợi mở và suy ngẫm

Trang viết của Thái Bá Lợi dày đặc những chi tiết mà chỉ người trong cuộc mới cảm thấu hết được. Nhưng việc khai thác và sử dụng các chi tiết độc đáo, có khả năng tác động mạnh trong truyện của Thái Bá Lợi không đưa anh đến chỗ cực đoan – ấy là tạo ra các chi tiết phơi bày tính phi nhân của con người – ngược lại chi tiết của Thái Bá Lợi củng cố thêm: dù trong hoàn cảnh khốc liệt và bi thảm như thế nào, con người mà cụ thể là con người Việt Nam đều khẳng định tình người, tình giống nòi thắm thiết.
Trong “Đọc sách như một nghệ thuật”, học giả Mortimer J. Adler nhắc lại lời Descartes để dẫn nhập: “Đọc sách là được trò chuyện với những người thành đạt nhất của những thế kỷ đã qua”. Huống hồ trang văn Thái Bá Lợi quả đúng là kể lại những chuyện của thế kỷ đã qua; vì vậy bạn tưởng như được trò chuyện với rất nhiều người về rất nhiều chuyện, như cùng nhau thủ thỉ bao chuyện cũ của thế kỷ trước. Chuyện tưởng xa mà thật gần, chuyện ngót nghét nửa thế kỷ nhưng ngỡ như mới hôm qua. Đọc Thái Bá Lợi, bạn không khỏi bồi hồi! “Thái Bá Lợi thuộc thế hệ nhà văn cầm bút vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được bạn đọc biết đến như một trong những cây bút xuất sắc của văn xuôi cả nước viết về chiến tranh sau chiến tranh. Anh cũng là một trong những tác giả sớm có những đóng góp báo hiệu cho xu hướng vận động của văn học nước nhà trước khi bước vào thời kỳ đổi mới” (tập 1, tr.11). Thái Bá Lợi – người con làng Thơi (Quỳnh Lưu, Nghệ An) – sinh năm 1945, nhập ngũ 1965 và từ đó, chàng trai  xứ Nghệ gắn bó cuộc đời mình với vận mệnh đất nước và đời sống văn chương. Thái Bá Lợi đã ghi dấu ấn sâu đậm trên văn đàn nhất là những sáng tác về chiến tranh.
1. Chiến tranh – đất nước và tình người
Thế kỷ XX đã đi qua, hai vết dao sâu hoắm của thế kỷ ấy chính là hai cuộc thế chiến tàn khốc. Đó là bài học lịch sử cho toàn nhân loại. Với dân tộc Việt Nam, một dân tộc yêu chuộng hòa bình vì thấu hiểu cái giá khủng khiếp của chiến tranh và cũng vì lẽ đó, hơn ai hết, những người cầm bút thông qua trang viết, đã tái hiện lại những vết thương thời đại. Họ vừa như hệ quả của thương tích vừa như hành động chữa lành thương tích. Với nhiều người cầm bút cùng thế hệ của nhà văn Thái Bá Lợi chuyển hóa chấn thương chiến tranh thành những trải nghiệm nghệ thuật. Có thể nói, nghệ thuật trần thuật của nhà văn họ Thái đã nảy mầm trên những vết thương rớm máu của thời đại, quê hương, dân tộc và chính tự thân của mỗi người văn nghệ sĩ.
Trực tiếp có mặt ở những trận chiến ác liệt nhất, chiến tranh qua góc nhìn của Thái Bá Lợi là những đau thương cận cảnh. Ví như cái chết anh dũng của thím Trương qua ánh mắt của người khách lạ ghé lại thăm mộ thím trong truyện ngắn Vùng chân Hòn Tàu (1978). Những thước phim cận cảnh chiến trường – ghi lại những năm tháng ác liệt của thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tác phẩm của Thái Bá Lợi trước hết, có giá trị tư liệu rất đáng quý. Trang văn của anh chẳng khác gì những thước phim tư liệu. Đáng nói, phim tư liệu của Thái Bá Lợi được quay từ nhiều góc nhìn, từ nhiều thời điểm khác nhau. Do đó, sự phản ánh hiện thực thời kháng chiến chống Mỹ cũng như thời hậu chiến hiện lên sống động và có tính gợi mở nhiều hơn.
Hầu như sáng tác nào của Thái Bá Lợi đều có dư vọng của chiến tranh. Trong số dư vọng đó, những con người tiêu biểu cho hoàn cảnh tang thương trong chiến tranh được nhà văn khắc họa tiêu biểu hơn cả. Tác phẩm của anh là những vết thương sâu hoắm dầu có lành lặn nhưng vẫn còn vết sẹo cắt cứa tàng hình. Và, vết sẹo cắt cứa tàng hình cùng nỗi đau vô hình vẫn trở đi trở lại, gây ra nỗi ám ảnh trong tâm tưởng người ở lại, hoặc người còn sống. Nhân vật người kể chuyện trong nhiều truyện ngắn của Thái Bá Lợi đóng vai trò người chứng kiến. Cũng chính nhân vật người kể chuyện đó là kẻ chống chịu đau thương của thời chinh chiến, sau khi cuộc chiến đã trôi qua – bạn đọc có thể nhìn thấy ít nhiều hình bóng của chính nhà văn trong hình tượng nhân vật người kể chuyện như thế. Dường như sau khi cuộc chiến đã kết thúc, vẫn còn một cuộc chiến khác tiếp tục, đó là những nỗi khổ tâm day dứt của người từng sống dưới mưa bom lửa đạn qua bao ngày tháng ở chiến trường. Day dứt vì lời hứa với người đồng đội, day dứt vì hình ảnh người phụ nữ hy sinh để nuôi giấu người nghĩa trọng trong một trận càn, hoặc day dứt về cái chết của đồng bào. Chẳng hạn trường hợp nhân vật xưng tôi trong truyện ngắn Đội hành quyết (1984). Hồi ức của người kể chuyện xưng tôi khi gặp bà Phấn (mẹ của Đán, người đồng đội năm xưa), khiến người kể chuyện cứ ám ảnh mãi. Đó là những vết thương mãi mãi không bao giờ kéo da.
“Trước mặt tôi hiện lên bữa ăn cuối cùng của Đán. Một đĩa cơm trắng, một con gà, đó là những thứ mà đại đội tôi tìm được lúc ấy, vì cả tuần chúng tôi vẫn ăn cháo. Bữa ăn của người tử tù. Dáng đi khập khễnh của Đán về phía cái hố được đào sẵn. Và, chúng tôi, hai mươi tám người, quân số của đại đội lúc đó, với hai mươi tám khẩu AK đồng loạt nổ súng. Đán gục ngã bên bờ hố. Và buổi tối nặng nề ấy, tất cả chúng tôi ai cũng cam đoan rằng mình đã bắn chệch hướng, không nhằm vào Đán. Nồi cháo hai phần rau môn thục chiều hôm đó còn nguyên …” (Đội hành quyết, tập 1, tr.277).
Hay nỗi ám ảnh của Hải trong tiểu thuyết Bán Đảo (1983), khi mà đêm nào… – đêm nào Hải cũng mơ về người vợ đã chết trên căn gác nhỏ phố Khâm Thiên hồi năm 1972. Sự nhập nhằng giữa quá khứ và hiện tại là sự dùng dằng biểu hiện thời gian nghệ thuật phổ trong nhiều truyện ngắn của Thái Bá Lợi – thậm chí có thể xem như một thủ pháp nghệ thuật khiến cho trang viết của anh đan cài nhiều dòng tự sự. Dòng thời gian liên tục được thay đổi từ hiện tại trở lại quá khứ, lại có khi kể về những tương lai của nhân vật trong quá khứ. Điều này, phần nào cho thấy Thái Bá Lợi sống nhiều về quá khứ – một quá khư đầy ưu tư và trăn trở. Nhà văn thường mở đầu truyện bằng các tình huống ở hiện tại. Tình huống đó khiến cho người ta thắc mắc, tò mò. Tình huống ẩn khuất là cách mà nhà văn đưa người đọc vào hành trình khám phá hiện thực đời sống. Và, những tình huống hiện tại thường là chìa khóa hoặc là đường dẫn truyền khiến tâm thức của nhà văn/nhân vật người kể chuyện trôi về thời quá vãng. Do đó, câu chuyện nhập nhòe giữa hai dòng thời gian quá khứ và hiện tại. Hình như, Thái Bá Lợi không bao giờ có thể lãng quên những năm tháng ấy. Dù kể về chuyện gì đi nữa, thể nào rồi nhà văn họ Thái cũng trở ngược về quá khứ – có một Thái Bá Lợi vẫn còn đó, người chiến binh sừng sững đứng trên chiến trường xưa!
