Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

Cái nhìn của nhân vật Khuê trong "Tuổi 20 yêu dấu" của Nguyễn Huy Thiệp

Cái nhìn của nhân vật Khuê trong "Tuổi
20 yêu dấu" của Nguyễn Huy Thiệp

Đọc tiểu thuyết “Tuổi 20 yêu dấu” của Nguyễn Huy Thiệp, ta hiểu nhân vật Khuê có cái nhìn đại diện cho một bộ phận thanh niên Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.
Xuất thân trong một gia đình trí thức – bố là một nhà văn có danh tiếng, “có thời từng là thần tượng của bọn trẻ”, anh trai là sinh viên khoa Điêu khắc trường Đại học Mỹ thuật, có người mẹ rất yêu chiều con, và bản thân Khuê cũng đang là sinh viên đại học. Nhưng cái nhìn và thái độ của Khuê đối với con người và xã hội lại gây ra nhiều bất ngờ, trái ngược hoàn toàn với kiểu nhân vật tích cực mà trước đây, văn học xã hội chủ nghĩa thường gọi là “con người mới trong cuộc sống mới’.”
Trước hết về cuộc sống gia đình – hạt nhân tạo nên xã hội, Khuê hoàn toàn phủ nhận quan niệm truyền thống về tình cảm riêng tư. Văn học dân gian từng có những lời ca ngợi tình phụ tử, mẫu tử, anh em trong ca dao và cổ tích, rất xúc động:
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Hay:
Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần
Và “Sự tích trầu cau” muôn đời là bi kịch cảm động về khát vọng tình anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa.
Đến văn học hiện thực 1930 – 1945, tác phẩm “Thời thơ ấu” của Nguyên Hồng từng làm chảy nước mắt bao người về tấm lòng cảm thông, yêu thương, xót xa của người con đối với mẹ.
Nhưng đến tiểu thuyết “Tuổi 20 yêu dấu” (2002 – 2003), nhân vật Khuê chỉ nhìn thấy và dám chỉ ra mặt trái đáng chê cười với giọng kể giễu nhại, mỉa mai và thái độ phủ nhận tất cả. Trái với hình tượng người cha đầy kính trọng, yêu thương, luôn là cột trụ trong gia đình theo quan niệm truyền thống “Con không cha như nhà không nóc”, cha của Khuê xuất hiện ngay trong chương đầu tiểu thuyết lại là một người đàn ông háo sắc, nịnh đầm “rất thạo đàn bà”; mẹ thì luôn học đòi kiểu nói năng cư xử trưởng giả một cách kệch cỡm và lộ liễu; còn anh trai là kẻ trịch thượng, hay khoe khoang thói đạo đức giả của mình khi lên mặt dạy em.
Sống trong gia đình, thái độ của Khuê – một người con, người em gây cảm giác sững sờ, ngạc nhiên vô cùng cho người đọc. “Từ bản năng, tôi ngấm ngầm căm ghét gia đình tôi thậm tệ. Sự từng trải, hiểu biết của bố tôi… sự chu đáo tận tụy của mẹ tôi… sự lên mặt đạo đức khôn ngoan của thằng anh tôi… Tất cả những điều như thế “khiến” tôi lộn mửa. Tôi là cái gì ở nhà này? Tôi mãi không bao giờ được như họ. Tôi là con gián, con kiến, là số không? Chẳng ai hiểu cóc khô gì về tôi”. Thái độ ấy là sự phủ nhận, ghê tởm và khước từ cuộc sống gia đình mà bề ngoài thường được che giấu hoặc cho đó là mẫu mực.
Còn tác động của nhà trường thì sao? Thực tiễn hơn muời năm dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, đến nay khi đã là sinh viên năm thứ hai đại học, Khuê mới rút ra những nhận xét thật đáng sợ khiến người đọc phải suy nghĩ một cách nghiêm túc. Bản thân Khuê tự thú nhận mình là một kẻ nhác học, ngồi mòn đít trên ghế nhà trường mà những kiến thức cơ bản chẳng biết gì, đặc biệt những môn rất thiết thực như Toán, tiếng Anh, Địa lý. Thế mà vẫn được bố mẹ và nhà trường “phù phép” để mình tốt nghiệp nổi trung học phổ thông và đỗ vào đại học. Hệ thống giáo dục và đào tạo các cấp trung học và đại học thì sai lầm, lạc hậu, vô bổ. Vì đường lối phản khoa học hoặc nghèo nàn cơ sở kinh tế nên các nhà trường chỉ chuyên nhồi nhét lý thuyết vào đầu học sinh, sinh viên mà yếu hẳn thực hành. Sinh viên ra trường thiếu tự tin, tự lập, tự chủ, không áp dụng sáng tạo kiến thức đã học vào thực tế nên người kém, người trung bình thì thừa, thì thất nghiệp, còn người giỏi thì thiếu nếu không muốn nói là chẳng có mấy ai! Khuê tuyên bố chắc chắn: “Chẳng ai hiểu cóc khô gì! Ví dụ như ở trường học, tôi ngạc nhiên vì tại sao người ta lại đi nhồi nhét hàng mớ kiến thức chủ nghĩa như thế vào đầu bọn trẻ bao nhiêu năm trời?
