Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

Trương Vĩnh Ký hành trạng 000000

Trương Vĩnh Ký hành trạng

TỰ NGÔN
Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký Tiên Sanh là một vị Tân Quân Tử thật của nước Việt Nam ta, ai ai cũng đều biết cả.
TRƯƠNG VĨNH KÝ
1837-1898
Nhân dịp này, hình ngài sẽ dựng trước đường Norodom, ngang Dinh Quan Toàn Quyền, Sài Gòn. Vậy cũng thỏa lòng công chúng hy vọng bấy lâu, nên bổn lịch sử của ngài tôi đã soạn rồi, chẳng lẽ dám dấu làm riêng; vậy xin xuất bàn cho nhiều phần (10.000 bổn), đặng dưng cho công chúng tường lãm.
Chúng ta đã muốn dựng hình Quân Tử, thời nên đọc truyện Quân tử mới trọn tình cảm mộ; được bắt chước theo Quân Tử Hàn Vi mà sửa nhân cách cho hoàn toàn; nhân cách thảy được hoàn toàn, thời xã hội ta ngày nay biết bao nhiêu là hạnh phúc!!!
Đặng Thúc Liêng
TRUYỆN
Trương Chánh Ký sau đổi chữ lót giữa là ‘’Vĩnh’’, đến nay hễ những người Việt Nam và người Pháp có học Việt-Pháp Tự Âm, thời đều nhớ công đức mà xưng hô rằng: ‘’Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký’’ Tiên Sanh, hoặc ‘’Pétrus Ký’’.
Người ở làng Vĩnh Thành (Cái Mơn), Tổng Minh Lý, Huyện Tân Minh, Phủ Hoằng An, Tỉnh Vĩnh Long; con trai thứ của ông Trương Chánh Thi, bà Nguyễn Thị Châu, sanh năm thứ 17, đời Vua minh Mạng (1836). Cha đi thú Thành Nam Vang, bịnh mất trong hàng binh. Gia đình thảm kịch, thương xót biết là dường nào!
Lúc 5 tuổi, ở với mẹ, cùng anh là Chánh Sử đi học chữ Nho với Lão Nho ‘’Học’’ dạy trường trong xóm, 9 tuổi học vừa nghe sách Khổng, Mạnh. Nhà ở gần Thiên Chúa Giáo Đường thường gặp Cố Tám là người thuộc ‘’Thiên Chúa Giáo’’, thấy Vĩnh Ký còn nhỏ mà thiên tư đĩnh ngộ, để lòng thương, xin với bà mẹ cho theo học Đạo Thiên Chúa, lần lần tập kích ‘’Nhựt Khóa’’ thông chữ Quốc Ngữ, nên thường theo Cố Tám qua Cái Mơn giảng Đạo Thiên Chúa, xảy gặp Linh Mục Long ở Lang Sa mới qua. Cố Tám cho theo hầu Linh Mục Long, được học tập chữ la-tinh; trong 7 năm ấy đã học được ba thứ chữ (chữ Hán, chữ Quốc Ngữ, chữ La-tinh)
Từ năm thứ 14 đời Vua Minh Mạng (1833) sắp về sau, Vua Minh Mạng muốn quyết trừ Đạo Thiên Chúa cho tiêu diệt, nên hạ chỉ ‘’Sát Tả’’ (Tả là ‘’Trái’’ không đồng đạo kêu là ‘’Tả Đạo’’. Đại Nam Bộ Văn). Lúc ấy Triều Đình quan lại đương tìm bắt những người thuộc Thiên Chúa Giáo, ý không muốn cho để sót một con đỏ!!! Bởi vậy hiệu lịnh ‘’Sát Tả’’ càng ngày càng nghiêm nhặt! Trong Nam Kỳ mấy phái giảng Đạo Thiên Chúa là Thầy Marchand, Thầy Taberd và cả môn đồ, kẻ thì bị bắt hạ ngục, kẻ thì bị giết, không biết bao nhiêu! Trong cơn nguy hiểm ấy, những người giữ Đạo Thiên Chúa phải lo tỵ tử lăn xăn. Tuy vậy, song Vĩnh Ký vẫn cứ chân truyền cùng Linh Mục Long bôn tẩu cho khỏi vòng hoạn nạn, hơn bốn năm; may cho Sư-Đệ đều đặn bảo toàn tánh mạng! Cái họa nước Nam ta phi thai từ đó, nghĩ rất ngậm nguồi!
Đến 12 tuổi (1818) có lịnh Giám Mục bổ Vĩnh Ký theo Cố Hòa (Pére Belleveaux) là Thầy Cai Trường ‘’Phi Nha Lư’’ ở Nam Vang, mà giúp Thầy dạy học và học thêm chữ ‘’La-Phi’’ (Epitomce); gặp dịp ấy, nên có ý nguyện học cho tới làm bực Giám Mục (Evêque).
1850 vừa 14 tuổi, lại vưng lịnh Giám Mục đi qua ‘’Phi Năng’’ (Pénang) ở Trường ‘’Du Lam’’ (Dulalma) học Triết Học (Philosophie).
1856 đã lên đứng theo hàng Linh Mục (Sacerdoftes). Từ đó sắp sau lại gồm hiểu được chữ Langsa, La-tinh, Anglais, Espagnol, Chinois, Malayu, Cao Man, Xiêm La, Chà Và và Nhựt Bổn. Có ngày kia phụ thí chữ Hồng Mao trúng bực ‘’Ưu’’ (đậu đầu). Vĩnh Ký ngày sau mà thành được ‘’Tân Đạo Đức, Văn Chương Gia’’, lại có danh giá đặc biệt là: ‘’Bát học’’ được 10 thứ chữ của Ngoại Quốc (Đại Nam Quốc Lược Sử, Alfred Schreiner) đứng vào địa vị ‘’Toán cầu bát học thập bác quân tử’’ (le biographe 1873-1874), rủi chúc, chớ không đà rõ tài kinh tế, gầy hội Phong Vân! Được như vậy tuy là gặp nhiều cơ hội lạ lùng nhờ có nhân duyên may mắng, song duyệt lịch lắm phen tân khổ, mà công phu nào kẻ nhọc nhắn, nên giữ được cái nghị lực vững bền theo sự học, mấy ai bì kịp? Tốt vậy thay! Đáng kính vậy thay!
Vĩnh Ký ở Phi Năng được 8 năm (1858) vừa nghe tin mẹ từ trần, vội vã về nhà ở Cái Nhum thủ chế!
(1850) đời Vua Tự Đức thứ 12, Đại Pháp qua chiếm cứ xứ Nam Kỳ, trước hết lấy Tỉnh Gia Định; Quan Thủy Sư Bonnard đương phỏng vấn những người Nam thông tiếng Âu Châu để dụng sự. Giám Mục sở tại tiến dẫn Vĩnh Ký ra làm Thông Ngôn (20 Décembre 1860), kế lãnh làm Đốc Học Trường Thông Ngôn tại Sài Gòn (Đại Nam Quốc Lược Sử, Alfred Schreiner).
LE BIOGRAPHE
LE BIOGRAPHE
Année 1873-1874
PREMIER VOLUME
Deuxième livraison
Sommaire
1.- Allemand (docteur). 2.- Bonadona-d'Ambrun. 3.- Bonhomme (Honoré). 4.- Cazot (Jules). 5.- Chambron (général de). 6.- Chambord (Comte de). 7.- Chritopphle (Albert).
8.- Conte (Casimir). 9.- Desmaze (Charles). 10.- Duprat (Pascal). 11.- Dupuy (Charles).
12.- Garnier-Pages. 13.- Guizot. 14.- Lafayette (Oscar de). 15.- Lefèvre-Pontalis (Amédée) 16.- Marcou. 17.- Pétrus Ky. 18.- Saldonha (maréchal).
Lúc ấy, hiếm gì kẻ xu phụ thì thế để mua đường hiển vinh xuất đầu, chỉ có một mình Vĩnh Ký đã nhàm trong cuộc phong trần, muốn trọn lập thân hành đạo theo Thiên Chúa Giáo. Nhưng vì Đại Pháp đương lập Tân Chánh Phủ; còn các Giám Mục nghĩ rằng: Việc Chánh Giáo mới mở ra ngày nay, tình thế tương quan, rất nên trọng hệ, vậy mới phân trần cùng Vĩnh Ký phải ép lòng và gia sức mà tùng chánh cùng Thủy Sư Bonnard, điều đình chánh giáo cả hai đều đặng nhờ công bổ ích.
1862, theo Sứ Thần Simo ra Huế Nghị Hòa (Đại Nam Sử Ký)

1863, hộ tùng Pháp, Y Pha Nho (Espanol) Lưỡng Soái Bonnard và Bờ-lăng-ca cùng Đại Nam Sứ Thần Chánh Sứ Phan Thanh Giản, Phó Sứ Phạm Phú Thứ, và Bồi Sứ Ngụy Khắc Đản, như Tây, chước định hòa ước (Đại Nam Sử Ký).
1864, hộ tùng các Sứ Thần về Nam.