Với tư thế như vậy, câu chuyện của Thái Bá Lợi về những con người và hoàn cảnh trong chinh chiến khiến cho bạn đọc thấy ở nhà văn tấm lòng nhân đạo và sự cảm thông. Tấm lòng của nhà văn cho thấy ông yêu hòa bình hơn bất cứ người nào hay rao giảng về hòa bình. Tình yêu và nỗi khao khát hòa bình thể hiện trong bức thư Mây gửi cho Trí. Một bức thư để chấm dứt mối quan hệ “bồng bột” như lời Trí nói, nhưng ở trong đó, bạn đọc cảm nhận được niềm tin tưởng bền bỉ và tình yêu hòa bình, yêu cuộc sống của cô gái gặp nhiều bất hạnh, nhất là sẽ trở thành người mẹ một mình nuôi con. Trong hoàn cảnh bom đạn, con người đối diện với cái chết. Cho nên những giây phút hiếm hoi ngồi lại bên nhau thật quý giá. Và ở những giây phút như thế, Thái Bá Lợi nhìn thấy trong tâm hồn nhân vật Mây niềm khao khát hòa bình mãnh liệt, khao khát mái nhà ấm êm và hạnh phúc lứa đôi. Câu chuyện của Mây, Trí và Thanh cùng những suy nghĩ của Mây vừa hồn nhiên, vừa trong trẻo, vừa hiền hòa; cũng lại là những con người với tâm tư thường thấy trong bom đạn. Mái nhà và người thân không chỉ niềm khao khát của Mây mà có lẽ cũng là niềm khao khát hòa bình chung của tất cả những ai nếm trải đau thương chiến tranh!
“Căn nhà lâu không có người ở đã lên mùi mốc, nhưng đối với Mây nó vẫn ấm cúng. Ăn xong, Mây ra ngồi ở bậc cửa nhìn xuống cánh đồng. Trăng đã mọc. Vẫn vầng trăng nhô lên sau cái gò dài từ bé cô đã ngồi đây chờ nó. Vậy mà bây giờ trong căn nhà Mây không biết nó có từ bao giờ này, hình như nó với cô cùng sinh ra một ngày, chỉ còn lại một mình Mây. Ba má không còn, các chị lấy chồng xa, mỗi người một nơi không biết đã phiêu bạt đến tận đâu. Người anh đầu của Mây chiến đấu trong Quảng Ngãi hai năm nay không có một lá thư về. Mây cứ ngồi im cho những kỷ niệm cũ của ngôi nhà đến với mình. Giá như bây giờ có một người nào của ngôi nhà này, một người thôi đến đây với Mây, chắc cô sẽ hét thật to, nhảy đến với người ấy, mặc cho pháo có nổ bên cạnh. Nghĩ đến đó nước mắt Mây trào ra” (Hai người trở lại trung đoàn, tập 1, tr.190).
Song đau thương chiến tranh không chấm dứt sau khi chiến tranh đã chấm dứt! Sáng tác ở hai thời kỳ khác nhau, Thái Bá Lợi vừa phản ánh giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ác liệt, vừa phản ánh đời sống con người thời mở cửa sau khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất. Do đó, văn nghiệp của ông thiết nghĩ chí ít có hai chặng đường. Và dù ở chặng đường nào, dấu ấn của hai thời đại ấy cũng không hoàn toàn tách rời, mà thường là tấm gương soi chiếu lẫn nhau, khiến con người tự nhận ra chính mình và gợi ra suy tư dằng dặc. Chuyến thăm nhà bà mẹ của người đồng đội xưa khiến nhân vật xưng tôi bỗng rơi vào trầm ngâm chiêm nghiệm chuyện bây giờ.
“Người mẹ bỏ vào túi xách của tôi một gói xôi. Ngày trước tiễn các con mình đi chắc bà cũng làm như vậy. Bà tiễn tôi ra cổng và ngoài kia là quốc lộ xe cộ đang xuôi ngược. Lẽ nào khi lên đến đó tôi lại lao vào những việc thường ngày bây giờ, những bon chen, toan tính, những đấu đá có khi dùng cả mưu mô để tồn tại trong đời, điều mà những năm ở rừng tất cả chúng tôi không thể nào hình dung ra” (Đội hành quyết, tập 1, tr.279).
Đồng hành đời sống, tác phẩm Thái Bá Lợi phản ánh những chặng đường khác nhau của đất nước và dù quãng đường nào nhà văn cũng nhận thấy nhiều cam go thử thách. Nhưng trên hết, nhân vật của Thái Bá Lợi đều biểu hiện hình tượng con người với lương tri thời đại, con người nặng tình. Những tình cảm trở đi trở lại trong sáng tác Thái Bá Lợi: tình đồng đội, tình đồng bào, tình nhân loại. Và chắc hẳn, như phần không thể thiếu của đời người, trang văn của anh nhiều lần phản ánh tình yêu đôi lứa trong chiến tranh. Tình yêu khiến chiến tranh bớt đi phần u ám. Dù gì, con người vẫn yêu và sống.
“Bốn hôm nay rồi, dù đang nghĩ gì Mây cũng quay về với Trí. Cô vẫn còn thấy đột ngột về những điều mà mảnh giấy đó nói với cô. Nhiều lần Mây cứ tự hỏi không biết anh ấy có thương mình thật không? Ai lại nghĩ đến chuyện đó trong khi đang ác liệt thế này. Tự nhiên Mây thấy xấu hổ với chính mình. Mãi đến hôm nay, Mây vẫn chưa nói chuyện được với Trí. Mỗi lần nhìn anh mặt cô lại đỏ lên. Nhưng từ khuôn mặt của cô đang toát ra một cái gì không hoàn toàn là một niềm vui, cũng không hoàn toàn là một tình thương. Có lẽ đó là niềm rung động mới mẻ đang hấp dẫn cô một cách lạ lùng. Mình thương ảnh thiệt sao?” (Hai người trở lại trung đoàn, tập 1, tr.192).
Trong chiến tranh, tình yêu tưởng thật xa xỉ, khiến con người ta hầu như ngỡ ngàng và còn rụt rè chưa dám đối diện với với tình cảm đó. Khi đối diện với sống chết, ly tán từng phút từng dây, khoảnh khắc ở bên nhau thật quý giá. Cũng như Mây với Trí, Thái Bá Lợi miêu tả chuyện chị Tân và anh Hải thật giản dị nhưng trong lời kể giản dị của nhà văn, bạn đọc nhận ra ngay thiện cảm của người viết với suy nghĩ đơn sơ của con người thời chiến. Với những trường đoạn tình cảm như vậy, anh khắc họa bằng thái độ rất nâng niu. Cũng dễ hiểu vì sao nhà văn lại nâng niu những kỷ niệm tươi tắn của con người trong ly loạn, bởi nó cho thấy tính người trong hồn người. Tình yêu trong chiến tranh: giản dị và nhiệt thành!
“Chúng tôi quấn quýt bên nhau, đứa chùi nồi, đứa nhen lửa. Ngọn lửa rơm tàn rồi lại đỏ, đỏ rồi lại tàn trước mặt chúng tôi. Chúng tôi lặng lẽ ngồi bên nhau cho đến khi vần cơm xuống tro không nói một lời nào. Bữa cơm chỉ có mấy quả cà còn sót lại trong vại mà chưa bao giờ tôi lại cảm thấy ngon như vậy. Đến bây giờ tôi vẫn còn giữ được cảm giác của đêm ấy. Thực ra tôi chỉ ngồi đầu nồi để đơm cơm, nhìn các anh ăn cơm còn mình chỉ ăn một bát. Mặt tôi nóng ran lên mỗi khi các anh bộ đội hết nhìn tôi lại nhìn sang anh Hải, mỉm cười. Tôi nghe nói các anh bộ đội bạo mồm, bạo miệng lắm, nhưng đêm đó các anh không nói một câu nào trêu tôi, chỉ khi nào tôi xuống bếp các anh mới nói với anh Hải điều gì đó làm mặt anh đỏ bừng lên. Tôi nói anh đừng cười, đêm đó chúng tôi ăn ở với nhau và sau này mới có cháu Trinh như anh biết” (Bán đảo, tập 3, tr.29-30).
Đó là tâm tư của chị Tân trong tiểu thuyết Bán đảo. Cũng như lời của Mây chia sẻ với Thanh trong truyện ngắn Hai người trở lại trung đoàn, cô không muốn con mình – mà có lẽ là thế hệ sau nói chung – hiểu lầm về thời đại của họ, muốn con của cô hình dung về cuộc tình của cô với Trí như điều tốt đẹp chứ không phải mối quan hệ “bồng bột” nhất thời trai gái theo cách nói của Trí. Dù Trí nghĩ có thể đứa con trong bụng Mây “chắc gì đã là con anh”, nhưng Mây không trách, Mây chấm dứt với Trí để giữ hình tượng tốt đẹp cho con của cô sau này. Cho thấy, nhà văn Thái Bá Lợi vẫn nhất quán trên tinh thần của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời kháng chiến chống Mỹ, nhưng ông không tránh né những vấn đề rất đời thường, rất con người của bộ đội thời ấy. Nhất là, điều mà nhà văn đã làm được: đó là tô đậm thêm, làm nổi bật lên tình thương con người trong hoàn cảnh bom đạn chiến tranh.