Tôi công nhận những kiến thức tiểu học là có lý. Những thầy cô giáo thật ra thầy cô giáo. Họ đúng là những bậc thánh, mặc dầu các thầy cô giáo tiểu học ở đâu cũng vậy, họ có vẻ nghèo nàn, nhếch nhác và bẩn thỉu. Lên bậc trung học và đại học thì toàn bộ nền giáo dục đều đáng vứt đi cả. Kiến thức thì rối rắm, rỗng tuếch, vô bổ, chẳng ai hiểu cóc khô gì. Bọn giáo sư đại học ăn diện và vô đạo đức nói nhăng nói cuội ở trên bục giảng. Chính họ cũng chẳng hiểu họ nói cái gì. Nền giáo dục từ trung học và đại học theo tôi là một nền giáo dục ngục tù, khủng bố. Nó làm cho toàn bộ thanh niên chúng tôi trở nên kiệt sức, ấm ớ, dở hơi hoặc đểu cáng theo một cách nào đấy. Nó là một nền giáo dục đào tạo lưu manh. Tất cả những thanh niên thành đạt của nền giáo dục đó đều là những tên lưu manh một trăm phần trăm, tôi xin thề như vậy!”
Ngợi ca, giễu cợt, tố cáo và căm phẫn – các sắc thái cảm xúc nhằm thái độ phủ nhận giá trị của nền giáo dục và đào tạo đối với thế hệ thanh niên học sinh đương thời, mà nhân vật Khuê là một hệ quả.
Khuê thực sự bước vào cuộc sống phiêu lưu của kẻ bỏ học vì lười, ăn trộm tiền của mẹ và bị bố đuổi ra khỏi nhà vì hiểu nhầm con mình nghiện ma túy. Vô gia cư, vô nghề nghiệp, như một thứ bọt biển, ham vui, hám thú lạ, cậu trượt sâu vào con đường tha hóa, hút lấy hút để, cặn bã của cuộc sống lang thang đầu đường xó chợ.
Không chấp nhận bạn bè ở đại học, Khuê chỉ thích giao du với bạn bè hồi phổ thông trung học ở một trường tư thục mà thôi. Học hành, thi cử, sinh hoạt hàng ngày trong một tập thể sinh viên theo kỉ luật nghiêm túc khiến các sinh viên như một lũ cá đóng hộp, giống hệt nhau không cá tính nên Khuê mau chán vì thích được tự do theo ý mình. Còn bạn phổ thông thì gần gũi hơn vì hiểu rằng do xuất thân khác nhau, hoàn cảnh khác nhau nên cá tính mỗi người có sắc thái riêng. Nổi bật trong đám bạn mà Khuê tìm đến là thằng Yến Thanh, là con của một tay công an bị đuổi khỏi ngành và bây giờ đang làm giám đốc một công ty trách nhiệm khá mờ ám – buôn bán tất cả các ngành nghề. Yến Thanh đã lôi cuốn Khuê để Khuê tự buông thả mình vào các việc xấu xa liều lĩnh. Dối trá mượn xe rồi cầm xe của con Dung cận – một người bạn đứng đắn, tin tưởng mình – để lấy tiền trả nợ và bao bạn ăn chơi trò hút ma tuý. Kiến thức về ma tuý cùng với mãnh lực của nó dần dà biến cậu thanh niên con nhà lành thành một con nghiện khốn khổ, khốn nạn, như một thứ giẻ rách đáng vứt đi.
Cũng chính thằng Yến Thanh đã lừa Khuê tham gia vào trò đua mô tô tìm cảm giác mạnh, trên chiếc xe Khuê mượn của anh trai và sau này cũng bị đem cầm đồ mất biến. Cuối cùng, Khuê bị lừa và biến thành người chăm sóc nạn nhân đua xe máy một cách bất đắc dĩ trong bệnh viện. Khuê cay đắng lắm, song phải chịu. Nhưng cũng ở nơi này, Khuê đã có những suy nghĩ đúng đắn về bao con người tốt đẹp, chân chính. Đó là những bác sĩ giỏi chuyên môn, giàu lòng nhân ái, làm việc có trách nhiệm với bệnh nhân như bác sĩ Sơn trẻ tuổi, bác sĩ Việt giàu kinh nghiệm và trung thực, các cô y tá, các nhân viên chụp X-quang. Lần đầu tiên, Khuê có cảm tình với những ai làm cán bộ lớp, cán bộ Đoàn như cô Thúy Mùi là bạn thằng Hải Anh và bà mẹ của nó. Họ đều là những phụ nữ nhân hậu, nghèo nhưng có trách nhiệm vô cùng.