Vĩnh Ký trong 9 tháng giúp theo Sứ sự, đều đặng hoàn toàn; nhơn đó mà lại được quan sát nhơn tình, phong tục, chân lưu thành quách sơn xuyên, đã hơn phân nửa bên Âu Châu ấy là hạnh phước của Tạo Hóa tài bồi giúp cho nhơn tài cũng là đáng lắm!
1868, Vĩnh Ký xin lập ‘’Gia Định Báo’’, lãnh làm chủ nhiệm. Trong năm ấy, Triều Việt Nam gởi vào một phái Lê Văn Hiển, cậy Tân Chánh Phủ giúp cho học chữ Pháp, Vĩnh Ký lãnh làm Giáo Sư (Nam Việt Sử Ký).
Chánh Phủ Pháp, Y và Việt đồng nghị Vĩnh Ký là người có công theo giúp Sứ Bộ, nên đồng thì ban thưởng ‘’Khuê Bài’’ để làm Kỷ Niệm.
1869, Pháp Soái cho theo giúp Quan Sứ Y Pha Nho (Espagnol) ra Huế đặng nghị việc Thông Thương.
Vì cớ lãnh dạy ‘’Việt Nam Học Sanh’’ và giúp Sứ Y giao thông ‘’Việt Nam Thương Sự’’, nên ngày sau Tân Chánh phủ chỉ trích cho Vĩnh Ký có ý riêng chuyện lo giúp sự ngoại giao, mới sanh nghi kỵ, khiến cho Vĩnh Ký phải dưỡng hồi thao quan, lần chót năm (1879) để phòng tỵ họa.
1872, thăng nhứt hạng Tri Huyện, nhưng lãnh Đốc Học dạy những người Langsa học tiếng Phương Đông.
1873, lãnh làm Hội Đồng Thành Phố Chợ Lớn.
1875, lãnh làm Chánh Đốc Học Trường Tham Biện Hậu Bổ (Ecole des Administrateurs stagiaires).
1879 sắp về sau không nệ nhọc, cứ Trước Thợ, Lập Ngôn:
1.- Sách Mẹo (Grammairie). 2.- Chuyện Đời Xưa. 3.- Conversation ca. 4.- Túy Kiều dịch. 5.- Toát Lược Ca. 6.- Nam Việt Sử Ký. 7.- Truyện Lang Sa. 8.- Sự Tích Nước Ta. 9.- Truyện Đường Trong. 10.- Truyện Annam. 11.- Cao Man Ân Thoại. 12.- Sơ Học Vấn Tân. 13.- Tứ Thơ Diễn Nghĩa. 14.- Pháp-Việt Tự Điển. 15.- Bắc Kỳ Phong Cảnh. 16.- Trương Lương Tùng Xích Tùng Tử Ca. 17.- Trường Lưu Hầu Phú. 18.- Gia Định Thất Thủ Ca. 19.- Tân Gia Định Ca. 20.- Chuột Kể Truyện. 21.- Kiếp Người Ta. 22.- Nữ Tắc. 23.- Mẹ Dạy Con. 24.- Mẹ Dạy Con Gái Làm Dâu. 25.- Huấn Nữ. 26.- Gia Huấn. 27.- Bất Cưỡng. 28.- Annam Lễ Tiết. 29.- Luật Mẹo Thầy Trò. 30.- Truyện Xưa. 31.- Bài Hịch ‘’Quạ’’. 32.- Thạch, Suy, Bỉ, Thái, Ca. 33.- Hàn Gia Phong Vị. 34.- Kinh Ba Chữ. 35.- Nhựt Khoa Gia Huấn. 36.- Tự Vị Lang Sa.. 37.- Thông Loại Khôn Trình. 38.- Minh Tâm Diễn Nghĩa.
Vĩnh Ký có ý thương vì đương cơn thế loạn, Đạo Nghĩa tro tàn, e cho Nam Kỳ ta những nhà Đạo Đức, Văn Chương thế chẳng khỏi càng ngày càng suy bại! Bởi vậy cho nên lo Trước Thơ, Lập Ngôn, như đã nói trước đó, mà tùy thời sắp đặt sự dạy dỗ người, chẳng chia gì là người Âu, kẻ Việt, coi đồng một bực. Miễn là duy trì Đại Học được còn lại trong Nam Kỳ muôn một là may! Hỡi ôi! Chìm thuyền giữa dòng nước, được một cái bầu nổi, cầm đáng ngàn vàng. Vô cùng cảm khái!!!
1883, Chánh Phủ nghị Vĩnh Ký có công Trước Thơ, Lập Ngôn, thưởng thọ Hàn Lâm Bài (Palmes d'Acadénie).
1886, vì cớ Quyền Thần nước Nam ta là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết gây loạn trong nước, cưỡng hiếp Vua Hàm Nghi xuất bôn. Triều Thần phải tôn Vua Đồng Khánh tức vị và chỉnh lý Triều Chánh, song cả nước còn nhiều việc nhiễu nhương! Nên lúc ấy Đông Pháp Toàn Quyền Đại Thần Paul Bert phải ra Huế đặng điều đình sự Bảo Hộ, chọn Vĩnh Ký ra tùng sự (27 mars 1886)
Vĩnh Ký vì Paul Bert làm lời dụ:
1.- Bày Tình Pháp-Việt Nhứt Gia.
2.- Rộng Mở Sự Giáo Dục.
3.- Giữ Gìn Quyền Lợi, Lý Tài Nước Ta.
4.- Khai Khoán (mỏ than, đồng v.v...)
5.- Khuyên Đừng Bạo Động.
6.- Không Tăng Thuế.
7.- Lập Nghị Viện.
Đem những chánh sách công bình, đồng lực, hiệp tác, ước sẽ thật hành mà tuyên bố cho công chúng Trung, Bắc lưỡng kỳ nghe rồi thảy đều duyệt phục.
Dụ ấy chỉ dùng lấy Quốc Văn mà nghị luận kinh tế đủ điều; ai còn gọi tiếng Annam rằng ‘’Nghèo’’? Mà mấy ai được biết Vĩnh Ký đã từng giảng giải sự trị quốc???
Việc Huế vừa yên, Paul Bert thẳng ra Bắc Kỳ, để Vĩnh Ký ở lại Huế giúp Vua Đồng Khánh sắp đặt việc chánh trị và dạy vua học chữ pháp. Vua Đồng Khánh đặt tú Vĩnh Ký lãnh chức ‘’Hàn Lâm Viện Thị Lang’’, sung ‘’Ngự Diên Giảng Quan’’.
Từ ấy nước Nam ta mới sửa lại có Triều Đình thể thống lại có quyền tự chủ, vinh diệu hơn xưa; thật là may! Nhờ có Vĩnh Ký cùng Toàn Quyền Paul Bert ngoại giao tương đắc, Vua Đồng Khánh lại biết dùng Vĩnh Ký, liên lạc tình thâm; mà Vĩnh Ký vẫn có làng ái quốc (*) nên mới này ra nhiều chước thi thố làm nên đại cuộc chuyển nguy vi an; cơ hội tốt vậy thay! Thiên tải nhứt thì, ngày nào còn trông được như vậy nữa???
Chú thích:
(*) Xem trong ‘’Trương Vĩnh Ký Hàn Uyển Lục’’ 7 bức thư nguyên chữ Pháp, ở trong tập ‘’six nois de vie politique avec Paul Bert à Huế’’, và bài thi nguyên chữ Nho, của Vua Đồng Khánh tặng Trương Vĩnh Ký, dịch ra, để sau đây, thời rõ được Toàn Quyền Paul Bert, Trương Vĩnh Ký, và Vua Đồng Khánh giao lân kết hữu, tình tự rất dài, mà chỉ quyết làm điều công ích cho ‘’nhân loại’’.
 
Cũng trong năm ấy Vĩnh Ký lại được tin Paul Bert cậy hộ tùng Vua Đồng Khánh ngự giá Bắc Tuần (ra Bắc dẹp loạn Văn Thân) hai tháng, sự yên, về Huế. Dùng diệp muốn tịnh dưỡng, nên cáo từ Paul Bert và Vua Đồng Khánh tống tặng rất hậu. (Thi từ chép sau). Pháp chánh phủ thưởng cho ‘’Ngũ Đẳng Bội Tinh’’ (Croix de Chevalier de la Légion d'Honneur). (2 août 1886).
Chẳng bao lâu, lại nghe tin Paul Bert từ trần (11 Novembre 1886, lịch sử của Paul Bert lượng dịch chép sau), Vĩnh Ký riêng than: ‘’Mất hết một người tri kỷ, tình tự nói ra càng dài, tâm sự tỏ cùng ai nữa? Đại Thống tích tai!!!
Chẳng biết về sự cơ mật nên chánh phủ lại nghi kỵ Vĩnh Ký một lần nữa. Vĩnh Ký tính lấy thi kỳ nên thối ẩn; nhưng mà qui kế vị an bài, cho nên cũng gắng gượng giữ lấy sự thường, dạy học trò là vui ; dầu có lãnh lương của chánh phủ ít nhiều chẳng luận, cứ phải từ ngày mà thôi, không theo ngạch quan viên bổng hướng nào cả!
1898, được 62 tuổi, phát bịnh khai huyết, y trị không xong; vừa ít tháng quên quáng, (1 Septembre 1898)! Y! Hóa công mạc khẳng gia thụ ư tư nhân giả da!