Và nổi bật hơn cả trên suốt hành trình văn chương của Thái Bá Lợi: chấn thương chiến tranh! Những chấn thương do chiến tranh gây ra, được anh phản ánh, biểu hiện trên cả thể xác lẫn tinh thần. Nỗi đau của bà mẹ Đán trong truyện ngắn Đội hành quyết. Dù nói rằng “cháu cứ kể đi, bác chịu được, bác chịu được mà …”, nhưng bà mẹ nào có thể nguôi ngoai hoặc dửng dưng trước cái chết của con. Đán vì tìm cách lấy gạo cho đơn vị mà vô tình giết chết người của đơn vị khác, khiến cho Đán bị kết án tử. Và hai mươi tám phát súng của đồng đội đã khiến anh gục ngã trên miệng hố – cái hố mà chính Đán đào sẵn khi biết tin mình bị kết án tử. Người chiến sĩ ấy đã nằm yên dưới ba tấc đất nhưng chấn thương trong tâm trí mẹ Đán, chấn thương của đồng đội – những người đồng đội đã giương súng về phía anh trong buổi chiều hôm đó, để rồi ai cũng nghĩ rằng mình đã cố tình bắn trượt. Nhân vật xưng tôi, cũng một trong số người giương súng về phía Đán chiều hôm đó, tin rằng mình đã nhắm lệch để bắn trượt. Nhưng có lẽ đó chỉ là cách con người giảm bớt phần nào việc chịu đựng vết thương, chịu đựng nỗi dày vò, chịu đựng nỗi khổ tâm đeo đẳng. Đó là hình thức chấn thương kép: bởi người gây ra chấn thương cũng bị chấn thương. Về mức độ, đây là chấn thương nặng nề (bởi xảy ra cả ở thể xác lẫn tinh thần). Nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể trạng và tâm lý của con người – thậm chí nó có thể gây ra những hiện tượng rối loạn căng thẳng ưu phiền nặng nề hậu chấn thường (PTSD  –  rối loạn căng thẳng sau chấn thương). Về thời gian, đây là chấn thương mãn tính và tái phát. Bởi phát súng đó không chỉ nổ trong khoảnh khắc chiều hôm đó mà đã liên tục nổ ran trong tâm trí của bà mẹ Đán, của đồng đội Đán nhiều năm về sau. Hơn thế, cứ mỗi lần con người ta rơi vào tình thế phải đối diện trực tiếp với nó thì vết thương tưởng như rách toạt và lại đổ máu ròng ròng. Niềm đau năm cũ tưởng cũ mà không cũ!
Thể như dùng ngòi bút chọc vào vết thương, Thái Bái Lợi cho thấy cái nhìn cận cảnh bằng lòng thương cảm. Nhờ đó, nhà văn họ Thái khám phá được những khía cạnh phức tạp của tâm hồn con người. Bạn đọc nhận ra: thật khó có thể phán xét rạch ròi bất cứ điều gì trong hoàn cảnh chiến tranh. Nhất là hoàn cảnh vừa mới kết thúc chiến tranh để tiếp tục cuộc sống đời thường. Những góc khuất sâu kín trong tâm hồn nhân vật Trí trong Hai người trở lại trung đoàn, Ngà trong Bán đảo, hay “tôi” trong Đội hành quyết, … thật khó có trang sử nào có thể phản ánh chân thực! Càng về sau, qua những tác phẩm như Trùng tu, Minh Sư, Câu chuyện Đà Nẵng, ta có thể thấy nhà văn Thái Bá Lợi đã phát triển thêm việc khai thác các gút mắc tâm lý nhân vật. Cảm giác như, nhà văn muốn đào sâu đến tận cùng nguyên do tâm lý của từng biểu hiện hành động nhỏ nhặt. Thái Bá Lợi là nhà văn của chi tiết!
Nhìn chung, qua trang viết về chiến tranh, Thái Bá Lợi phản ánh đau thương thời chiến không chỉ ký ức chiến trường còn lưu đọng trong tâm tưởng, không chỉ là niềm đau năm tháng mà còn là những bài học có giá trị nhân văn sâu sắc. Trang văn của Thái Bá Lợi giúp nâng cao nhận thức của chúng ta về chiến tranh, về giá trị thiêng liêng của hòa bình. Hơn hết, nó khẳng định sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đất Nước. Đồng thời, cũng như vết thương đó, nó sẽ nhắc nhớ ta trong cuộc sống sau chiến tranh và đời sống bây giờ.
2. Đời thường: giữa cũ và mới, giữa còn và mất
Điều dễ nhận biết nhất trong văn chương Thái Bá Lợi: một con tim luôn thổn thức và canh cánh về đời sống đang diễn ra xung quanh mình. Có lẽ, trước hết, vì người cầm bút có con tim nhạy cảm và biết lắng nghe nỗi đau của tha nhân. Khắc họa tình thương con người trong hoàn cảnh đau thương, ngòi bút của Thái Bá Lợi nằm vắt vẻo giữa hai giai đoạn và đặc điểm xã hội có nhiều khác biệt. Ngòi bút của nhà văn xứ Nghệ, họ Thái khởi đi từ những năm tháng chiến trường cho đến thời kỳ đất nước sau khi đã thống nhất. Do đó, Hai người trở lại trung đoàn không đơn thuần chuyện tình tay ba giữa Trí, Thanh và Mây mà còn là tình thế ngổn ngang của con người trong hoàn cảnh mới của đất nước. Khi Trí đã lên chỉ huy trung đoàn và còn một người con gái chờ Trí ở quê mà gia đình anh coi như dâu con trong nhà nên tình cảm với Mây, Trí cho là những giây phút bồng bột trai gái. Trong cái được cho Trí, Mây thấy dường như mất một cái gì; và trong cái mất của mình, Mây thấy như được cái gì đó. Sự được mất nhiều khi không thể nhìn bằng mắt! Mây chọn mất để được!
“Em không thể nào làm khác được anh à. Từ hôm nghe tin anh Trí lên chỉ huy trung đoàn, em thấy lo cho ảnh. Không biết rồi con người đó sẽ còn gây ra điều gì nữa. Khi dứt với ảnh, em khổ lắm, nhưng em tin là mình đúng. Em không sợ những đổ vỡ vì em nghĩ đến con. Em không muốn con em có một người cha như anh Trí và sau này nó hiểu sai về những năm tháng vừa qua của chúng ta. – Mây ngừng lại một chút – Bớt đi một điều xấu, tăng thêm một điều tốt đều cần những hi sinh phải không anh?” (Hai người trở lại trung đoàn, tập 1, tr.223).
Cuộc chiến bằng bom đạn khép lại, con người trở lại đời thường, tập quen với việc sống với những di chứng của chiến tranh. Và hơn thế, con người còn phải đối diện với những gút mắc mới của thời hậu chiến. Chuyện tình tay ba của Mây, Trí, Thanh lồng vào bối cảnh xã hội vắt vẻo hai thời kỳ trước sau thống nhất. Thời gian trong trang viết của Thái Bá Lợi dao động, đu đưa như con lắc. Đánh đu thời gian từ trước và sau 1975, Thái Bá Lợi cho người ta cơ hội chiêm nghiệm nhiều điều về lòng người và tình người, cũng như tình đời và tình thế xã hội quanh mốc thời gian đó. Dù Đội hành quyết hay Hai người trở lại trung đoàn đoàn đều là những mảng ký ức tái đi tái lại như căn bệnh mãn tính, cùng với những triệu chứng mới!
Tình thế song trùng: cũ mới, được mất, riêng chung tạo ra các cặp nhị nguyên trong trang viết của Thái Bá Lợi. Đó là cấu trúc văn bản của anh khiến bạn đọc tự đặt ra truy vấn cho chính mình. Ngoài ra, nhà văn Thái Bá Lợi khắc họa thời đại và vùng đất bằng nhiều kiến thức văn hóa, lịch sử, xã hội rất phong phú. Trang viết của anh khiến người đọc nhận ra khung cảnh đời sống có phần ngổn ngang sau khi thống nhất đất nước. Rồi sau đó, hàng loạt những thách thức mới đặt ra cho con người. Tiểu thuyết Câu chuyện Đà Nẵng chính là tác phẩm tiêu biểu nhất của điều đó. Tác phẩm này bao chứa một nỗ lực vươn lên nhằm khái quát thời đại. Trước đó, ý hướng vươn lên khái quát thời đại đã xuất hiện trong một số tiểu thuyết như Khê Ma Ma, Minh Sư. Nhưng đậm đặc và tiêu biết nhất cho thời đại mới, giữa được mất, cũ mới, có lẽ Câu chuyện Đà Nẵng là tác phẩm kết tinh toàn bộ tư tưởng của nhà văn Thái Bá Lợi.
Để phản ánh hiện thực đó, nhà văn Thái Bá Lợi miệt mài dày công xây dựng những nhân vật có cá tính và tâm hồn sâu sắc phong phú. Như nhà thơ Thanh Thảo chia sẻ: “Những nhân vật của Thái Bá Lợi thường bước ra từ ký ức của anh. Không ai có thể nhớ mọi thứ, kể cả nhà văn. Nhưng những khoảng “bất chợt nhớ” của nhà văn có vẻ nhiều hơn của người thường. Những câu văn của Thái Bá Lợi cũng có vẻ được gợi ra từ ký ức, những câu văn vừa hoàn chỉnh vừa lấp lửng” (tập 5, tr.325). Có lẽ, nỗi nhớ và kho ký ức là tấm gương soi để nhà văn họ Thái soi chiếu lại chính hiện thực sau chiến tranh. Những câu chuyện nằm vắt vẻo giữa hai khoảng trời, hai khung thời gian. Hai khoảng trời tự soi chiếu và làm nổi bật lẫn nhau. Chuyện người lính trong cuộc tấn công vào Huế năm Mậu Thân; hay các nhân vật thời hậu chiến bị đời sống thúc bách khiến những tình thân năm cũ phai lạt. Nhưng, không phải cứ hậu chiến thì lòng người trở nên ráo hoảnh, vẫn còn có rất nhiều người nặng tình xưa nghĩa cũ. Ví như chuyện chị Tư Trà tìm hỏi những quan hệ cũ của chồng trong chiến tranh để tìm cho kỳ được những đứa con rơi của chồng về nuôi. “Nếu có con của anh rơi rớt, chị mang về nuôi ngay, không có phân biệt con mình con người đâu, miễn là con của anh Hai là được” (Minh sư, tập 4, tr.83). Dẫu rằng còn “lấn cấn”, bởi ngờ ngợ rằng nếu những đứa con rơi ấy còn sống thì chúng cũng đã ngoài ba mươi tuổi. Người đàn bà tìm con rơi của chồng dường như tìm lại bóng hình người chồng mà suốt năm tháng chiến chinh không cơ hội gần gũi.
Trong Khê Ma Ma, nhân vật xưng “tôi” tưởng như đi giữa hai miền sống. Dường như Thái Bá Lợi muốn vượt ra các giới hạn thời gian để khám phá mảnh đất Đất Nẵng nói riêng, miền Trung nói chung với trọn vẹn quá trình vận động của nó. Nhà văn viết cũng giống như lần bước tìm lại những trầm tích của vùng đất này.
“Bầu trời không một gợn mây. Tôi nương cho xe bò lên bình độ ba trăm mong tìm được dấu vết con đường xưa mà đại úy thủy quân lục chiến Debay lần đầu lên khám phá Bà Nà. Những khúc quanh tuy chưa gấp khúc như cua năm khuỷu, ba khuỷu phía trên nhưng cũng làm cái xe đã cũ của tôi phải xuất hết công lực. Tôi đứng ở cái nơi mà một cán bộ kỹ thuật giao thông chỉ cho biết phía dưới là con đường cũ giờ đã bị cây rừng phủ kín. Đột nhiên tôi nhận ra rằng cái việc công khó ấy cũng sẽ bị lãng quên, cũng sẽ bị chôn vùi vào thời gian rồi lại đột ngột được lôi ra để phục vụ cho những mục tiêu có thể rất khác nhau. Có một sự thay đổi trong tôi tuy còn mơ hồ nhưng là một sự thay đổi. Tôi cảm thấy sự vô nghĩa của việc mình đứng trơ trọi một mình ở đây, để hòng lấp cái sự trống trải do việc Khê đi xa để lại. Tại sao ta lại không tự sống với chính mình. Tôi bỏ luôn ý định đến nơi có cây cầu mà trung úy Decbert, người đồng hành với đại úy Debay đã tử nạn vì cây đè. Tôi cũng bỏ luôn ý định đi suối Mơ tìm sự tích về một nhân vật người Tàu có cái tên là Sapha đượ cư dân ở đây thờ cúng. Tôi bình tâm xuống núi” (Khê ma ma, tập 4, tr.20-21).
Trong hình bóng phảng phất hơi hướm lịch sử đó, bạn đọc nhận ra cuộc sống hiện đại. Phần vì những chi tiết như vậy, khiến ta nhận ra một Đà Nẵng hoặc giả rộng hơn là cả khu vực miền Trung, thấy vừa quen nhưng vừa lại. Đó là miền trung qua nhãn quan của Thái Bá Lợi. Miền trung của những văn nhân thi sĩ nổi danh nhưng cũng có những con người ít nhiều cổ quái. Nhân vật Khê trong tiểu thuyết Khê Ma Ma (2004) cũng có hành tung bất định, khó biết. Lại thêm nhân vật thi sĩ trên đỉnh đèo Hải Vân – bút danh Lại Phiền Hà – quả là cách chơi chữ vừa thú vị vừa trái khoáy nhưng cũng bộc lộ nét độc đáo riêng mà xưa nay ít người hiểu nổi những văn sĩ cô quạnh trên đỉnh núi như vậy. Phần nhiều nhân vật của Thái Bá Lợi là người lính, cho nên những nhân vật kiểu này rất xa lạ với toàn bộ hệ thống nhân vật của anh. Điều này cho thấy những tín hiệu mới trong bút pháp nghệ thuật và hành trình khám phá đời sống của anh. Có lẽ từ những năm 2000 trở đi, ngòi bút Thái Bá Lợi bước sang giai đoạn khác với nhiều khám phá hơn, và đi sâu vào nhiều phương diện hơn của hiện thực đang diễn ra.
Ngoài thủ pháp quay ngược dòng thời gian, nhiều lần trong nhiều tác phẩm, Thái Bá Lợi để cho nhân vật mơ. Những giấc mơ trở đi trở lại cho thấy thời gian dù luôn chảy về phía trước nhưng có những tâm hồn mãi mãi mắc kẹt trong dĩ vãng. Thủ pháp – tạm gọi thủ pháp giấc mơ của Thái Bá Lợi cho thấy tình thế vắt vẻo trên lưng chừng thời gian của con người thế hệ đó. Thế hệ của chính tác giả!
“Anh chỉ mơ thấy những trận đánh mà anh bị dồn vào thế bí, những lần B52 đánh đúng vào chỗ ở của trung đoàn, đất ùn vào cửa hầm. Những lần trung đoàn hết gạo, các tiểu đoàn trưởng xách gùi lên xin gạo. Nhiều đêm anh mơ thấy người tiểu đoàn trưởng cũ của mình, về trận đầu đánh vào một căn cứ Mỹ suốt đời phải nhớ của anh. Vệt sáng lờ nhờ ở đầu một đoạn chiến hào. Những đồng đội của anh trườn qua các mô đất rồi chảy vào giữa đám lính Mỹ nhốn nháo. Thủ pháo tung lên, tiểu liên AK quét sát rạt. Một vài quả phóng lựu M79 nổ đâu đó. Anh trườn lên cố vào sát một ụ đại liên đang phun đại. Cả người đại đội phó, cả người liên lạc của anh đã ngã xuống trước mặt anh vì ụ súng đó” (Bán đảo, tập 3, tr.44-45).
Dòng hồi tưởng tuôn trào dằng dặc, tưởng như dòng sông ký ức sống lại cuộn thác ùa về. Thái Bá Lợi dựng lại khung cảnh chiến tranh thật sinh động khiến người đọc như nhìn thấy trước mắt cuộc chiến sinh tử trong gang tấc. Nếu phải ngẫm ngợi xem điều gì còn mất theo dòng thời gian, có lẽ với trường hợp Thái Bá Lợi, vẫn còn mãi những ký ức chiến trường, những trận đánh dữ dội, còn mãi tình đồng đội và tình người. Ta có thể khẳng định điều đó sẽ tiếp tục tồn tại và được trân trọng giữ gìn trong tâm hồn của nhà văn Thái Bá Lợi.
Nhưng, chắc chắn cũng phải có nhiều điều thay đổi. Vận hội đời sống luôn vần xoay, cái còn cái mất, cũng là lẽ hiển nhiên. Việc Đà Nẵng làm vỉa hè, hay công cuộc đô thị hóa nói chung, khiến cho Trần Dạ trong tiểu thuyết Câu chuyện Đà Nẵng (2016) tưởng như mất mát một cái gì không rõ. Thời đại chắc hẳn phải dịch chuyển và tiến lên phía trước. Những gì còn mắc kẹt lại trong thời gian hoặc còn dính dấp không nỡ rời xa có lẽ không thể làm chậm bước thời đại. Cuối cùng, những gì còn mất đều tựu trung ở “cảm quan” của người nào đó! Cái còn cái mất trong cảm nhận riêng của mỗi người thật khác nhau!
“Ấn tượng nhất với Trần Dạ là đoạn đường sắt chạy dọc sông và cái ga xe lửa có tên là ga Chợ Hàn vì nó ở ngay trước chợ Hàn. Đây là nơi Dạ gửi trọn cả thời thơ ấu của mình. Những năm chiến tranh, đất nước chia cắt, đường sắt phía Nam chỉ chạy được từng đoạn. Đoạn Đà Nẵng – Huế ít khi bị gián đoạn, thường xuyên có tàu chạy cho đến ngày giải phóng. Từ ga Đà Nẵng một nhánh đường chạy đến ga Chợ Hàn, thi thoảng mới có một chuyến tàu đến chở hàng từ các cầu cảng. Trần Dạ nhiều lần nhảy lên những chuyến tàu đó, trốn vào các toa hàng, ngao du từ chợ Hàn, dọc đường Bạch Đằng, lên đường Đống Đa ra ga Đà Nẵng rồi đi bộ về nhà vì lâu lâu mới có một chuyến tàu trở lại. Những chuyến du hành như vậy, anh thường đi một mình, không rủ bạn bè vì sợ bị nhân viên đường sắt xách cổ xuống hoặc lĩnh một cái bạt tai. Anh vui mấy ngày nếu chuyến du hành mạo hiểm như vật trót lọt“ (Câu chuyện Đà Nẵng, tập 5, tr.17).
Những chuyến du hành thơ ấu mãi mãi là cái còn lại nhưng không gian thơ ấu đã chìm vào đáy hồ thời gian. Có lẽ vậy, những người như Trần Dạ khi ngồi lại nhâm nhi với bạn bè vẫn hay lãng đãng để tâm trí trôi dạt đi đâu đó. Phải chăng nhân vật hay chính tác giả vẫn thường sống nhiều về quá khứ, nặng tình với quá khứ. Mà có lẽ đến độ tuổi nào đó, con người ta sẽ bị thời gian trì kéo tâm tưởng. Khiến cho họ, những con người của năm tháng cũ những khi gặp nhau hầu như chỉ nhắc chuyện hồi đó, hồi xưa, hồi nẳm. Ai cũng vậy, bởi trầm tích thời gian lắng tụ trong đáy tâm hồn! Vừa sự chuyển dịch của vận hội đời sống mà cũng chính bởi sự lệch pha tâm tưởng của con người bị kéo dãn về phía quá khứ với chính cái thực tại luôn luôn “đang là” của đời sống. Khoảng lệch pha đó càng lớn, trang văn càng có phong khí suy tư, chiêm nghiệm, ngậm ngùi.
Vì sao việc Trần Dạ xin nghỉ việc được tác giả thuật lại trong sự đan cài với không gian Đà Nẵng ngày giải phóng hai mươi chín tháng ba? Từ cầu Cẩm Lệ lên phía Hòa Cầm, “buổi sáng ngày 29 tháng Ba trời nắng nhưng có gió nên không đến nỗi oi bức. Cái bức bối là dòng người đang đi lại loạn xạ trên đường. Người đi xuôi, kẻ đi ngược, lính vứt súng lẫn lộn với dân, dân phía bắc đổ vào, phía nam đổ ra chen vai thích cánh xô đẩy nhau, cứ đi lên rồi đi xuống một cách vô định. Họ đã hoàn toàn giao sự sống chết của mình cho thời cuộc” (Câu chuyện Đà Nẵng, tập 5, tr.21-22). Nhưng điều đáng nói là trong khi nhìn vào quá khứ, Trần Dạ lại thấy hiện tại và tương lai. Tấm lòng của nhân vật với Đà Nẵng vẫn trước sau như một. Niềm mong mỏi một con người xuất hiện để phát triển quê hương vẫn sôi sục trong lòng. Không phải đến khi xin từ chức bí thư phường, Trần Dạ mới có suy nghĩ đó. Kỳ thực, từ hồi làm cách mạng cho đến tận lúc cầm đơn xin từ chức trên tay, Trần Dạ không khi nào không nghĩ cho Đà Nẵng.
“Anh cũng không thể nào để lòng mình thờ ơ với cái thành phố nơi anh sinh ra và lớn lên. Anh vẫn theo dõi từng bước đi của nó, hồi hộp lo lắng mừng vui hệt như anh đang giữ trọng trách với nó. Lòng anh mong mỏi có một con người hay nhiều người mới, trẻ tuổi hơn anh, tài ba hơn anh để đưa thành phố này đi lên. Anh hồi hộp chờ một con người như vậy, nhưng đến ngày anh cầm quyết định nghỉ việc, với số tiền trợ cấp một lần chỉ đủ đi mời bạn bè mấy bữa nhậu, con người đó hay những con người đó vẫn chưa xuất hiện” (Câu chuyện Đà Nẵng, tập 5, tr.28).
Nhìn về quá khứ thực chất là niềm mong mỏi, khao khát cháy bỏng về phía tương lai! Quá khứ thì khốc liệt, hiện tại thì ngổn ngang; cái cũ còn trĩu nặng trong khi cái mới đã vò tơ rối ren. Ưu tư của Bí thư Mai và Ba Danh trong đêm ở núi rừng huyện Hiên không chỉ chuyện của Đà Nẵng mà là công cuộc làm mới đất nước những năm 1980-1990.
“Suốt mấy tháng ròng, Ba Danh ngày đêm suy nghĩ tìm ra những điều cần thiết nhất để trình bày với Thủ tướng. Điều mà anh trăn trở nhất là cái cơ chế nội tại kiềm tỏa không cho thành phố vươn lên” (Câu chuyện Đà Nẵng, tập 5, tr.33). “Ba Danh suy nghĩ hướng đột phá của Đà Nẵng là cái gì. Làm việc gì trước, việc gì sau. Chỉ một việc mở rộng đường Quang Trung mới đụng đến những cây xà cừ, vốn là loại cây không thích hợp trồng trên phố vì rễ nổi, thân to phá vỡ vỉa hè, mùa mưa bão lại dễ đổ vậy mà báo chí đã rầm rầm phản đối “xa rồi, xà cừ ơi” thống thiết như mất đảo xa. Các đoàn thể xã hội, các bậc lão thành đã kiến nghị không được đụng đến hàng cây lâu năm này. Không đụng vào hàng cây xà cừ thì làm sao mở rộng đường? Lại một bài toán không phải dễ giải” (Câu chuyện Đà Nẵng, tập 5, tr.34).
Dù những năm vừa sau ngày thống nhất, dù những năm thập niên 1990 hay những năm đầu thiên niên kỷ mới, trên mỗi chặng hành trình, Thái Bá Lợi đều bắt nhịp kịp thời với vận hội đời sống. Một trái tim luôn thao thức với biến chuyển xã hội, với niềm mong mỏi đất nước phát triển, Thái Bá Lợi cho thấy một tấm lòng dung dị và nhiệt thành. Có lẽ đóng góp của nhà văn chính là những nỗ lực ghi chép, tái hiện và thao thức dọc theo con đường phát triển của đất nước. Văn chương Thái Bá Lợi đồng hành cùng quê hương và dân tộc trong từng thời kỳ khác nhau. Ở đó, có những suy tư về cũ mới, về được mất, nhưng tựu trung đều thể hiện tấm lòng thành thực cầu mong đất nước phát triển.
3. Văn chương – những suy ngẫm về nghệ thuật
Với hàng loạt tác phẩm và hàng loạt giải thưởng từ thập niên 1970…, Thái Bá Lợi đã có hành trình văn chương bền bỉ và đáng khâm phục. Đến nay, có thể nói, Thái Bá Lợi đã đứng vào hàng ngũ những nhà văn tiểu biểu của văn học hiện đại Việt Nam – nhất là giai đoạn đổi mới và mở cửa. Như sự tổng kết hành trình văn chương, Tuyển tập Thái Bá Lợi gồm 5 tập gồm cả truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết, … sáng tác trải dài từ những năm trước và sau 1975 cho đến tập thập niên 2010 gần đây; cùng với nhiều ý kiến đánh giá giá trị tác phẩm Thái Bá Lợi.
Trong số những thể loại ghi dấu ấn của Thái Bá Lợi, có lẽ truyện ngắn và tiểu thuyết. Đáng nói, truyện ngắn của anh có xu hướng vươn đến tầm tiểu thuyết và tiểu thuyết của anh có xu hướng cô đọng như truyện ngắn. Rõ là, ranh giới thể loại không hoàn toàn rạch ròi trong sáng tác của anh. Ngẫm lại, thực ra người viết không phải lúc nào cũng bị lệ thuộc vào các quan niệm thể loại, vốn là mối quan tâm của nhà lý luận phê bình. Với truyện ngắn, đòi hỏi dung lượng nhỏ, thường chỉ xoay quanh một tình huống hoặc câu chuyện một con người, lát cắt một thân phận, nên nhà văn Thái Bá Lợi thường chú trọng xây dựng tình huống truyện gãy gọn và thường gây tò mò cho bạn đọc. Song đến khi kết thúc câu chuyện, Thái Bá Lợi thường gieo lại trong lòng bạn đọc nỗi bâng khuâng, có phần chưng hửng, có phần ngậm ngùi. Và thường xuyên, câu chuyện kết thúc trong nỗi niềm thinh lặng xa xăm – đôi khi rất xa xăm. Thêm vào đó, giọng điệu và tốc độ kể thay đổi liên tục. Nhất là, trong hoàn cảnh chiến đấu, giọng văn Thái Bá Lợi tưởng như “đồng loạt xung phong chạy ào lên phía trước” – dồn dập, dồn dập  đến nghẹt thở. Tốc độ kể nhanh gọn, khẩu khí người trực tiếp sống trên chiến trường, chiến đấu nơi sa trường… Rồi, cũng có khi lặng thinh, lúc ưu tư trĩu nặng, Thái Bá Lợi có những đoạn độc thoại nội tâm rất dài – dài tưởng chừng nhân vật đắm chìm trong dòng suy tư không thôi. Thường như thế, Thái Bá Lợi khắc họa những đay nghiến nội tâm hoặc những niềm đau khôn nguôi của quá khứ.
“Buổi sáng tôi dậy sớm để ra đi. Thực ra tôi có thể ở lại với bà một vài ngày nữa nếu tôi muốn. Vắng tôi, chuyến công tác của cơ quan chẳng ảnh hưởng gì. Nhưng tôi không đủ sức chịu đựng cái nhìn của bà mỗi khi nghe tôi kể chuyện. Trong đêm tôi chỉ chợp mắt được vài giờ vào lúc gần sáng. Gió xào xạc ngoài vườn. Tiếng kêu chem chép của một con thằn lằn trên mái nhà. Bên nhà hàng xóm tiếng một con mèo già rống lên như tiếng trẻ khóc. Có thể những cái đó làm tôi khó ngủ. Tôi mở to mắt nhìn vệt sáng lờ mờ đầu chái nhà. Từ vệt sáng đó hiện lên cánh rừng chiều, phiên tòa quân sự, cái bờ hố nơi Đán ngã gục trước hai mươi tám tay súng chúng tôi. Cũng từ vệt sáng đó văng vẳng lời tuyên án của vị chánh án. Nhưng tất cả mọi thứ đã nhòe đi, chìm xuống trước câu nói của người mẹ. Cháu cứ kể đi, bác chịu được, bác chịu được mà … lặp đi lặp lại như một điệp khúc” (Đội hành quyết, tập 1, 277-278).
Ám ảnh về việc tự tay bắn vào đồng đội và đồng loại của mình là ám ảnh suốt đời. Cứ trở đi cứ lại giày vò “hai mươi tám tay súng chúng tôi”. Nhìn từ lý thuyết chấn thương, nỗi đau năm cũ của nhân vật xưng tôi trong Đội hành quyết là chấn thương mãn tính. Chấn thương chiến tranh có thể lỗ đầu bể trán ghê rợn nhưng chấn thương hậu chiến dù không đổ máu lòi ruột nhưng lại dày vò héo hon tâm can. Bởi nó đeo đẳng thường trực và dai dẳng theo năm tháng!
Trong văn chương, Thái Bá Lợi cho thấy vốn sống phong phú. Dễ hiểu, bởi anh trực tiếp trải qua những hoàn cảnh, thời thế khác nhau của đất nước. Đặc biệt, anh thấu hiểu nội tâm của người lính. Giọng điệu gần gũi, tâm tình, anh kể lại những mẩu chuyện mà hễ ai từng trải qua đời binh nghiệp không thấy gì xa lạ và thế nào cũng cảm thấy xúc động sâu sắc. Dung lượng tác phẩm của anh có đặc điểm như đã nói: truyện ngắn mang tầm cỡ tiểu thuyết và ngược lại tiểu thuyết có sự cô đọng dồn nén như truyện ngắn. Đặc điểm này sẽ trở nên dễ hiểu nếu bạn nhận thấy tư duy nghệ thuật Thái Bá Lợi: sự thận trọng, chỉn chu, khắt khe của chính ông trong việc xây dựng tác phẩm. Vấn đề quan tâm không còn là dung lượng hay định hình thi pháp thể loại mà điều quan trọng hơn cả: khả năng tác động hiệu quả nhất mà tác phẩm có thể gây ra ở bạn đọc. Chuyện thi pháp thể loại, chủ yếu là chuyện của nhà phê bình, người sáng tác phần nhiều khi cầm bút không quá câu nệ, lệ thuộc vào những quy chuẩn thể loại.
Qua trang văn, Thái Bá Lợi cũng bộc lộ nhiều điều về quan niệm nghệ thuật. Trong tiểu thuyết Trùng tu (2003), Thái Bá Lợi viết:
“Vừa rồi tao có gặp một thằng, trước là y sỹ trên mặt trận, đã xuống Huế ngay từ những ngày đầu, sau bổ sung về đại đội quân y trung đoàn mình. Bây giờ nó chuyển sang viết văn. Hôm tao gặp, nó nói đang soạn một bộ tiểu thuyết ba tập dày ngàn trang về chiến dịch Mậu Thân ở Huế. Trên bàn nó bày các bản đồ Huế và nhiều chồng tài liệu. Nói chuyện với nó, tao cảm thấy nó đang mắc bệnh. Nhà văn cũng có bệnh nghề nghiệp chứ? Nó tưởng tượng ra nó hay hơn tưởng tượng ra các nhân vật. Nhà nó lúc nào cũng đông khách. Hôm tao đến gặp các tướng đang uống bia. Một can bia hơi mười lít. Tao cũng được mời ngồi xuống chiếu. Các tướng đang bàn hình thành một nhóm, một hội gì đó để hướng dẫn văn nghệ cả nước. Tao nghe cũng hơi chối nhưng cứ phải ngồi nghe vì mình là thằng ngoại đạo. Một ông trong bọn nói với tao: Anh thông cảm cho, bọn tôi không có ý gì đâu, chỉ muốn cùng anh em cả nước tiến lên làm những tác phẩm có giá trị. Lúc đó tao nghĩ các nghĩa sĩ ngày xưa tụ nghĩa thường uống máu ăn thề, bọn du đãng lập băng thì uống nước ống cống, các cha nội này muốn lãnh đạo văn nghệ cả nước mà chỉ uống có một can bia hơi thì cũng bị khó tin đấy! Khi gặp riêng nó tao nói: Ông muốn lưu danh phải không? Nếu muốn lưu danh cần gì đến hàng ngàn trang, vài câu hay vẫn lưu danh được. Kể ra tao cũng nặng lời, dù sao nó cũng đã chữa cho tao khỏi cơn sốt ác tính trước khi tao ra Bắc” (Trùng tu, tập 3, tr.365-366).
Về sự lưu danh, có lẽ cần ngẫm thêm về thực danh và hư danh! Câu văn của Thái Bá Lợi có thể khiến nhiều người chợt tỉnh ngộ. Nhất là, người ta cảm ra và ngộ ra cuộc rong chơi chữ nghĩa văn chương này. Rốt cuộc làm văn chương vì ai, vì điều gì và để làm gì? Chưa dám lạm bàn về thành tựu văn nghiệp, nhưng ta thấy cần nhấn mạnh rằng: Thái Bá Lợi là người nghiêm chính khi làm văn chương. Và văn chương của anh không phải chữ nghĩa vì mình mà là chữ nghĩa vì người và vì đời. Phần được của văn nghiệp là ở người, không phải ở mình. Trong tác phẩm Bán Đảo, nhà văn cho nhân vật đối thoại với người kể chuyện. Có lẽ, đó là cách Thái Bá Lợi tự trò chuyện với chính mình. Cơ hồ, đối thoại nhưng thực ra là độc thoại.
“Ông Lợi này, tôi có đọc một hai truyện của ông. Văn chương thì chưa bàn làm gì, nhưng tôi cứ gọi ông là ông Lợi như ngày xưa chứ không phải Thái Bá Lợi như các ông văn nghệ sĩ vẫn thường gọi nhau. Việc gì mà dài dòng thế phải không ông? Các tác giả thực sự chắc họ giản dị lắm” (Bán đảo, tập 3, tr.25).
Văn chương Thái Bá Lợi vì thế, có tính chất phản tư sâu sắc. Then chốt triết học Kant nằm ở ba truy vấn: “Tôi có thể tri thức gì? Tôi phải làm gì? Tôi có quyền hy vọng gì?”[1]. Sự phản tư của Thái Bá Lợi cơ hồ cũng tương quan với ba truy vấn này. Văn xuôi Thái Bá Lợi luôn cứ trăn trở, day dứt, không yên bởi những suy tư này. Biểu hiện của trăn trở nghệ thuật này là các dòng thời gian của hành động kể liên tục di chuyển, đôi khi có hai ba dòng thời gian cùng chảy đồng thời. Cũng tức là điểm nhìn trần thuật cũng liên tục thay đổi. Cho nên, văn xuôi của anh nhìn có vẻ bình lặng nhưng bên dưới có những gợn sóng thời gian cuồn cuộn. Mặt nước chỉ lăn tăn nhưng lòng nước cuộn xoáy.
“Hơn ba mươi năm sau, khi trở về thăm quê, leo lên dãy Động Mông – Đá Hàm, Thành không thể nào hình dung ra nơi diễn ra trận đánh giữa quân Mỹ với đầy đủ các phương tiện hiện đại từ pháo bầy đến trực thăng với đoàn cán bộ của sư đoàn 2 đi chuẩn bị chiến trường cho chiến dịch Tết Mậu Thân trong thung lũng Quế Sơn, chỉ có tiểu liên và súng ngắn. Tổn thất của trận đánh này đối với Quân khu Năm lúc đó rất nặng nề, nhưng cũng ít người biết. Toàn bộ Bộ tư lệnh sư đoàn gồm các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, hai ban chỉ huy trung đoàn 21 và 31, các chiến sĩ trinh sát và vệ binh đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hi sinh trừ dăm người sống sót trong đó hai người lính trinh sát đêm ấy về ngủ ở vườn mít nhà Thành để đi đón các thủ trưởng mới cho sư đoàn” (Minh Sư, tập 4, tr.90).
Để bộc lộ quan niệm nghệ thuật, nhà văn Thái Bá Lợi xây dựng nhân vật nhưng không ngừng “dày vò” nhân vật. Rất nhiều nhân vật của anh như Đoàn Minh Thành trong tiểu thuyết Minh Sư (2010), cứ phải sống trong nỗi ám ảnh thường về những ký ức đau thương chiến trường. Nhân vật của Thái Bá Lợi phần nhiều là nhân vật nội tâm, sống nhiều về suy tưởng, nghĩ tưởng. Qua đó, ta thấy nghệ thuật với Thái Bá Lợi là quá trình tư tưởng về chính bản thân tư tưởng. Chủ đích nghệ thuật của nhà văn phần nhiều biểu thị qua các nhân vật tư tưởng như thế! Bởi vậy nội tâm của họ cũng nặng nề, đau đớn với những vết thương dù đã hơn ba mươi năm vẫn chưa lành lặn. Thành nhớ đi nhớ lại đêm thủ trưởng hi sinh.
“Buổi chiều có điện của ông Phước bí thư triệu tập thủ trưởng về họp. Giao liên đi bám đường hai lần báo cáo địch đã chốt nhiều nơi trên hành lang. Thủ trưởng ra lệnh cứ phải bám địch mà đi. Khi họ đến sát đường số 1 thuộc địa phận Giáp Năm gần cầu Thanh Quýt thì nghe có mùi thuốc lá thơm. Thủ trưởng trực tiếp bò lên quan sát. Có một tiểu đội Mỹ chốt trên đường 1. Thủ trưởng trở về rồi bò đi tìm một hướng khác để vượt đường. Hướng này phải bò qua một ruộng bắp rồi đến một cái cống lớn. Sau hơn mươi phút quan sát, thủ trưởng lệnh vượt đường. Khi mọi người thở phào nhẹ nhõm vì đã vượt đường 1 an toàn và tiếp tục đi về phía tây thì có tiếng súng nổ. Lúc đầu chỉ có tiểu liên AR15, sau đó có đạn phóng lựu, rồi có cả đạn đại liên bay tới đội hình đang trên đường. Thủ trưởng lệnh cho tổ giao liên nổ súng kiềm chế đi vòng qua một gò đất để vượt qua chốt địch. Cái chốt này mới có vì buổi chiều trinh sát báo từ đoạn này lên đến Hòn Tàu không có địch. Quân ta đã vượt được cái chốt này, chắc là của bọn Mỹ. Nhưng mới đi được hai trăm thước, vào một ruộng mía thì gặp một chốt khác, cũng của bọn Mỹ. Chính vì cái chốt này mà thủ trưởng hi sinh cùng một đồng chí giao liên” (Minh Sư, tập 4, tr.93-94).
Để khắc họa nhân vật tư tưởng, bạn đọc có thể thấy nhà văn rất hay sử dụng lối độc thoại nội tâm. Việc này càng thuận tiện để nhân vật của Thái Bá Lợi hồi tưởng những mảng ký ức vụn năm cũ. Có lẽ vậy nên nhà thơ Thanh Thảo nói trang văn của Thái Bá Lợi “gợi ra từ ký ức”. Và ta tưởng như trang văn của Thái Bá Lợi như cách anh nhặt nhạnh những hồi ức trong tâm tưởng để kết dệt thành bức tranh tâm trạng của người lính mà dù nửa thế kỷ trôi qua cũng không nguôi nhớ đồng đội xưa, chiến trường xưa. Nỗi ngậm ngùi thương tưởng quá khứ khiến cho trang văn của anh như phủ lên màn sương năm tháng. Trong đó lẩn khuất hơi hám người xưa, nhiều đoạn Thái Bá Lợi chia sẻ những vết tích lịch sử còn in hằn trên từng địa danh mà bom đạn cày xới. Miền đất dọc đôi bờ Thu Bồn đã bao lần khói lửa, đã bao nhiêu thời đại thịnh rồi suy, suy rồi lại thịnh. Can qua năm tháng tưởng như tạo nên những lớp trầm tích của đất đai xứ ấy. Cảm hứng văn hóa lịch sử biểu hiện khá thường xuyên trong trang viết của Thái Bá Lợi.
“Đây là vùng đất giáp ranh giữa hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam. Theo sử sách ghi lại phía nam sông Thu Bồn là đất của trấn Quảng Nam do Đô đốc Bùi Tá Hán tổng trấn, còn bắc sông chịu sự cai quản của Tổng đốc Thuận Hóa Luân quận công Tống Phước Trị. Vì là vùng đất giáp ranh nên sự cai trị rất lỏng lẻo, nhất là vùng đất từ bắc sông đến núi Hải Vân” (Minh Sư, tập 4, tr.96). “Đó là vào một buổi chiều tháng Chín năm Mậu Ngọ (1558) bên bờ sông Cái. Bọn người theo Phạm Dữ đến đây chưa quá chục người, thực ra họ mới chỉ quen nhau buổi sáng nay. Đó là những con người bất định gặp nhau trên đường đời. Phần lớn bọn họ từ vùng Thanh Hóa, Nghệ An đi vào. Họ đến vùng Ô châu ác địa này với những tâm trạng khác nhau. Có người là dư đảng của họ Mạc, tuy quê họ đã tái thuộc về nhà Lê, nhưng họ chưa phục vua Lê, còn lưu luyến nhà Mạc. Có người do bất mãn với họ Trịnh muốn đi tìm một minh chủ mới. Cũng có người là thuộc hạ của gia đình Nguyễn Kim, bỏ đất Thanh ra đi vì sợ tai họa sẽ đến với mình như đã đến với gia đình họ Nguyễn. Những con người đang ngồi trong căn lều, bên bến nước của con sông lớn trong mùa lũ này chưa phải là những người làm ta nghĩ đây là những đại diện cho dòng người đang đổ về nam, nhưng họ là những con người đang được dung dưỡng trong cái không khí hỗn loạn qua nhiều biến cố dồn dập. Họ bất chấp kỷ cương, quen tính hung bạo, nói năng ương ngạnh, sống đời phóng túng. Họ tạo nên dòng người đang tiến về phía nam một cách vô tổ chức và hầu như mục đích rất mơ hồ” (Minh Sư, tập 4, tr.96-97)
Về phong cách trần thuật, Thái Bá Lợi không cố tình sáng tạo lối trần thuật khác lạ. Điểm đáng chú ý nhất trong lối viết của anh chính là việc lựa chọn và thể hiện các chi tiết truyện. Phần nhiều, đó là những chi tiết khóc liệt, ám ảnh, éo le.
“Năm 1969, năm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh ở đây nặng nề trôi qua. Càng cuối năm địch càng ra sức đánh phá những vùng giải phóng hai bên sông Thu Bồn. Các con đường lấy gạo hầu như bị bịt kín. Trung đoàn với số thương vong cao và không được bổ sung quân số không đánh được trận nào đạt yêu cầu. Sau mùa mưa các đơn vị chưa biết cách nào để có đủ gạo nuôi sống bộ đội. Trong trung đoàn không có nơi nào mỗi người một ngày được một lon gạo. Tiểu đoàn 9 đóng ở vùng Dùi Chiêng theo báo cáo thì đã hết gạo mười ngày rồi. Ở bệnh xá trung đoàn, nhiều trường hợp cấp cứu được cứu chữa một cách đơn giản: tiêm gluycô vào tĩnh mạch, cho uống nước đường, cho ăn sữa, cho ăn cháo, cho ăn cơm, giữ lại uống hết liều thuốc sốt rét rồi ra viện” (Hai người trở lại trung đoàn, tập 1, tr.196-197).
Truyện ngắn Hai người trở lại trung đoàn gợi lại thời kỳ gian nan chiến chinh mà bất kỳ ai từng kinh qua đời lính không bao giờ quên được. Hay cái chết của người vợ trên căn gác nhỏ phố Khâm Thiên của nhân vật Hải hồi năm 1972 với chiến dịch B52 của Nixon đánh vào thủ đô trong tiểu thuyết Bán Đảo. Những chi tiết trong sự kiện người tản cư đổ dồn về Đà Nẵng khiến dân số tăng lên gấp ba tạo ra bao cảnh trớ trêu, chi tiết anh lính nhận được bọc tiền rồi ăn chơi xả láng đến mức bị đuổi khỏi ngành trong tiểu thuyết Câu chuyện Đà Nẵng (2016), … và còn rất nhiều chi tiết khác nữa. Trang viết của Thái Bá Lợi dày đặc những chi tiết mà chỉ người trong cuộc mới cảm thấu hết được. Nhưng việc khai thác và sử dụng các chi tiết độc đáo, có khả năng tác động mạnh trong truyện của Thái Bá Lợi không đưa anh đến chỗ cực đoan – ấy là tạo ra các chi tiết phơi bày tính phi nhân của con người – ngược lại chi tiết của Thái Bá Lợi củng cố thêm: dù trong hoàn cảnh khốc liệt và bi thảm như thế nào, con người mà cụ thể là con người Việt Nam đều khẳng định tình người, tình giống nòi thắm thiết.
Nhiều nhà văn phân tích tâm lý nhân vật một cách lạnh lùng, hoặc là phân tích nhân vật như nhà phân tâm mổ xẻ những góc khuất tâm hồn. Với Thái Bá Lợi, nhà văn phân tích tâm lý nhân vật bằng sự cảm thông. Đứng trước các động thái biểu hiện của nhân vật, “tôi” (mà có lẽ chính là nhà văn) cố gắng thấu hiểu những thương tích mà nhân vật chịu đựng để thông cảm cho hành động và nét mặt của họ. Thái Bá Lợi bộc lộ tình cảm nhân đạo với chính những nhân vật của mình.
“Mỗi một con người nhiều khi không ý thức hết được những việc xẩy ra đối với mình và những ứng xử của mình sau đó. Thường thường họ phải nhờ những người khác, bằng một lời khuyên hoặc một việc làm giúp họ nhận rõ ra mình. Không phải lời khuyên nào cũng có thể đúng được cả. Vì vậy họ rất dè dặt, thận trọng khi nhận ra một lời khuyên mới. Điều đó gần như một tập quán, mà một tập quán thì ngay đến niềm căm giận mãnh liệt và liều lĩnh nhất cũng chưa hề thắng nổi tập quán, như một nhà văn đã nói. Các nhân vật trong câu chuyện này cũng vậy. Đầu tiên họ bị bất ngờ vì các sự việc vốn rất dễ xảy ra mà họ lại nghĩ nó không xảy ra nữa. Sau những ngày bàng hoàng ấy, họ lại để cho những suy nghĩ cá nhân kéo dài lê thê, mỗi người đều kéo câu chuyện về phía mình, không hề nghĩ đến việc người khác đang nghĩ gì về nó. Chắc rằng có người trong họ cũng muốn quyết đoán một điều gì thật êm thắm và tốt đẹp. Nhưng cho đến nay tôi vẫn chưa thấy có ai quyết đoán được điều gì” (Bán đảo, tập 3, tr.17-18).
Phần nhiều tác phẩm của Thái Bá Lợi, cả truyện ngắn và tiểu thuyết, anh hay sử dụng ngôi kể ngôi thứ nhất. Ngôi kể này giúp cho nhà văn bộc lộ tâm tư, suy nghĩ kín đáo về tất cả động thái xảy ra trong câu chuyện. Và ngôi kể này cũng cho phép hành động kể như tiến gần đến đối tượng bằng một góc nhìn cận cảnh để khắc họa cuộc đời và tâm tư của họ. Phần nữa, ngôi kể này cũng giúp cho chính bạn đọc đến gần hơn với “hình tượng người kể chuyện”. Và ở cự ly gần, bạn đọc như đang nghe lời thủ thỉ của chính tác giả, phân trần, phơi bày, thổ lộ những ưu tư thời gian và đời sống. Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật cũng thay đổi liên tục. Điều này cho thấy nhà văn phản ánh hiện thực qua nhiều chiều hướng khác nhau. Có lẽ nhà văn muốn nhìn nhận cuộc sống từ nhiều góc độ, ngõ hòng phản ánh được chân thực nhất những góc khuất mà lắm khi nếu chỉ nhìn một chiều ta không thể nào khám phá được. Có lẽ vì thay đổi điểm nhìn nên những yêu thương lẫn ngậm ngùi của Mây trong Hai người trở lại trung đoàn, hay chị Tân trong Bán đảo được hiện lên một cách thuyết phục.
Thái Bá Lợi là nhà văn của niềm cảm thông và thấu hiểu!
Thay lời kết:
Từ những năm đầu thập niên 1970 đến nay, Thái Bá Lợi đã có sự nghiệp văn chương đáng kể. Xuất thân từ người lính trên chiến trường, văn xuôi Thái Bá Lợi chủ yếu phản ánh hiện thực chiến trường và người lính Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nội dung tác phẩm của Thái Bá Lợi cho thấy hiện thực đời sống đất nước trải dài từ trước và sau 1975 cho đến tận thập niên 2010. Đó là trương độ thời gian và không gian rộng rãi, cho thấy nỗ lực của người cầm bút trong việc khái quát hiện thực đời sống.
Phần nhiều tác phẩm của Thái Bá Lợi được ấn hành ở thập niên 1980 – 2000, cho nên có thể nói anh đặc biệt có nhiều đóng góp cho văn chương Việt Nam trong thời kỳ đất nước đổi mới mở cửa. Những ký ức chiến trường lồng ghép vào hiện thực mới của đất nước khiến cho những “vết thương” tâm tưởng của người lính càng thêm day dứt. Nhân vật của Thái Bá Lợi hầu như là nhân vật tư tưởng. Cũng như chính tác giả, một con người nhiều ưu tư và ưa chiêm nghiệm! Với thực tiễn phản ánh trong tác phẩm, nếu có nhà nghiên cứu nào khai thác tác phẩm Thái Bá Lợi qua góc nhìn lý thuyết chấn thương, hẳn sẽ tìm thấy nhiều vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Tác phẩm của Thái Bá Lợi trải dài khoảng nửa thế kỷ qua có thể xem như những vết thương năm tháng, vết thương nghệ thuật. Song nói rằng tác phẩm là biểu hiện của chấn thương e rằng ai cầm bút cũng ít nhiều là người chịu thương tổn nào đó. Với những người kinh qua binh nghiệp, như Thái Bá Lợi, nghệ thuật đâm chồi trên những thương tích chiến tranh. Thái Bá Lợi cho thấy văn học không chỉ hình thái nghệ thuật thiên về phía thẩm mỹ mà thực tế còn là biện pháp chữa lành và tái tạo xã hội. Biểu hiện của việc này chính là thông qua sự tiếp nhận của người đọc. Sự tiếp nhận của bạn đọc sẽ tiếp tục nỗ lực của tác giả trong việc chạy chữa thương tích thời đại. Giá trị tác phẩm Thái Bá Lợi chính là ở nỗ lực như thế!.
Chú thích:
[1] Dẫn theo Trần Thái Đỉnh (2005). Triết học Kant. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Thông tin, tr.38.
16/5/2024
Trần Bảo Định
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Châu Giang huyền thoại và… đôi điều trăn trở Cũng bởi có Châu Giang mà thời Hậu Lê, năm 1470, vua Lê Thánh Tông đem quân đi chinh phạt C...