Tuy nhiên, nếu Thanh Nhạn là người bạn tha hoá thành lưu manh thì Dung cận và Huyền mờ lại là hai thiếu nữ có vẻ đẹp rất nữ tính và trong sáng thực sự. Qua tiếp xúc, Khuê nhận thấy Dung cận là người bạn gái tiêu biểu cho lối sống hiện đại: xinh đẹp, giỏi tiếng Anh, tiếp thu có chọn lọc với văn hoá nước ngoài như bộ phim Vẻ đẹp Mỹ và các phim mới của những đạo diễn Trung Quốc như Trương Nghệ Mưu và Trần Khải Ca. Dung cận quý bạn và sẵn sàng chiêu đãi Khuê những món ăn sáng thân mật trong gia đình vì đã xa mái trường phổ thông hơn một năm rồi mà khuê vẫn đến thăm nó. Vì Khuê giấu tình cảnh vô gia cư của mình, nên Dung cận vẫn tin tưởng ở tình bạn, cho Khuê mượn chiếc xe đạp mới tinh, trị giá một triệu tám trăm nghìn Made in Japan. Trình độ vi tính cao và dàn loa máy deluxe giá tới năm nghìn đô la cho Khuê hiểu rõ rằng: xuất thân trong một gia đình giàu có, địa vị cao – bố là một quan chức – một mình Dung ở trong căn nhà ba tầng, có bà già giúp việc… nhưng không hề bị tha hoá thành kẻ khinh người, ăn chơi sa đoạ và ích kỉ. Sinh hoạt đứng đắn, cư xử với bạn chân thành và kiên trì theo đuổi con đường học tập, nghiêm túc của mình.
Dung không ngờ rằng lòng nhiệt tình và tin tưởng bạn của cô ta bị người bạn học cũ lừa dối. Phủ nhận bạn bè đại học, tìm đến người bạn chân tình thời phổ thông. Nhưng mở đầu  bước trượt dài trong quá trình tha hoá, Khuê đã lừa đảo người bạn hết lòng tin mình – “Hỡi ơi! Tôi đã đốn mạt lừa nó, “cái quý bà sang trọng” ấy! Như người ta nói, sai lầm lại đẻ ra sai lầm! Tôi mang chiếc xe vào tiệm cầm đồ “để có tiền tiếp tục lêu lổng”.
Huyền mờ là người bạn gái thứ hai mang vẻ đẹp thánh thiện của tín đồ theo đạo Kitô. Lòng nhân ái là lẽ sống của cô ngay từ hồi học phổ thông. Những ngày nghỉ hè, trong khi các học sinh về quê, đi nghỉ mát ở biển hoặc du lịch Sa Pa, Đà Lạt… thì Huyền mờ lại dành thời gian về các trại cùi – trại người bị bệnh phong – để săn sóc những bệnh nhân nặng không đi lại được. Cô giúp đỡ Khuê nhiều và cảm tình của cô luôn hướng Khuê về ánh sáng Chúa trời, với hi vọng sau này sẽ có một “gia đình hạnh phúc trong một trại cùi với những hào quang trên thiên đường”. Nhưng số phận của Huyền mờ vô cùng bất hạnh. Gặp lại Huyền mờ, trước mặt Khuê, cô chỉ còn là “bộ thánh cốt sống” bị liệt nằm chờ chết khi giẫm phải mảnh chai vỡ giữa đống bùn lúc nạo vét ở sông Tô Lịch, cùng đội Thanh niên tình nguyện.
Xinh đẹp, trong sáng, đáng yêu và đáng khâm phục, nhưng tất cả những phẩm chất ấy cùng nỗi bất hạnh của Huyền mờ không đủ sức cảm hoá Khuê trở về cuộc sống lương thiện. Từ biệt người bạn gái, Khuê tự cảm nhận sự bất lục, không xứng đáng của mình trước cái Đẹp đang tàn lụi: “Tôi cúi xuống hôn Huyền. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi hôn một người con gái, cái hôn cay đắng, cay đắng vô cùng!
Lần đầu tiên trong đời, tôi hôn một người con gái mà đấy lại là một bộ thánh cốt sống! Tin tôi đi, thời của tôi thật là một thời khốn nạn!”
Càng ngày, Khuê càng trượt nhanh xuống dốc trơn tha hoá. Tiếp xúc với xã hội, Khuê chỉ thấy những gì xấu xa, đen tối như mình. Trong ý thức, Khuê phủ nhận tất cả, coi đời người là hậu quả của ba sự ngộ nhận. “Ngộ nhận thứ nhất chính là nền giáo dục tai hại ở trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội… Ngộ nhận thứ hai chính là ngộ nhận về giới tính… do luôn bất cập, bản chất của giới tính là loạn luân – và kết cục của loạn luân cũng là bi kịch. Kết cấu gia đình chỉ là kinh nghiệm sinh tồn cho việc duy trì nòi giống. Mặc dầu tiến hoá đến đâu nhưng riêng lĩnh vực giới tính, con người không tiến hoá thêm bước nào so với những người nguyên thuỷ. Áo tưởng về một tình yêu chung thuỷ vĩnh viễn là điều nực cười nhất trong cái hài kịch cuộc đời. Sự hòa hợp giới tính chỉ mang tính chất tạm thời, cục bộ giống như tiếp tuyến của đường thẳng với các đường tròn trong hình học không gian. Những giây phút hạnh phúc nhất bao giờ cũng ngắn ngủi và tạm bợ, những vecto âm dương lại đẩy nhau ra trong cái cõi cô đơn mênh mông của mỗi kiếp người.
Ngộ nhận thứ ba chính là ngộ nhận về cái chết. Khi còn trẻ, con người tưởng bở là sống vĩnh viễn, ảo tưởng về sức mạnh con người, phung phí cuộc sống. Thực ra, cái chết luôn rình rập con người ngay từ khi bắt đầu sự sống. Nó có thể đến bất ngờ phụt tắt như bóng đèn kia. Ý thức về cái chết chỉ đến khi người ta nằm trong tay Thần Chết. Khi người nào ý thức được nó thì coi như anh ta cũng đã chết rồi.”
Dấn thân vào con đường lưu lạc, Khuê đã gặp một cô ca-ve tên là Hương. Qua cô, Khuê biết rằng xa hơn Hà Nội, ở tận Phổ Yên, Thái Nguyên, một xã hội thu nhỏ cũng bị tha hoá. Không còn không khí bình yên nữa. Kinh tế thị trường thời mở cửa khiến mọi người đua nhau làm giàu. Đàn ông thì đi vào núi đào vàng, rồi nghiện ngập ma túy. Ở nhà, đàn bà thì mở tiệm Karaoke, con gái ban ngày đi lao động, tối về làm điếm tiếp khách đi taxi dưới Hà Nội lên. Người già cũng đành theo dòng đời, che đậy sự sa đọa của con cháu bằng cách chắn các căn buồng hành lạc với tấm bằng Tổ quốc ghi công treo trên tường và góc học tập của đứa cháu nhỏ ngoài phong khách. Những thiếu nữ nghèo, mới lớn như Hương thì bị họ hàng lừa đảo bán vào nhà chứa, dần dần trở thành gái đĩ thập thành. Từ sự dẫn dắt của cô gái điếm Hương, Khuê trượt sâu vào cũng bùn trụy  lạc, nghiện Heroin nặng và nhận chuyển hàng cấm, tiền mặt phi pháp và hàng trắng (heroin). Sự trừng phạt đích đáng đến với Khuê: bị những giáo dân lương thiện đuổi ra ngoài xã hội và vứt lên hòn đảo hoang không một bóng người, trong lúc cậu ta đang say Heroin, không biết gì!
Những giáo dân theo đạo Kitô vốn giàu lòng nhân ái nhưng họ cũng không thể chấp nhận một con quỷ Satan như Khuê mang tai hoạ đến gieo rắc cho họ đạo.
Quãng đời tha hoá thành lưu manh, trụy lạc, sa đoạ của Khuê thực sự chấm dứt cùng cái chết trắng – chết vì nghiện hút heroin quá liều đến kiệt sức. Bị vứt lên đảo hoang như xác một con vật truyền dịch vô cùng nguy hiểm. Khuê hoàn toàn bị tách biệt với cái xã hội loài người ở trên bờ. “Tôi đứng đây giữa đảo hoang, trên trời xanh, giữa biển xanh. Đây là lần đầu tiên trong đời mình, tôi cảm giác được giá trị của sự sống, tôi tự tin vào mình hơn ai hết. Mẹ khỉ, tôi đúng là Robinson Crusoe!”
Nếu từ trước tới bây giờ, Khuê hoàn toàn buông thả mình theo bản năng một thanh niên hư hỏng, lười biếng, chỉ thích ăn chơi và phủ nhận tất cả – từ gia đình, nhà trường đến xã hội; thì giờ đây, chỉ có một mình trên đảo hoang, muốn tồn tại, Khuê phải tự lột xác từ những việc nhỏ nhất. Như một đứa trẻ bước vào đời, bắt đầu vật lộn với cuộc sống.
Nếu từ trước, trong xã hội con người trên bờ, Khuê chỉ tiếp xúc với những người thuộc thượng tầng kiến trúc như giáo sư, bác sĩ, nhà văn, nhà thơ, đạo diễn điện ảnh, học sinh, sinh viên, nhà tu hành, nhà buôn… thì trên đảo vắng này, Khuê phải tự tìm cách tồn tại với cuộc sống xã hội bằng những người lao động chân tay thuần khiết.
Nếu trước đây, Khuê chỉ thiển cận tiếp thu những mặt tiêu cực, đen tối trong cuộc sống người dân thành thị và nhìn đời bằng cặp mắt chán ghét, căm thù với thái độ vừa háo hức muốn tìm hiểu nó vừa khinh miệt, ghê tởm nó của một thanh niên mới lớn; thì giờ đây, tiếp xúc với người lao động vùng biển, Khuê đã mất hẳn những định kiến xấu xa về con người.
Được cứu khỏi đảo hoang, tìm về với xã hội, tự kiếm sống bằng công việc chở hàng cho khách, trên chiếc mủng cũ. Khuê hiểu và biết ơn người lao động. Tuy không biết xuất xứ, tên tuổi, tính tình Khuê ra sao, nhưng ông Hào vẫn giàu lòng nhân ái, tin yêu, giúp đỡ cụ thể, chân thành những người hoạn nạn như Khuê. Họ không lợi dụng, lừa lọc nhau như những kẻ xấu trên bờ. Gia đình sống trên thuyền, trên sông nước của họ, tuy ít học nhưng vẫn giữ đạo làm người: hiếu thảo với bố mẹ, hoà thuận với anh em, chung thủy gắn bó với quê hương Thanh Hóa dù họ phải tha phương cầu thực mãi tận Cát Bà. Trong mọi hoàn cảnh khó khăn: góa chồng, một mình nuôi mẹ già con nhỏ như chị Nga, vẫn cần cù lái mủng chở khách suốt đêm lấy tiền kiếm sống. Hay “là thương binh cụt cả hai chân vẫn lái mủng” nhanh hơn người lành lặn khỏe mạnh “và sẵn sàng giúp đỡ mọi người chẳng nề hà gì” như chú Thăng.
Không phải chết vì nghiện ma túy hay a dua say mê cảm giác mạnh như đua xe máy, hoặc bị trừng phạt vì gây tội ác mà người lao động đến với cái chết bất ngờ và giản dị – chủ yếu là trong sự đối mặt với thiên nhiên, với thể trạng khỏe khoắn: Bị rắn cắn khi đi vào rừng bắt rắn, bắt trăn, ngã từ độ cao tám mét khi tham gia xẻ núi mở đường; thuyền đánh cá bị đắm ngoài biển khơi. Sống giản dị, khoẻ khoắn – chết đơn giản, chất phác. Không làm tang lễ lình đình, xây mộ phần bề thế kiên cố. Tất cả được chôn cất trên đảo hoang không người! Chỉ có hương hoa, cau trầu và “tiếng khóc ai oán lan xa lẫn trong tiếng vọng biển ầm ào không dứt”.
Từ nhận thức được con người và cuộc sống từ trước tới lúc bấy giờ. Khuê đã rút ra hai kết luận đối lập:
“Những người sống trên vịnh thật chất phác. Có lẽ  thiên nhiên đã dạy cho họ những kinh nghiệm, những bài học về cuộc sống. Trước thiên nhiên, con người thật bé nhỏ. Chỉ có chân thực thôi mới được thiên nhiên chấp nhận. Con thủ đoạn, dối trá, loanh quanh sẽ chỉ chuốc vào cho mình tai hoạ.
Tôi sống ở đảo, thấy mình khoẻ ra và thấy mình suy nghĩ đơn giản hơn về cuộc sống. Cái quá khứ trên bờ, cái nhịp sống nhốn nháo ở thành phố với đầy rẫy cạm bẫy hư vinh giả tạo khiến tôi lộn mửa!”
Kết luận trên cho thấy Khuê đã trưởng thành về nhận thức. Đã khẳng định những gì là tốt đẹp, là tích cực trong những người lao động vùng biển. Phần phủ định cuộc sống thành phố trong quá khứ đã dùng phép chọn lọc, loại trừ.
Không chỉ quan sát, Khuê còn thực sự sống cuộc sống của người dân trên vịnh biển Cát Bà. Sau khi gia nhập vào đội quản lý môi trường, Khuê trở thành nhân viên hằng ngày vớt rác trên vịnh, chở đi chôn trên núi. Khuê hiểu được chính mình: “Sống với sông nước, tôi đã biến đổi thành con người khác. Tôi tự tin hơn, cảm thấy yêu mến cuộc sống bình dị”. Sự thay đổi từ nhận thức, tình cảm đã dẫn đến một hành động quyết liệt, bất ngờ với chính Khuê. Trong một lần cùng ông Hào đi vớt rác tại một một bãi tắm, Khuê cùng ông đã phát hiện, báo tin cho đội bảo vệ vùng vịnh một gói túi ni lông chứa chất độc xyanua nổi lềnh bềnh trên biển. Vì trước đây từng cùng bố đi đến bãi đào vàng ở Thái Nguyên nên Khuê biết đây là chất cực độc dùng để lọc quặng vàng. “Chỉ cần 1mg/1kg vào cơ thể là đủ gây chết người”.
Sau khi hai cảnh sát tình nguyện lao xuống vớt lên bị ngất đi và phải chịu thương tật vĩnh viễn 27%, Khuê đã báo đây là hàng nhập lậu vì một lý do gì đó bị rơi xuống biển. Cùng với đội tàu cảnh sát và đội quản lý môi trường, Khuê đã tham gia phục bắt bọn buôn lậu thành công. Sức trẻ, khoẻ của tuổi 20 ở Khuê bộc lộ trong những hành động liên tiếp: “Chúng tôi nhảy sang chiếc tàu luôn lậu bắt dừng máy lại… “Tôi vọt vào khoang lái tàu. Tên chủ hàng ra lệnh đánh chìm tàu. Nếu chìm tàu, hàng tấn xyanua sẽ bị đánh đắm và cả vùng vịnh đảo sẽ rơi vào một thảm hoạ sinh thái khôn lường. Tôi lao vào tên chủ tàu, ngạc nhiên nhận ra đó là thằng Thức Kinh Kông, tên cướp mà tôi đã gặp ở Zip Fashion hồi nào.
Thằng Thức Kinh Kông rút chốt lựu đạn. Không hiểu bằng sức mạnh nào, tôi lao vào hắn nhanh như tên bắn. Tôi đánh vào cổ tay hắn và hất ngược quả lựu đạn rơi văng xuống biển. Lựu đạn nổ vang, rất may không ai bị thương… Những người cảnh sát xông vào bắt trói thằng Thức Kinh Kông và người lái tàu”.
Bất ngờ chạm trán với Thức Kinh Kông – chạm trán với quá khứ đen tối bởi chính tên này là kẻ đầu tiên trực tiếp đẩy Khuê vào cái chết trắng – hút heroin; Khuê bằng hành động căm thù bị dồn nén bấy lâu “tức giận định chồm lên bóp cổ nó” vì hắn dám tưởng tượng ra một số phận thê thảm cuối Khuê. “Nó nói:
– Thằng Thanh Nhạn, thằng Quyền lỳ đã chết vì bị sốc heroin. Tao đã tưởng mày giống như chúng nó”.
Thức Kinh Kông cho tới lúc chết chắc không thể hình dung ra một nhân vật Khuê hoàn toàn lột xác. Cùng lao động, cùng cảm nhận cuộc sống với người dân vùng biển, Khuê không những không chết mà còn được phục sinh, được trưởng thành. Với hành động bắt chiếc tàu buôn lậu chở xyanua cùng tên chủ tàu Kinh Kông và người lái tàu, không cho chúng đánh đắm tàu, Khuê xứng đáng với lời ngợi khen thấm đượm lòng biết ơn của toàn dân vùng biển Cát Bà mà ông Hào là đại diện:
“Ông Hào bảo tôi:
– Khuê! Hôm nay con đúng là cứu tinh của vịnh đảo này!
Đấy là ngày 23 tháng Bảy, một ngày thật đáng ghi nhớ trong cuộc đời tôi.”
Từng ấy biến cố, day dứt trên bước đường bỏ nhà đi lưu lạc đã khiến mới hơn một năm trời, cậu thanh niên 20 tuổi nhận ra tóc trên “đầu mình bạc trắng”. Tình cờ đọc tin bố vừa mất trên báo, Khuê vô cùng đau khổ và nhận ra lỗi lầm của mình. Ngược hẳn thái độ bướng bỉnh, ngang ngạnh, vô lối trước đây mỗi khi phản ứng lại cha, giờ đây Khuê “vừa chạy vừa khóc nức nở” cảm thấy “Trời đất như tối sầm trước mặt”, mới biết “khóc như cha chết là như thế nào”. Chắc chắn đó là cái khóc lớn nhất đời một con người. Nỗi đau khổ nhất với Khuê là trước đây, còn sống trong gia đình được mẹ chiều chuộng, quen nhìn bố mẹ bằng tâm lý một đứa con hư, nên cậu đã phủ nhận tất cả bố mẹ và anh trai chỉ vì họ không cho phép cậu tự do vô kỷ luật. Bước vào đời, bị lừa lọc, bị tha hóa, hiểu ra sự quý giá của gia đình thì đã muộn. Không bao giờ Khuê còn được quỳ trước mặt bố để cầu xin tha thứ! “Những dòng tin trên báo thật lạnh lùng. Có cả vạn người đưa tang bố tôi, điều ấy có ý nghĩa gì khi không có tôi ở đấy! Chao ôi! Tôi là thằng con bất hiếu, thằng con nghịch tử! Nỗi ân hận bật thành tiếng khóc cứ thế trào ra! Tôi muốn gào lên cho thấu trời xanh!”
Lần đầu tiên, Khuê suy nghĩ một cách nghiêm túc, sâu sắc về cha mình. Tiếng gọi thống thiết, ai oán “Bố!” lặp tới bốn lần trong chương cuối, mỗi tiếng gọi lại xuống dòng và đứng riêng một mình, thành câu đặc biệt, đồng thời tạo nên một đoạn văn. Mỗi lần gọi “Bố!”, trong kí ức Khuê lại hiện lên một khía cạnh khác nhau trong chân dung một con người ưu tú: Đó là một người chồng, người cha và nổi bật hơn hết là một nhà văn. Ngoài nghĩa vụ vất vả kiếm sống nuôi vợ nuôi con, ông còn thiên chức của một nhà văn thời hiện đại. Ông khẳng định “giá trị nhân đạo là lý do duy nhất để cho văn học tồn tại, trước khi nói đến chức năng giải trí hay mua vui”. Ông nêu cái khó của một nhà văn giỏi là không bao giờ để ngòi bút của mình bị tha hoá bởi danh và lợi, “trong khi đó danh lợi – oái oăm thay, nhiều khi là động lực sống, mục tiêu sống của con người.” Do đó, viết văn luôn luôn là một cuộc đấu tranh – đấu tranh với bản thân mình và với những thế lực chi phối đời sống trong xã hội. Nó đòi hỏi nhà văn phải trung thực, dũng cảm, có nghệ thuật sống. “Bố tôi từng cho rằng công cụ của nhà văn, cũng giống như tôn giáo, như chính trị – đấy là lời chết người là ở chỗ đó vì họ luôn có nguy cơ phải tranh chấp, phải đối mặt hoặc đồng hành với hai thế lực kia. Về cơ bản, nhà văn đứng về số đông nhân dân, đôi khi bất đắc dĩ còn là đại diện không công của họ, một chức danh hão huyền chẳng báu bở gì.”
Trong giai đoạn tha hóa trước đây, ý nghĩ khắc sâu trong Khuê là: mình là kẻ cô độc, chỉ có mình mình hiểu sự phi lí, giả tạo, đáng khinh, đáng phỉ nhổ của mọi người và xã hội. “Chẳng ai hiểu cóc khô gì “điệp tới bảy lần”, “Tin tôi đi, thời của tôi thật là một thời thốn nan!”, “Thời của tôi đang sống là thời chó má. Tin tôi đi, một trăm phần trăm là như thế đấy!”, là những câu điệp khá nhiều, mỗi lần gây chuyện gì lộn xộn, ngang trái hoặc bất như ý. Thái độ ngạo mạn, tư thế bất cần, lời chửi rủa như muốn huỷ diệt tất cả thể hiện một cái nhìn mù loà, một tâm trạng đau đớn, day dứt, căm phẫn của tuổi trẻ muốn phá vỡ, muốn đạp đổ cuộc sống kể cả đó là của chính mình.
Song, trong sâu thẳm tâm hồn Khuê, cậu là một thanh niên trung thực. Không như những kẻ lì lợm, đểu cáng khác, mỗi khi làm một việc xấu, sai trái, cậu đều tự nhủ với lòng: mình là “kẻ đốn mạt” đã lừa bạn cũ để lấy xe đạp đem cầm đồ. Ngay sau khi hút heroin lần đầu tiên, Khuê trong cơn say thuốc, đã tự kết tội: “Tôi đã bắt đầu xuống dốc đời mình như thế! Thật chẳng ra gì có phải không nào?” Đặc biệt, khi ngập ngụa trong vũng bùn tội lỗi – mang heroin vào một vùng giáo dân đạo Kitô, biết không thể nào thoát được sự trừng phạt đích đáng, Khuê đau đớn, bất lực, nghiêm khắc nguyền rủa mình.
“Thì tôi vẫn nói gốc gác nguyên thuỷ của tôi là quỷ Satan mà lại!”
Đó là lòng trung thực của kẻ bị động, yếu thế, luôn luôn bị cái xấu, cái ác lôi cuốn, mê hoặc, quyến rũ do bản thân ích kỉ, thích chiều theo lối sống bản năng tự do tuỳ tiện, không chịu sống theo đạo lý hay pháp lý nào.
Nhưng khi nhận thức, tình cảm, hành động thay đổi dưới ánh sáng lành mạnh của cuộc sống lao động vùng biển, lòng trung thực của Khuê có sức mạnh của con người làm chủ cuộc sống của mình. Con đường đi tìm chân lí cuộc đời của Khuê diễn ra theo hành trình như sau:
Chiều thuận – giai đoạn 1:
Bản thân từ bỏ gia đình, nhà trường và xã hội! → bị tha hoá tiêu cực.
Chiều đảo – giai đoạn 2:
Từ xã hội lại trở về với nhà trường và gia đình. Nhưng nhận thức của bản thân đã thay đổi theo chiều hướng tích cực.
Cuối cùng, sau khi nhận thức đúng ý nghĩa cuộc sống và thấy yêu cuộc sống, Khuê hiểu rằng không thể phí hoài tuổi xuân của mình một cách vô ích. Trải nghiệm thực tế cuộc sống đã rút ra kinh nghiệm là quý báu. Nhưng cần kết hợp với kiến thức trong sách vở, trong phòng thí nghiệm thì hiểu thiết mới có cơ sở vững chắc hơn. Nghĩa là phải học. Đó còn là một con đường dài dài với bao khó khăn gian khổ nữa. Nó đòi hỏi trí tuệ của con người. Khuê phải cố gắng vượt qua. Khuê quyết định:
“Chắc chắn tôi phải về nhà chịu tang bố tôi. Ngay hôm nay. Ngay lúc này. Có thể tôi sẽ học lại đại học. Có thể tôi sẽ ở cùng mẹ tôi một thời gian. Mẹ thì không bao giờ được quên. Có thể tôi sẽ viết văn giống như bố tôi hoặc làm một nghề gì khác. Dù sao đi nữa, cuộc sống cũng có những giá trị đẹp đẽ của nó, không thể vì bất cứ lý do gì mà huỷ hoại nó đi. Bạn trẻ, tin tôi đi! Nếu chưa trưởng thành, chưa thực sự đủ lông đủ cánh thì bạn cũng đừng vội vã “tuột xích” như tôi. Và mái tóc bạc trên cái đầu tuổi xanh.”
“Tuổi 20 yêu dấu” là quãng đời thanh xuân đẹp nhất trong mỗi con người. Nhưng với Khuê, nó lại là thời kỳ đầy đau khổ vì những sai lầm do tuổi trẻ gây nên: bồng bột, thiếu suy nghĩ, thích tự do tuỳ tiện, coi thường con người, cuộc sống và xã hội. Giọng văn tự nhiên, thoải mái, giản dị, bỗ bã như lời ăn tiếng nói hàng ngày của Nguyễn Huy Thiệp hoàn toàn phù hợp trong việc diễn tả suy nghĩ, tình cảm, hành động của nhân vật Khuê. Nghệ thuật giễu nhại, hạ bệ những gì là truyền thống như gia đình, nhà trường và xã hội trong tác phẩm kết hợp nụ cười hài hước hóm hỉnh của Nguyễn Huy Thiệp không phải nhằm nói xấu, bôi nhọ, làm mất uy tín của một đối tượng nào, mà mục đích để xây dựng cho cuộc sống tiến bộ hơn, tốt đẹp hơn. Nói khác đi, giễu cợt cái xấu nhằm xây dựng, bồi đắp và tôn vinh cái Đẹp.
“Mái tóc bạc trên đầu tuổi xanh” là cái giá phải trả cho sa ngã của Khuê ở tuổi 20 này. Tuy nhiên, giọng văn Nguyễn Huy Thiệp cho ta thấy nhân vật Khuê dù “tóc bạc” nhưng vẫn rất trẻ. Không trì trệ, không dễ dãi, dù mắc sai trái, lỗi lầm nhưng luôn luôn suy nghĩ, đánh giá mình, đánh giá người, tinh tế và sâu sắc.
Khuê đúng là một chàng trai Hà Nội, trong hoàn cảnh nào cũng hóm hỉnh, nhân hậu, thích giễu mình và giễu người một cách lịch lãm, trí tuệ. Nhân vật để lại trong ta cảm giác yêu thích, mến thương, thông cảm chứ không hề khinh ghét.
“Tuổi 20 yêu dấu” là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Huy Thiệp – Nhà văn vẫn trẻ như tuổi 20!.
Hải Phòng, 19/7/2024
Thái Thị Hải
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Châu Giang huyền thoại và… đôi điều trăn trở Cũng bởi có Châu Giang mà thời Hậu Lê, năm 1470, vua Lê Thánh Tông đem quân đi chinh phạt C...