Chánh phủ cho lấy nhung lễ (*) tống táng trọng thể, an thổ tại Chợ Quán (Sài Gòn)
Chú thích:
(*) Theo lễ Langsa tống táng người có công được lãnh Ngũ Đẳng Bửu Tinh thời có phái đội lính Langsa và lính Tập Annam theo hầu đưa linh cữu đến huyệt tới an thổ.
Vĩnh Ký bình sanh không dùng Âu phục, không vào Pháp tịch. Có nhiều khi môn đệ hỏi thăm sự vào Pháp tịch, thời trả lời rằng: ‘’Nếu mình vào bộ dân Langsa, thời mất bộ dân Annam còn gì???
Lúc Vĩnh Tiên (con trai Vĩnh Ký) mới sanh vừa thấy mặt, rồi mất. Vĩnh Ký nói: ‘’Thế gian như khổ ải, nên nó chẳng cần gì ở lại cho lâu!’’
Vĩnh Ký chẳng lấy sự buồn, vui làm giới ý; hay nói: ‘’Người ta lúc nào gặp sự buồn, thời nên vui lần, sẽ có sự vui theo sau; lúc nào gặp sự vui, thời nên buồn lần, dẫu ngày khác có sự buồn sẽ tới, không đến hại.’’
Đại loại ngôn từ, cử chỉ của Vĩnh Ký trọng về phần đạo đức rất nhiều.
 
Tử viết: ‘’Bác học ư văn, ước chi dĩ lễ, diệc khả dĩ phất bạn hỉ phù tư chi vị dư’’. Đức Phu Tử nói: ‘’Rộng học văn chương, dón lấy lễ nghĩa, cũng cho là không trái đạo vậy’’, ấy là nói chuyện người nấy vậy ru!!!
1908, Nam Kỳ sĩ phu đồng đứng xin chánh phủ chuẩn cho dựng hình Vĩnh Ký để làm Kỷ Niệm, chánh phủ phê y. Lúc ấy tôi đương chấp bút Nông Cổ và Lục Tỉnh Tân Văn, có ít lời vận động quyên ngân, chẳng mấy ngày mà công chúng hỉ cúng rất nhiều.
Diên trì cho đến 1923, trong ‘’Hội’’ lo dựng hình Vĩnh Ký, đặt làm hình bên Pháp đem qua, chỉ có một cái đầu hình (buste) mà thôi. ‘’Hội’’ muốn dựng, nhưng mà công chúng kích bát ‘’Hội’’, không chịu! Đã hèn (từ) lâu, bây giờ (1927) mới dựng được toàn hình, dựng nơi phần đất đường Norodom trước Dinh Quan Toàn Quyền Sài Gòn. Sự dựng hình Vĩnh Ký ngay nay rất cảm bội tấm lòng ái mộ của công chúng. Nhưng mà đối với tâm thuật của Vĩnh Ký, lấy đạo đức mà suy ra, thời thật không có điều chi vọng tưởng là vinh diệu. Hỡi ai là ‘’Thần du vân, thủy, Đạo tại nhân gian?’’ (Tinh thần đạo chơi trên mây, nước; đạo đức còn ở trong cảnh người) là vinh diệu hơn, mà vinh diệu ấy, biết mấy trăm năm trường cửu!!! Tình như vậy, thời nên tưởng cho hình Vĩnh Ký đối với hình Paul Bert ở nơi Hà Nội, có lẽ hai Đạo tinh anh phát hiện, thường khi hội ngộ linh kỳ! Mà toan lo những việc chi đây???
Vĩnh Ký phu nhân là Vương Thị Thụ (thành hôn 1863), chết 1907, có con trai và gái 9 người:
1.- Trương Vĩnh Thế, Tri Phủ. 2.- Thị Gia. 3.- Vĩnh Viết, Đốc Phủ Sứ. 4.- Thị Tự. 5.- Vĩnh Trọng. 6.- Vĩnh Mỹ. 7.- Vĩnh Kỳ. 8.- Vĩnh Tiên. 9.- Vĩnh Tống.
1927, tôi nhờ có rể của Vĩnh Ký là Nguyễn Hữu Nhiêu, hiện kinh làm ngoại Công Sư (Architecte civil), người ngoài 60 tuổi, tánh chất thuần hậu, tợ hồ nhập đạo. Vẫn biết tôi tần quen với Vĩnh Ký trong khi ở Bắc, và lúc về Nam, nên lượm lặt các món tàn biên đã gần mất, nói về lịch sử của Vĩnh Ký, đều giao cho tôi phụ làm truyện nầy.
Viết truyện nầy rồi, gát bút thêm buồn cho người đời nay có kẻ hay tự phụ là: Văn minh, tấn bộ, ái quốc, nhiệt thành, thế mà không ngôn vô bổ! Không thấy chút nào là sự thật thành. Chỉ thấy người thời lăn xăn đọc ít câu diễn thuyết, người thời hốp tốp viết ít tờ nhựt trình, đặng hô hào rằng. ‘’Mình văn minh, tấn bộ, ái quốc, nhiệt thành’’, để chưng cho ra diện mạo ‘’Chí Sĩ’’. Đọc truyện nầy chưa??? Đó! Có đủ đạo đức chân tướng, mới phát anh kiệt toàn tài. Văn minh tấn bộ như vậy đó, ái quốc, nhiệt thành như vậy đó! Người bây giờ đứng vào địa vị nào???
Tôi nguyền sống thêm 40 tuổi nữa cho đủ 100, đã sẵn cái thú vị trời chiều mát mẻ, ngồi dưới bóng cây mà lại được ngửi những mùi thơm của hoa nở trong các thứ cây kia sẽ được ăn trái, đặng mà làm thêm một truyện của người như vầy nữa, biết có đặng không?
Thập Bác Phù Viên
Đặng Thúc Liêng
Sadec (Cochinchine)
TRƯƠNG VĨNH KÝ -HÀN-UYỄN-LỤC -I-
THƯ, TRÁT
(sáu tháng biện lý quốc sự ở huế)
(six mois de vie politique avec paul bert à huế)
nguyên chữ pháp lược dịch
N° I
Chợ Quán, le 27 mars 1886
Tướng Công Đại Nhân các hạ,

Đọc bức thư của Đại Nhân rồi, tôi càng thêm thấy Đại Nhân lấy thật tình mà đãi tôi, và tỏ dấu chiếu cố đến phận tôi. Tôi thừa dịp nầy mà trả lời bức thư trước của Đại Nhân. Đại Nhân cậy tôi hai việc: Việc thứ nhất là lập sổ biên tên mấy người dùng làm Thông Ngôn, thời tôi đã lập xong; còn việc thứ nhì là tính đem gia quyến tôi theo, thời tôi làm được mới có phân nửa mà thôi, vì hai thằng con tôi chuyến nầy không thể đi theo tôi được, bởi vì vợ của chúng nó, một đứa thời đẻ mới có 3, 4 ngày rày, còn một đứa thời gần ngày sanh thai. Ấy vậy có một mình tôi đi theo Đại Nhân được mà thôi. Tôi sẵn lòng đi với ít người bằng hữu đáng tin cậy, đi tạm một ít lâu, rồi tôi sẽ trở về lo làm phận sự Nhà Nho, cũng như ông Cincinatus ngày xưa lo về cầm cày vậy. Tôi tưởng có lẽ tôi với ông Pène Sièfert và mấy người bằng hữu của tôi có thể ruồng mở chông gai, đặng giải quyết cái vấn đề của nước Annam đương trông đợi đó.
Chiều mai tôi sẽ cho Đại Nhân lời dụ của tôi đã thảo ra trong tuần nầy, và tôi đã dịch ra đủ ba thứ chữ. Tôi sẽ trao não tờ mời nhóm Hội Cố Vấn Nghị Viên và mấy sổ thống kê khác nữa.
Gia quyến tôi đều trông mong chiều mai được nghinh tiếp quí quyến đủ mặt không sót một ai.
Cúi xin Đại Nhân chứng lòng thành kính cho tôi.
Ký tên
Trương Vĩnh Ký
N° II
Huê, le 10 mai 1886
Tướng Công Đại Nhân các hạ,
Chắc ông Pène, là bạn thiết của Đại Nhân đã trình đã trình cho Đại Nhân xem tờ phúc của tôi về cái hư hại trong Thành Huế vì cái vận hội xảy ra ngày 5 Juillet đó. Tôi tưởng bao nhiêu đó và một ít điều tôi sẽ đối diện mà bày tỏ thêm cho Đại Nhân rõ nữa, thì Đại Nhân sẽ để mà gỡ rối và để mà lo chấn chỉnh sự Bảo Hộ cho xứng đúng với cái trách nhiệm của Nhà Triết Học và cũng là Nhà Chánh Trị của Đại Nhân đó vậy.
Tôi cũng gắng công nhơn chỗ quyền thức của tôi mà làm cho Đại Nhân rõ được cái tình hình Quốc Sự thêm nữa. Tôi hết lòng khâm phục cái việc ông Pène tính dùng người bổn xứ mà binh vực trong xứ, nên tôi liền tâu cho Hoàng Thượng và trình với Cơ Mật làm theo liền. Phận tôi cũng như người dẫn lộ, nên tôi đã lo ruồng đường Đại Nhân, đi đến đâu tôi cũng tôn trọng cái danh giá của Đại Nhân đặng cho thiên hạ phục tùng.
Tôi vẫn biết trong mấy ngày rày bên Tòa Sứ cứ khuyên Triều Đình ‘’Nam’’ đừng có làm theo ý đã định đó; chắc là tòa Sứ có tính kế nào khác nữa, chớ chẳng không?
Vậy xin Đại Nhân hãy so sánh hai cái kế ấy rồi Đại Nhân liệu định lấy. Tôi tưởng mấy việc ngỏ mọn tôi giúp cho Đại Nhân đã hoàn thành rồi hết.
Tôi với ông Tạo đã xuống tàu mà về Sài Gòn rồi, nếu tôi không tính nấn ná mà từ biệt Đại Nhân là người có lòng chiếu cố tôi hồi ở Chợ Quán, việc ấy tôi không thể nào mà quên được. Gia quyến tôi trông đợi tôi, mà tôi đã quen thói bình tịnh, nên tôi cũng trông được ở ăn yên ổn nữa lắm.
Ông Pène có dọ ý tôi, muốn cho tôi làm việc gì khác nữa đó không biết. Vả tôi bị nhiều người dại dột hoặc hung ác họ ganh ghét nữa. Vậy tôi muốn về lập tức, bởi vì nếu tôi diên trì, thì e chẳng khỏi ông Pène dụ dỗ, khiến cho tôi làm việc bậy bạ. Ông Pène thật là đấng vô tư, cứ lo cho bằng hữu mà thôi. Ông có nhiều cái lý thuyết tân kỳ, trí ý của ông lẹ làng lắm, có nhiều chỗ người ta không biết đâu mà rờ, mà đến ông thì ông tính dể như chơi. Ông thấy xa, liệu dụng, mà lại tính mau nữa. Tại Huế ai nghe ông nói chuyện cũng đều té ngửa. Ban đầu họ đến viếng, là viếng tôi, mà bây giờ họ cũng viếng luôn đến ông nữa, dầu có việc gì, họ cũng đến hỏi ông.
Khi chiếc tàu ‘’Léon’’ đến đây, thời chúng tôi tìm tàng việc của chúng tôi đã xong rồi hết, nên tôi tưởng có lẽ chúng tôi sẽ đi Bắc Kỳ ở ít ngày được, vì ngoài ấy tôi có bằng bối nhiều. Nhưng mà thôi, để khi khác sẽ đi. Hôm trước tôi có gởi cho Đại Nhân một bức thơ riêng bằng chữ La-tinh. Tôi không thấy trả lời, nên tôi không biết Đại Nhân có tiếp được hay không? Tôi xin lỗi với Đại Nhân mà ở trong thành từ nay cho tới bữa tàu chạy, nếu có việc chi cần dùng đến tôi, thời tôi sẽ sẵn lòng mà giúp cho Đại Nhân luôn luôn, xin Đại Nhân chớ ngại. Tôi dám bảo kiết rằng: Dụng hình bằng hữu của người Nam cũng vững bền như dụng tình bằng hữu của người Pháp vậy.
Tuy vậy mà tôi muốn đến viếng Quí Quyến một lần đặng tỏ lòng ái kính, vì quí quyến đã có lòng đoái tưởng đến tôi. Còn về phần tôi đối với Đại Nhân thời tôi vẫn nguyền giữ một lòng thành tín luôn luôn.
Ký tên
Trương Vĩnh Ký
N° III
Huê, le 10 mai 1886.
Kính Tiên Sanh,
Tôi đã có tỏ với Tiên Sanh rằng: Tôi lấy làm vui lòng và lấy làm cảm ơn Tiên Sanh với lịnh mụi phu đã quyết định như vậy. Nay Tiên Sanh muốn trở về Sài Gòn ít ngày, vậy tôi nhân dịp nầy mà xin Tiên Sanh tỏ lại giùm với Quí Quyến rằng: Tôi gởi lời thăm. Tôi đây cũng là người trong Quí Quyến, bởi vậy nên tôi vẫn biết tình thân ái ấy nó thường làm cho mình thêm sức mà đởm đương với đời. Tôi ước trông Tiên Sanh về nhà rồi, càng thêm sức nữa và trông Quí Quyến thuận tình giúp đỡ Tiên Sanh trong lúc này là lúc Tiên Sanh quyết định đại sự là giúp cho nước Đại Pháp và nước Đại Nam.
Bạn yêu dấu.
Ký Tên
Paul Bert.
N° IV
Huê, le 17 juin 1886
Tướng Công Đại Nhân các hạ,
Đại Nhân lấy tình bằng hữu, lấy lòng khoan nhơn mà đãi tôi, đến việc mảy múng Đại Nhân cũng ân cần cố cập.
Ông Pène nói chuyện với tôi, ông thường khen Đại Nhân lắm. Mà theo trí tôi xét thời Đại Nhân còn cao hơn lời nói ông Pène đó nữa. Bởi vậy tuy là tôi đau rét nên phải tọa sàng đến ngày tàu chạy, song tôi cũng ráng làm cho tròn phận sự, dầu sống thác không cần. Bữa nay trong mình tôi đã khá rồi, tôi ở lại đây. Tôi sẽ lo khảo cứu nhân vật đặng chừng Hoàng Thượng hồi trào, chúng ta sẽ bắt đầu mà lo tổ chức sự canh cải, dùng người cho xứng với trách nhiệm mới được.
Tôi sẽ bỏ dẹp bọn sàm nịnh hết thảy, tôi sẽ lựa người thật có tài kinh tế mà hầu cận giúp cho Hoàng Thượng và sung vào Cơ Mật Viện.
Người có tài không thiếu gì, cứ chọn trong đám Nho Học, là chỗ tôi thường trông cậy, để lo dìu dắt xã hội, mà cái cơ sở Tông Giáo nay đã điêu tàn; nếu sanh tồn được ấy là nhờ mấy cái chủ nghĩa luân lý mà thôi, mà dầu Tông Giáo nào cũng gồm chung mấy chủ nghĩa ấy, chớ chẳng có chi lạ. Trong đạo trị nước, nếu biết nghĩ như thế, thời tức nhiên phận sự hoàn toàn, chẳng có chi khó; nếu các Tông Giáo không làm chi náo động công chúng, thời nhà nước cứ giữ địa vị trung lập mà điều đình. Tôi nói đây là có ý muốn cho Đại Nhân biết rằng hễ luận đến quyền lợi của Quốc Gia thời tôi không kể đến cái đức tin riêng của tôi. Trong bộ Sử Ký tôi viết thời tôi cũng đã có tỏ cái ý ấy rồi. Rồi đây tôi sẽ ráng mà diễu giải cho các Nhà Nho Học họ hiểu rằng: ‘’Nếu không có Pháp Quốc thời Annam không làm nên việc gì được, mà chống cự với Pháp Quốc cũng không nổi, bởi vậy phải tay nắm tay, đừng có chút ngoại ý, đã sẵn có người hảo tâm như Đại Nhân thời cứ đương lấy đó mà cậy nhờ’’.
Tôi đã khởi đầu viết một quyển sách tựa đề: ‘’Tân Thi Đại’’. Quyển sách ấy bắt đầu nói từ khi Đại Nhân mới đáo nhận, rồi lần lần diễn giải các cuộc chỉnh đốn của Đại Nhân, mỗi cuộc tôi đều chỉ cho nước Annam làm gương mà noi theo. Xin Đại Nhân làm ơn biên cho tôi biết coi công trình của Đại Nhân ngoài Bắc Kỳ ra thế nào? Đặng tôi viết cho đúng và cho đủ. Lại tôi đã lãnh chủ nhậm tờ Công Báo, vậy xin Đại Nhân dạy gởi cho tôi những nhựt báo như ‘’l'Avenir du Tonkin’’ v.v...
Ngửa vưng lòng ái kính,
Ký Tên
Trương Vĩnh Ký
Nói thêm. Hoàng Thượng đã di giá hồi sớm mai nầy. Ông Toute với ông Halais đến trễ vài giờ đồng hồ, vậy tối nay hai ông sẽ thừa dịp trăng tỏ mà đi với ông Pène đặng theo hộ giá Hoàng Thượng.
N° V
Hanoi, le 29 juin 1886.
Kính Tiên Sanh,
Ý kiến của Tiên Sanh đã tỏ trong bức thơ trước thiệt là cao thượng lắm, nhưng mà tôi vẫn biết Tiên Sanh, nên tôi chẳng lấy làm chi lạ. Tôi biết Tiên Sanh ngồi trên cao mà nghị luận Tông Giáo, là vấn đề xưa nay thường phân rẽ, thường gây ác cảm cho người tầm thường lắm. Tông Giáo nào cũng phải vậy, ấy là một nhà trường lớn chuyên dạy luân lý. Nếu có chỗ không hay, thời tại người thay mặt cho Thần, Thánh, Phật, Trời, chớ chẳng phải tại Đạo; vậy mình có trách thời trách Thầy Tu, chớ không ai dám trách Đạo.
Tuy vậy, mà thôi, để dẹp triết học lại đó, đặng lo quốc sự, để tính coi phải làm thế nào mà giải quyết vấn đề Tông Giáo trong nước Annam đương buổi nầy. Tôi lấy làm vui lòng mà hay Tiên Sinh cũng đồng một ý kiến với tôi trong việc ấy. Tuy vậy mà xin để cho tôi bày tỏ tư tưởng của tôi ra đây cho rõ ràng.
Thuở xưa Pháp Quốc tưởng mình là nước có trách nhận bảo hộ cho các Môn Đệ của ‘’Thiên Chúa Giáo’’, bởi vì Pháp Quốc tin chắc rằng Đạo ‘’Thiên Chúa’’ là cao thượng hơn các Đạo khác của dân ngoại quốc, nên mới dùng các thế lực mà giúp cho Đạo ‘’Thiên Chúa’’ bành trướng ra. Phận con gái đầu lòng của ‘’Thiên Chúa Giáo’’ thời tức nhiên phải giúp với mẹ mà thâu phục hoàn cầu! Dưng cả thính danh, cả và khí giới cho ‘’Thiên Chúa Giáo’’ và cho các Thầy Tu dùng; bởi vậy cho nên việc gì của Pháp Quốc làm đều cho là Đức Chúa Trời làm hết thảy.
Dân Pháp Quốc cách mạng lập hiến từ năm 1780 thời đã bỏ cái lý thuyết ấy rồi. Pháp Quốc không được tưởng mình có quyền truyền đạo nữa. Pháp Quốc không công nhận đạo nào là đạo của quốc gia. Pháp Quốc còn giúp tiền cho ‘’Thiên Chúa Giáo’’ mà thôi, mà giúp đó cũng như giúp cho Đạo ‘’Tin Lành’’, Đạo ‘’Á Rập’’, Đạo ‘’Hồi Hồi’’ đó vậy.
Ấy vậy ở ngoại quốc thời nước Pháp cũng không lo giúp mà truyền Đạo Thiên Chúa bao giờ. Pháp Quốc có cái chủ nghĩa cao thượng hơn nữa, Pháp Quốc lo giữ gìn bảo hộ cho mỗi người được thong thả tri mà tín ngưỡng đạo nào tùy ý. Dầu trong nước của mình hay là trong nước nào mà Pháp Quốc có chút ít quyền thế, thời Pháp Quốc không chịu để cho một người nào vì lòng tín ngưỡng Tông Giáo mà bị ai hà hiếp bức sách. Nếu có vậy, thời Pháp Quốc tự nhiên phải ngăn cản, phải kêu nài, mà kêu nài là kêu nài cho mọi người được hưởng sự đẳng công bình mà thôi, chớ không phải biểu tự vị ai.
Chủ nghĩa cận thì của chúng ta là vậy đó. Luật pháp của Pháp đều lấy chủ nghĩa ấy mà làm gốc. Tôi vẫn biết người ta ít chịu do chủ nghĩa đó mà thi hành, nhứt là trong xứ của Tiên Sanh đây, từ trước đến bây giờ môn đệ của Thiên Chúa Giáo họ tưởng rằng cái địa vị cao riêng và được quyền đặc biệt, còn người không phải trong đạo ấy họ lại sợ giực lần lần hết quyền của Triều Đình đi.

Mấy điều ấy đã đổi rồi, đổi thiệt, đổi hết. Pháp Quốc lập ‘’Cộng Hòa Dân Chủ’’ thời đã lấy những chủ nghĩa cách mạng hồi năm 1789 mà thi hành. Chánh phủ tôi đương thay mặt tại đây và phần riêng tôi cũng vậy, chúng ta quyết tình nói theo chủ nghĩa ấy. Tôi cứ kêu nài với Triều Đình Annam đặng cho môn đệ Thiên Chúa Giáo họ biết rằng, nếu họ muốn được hưởng quyền ấy, thời trước hết họ phải tuân theo lề luật trong xứ, phải phục tùng các quan lại thi hành lề luật ấy. Nếu họ muốn lập lề luật riêng, nếu họ không chịu nộp thuế cho quan, nếu họ muốn lập riêng nhiều nước nhỏ trong nước lớn nấy, thời tôi không thể binh vực cho họ nữa được. Tôi sẵn lòng làm theo luật pháp, chớ tôi không chịu tư vị ai. Tôi sẽ dùng hết nghị lực của tôi mà bảo hộ cho họ khỏi bị giết như việc đã xảy ra ở Bình Định và Thanh Hóa, là việc làm mang tiếng cho Vua, và cũng mang tiếng cho Pháp Quốc nữa, Tiên Sanh hãy tỏ ý ấy cho nhà ‘’Nho’’ họ biết. Hãy chỉ rõ cho họ hiểu rằng hiện thì lấy cớ Tông Giáo mà sanh giặc là đều phi lý, lại hữu tội. Tôi chẳng hề để cho họ làm như vậy bao giờ. Tiên Sanh ngày nọ đó, nói như vầy:
‘’Pháp Quốc không khi nào chịu bỏ xứ nầy mà về đâu; đừng có trông mong như vậy mà lầm lạc; chẳng nói chi tới danh dự, quyền lợi của chúng ta ở xứ nầy đã nhiều rồi, nên dầu mà bên Phương Tây có nổi giặc, chúng ta cũng không lui bước được, có lẽ chúng ta phải rút bớt binh lính bỏ chút đỉnh phần đất của chúng ta đã chiếm cứ, mà chừng thái bình rồi, thời chúng ta sẽ chinh phục lại còn dữ dội hơn nữa.
Đã vậy mà dầu có vận hội gì khiến cho nước Pháp phải bỏ xứ nầy mà đi nữa, các ông tưởng nước Việt Nam được độc lập tự chủ như hồi đời Gia Long và Minh Mạng vậy sao? Sai xa lắm! Dân Anh-kiết-lợi, dân Tây Ban Nha nhứt là dân Đức Quốc sẽ đến đây liền, chừng ấy nước Việt Nam so sánh mới biết thay đổi như vậy, lợi hay là hại? Các ông sẽ thấy tánh cường bạo của quân lính nước Đức là thế nào!’’
Phải, dầu thế nào cũng vậy, hễ Pháp Quốc mà bỏ nước Việt Nam thời sẽ có một nước khác bên Phương Tây vào đây mà chiếm cứ. Tại sao vậy? Bởi vì trong lịch sử của các dân tộc có nhiều việc xảy ra mình không thể chống chỏi ngăn ngừa được, vậy nếu mình có lòng ái quốc, thời phải biết lợi dụng mấy vận hội ấy.
Cách 400 năm, trước Đức Chúa Trời giáng sanh, lúc ấy tổ tiên ta còn hái cây rừng trong xứ Gaule mà ăn, lúc ấy Khổng Phu Tử còn đương làm bộ ‘’Thứ Kinh’’, có một dạo chiến thuyền bên Trung Hoa qua chiếm cứ bờ cõi xứ nầy, đem dạy đoàn dân quê kịch, nào là học thức văn minh nào là kỹ nghệ, mỹ thuật, nào là khoa học, nào là cang thường, luân lý, nhơn, nghĩa, lễ, trí, thời tự nhiên đoàn dân ấy cảm nhiễm văn hóa Trung Hoa, rồi để cho Trung Hoa chiếm trị một thi kỳ rất lâu. Rồi bây giờ đây vận hội lại xây đổi đi, mấy đại quốc bên phương Đông ban đầu tấn hóa sớm, mà rồi sau lại ngưng bước; cuộc văn minh Ấn Độ, Xiêm La, Việt Nam, Trung Quốc, cứ ở một bực y như hai ngàn năm trước. Còn chúng ta, thời chúng ta lại tấn bộ; hồi trước chúng ta chậm trễ hơn mấy nước bên phương Đông, bây giờ chúng ta lại đi trước mấy nước bên phương Đông, bây giờ chúng ta lại đi trước mấy nước ấy xa rồi, nhứt là về khoa học kỹ nghệ, thôi chúng ta hơn nhiều lắm. Còn như vầy nữa, mấy nước ấy lại sụt lùi và đã mấy thế kỷ trồi, họ cứ dòm ngó mà kính trọng những cơ sở làm cho họ được danh dự thuở xưa đó mà thôi.
Theo lẽ tự nhiên của trời đất, thời bây giờ tới phiên chúng ta. Chúng ta đền đây, chúng ta đem tàu, bè, khí cụ đến, hoặc hòa, hoặc chiến, và chúng ta tính bỉnh càng mà diều đắc (dìu dắt). Chúng ta phải dìu dắt bao lâu? Điều ấy tôi không hiểu được. Nhưng mà tôi để làng tin tưởng dân tộc Á Đông, đã chỉ đường cho chúng ta; mấy chủng tộc ấy gần gũi ta, rồi đây sẽ vẫy vùng mà tỉnh giấc. Chẳng ai dám biết trước coi những chủng tộc Âu Châu và chủng tộc Á Châu hiệp lực với nhau, ở gần gũi nhau, tranh cạnh với nhau, rồi nảy ra một cuộc văn minh tấn hóa đẹp đẽ thế nào?
Dầu mình muốn, hay là không gì, cuộc vận động ấy cứ lừng lẫy thêm mãi. Ấn Độ đã tùng quyền Anh-kiết-lợi, Miến Điện cũng vậy. Xiêm La thời đương tìm Thầy mà học tập. Nhựt Bổn thời đương sửa soạn cải cách lấy mình. Trung Hoa thời phải chịu để cho học thuật Âu-Tây tràn vào; mấy xứ ở mấy cù lao lớn kia thời phải chịu cho nước Hoa-Lang dìu dắt. Tôi vẫn biết chắc việc ấy không lẽ bền vững đời đời được, song phải chịu như vậy. Nước Việt Nam không thể nào tránh khỏi cuộc tuần hành ấy.
May cho Việt Nam gặp được một dân tộc ôn nhu, quảng đại, biết ái truất kẻ thua mình. Pháp Quốc chẳng hề tàn bạo, chẳng hề hủy phá bao giờ. Lúc ban đầu mới đến chiếm trị phải hung bạo chút đỉnh nên các ông phiền trách cũng phải đó chút; nhưng mà việc đã qua rồi bây giờ tôi đến đây đặng mà trừ cái tệ hung bạo ấy, rồi đổi cách thức cai trị, làm cho thích hợp với tài trí nước tôi.
Người Annam thật có lòng ái quốc, vậy thời hết thảy phải giúp tôi đặng làm cho hoàn toàn cái trách nhậm của tôi. nếu cứ kháng cự hoài, thời đã vô ích, mà lại còn làm cho nước điêu tàn và làm cho sanh đều hung bạo nữa, ấy là các điều hễ kháng cự thời sanh ra như vậy đó.
Tôi vẫn yêu cái chí khí của mấy người kháng cự ấy; nhưng mà kháng cự thời quấy lắm, vì đã vô công, mà lại còn làm hại thêm cho quê hương Việt Nam.
Còn như trong nước trở nên thái bình, thời các ông cũng biết Pháp Quốc chỉ muốn có một điều mà thôi, là dìu dắt mà làm cho Việt Nam thạnh vượng. Các ông cũng biết chúng ta không muốn, mà dầu có muốn đi nữa, cũng không có thể chiếm trọn quyền cai trị như vận hội buộc chúng ta phải làm trong Nam Kỳ đó vậy được. Bực nho học là hạng rất cứng cõi, bởi vì hạng người ấy rộng rãi, trong dân giả ai có tài thời vào hạng ấy được hết thảy, bởi vậy quyền cai trị tự nhiên phải giao cho họ, và quan trường cũng nhờ họ giúp giùm. Bức thơ nầy là dài, nên tôi tóm tắt lại như vầy: Xin Tiên Sanh nói giùm lại với bằng bối trong cửa ‘’Khổng’’, với bực cao kiến trong Việt Nam biết rằng về sự thi hành mấy tờ giao ước họ chẳng nên sợ mất thể thống của họ, chẳng nên sợ mất tự do tín ngưỡng, chẳng nên sợ hãi quyền lợi của họ. Họ đừng có rảo khấp trong trốn thôn quê và xúi dụ dân làm điều nào nhà vong mạng. Họ phải giúp sức với tôi mà lo làm cho xứ sở họ thạnh vượng. Dầu luận về phương diện nào, họ cũng có thể đắc chí về công trình của họ và đắc chí về sở hành của họ nữa.
Nguyện nhứt tâm thành kính,
Ký tên
Paul Bert
N° VI
Hanoi, le 30 juin 1886.
Kính Tiên Sanh,
Tôi xin Tiên Sanh làm ơn ráng lo giùm dạy dỗ ông Hoàng Ngự Đệ. Dầu thế nào cũng phải dạy người học chữ Pháp.
À! Nếu Tiên Sanh lâu làm sao cho Hoàng Thượng chịu học chữ Pháp nữa, thời quí biết chừng nào! Tôi tiếc hôm trước tôi không tâu việc ấy với Hoàng Thượng.
Ký tên
Paul Bert
N° VII
Huê, le juillet 1886
Tướng Công Đại Nhân các hạ,
Trong bức thơ ngày 29 juin Đại Nhân có tỏ ý tứ cao thượng về vấn đề Tông Giáo và về vận mạng nước Việt Nam. Đọc bức thơ ấy tôi càng thêm thấy trí rộng tài cao của Đại Nhân nữa. Thật Đại Nhân là Nhà Chánh Trị mà cũng là Nhà Triết Học và Bác Học nữa.
Tôi đã dịch bức thơ của Đại Nhân gởi cho Hàn Lâm Viện rồi. Tôi chắc bức thơ ấy sẽ được hoan nghinh và sẽ làm cho vừa lòng các Nhà Nho Học. Hễ Hàn Lâm Viện xem rồi, thời tôi đệ đến hành cung cho Hoàng Thượng ngự xem, và tôi cũng vưng (dâng) luôn bức thơ của Đại Nhân gởi cho tôi đó nữa, đặng cho Hoàng Thượng coi lấy đó mà thảo một tờ hiểu dụ.
Ông Hoàng Ngự Đệ theo hộ giá Hoàng Thượng. Trước khi khởi hành Hoàng Thượng có triệu tôi với ông Pène vào chầu. Hoàng Thượng có nói rằng nếu ngài có ngày giờ rảnh thời ngài sẽ học chữ Pháp. Đó cũng là một điều lành và cũng đủ biết ý ngài muốn dùng tiếng Pháp mà tiếp chuyện với người Pháp. Tôi sẵn lòng mà dạy ngài học đọc, học viết chữ Quốc Ngữ và chữ Pháp. Ngài còn trẻ tuổi. Vậy tôi sẽ dùng phép riêng của tôi mà dạy, phép ấy là phép Roberson và Ollendoff nhập lại, rồi chế sửa cho thích hợp với trí của học trò Annam.
Ông Pène có thuật cho tôi nghe những chuyện họ bẩm gian dối với Đại Nhân về năm Ngoạn và Tuấn. Họ độ tôi tiến dẫn hai người cho ông Pène, tôi có nói rằng hai người ấy gốc ở Chợ Quán, cứ giữ lòng thành thật, chơn chất mà buôn bán. Thật quả hai người ấy đều hết lòng thành kính mà lại bải buôi nữa. Họ thấy hai người ấy được địa vị tự do, họ ghét, nên nói thêu dệt nhiều lời, cũng như ngày trước lúc đám cưới con tôi ở Sài Gòn, họ đồn huyễn rằng môn đệ ‘’Thiên Chúa Giáo’’ sẽ kéo nhau để mà làm khó cho tôi vậy. Ở đời có nhiều việc phi lý lắm, mà cũng may vì những kẻ bày điều, đặt chuyện mà đồn huyễn như vậy thường người ta thấy rõ trí ý của họ liền. Người ta bỏ qua, không ai thèm tin, rồi lời đồn ấy không có chi hết.
Kỳ trung tôi cũng mừng lắm, vì Đại Nhân đã có danh giá là một Nhà Tâm Lý Học, không đến nỗi dùng lầm một người hiểm nghèo, như độc dược (Pène Siéfert) với một tên phản thần (Trương Vĩnh Ký). Đại Nhân dùng hai tên nầy ấy là Đại Nhân muốn làm theo như lời tục của La-tinh nói: ‘’Contraria contrariis curantur’’ (Người nghịch là người làm nên cho mình).
Tôi nhơn diệp (dịp) nầy mà tỏ cho Đại Nhân hay rằng Đại Nhân đã gởi gấm tôi cho Quan Tổng Đốc Sài Gòn, mà ngày tôi ở Sài Gòn ra đi (7 Juin) ông Villand là quan quyền Hiệp Lý lại ban hành một đạo Nghị Định cho tôi nghỉ 3 tháng không có lương bổng. Tôi tỏ việc nầy với Đại Nhân là có ý muốn cho Đại Nhân thấy nhiều người ghen ghét tôi một cách xấu xa y như lời tôi đã nói với Đại Nhân hồi trước. Họ muốn làm hại tôi, mà họ biết cách làm hại lắm. May Đại Nhân tin yêu tôi cũng như tôi đã báo cái thù ấy được rồi.
Tôi có được tin nhà, Gia Quyến tôi đều bình yên. Vợ Trương Vĩnh Viết mới cưới được một năm, hôm ngày 16 Juin nó sanh được một đứa con trai.
Gia quyến tôi đồng hiệp với tôi mà cầu cho Đại Nhân được công thành danh toại và xin Đại Nhân trao lời lại với lịnh phu Nhân và quí quyến rằng: Chúng tôi kính chúc mạnh giỏi.
Ký tên
Trương Vĩnh Ký
THI, VĂN
TẶNG THI
đồng khánh hoàng tặng thi và lời tự
(nguyên chữ nho lược dịch)
BÀI TỰ
Trương Vĩnh Ký Nam Trung Ẩn Sĩ,
Đã phong cho Thị Giảng Hàn Lâm.
Giải thông các nước tự âm.
Ngự Diêm khuya sớm lao tâm chẳng nài.
Khen người thật có tài Bác Học,
Du Lịch cùng Đại Lục, Á, Âu.
May đâu thinh khí tương đầu!
Niềm công Ái Quốc, chước mầu kinh bang.
Trong sáu tháng luận bàn quốc sự,
Rối loạn nhờ khu xử được yên
Vội chi về chốn cố viên?
Mới mầng tri ngộ, lại phiền biệt ly!
Chín vật báu (*) trao tay chẳng tiếc,
Tiếc thay người minh triết bảo thân,
Ngày nào gặp được Cố Nhân?
Thỏa tình bằng hữu, quân thần mới an.
Chú thích:
(*) Tặng: 1.- Lương ngọc như ý; 2.- Ngọc Khánh có bốn chữ khắc: Hiếu, Đễ, Trung, Tín; 3.- Sừng Tây 1 cái; 4.- Tủ cẩn 1 cái; 5.- Vàng 19 lượng; 6.- Gấm 3 cây; 7.- Lụa 8 cây; 8.- Súng 2 cây; 9.- Chân dung 1 bức.
BÀI THI
Thương Hải sóng nghinh ngang
Đơn Kỳ iữa muốn tàng!
Lòng lo thêm ức uấc!
Vận nước rất gian nan!
Đã có thần sang hãi
Sao không kẻ đống lương?
Nguồn trông trời Lộc Giã.
May gặp khách Mai Cang.
Học thức trên Âu-Á.
Mưu Mô đủ phú cường.
Tao phùng đôi ý hiệp,
Báo đáp một lòng đang.
Cây Sỡ tuy dùng được,
Chim Nam khó nổi màng!
Nhớ lời trung tín đó,
Hôm sớm đợi tin sang.
ĐIẾU TỪ
Tây Cống Nhựt Báo (Le courrier de Saigon) 7 Septembre 1898.
(Nguyên chữ Pháp lược dịch)
Hôm qua có xảy ra một đám tang rất long trọng là cuộc tống chung ông Pétrus Trương Vĩnh Ký nơi phần mộ tại Chợ Quán.

Trong Lục Châu đều có đủ mặt người Nam và Pháp đến đưa linh cữu ngài, rùm tai tiếng khốc, than người Danh Sĩ vội vã theo truyền Tạo Hóa khéo sớm rước đi xa, nghĩ càng thảm thiếc!!!
Từ bữa thứ sáu, cái thơ phòng của Trương Tiên Sanh đã cải ra là một cái nhà thờ nho nhỏ ngày đêm mùi hương rực rức, lạp chúc rỡ ràng.
Trong ba ngày rày tựu hội tại Sài Gòn các Thượng Quan Langsa và bổn quốc, một là bằng bối của Tiên Sanh, hai là môn đệ của Tiên Sanh thảy đều giọt lụy chứa chang, đứng nhìn nhau tuồng ngơ ngẩn.
Ngoài ra những người lạ chẳng luận đạo nào, cùng các Nhà Công, Thương, Hào, Phú Trung Hoa ở Chợ Lớn, Sài Gòn đều có gởi thư chia buồn và làm lễ điếu.
Những người Âu Tây làm lễ rất kính, còn người Annam cứ lạy ba lạy. Nhiều ông xin tang chủ đặng chịu tang phục trong một tháng để tỏ lòng sùng bái vĩ nhân.
Trong cái quan tài kín mít ráp lại bằng bốn tấm ván coi như gỏ, như lim chi chi mà người Đạo Đức Văn Chương đành ngủ nơi đó một giấc ngàn thu, đau lòng biết mấy!!!
Trước ngực Tiên Sanh chiếu sáng rỡ cái Mề Đay điều đó là chỉ rõ những công lao phò tá lưỡng bang chánh phủ.
Theo phong tục nhà Nam, khi nào có ai lìa cõi thọ, thời các nhà ‘’Nho’’ đều làm thơ hoặc phú đặng tỏ cái hành trạng của người trong lúc sanh tiền.
Môn đệ của Trương Tiên Sanh đều là người tài danh cả, như: Ông Trương Minh Ký, ông Diệp Văn Cương và ông Nguyễn Trọng Quãn đồng đặt một bài Văn mà Tế Thấy.
Các người Âu Châu đã lâu năm cư ngụ tại Nam bang và các ông thân bằng cố hữu của Trương Tiên Sanh ơi! Các ông hãy đọc bài văn tế đó của chúng ta lựa rút đăng sau nầy, hầu để làm kỷ niệm.
Bài văn tế như vầy:
Nhớ Thầy Xưa
Nên đứng Thông Minh,
Thiệt tràng Văn Phú;
Sang dường ấy, trọng dường ấy,
Ngó công danh trong mắt như không!
Kiêu chẳng hề, lẩn chẳng hề,
Xem tánh hạnh trong đời ít có;
Việc chữ nghĩa nhọc lòng biên đặt,
Lắm thuở công phu;
Dạy học hành ra sức vun trồng,
Nhiều lời khuyên dỗ,
Ôi!
Tưởng còn lâu hưởng lộc trời,
Hay đã sớm lìa cõi thụ,
Bướm Trang Sanh một giấc, mình cỡi chốn vĩ cơ;
Hạt Đinh Lịch trăm năm, hồn nương nơi vân vụ,
Người tuy mất mà danh chẳng mất, tiếng hãy còn đây;
Coi sách Thầy mà học ý Thầy, hình như Thầy đó.
Hỡi ôi! Tiếc thay! Hỡi ôi! Thương thay!
Môn Sanh: Trương Minh Ký, Diệp Văn Cương, Nguyễn Trọng Quản đẳng đồng bái.
4 Septembre 1898.
NAM KỲ NHỰT BÁO
Kính điếu Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký Tiên Sanh
Vương hội ghe phen thảm gió mây,
Vì Nam thay mặt rõ ngôi thầy.
Mười phương chữ nghĩa tái danh trọng.
Muôn kẻ con em đức trạch đầy.
Thời thế để nao khi tấn thối,
Đạo tâm xin vẹn với cao dày.
Sau mươi hai tuổi chưa rằng thụ,
Một bức xuân sạng vẻ chẳng tày.
Gia Định, Trúc Am
Đặng Thúc Liêng
Bái
TRƯƠNG SĨ TẢI
TIÊN DU
Hỡi ôi!
Nước sông Hà lẻo lẻo,
Xưa nay trông thấy có bao nhiêu?
Đá non Thái trày trày,
Phút chốc tan tành không mấy lát.
Nhớ tôn hiền xưa:
Đấng bực thông minh, nên người hoát đạt.
Nợ tang bồng vương vấn.
Chung vui giữa cuộc lâu dài,
Nền đạo nghĩa vun trồng,
Nào phụ những ngày lê hoác,
Dốc chí mở mang giáo hóa,
Đêm sách đèn đợi sáng thức khuya;
No lòng gói ghém văn chương,
Ngày cơm nước quên xơi biếng khát,
Sắp cuốn nầy, chua cuốn khác, phí lương tiền phó tử.
Nào Annam lễ tiết, nào Huấn nữ cách ngôn,
Nào Địa dư danh hiệu; dạy người dường chẳng mỏi,
Nhằm nay làm ít kẻ ra công.
Tiếng nước nọ, chữ nước kia, rộng kiến thức lập thành;
Nào Tự vị giải âm, nào Học quí thôn khảo.
Nào Văn tự nguyên lưu; trí nhớ rất lạ thường,
Sách xưa học mấy người đặng bác;
Mựa phải se sua đất Bắc,
Nam Kỳ đã rõ mặt sông non;
Lựa là rạng tỏ phương Đông,
Tây vực cũng khen người đài các,
Trên sang cả, lễ nghi gìn giữ,
Cùng người chẳng nết kêu ngoa.
Dưới nhỏ nghen, nhân nghĩa, vỗ về,
Với trẻ quên mình tuổi tác.
Người ấy, tài đức ấy,
Nhựt trình nghe bệnh ước xảy qua;
Dè đâu, thình lình đâu,
Dây thép đánh lòng dường tan nát.
Ôi!
Sao Bắc đẩu lờ mờ;
Cõi nam thiên mang mác.
Văn bửu viện thấp cao chất thảm.
Sách xưa còn bút tích rõ ràng;
Nhơn giang thôn cây cỏ giăng sầu,
Mây tối giục nhân tình bát ngát.
Tưởng dầu tưởng, một phương trời chia kiếm cổ.
Nương cánh thần, về với thánh,
Biết bao vui vẻ linh hồn;
Thương là thương, ba tấc đất lấp văn chương.
Khi gió thảm, lúc mưa sâu,
Ước đặng nhẹ nhàng phần xác.
Đâu dám trách đấng chí tôn rằng hẹp,
Sanh cũng ngoài sáu chục,
Cớ gì phần Bành Tổ quá lâu?
Nhưng mà than người quân tử chẳng nao,
Biết cũng phải một lần,
Việc chi cửa Vêrô vội khóa?
Vọi vọi người tuy mất đó,
Sách dọn đã rả tay,
Sờ sờ dạo cũng còn đây,
Gương soi dường thấy mặt.
Khôn cùng lời thương tiếc,
Văn vài câu sống sít vẻ vang;
Xin chứng lễ ngay tin,
Lòng một tâm trước sau ghi tạc,
Hởi ôi thương thay!
Hỡi ôi tiếc thay!
Vản sanh: Nguyễn Khắc Huề
Khóc điếu.
VĂN KHỐC QUAN ĐỐC
Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký
Hỡi ôi!
Bắc đẩu lờ mờ,
Thái sơn tan tác,
Mây lấy mịt mù cõi thụ,
Đảnh hổ lặng lẽ vắng hơi rồng;
Trăng soi quạnh quẻ đêm thu,
Huê biểu nghêu ngao nghe tiếng hạc,
Sông Tương lao xao sóng đợn,
Mất gươm linh khó nỗi mò sâu;
Núi Nam lố xố dây leo,
Xiêu cột cả biết đâu che mát.
Nhớ linh xưa:
Nết đất văn chương,
Tánh trời minh đạt,
Có vẻ người quân tử, nực danh thơm quế phúc lang phương;
Nên đứng bực trượng phu, dời tiết rạng kim truy ngọc trác.
Lời riu ríu ở cùng chòm xóm,
Chẳng cậy mình sang trọng mà liêu căng!
Lòng thinh thinh giúp những con em,
Chẳng thấy kẻ khó hèn mà khi bạc.
Bền chi dạy người chẳng mỏi,
Ơn tác thành nhiều lớp nhiều công!
Để lòng coi sách không quên,
Nghề văn học một ngày một bác.
Mấy pho sách văn chương sắp đặt,
Phòng mở mang cho kẻ hậu sanh;
Bao nhiêu người quyền qui ra vào,
Thảy kính mến là người tiên giác,
Vưng sứ tiết thuở trông chừng tày địa,
Hết sức tài bồi quấc mạch.
Giao hòa xong Cần hải sóng em;
Phụng loan âm khi tới phủ Thừa Thiên.
Ra tay trù toán miếu đường,
Công tích để Bình san đá tạc.
Biết đủ tiếng tứ phương tự thoại,
Thông dịch đều đông địa tây bang,
Thiệt nên người bác sĩ danh nho,
Chiêm ngưỡn khắp Nam Kỳ Bắc Hải.
Ôi!
Lánh mình dương hưởng cuộc vinh hoa,
Giúp nước những từ khi khái thác,
Tử sanh đô thị mạng,
Cửa phù sanh bóng ác chạy vo vo,
Vinh tụy các hữu kỳ,
Đường nghịch lử vỏ cu qua thoát thoát.
Đêm đêm ngóng vào nơi bửu viện,
Bàn ngồi khều leo lét đèn chong;
Chiều chiều trông về chốn văn phòng,
Sách đê lật lao xao gió khoác.
Cảm động cỏ huê sầu hẻo hắc,
Ngậm ngùi trông tượng vẽ bóng in;
Mến yêu già trẻ khóc dầm dề,
Đau đớn tới lòng người nước khác.
Trong trăm tuổi ở đời bào ảnh,
Luống tiếc trong miền nam địa, cớ sao mất kẻ tư văn;
Ngoài sáu mươi về chốn ngọc lâu,
Riêng than trên cõi thiên đàng, để thiếu chi người bút trác,
Tôi nay:
Học hành theo bổn thiện chi sơ,
Quen thuộc ở hà phu chi mạc.
Thản mảng đáp tình chưa đặng toại,
Mắc việc quan ngàn dặm phui pha,
Bơ thờ nghe bịnh tưởng đà an,
Thấy dây thép chín chiều sản lạc.
Tạm thảo bày lòng hèn mọn,
Khôn cùng đoạn thảm sông non;
Kính dưng khốc kẻ cao xa,
Xin chừng chút tình cỏ rác.
Hởi ôi thương thay!
Hà Đăng Đáng
Thầy dạy chữ Nho tại Trường Bến Tre.
ĐIẾU QUAN ĐỐC TRƯƠNG SĨ TẢI BIỆT TRẦN
Cảm đức bấy lâu nghĩ cuộc đời,
Đặt bày dạy dỗ khắp nơi nơi,
Bền lòng gắn gổ ưa mùi đạo,
Rèn chí âu lo hưởng tánh trời,
Tiếng đạt tưởng nhờ người nhắc nhở,
Sông thù mong được trẻ đua bơi.
Dè đâu Bắc đẩu đêm lờ lạc,
Ngàn thuở trông sao thấy đặng người.
Bến Tre ki lục
Nguyễn Dư Hoài
Bái điếu
KHỐC TRƯƠNG SĨ TẢI TIÊN SANH
Trời Nam mù mịt áng vừng mây,
Bỗng chúc xa che khuất bóng thầy.
Ngòi viết tiên sanh nghiên ráo cạn,
Giọt châu tử đệ mắt trông đầy.
Trau gồi đạo thánh lòng siêng sẳn,
Giúp đỡ nhà vua chí cả dày.
Sống thác cũng còn danh tiếng để,
Làm người như vậy ít ai tày.
Phan Hoằn Đạo
Bái
CỬU LONG GIANG NHỰT BÁO (LE MÉKONG)
Báo văn rất dài không lục, đại ý tỏ dấu yêu thương người đạo đức, văn chương như Trương Tiên Sanh là ít có.

BÀI VĂN ĐIẾU TỪ CỦA M. PICANON THỐNG ĐỐC NAM KỲ
(Discours prononcé par M. le Lieutenant Gouverneur de la Cochinchine sur la tombe de m. Trương Vĩnh Ký)
(Nguyên văn chữ pháp lược dịch)
Vì Quan Toàn Quyền, vì Thuộc Địa, và lại vì tôi, nên tôi đứng giữa đây đặng tỏ ít lời từ giã một đấng vĩ nhân, là ông Giáo Sư kiến thức, ông quan trung tín của xứ Nam Kỳ đã mất rồi.
Đã hèn (từ) lâu Trương Tiên Sanh hết lòng giúp đỡ Pháp Quốc và Thuộc Địa. Vậy nên Pháp Quốc và Thuộc Địa hằng ghi tạc ơn nghĩa của Tiên Sanh. Tôi xin tỏ cùng Bửu Quyến của Tiên Sanh cái tấm lòng thành thật của tôi, và tôi xin tỏ ý chắc những người giúp việc cho chính phủ thảy đều đau đớn, yêu mến Tiên Sanh như tôi vậy.
Từ rày sấp về sau Trương Tiên Sanh đã bỏ trống cái ngôi dạy dỗ tiếng Á Đông đi rồi! Ngày sau ai mà đáng lãnh cái chức trách ấy nữa?
Chắc khi Tiên Sanh cũng đem theo vào mồ nhiều sự tình tự yêu mến của các người đã tầng quen thuộc với Tiên Sanh, mà đã biết Tiên Sanh là nhà đạo đức, văn chương.
Trương Tiên Sanh ôi! Từ đây vĩnh biệt, hết trông gặp mặt nhau rồi!!!
PHỤ DẪN LỊCH SỬ CỦA ÔNG PAUL BERT
(nguyên chữ pháp ‘’pháp văn tân đại tự điển’’)
Paul Bert là người chuyên môn ‘’Sanh Lý học’’ và thuộc Chánh Trị Gia, sanh tại Thành Auxerre (Département Yonne, France) năm 1833.
Paul Bert thi đỗ Y Khoa và Bác Vật Khoa Tấn Sĩ, lãnh chức Giáo Sư (professeux) tại Đại Học Đường Bordeaux (Faculté de Bordeaux) và Cao Đẳng Học Đường. Nổi danh là kẻ có công tìm kiếm và chế biến Hóa Học. Sau khi Cách Mạng (1870), lãnh chức Thư Ký Thành Yonne, làm Tri Phủ (préfet) Quận Nord. Đắc cử Thần Sĩ Thành Yonne (1872), chủ nhậm một phần chức trách lớn trong cuộc Quốc Sự Biện Luận và lo tu bổ Ty Giáo Huấn như:
1.- Xin nhà nước phải lập Trường Trung Học Sư Phạm.
2.- Xin định lệ phát lương hưu trí mấy giáo sư.
3.- Phụ cấp tiền mướn nhà của các giáo sư.
4.- Xin dưỡng dục những sơ học học sanh và xử dân phải học.
Năm 1881-1882, lãnh chức Học Bộ Thượng Thư, lúc Gambetta làm Thủ Tướng.
Janvier 1886, lãnh chức Đông Dương Toàn Quyền Đại Thần. Khi đó ông tận tâm lo cải cách sự chánh, giáo và sự thương mãi cho Thuộc Địa.
11 Novembre 1886, quyên quáng tại Tonkin.
Paul Bert có danh Bác Học hay trước thư, lập ngôn.
Năm 1875, ông được ưu thưởng ‘’Grand Prix Biennal’’, và được làm Hóa Học Hàn Lâm Viện hội viên.
Ngoại trừ những bài nói về hóa học của ông đăng trong báo La république Française, thời còn nhiều thứ sách khác nữa, rất có ích cho sự giáo huấn như:

1.- De la Greiffe animale
2.- Recherches sur les mouvements la sensitive.
3.- Machine animale.
4.- Pression barométrique.
5.- La Moralle des Jésuites.
6.- Leçons de Zoologie.
7.- L'enseignement laique.
8.- Leçons d'anatomic et de physiologie animales.
Đặng Thúc Liêng
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét