Viêm giám đốc mỉm cười; thấy một em mơ mộng hão huyền, nói mà chẳng hiểu mình nói gì thì ai mà chẳng mỉm cười; các bạn cô cũng âu yếm trêu cô.
Tới Lougansk được bốn ngày rồi, cô vô thẳng phòng ông tham mưu trưởng chỉ huy trường và tuyên bố rằng cô muốn được nhảy dù:
Ông ta gạt đi.
- Tại sao lại không?
- Vì trong miền Donctz này đàn bà chưa ai thử nhảy dù cả, với lại cô đừng nên nghĩ tới chuyện đó thì hơn.
Nhưng ở Leningrad, đã có nhiều thanh niên nhảy dù; Tamara vẫn nằng nặc xin được nhảy dù vẻ thùy mị mà cương quyết, lại hơi ranh mảnh nữa, nên không ai nỡ trách.
Rồi một hôm cô lân la lại nói chuyện với viên trưởng phòng nhảy dù; trong câu chuyện cô nói sao đó mà viên chỉ huy hiểu lầm rằng cô đã bắt đầu luyện tập rồi, cả nhảy dù một lần rồi. Người ta bèn cho cô đi khám sức khỏe và ra lệnh cho cô nhảy.
Thấy mình bị mắc ngay vào cái bẫy chính mình đã giăng, cô hơi hoảng nhưng rất mừng rỡ.
Người ta bảo cô:
- Năm giờ lại phòng nhảy dù rồi chúng mình cùng ra phi trường.
Thế là xong, không còn nói năng gì nữa.
“Người nào mới nhảy dù lần đầu cũng hơi hồi hộp trước khi nhảy vào không trung. Có người thì cười, có người thì hút thuốc, tôi không hút thuốc, nhưng tôi nói tía lia!... Ngồi trên một cái bàn, tôi nói huyên thiên. Viên trưởng phòng định rầy tôi, nhưng một người khác can:
“Để mặc cô ấy mà...
“Tôi nói chán rồi ca hát, biết được bài nào ca hết bài đó.
“Sau cùng chúng tôi lấy một cây dù rồi lên xe ra phi trường.
“Mưa đổ. Sở khí tượng bảo rằng khoảng một giờ nữa trời sẽ quang đãng. Tôi ngồi đợi mà sốt ruột, nếu trời không tạnh thì rồi làm sao đây?
“- Lên phi cơ đi.
“Người ta đồn bậy rằng tất cả các người nhảy dù bị đuổi về hết, chỉ còn lại mình tôi được cái đặc ân nhảy hôm đó. Lời đó sai.
“Nhưng các ông huấn luyện viên còn hỏi tôi vài câu nữa: trước khi mở dù, tôi phải làm gì? Tôi lặp lại lời người ta đã dạy cho tôi, xong rồi mới ôm cây dù, leo lên phi cơ. Xin nhân tiện đây thưa rằng, lần này là lần đầu tiên nhảy dù nữa.
“Tôi tự hỏi khi phi cơ cất cánh rời khỏi mặt đất thì cái cảm giác ghê gớm sẽ ra sao. Nhưng rồi chẳng có gì ghê gớm cả, và tôi lại nghĩ bụng: có lẽ lúc lên cao, mình sẽ sơ hơn một chút.
“Độ cao: 700 thước.
Nhảy!
“Tôi trượt chân: giày tôi dính bùn vì trời mưa.
Tôi tái mặt đi vì sợ. Phi công lại giúp tôi, bảo:
“- Hãy trở vô ca-bin đi.
“- Không, để tôi nhảy.
‘’ - Một, hai, ba.
“- Tạm biệt anh, Alex!
“Tôi mỉm cười chào anh ấy. Rồi tôi nhắm mắt nghiến răng, lao mình trong không trung. Bây giờ tôi không còn nhớ lúc đó tôi đã kéo cái vòng ra sao nữa. Tôi nhìn lên cao, mọi cái đâu vào đấy cả. Lạ quá, trước khi tôi nhảy thì mưa vẫn còn đổ, mà sao
bây giờ tôi không thấy hạt mưa nào, như có cái gì che mưa cho tôi. À thì ra dù đã mở rồi, như một chiếc dù che mưa khổng lồ.
“Tôi hạ xuống một khu vườn, trong một luống khoai tây. Một chiếc xe hơi chạy tới, chứa đầy các ông xếp của tôi. Lần đầu đó tôi nhảy từ trên cao 600 thước.
“Hôm sau, cả miền Lougansk đều biết rằng trong miền đã có một thiếu nữ nhảy dù. Còn tôi, tôi đánh ngay một điện tín cho ông Giám đốc Viện thể dục của tôi. Sau đó, tôi còn có dịp được nhảy một lần nữa. Nhưng ông xếp của tôi cấm không cho tôi nhảy nữa. Mà tôi thèm nhảy muốn chết.
“Tôi tiếp tục luyện tập; ngày tháng trôi qua, và một buổi chiều nọ...
“Mười lăm giờ phi cơ cất cánh. Chúng tôi chầm chậm lên cao. Lên tới 5.000 thước thì mọi sự hoàn hảo. Lên tới khoảng 7.000 thước, tôi thấy chóng mặt, nặng đầu. Phi công giữ độ cao đó một lát cho tôi quen đã. Ông ta mang một bình dưỡng khí.
“Ông hỏi tôi:
“- Không sao chứ?
‘‘ - Không sao.
“Lên tới 7.500 thước, tôi lấy ra một tập sổ tay và một cây bút chì mà một ký giả đã đưa cho tôi để tôi ghi cảm tưởng. Tay tôi ngượng nghịu vì đeo bao tay; tôi đánh rớt cây bút chì, không muốn cúi xuống lượm. Làm thêm cử động vô ích đó làm quái gì!
“Bây giờ tới lúc ra dấu đây. Viên phi công ra dấu bảo tôi chuẩn bị sẵn sàng. Tôi đứng dậy: đáng lẽ phải bấm vào cái nút đỏ thì tôi lại bấm vào cái nút trắng.
Nút trắng: có nghĩa là tôi không mạnh mẽ, bình thường. Tôi bấm lại cái nút đỏ, nhưng nút đó không phát ra dấu hiệu. Tôi đương đứng, bao tay đã cởi bỏ rồi, sẵn sàng để nhảy, mà tôi không nhận ra rằng dấu hiệu tôi phát ra có nghĩa là “không êm rồi”. Sau cùng tôi thấy hai ngọn đèn cùng cháy lên và tôi đứng lên cái nắp, nó bật ra, thế là tôi văng ra ngoài.
“Tôi bị không khí lật nhào, quay lộn bốn vòng. Rồi tôi nắm cái vòng mà kéo. Tôi ngó: sao cây dù của tôi không mở ra này. Nhưng tôi sực nhớ ra rằng nhiều người đã nhảy trước tôi đã nhận thấy, lên cao, không khí loãng quá thì dù mở rất chậm. Quả nhiên chiếc dù của tôi lần lần mở ra. Phi cơ lượn chung quanh tôi. Tôi đưa tay vẫy vẫy. Đầu tôi sao nặng thế, tôi bị lắc dữ dội, nhưng chỉ một chút sau tôi vô một miền không khí yên lặng hơn. Khi xuống tới độ 6.500 hay 7.000 thước, tôi muốn hát bài: “Cánh tung rồi, bay đi, phi công!”.
“Nhưng tôi hát không thành tiếng. Thôi, nghỉ.
“Tôi thấy viên phi công và Lipovka ra dấu cho tôi. Tôi nghĩ bụng phải làm dấu đáp họ. Tôi vẫy tay để đáp viên phi công; còn để đáp Lipovka thì tôi co chân rồi duỗi chân. Mấy cử động làm cho tôi mau mệt. Mặt đất còn ở dưới xa. Khi tôi còn ở trên cao,
tôi muốn đưa ngón tay út lên chọc trời, nhưng làm sao đụng tới trời được. Mặt trời to tướng làm chóa mắt tôi. Mặt làn sương che khuất mặt đất.
“Tôi lột bỏ chiếc nón, cởi vài cái nút áo cho thoải mái - hôm sau mới thấy tai hại là tôi bị cảm hàn nặng. Từ lúc xuống tới 6.000 thước, tôi thấy dễ chịu, vui vẻ. Xuống gần tới 1.000 thước tôi tìm chỗ để hạ; dưới chân tôi là một làng xóm, trên con đường cái chạy qua giữa làng, tôi thấy một chiếc xe hơi đương lăn, rồi tới mấy chiếc xe khác chở
các ông xếp của tôi, các phóng viên báo chí, ủy ban v.v... Tôi suy nghĩ xem nên hạ ở đâu. Trên một cái nhà hay trên một giòng suối nhỏ. Tôi lướt xuống, tránh xóm làng là tôi hạ xuống một luống dưa. Nhưng tôi phải ra dấu cho phi công hiểu rằng mọi sự như ý. Đã định trước với nhau rồi: hễ không có gì trục trặc thì tôi nằm xuống thành hình chữ T, trái lại thì nằm theo hình chữ thập. Nhưng loay hoay mãi không làm được gì cả. Sau cùng rán làm được thành chữ T. Vài thiếu nữ lại hỏi tôi:
‘‘ -Dì ở đâu tới thế?
‘‘ - Ở trên trời xuống!
“Mấy thiếu nữ khác cũng chạy lại:
“- Từ trên cao bao nhiêu thước?
“Tôi đâu có biết. Có lẽ là 8.000 thước hoặc 7.500 thước. Họ bồng tôi lên, công kênh tôi lên.
Tôi la:
" - Đừng quên cây dù nhé!
" - Tôi cởi bộ áo dù lót bằng lông của tôi. Chúng tôi vô làng, tôi leo lên một chiếc xe hơi. Những người trong “Kolkhoze”(1) có mặt ở đó, thấy người ta đón tôi về liền, họ bất bình vì muốn được nhìn tôi một lát nữa.
“Viên đoàn trưởng lái xe đưa tôi về. Viên đại diện tờ Pravda cũng muốn lên xe:
" - Đồng chí đoàn trưởng cho phép tôi nhé?
Rồi anh ta quay lại hỏi tôi:
" - Cô sinh trưởng ở đâu?
“Tôi đáp. Ông ta tặng tôi kẹo. Khi hạ xuống mặt đất, tôi buồn ngủ, bây giờ gió mát, tôi tỉnh táo lại.
“Người ta kiểm soát kỹ lưỡng rồi, cho tôi hay rằng tôi đã nhảy từ trên cao 7.750 thước. Bữa tối hôm đó tôi chỉ ăn mỗi một miếng cá mòi. Sau khi cám ơn các nhà cầm quyền trong miền chúng tôi lên phi cơ về Leningrad. Tại phi trường lại có một đám ký giả nữa.
“Sau khi nhảy dù lần đầu tiên ở Longansk, tôi gởi một bức thơ cho Má tôi kể rõ đầu đuôi cho người nghe.
“Người trả lời tôi liền:
“- Sao con điên đấy hả? Con gái của mẹ, đương hơ hớ tuổi xuân mà đã chán đời, không muốn sống nữa ư?
“Tôi nghĩ rằng không làm cách nào cho Má tôi thay đổi ý kiến được, nên đáp:
“- Xin Má cứ yên tâm. Chẳng nguy hiểm chút nào cả.
“Để cho người yên tâm, tôi viết thêm rằng các y sĩ đã cấm tôi nhảy dù và tôi sẽ không nhảy dù nữa. Từ đó trở đi, chúng tôi vẫn gởi thơ cho nhau nhưng chẳng có chuyện gì lạ rồi bỗng nhiên mọi sự thay đổi.
“Người viết cho tôi: con là một nữ kiệt, nữ kiệt của Má, con nhảy dù, con lại đạp xe đạp nữa, con làm được chuyện này chuyện nọ.
“Tôi đọc bức thư đó mà chẳng hiểu đầu đuôi ra sao cả, nhưng các chị bạn của tôi viết thư giảng cho tôi rằng một biến cố lớn lao đã xảy ra trong thị trấn chúng tôi. Một chiếc khí cầu không biết từ Moscou hay Leningrad bay tới rồi hạ đúng xuống khu ngoại ô của chúng tôi. Mấy phi công hôm sau mới đi, chở khí cầu trước lên xe lửa. Má tôi trông coi nhà ăn uống ở ga, mời họ về nhà chúng tôi nghỉ đêm. Biết họ là phi công nên người hỏi họ nhảy dù là thế nào. Và một phi công bảo người rằng phải là hạng anh hùng mới nhảy dù được. Thế là tôi thành một nữ anh hùng, cả trong mắt của má tôi nữa.
“Má tôi đã đọc một bài báo thấy người ta bảo rằng “Tamara Koutalova là một trong những người nhảy dù nổi danh nhất”. Người cắt bài đó gời cho tôi: “Này coi nè, người ta khen con nè!”.
“Từ đó người tiếp tục cắt gởi cho tôi những bài báo người được đọc, tưởng như tôi ở giữa khu rừng hoang, không được tin tức gì ở bên ngoài cả.
Khi người nhận được điện tín tôi cho hay mới đoạt được kỷ lục trên thế giới, người trả lời tôi liền:
“Giỏi! Con thành công, cả nhà mừng lắm!”.
“Từ đó, người chỉ mong tôi nhảy dù nhiều hơn nữa và từ trên cao hơn nữa! Người lo sợ cho tôi, nhưng lòng người như vậy đấy...”.
Cách đây đã nhiều năm, tôi gặp Colette Duval trong một nhà may đồ “mốt”. Lúc đó bà chỉ là một người để làm kiểu, nhưng đã có tiếng tăm về nhảy dù.
Nhưng sở dĩ tôi biết bà là nhờ con gái của tôi Edwige; cháu mới được bằng cấp nhảy dù và thường gặp bà trên sân tập. Hai người có thiện cảm với nhau.
Tôi thấy Colette Duval rất đẹp, đa cảm, thông minh và thẳng thắn, về sau bà tỏ ra có nghị lực và gan dạ phi thường.
Bà bỏ nghề thứ nhất mà vô nghề hàng không, cứ mỗi giai đoạn lại đánh dấu một thành công mới.
Và sau khi vượt được biết bao trở ngại, khó khăn mọi thứ, ở Rio-de-Janeiro, bà đoạt được kỷ lục nhảy không dù.(2)
Tờ Marie-Claire đăng bài tường thuật kỳ công không tiền đó và Colette Duval đã cắt bài báo gởi về cho mẫu thân.
Xét bề ngoài thì không thể nào so sánh kỷ lục này của Colette Duval với kỷ lục hai chục năm trước cúa Tamara Koutalova, nhưng sự thực thì cả hai bà đều can đảm, có ý chí sắt đá “quyết làm cho được” như nhau.
“... Tôi rớt xuống, chậm hơn, có lẽ là do không khí đặc hơn, một người nhảy dù từ trên không mà như một người bơi lội, cảm thấy mình vùng vẫy trong không khí như trong nước, thì cũng lạ thật.
Mỗi lúc tôi thấy một lạnh hơn, ngón tay của tôi tê cóng, không còn cảm giác gì nữa. Tôi coi đồng hồ đo độ cao: 5.000 thước, và bỗng tôi thấy đau nhói trong tai, mỗi lúc mỗi đau hơn... Đau quá chịu không nổi. Tôi hét lên, như vậy thấy dễ chịu, vì làm cho sức ép ở tai trong và tai ngoài thăng bằng với nhau. Tôi cũng nuốt không khí nữa như người ta đã chỉ cho tôi. Như vậy cũng dễ chịu được một chút, nhưng không biết tôi còn chịu đựng được bao lâu nữa. Đau và lạnh thấy ứa nước mắt.
“4.000 thước. Nước mắt làm nhòa cả cặp kính, tôi sắp phải liệng bỏ nó đi, nhưng tay tôi vừa mới cử động thì tôi đã mất thăng bằng mà quay tròn trong không trung.
“2.500 thước. Còn đau hơn nữa, tôi chịu đựng được không?
“1.500 thước. Tôi sẵn sàng để mở dù.
“Tôi kéo hai cánh tay vô, đặt bàn tay lên mặt tay cầm. Nếu đau quá chịu không nổi thì tôi sẽ mở dù trước khi ngất đi. Một giây nữa, lại một giây nữa, 318 thước. Đợi thêm một giây nữa. Tôi mở dù.
“Khích động mạnh, nhưng tôi đã quen rồi. Cây dù mở ra, tôi hạ từ từ xuống biển. Tôi thấy mấy chiếc tàu tiến lại phía tôi, nhưng còn ở xa lắm, nhỏ xíu... Chiếc đồng hồ của tôi mà do thói quen, tôi cho ngưng chạy mỗi khi nào mở dù, lúc đó chỉ ba phút mười tám giây. Ba phút mười tám giây nhảy không dù! Nếu tàu tới kịp thì tôi sẽ đoạt kỷ lục trên thế giới về nhảy không dù.
“Tôi rán mở móc gài ra, nhưng vì lạnh quá, các ngón tay của tôi tê cóng, không cảm thấy gì hết, nên mở móc không được. May quá, tôi đã xuống gần mặt nước rồi, tôi kéo hai sợi dây cho cái maewest(3) phồng lên và hai giây sau tôi hạ xuống mặt nước.
Cây dù còn phồng được một lát rồi xẹp xuống và chìm. Tôi một mình ở giữa biển, cách bờ mươi cây số, sóng bủa chung quanh hơi cao, che khuất mấy chiếc tàu tôi thấy lúc nãy. Họ có thấy tôi không?
Tôi xé cái bao đựng thuốc màu để báo hiệu. Ngoài công dụng đó, nó còn công dụng nữa là ngăn cá mập lại gần tôi, theo nguyên tắc thì vậy.
“Phi cơ của trung úy Barbosa đã kiếm thấy tôi và đương đập cánh; một phút sau chiếc trực thăng đã lượn trên đầu tôi và coi chừng tôi. Thật là vững bụng. Quần áo tôi phồng nước và hóa nặng. Chiếc dù mỗi phút một chìm xuống và tôi ngại sẽ bị nó lôi xuống đáy biển nếu tàu không tới kịp để vớt tôi.
Nhưng tàu đã tới kia rồi. Họ đã thấy tôi, rồi lại sát tôi. Mấy cánh tay lực lưỡng nắm lấy tôi, kéo tôi lên.
“Tôi mệt lử, sung sướng. Tôi đã thành công!”.
“Má ơi, má là người đầu tiên con kể cho nghe những chi tiết về kỷ lục con đoạt được đây. Xong rồi, vâng, con đoạt được kỷ lục rồi: 34.000 “bộ”(4), mà có thể còn hơn vậy nữa, vì các kỹ thuật gia của bộ bảo rằng, ở trên cao như vậy, các đồng hồ đo độ cao thường cho một con số hơi thấp hơn sự thực, còn phải tính lại cho đích xác; mà các kỹ thuật gia ở viện Hàng không - học biết các qui tắc sửa lại cho đúng, tùy theo độ lạnh và sức ép của không khí.
“Má ạ, con phải khó nhọc biết bao, vận động, lo lắng, thất vọng rồi mới thành công như vậy đấy. Cái thuật nhảy dù này cũng gần như việc viết kịch vậy, phải có tài để viết được một vở kịch hay rồi lại phải có thiên tài để diễn cho hay nữa. Má còn nhớ ông bộ trưởng sực nức dầu thơm đó không, ông ấy tiếp con trong phòng giấy mà như tiếp khách trong sa lông vậy. Ông khen con mà con cứ phớt tỉnh, chắc ông ta không thích (...). Nhà chuyên môn về hàng không đó, khi lãnh trách nhiệm về hàng không của quốc gia, chắc đã quên rằng nghề hàng không đâu phải là nghề bá láp.
“Ông ta bảo con còn có nhiều việc khác phải làm hơn là cái việc nhảy không dù đó. “Một người làm kiểu trong một nhà may “đồ mốt” mà muốn lên cao như vậy, thật không sao ngờ được, thưa cô...!”.
“Dạ thưa ngài bộ trưởng, xin ngài tha thứ cho tôi đã không xin phép ngài trước, nhưng tôi đã lên cao như vậy đấy.
“Má thấy không, khi mình quyết tâm thực hiện một việc gì thì có một sức ki dị làm cho mình quên hết những cái nhỏ nhen mình phải chịu đựng đi. Nụ cười của thầy ký làm bộ ta đây, những đơn xin làm đủ năm bản, những lời từ chối lễ độ... rồi cả trăm thứ khác nữa; cả những nụ cười tinh quái, mỉa mai của các vị anh hùng chính thức nữa...
“Tối nay con không muốn chua chát, nhưng con buồn má ạ. Vậy mà mấy ngày nay phép mầu đã xảy ra rồi đấy, và con chỉ nhớ tới các bạn Brésil của con thôi, các bạn đó đã đem kiến thức khoa học, cách tổ chức âu yếm và tỉ mỉ của họ để phục vụ nước ‘’Pháp - Zinha” như các bạn ấy nói.
“Phòng của con bây giờ tĩnh mịch và con nghĩ tới những bạn đã giúp con thực hiện cái mộng đó, không nhờ họ thì con đã chẳng làm được gì cả...
“Má ạ, bây giờ con đi ngủ đây, con bình tĩnh rồi, con có nhiều kỷ niệm, hy vọng và nhiệt tâm con đã thắng được các thành kiến, sự sợ sệt, sự lãnh đạm và ác ý. Con đã làm cho đời sống của con có giá trị trở lại. Năm nay con hai mươi lăm tuổi”.
Tôi đã được gặp “Hải âu” trong một cuộc tiếp rước chính thức khi bà ghé Paris. Như cả triệu khán giả khác, tôi đã được coi bà bình tĩnh đáp cuộc phỏng vấn trên màn ảnh truyền hình, cho biết cảm tưởng của bà về Vũ Trụ, về thời trang của phụ nữ Paris, trả lời cả những câu hỏi về hôn nhân, con cái của bà nữa.
Người ta phục thái độ cùng tinh thần thức thời của bà, nhất là cái duyên dáng quyến rũ, tinh thần hài hước của bà càng làm cho các câu trả lời của bà có ý vị bất ngờ.
Không một người đàn bà nào có đủ những đức tính như bà về phương diện nghề nghiệp cũng như về phương diện làm vợ, làm mẹ.
Bà đã phục vụ khoa học mà bước vào lịch sử nhân loại với cái hào quang của các anh hùng trong các truyền kỳ; thật là kỳ dị, bà có đủ các tài năng thiên phú của các vị anh hùng đó.
Chồng bà, ông Andrien Nikolaiev cùng đi với bà. Trên chiếc áo trắng của bà cài ngôi Sao vàng, dấu hiệu của những nhà thám hiểm không gian. Bà đã mỉm cười một cách tự nhiên, giản dị mà ung dung lãnh giải thưởng Galabert năm 1965.
Ông Galabert, người thành lập giải thưởng quốc tế thám hiểm không gian đó, chào mừng hai ông bà như sau:
“Valentina Terechkova và Andrien Nikolaiev sau khi chinh phục vũ trụ, bây giờ lại chinh phục được Paris và dân tộc Pháp nữa. Không ai chống lại được cái duyên của hai ông bà và tất cả những người có tinh thần trẻ trung ở xứ này, từ mười tới tám mươi tuổi đều ngưỡng mộ ông bà...
“Hai ông bà với lệnh ái sẽ làm cho những kẻ lạc hậu nhất ở trên địa cầu này cũng phải thích sự thám hiểm vũ trụ...”.
Nhưng muốn biết rõ đời sống, lý tưởng của “Hải Âu” thì phải đọc những câu chuyện mà D. Vassiliev đã thu thập được.
“... Tôi không nhớ được gì về thân phụ tôi cả. Tôi mới hai tuổi thì người đi quân dịch, rồi không trở về nữa. Chúng tôi chỉ còn giữ một tờ giấy vàng khè vì cất giữ gần một phần tư thế kỷ rồi, trên đó có ghi như vầy: ‘‘... quân nhân Terechkov Vladimir Alexeievith trong đạo Hồng quân, đã chiến đấu cho tổ quốc, giữ trọn được lời thề của quân nhân, mà tỏ ra anh dũng và can đảm, hy sinh cho tổ quốc ngày 25 tháng giêng năm 1940. Đã được chôn cất với tất cả nghi lễ trong quân đội”.
Hồi đó chúng tôi ở tại làng Maslennikovo, nơi tôi sanh ngày mùng 6 tháng 3 năm 1937; làng đó cách Yaroslavl khoảng 35 cây số. Ba tôi mất đi để lại cho má tôi ba đứa con nhỏ còn bồng trên tay. Chị Liouda lớn hơn tôi một chút, em Volodia nhỏ hơn tôi. Đời sống thực khó khăn. Chắc ông đã coi bức họa La Troika (5) của V. Perov chứ. Bức đó vẽ cảnh bão tuyết mùa đông. Ba đứa nhỏ kéo một cái xe trượt tuyết trên đặt một thùng nước. Gió lạnh như cắt, quất vào mặt chúng, làm cho chúng lảo đảo, mà chúng vẫn cố tiến bước, kéo chiếc xe nặng như vậy.
“Tôi cũng vậy, mỗi khi nhắm mắt lại thì cơ hồ như thấy ngay chiếc xe nhỏ troika của tôi.
Thời đó đương có chiến tranh. Má tôi làm việc ở ngoài đồng và chị em chúng tôi đang mang bữa ăn ra cho người. Những trận bão tuyết không làm cho chúng tôi ngại bằng
ánh nắng gay gắt trên mộng lúa mênh mông bát ngát. Nắng như thiêu, không có một ngọn gió, không khí ngột ngạt. Mà phải đi hoài, đi hoài cho tới đồng cỏ.
“Sau má tôi làm việc trong trại. Chúng tôi giúp đỡ người được gì đây? Đôi khi chúng tôi vác cỏ giùm người, đem cho bò ăn, bó cỏ thì nặng mà vai thì mảnh khảnh. Thức ăn thiếu thốn; chỉ toàn là khoai tây. Nói cho đúng thì kolkhoze(6) cũng thỉnh thoảng cấp cho chúng tôi một hai lít sữa. Bà con hàng xóm cũng không quên chúng tôi, trông nhà
hoặc cuốc vườn giùm cho...
“Thời gian trôi qua... Chị tôi, em tôi và tôi bắt đầu làm việc ở Krasnyi Perekop. Chị Liouda làm thợ dệt; còn tôi, tôi quấn băng bằng máy để gởi lại một xướng khác...”.
Mấy năm như vậy rồi tới năm 1959, Valentina lại Moscou: tới đây cô đã qua được một quãng đường dài. Tháng năm năm đó cô bắt đầu nhảy dù.
“Chẳng bao lâu sân bay đã trở thành như căn nhà thứ nhì của tôi. Sáng sớm ra đó để học lý thuyết và môn thực tập mỗi ngày một khó: nhảy xuống nước, nhảy hai ba cách liên tiếp v.v...”.
Và bây giờ đây, cô cùng với mẹ ngồi xe lửa lên Moscou để được huấn luyện trong đoàn thám hiểm không gian.
Tôi đã bắt đầu tập: tôi bị đặt vào trong một cái máy quay li-tâm, tôi bị đảo lộn đủ chiều, bị thử trong phòng nóng, tôi chạy nhảy, tập thể dục... và luôn luôn người ta coi tim tôi có mạnh không. Mạnh, nó chịu đựng được!
“Sau trắc nghiệm cuối cùng, nghe ủy ban bảo “được”, tôi biết rằng mình có thể thành nhà thám hiểm không gian”.
Nhưng trong thời gian đó, không phải chỉ toàn là gắng sức, kiên nhẫn, tự chủ. Cũng có những lúc cô được nghỉ ngơi và chúng ta nên đọc kỹ những hàng dưới đây:
“Buổi tối đó tôi rất xúc động mà trời lại mát mẻ nên tôi đã lang thang dạo phố tới quá nửa đêm. Tôi đi với một chị bạn cũng được tuyển như tôi (sau này sẽ thay thế tôi). Hai chị em chúng tôi ngừng lại một lúc lâu trước tượng thi hào Pouchkine; Gagarine và Titov cũng y hẹn lại đó, và ngay từ buổi đầu, chúng tôi đã muốn theo truyền thống của các nhà thám hiểm không gian!
“Tôi được nhận vô đoàn không gian gồm các y sĩ, kỹ sư, giáo sư, các bạn và các xếp của tôi. Tôi làm quen với Gagarine, Titov, Nikolaiev Popovitch và Bykovski, bạn cùng bay với tôi sau này. Chẳng bao lâu những anh đó thành những bạn thân nhất của tôi; các anh kể chuyện học hành, luyện tập và kinh nghiệm bay, cho tôi nghe.
“Lại tiếp tục học và luyện tập nữa. Dĩ nhiên, đối với chị bạn thay thế tôi và tôi, người ta đã dễ dãi một chút, giảm bớt tiêu chuẩn về thể chất cho, nhưng không bao nhiêu. Ngay từ buổi đầu, người ta đã khuyên tôi phải tập chạy cho nhiều vào để cho tim và các bắp thịt quen chịu mệt nhọc.
“Rồi tới nhảy dù. Tôi lại tập nhảy, nhưng dưới sự hướng dẫn của một huấn luyện viên ‘ ‘‘bực thầy về thể thao”, rất khó tính. Nhảy mà chỉ được “hạng trung” thôi thì không khi nào ông bằng lòng. Ông bảo tôi: “Nhảy lại đi, phải làm sao có cảm giác rằng ở trong không khí mà cũng như ở trong nước thì mới được. Phải can trường thêm nữa, hùng dũng như đàn ông, có nam tính hơn nữa!”.
“Nam tính! Tiếng đó thật quan trọng. Mới đầu tôi cho là ngược đời, tôi là đàn bà mà buộc tôi có nam tính, nhưng sau tôi hiểu ra. Tôi nhảy thật nhiều và rốt cuộc đạt được cái kỹ thuật rất vững vàng của một nhà thể thao có hạng.
“Chúng tôi cũng đọc sách nhiều. Ngoài các tác giả tôi thích: Lermontov, Prichvine, Gorki, Cholokov, Ostrovski, Fedine, Maiakovski, Blok, Essinine, Tvardovski, tôi đọc thêm các tác giả viết về nghề của tôi: Tsiolkavski và Zander. Cũng như trong các lần đi thăm Bykovski, Popovitch và Gagarine, chúng tôi hễ họp nhau là thường bàn bạc về văn chương và nghệ thuật.
“Cuộc đời của tôi lúc đó thật phong phú, ngày nào cũng biện luận về các ý mới mẻ; tôi gia nhập hoàn toàn vào tập thể thám hiểm không gian.
“Trong các môn luyện tập, tôi cho môn tập chịu đựng trong máy quay li-tâm là khó nhất. Điều đó dễ hiểu: tôi chưa hề ngồi trong một phi cơ khu trục, nên chưa quen chịu cảnh tốc độ tăng lên thình lình và quá mức. Để thắng nhược điểm đó, tôi phải bay
thật nhiều. Tôi phải nói vậy vì có người hiểu lầm rằng có thể thám hiểm không gian mà không cần qua giai đoạn trung gian là hàng không. Hiện nay thì không thể như vậy được: khó mà điều khiển một “con tàu không gian” nếu không có những phản ứng
mau lẹ của một phi công.
“Sau cùng tôi đã thắng được hết thảy: tôi đã quen mọi sự gia tăng tốc độ, quen chịu các nhiệt độ cao, các áp lực thấp của không khí, quen sự rung động, quen sự yên lặng trong cái ca-bin cách biệt.
“Không phải là không khó khăn đâu, nhưng khó khăn tới mấy cũng không làm cho tôi nản chí. Chỉ cần có đức kiên nhẫn vô biên và tôi nghĩ rằng phụ nữ chúng ta kiên nhẫn hơn là người ta tưởng.
“Tôi với chị thay thế tôi về Yaroslav lần thứ nhất để thăm má tôi. Người ngạc nhiên sao tôi không rủ các bạn khác về, các bạn mà trong thư gởi cho người tôi thường nhắc tới nhưng không gọi tên. Vì nếu tôi dắt Youri, Guerman, Andrian về thì người sẽ nhận ra liền là ai và đoán được đời của con gái người ở Moscou ra sao.
“Rồi cái ngày nghiêm trọng đó tới. Người ta phát cho tôi và chị thay thế tôi mỗi người một bộ áo lặn nước. Tôi thấy bộ áo đó đẹp, may riêng cho bọn thám hiểm không gian “phụ nữ” chúng tôi, có một con bồ câu trắng đính ở ngực. Bận vào rồi, chúng tôi nhìn nhau mà cười; “Giá đi dự cuộc khiêu vũ bằng bộ này thì hay nhỉ...”.
“Tới bực cửa ca-bin, tôi ngó lại một lần nữa các bạn trai, đưa tay vẫy họ, tay nặng trịch vì bộ áo lặn nước.
“Cánh cửa lặng lẽ khép lại, tôi mất hết liên lạc với phía bên ngoài. Tôi nghe giọng nói ôn tồn từ phòng chỉ huy truyền tới, người ta hỏi thăm sức khỏe của tôi. Tôi đáp: “tốt đẹp cả”. Người ta cười bảo: “Còn chúng tôi thì cảm thấy không tốt đẹp gì lắm. Nóng quá chừng. Nhất là chúng tôi ở lại nhà”.
“Đúng 12 giờ trưa, người ta báo rằng ba mươi phút nữa sẽ bay. Do cảm xúc chứ không phải do trí tuệ mà tôi nghe thấy cái tiếng mong đợi từ bao lâu đó: “Khởi hành!”.
“Tôi may mắn thật: khi tôi ra khởi quỹ đạo thì địa cầu, tại nhiều chỗ không có mây: tôi nhìn thấy nó có màu sắc rất đẹp; ruộng lúa có màu ngọc bích, rừng thì phủ một màu lam nhạt, sông rạch thì như những làn chóp xanh dương, đỉnh núi lấp lánh và chân trời như một cầu vồng in lên bờ bầu trời đen ngòm coi thật lạ lùng.
Các màu lam, thanh thiên, da cam đậm, vàng lợt, xanh lá cây phơn phớt, chuyển từ màu nọ qua màu kia một cách nhẹ nhàng, tuần tự, như hòa lẫn vào nhau. Ban ngày, bất kể giờ nào, địa cầu của chúng ta cũng đẹp, ban đêm tôi thấy những đốm sáng lóng lánh như giọt sương; những nơi đó là các châu thành. Ánh sáng làm cho tôi phân biệt được cả những con đường và công trường lớn.
Trái đất, quê hương của nhân loại ấy, ra khỏi bóng tối như bắt đầu ra đời dưới mắt tôi. Nó trẻ trung rực rỡ, được mưa gội, gió vuốt. Có vài đám mây lơ lửng sao mà thấy gần thế, có vẻ trần tục thế.
“Ngày và đêm, năm châu như những con chim ấp trứng - trứng đây là các đảo - trôi qua cửa ca- bin của tôi. Tôi chăm chú nhận xét mọi vật chung quanh.
“Sự liên lạc bằng vô tuyến điện thật hoàn hảo. Tiếng nói của địa cầu với tiếng nói của Valeri – anh cũng đương quay chung quanh Địa cầu với tôi - vang lên như ở phòng bên cạnh vậy.
“Ngày bay thứ nhất tôi nhận được tin tức của các bạn thám hiểm không gian. Lời nói của Popovitch cho tôi cảm giác rằng anh ở gần lắm. Và đây là những phút không sao quên được. Tôi bay lên miền núi Volga, trên quê hương Yaroslavl của tôi. Dĩ nhiên bay cao như vậy thì không thể thấy hết từng chi tiết một được. Nhưng vừa mới thấy con đường xanh lam ngòng ngoèo ở giữa các đám mây là trong óc tôi tướng tượng ra ngay những ngôi nhà ở Yaroslavl đương soi bóng xuống nước và xóm Maslennikovo của tôi với căn nhà chìm dưới tàn anh đào do má tôi trồng. Tôi cầu nguyện Địa cầu truyền tin cho má tôi để người khỏi lo.
“Kìa, có tiếng người chỉ huy cuộc bay: ông ra lệnh đáp xuống. Tôi vừa mới đánh điện tín xong, cho biết những nhận xét cuối cùng của tôi. Chúng tôi còn đủ nước uống, thức ăn, nhất là đủ sức khỏe và nghị lực để bay lâu hơn nữa. Nhưng chương trình đã định rồi, đã thực hiện xong cả rồi.
“Valeri bảo tôi: Đáp xuống bình an nhé, Valioucha. Chúng mình gặp nhau ở dưới địa cầu”.
“Tôi đáp xuống trước nhất. Mãi sau này tôi mới hiểu tại sao anh lo lắng cho tôi khi tôi bắt đầu hạ. Anh hỏi luôn miệng: “Hải Âu ra sao?”.
“Nhiều người chạy lại phía tôi. Bao vây tôi. Ôm hôn tôi. Chung quanh là một khoảng mênh mông, trên đầu là bầu trời mênh mông. Vậy mà tôi chưa thỏa. Tôi muốn ôm hết thảy, ghì hết thảy vào lòng. Có lẽ lần đó là lần đầu tiên tôi khát khao muốn ôm hết mọi người, ôm má tôi, ôm Địa cầu”.
Tamara Koutalova, Colette Duval, Valentina Terechkova đều tượng trưng cho ba cái này: một sự thắng lợi tiếp tục trong ba chục năm nay, được ghi vào lịch sử phụ nữ; - sự tấn bộ của khoa học đưa tới những thay đổi làm cho ta kinh ngạc; - sự tấn bộ của phụ nữ, từ nay không còn tự hỏi tại sao ganh đua được với đàn ông nữa mà đã hiên ngang tiến bên cạnh đàn ông một cách chững chạc, đã thắng được mọi mặc cảm cùng thành kiến, mà vẫn giữ được nữ tính của họ.
Hai nữ sĩ viết về Trung Hoa nổi danh nhất và hiện còn đang sống cả là Pearl Buck, hoàn toàn gốc Huê Kỳ, tác giả các truyện: La Terre Chinoise, Vent d’Est vent d’Ouest, La mère, Le patriote, Pavilion de Femmes... và Han Suyin, lai Trung Hoa và Bỉ, tác giả các cuốn Multiple Splendeur, Destination Tchoungking, L’arbre blessé, Un été sans oiseaux...
Chú thích:
(1) Nông trường tập thể ở Nga.
(2) Chute libre: nghĩa là đợi khi rớt xuống gần tới đất mới mở dù
(3) Có lẽ là một thứ phao.
(4) Xe trượt tuyết ở Nga, có ba con ngựa kéo.
(4) Pied: thứ thước đo ngày xưa, dài 324 li.
Bộ Anh: ngắn hơn một chút, khoảng 305.
(6) Nông trại tập thể ở Nga, có tính cách Cộng sản.
PHẦN THỨ BA - SÁU NỮ SĨ
PEARL BUCK
giúp đời đê quên khổ
Nhà truyền giáo Sydenstricker - tổ tiên là người Hòa Lan qua Mỹ lập nghiệp - đã sống nhiều năm ở Trung Hoa, năm đó cùng với vợ đương có mang, trở về nghỉ ở Hoa Kỳ. Vì vậy mà Pearl Buck đáng lẽ sanh ở Trung Hoa thì chào đời ở tiểu bang Tây Virginie, ngày mùng 6 tháng 5, năm 1892.
Ba tháng sau ông bà Sydenstricker lại trở về ngôi nhà cũ ở phía Bắc Thượng Hải, trên một ngọn đồi nhìn xuống dùng sông Dương Tử. Ngôi nhà bằng gạch quét vôi, giản dị nhưng đẹp nhờ chung quanh có rất nhiều hoa và phượng vĩ (1). Trong miền chỉ có gia đình ông bà là người da trắng. Sau này Pearl Buck chép lại đời của cha trong truyện L’ange combattant (Thiên thần chiến đấu) và đời cùa mẹ trong truyện LExilée (Người đàn bà bị đày).
Gia đình đó sống được nhiều năm tràn trề hạnh phúc. Em Pearl lớn lên, được người bếp Trung Hoa dạy cho những điều thông thường, và một nhà Nho Trung Hoa, Ông Kung, dạy cho biết chữ Hán; ông này học rộng, rất thích chì cho em những câu cách ngôn, tục ngữ Trung Hoa. Nhưng, tháng 9 năm 1905, sau một cuộc bạo bệnh (dịch tả), ông qui tiên.
Biến cố đó gây cho em nỗi buồn đầu tiên, nhất là làm thay đổi hẳn sự giáo dục của em: em vô trường Tin Lành Thượng Hải. Vô đó, em mới nhận ra rằng mình là một em bé phương Tây sống giữa dân tộc Trung Hoa, và thấy một cuộc sống mới khác hẳn vũ trụ tuổi thơ của em: có những bé gái Trung Hoa, cha mẹ vì nghèo đói, đem bán cho các gia đình giàu có, sau thoát khỏi cảnh tôi đòi bi thảm nhờ được một trung tâm gọi là “Cửa hy vọng” đem về nuôi. Chính tại nơi đó, Pearl đã tiếp xúc với những trẻ vô phước ấy.
Năm mười bảy tuổi, Pearl về Hoa Kỳ tiếp tục sự học. Cô đã biết tiếng Trung Hoa trước khi biết tiếng Anh; đã sống theo lối Trung Hoa, chưa thấy có dây liên lạc gì với Hoa Kỳ cả, mà trái lại, chỉ mong mau tới ngày được trở về Trung Hoa; cô nhớ Trung Hoa như một người bị đày nhớ quê hương vậy.
Năm 1917 cô được mãn nguyện, và ít lâu sau, trong một cuộc tiếp tân thân mật ở tòa Đại sứ Hoa Kỳ, cô gặp một kỹ sư canh nông, John Lessing Buck, vì công việc mà liên lạc thường với hội Truyền giáo Tin Lành. Hai người cưới nhau rồi cùng nhau đi khắp miền Bắc Trung Hoa lúc đó đương hồi loạn lạc.
Bà dạy ở nhiều trường Đại học, đặc biệt là ở Nam Kinh, âu yếm các trẻ em Trung Hoa, hoàn toàn hòa mình vào vũ trụ mà bà đã lựa chọn.
Vì là phụ nữ, sau này bà nhận được sự quan trọng của hôn nhân đối với người Trung Hoa ra sao. Bà viết: “Hôn nhân không bao giờ là một chuyện tầm thường, không quan hệ, mà là một bổn phận đối với đời sống”.
Bà phân tích một cách rất minh bạch những yếu tố làm cho hôn nhân là một sự kiện quan trọng vừa cho xã hội vừa cho gia đình: “Tình vợ chồng dĩ nhiên là tình căn bản trong mọi cuộc đời. Khi vợ chồng mà hòa thuận thì chẳng những đời sống trong gia đình được vui vẻ mà đời sống của dân tộc cũng điều hòa. Trái lại nếu vợ chồng không hòa thuận, thì tai hại lây cả tới đời sống dân tộc.
Vậy hôn nhân, dù là việc riêng tư tới mấy, cũng không phải chỉ là việc của cá nhân’’.
Nhưng bà không ưa nghề truyền giáo. Bà không cho rằng các người Hoa Kỳ và Anh điều khiển các hội truyền giáo có tư cách, đạo đức hơn người Trung Hoa. Bà nhiễm văn hóa, triết học Trung Hoa tới mức thấy phương Tây không hơn được phương Đông.
Một lần bà bảo: “Tôi có xin lỗi dân tộc Trung Hoa bao nhiêu thì cũng chưa đủ, vì người phương Tây chúng ta đã nhân danh Chúa Kitô gởi qua đó những kẻ ngu ngốc, vênh váo, mê tín để truyền cho họ những dị đoan, tín ngưỡng và học thuyết của chúng ta”.
Lần lần bà cảm thấy phải làm một nhiệm vụ mà số mạng đã xui khiến: phải truyền cho phương Tây một hình ảnh vừa khách quan vừa chủ quan của cái xứ mà bà yêu và cứ mỗi năm lại thấy gần gũi nó hơn.
Biết bao người Mỹ và Âu sở dĩ biết được chút gì về tâm hồn và tính tình người Á Đông là nhờ những tiểu thuyết nổi danh khắp thế giới của nữ sĩ tóc đen và mướt, mắt xanh như rong biển đó.
Năm 1923, bài báo đầu tiên của bà đăng trên một tạp chí Hoa Kỳ; năm 1932 bà được giải thưởng Pulitzer (2) và năm 1938 được giải Nobel về văn chương.
Từ khi bắt đầu cầm bút cho tới khi được những giải thưởng đó bà đã chịu bao nhiêu thử thách, tỏ ra biết bao nhiêu can đảm và kiên nhẫn. Tiểu thuyết lớn đầu tiên của bà trong mười một tháng, gởi tới hết nhà xuất bản này tới nhà xuất bản khác, không nhà nào nhận!
Selma Lagerlof, Sigrid Undset cũng là những nữ sĩ quốc tế như Pearl Buck tác phẩm cũng được dịch ra hầu hết các ngôn ngữ, được khắp thế giới thích mà mới đầu cũng bị các nhà xuất bản hất hủi như vậy. Nếu tài của các vị đó không có một cái gì như một tiếng gọi trong thâm tâm, một ma lực quyến rũ không sao chống lại được, ngăn cản được, thì chắc các vị đó đã nghi ngờ giá trị tác phẩm của mình mà chán nản bỏ cây viết rồi.
Cuốn Autant en emporte le vent (Cuốn theo chiều gió) của Margaret Mitchell cũng vậy, bị đa số các nhà xuất bản ở Paris từ chối, mãi sau nhà Gallimard mới chịu nhận.
Có thể như vậy là vì các tác phẩm đó độc đáo. Các người “đọc” bản thảo cho các nhà xuất bản thấy một tác phẩm khác thường có lẽ đã không dám quyết định, hoặc không nhận định được giá trị đặc biệt của nó cho tới khi ông giám đốc văn chương có sáng kiến, có tài linh mẫn đặc biệt, dám in thử xem sao.
Nhà xuất bán John Day in thử tác phẩm đầu của Pearl Buck, sau in thêm mấy truyện khác của bà, tới khi truyện Terre Chinoise (Đất Trung Hoa) – nhan đề nguyên thủy là Good Earth - Đất Lành - ra đời năm 1931 thì độc giả mới hoan nghênh nhiệt liệt, truyện được liệt vào hạng “bán chạy nhất” ở Hoa Kỳ.
Trong cuốn Les mondes que j’ai connus (Những thế giới tôi đã biết), bà kể lần bà được giải Nobel: “Sinclair Lewis đã bảo tôi: “Bà đừng nghe lời người ta mà coi thường giải Nobel. Nó là niềm vui kích thích nhất trong đời nhà văn đấy. Phải tận hưởng từng phút một của buổi lễ, vì sẽ không có kỷ niệm nào đẹp hơn nữa đâu”.
“Nghe lời khuyên đó, tôi lại Stockolm và thấy Sinclair Lewis có lý. Tôi đã được biết nhiều lúc sung sướng trong đời, nhưng ngoài những cái vui luôn luôn thay đổi trong gia đình, thì bốn ngày ở Stockolm năm 1939 đã lưu lại cho tôi một kỷ niệm duy nhất, tuyệt thú”.
Bài diễn văn bà đọc khi lãnh giải có giọng rất tế nhị về chính trị cũng như về tình người.
“Tâu Hoàng Thượng và Hoàng Hậu,
Thưa quý Vị,
Tôi không sao diễn nỗi cảm xúc của tôi khi được nhận vinh dự này. Tôi tin rằng trong sự nghiệp văn chương của tôi, tôi cống hiến không được bao nhiêu mà bây giờ được đền đáp lại nhiều quá. Tôi mong rằng các tác phẩm sau này của tôi sẽ bổ túc một cách xứng đáng những điều mà bây giờ tôi không nói được đủ. Nghĩa là tôi nhận được giải thưởng này đúng theo chủ ý của người phát giải; thưởng là thưởng những công trình sẽ thực hiện, chứ không phải những công trình đã thực hiện. Như vậy, từ nay, những hồi ký về ngày quan trọng này sẽ làm cho ngọn bút của tôi thêm mạnh mẽ và có một phẩm chất đặc biệt.
“Tôi cũng nhận giải thưởng cho xứ sở của tôi nữa, cho Hoa Kỳ. Chúng tôi biết rằng chúng tôi là một dân tộc trẻ, khả năng chưa đạt tới mức sung mãn. Giải thưởng lớn lao này phát cho một nữ sĩ Hoa Kỳ chẳng phải chỉ khuyến khích riêng tôi mà còn khuyến khích tất cả các nhà văn Hoa Kỳ. Tôi muốn thưa thêm rằng ở nước tôi, người ta cho rằng phát giải cho một phụ nữ là một điều quan trọng.
Chư vị đã biết nhận tài năng của nữ sĩ Selma Lagarlof của chư vị (3), và của nhiều phụ nữ khác trong mấy phạm vi khác, nhưng có lẽ chư vị chưa nhận định được hết sự quan trọng của sự phát giải lần này cho một nữ sĩ.
“Tôi ngỏ ít lời hôm nay không phải với tư cách một nhà văn, hoặc một phụ nữ, mà với tư cách một người đàn bà Hoa Kỳ, vì cả nước tôi đều được chung hưởng vinh dự này.
‘‘Tôi sẽ có lỗi với chính tôi, nếu tôi không - với tư cách hoàn toàn cá nhân - nhắc tới dân tộc Trung Hoa mà tôi đã chia xẻ cuộc sống trong biết bao năm. Ở tổ quốc tôi và ở quốc gia đã nuôi tôi (tức Trung Hoa), cách suy tư rất giống nhau, nhất là ở điểm cả hai bên đều yêu quý tự do. Sự giống nhau đó lúc này càng nổi bật lên nữa; Trung Hoa đương chiến đấu cho tự do, sự chiến đẩu đó cao quý nhất.
Tôi chưa bao giờ phục xứ đó như bây giờ, vì toàn dân đã đoàn kết nhau để chống quân xâm lăng kẻ thù chung (4). Tôi biết rằng người ta không làm sao chiếm nước đó được: dân tộc Trung Hoa có cái nhu cầu được tự do: đó là đức căn bản thâm trầm nhất của họ. Thời này còn hơn các thời khác nữa, sự tự do là vật sở hữu quý nhất của loài người. Hai nước chúng ta, Thụy Điển và Hoa Kỳ còn giữ được nó.
Quốc gia tôi còn trẻ và xin nhiệt thành chào quốc gia tự do đáng kính của chư vị”.
Nhưng, lên đến tuyệt đích của danh vọng, Pearl Buck vẫn có một nỗi đau lòng không quên được.
Hồi ở Trung Hoa, bà sinh được một em gái nhỏ, và mới đầu bà mừng rỡ vô cùng. Nhưng rồi bà phải chịu một nỗi khổ tâm ghê gớm: em gái đó bị một bệnh, từ đó thân thể tiếp tục lớn lên mà tinh thần thì không phát triển nữa, đứng yên ở cái mức của một em bốn tuổi. Bà lo lắng không kể xiết, đem con qua Hoa Kỳ nhờ tất cả các danh y chữa chạy mà vô hiệu, rốt cuộc bà phải bỏ cuộc chiến đấu kiệt sức đó; trí khôn của đứa bé không sao tiến hơn được.
Có nhớ lại những trang bà tả tình mẹ thương con trong các cuốn La Mère (Người Mẹ) hoặc L’ Exilée (Người đàn bà bị đày) ta mới hiểu được nỗi đau
đớn của bà ra sao.
Thêm nỗi này nữa: khi biết rằng tình trạng tinh thần của con gái không sao cải thiện được, bà cũng hay một cách chắc chắn rằng bà không thể có con được nữa. Thật tai hại! Do đó mà gia đình bà tan rã. Bà bảo: “Khi một tai nạn như vậy không làm cho vợ chồng gần lại nhau thì nhất định là người ta phải xa nhau”.
Bà ly dị rồi kết hôn với Richard Wash, lúc đó làm giám đốc văn chương cho nhà xuất bản John Day; Richard Wash chính là người đầu tiên nhận thấy giá trị của tiểu thuyết bà gởi tới, và nhiệt thành khuyên nhà John Day nên xuất bản. vẫn tiếp tục đương đầu với thực tế, Pearl Buck hiểu rằng phải quên mình đi mà nghĩ tới người khác, nếu không thì sẽ tuyệt vọng, không sống nổi: bà nhận làm nghĩa mẫu những trẻ người ta dắt tới hết đứa này tới đứa khác, để cho nhà được vui vẻ.
Bà có cái lối phản ứng với nghịch cảnh như vậy: dùng cái thiện mà trị cái ác, phân phát niềm vui đầy đủ, cưu mang những kẻ khốn khổ nhất để vơi nỗi đau khổ của mình. Từ đó bà dùng tác quyền của bà - tác quyền đó rất lớn vì tác phẩm của bà in rất nhiều và có truyện được đưa lên màn ảnh - để dựng một trung tâm kiểu mẫu, lấy tên là Welcome House (Nhà Tiếp đón Niềm nở), nơi đó các trẻ mồ côi hoặc bị cha mẹ bỏ rơi, được bà niềm nở tiếp đón, nuôi nấng, mà sống trong cảnh yên ổn, sung sướng.
Những trẻ em trai gái đó là những trẻ lai không ai muốn nuôi. Pearl Buck khuyến khích các người Hoa Kỳ đem về nuôi. Bà bảo: “Phải, Welcome House rất có ích lợi, dù chỉ là để chứng minh rằng nếu chúng ta chịu khó tìm những cha mẹ nuôi thích hợp cho trẻ thì không có trẻ nào là “không thể làm con nuôi được. Trẻ nào sinh ở Hoa Kỳ cũng có thể tìm được người chịu nhận làm cha mẹ nuôi”.
Nhờ vậy, năm 1940, về ở hẳn tại Pensylvanie bà đã vượt được bao nhiêu khó khăn mà thích nghi với hoàn cảnh mới. Bà bảo: “Đã ngoài bốn mươi, bắt đầu một cuộc sống mới, dù là ngay ở quê hương mình, cũng không phải là dễ; mới đầu, tôi khó nhọc lắm mới bám rễ ở đó được. Nhưng lần lần, mỗi ngày rễ mồi đâm ra và bây giờ thì nó đâm sâu lắm rồi”.
Pearl Buck chăm chú theo dõi các biến đổi trên thế giới rồi ghi lại các bộ mặt của thời đại trong mỗi tác phẩm mới của bà. Màn ảnh đã làm cho bà được đại chúng năm châu biết tới; bà luôn luôn thích ngành đó và hồi bảy chục tuổi, sáng lập một nhà sản xuất phim riêng cho bà để quay phim La grosse vague (Ngọn sóng lớn) ở Nhật Bản.
Bà vẫn tiếp tục thư từ đều đều với các nhân vật đủ mọi giới trong mọi nước, chẳng hạn với bà Alexandre David-Neel (5).
Mặc dầu cách nhau mấy đại dương, dù ở xa nhau mấy ngàn cây số, mà hai bà vẫn thường thư từ với nhau, chắc là để nói về nước Trung Hoa mà cả hai đều yêu quý như nhau (6).
Chú thích:
(1) Fougère, cũng gọi là cây dương xỉ hoặc cây đuôi chồn. Vì lá tựa như đuôi phượng hay đuôi chồn. Đừng lộn với cây phượng mùa hè đầy hoa đỏ, người Pháp gọi là flamboyant.
(2) Một giải thưởng lớn của Hoa Kỳ do Pulitzer (1847 - 1911) một ký giả và chủ báo, thành lập.
[3] Vì Selma Lagerlof là người Thụy Điển
(4) Lúc đó Trung Hoa chống với quân xâm lăng Nhật.
(5) Coi phần II cuốn này.
(6) Pearl Buck đã xuất bản tới nay được 41 tác phẩm.
HAN SUYIN (HÀN TÚ ANH)
một nữ sĩ biết chấp nhận cuộc đời
Do một định mạng mà mang hai dòng máu Đông và Tây, Han Suyin được cái thiên tư hiếm có và quý báu là có tinh thần rộng rãi, không cố chấp.
Gilles Lapouge trong tờ Figaro littéraire nhận định bà như sau: ‘‘…Bà dạo khắp các biên cương trên thế giới như thể thế giới không có biên cương vậy mà không biết rõ hơn bà rằng thế giới này rất chia rẽ. Bà len lỏi từ tâm hồn này tới tâm hồn khác, từ văn minh này tới văn minh khác, từ tôn giáo này tới tôn giáo khác”.
Tôi thấy tiếng “len lỏi” có thể hiểu lầm là đồng ;nghĩa với “khôn khéo” hoặc “thận trọng”, nên muốn đổi ra là: “di động”. Do những hoàn cảnh trong gia đình và trong đời sống, bà ở vào một tình trạng mà người thì cho là may mắn, kẻ lại cho là tai hại, và bà đã chọn làm người Trung Hoa, đã không từ bỏ phương Đông mà còn tiến sâu vào lòng một nền văn minh và một quốc gia mà bà là người thừa kế và phải chịu trách nhiệm.
Dòng máu của cha đã thắng di truyền của mẹ. Và nhờ dòng máu Bỉ của mẹ, bà mới làm cho phương Tây hiểu được phương Đông mặc dầu giọng của bà đích thực là giọng Á châu. Tổ tiên bên nội là giai cấp quan liêu Trung Hoa, tổ tiên bên ngoại là giai Cấp đại tư sản Âu: bà không từ bỏ bên ngoại mặc dầu vẫn tự coi mình là nguồn gốc Á, vẫn trung thành giữ mối liên lạc với Trung Hoa, can đảm chịu mọi lời nguyền rủa (1) mà thắng được mọi trở ngại.
Ai mới gặp bà lần thứ nhất cũng ngạc nhiên về sự thông minh của bà. Dù nói chuyện mưa nắng bằng một giọng rất bình thản: “Mùa hè này thực là nóng chịu không nổi... Ở New York cũng không hơn gì... tám ngày trước đây, như ở trong lò vậy...”, mà nhìn bà, chúng ta cũng phải khen rằng: “Bà này thông minh dị thường.
Cách ăn bận, đi đứng, mỉm cười, cả khóe mắt của bà nữa đều để lộ sự thông minh đó.
Thông minh luôn luôn là một trong những đức chính của phụ nữ Trung Hoa, dù họ thuộc hạng trí thức, có một nền văn hóa phong nhã, hay thuộc hạng bình dân, có một nghệ thuật sống rất tự nhiên.
Han Suyin mảnh mai, thanh nhã và đẹp, đẹp nhờ cá tính và sinh khí hơn là nhờ đường nét cân đối. Cử chỉ của bà thung dung, vì đã quen giao thiệp với mọi giới trong mọi xứ. Nhưng bà có cái gì làm cho ta phải thận trọng, không dám tỏ vẻ khinh suất.
Chắc bà có đức tự chủ cực cao, bề ngoài càng nén được cảm xúc bao nhiêu thì bề trong lại càng xúc động bấy nhiêu. Có lẽ một chút gì cũng có thể làm lòng tự ái của bà bị tôn thương được.
Một người như bà viết về ái tình, về cảnh khốn nạn của con người, về sự sinh ly tử biệt mà làm cho lòng độc giả phải rung động, thì không thể nào không cảm thấy một phần những điều mình viết, mặc dầu là viết thành những câu mạnh mẽ, giản dị, có vẻ như bình thản nữa.
Trong cuộc đời của bà, chắc đã có nhiều lúc bà tỏ ra cương quyết, nghiêm khắc chú trọng vào hiệu quả tới cái mức dam mê, gần như là tội lỗi nữa.
Chính cái tương phản (tự chủ mà lại đam mê) mà ta cảm thấy trong tâm hồn bà đó làm cho bà có một sức quyến rũ lạ thường (2).
Han Suyin và tôi ngồi đối diện nhau, ở bến Kennedy, mỗi người một bên cái máy vi âm. Marianne Monestier - Trong cuốn L’Arbre blessé (Cây bị thương tích) kể chuyện gia đình bà, và cũng chép lại lịch sử của Trung Hoa từ cuộc nổi loạn Thái Bình ở giữa thế kỷ XIX tới khi Quốc dân đảng lên cầm quyền. Bà giảng tại sao dân tộc Trung Hoa căm thù liệt cường đã tranh nhau xâu xé, bóc lột tổ quốc họ. Bà cho biết những thắng trận đầu tiên của Nhật Bản đã buộc Trung Hoa phải chịu những bồi thường quá nặng, do đó mà phải vay nợ của các cường quốc châu Âu, thật là tai hại. Bà cho biết bọn quân phiệt đã tàn nhẫn bắt dân đóng thuế, dân nổi loạn, do đó mà chế độ phong kiến mau sụp đổ và gây nên một cuộc cách mạng vừa nổ, đẩy Trung Hoa vào thế giới hiện tại của thế kỷ thứ XX. Và tấm bích họa lịch sử đó đồng thời cũng là bức họa cuộc đời của gia đình bà nữa.
Han Suyin - Không thể nào tách rời thân phụ tôi hoặc thân mẫu tôi ra khỏi Lịch sử thời đại của các người ở Trung Hoa được. Cũng như Marcel Proust, khi viết về đời ông, không thể nào tự tách rời ông, hoặc tách rời nhân vật trong truyện ra khỏi cái thời của họ, ra khỏi các biến cố gây phản ứng trong lòng họ. Hết thảy chúng ta đều là sản phẩm của thời đại và lịch sử chi phối. Năm 1900 ở Trung Hoa có loạn Nghĩa Hòa Đoàn - người Âu gọi là loạn Quyền phỉ - nên thân phụ tôi, đáng lẽ thành một nhà cổ điển học, vô viện Hàn Lâm, thì cưới thân mẫu tôi gốc Bỉ và thành một kỹ sư. Cây thì có gốc rễ, nên tôi trở về gốc rễ. Chẳng hạn các đường hỏa xa, thân phụ tôi cho là quan trọng lắm, và một phần tuổi thơ của tôi đã trôi qua trong các nhà ga lớn hay nhỏ. Ngay bây giờ, mỗi khi nghe thấy tiếng còi hỏa xa là tôi nhớ ngay đến tuổi thơ của tôi.
M.M. - Sau cuốn LArbre blessé, bà còn viết tiếp nhiều cuốn nữa cho thành một bộ chứ?
H.S. - Vâng, ba cuốn nữa sẽ ra: Une fleur mortelle (Một bông hoa phải chết). Un été sans oiseaux (Mùa hè không có tiếng chim)(3). La Moisson du Phénix (4) (Mùa gặt của Phượng hoàng). Bốn cuốn đó, tôi đã bổ cục sao cho mỗi cuốn là một truyện riêng biệt, mặc dầu vẫn có mối liên lạc với nhau.
Toàn bộ phải ghi lại được một hình ảnh đầy đủ về sự diễn biến của một gia đình Trung Hoa, của cả những nhân vật chung quanh gia đình đó nữa.
Không phải là lịch sử, mà lại là lịch sử vì xét cho cùng, ai mà chẳng sống trong lịch sử và dự phần làm nên lịch sử (...). Như vậy tôi đã thực hiện một tác phẩm có thể giáng được cho người Pháp, người Âu và người Mỹ hiểu rõ những cái gì đương xảy ra ở châu Á, và ở Trung Hoa trước hết.
M.M. - Phần đông chúng tôi - dĩ nhiên, không kể các nhà chuyên môn về các vấn đề Viễn Đông không hiểu rõ những gì xảy ra ở Trung Hoa trong thế kỷ XIX, nhất là trong hai chục năm đầu thế kỷ XX. Cuốn L’Arbre blessé là một tiểu thuyết rất hấp dẫn, sẽ lấp được chỗ thiếu sót đó. Điều ấy tôi cho là quan trọng.
H.S. - Tôi xin nhắc lại cuốn LArbre blessé và ba cuốn sau đều ở vào nhiều bình diện; nghĩa là vừa phác lại lịch sử Trung Hoa, vừa chép chuyện nhiều cá nhân; cá nhân như những bánh xe móc vào bánh xe lịch sử. Chẳng hạn cuốn L’ Arbre blessé chẳng phải chỉ là truyện một dân tộc, quốc gia bị đau khổ vì sự xung đột giữa Đông và Tây ở thế kỷ XIX vì những vết thuơng do thực dân phương Tây gây ra; mà còn là truyện nhiều cá nhân ở châu Á bị lôi cuốn vào những biến cố đó nữa, và nhiều cá nhân họp thành một dân tộc, một quốc gia, họ như một cây bị một vết thương. Và tôi tự hỏi như vầy: Thế nào là một cây bị thương tích? Nó bị thương từ hồi trước, hồi còn nhỏ, như vậy nó sẽ còi đi hoài không? Hay là có thể đâm bông kết quả tốt hơn những cây khác? Tôi biết bà cho như vậy là quá lạc quan, nhưng tôi nghĩ rằng lạc quan có phần còn đúng hơn bi quan và tôi áp dụng quan niệm đó vào lịch sử. Người bi quan luôn luôn bảo rằng: “Sự tình mỗi ngày mỗi tệ”. Tôi thấy thế kỷ nào cũng có những người bi quan phàn nàn “sự tình mỗi ngày mỗi tệ” nhưng không phải vì vậy mà nhân loại không tiếp tục con đường của mình. Nhân loại, cũng như cây kia, bị nhiều thương tích đấy, nhưng vẫn tiếp tục sông và kết trái, bất chấp những giông tố đã qua.
M.M. - Tinh thần lạc quan của bà, lòng tin ở cuộc sống và con người đó quả thật là mạnh. Chẳng hạn truyện Multiple splendeur (Muôn vẻ rực rỡ) kết cục bi thảm như vậy mà vẫn tràn trề hy vọng.
(Truyện Multiple Splendeur đã được đưa lên màn ảnh. Nhân vật chính trong truyện giống bà như hình với bóng. Truyện là một truyện tình, kết cục là tử biệt, vậy mà không tuyệt vọng).
H.S. - Phải... tôi cho rằng có lẽ là... tôi không biết chắc đó có phải là đặc tính Trung Hoa không hay chỉ là... có lẽ là đặc tính Trung Hoa thì phải hơn... Chúng tôi có một câu tục ngữ mà chính Mao Trạch Đông thường dùng:...'‘Vượt ra ngoài bi thảm và tai ương mà cố hưởng lấy hạnh phúc”. Và tôi nghĩ nên lấy quan niệm này làm căn bản của giáo dục mà truyền cho các thế hệ sau: đời không phải chỉ có toàn hạnh phúc, mà còn có đau khổ nó liên quan mật thiết với hạnh phúc. Tôi luôn luôn lấy làm lạ rằng người phương Tây không chấp nhận ý đó; họ làm cho trẻ nghĩ lầm rằng chúng muốn mọi sự ra sao thì mọi sự phải như vậy, và chúng luôn luôn phải được sung sướng. Làm sao có thể luôn luôn sung sướng được? Cũng phải có lúc khổ sở nữa chứ. Sự khổ sở là một điều tốt đấy... Vì có khổ sở rồi hạnh phúc mới đậm đà... Không chịu qua cảnh khổ sở thì làm sao thấy được rằng mình sung sướng; không đói thì làm sao thấy được rằng thức ăn ngon? Người Trung Hoa rán đạt được nhân sinh quan đó tới một mức cao nhất.
M.M. - Tôi xin bà nói thêm về nhân vật tượng trưng cho cụ bà và đóng một vai quan trọng trong L’Arbre blessé. Bà tả nhân vật đó bằng một giọng hài hước, đôi khi nghiêm khắc nhưng sự thực thì âu yếm. Nhân vật đó luôn luôn muốn bỏ đi mà rốt cuộc vẫn ở lại...
H.S. - Đúng vậy...
M.M. - Không muốn chịu đựng một cái gì cả mà rốt cuộc chịu đựng hết...
Truyện L’Arbre blessé mở đầu bằng một bức thư nhân vật đó viết ở bên cạnh cái nôi của đứa con đầu lòng:
Thưa Ba Má,
Hôm nay con không có thì giờ viết cho Ba Má một hức thư dài đâu vì hôm qua bọn
cướp đã lại chặt đầu tên bếp của chúng con rồi. Đầu lâu anh ta hãy còn ở trong vườn kia, nên con phải khép cửa sổ lại. Cháu bé khóc vì trời nóng quá, nó ngứa ngáy mà con không kiếm đâu ra được phấn thoa rôm, vậy con xin Ba Má gởi cho con hai chục hộp. Ở bên Anh thứ đó dễ kiếm... Con không chịu nổi những tiếng cười của họ nữa. Thấy con khóc, họ cũng cười; đi coi bọn cướp chặt đầu người, họ cũng cười; họ không có tình con người.
Con muốn về ở với Ba Má... Con sẽ buộc anh ấy (tức chồng thiếu phụ) để cho con đi ngay hôm nay... ”.
Vậy mà mấy năm sau, mấy năm sau nữa, thiếu phụ vẫn ở lại, chẳng đi đâu cả, vẫn khó tính như vậy, can đảm mà dữ dằn.
“Tôi đã làm điều gì thất đức đâu, để phải cực khổ như vầy, hỡi Chúa? Tôi muốn đi ngay đây nhưng tự giải thoát cách nào được bây giờ? Có lẽ là một hình phạt nào đây. Thứ bảy trước, Cha Clément hỏi tôi sao không có thêm em bé nào nữa. Tôi đáp: “Sanh tám đứa, bỏ mất bốn, như vậy chưa đủ sao?” và ông ấy cả gan bảo tôi: “Bà mạnh như trâu mà”. Tôi sẽ không bao giờ bước chân vào giáo đường của ổng nữa đâu. Hạng mục sư chẳng biết quái gì cả... Nếu họ trải qua những cảnh tôi đã trải!”.
Vậy là Marguerite Denis vẫn ở lại và sanh thêm một đứa con nữa. Cho tới năm 1949 bà ta vẫn không chịu chấp nhận Trung Hoa, vẫn bực bội, vẫn nhớ quê hương. Mà bà ta vẫn ở lại. Bà ta can đảm đương đầu với những cảnh khủng khiếp, nhiệt liệt phản kháng những nồi bất bình.
(Ở phía kia cái máy vi âm, Han Suyin mỉm cười, có lẽ nhớ lại bà cụ thân sinh đôi khi quạu quọ mà luôn luôn đáng phục).
H.S. - Vâng, tôi thấy rằng thân mẫu tôi là một người khá phi thường. Người không có chút tinh thần hài hước nào cả. Vì sinh trưởng ở châu Âu, người được dạy dỗ theo Âu, có quan niệm rằng đương nhiên người phải được hưởng hạnh phúc, mà quan niệm đó không phải là quan niệm của Trung Hoa, nên người đã thất vọng. Đời của người gần như một bi kịch, nhưng có lẽ như vậy mà lại tốt. Tôi nghĩ rằng... Có người bão tôi: “Bà có vẻ như không quý cụ bà” hoặc “cụ bà có vẻ như không mến bà”. Nhưng vấn đề đâu phải như vậy. Có liên quan gì tới cái đó? Vì vậy mà trong cuốn thứ nhì, Une fleur mortelle, tôi nói rằng tôi rất mang ơn thân mẫu tôi, vì chưa bao giờ người nói dối tôi một lời; luôn luôn người bảo tôi, bằng cách này hay cách khác, rằng người không yêu tôi.
(Khi nói câu đó, giọng của H.S. không có một chút chua chát nào cả dù có thể là
một vết thương lòng rất thầm kín nào đó lại vỡ miệng ra. Có lẽ bà chỉ có một niềm vui tế nhị đã phân tích được một cách khách quan người mẹ đã không tìm hiểu bà, đoán lòng bà; niềm vui đã mổ xẻ cả những tư tưởng kín đáo, mổ xẻ nguyên nhân những hành động bất tự giác nhất của mẹ).
M.M. — Không ai là không biết điều đó, với lại trong tất cả các tác phẩm, bà cũng đã tỏ rằng bà muốn như vậy: bà luôn luôn cảm thấy rằng bà có tâm hồn Trung Hoa hơn lã tâm hồn Tây phương.
H.S. - Bà biết rằng, về phương diện quốc tịch, thì dòng máu của cha quan trọng hơn; ai cũng theo quốc tịch của cha... Có lẽ cũng còn lý do này nữa: tôi muốn làm y sĩ và hành nghề ở châu Á vì ở đó người ta cần tới tôi hơn là ở các nơi khác... bổn
phận của y sĩ là phải tới chỗ nào có nhiều người xấu số, nhiều người đau ốm trước hết...
(Han Suyin đã học hết ban Trung học ở Bắc Kinh, rồi tại đó, vừa làm thư ký tốc ký và đánh máy, vừa học Y khoa; rồi bà qua châu Âu, học tiếp ngành đó ở Bruxelles, được hưởng học hổng trong ba năm. Năm 1938, chiến tranh Trung Nhật phát sinh, bà trở về Trung Hoa giúp việc trong một y viện. Ở đó bà thành gia thất và sanh một em gái.
Năm 1942, chồng bà, một người Trung Hoa cũng như bà, được phái làm tùy viên quân sự ở Londres. Bà đi theo chồng và hai ông bà ở Anh, tới năm 1945 lại cùng nhau về Trung Hoa theo Tưởng Giới Thạch. Hai năm sau chồng bà mất ở mặt trận.
Sau đó, bà lại qua Londres học lấy nốt bằng cấp y sĩ, hành nghề ở Anh được một năm, nhưng không chống lại được tiếng gọi của tổ quốc, bà trở về Hương Cảng, để hễ có dịp là xin phép vô thăm lục địa. Bà được mãn nguyện.
Nghề y sĩ đưa đẩy bà từ Hương Cảng tới Singapour, rồi lại trở về Hương Cảng. Nhưng bà hy vọng một ngày kia được hành nghề ở Trung Hoa. Trong cuốn... Et la pluie pour ma soif (Trời mưa xuống lấy nước tôi uống), bối cảnh là Mã Lai, nhân vật chính là bà với chức vụ y sĩ, bà dùng ngôi thứ nhất để diễn tả cái trách nhiệm của bà đối với những dân tộc bà coi là huynh đệ của mình...) .
M.M. - Bà Han Suyin, chắc chắn nhờ làm y sĩ mà tác phẩm của bà thêm hùng hậu, tâm lý các nhân vật thêm sắc bén, vì bà đuợc tiếp xúc thân mật với đủ hạng người. Y sĩ và văn sĩ cần có nhiều đức tính giống nhau.
H.S. - Lời của bà hoàn toàn đúng đấy và tôi mừng rằng bà đã nhận xét tôi như vậy. Có những người bảo: “Làm sao có thể vừa làm y sĩ vừa làm văn sĩ được?”.
Họ nói bậy, Duhamel, Céline và nhiều văn sĩ Pháp khác chẳng là y sĩ đấy ư? Người Nga thì có Tchekhov; người Anh có Somerset Maugham. Các vị đó đều đã học y khoa và Tchekhov đã làm y sĩ suốt đời... không hề bỏ nghề... Tôi cũng đã hành động như vậy... Tôi chỉ tạm ngưng hành nghề trong một thời gian để viết cho xong bộ bốn cuốn đó vì tôi cho rằng việc đó rất quan trọng, nhưng tôi mong sẽ không phải ngưng lâu... Đúng vậy, nghề thầy thuốc làm cho ta hiểu thấu tâm lý
con người, và tập cho ta chẩn bệnh một cách khách quan. Một y sĩ không được phép lầm lẫn. Không thể chẩn bệnh rồi bảo: “Thưa ông, ông sổ mũi” khi bệnh nhân bị bệnh cùi. Nhưng một chính khách có thể lầm lẫn được. Chính khách thường chỉ quen dùng danh từ; nên không thận trọng lắm khi bắt mạch tình thế. Riêng phần tôi, tôi cho sự xác thực là rất quan trọng. Trong cuốn L’Arbre blessé mà tôi mới viết xong đây, tôi rán hết sức trung thực về các sự kiện lịch sử cũng như về các sự kiện thuộc phần cá nhân. Hôm qua một sử gia Pháp, giáo sư Sử, tác giả cuốn Lịch sử Trung Hoa rất có giá trị, bảo tôi rằng “không thấy cuốn đó có điều gì sai cả, trái lại, nhờ cuốn đó mà ông ấy biết thêm được nhiều điều mới mẻ nữa”. Lời khen đó làm cho tôi mừng lắm và tôi mang ơn ông ấy nhiều.
M.M. - Bà Han Suyin, bà thỉnh thoảng vô Hoa lục đấy chứ?
(Sự thực, do Catherine van Moppés, nữ ký giả trẻ nhất đã sống ở Trung Hoa giữa đám thanh niên Trung Hoa, tác giả một cuốn linh động, vô tư nhất về Trung Hoa, tôi đã được biết rằng Han Suyin vẫn đều đều lên Bắc Kinh và thu được tiền cho thuê nhà ở đó, đóng thuế mất 25% rồi mà số tiền vẫn còn lớn. Dĩ nhiên bà không về Bắc Kinh vì mục tiêu đó, việc thu tiền chỉ là hậu quả thôi. Điều cốt yếu là bà không muốn mất cái quyền cảm thấy rằng Trung Hoa còn là quê hương của bà).
H.S. - Từ 1949, năm nào tôi cũng trở về Trung Hoa thăm bà con, bạn bè, tìm lại những sự kiện, kỷ niệm cũ, tôi cũng về Bỉ để theo đường mòn của dĩ vãng nữa. Trong nhiều năm, tôi đã cố thu thập được nhiều, phỏng vấn các nhà bác học ở miền Setchouab (5), các nhà truyền giáo ở Gia Nã Đại, các bà dì ở Ostende.
M.M. - Nhưng Trung Hoa đối với bà bây giờ tượng trưng cái gì? Và Bắc Kinh nữa?
H.S. - Tôi cũng đã trả lời câu đó trong cuốn L’Arbre blessé. Tôi sinh ở một nước Trung Hoa nay đã thuộc về dĩ vãng, và cuộc cách mạng năm 1949, đối với tôi cũng như với nhiều người trong giai cấp tôi, cùng một giáo dục như tôi, là một biến cố khủng khiếp; chúng tôi chưa hề bao giờ là cộng sản mà cũng không bao giờ có thể thành cộng sản được vì đã tới cái tuổi không thể còn tin một cách khá mạnh mẽ, bất kỳ một cái gì nữa. Không còn là cái tuổi nổi loạn chống đối, hoặc hét tướng lên “Muôn năm”; “Chiến thắng” rồi vui vẻ nhắm mắt nữa. Nhưng tiếng nói của những người không dấn thân để phục hồi dĩ vãng hoặc chiến đấu cho hiện tại. Với lại thế giới cần có những nghệ sĩ chép lại các biến cố một cách thiện cảm mà không cuồng nhiệt, hơn là cần các nhà truyền giáo độc ác hô hào những cuộc chiến đấu hư ảo chống lại sự thực.
Không thể làm lùi lại chiếc kim đồng hồ được, không thể tìm lại một dĩ văng trong lý tưởng được. Tương lai bắt đầu từ hôm qua, loài cây như vậy mà
loài người cũng vậy.
M.M. - Một bà bạn thân của bà, cũng như bà, cha là người Trung Hoa, mẹ là người Âu, có lần bảo bà như vầy: “Làm sao chị có thể mỗi năm trở về Trung Hoa một lần được; Trung Hoa ngày nay có còn như Trung Hoa ngày xưa nữa đâu? Tôi thì tôi không thể về được nữa. Về để mà thấy những kỷ niệm hồi thơ ấu của mình đã tiêu tan hết, thấy cái gì cũng bị tàn phá hết ở cái châu thành Bắc Kinh thân yêu của mình ư?”
Và bà đã trả lời: “Trước hết, không phải cái gì cũng bị tàn phá hết. Không ai có thể cứ nghĩ tới những cái hoàn hảo ở tuổi thơ ấu mà sống được. Tuổi thơ của chị có thể đã sung sướng đấy, nhưng còn biết bao người khác đã khốn khổ trong cái nước Trung Hoa thời trước...”.
(Có cần phải nhắc lại điều này không? Trung Hoa thời đó, thời cộng sản lên cầm quyền, trước hết là một xứ nông nghiệp. 85% dân chúng là nông dân. Mà điều kiện sinh hoạt chung trong xứ đó ra sao? Cũng như ở Ấn, ở Nhật, ở gần khắp thế giới, tình trạng ở đó là tình trạng nhân mãn.
Ruộng chỉ chiếm 27% đất đai. Không phải là tại những chỗ khác, đất không tốt không trồng trọt được, mà tại thiếu phương tiện, hoặc tại thản nhiên, bất lực mà người ta bỏ hoang những đất đó.
Đất đai rộng 3.500.000 cây số vuông mà chỉ có 12.000 cây số đường xe lửa.
Cảnh cùng khốn của nông dân tới cực điểm.
Ngay trên những cánh đồng phì nhiêu, cũng thường thấy những gia đình gồm bốn năm người sống nhờ bốn chục are (6), mỗi năm tiêu độ 135 đồng bạc Trung Hoa, bằng khoảng 300 đồng quan Pháp ngày nay (7).
Tại miền Kan Sou, nghèo hơn, tháng giêng lạnh buốt xương mà dân thiếu ăn, đói, ra đường bận toàn áo vá, rách tả tơi. Người lao động trung bình Trung Hoa thường chỉ được ăn cơm với ít rau chấm muối. Mỗi tháng hai lần mới được thêm vài miếng thịt.
Tới mùa dưa hấu, có những người vốn liếng chỉ có mỗi một trái dưa, xẻ ra làm nhiều miếng đem bán cho hạng lao động.
Cho tới năm 1949, hậu quả của tình trạng đó là bọn điền chủ có quyền “đêm đầu ”- tức quyền phá tân - các con gái tá điền khi họ về nhà chồng; người nghèo phải bán con gái mười tuổi lấy mười đồng bạc Trung Hoa, còn bọn cho vay thì tàn nhẫn lấy lãi nặng quá chừng quá đỗi.
Các tiệm cầm đồ ở nhà quê chất đầy những quần áo tồi tàn, những dụng cụ rẻ tiền, có những món chỉ cầm được một quan rưỡi hay hai quan tiền Pháp (8), mà mỗi tháng phải trả lãi tám phân.
Sự bóc lột vô liêm sỉ đó còn có bộ mặt này nữa; ở miền Kiang Sou, năm 1934 và những năm sau, lá dâu đem bán, qua mấy lần trung gian, giá tăng lên tới 500%. Sau cùng người ta khéo tổ chức, tuyên truyền để dọa dẫm nông dân, bắt nông dân phải bán non mùa màng, với giá bằng 60% thời giá.
Bà Pearl Buck viết về cuốn L’Arbre blessé: “Người Âu nào muốn biết những lý do đã làm cho cộng sản ở Trung Hoa lên mau như vậy thì cứ đọc tác phẩm đó; họ sẽ thấy không phải là do ý thức hệ chính trị, mà do nỗi khốn cùng của con người ”.
Có lẽ tất cả cảnh đó đã thoáng hiện lên tia mắt của Han Suyin khi bà trả lời câu hỏi
của tôi về thái độ của bà đối với xứ Trung Hoa thời bà còn thơ ấu).
H.S. - Dĩ nhiên mỗi người lựa cho mình một chân trời, rộng hẹp tùy tinh thần của mình. Có bao nhiều người nghĩ như thiếu phụ bà mới cho tôi hay đó? Tức người bạn của Han Suyin không muốn về thăm Trung Hoa nữa.
Tôi không biết được. Nhưng riêng về phần tôi, tôi không muốn ôm chặt lấy tuổi thơ của tôi, không muốn để cho nó thành cái bóng tối xâm chiếm, che lấp cả hiện tại. Tôi phải hành động, phải sống với tôi, phải là tôi, và tiếp tục lớn lên khi nhiều người
khác ngừng lại. Tôi không muốn làm cái “cây bị thương tích” mà mất cả vẻ đẹp của cảnh. ít nhất, tôi cũng muốn chào cái tương lai mà tôi đã không dựng lên được; chào rồi có chết thì cũng đành...
M.M. - Cho tới bây giờ, đâu có tới nỗi như vậy.
H.S. - Không, không tới nỗi như vậy, nhưng nói cho ngay, để tiếp tục phát triển mà phải bám lấy hiện tại, rán tìm hiểu mà diệt bỏ những thành kiến của mình đi, cái đó cũng khổ tâm đấy. Bao nhiêu kỷ niệm đã bị thời gian và cách mạng tàn phá hết rồi thì không dễ gì tự tìm lại được mình đâu. Không dễ đâu, đôi khi còn khó khăn, đau đớn nữa, nhưng tôi cho rằng việc đó tốt, có lợi, đáng làm...
(...) Bây giờ đây khi nhớ lại buổi sáng tôi gặp Han Suyin lần đầu đó, khi nhớ lại vài đoạn trong các tác phẩm của bà, nhớ lại vài câu bà trả lời tôi trong cuộc phỏng vấn, thì các cảm tưởng quan trọng nhất bà còn lưu lại ở tôi, cái nó làm nổi bật cá tính của bà nhất, làm cho câu chuyện cùng tác phẩm của bà có một nét độc đáo sâu sắc, chính là tấm lòng tin tưởng đó ở số phận loài người, thái độ chấp nhận cuộc đời đó, nó không phải là một sự bại trận mà là một sự thắng trận, từng giai đoạn, có lúc phài tạm lùi đấy để đợi khi gặp hoàn cảnh thì lại tiến nữa.
Chú thích:
(1) Coi đoạn phỏng vấn ở sau sẽ hiểu.
(2) Ở đây chúng tôi bỏ non ba trang tác giả giới thiệu sơ sài văn minh Trung Hoa với độc giả trung bình ở Âu, Mỹ mà chúng tôi cho rằng độc giả Việt Nam biết cả rồi.
(3) Trừ cuốn Moisson du Phénix, còn ba cuốn kia đã được nhà Stock dịch và in rồi, nhưng chưa có trong loại sách bỏ túi. Tới nay Han Suyin đã có 10 tác phẩm.
(4) NXB Hội Nhà Vãn xuất bản năm 1992.
(5) Không biết có in lầm không? Chính là Sctchouan hoặc Seutchouan (Tứ Xuyên).
(6) Nghĩa là 4 phần 10 mẫu tây, hơn một mẫu ta ở Bắc một chút, chưa bằng một mẫu ta ở Trung.
(7) Nghĩa là 15.000 đồng bạc V.N. theo hối suất song hành hiện nay.
(8) Nghĩa là từ 80 tới 100 đồng bạc V.N. hiện nay.
SELMA LAGERLÖF
nữ sỹ đầu tiên được giải nobel
Selma Lagerlöf là người đàn bà thứ nhất được giải thưởng Nobel về văn chương, năm 1909. Hồi đó bà đang ở trong Hàn lâm viện Thụy Điển. Các trẻ em trên khắp thế giới say mê theo dõi Nils Holgersson trong cuộc du lịch kỳ thú của Nils khắp xứ Thụy Điển(1), và năm 1958, Viện Bảo Tàng Giáo khoa ở Paris đã trưng bày một loạt bức tranh bằng thuốc màu hòa nước và bằng bút chì của các em bé nhân đọc truyện du lịch đó, một danh tác trong văn học nhân loại, mà cao hứng vẽ nên. Bà thật đa tài, giọng văn cảm động, lãng mạn, có chút mỉa mai, mà tư tưởng sắc sảo. Nhưng có thực là bà có giọng mỉa mai không? Hay chỉ là một lòng khoan hồng hơi đùa cợt, hơi chua chát chán đời, nhưng luôn âu yếm: bà biết rõ lòng người quá nên nhận ra được rằng nhiều người có những hành động đáng chê trách hay tầm thường quá đấy, nhưng tấm lòng của họ vẫn tốt hơn hành vi của họ.
Đời sống có những cái tàn nhẫn, xấu xa đấy, nhưng những cái đó không làm mất được vẻ đẹp của thiên nhiên hoặc tiếng hót du dương của chim chóc.
Truyện cổ tích Gosta Berling (cũng có tên là Morbacka) có đầy thi vị rút ngay ở trong cảnh thực ra. Ta thấy tuyết cuốn dưới ngọn gió, thấy cây ăn trái trổ bông, thấy những đàn ngồng trời bay qua trên đầu; ta thấy tình yêu run rẩy, lúc thì được thỏa mãn, lúc thì bị hủy diệt, nhưng bị hủy rồi thì lại, như loài phượng hoàng, tái sinh từ đám tro tàn, đẹp đẽ hơn trước nữa. Chính cuộc đời của Selma Lagerlöf cũng như vậy. Văn của bà thật giống bà.
Khi bà chào đời ở Amtervik (miền Varmland) vào lúc 9 giờ tối ngày 20 tháng 11 năm 1858, thì hai người lấy cỗ bài tây ra bói để đoán tương lai bà.
Một người là bà nội, một người là bà cô của Selma, cả hai y như những mụ phù thủy da nâu, mắt đen, sáng ngời, mũi quặm trong một tiểu thuyết của Dickens.
Selma sau này dí dỏm và âu yếm kể lại chuyện đó mà hồi nhỏ bà đã được nghe không biết bao lần.
Bà Lagerlöf (2) hỏi:
- Chị thấy gì đấy?
Bà cô Wennevik đáp:
- Tôi thấy một bệnh gì đó như đeo đuổi con nhỏ này hoài, tôi ngại rằng suốt đời nó sẽ phải mang bệnh thôi.
Bà Lagerlöf vốn lạc quan, chỉ nhìn thấy phía tốt của mọi sự, bảo:
- Ai mà chẳng có nỗi khổ này, nỗi khổ nọ, mà không khổ thì chẳng làm nên cái gì cả; nếu nó bệnh tật, ốm yếu thì nó sẽ sống ở trong nhà, ít đi đây, đi đó; xét cho cùng, như vậy mà lại sướng.
Bà cô Wennervik lại đặt ngón tay trỏ lên từng lá bài một, đếm lại, rồi nháy mắt, vẻ tinh quái, bảo:
- Nó sẽ phải đi xa nhiều lắm, bắt buộc phải dời chỗ ở hoài.
Bà Lagerlöf thở dài:
- Đá mà lăn hoài thì làm sao rêu bám vào được(3).
Bà cụ suốt đời không dời chỗ ở, nên buồn rầu cho cháu nội sẽ phải lang thang hết nơi này nơi khác.
“Nếu nó đau ốm hoài, không kiếm ăn được, thì chắc là phải sống nhờ bà con, ở nhà người này ít lâu rồi qua nhà người khác. Không làm việc được, không giúp gì được cho ai thì đời còn vui nỗi gì.
Bà cô Wennervik, tính lại các con bài:
- Bà đừng ngại, trái lại nó sẽ làm việc chứ. Nó sẽ làm việc suốt đời.
Bà Lagerlöf lại thở dài, đưa ý kiến này:
- Hay là sẽ phải làm công cho người khác để kiếm ăn, và sẽ phải đổi chủ hoài.
Bà cụ cho rằng không có số phận nào điêu đứng bằng phải làm thuê làm mướn, ngửa tay nhận tiền công của người. Rồi mặt bà cụ tươi lên, bà nói tiếp:
- Nhưng cũng có người khéo xoay xở đâu vào đấy, như chị đó. Miễn sao nó cũng được tài giỏi như chị.
Bà cô Wennervik cúi gầm mặt xuống mấy quân bài, mải mê tới nỗi không nghĩ rằng lời đoán của mình có làm cho người nghe khó chịu không, bỗng bà thốt lên:
- Suốt đời con nhỏ này không mó tới cái khung cửi đâu. Tôi đoán rằng nó sẽ làm việc nhiều về sách vở, giấy tờ.
Bà Lagerlöf cúi xuống nhìn các quân bài để tìm hiểu tại sao bà Wennervik lại đoán như vậy. Bà ngạc nhiên, lặp lại lời bà Wennervik:
- Chị bảo nó sẽ làm việc nhiều về sách vở giấy tờ hả? Thế thì có lẽ nó sẽ lấy một thầy phó trợ tế tầm thường nào đó, và chồng nó sẽ bị đổi từ giáo
khu này tới giáo khu khác, mãi sau mới được ở yên một chỗ chăng? Thôi cũng được, miễn sao vợ chồng nó quý mến nhau...
Bà Wennervik đưa ngón tay trỏ lên, ngắt lời:
- Dì muốn tôi nói thực cho dì nghe không?
- Thì cứ nói đi.
- Nó sẽ không bao giờ lập gia đình!
Và quả nhiên, cuộc đời của Selma Lagerlöf sau này đúng như vậy.
Chưa đầy bảy tuổi mà đã muốn thành một tiểu thuyết gia, và bà thành công lần đầu tiên ngay từ hồi mười hai tuổi. Miền Warmland vinh hãnh rằng có được một nữ sĩ tí hon.
Tính bà hồi đó lanh lợi vui vẻ, mà gia đình cũng hòa thuận, nên bà sung sướng. Nhưng rồi hai tai nạn xảy ra làm cho cảnh yên tĩnh, âu yếm đó lâm nguy: trước hết, bà bị một bệnh làm cho bà gần như bị tê liệt trong nhiều năm, sau này thành tật, đi hơi vẹo người một bên; rồi gia đình gặp vận rủi, suy sút tới nổi phải bán điền trang Morcbacka, nơi sinh trưởng của bà. Lần đó bà muốn đứt ruột: Morcbacka chẳng phải chỉ là cái tổ ấm gia đình bà mà còn là nơi giữ bao nhiêu kỷ niệm thâm trầm nó làm cho tâm hồn bà phong phú và cuộc đời bà đầy thi vị nữa.
Mùa xuân, đất nở ra, cây cỏ phát sinh; mùa thu, từng đàn chim di thê bay trên trời; mùa đông cây cối trụi lá, chỉ còn trơ thân và cành đen, những cảnh đó, khắc sâu vào lòng bà, sau này bà dùng làm khung cảnh cho các truyện Gosta Berling và Nils Holgersson. Nông dân, mục sư, người nghèo cũng như người giàu trong miền Warmland đều lưu cho bà nhiều ấn tượng mạnh mẽ, và sở dĩ bà sáng tác, một phần cũng là để có tiền chuộc lại được điền trang Morcbacka. Bà rán học để kéo lại thời gian đã mất vì đau ốm, vô trường Sư Phạm Stockholm, tính sau làm nữ giáo viên. Nhưng rồi bà sớm bỏ nghề đó để chuyên sáng tác.
Bước đầu trong văn nghiệp của bà gặp nhiều nỗi trắc trở. Tháng giêng năm 1887, bà làm quen với Nam tước phu nhân Sophie Adlersparre, người sáng lập tạp chí Gia đình, và làm chủ bút tờ Dagny.
Bà ký bút hiệu là Esselde, chiến đấu không ngừng để giải phóng phụ nữ, nhưng vinh dự lớn của bà là đã tìm ra được Selma Lagerlöf, giúp đỡ, khuyến khích Lagerlöf. Chính nhờ Sophie Adlerspaưe nâng đỡ mà Lagerlöf viết truyện Gosta Berling. Truyện đó khi được trích đăng từng đoạn thì được hoan nghênh nhiệt liệt, mà khi xuất bản thành sách, vào lễ Giáng sinh năm 1891, thì lại bán ế. Cả hai bà: Esselde và Lagerlöf đều nản lòng, chua xót, nhưng Esslde nhất định không chịu tuyệt vọng.
Năm sau, Gosta Berling được Ida Falbe-Hansen dịch ra tiếng Đan Mạch. Bà này giới thiệu Lagerlöf với bà Sophie Alberti, giám đốc một hội đọc sách quan trọng ở Copenhague. Hai bà đồng ý thay phiên nhau tổ chức những cuộc hội họp văn nghệ ở nhà mình. Cũng công toi. Trừ vài người khen vị tình còn thì hết thảy đều tỏ vẻ lãnh đạm. Thất bại, nhưng hai bà vẫn không thối chí, bàn với nhau phải làm sao cho Selma Lagerlöf tiếp xúc với Georg Brandès, nhà phê bình nổi danh ở Đan Mạch, để ông ta chú ý tới tác phẩm. Nhưng dễ gì được Georg Brandès tiếp, mà có được tiếp thì làm sao nói thẳng với ông điều mình muốn nhờ cậy ông được? Sau cùng hai bà quyết định rằng Selma Lagerlöf lấy cớ nhân có dịp ghé Copenhague, yêu cầu ông ta cho phép được gặp mặt để nhờ ông cho biết mình có chút thiên tư nào không, có thể thành nhà văn được không?
Selma Lagerlöf đã ghé nhà Sophie Alberti. Mọi người hồi hộp khi Georg Brandès lại đó.
Thật là một sự bất ngờ lạ lùng, y như trên sân khấu.
“Thái độ ông ấy không có chút gì là kẻ cả, ra vẻ hạ cố. Ông ấy hiểu rất rộng, từng trải nhiều, tuệ nhãn sâu sắc nên chẳng cần có những cử chỉ ngôn ngữ huênh hoang. Nếu ông thấy rõ cảm tưởng ông đã gây ra cho tôi, thi ông cứ để lộ ra, không giấu giếm gì cả...
“Ông có cái gì giống một y sĩ. Nếu ông nói nhiều về ông thì không phải là để khoe mà để cho tôi có thi giờ bình tĩnh lại, được thoải mái, như vậy ông mới “bắt mạch” tôi được. Chắc chắn là ông không muốn làm cho tôi phục ông. Hôm đó ông chỉ đóng cái vai phê bình văn học, tìm hiểu xem tên lính mới là tôi này có giúp ích gì cho văn học được không, có đáng được khuyến khích không; hay trái lại, nên làm cho tôi cụt hứng ngay từ đầu đi thì hơn.
Trong cuộc tiếp kiến đó, ông cũng tỏ ra có tinh thần rộng rãi, hiểu biết, rất nhân từ, tấm lòng nhân từ của vị danh y”.
Ít bữa sau, báo chí đăng một bài dài ký tên G.B. phê bình cuốn Gosta Berling, và gió đổi chiều liền, y như có phép màu:
“Chiếc chìa khóa của Brandès đã mở cho tôi cánh cửa thành công, chẳng những ở Đan Mạch mà thôi, vì bài báo đó đã làm cho độc giả Thụy Điển chú ý tới tôi, rồi tác phẩm của tôi lại được dịch ra tiếng Đức nữa. Tình trạng của tôi “trước” và "sau’’ bài báo đó thật khác nhau hẳn và tôi luôn luôn coi Georg Brandès là người đã giúp nhiều cho tôi thành công; ông là ân nhân của tôi và không bao giờ tôi trả ông được hết món nợ tinh thần đó”.
Danh tiếng vang lên, để tránh những cuộc mời mọc, tiếp đón, Selma Lagerlöf về ở trong một thị trấn yên tĩnh nhất của Thụy Điển: thị trấn Falum, miền Dalécarlie. Tại đó bà có một bà chị có chồng, và nhiều bà con; bà có thể gây lại được đoàn thể gia tộc mà bà vẫn ước ao.
Dalécarlie là một trong những miền đặc biệt nhất, phong cảnh mê hồn nhất của Thụy Điển. Chính ở trong khung cảnh rất thích hợp đó, mà sau này bà nhận được giải thưởng Nobel về văn chương, giải thưởng đầu tiên phát cho một nữ sĩ cùng quốc tịch với người sáng lập ra nó. Năm đó là năm 1909.
Hai năm trước bà đã được viện đại học Upsal tặng cho bà hàm tiến sĩ danh dự.
Năm 1914, bà là phụ nữ duy nhất được vô Hàn Lâm Viện Thụy Điển.
Bài diễn văn bà đọc ngày mùng 10 tháng 11 năm 1909, trong bữa tiệc giải thưởng Nobel, nổi tiếng vì giọng nhã nhặn, đa cảm và dí dỏm.
Nhờ số tiền giải thưởng, bà chuộc lại được điền trang Morcbacka. Mặc dầu thời gian đã trôi qua, mặc dầu bà được hưởng cái vui thành công mà lòng lúc nào cũng nhớ nơi chôn nhau cắt rốn đó, vì vậy được trở về nhà cũ đó, bà sung sướng vô cùng.
Ở Thụy Điển có tục từ năm chục tuổi trở đi cứ mười năm một lần, lại làm lễ thọ để mừng đã thắng được thần chết. Hội họp, biếu hoa, gởi đồ mừng, đánh điện chúc thọ. Ngày Selma Lagerlöf làm lễ thất tuần, có tổ chức một bữa tiệc lớn, do Hoàng
Tử chủ tọa. Đồng thời hí viện Stockolm diễn lần đầu vở kịch Cavaliers dEkeby (kỵ sĩ Ekeby).
Các tác phẩm của bà đã được dịch ra trên ba mươi lăm ngôn ngữ. Những tác phẩm tiêu biểu nhất đã được đưa lên màn ảnh. Greta Garbo đã đóng vai “Bá Tước phu nhân Elisabeth Dohna”.
Một nhật báo Thụy Điển viết: “Bà hoàng trên văn đàn của chúng ta được chào mừng như một bà hoàng chính cống”. Bà mỉm cười, đáp lại: “Thì ít nhất cũng phải cho tôi tán trợ sự du lịch ở Warmland chứ”.
Có những tàu chuyển khách mang tên Gosta Berling và Selma Lagerlöf; và trên các tấm bưu thiếp trong miền, người ta in tên những nhân vật
trong các tác phẩm của bà.
Bà mất năm 1940.
Trước khi ngừng bút, tôi xin chép đoạn dưới đây để độc giả đọc lại. Mới coi thì có vẻ phúng thích bi thảm, nhưng xét kỹ thì là một triết lý sâu sắc.
“Đừng lại Svartsjo mà chết đấy nhé, chết ở đó thì chỉ có mỗi một cỗ quan tài đen như mọi người thôi, vì ở đó chỉ có mỗi một người thợ mộc đóng hòm mà cũng chỉ có mỗi một kiểu hòm. Lại thêm, không có người nào khóc đâu, các chiếc mùi xoa vẫn giữ được nếp đàng hoàng, không ai đưa lên chặm mắt đâu. Vậy bạn khỏi phải ngại rằng người ta không tặng mình nhiều nước mắt bằng tặng những người khác. Nếu còn cái tục khóc khi đưa ma thì người ta cũng khóc đấy, nhưng tục đó đã bỏ rồi. Bạn hiểu chứ, nếu có nhiều cảnh rầu rĩ, nhiều nước mắt trên một cái huyệt nào đó thì kẻ không được ai thương tiếc tất phải mủi lòng.
Và bạn nên nhớ rằng tất cả dân trong giáo khu đều có vẻ bé nhỏ, nghèo nàn. Đâu phải là hạng dân thành thị bảnh bao sang trọng, chỉ là những dân Svartsjo chất phác thôi mà. Chỉ có mỗi một người là lớn và đáng kính: chính là bạn đã chết rồi đấy!”.
Chú thích:
(1) Tác giả muốn nói một tác phẩm nổi danh của Selma Lagerlöf “ Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Diệu Của Nils’’ viết cho trẻ em đọc năm 1906 - 1907.
(2) Đây là bà nội của Selma Lagerlöf.
(3) Nghĩa là thay nghề nghiệp hoặc chỗ ở hoài thì rốt cuộc chẳng nên gì cả.
SIGRID UNDSET
một nữ sĩ can đảm,
tự tìm hiểu mình
Năm 1928, Sigrid Undset, người Na Uy, được giải thưởng Nobel về toàn thể sự nghiệp văn chương lúc đó đã có bề thế của bà. số tiền thưởng, bà đem phân phát cho các cơ quan từ thiện. Tác phẩm cùng cá tính của bà đều khác bà Selma Lagerlöf.
Đời làm vợ, làm mẹ của bà thật đau khổ, đứt ruột, và chính vì bà rán vùng vẫy trong cảnh nô lệ tinh thần mà bà nghĩ tới sự tự giải thoát cho mình.
Trong các bản dịch ra tiếng Pháp, tác phẩm Jenny của bà được hoan nghênh nhất, cuốn đó kể đời một người đàn bà bị thành kiến áp chế, trói buộc mà trong cái xã hội tàn nhẫn với phụ nữ đó, người chồng vẫn sống tự do, không bị trục xuất; sau truyện đó tới truyện Christine Lavransdatter và truyện Olaf Audunssoen, vì Sigrid Undset vừa là một tiểu thuyết gia vừa là một sử gia không ai sánh kịp. Bà bảo:
“Tôi là một người đã sống hai ngàn năm ở cái xứ này”.
Sigrid Undset sanh ở Đan Mạch. Thân phụ là một nhà kháo cổ siêu quần, danh tiếng vượt ra ngoài bán đảo Scandinavie (1). Thân mẫu bà là người Đan Mạch.
Sigrid ra đời được ít năm thì gia đình dời lại ở Oslo, hồi đó còn gọi là Christiania. Chưa đầy mười một năm sau, thân phụ bà tính tình vui mà thông minh nhưng hoang phí, từ trần đương lúc tuổi còn trẻ; để lại cảnh nghèo khổ cho vợ và ba người con gái.
Ngay từ hồi mười sáu tuổi Sigrid Undset đã phải làm thư ký kiếm tiền giúp nhà. Hồi đó rất ít phụ nữ làm thư ký, và nhờ phải kiếm ăn như vậy bà được biết đời sống trong các văn phòng, nó mở cho bà những chân trời mới, nếu không thì bà làm sao hiểu được thân phận của phụ nữ lao động tinh thần. Chính bà cảm thấy không khí ngột ngạt của cuộc đời đơn điệu, bó buộc đó, và để thoát li khỏi cảnh đó bà bắt đầu viết vài truyện ngắn. Bà dùng những nhận xét riêng của bà về xã hội chung quanh, và những tục truyền Na Uy mà thân phụ đã chỉ cho bà, để xây dựng những truyện ấy. Bà thành công, được trợ cấp để đi du lịch khắp châu Âu. Rồi chẳng bao lâu bà bỏ hẳn nghề thư ký để phục vụ văn học. Bà tới La Mã, được biết một giới kỳ dị, khác hẳn cái giới quen thuộc của bà: một giới gồm các nghệ sĩ, văn sĩ đủ các quốc tịch. Tại đó bà gặp một họa sĩ Na Uy tên là Svarstad, có vợ và ba con. Ông này ly dị với vợ để cưới bà.
Từ năm 1912 tới năm 1919, bà sanh được hai cậu và một cô: cô này suy nhược về tinh thần, mất hồi hai mươi tuổi. Cảnh ngộ của bà cũng bi thảm như cảnh ngộ của Pearl Buck.
Hai ông bà lúc đó đương ở Oslo thì một người đồng hương của Sigrid, tên là Peter Rokseth muốn giới thiệu cho họa sĩ Na Uy biết phong trào phục hưng tinh thần mà ông ta mới nhận thấy ở Pháp. Ông ta trình một luận văn về Paul Claudel và sửa soạn viết một cuốn về Péguy, chưa kịp viết xong thì chết. Sigrid Undset lưu tâm tới phong trào đó và đăng một bài báo về Jacques Maritain, gây được một tiếng vang lớn.
Các tu sĩ Pháp thuộc giòng Saint Dominique đã lại Oslo từ sau thế chiến thứ nhất và Sigrid chịu ngay ảnh hưởng của họ, đặc biệt là linh mục Iiptz. Được biết khuynh hướng mới của Công giáo Pháp thiên về hoạt động xã hội, bà ham mê lắm. Ngọn lửa tinh thần mới phát lên của Pháp đó, vừa có tính cách bừng bừng vừa hợp với triết lý của Descartes, gây cho bà một ấn tượng mạnh. Bà bèn nghiên cứu sự thần bí của Công giáo Na Uy thời Trung cổ, viết được những bộ sử lớn lao miêu tả xã hội thời đó.
Tác phẩm nổi danh nhất của bà là truyện Christine Lavransdatter. Truyện đó gồm ba cuốn; có lẽ là tác phẩm mạnh mẽ nhất, xây dựng vững vàng nhất trong số các tiểu thuyết của các nữ sĩ từ xưa tới nay. Có lẽ không ai miêu tả được khéo hơn bà những tình cảm của một người thiếu phụ còn trẻ rồi lần lần nảy nở ra, sanh được bảy đứa con, đều là con trai; người nào đã bồng một đứa trẻ mới sanh, thấy nó lớn lên lần lần, thành nhân rồi xa mình, có khi chết trước mình nữa, mà đọc tác phẩm đó, tất phải xúc động mạnh. Và bên cạnh tình mẹ thương con sâu sắc đó, còn cái tình yêu chồng, nồng nàn, thủy chung, bất biến, bất chấp mọi trở ngại. Có thể đọc lại hoài tác phẩm đó mà lần nào cũng thấy thêm được một cái gì mới mẻ. Truyện đó, khung cảnh là buổi đầu thời Trung cổ, mà vẫn còn hợp thời như đương xảy ra ở trước mắt chúng ta; quá thực là tấm lòng con người xưa cũng như nay, chẳng có gì thay đổi cả.
Trong toàn thể sự nghiệp văn chương của Sigrid Undset, bộ Christine Lavransdatter giữ một địa vị đặc biệt không phải chỉ vì nó đã thành công mà còn vì những lẽ Lucien Maury nêu ra dưới đây:
“Tác phẩm Christine Lavransdatter xuất hiện trong đời Sigrid Undset vào một lúc bà đã từng trải nhiều rồi, chán nản nhưng can đảm cương quyết chấm dứt cái thời trước mà bà bỗng hiểu rõ: sau khi viết bao nhiêu truyện ngắn, truyện dài mà bà không dám rời bỏ cái thực tại chung quanh; sau khi tả bao nhiêu cuộc đời buồn thảm, bao nhiêu thiếu nữ bị tình nhân phụ bạc, bao nhiêu phụ nữ trong giới tiểu tư sản, hay đổ kỵ, hẹp hòi, tình cảm nghèo nàn, trong số đó bà rán kiếm một người bạn đồng tâm mà không ra; sau cả một thời gian kiên tâm tìm kiếm và gần như thất vọng, lần này bà vượt ra khỏi cái thực tại buồn rầu, tầm thường mà dám quan niệm một nữ tính hớn hở, rạng rỡ. Dù bà cố tình hay không thì nét mặt, những nét cương quyết, vẻ nhìn của bà như đè nặng lên, chi phối vạn vật và thế giới, tất cả những cái đó đều hiện lên rõ trong tinh thần rực rỡ, cao cả của nhân vật trong truyện bà thích nhất đó, nhân vật Christine Lavransdatter.
Truyện đó có thể coi là túi điều hoặc lời tuyên ngôn của bà (...). Và có lẽ vì bà vô tình cho nhân vật ấy có những nét giống mình hoặc giống với cái mơ ước của mình mà tác phẩm được các thanh niên Tây Âu và Bắc Âu hoan nghênh lâu như vậy và được giải thưởng Nobel, danh tiếng vang lừng trên văn đàn thời đại.
Nếu tác phẩm linh động nào cũng ngầm chứa một lời tự thú của tác giả thì ta có thể xác nhận mà không sợ lầm rằng bà Sigrid Undset đã bày tỏ nhãn sinh cùng nghệ thuật quan của mình trong bộ đó”.
Trong bài Tựa bộ Christine Lavransdatter, André Bellessort cũng ngỏ lời khen như sau:
“Tôi không thấy một lịch sử tiểu thuyết nào mà ít để lộ cái ý dạy bảo chúng ta bằng tác phẩm vĩ đại trong văn học Na Uy hiện đại đó. Không có một nhân vật nào được tạo ra để tượng trưng phong tục hay tinh thần của thời Trung cổ Na Uy. Người ta không cảm thấy tác giả cố ý tìm những tài liệu đặc biệt, tìm những màu sắc địa phương lòe loẹt. Tác giả làm sống lại thời cổ mà tác phẩm không có chút gì mùi mốc nào cả”.
Nhưng Sigrid Undset trong khi tự tìm hiểu mình, đã chịu nhận hết những hậu quả xảy ra. Do một phản ứng rất tự nhiên ở một người sâu sắc, nhiệt tâm, chấp nhất như bà, năm 1919, bà cải giáo, theo đạo Công giáo, làm cho dân chúng Na Uy chẳng những ngạc nhiên vô cùng mà còn thực bất bình nữa. Vì, ở Na Uy, đạo Tin Lành phái Luther được coi là quốc giáo. Hậu quả tác động tới đời công của bà, lại làm rối loạn cả đời tư của bà nữa. Người vợ trước của Svarstad còn sống, và Sigrid Undset muốn theo đạo Công giáo thì phải ly dị với chồng. Svarstad ở lại Oslo, còn bà dắt các con lại ở một căn nhà miền thôn dã Lillehammer; bà đặt tên cho căn nhà đó là Bjekeback, có nghĩa là “người di trú”.
Ngay từ 1935, Sigrid Undset đã tố cáo chế độ Quốc Xã của Hitler và viết một bài báo quan trọng đăng trên một tạp chí ở Lucerne chống Quốc Xã. Sau này bà không ngớt tấn công chế độ đó trong các tạp chí và nhật báo bà hợp tác, ở Scandinavie cũng như ở các nước khác.
Năm 1940, đầu thế chiến thứ nhì, quân đội Đức xâm chiếm Na Uy. Bà Sigrid Undset phải tản cư đi, ski (2) lên tới Laponie rồi qua Thụy Điển, năm đó bà đã sáu mươi tuổi!
Tới Stockholm bà hay tin con trai của bà chỉ huy một đội sử dụng liên thanh đã tử trận. Người con trai thứ của bà lại tìm bà ở Stockholm rồi cả hai đáp phi cơ qua Moscou. Họ ở Moscou không quá mười lăm ngày rồi do đường xe lửa xuyên Sibérie qua Nhật Bản, từ đây qua San Francisco, tới New York. Bạn bè đã giữ trước cho họ một căn nhà tại đó nhiều văn sĩ, hầu hết từ Âu châu tản cư qua ở chung với nhau.
Bà không chịu được cảnh ở chung, vì ồn ào quá nên ra ở riêng tại một phố tĩnh mịch. Bà cần sự tịch liêu, yên lặng.
Sau cuộc chạy loạn vòng quanh thế giới trong những hoàn cảnh nhiều khi bi đát, sôi lên sùng sục đó, bà phải tĩnh tâm và tĩnh dưỡng.
Bà khôi phục lại sức khỏe rất mau, viết cho nhiều tạp chí Huê Kỳ, diễn thuyết nhiều nơi, giới thiệu xứ Na Uy cho người ta yêu quê hương bà.
Bà làm việc với Thomas Mann, Jacques Maritain và Gaetana Salvermi.
Năm 1944, bà viết chung với nhiều nhà văn khác một cuốn nhan đề là Les dix commandements (Thập giới) do Hermann Rauschnig đề tựa. Trong bảng toát yếu, thấy ghi tên của Thomas Mann, Rebecca West, Franz Werfel, John Erskine, Bruno Frank, Jules Romains, André Maurois, Hendrik Wilherm van Loo và Louis Bromfield.
Cũng vào khoảng đó bà viết một cuốn lý thú cho trẻ em.
Hết chiến tranh, Na Uy được giải thoát. Sigrid Undset liền về nhà cũ ở Lillehammer. Bà đau lòng nhìn chiếc bàn viết cũ của bà bị quân Đức đập phá, chiếc bàn đó của thân phụ bà để lại và bà đã ngồi ở đó viết những tiểu thuyết nổi danh nhất của bà.
Nhưng sự thiệt hại riêng tư đó đáng kể gì đâu, so với sự tàn phá chung của quốc gia? Bà sửa sang lại căn nhà rồi lại cặm cụi làm việc.
Quốc vương Haakon mà bà rất phục thái độ can đảm trong suốt chiến tranh, tặng bà huy chương quý nhất của Na Uy: đệ nhất hạng bội tinh Saint Olaf.
Ít lâu sau bà bắt đầu viết cuốn Vie de Sainte Catherine de Sienne, chưa xong thì mất ngày mùng 10 tháng 6 năm 1949, thọ 67 tuổi. Cho tới lúc tắt nghỉ, bà vẫn giữ được nét mặt đẹp và quyến rũ lạ lùng, lưỡng quyền cao mà cặp mắt cương quyết, sắc sảo (3).
Chú thích:
[1] Tức Đan Mạch và Thụy Điển.
(2) Đồ để trượt tuyết.
(3) Ngoài hai tác phẩm đã giới thiệu trong bài này, bà còn lưu lại một cuốn tự truyện Bà Marthe Oulié, và các tiểu thuyết Tuổi sung sướng, Jenny, Người nghèo, Xuân, Sanh đẻ...
GABRIELA MISTRAL
“tôi sẽ hát để an ủi loài người”
Selma Lagerlöf mất năm 1940; chín năm sau Sigrid Undset từ trần. Năm 1957, tới phiên Gabriela Mistral là một nhân vật nổi tiếng nhất ở châu Mỹ La tinh. Khi bà mất, trên tờ báo Le Monde, Jacques Grignon Dumoulin viết:
“Gabriela Mistral mất là văn giới châu Mỹ La tinh mất ngôi sao chói lọi, một nữ sĩ thành tâm yêu hòa hình mà đứng trên tất cả các đảng phái nhất là mất một người đàn bà sức mạnh tinh thần và trí tuệ vượt xa thân xác, như vậy không có nghĩa là bà ốm yếu, nhẹ cân, mà chỉ có nghĩa là nữ giáo viên dạy ở một làng hẻo lảnh ở miền đồng ruộng Chili, được giải nhất cuộc thi Thơ ở Santiago năm hai mươi tám tuổi đó, đã lưu danh trên thế giới chẳng phải chỉ nhờ thi tài, mà còn nhờ trí tuệ phi thường đem ra phục vụ một cách nhiệt tâm, tận tình cho tất cả cái gì có tính cách nhân bản
Câu chuyện bắt đầu ở miền bắc Chili, trong một làng tại thung lũng Elqui.
Thầy giáo Jeronimo Godoy Villanueva ở đó với vợ tên là Emelina Molina Alcayaga. Hai vợ chồng gốc gác ở xứ Basque (1), trong dòng máu Y Pha Nho có pha ít máu da đỏ.
Jeronimo thích đi thơ thẩn, uống rượu và tán gái hơn là dạy học. Thỉnh thoảng kiếm cớ để bỏ nhà lêu lổng. Vậy mà khi Lucilla ra đời thì thầy giáo xúc động và làm một bài hát ru con. Bài hát đó là di sản duy nhất thầy để lại cho con và khi con gái chưa đầy bốn tuổi, thầy bỏ nhà đi nơi khác. Lâu lâu cũng đảo về thăm vợ con. nhưng vẫn tính nào tật nấy: mồm mép lém lỉnh, ham nhậu nhẹt, chơi bời, được ít bữa rồi lại dông đi đâu mất biến, cứ như vậy cho tới khi thầy dông luôn qua thế giới bên kia.
Lucilla lớn lên, thành một thiếu nữ. Thân mẫu cô phải hy sinh nhiều lắm mới cho cô vô trường Sư phạm Vicuna được. Nữ sinh bé nhỏ đó bắt đầu mê ngay văn chương, cao hứng làm thử mấy bài thơ đăng trên vài tờ nhật báo trong miền.
Hồi mười lăm tuổi, cái tuổi còn vô tư, cô được bổ làm giáo viên phụ, dạy trẻ con trong những miền quê nghèo nhất. Cô hy sinh cho những trẻ đó và tất cả những trẻ trong cảnh ngộ của chúng. Cô làm những bài hát múa vòng, những bài thơ êm đềm âu yếm cho chúng: Canciones de Cuna (Bài hát ru em), Rondas de Ninos (Bài hát múa vòng cho trẻ em).
Tuổi thơ đau khổ của cô, cảnh nghèo khó của những người chung quanh và cảnh đẹp thiên nhiên làm cho cô xúc động. Cô não lòng nhưng lại dễ nhận được nỗi lòng dù rất kín đáo của người khác. Cô biết: “Tôi giữ niềm đau lòng của tôi y như người ta hà tiện giữ kho vàng của họ... Một giờ đau khổ luôn luôn súc tích hơn một giờ sung sướng”.
Lại thêm một nỗi cô tự cho mình là xấu xí.
Vừng trán cô thông minh, mũi cô lớn, cặp lông mày vòng cung của cô rậm mà lông mi không thanh, miệng thì đa cảm. Sau này những người gặp cô đều nhận rằng cặp mắt cô vừa cương quyết vừa nồng nàn, và những tiếng đẹp xấu áp dụng vào cô đều không đúng hẳn. Cô có nét riêng của cô, thế thôi. Tôi đã biết cô và có thể xác nhận rằng ai đã một lần được thấy cô linh động lên sống mãnh liệt những điều cô nói, sống mãnh liệt những cảm xúc của cô thì không thể nào quên cô được.
Nhưng hồi còn trẻ thì cô có rất nhiều mặc cảm và tự nghi ngờ mình.
Vậy mà cô cũng gặp được người yêu đầu tiên. Mối tình đó ngắn ngủi; hai người hứa hôn với nhau rồi không cưới nhau; giận nhau về chuyện gì đó rồi xa nhau và vài năm sau cô hay tin người yêu của cô đã tự tử.
May thay, cô có tài viết văn, làm thơ, nhờ vậy mà phát biểu những tình cảm của mình, thực hiện được mộng tưởng của mình, gây một tư cách, sự nghiệp cho mình. Nhờ chịu ảnh hưởng của một người Colombie tên là Vargas Vile, cô làm việc hăng hái hơn bao giờ hết.
Đồng thời nghề dạy học của cô cũng tiến bộ rất mau. Cô được bổ lên dạy ban Trung học và năm 1911, được làm giáo sư môn Vệ sinh ở trường Traignon.
Ít lâu sau, cô chẳng những thành giáo sư Sử ở Antofagasta mà lãnh chức Tổng thanh tra nữa. Năm 1912 cô vẫn giữ chức thanh tra nhưng không dạy ở Antofagasta mà dạy ở Trung học Los Andes. Cô dạy ở đây sáu năm.
Trong thời gian từ 1912 đến 1920, danh tiếng nữ sĩ của cô vang khắp trong nước, lan ra tới cả nước ngoài.
Năm 1914, cô được nhận giải thưởng văn chương đầu tiên của cô, một vòng nguyệt quế và một huy chương vàng, nhờ thắng một cuộc thi thơ: bài Sonnet à la Mort (Thơ gởi Thần chết) được giải nhất. Đó là bước đầu rực rỡ trong nghề viết văn của cô và từ đó cô hợp tác với các tạp chí trong nước cũng như ngoài nước.
Cô lựa bút hiệu là Gabriela Mistral để tỏ lòng ngưỡng mộ hai thi sĩ La tinh đương thời: thi sĩ Ý Gabriele d’Aununjio và thi sĩ miền Provence (2) Frédéric Mistral. Lúc đó cô không ngờ rằng sau này được nhận chung giải thưởng Nobel với tác giả tập Mireille (tức Frédéric Mistral).
Học sinh trong nước học thơ cô, thế giới bắt đầu nhắc nhở tới tên cô, tặng cô nhiều danh vọng và cô đi thăm nhiều nước. Cô dạy học ở Đại học Lima; nhất là chính phủ Mễ Tây Cơ yêu cầu chính phủ chính phủ Chili phái cô qua Mễ Tây Cơ để dự một cuộc cải cách quan trọng về giáo dục. Cô hợp tác chặt chẽ với tiến sĩ Jose Vasconcellos bộ trưởng Giáo dục Mễ Tây Cơ. Một trường học được mang tên cô và một nhà soạn nhạc phổ những bài thơ của cô vào nhạc cho trẻ hát.
Sau hai năm làm việc mệt nhọc ở Mễ Tây Cơ, cô qua du lịch châu Âu.
Khi trở về Chili, cô được chính quyền tổ chức cuộc tiếp đón và từ lúc đó cô giúp quốc gia trên khu vực ngoại giao. Cô được đề cử làm đại diện Chili ở Hội nghị quốc tế Họp tác tinh thần (Ligue Intemationale de Cooperation Intellectuelle) trụ sở ở Paris; sau cô được bầu làm Thư ký cho Hội. Năm 1927 cô làm đại diện các giáo sư Chili đi dự hội nghị các nhà giáo dục ở Locamo, và năm sau cô làm đại diện cho Chili và cả Equateur ở Hội nghị Liên hiệp Đại học quốc tế tại Madrid. Năm 1931, trong một thời gian ngắn, cô trở về nghề dạy học ở Hoa Kỳ, làm giáo sư Sử và Văn minh Y Pha Nho ở các đại học Barnard và Middlebury.
Năm sau cô lại thôi không dạy học nữa, qua Porto Rico, lãnh chức thanh tra về môn dạy tiếng Y Pha Nho. Năm 1933 cô bắt đầu lãnh chức sứ thần ở Madrid, ở đó hai năm, rồi qua các kinh đô khác: Lisbonne, Genève, sau cùng tới Nice.
Năm 1945 cô ở Brésil. Theo nhà văn Olive Holmes, cô cứ ở ngoại quốc như vậy lại tiện cho cô vì cô không chấp nhận chính sách của nhà cầm quyền Chili. Nhưng người đồng hương của cô là Clarence Finlayson bác ý kiến đó bảo rằng: uDanh tiếng cô lớn quá, nên nội các nào cũng lấy làm vinh dự được cô đại diện cho quốc gia ở nước ngoài”.
Tập thi tuyển đầu tiên của Gabriela Mistral xuất bản ở Hoa Kỳ, nhờ sự thúc đẩy của tiến sĩ Federico de Onis, giáo sư văn học Y Pha Nho ở đại học Columbia. Các sinh viên hỏi: “Có thể kiếm những tác phẩm khác của Gabriela Mistral ở đâu?” Giáo sư của họ đáp: “Các em quyên tiền nhau để in một cuốn thì sẽ có”.
Bản in đầu tiên tập thơ Desolacion (Ảo não) đươc Viện Y Pha Nho ở New York bảo trợ, và năm sau được in lại ở Chili. Tập thơ sau, Temura (Âu yếm) xuất bản hồi cô ở Y Pha Nho lần đầu tiên. Tập thứ ba xuất bản ở Santiago.
Cô cũng viết một cuốn về đời Thánh François d’Assise.
Cô là người phát động phong trào thơ mới ở Chili. Thi hứng của cô bắt nguồn từ Thánh Kinh và cô chịu ảnh hưởng của Rabindranath Tagore, Finlaysone, thi sĩ Mễ Tây Cơ Amada Nervo, thi sĩ Nicagara Tuben Dario.
Cô phục hưng lại giá trị của nghề nữ giáo viên, buộc nữ giáo viên phải hiểu tâm lý trẻ em.
Năm 1931, tạp chí Pan American đăng bức thông điệp của cô gởi cho Thanh niên châu Mỹ:
“Chúng ta, người Mỹ, phương Bắc và phương Nam, đã có cái di sản này là nhất trí về địa lý, đã chấp nhận một số phận chung và để thực hiện số phận đó thì phải tạo nên một trình độ sinh hoạt ngang nhau trên khắp cả châu Mỹ”.
Năm 1946, Tổng thống Truman ở châu Âu về, tiếp cô và tỏ vẻ thân tình và ngưỡng mộ cô, như tất cả các đồng bào của ông. Năm trước cô đã được giải Nobel vào 1951, Chili tặng cô giải lớn nhất trong nước, giải Quốc gia.
Vừa duy linh vừa có tinh thần xã hội, cô nhiệt tâm bênh vực người nghèo, muốn đem tấm lòng ra sưởi ấm tất cả các người lạnh. Cơ hồ như những câu thơ dưới đây là lời cô muốn nhắn nhủ chúng ta:
Tôi muốn lên tới tuyệt đỉnh của tinh thần
Nơi đó một ánh sáng yếu ớt sẽ chiếu xuống đời tôi
Và tôi sẽ hát những lời hy vọng
Tôi sẽ hát để an ủi các linh hồn
Như Thượng Đế chí nhân đã muốn.
“Tôi sẽ hát những lời Hy vọng
Mà không nhìn lại vào lòng tôi,
Tôi sẽ hát để an ủi loài người!
Cô mất tháng giêng năm 1957 ở bệnh viện Hampstead, gần Nữu Ước.
Chú thích:
(1) Ở triền núi phía Tây, dãy núi Pyrénées ngăn cách Pháp và Y Pha Nho. Người ta lấy tên dân tộc ở đó (dân Basques khoảng 1.000.000 người) để đặt tên cho miền.
(2) Miền Đông Nam nước Pháp.
NELLY SACHS
tiếng nói bi thảm
của dân tộc do thái
Ngày 22 tháng mười năm 1966, báo chí thế giới đăng tin bà Nelly Sachs, thi sĩ kịch tác gia, mới được giải thưởng văn chương Nobel chung với nhà văn Do Thái Joseph Agnon.
Lúc đó rất ít người biết Nelly Sachs là ai. Rất ít người được nghe tên đó.
Ở vào một thời đại mà người nào ngoài ba mươi lăm tuổi đã bị coi là bắt đầu xuống dốc rồi còn người năm mươi đã là già nua rồi, thì thực là một niềm an ủi, có nhiều ý nghĩa mà Hàn lâm viện Thụy Điển đã lựa hai nhà văn 75 và 78 tuổi để trao giải.
Điều này còn quan trọng hơn nữa là giải thưởng đó phát cho hai nhà văn Do Thái ở thời mà phong trào chống đối Do Thái vẫn chưa xuống và có những kẻ vì quên không được hoặc không muốn quên, lâu lâu lại gợi lên cảnh tượng ghê tởm của các lò thiêu, cho lương tâm nhân loại phải nhớ tới hoài.
Nelly Sachs sanh ngày mùng 10 tháng chạp năm 1891 ở Berlin trong một gia đình phong lưu. Song thân bà là người Do Thái cải giáo, theo Ki tô giáo, do đó bà được dạy dỗ như các trẻ em Ki tô giáo. Chưa hết thời thiếu niên bà đã bắt đầu làm thơ.
Người ta thấy những bài thơ đó chịu ảnh hưởng của các thi sĩ lãng mạn Đức, điều đó dễ hiểu vì bà mới mười bảy tuổi mà thi phái lãng mạn lại có một địa vị rất lớn ở Đức.
Rồi được Selma Lagerlöf và Stefan Zweig khuyến khích, bà cho xuất bản năm 1921 một tuyển tập truyện cổ và truyền kỳ. Một số tạp chí đăng thơ của bà. Nhưng chẳng bao lâu đảng Quốc Xã Đức lên cầm quyền, lần lần cấm ngặt các người Do Thái không được hoạt động chút gì cho quốc gia, sau cùng tận diệt họ.
Nelly Sachs trước kia vẫn tự coi mình là người Đức sống yên ổn, không thắc mắc gì cả, bỗng thấy mình là nạn nhân của chế độ kỳ thị chủng tộc. Bà nhận thức một cách đau xót rằng minh là Do Thái, bị coi là Do Thái, dồn vào cái thế của người Do Thái. Người ta buộc bà phải đổi tên, mang tên là Sarah. Người ta bắt bà phải câm miệng. Từ đó bà thấy mình có trách nhiệm liên đới với dân tộc Do Thái, và bà nghiên cứu Kinh Cựu ước, tìm thấy trong đó một nguồn lớn cảm hứng.
Người yêu của bà bị Quốc Xã Đức ám sát.
Bà hoàn toàn gia nhập phong trào Do Thái, về chủng tộc, triết lý cũng như tôn giáo. Bà đã trở về nguồn.
Trong những hoàn cảnh như vậy mà đi theo con đường đó thì linh hồn và tinh thần đau khổ vô cùng, bị một vết thương không sao lành được, nhưng tấm lòng nhờ vậy được tô lại, mà ngọn bút hóa cứng cỏi hơn. Sự đau khổ nâng cao tâm hồn, mở rộng nhãn quang con người.
Ở Đức, các biến cố chính trị dồn dập xảy ra, năm 1940, chỉ nhờ Hoàng thân Eugène ở Thụy Điển can thiệp mà Nelly Sachs mới khỏi bị nhốt khám và bị đày. Lại nhờ Selma Lagerlöf và một bà bạn thân, người Đức, giúp sức mà Nelly Sachs trốn qua Thụy Điển với thân mẫu được.
Bà định cư ở Stockholm, nhập tịch Thụy Điển. Phải xây dựng lại hết bằng hai bàn tay trắng, và trước nhất phải học liếng Thụy Điển đã, tổ chức cuộc đòi lưu vong.
Ở Stockholm, kinh rạch chằng chịt cũng như đại lộ các thị trấn khác; chính trong một phòng trên một con kinh đó mà bà đã nỗi danh. Các ký giả lại đó phỏng vấn bà. Họ hỏi về cảm tưởng của bà, bà đáp: “Tôi chỉ cảm thấy là một con người thôi. Có lẽ khi người ta đã trải qua những cảnh ghê tởm như vậy thì suốt đời người ta không sao có thể thực sự sung sướng được nữa...”.
Vậy mà tnrớc cái ngày tháng mười năm 1946 đó, điều mà bà tưởng không sao xảy ra được, đã xảy ra mới lạ chứ: bà được trở về Đức. Ở đó người ta mong đợi bà và ba lần ước ao bà về. Vì trước khi bà được giải thưởng Nobel, trên thế giới ít ai biết tên tuổi bà, nhưng trái lại ở Thụy Điển và Đức, giới trí thức không lạ gì văn tài đặc biệt của bà, họ trọng bà lắm. Năm 1960 bà đã được giải thưởng Drcoste - Hulsoff ở Meersburg; năm 1961 được giải thưởng Văn hóa của thị trấn Dortmund, và tháng mười năm 1965, được giải của Các Nhà Sách Đức.
Bà bảo: “Mới đầu tôi cho về Đức là chuyện khổ tâm, nhưng rồi tôi thấy ở đây có một lớp văn sĩ trẻ cơ hồ không giống các lớp văn sĩ già...”.
Ở Dortmund bà đã bảo thanh niên rằng những người cầm bút chỉ có thể có mỗi nhiệm vụ này là đoàn kết nhau lại đế chinh phục cho được Hòa bình; trên thế giới chỉ có mỗi sự chinh phục đó là không làm đổ lệ mà trái lại làm nở được nụ cười.
Rồi bà được giải Nobel. Hàn lâm viện Thụy Điển giảng vì lẽ gì đã lựa bà để tặng giải.
“Nelly Sachs, cũng như nhiều văn sĩ Đức gốc Do Thái, đã chịu cái cảnh lưu vong. Thụy Điển đã can thiệp để bà khỏi bị ngược đãi, khỏi bị đày và đã cho phép bà trú ngụ. Và từ ngày một cơn giông tố lịch sử đánh bạt bà qua đây, bà ở ẩn và sáng tác, tài năng già giặn lên, được trọng vọng và hôm nay giải thưởng Nobel xác nhận tài năng đó của bà.
“Ở Đức, từ mấy năm nay người ta đã coi bà là một thi sĩ chân chính, có nhiệt tâm với thiên chức. Bà đã đồng tình, sâu sắc diễn các số phận bi thảm của dân tộc Do Thái, khi thì bằng những bài thơ trừ tình, giọng rên rỉ, đau xót mà đẹp, khi thì bằng những “truyền kỳ ” viết thành kịch để diễn, bút pháp vừa táo bạo mới mẻ, vừa có cái thi vị cổ trong Thánh kinh’’.
Jurgens Walmann trong tờ nhật báo công giáo Echo der Zeit (Tiếng Dội Thời Gian) phê bình bà như sau:
“Trong thơ của. Nelly Sachs, ta thấy hiện lên nỗi đau khổ của bà và của cả dân tộc bà. Luôn luôn ta thấy những tiếng, những ý niệm chính dưới đây: thất vọng, thở dài, máu, tra tấn, vết thương, cát bụi, áo não, vĩnh biệt, nước mắt, đau khổ, tối tăm, và trong hầu hết các bài đều nói tới cảnh chết... Không thể sắp Nelly Sachs vào một thi phái nào được. Bà có một bút pháp đặc biệt: tạo những tiếng mới khác hẳn lối biểu tượng cổ, và cũng rất nhiều hình ảnh, ẩn dụ ”.
Bà đứt ruột vì các trẻ em Do Thái bị giết, và cả khi bà viết về những trẻ được cứu sống, hình ảnh những cuộc giết chóc vẫn ám ảnh bà, nỗi chua xót của bà cũng vang lên trong từng câu một:
Chúng tôi mà người ta đã cứu Sống,
Chúng tôi mà thần chết đã gọt ống xương thành ống sáo
Và dùng gân làm dây kéo dờn violon...
Thân thể chúng tôi còn vang lên
Điệu nhạc của các bộ phận bị xẻo cắt đó
Chúng tôi mà người ta đã cứu sống
Những dây thừng để treo cổ chúng tôi còn lủng lẳng đó
Ở trước mặt chúng tôi, trong không khí màu thanh thiên...
Máu chúng tôi còn nhỏ xuống đầy bình cát.
Chúng tôi mà người ta đã cứu sống,
Con giòi ưu tư vẫn còn đục chúng tôi
Ngôi sao của chúng tôi đã bị vùi trong cát
Chúng tôi mà người ta đã cứu sống
Chúng tôi xin các ông
Chỉ lần lần cho chúng tôi mặt trời của các ông
Dắt chúng tôi lần lần từng bước từ ngôi sao này tới ngôi sao khác
Để chúng tôi lần lần tập sống lại.
Bài thơ đó đã gây cho tôi một xúc động mạnh chưa từng thấy và làm cho tôi nhớ lại buổi sáng hôm đó, chỉ vì vài trăm trẻ Do Thái may mắn sống sót được sau cuộc bị đày, lại đài phát thanh đường Université, trước khi lên đường qua Isral. Các em lại để chúng tôi thu băng những bài hát cổ Do Thái mà trong thời gian mấy tháng các em đã đi qua Pháp, tạm trú ở chung quanh Paris, một nhà soạn nhạc Ba Lan đã dạy cho các em chỉ còn xương với da, đầu cạo trọc lóc, mắt thâm quầng đó.
Ai cũng biết rằng trẻ em Do Thái rất thích nhạc, hình như đã có thiên tư về nhạc ngay từ hồi ở trong nôi. Chúng cho âm nhạc là tự nhiên và cần thiết. Vì vậy mà khi dạy cho các em hát, thì như có ma thuật, các em đã bị hành hạ tàn nhẫn đó, lần lần sống lại.
Và hôm đó các em hát. Hát một cách rất giản dị, giọng rất hay, làm cho các người cộng tác với tôi đều ngạc nhiên, tán thưởng. Nhưng mãi tới khi ban hợp xướng y như những hình ma đó ra về rồi, chúng tôi mới cho quay những băng đã thu âm để phân tích được giọng hay ra sao; vì khi các em hát, chúng tôi như bị giọng hát bi thảm thôi miên không còn suy nghĩ gì được cả, chỉ để cho lòng rung động và cố nén cho lệ khỏi trào ra.
Khi bước qua cửa phòng thu âm, một em gái nhỏ bỗng lại gần tôi. Một mớ tóc hung hung bắt đầu mọc trên đầu em, coi như bọt biển.
Coi khóe mắt em tưởng chừng như em đã sống cả ngàn năm, ngàn năm trốn chui trốn nhủi và bị hành hạ; nhưng khi em mỉm cười thì tôi thấy em mới vào khoảng từ tám tới mười một tuổi.
Em nghiêm trang đưa bàn tay nhỏ chỉ còn da bọc xương cho tôi bắt và hỏi:
- Proshe Panie. Was ist deine Name? (1)
Tôi đáp:
- Marianne Monestier.
- Jimkuye bardjo (2).
Tôi biết rằng các trẻ bị đày khi được trở về, tính tình hung dữ lắm, nên nụ cười của chúng thật là quý. Câu hỏi và thái độ của em đó làm cho tôi xúc động.
- Em có phản ứng ra sao, nhớ lại kỷ niệm nào đó chăng?
Nhưng em đã vội bước để theo kịp chúng bạn ra hành lang đưa xuống cầu thang rồi...
Có thể rằng một tiếng chim hót,
Làm cho nỗi đau khổ của chúng tôi nén
không kỹ, bỗng bật ra
Và lôi cuốn chúng tôi như lớp bọt...
Chúng tôi xin các ông:
Đừng cho tôi thấy một con chó nhe răng ra cắn...
Nếu không thì rất có thể, rất có thể rằng
Chúng té xuống, tan thành bụi hết...
Thành bụi ở trước mắt các ông.
Ngày lễ sinh nhật của bà, ngày 11 tháng chạp năm 1966. Nelly Sachs đã lãnh giải thưởng cùng với văn hào Joseph Agnon. Có thể rằng hai người hẹn sẽ gặp nhau ở Isral.
Câu chúc nhau: “Sang năm về Jérusalem!” Dân tộc Do Thái từ khi mất nước, bất kỳ ở chân trời góc bể nào, hễ gặp nhau là chúc nhau: “Sang năm về Jérusalem”.
Từ cả ngàn năm nay, đã thôi miên dân tộc Do Thái, mà bà Nelly Sachs chắc còn bị thôi miên hơn ai hết.
Và có lẽ ở Isral bà sẽ tìm ra được niềm tin này mà không có nơi nào khác trên thế giới, không có cái gì từ trước tới nay, đem lại cho bà được; tin chắc rằng sự sống có thể thắng được sự chết, sự tự do thắng được áp chế.
Chú thích:
(1) Chắc là em tự giới thiệu và hỏi tên tác giả.
(2) Không hiểu nghĩa là gì. Có thể là lời chúc hoặc cảm ơn.
Nguyễn Hiến Lê
Theo http://vnthuquan.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét