Napoléon Bonaparte 4
CHƯƠNG 15
chiến dịch nước pháp
sự thoái vị lần thứ nhất
1
Trong năm 1814, cũng như trong suốt cuộc đấu tranh của
Napoléon với Châu Âu năm 1813, Napoléon chỉ huy hoàn toàn và trông cậy vào lực
lượng vũ trang. Tuy nhiên Napoléonn cũng nhận thấy rằng, sau trận Leipzig và
trước ngày quân Liên Minh xâm lược nước Pháp thì không thể hành động như hồi
tháng 7 và tháng 8 năm 1813 được nữa, hồi Napoléon cố tình phá hoại Hội Nghị
Prague. Ngoài nước Pháp ra, lúc bấy giờ người ta còn đồng ý để lại cho Napoléon
tất cả những đất đai đã chiếm được, trừ vùng Illyria, các thành phố đồng minh
thương nghiệp ở miền Tây Bắc nước Đức và một vài vị trí ở nước Đức cùng với tất
cả các danh vị và quyền đặc lợi, trừ danh vị và quyền lợi của người bảo hộ Liên
Bang Sông Rhine. Nhưng Napoléon đã phá vỡ các cuộc đàm phán, những mong thanh
toán gọn Khối Liên Minh bằng một trận đánh. Những điều kiện mà hiện nay người
ta đưa ra với Napoléon chắc chắn là tệ hơn, Nhưng Napoléon biết rằng nông dân
và thợ thuyền, tư sản thương nghiệp và công nghiệp và tầng lợp công chức đông đảo
mà Napoléon đã tạo nên, và điều quan trọng nhất là Bộ Tư Lệnh Tối Cao của quân
đội đứng đầu là các Thống Chế, nói tóm lại, toàn thể nhân dân bao gồm mọi giai
cấp, trừ một số rất ít trường hợp ngoại lệ, đều đã mệt lả vì chiến tranh và
khao khát hòa bình. Cho nên Napoléon không trắng trợn từ chối cuộc đàm phán do
Saint Aignan chuyển đạt, đồng thời còn làm ra vẻ mong muốn hòa bình, nhưng
Napoléon đã kéo dài công việc trong gần hai tháng trời (kể từ ngày 15 tháng 11
năm 1813, ngày Napoléon nhận được những điều kiện giảng hòa). Không phải vô cớ
mà Napoléon hy vọng quân Liên Minh sẽ vi phạm những điều kiện do chính họ đã
đưa ra và như vậy họ sẽ phải chịu trách nhiệm về việc chiến tranh tiếp diễn.
Napoléon biết rằng trừ nước Áo ra thì không một nước nào hiện đang chiến tranh
với ông lại mong muốn triều đại của ông tồn tại lâu dài và đặc biệt là nước Anh
ắt sẽ không hài lòng chừng nào tỉnh Antwerp còn nằm trong tay ông. Nhưng, theo
những điều kiện từ Frankfurt gửi đến cho Napoléon thì toàn bộ nước Bỉ (chứ
không riêng gì tỉnh Antwerp) vẫn sẽ tiếp tục nằm trong đế quốc Pháp. Napoléon
còn biết rằng càng làm trì trệ công việc thì càng tạo cơ hội tốt cho
Castlereagh, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Anh, bác bỏ những điều kiệm mà Thượng Nghị
Sĩ Aberdeen đã ưng thuận ở Frankfurt hồi đầu tháng 11, dưới áp lực của
Metternich. Nhưng trong khi chờ đợi, Napoléon cần phải làm ra vẻ rằng hiện nay
ông ta không hề gây trở ngại gì cho cuộc đàm phán hòa bình và nếu như Napoléon
có trưng binh một lần nữa thì không phải để chiến tranh mà chỉ để làm hậu thuẫn
cho thiện chí hòa bình của ông ta. “Tôi không phản đối gì việc lập lại hòa bình
- đó là lời của Napoléon trong bài diễn văn khai mạc khoá họp của Thượng Nghị
Viện ngày 19 tháng 12 năm 1813 - Tôi rất hiểu và rất thông cảm với quan niệm của
người Pháp, tôi nói người Pháp bởi vì không một người Pháp nào muốn đổi danh dự
lấy hòa bình. Rất tiếc tôi phải đòi hỏi ở nhân dân hào hiệp này những hy sinh mới;
nhưng những hy sinh ấy đều do những quyền lợi cao cả và quý báu nhất của họ đòi
hỏi. Tôi đã phải tăng cường quân đội của tôi bằng nhiều cuộc động viên mới; các
quốc gia chỉ có thể yên ổn thương thuyết bằng cách tung hết lực lượng của mình
ra”. Rõ ràng Napoléon không muốn hòa bình. “Sao cho những thế hệ mai sau đừng
nói về chúng ta rằng: Họ đã hy sinh những quyền lợi căn bản của đất nước; họ đã
phục tùng những quyền lực mà từ bốn thế kỷ nay nước Anh đã không bắt nổi nước
Pháp phải theo”. Diễn từ của Napoléon kết thúc như vậy để đáp lại cuộc đàm phán
hòa bình của các cường quốc đã khai mạc từ hơn một tháng nay. Tháng 1 năm 1814,
11 vạn tân binh được gọi nhập ngũ. Một cuộc động viên mới được quyết định.
Napoléon phái một số Thượng Nghị Sĩ đi khắp nước Pháp để động viên nhiệt tình của
các cấp chính quyền địa phương trong việc tuyển quân và thu các thứ thuế thường
lệ và bất thường để nuôi quân đội. Ngay từ tháng 1 năm 1814, người ta được tin
rằng cuối cùng quân đội địch đã vượt qua sông Rhine và làn sóng xâm lược đã
tràn vào Alsace và Franche Comté, rằng Wellington đã vượt qua rặng Pyrenées và
đang tiến vào miền Nam nước Pháp... “Tôi không sợ phải thú nhận việc đó, - đó
là lời Hoàng Đế nói với các Thượng Nghị Sĩ được phái đi các tỉnh - tôi đã chiến
tranh quá nhiều, tôi đã có những dự án lớn lao, tôi đã muốn bảo đảm cho nước
Pháp quyền bá chủ trên thế giới. Tôi đã nhầm, những dự án đó không tương xứng với
lực lượng dân số của dân chúng nước ta. Đáng lẽ phải gọi toàn dân nhập ngũ, và
tôi đã nhận thấy được điều đó, nhưng những yêu cầu cả tiến bộ xã hội và cả sự
thuần hoá phong tục đã không cho phép biến cả một quốc gia thành toàn dân vi binh”.
Nếu các Thượng Nghị Sĩ không muốn mất khẩu khiếu trong suốt thời gian trị vì của
Napoléon thì ắt họ đã có thể trả lời ông Hoàng Đế rằng Hoàng Đế đã quá khiêm tốn
và rõ ràng là Hoàng Đế đã biến cả nước thành binh lính, trừ đàn bà, con trẻ và
người già. “Tôi phải chịu lỗi vì quá tin vào vận hội của tôi, và tôi sẽ chịu...
tôi mắc sai lầm thì chính tôi phải chịu - Hoàng Đế nói tiếp - chứ không phải là
nước Pháp. Nước Pháp không mắc sai lầm, nước Pháp đã không tiếc cho tôi máu, đã
không từ chối một sự hy sinh nào đối với tôi...”. Napoléon coi việc ký kết hòa
bình là một sự hy sinh mà cá nhân ông phải chịu. Napoléon nói: “Còn tôi, tôi chỉ
dành lại cho tôi cái vinh dự là phải can đảm phi thường, tức là can đảm từ bỏ
cái tham vọng cao quý nhất chưa từng có, và vì hạnh phúc của dân chúng, tôi can
đảm hy sinh những dự kiến lớn lao chỉ có thể thực hiện được bằng những cố gắng
mà tôi không muốn đòi hỏi nữa”. Rất ít khi Napoléon nói thành thật như trong dịp
này. Nhưng Napoléon không tín nhiệm gì mấy các Thượng Nghị Sĩ. Người ta có thể
tóm tắt ý kiến của Napoléon về các Thượng Nghị Sĩ như thế này: Hôm nay là nô lệ,
ngày mai là kẻ phản bội. Napoléon không còn nghi ngờ gì nữa về sự phản bội của
Talleyrand. Vừa mới trở về đến Paris sau trận Leipzig vào tháng 11 năm 1813,
trong một cuộc đại trào, Napoléon đã dừng lại trước mặt Talleyrand, lớn tiếng hỏi:
“Ông đến đây làm gì? Tôi biết là ông tin rằng ông sẽ làm thủ lĩnh nếu như vừa rồi
tôi chết đi. Hãy coi chừng, thưa ông, chống lại quyền lực của tôi, không được
đâu. Xin báo để ông biết rằng nếu tôi ốm nguy kịch thì ông sẽ chết trước tôi!”.
Tuy vậy, Napoléon cũng không cho xử bắn Talleyrand, như đã có lúc con cáo già ấy
lo sợ, mà tháng 1 năm 1814, Napoléon lại còn yêu cầu Talleyrand cùng đi với
Caulaincourt để tiến hành đàm phán với quân Liên Minh, và đã giơ nắm đấm dọa
khi Talleyrand từ chối. Napoléon không còn tin Fouché, cũng như các Thống Chế của
ông ta; ông ta chỉ còn tin vào binh lính, nhưng chỉ tin các cựu chiến binh, chứ
không phải những binh lính chưa đến tuổi thành niên mà trong hai năm sau cùng,
ông ta đã bức họ phải lìa bỏ gia đình. Song số cựu chiến binh chẳng còn là bao:
Ở vùng thôn quê La Mã, trên cao nguyên Madrid, ở những vùng lân cận Jerusalem,
trên con đường từ Moscow về đến sông Berezina, trên khắp cánh đồng Leipzig,
xương cốt của họ còn phơi trắng ngổn ngang. Napoléon đã phải cấp tốc gọi về những
người còn sống sót trong số những đám quân cũ ở Tây Ban Nha, ở Hà Lan và ở Ý.
Tuy nhiên, Napoléon vẫn muốn chiến tranh, không muốn nói đến hòa bình. Vả lại,
sau hai tháng lần lữa và sau khi đã chà đạp lên đất nước Pháp thì quân Liên
Minh, tin vào việc nước Pháp đã mệt mỏi rã rời và vào tỷ lệ đảo ngũ ngày càng
nhiều trong các tầng lớp binh lính mới gọi nhập ngũ của quân đội Pháp, đã xác định
trong tư tưởng rằng sẽ chỉ để lại cho Napoléon những đường biên giới cũ của nước
Pháp vào năm 1790, nghĩa là không bao gồm nước Bỉ, nước Hà Lan, xứ Savoy và tả
ngạn sông Rhine chiếm được từ thời kỳ Cách Mạng. Như vậy là vẫn còn ít hơn so với
những đề nghị hồi tháng 11 năm 1813, nhưng lần này phe Liên Minh đều đồng ý, kể
cả thượng nghị sĩ Castlereagh, người đã thân chinh đến tận tổng hành dinh của
quân Liên Minh.
Hội nghị hòa bình đã họp ở Châtillon, nhưng các cuộc đàm phán
đã không mang lại kết quả gì. “Trước bản đề nghị nhục nhã mà ông đã gửi cho
tôi, tôi bị kích động đến nỗi thấy rằng dù chỉ đặt tôi vào cái thế mà người ta
đã đề nghị với ông cũng đã là mất hết danh dự rồi...”. Napoléon viết như vậy
cho Caulaincourt, đại diện của ông ta ở hội nghị, khi Caulaincourt báo cho
Napoléon biết đó là sự hy vọng cuối cùng để giữ được ngai vàng và ngăn ngừa sự
phục hưng của dòng họ Bourbon được quân đội Liên minh giúp đỡ. “Lúc nào ông
cũng nói đến bọn Bourbon. Chẳng thà tôi đành thấy bọn Bourbon phục hưng ở nước
Pháp hơn là tôi phải chịu nhận những đề nghị nhục nhã mà ông gửi”. Chiến tranh,
chiến tranh phải định đoạt tất cả. Hội nghị giải tán, không làm nên được trò
gì, nhưng cũng đã ở vào giai đoạn giữa cuộc chiến tranh tuyệt vọng của Napoléon
chống Khối Liên Minh. Đêm 24 rạng ngày 25 tháng 1 năm 1814, Napoléon lên đường
chinh chiến. Ông giao quyền nhiếp chính cho vợ là Marie Louise. Trường hợp
Hoàng Đế chết thì đứa con trai của Hoàng Đế, ông vua nhỏ thành Roma, lên ba tuổi,
sẽ được đặt lên ngôi ngay, và Marie Louise vẫn giữ quyền nhiếp chính.
Trong đời mình, Napoléon chưa hề yêu ai như đứa trẻ này. Những
người biết rõ Hoàng Đế đã không thể ngờ được rằng Hoàng Đế lại có thể quyến luyến
với đứa bé đến như vậy, hơn với bất cứ ai. Khi Hoàng Đế ngồi làm việc trong
phòng của mình, bên cạnh lò sưởi, đang viết hoặc đọc sách, đứa bé không rời khỏi
đầu gối của Hoàng Đế, đứa bé không muốn rời khỏi gian phòng và đòi bố phải chơi
lính chì với nó, Meneval, một trong những thư ký riêng của Napoléon đã kể lại
như vậy. So với tất cả mọi người ở trong triều, chú bé này là người duy nhất
không e sợ Hoàng Đế chút nào và chú ta cảm thấy mình hoàn toàn làm chủ trong
phòng làm việc của Hoàng Đế. Suốt cả ngày 24 tháng 1, Napoléon ngồi trong phòng
làm việc, bận giải quyết gấp các công việc khẩn cấp trước khi lên đường đi đánh
trận quyết định này, cuộc đọ gươm đáng sợ với toàn thể Châu Âu đứng lên chống
Napoléon. Chú bé với con ngựa gỗ vẫn quẩn quanh bên bố như thường lệ, và cuối
cùng lấy làm khó chịu khi thấy bố miệt mài trên đống giấy tờ, nó kéo áo bố để bắt
phải chú ý tới nó. Hoàng Đế nhấc bỗng đứa con tung lên không rồi lại bắt lấy để
nô đùa với nó. Thích thú, chú vua nhỏ thành Roma cuống quýt hôn bố. Tối đến,
người ta ẵm nó đi ngủ. Vào hồi ba giờ sáng, người vú, đêm ấy đến phiên trực
trong phòng của thái tử, bất chợt thấy Napoléon “rón rén bước vào”, còn
Napoléon thì không biết người vú đang nhìn mình. Napoléon đến đứng bên cạnh cái
nôi của đứa con đang ngủ say sưa, chăm chú ngắm nghía hồi lâu. Lát sau,
Napoléon đã lên xe và đến với quân đội. Từ đó, không bao giờ còn gặp lại đứa
con trai của ông ta nữa.
2
Việc huấn luyện tân binh chưa xong, việc trưng binh vẫn tiếp
tục, Hoàng Đế và các Thống Chế mới chỉ có 4 vạn 7 nghìn quân sẵn sàng chiến đấu
được, còn Liên Minh đã dàn ra 23 vạn quân và một số quân gần bằng thế nữa đang
cấp tốc kéo đến tăng cường trên nhiều ngả đường khác nhau. Hầu hết các Thống Chế,
kể cả Ney, đều ngã lòng. Napoléon là người duy nhất còn đầy hăng say và khí thế,
và ông ta cố gắng truyền lại cho các Thống Chế tinh thần lạc quan ấy. “Napoléon
tỏ ra cương nghị và như trẻ lại”, những người chứng kiến đã kể lại như vậy. Đến
Vittoria ngày hôm trước thì ngày hôm sau, 26 tháng 1, Napoléon cho tập trung hết
lực lượng và đã đánh bật được Blücher ra khỏi Saint Dizier. Từ Saint Dizier,
sau khi đã quan sát được hành động của quân Phổ, Napoléon tiến đánh quân Phổ và
đánh quân đoàn Nga của Osten Sacken. Ngày 29 tháng 1, ở Brienne, Napoléon đã
đánh thắng một trận mới vô cùng gay go, và trận này đã khôi phục tinh thần cho
binh sĩ, lúc đó đang bạc nhược lên rất nhiều. Blücher bị đánh bại, vội vã lui về
Bar Sur Aube, nơi mà chủ lực quân của Schwarzenberg đã đến tập trung. Quân Liên
Minh điều động một khối 12 vạn 2 nghìn quân ở khoảng giữa Saumon và Bar Sur
Aube. Trong tay chỉ còn hơn 3 vạn quân, nhưng Napoléon quyết tâm nghênh chiến,
không lui. Trận Rothière đã diễn ra từ tinh mơ ngày 1 tháng 2, kéo dài đến 10
giờ. Sau đó, Napoléon vượt sông Aube không bị địch truy kích và tới Troyes vào
ngày 3 tháng 2. Ở Rothière, quân Pháp có thể tin rằng mình sắp thắng lợi hoàn
toàn; thắng lợi của Napoléon trong việc chống lại được những lực lượng đông gấp
bốn, gấp năm lần thật vô cùng to lớn. Nhưng không phải vì thế mà tình hình
không còn cực kỳ nguy hiểm, quân đội nhận được viện binh rất ít và rất chậm.
Ney, MacDonald, Berthier, Marmont đều cho rằng biện pháp duy nhất để cứu vãn
ngai vàng là đàm phán hòa bình và khi Hội Nghị Châtillon bị thất bại thì họ tỏ
ra buồn bực. Nhưng nghị lực của Napoléon ngày càng lớn mạnh song song với sự hiểm
nghèo. Ngay từ năm 1812, các Thống Chế đã nhận xét thấy ở Napoléon có những biểu
hiện trì trệ, mệt mỏi, hình như thiên tài quân sự của Napoléon bị giảm sút.
Nhưng vào tháng 2 và tháng 3 năm 1814, các Thống Chế không còn tin vào con mắt
của mình nữa và thấy trước mặt họ vẫn là tướng Bonaparte, người anh hùng trẻ tuổi
ở Ý và ở Ai Cập tựa hồ như Napoléon đã trút bỏ được cái gánh nặng của 15 năm trị
vì, 15 năm chiến tranh đẫm máu, 15 năm cai trị một cách độc đoán cái đế quốc rộng
lớn của ông và Châu Âu chư hầu. Napoléon giữ vững tinh thần cho các Thống Chế
và binh lính, làm yên lòng cho các Bộ Trưởng còn lại ở Paris. Ngày 10 tháng 2,
sau vài cuộc hành quân mau lẹ, Napoléon tiến công vào quân đoàn Olssufiev đóng ở
Champaubert và đánh cho nó thất bại tan tành. Hơn 1 nghìn 5 năm trăm quân Nga bị
giết chết, bị bắt làm tù binh chừng 3 nghìn, trong đó có cả viên tướng chỉ huy,
số còn lại bỏ chạy. Chiều tối, Napoléon nói với các sĩ quan thân cận: “Nếu ngày
mai ta cũng gặp may mắn như hôm nay thì 15 ngày nữa, ta sẽ đánh bật quân địch về
đến sông Rhine, và từ sông Rhine đến sông Vistula chỉ còn một bước chân”.
Ngày hôm sau, Napoléon tiến từ Champaubert về Montmirail, nơi
quân Nga và quân Phổ đang trú quân. Trận Montmirail diễn ra ngày 11 tháng 2, đã
kết thúc bằng một thắng lợi mới và rực rỡ của Napoléon. Trong số 2 vạn quân chiến
đấu dưới cờ của Liên Minh thì họ bị tổn thất gần 8 nghìn người, còn Napoléon mất
chưa đầy 1 nghìn người. Quân Liên Minh vội vã rút khỏi chiến trường. Hoàng Đế lập
tức tiến về Château Thierry, ở đó còn khoảng 1 vạn 8 nghìn quân Phổ và 1 vạn
quân Nga. Sau này, Napoléon nói là mình đã lại tìm thấy đôi hài trong chiến dịch
nước Ý. Những nhà bình luận quân sự đánh giá chiến dịch nước Pháp năm 1814 như
một trong những chiến dịch đặc sắc nhất của thiên hùng ca Napoléon và là một
chiến dịch trong đó thiên tài chiến lược của Hoàng Đế đã lên tới điểm tột cùng.
Trận Château Thierry (ngày 12 tháng 2) là một chiến thắng mới của Napoléon. Nếu
MacDonald hành quân không mắc phải sai lầm và chậm trễ thì có lẽ quân Liên Minh
đã bị tiêu diệt.
Ngày 13 tháng 2, Blücher đánh và đã đuổi lui được Marmont
nhưng ngày hôm sau, Napoléon đến ứng cứu và đã đánh bại được Blücher ở
Vauchamps gần Étoges. Trong trận này, tướng Phổ mất 9 nghìn quân. Tuy Napoléon
đã nhận thêm được viện binh và quân Liên Minh đã bị thua liền mấy trận nhưng
tình thế của Hoàng Đế vẫn nguy ngập vì lực lượng của quân Liên Minh vẫn đông gấp
bội. Nhưng những chiến thắng bất ngờ và xảy ra hàng ngày đó đã gieo hoang mang
trong hàng ngũ quân đội Liên Minh, đến nỗi Schwarzenberg, tổng chỉ huy quân
Liên Minh, ít nhất cũng là trên danh nghĩa đã phải phái một trong những sĩ quan
hầu cận đến tổng hành dinh của Napoléon để đề nghị hoãn binh. Hai trận đánh mới
nữa ở Mormant và ở Villeneuve cũng lại đã kết thúc có lợi cho quân Pháp và bức
quân Liên Minh phải tiến hành một cuộc hoãn binh bất ngờ. Napoléon đã từ chối hội
kiến riêng với bá tước Pahlen, phái viên của Schwarzenberg nhưng đã nhận bức
thư của tướng Áo và không trả lời ngay. “Ta đã bắt được từ 3 đến 4 vạn tù binh,
ta đã thu được 200 cỗ pháo và bắt được rất nhiều tướng lĩnh”. Napoléon đã viết
như vậy cho Caulaincourt và tuyên bố rằng ông ta chỉ bằng lòng lập lại hòa bình
với quân Liên Minh với điều kiện là nước Pháp giữ nguyên được “các đường biên
giới thiên nhiên” (sông Rhine, dãy núi Apls, dãy núi Pyrenées). Napoléon từ chối
đình chiến.
Ngày 18 tháng 2, một trận đánh mới lại diễn ra ở Montereau, ở
đó quân Liên Minh đã bị đánh lui, bị thiệt hại 3 nghìn người vừa bị giết vừa bị
thương và 4 nghìn bị bắt làm tù binh.
Theo lời của các nhà quan sát và của các ký giả, ngay cả của
bên đối phương, thì trong chiến dịch năm 1814 dường như hoàn toàn tuyệt vọng ấy,
tài năng của Napoléon đã trội hẳn lên. Song vì Napoléon có ít quân quá, các Thống
Chế (Victor, Augereau) đã suy sụp đến cùng cực, phạm hết sai lầm này đến sai lầm
khác, nên đã làm cho Napoléon không thể khuyếch trương triệt để được những thắng
lợi vừa rực rỡ vừa kỳ quan của ông. Napoléon nóng nảy khiển trách, tức giận la
mắng các tướng tá của mình, thúc ép họ hành động: “Cái lý do mà ông đưa ra
nghèo nàn lắm, Augereau ạ. Tôi đã tiêu diệt 8 vạn quân địch bằng những tiểu
đoàn tân binh không có bạo dạn và vừa mới mặc quần áo. Nếu sáu chục tuổi đời của
ông đã đè nặng lên ông thì ông hãy thôi đi, đừng chỉ huy nữa”. “Hoàng Đế nhất định
không muốn hiểu rằng tất cả những người dưới quyền của Hoàng Đế không phải là
những Napoléon”, một trong những tướng lĩnh của Napoléon viết trong tập hồi ký
như vậy. Sau khi đã nhóm họp hội đồng quân sự. Schwarzenberg thỉnh thị ý kiến
Hoàng Đế Aleksandr, vua nước Phổ, Hoàng Đế nước Áo, và ông đã quyết định đình
chiến với Napoléon một lần nữa. Để tiến hành việc này, người ta cử hoàng thân
Liechtenstein, người đứng đầu một trong những lệnh tộc có tiếng tăm của nước
Áo, mang theo những đề nghị mới đến gặp Napoléon. Hiển nhiên là quân Liên Minh
rất lo lắng và một số trong bọn họ đã muốn giải quyết thật sớm công việc bằng
cách ký một điều ước hòa giải. Napoléon không từ chối tiếp nhận phái viên của
Liên Minh. Bằng những lời lẽ rất nhã nhặn, Liechtenstein cam kết với Napoléon rằng
Liên Minh thật sự mong muốn hòa bình và không muốn phục hưng dòng họ Bourbon.
Tuy nhiên, cuộc đàm thoại đã không mang lại kết quả gì.
Với những thắng lợi rực rỡ đến cực điểm, lúc bấy giờ Napoléon
cho rằng mình đã tiêu diệt được gần một nửa quân số của Liên minh (8 vạn trong
số 20 vạn) nên ông đã ỷ vào ưu thế thuyệt đối về thiên tài quân sự của mình,
cái thiên tài đã giúp ông đánh một kẻ địch vô cùng mạnh mẽ phải thất bại liên
tiếp. Từ Paris, Talleyrand và đồng loã, từ lâu đã có những mối liên lạc bí mật
rất chặt chẽ với quân Liên Minh để chuẩn bị cho dòng họ Bourbon trở lại. Đối với
bọn này, phe Liên Minh giữ thái độ hết sức dè dặt và chính ngay kẻ thù không đội
trời chung với Napoléon, như Aleksandr chẳng hạn, lại ưng để ông vua nhỏ thành
Roma lên ngôi, miễn là Napoléon thoái vị. Nhưng lúc này người ta không bàn đến
chuyện thoái vị nữa.
Người ta biết rằng một tên quý tộc cũ người Pháp, nam tước
vùng Gouhaux, quê quán ở Troyes, đã gửi lên Aleksandr bản kiến nghị ủng hộ dòng
họ Bourbon. Aleksandr trả lời là quân Liên Minh chưa hề có quyết định gì về việc
thay thế triều đại Napoléon bằng triều đại Bourbon và khuyên những kẻ ký kiến
nghị (không phải chỉ có một mình Gouhaux) nên tránh những cuộc vận động nguy hiểm
như vậy. Vài ngày sau khi Napoléon tiến vào Troyes thì Gouhaux bị bắt, bị đưa
ra tòa án binh và bị xử bắn. Sau này, Aleksandr lấy làm lạ rằng không hề thấy
xuất hiện ở những vùng nông thôn nước Pháp ý muốn lật đổ Napoléon. Trái lại, ở
vùng núi Vosges, vùng Lorraine, vùng núi Jura, chính nông dân đã bắt đầu tiến
công vào những binh lính Liên Minh đi rớt lại sau, và biểu thị rõ rệt mối căm hờn
đối với kẻ xâm lược. Những sự việc ấy xảy ra một phần là do nông dân phản ứng
chống lại những vụ cướp bóc của quân Liên Minh cũng như vì họ lo sợ lại phải chịu
đựng dòng họ Bourbon được đưa về bằng “những xe vận tải của nước ngoài” và việc
lập lại những luật lệ phong kiến.
Napoléon đã nhanh chóng cảm thấy điều đó. “Cần phải dùng lại
phương pháp công kích và cách giải quyết vấn đề trong năm 1793”[53] của
ông ta. Napoléon viết như vậy cho các Thống Chế. Nhưng, mặc dầu thất bại, quân
Liên Minh vẫn không ngã lòng. Rất nhiều quyền lợi bị đe dọa. Một loạt chiến thắng
kỳ diệu, mà Napoléon liên tiếp thu được vào lúc tình thế Napoléon dường như tuyệt
vọng, đã dẫn họ đến chỗ lo âu tự hỏi rằng rồi đây sự tình sẽ ra sao nếu con người
ấy, con người mà từ lâu tất cả bọn họ đã phải coi là nhà chỉ huy lỗi lạc nhất của
lịch sử thế giới, vẫn còn ngồi trên ngai vàng, khôi phục được sức lực và hùng
cường trở lại? Lúc ấy, một hoặc hai năm nữa, ai sẽ là kẻ đi tới đích. Vào thượng
tuần tháng 3, Hoàng Đế đã tập hợp được hơn 7 vạn 5 nghìn người; ông tách ra 4 vạn
quân để bám sát hoạt động của Schwarzenberg đang rút lui, còn lại 3 vạn 5 nghìn
quân, Napoléon ném đi truy kích Blücher. Viên quan cai trị khu Soissons đã nộp
thành phố cho Blücher, chỉ nhờ sai lầm ấy Blücher mới thoát khỏi bị tiêu diệt.
Nhưng sau khi tránh khỏi bị bắt. Blücher đã không thể lẩn tránh giao chiến:
Ngày 7 tháng 3, Napoléon đã đuổi kịp và đánh bại Blücher ở Craonne; sau khi bị
thất bại nặng nề, Blücher chạy trốn vào Laon; ở đó, Napoléon đã cố sức để đánh
bật Blücher ra nhưng vô hiệu (vào ngày 9, 10 tháng 3). Tuy vậy, ít lâu sau,
Hoàng Đế cũng đuổi được Blücher ra khỏi đấy, mặc dầu không tiêu diệt gọn được
như đã dự định. Oudinot và MacDonald, được Hoàng Đế giao cho 4 vạn quân để bám
chắc Schwarzenberg đã phải tháo chạy vào vùng Provence. Ngày 9 tháng 3, đại diện
của các cường quốc Liên Minh đã ký ở Saumon một giao ước cùng nhau cam kết trước
hết là sẽ buộc Napoléon phải thu nước Pháp trở về những đường biên giới như trước
năm 1792, giải phóng hoàn toàn nước Hà Lan, nước Ý, nước Tây Ban Nha, nước Thuỵ
Sĩ, tất cả các quốc gia Đức, và sẽ không xếp khí giới chừng nào mục đích trên
còn chưa thực hiện được; ngoài ra, nước Nga, nước Phổ và nước Áo cam kết mỗi nước
sẽ cung cấp 15 vạn quân, còn nước Anh cung cấp cho quân Liên Minh mỗi năm một khoản
viện trợ là 5 triệu đồng bảng Anh trong suốt thời gian chiến tranh. Quân Liên
Minh cũng không thể phỏng đoán được đến bao giờ và làm thế nào để bẻ gãy được sự
kháng cự tuyệt vọng của Napoléon, người mà hiện nay cũng như trước đây không
bao giờ muốn nghe nói đến biên giới cũ.
Trong thời gian này, các Thống Chế của Napoléon gặp hết rủi
ro này đến rủi ro khác. Ở phía Nam, quân đội Anh của Wellington tiến về
Bordaux, sau khi đã đánh lui được các Thống Chế Soult và Suchet. Khuyếch trương
chiến quả. Schwarzenberg tiếp tục đánh MacDonald và Oudinot.
Không để cho quân đội và chính mình có thời gian nghỉ ngơi
sau trận Laon. Napoléon lao vào đánh quân đoàn Nga, Phổ đang chiếm đóng ở Reims
của viên tướng công tước Saint Priest, một kẻ lưu vong người Pháp chạy sang phục
vụ nước Nga. Trận Reims (ngày 13 tháng 3) đã kết thúc bằng cuộc chạy dài của
quân Liên Minh, với một nửa số quân bị mất và Saint Priest chết trận. Nhưng những
chiến thắng mới ấy không thể làm thay đổi tình thế, vì quân Liên Minh đã kiên
quyết không nhân nhượng, và Napoléon cũng kiên quyết không chấp nhận những điều
kiện của phe Liên Minh và thà mất hết, kể cả ngai vàng, còn hơn chịu để đế quốc
phải thu hẹp lại trong những đường biên giới cũ. Khi Caulaincourt, theo lệnh của
Napoléon, tuyên bố với các đại biểu Anh, Nga, Phổ và Áo họp ở Hội Nghị
Châtillon rằng Napoléon dứt khoát gạt bỏ những đề nghị của họ, và đòi tả ngạn
sông Rhine cùng với Cologne và Mainz, Antwerp và Flanders, Savoy và Nice vẫn nằm
trong biên giới của đế quốc như trước đây, thì cuộc đàm phán cũng bị tan vỡ. Vượt
qua phòng tuyến của Napoléon và các vị trí tiền tiêu của quân Nga, bá tước
Vitrolles, tay sai của bọn Bourbon và mật phái của Talleyrand, đã từ Paris đến
bản doanh của quân Liên Minh ngày 17 tháng 3 và được Aleksandr tiếp đón ngay. Y
đem đến cho Aleksandr tin tức và ý kiến của Talleyrand cho rằng quân Liên Minh
phải tiến gấp về Paris chứ không nên đuổi theo Napoléon; Vitrolles còn nói chắc
rằng ở Paris người ta đang chờ quân Liên Minh, và khi họ tới, người ta có thể sẽ
tuyên bố ngay sự truất ngôi Hoàng Đế của Napoléon và sự lên ngôi của Louis
XVIII (như lâu nay bá tước xứ Provence vẫn tự xưng. Để phục hưng dòng họ
Bourbon). Nhưng Vitrolles đã hoảng hốt rụng rời khi phát hiện được rằng mặc dầu
Aleksandr rất mong muốn Napoléon sụp đổ, song lại cho rằng quân Liên Minh tuyệt
đối không nên can thiệp vào sự lựa chọn người kế nghiệp Napoléon, và Nga Hoàng
lại đã coi nền Cộng Hòa như một giải pháp tốt đẹp. Vitrolles không còn tin ở
hai tai của hắn nữa. “Lạy chúa, rồi chúng ta sẽ đi đến đâu?”. Vitrolles thốt
lên như vậy khi báo cáo lại cuộc gặp gỡ. Hình như Aleksandr đã bị cái thực tế
sau đây đập mạnh vào óc: Những sự phản kháng ở Pháp bắt đầu mang tính chất một
cuộc kháng chiến của nước Pháp sau Cách Mạng chống lại quân đội nước ngoài kéo
vào để lập lại chế độ xã hội cũ và phục hưng dòng họ Bourbon, và hình như hiểu
rằng tình thế này sẽ củng cố vị trí của Napoléon đến mức nào, một con người
luôn luôn đáng sợ và luôn luôn chiến thắng, nên Aleksandr đã không muốn đặt nước
Pháp, và nhất là “đám dân đen” của nước Pháp đứng trước hai con đường: Napoléon
hay là bọn Bourbon. Aleksandr đã đặt họ đứng trước hai con đường khác: Napoléon
hay chế độ Cộng Hòa. Đó là một mánh lới tinh vi, nhưng khối óc chật chội của kẻ
nịnh thần chính thống và tên lưu vong Vitrolles không thể nào hiểu được điều đó
nên hắn đã sững sờ kinh ngạc khi phát hiện ra cái chủ nghĩa Cộng Hòa Pháp của
Nga Hoàng của toàn thể các quốc gia Nga. Aleksandr luôn luôn xác định rằng bọn
Bourbon và những tên Vitrolles tuyệt chẳng hiểu chút gì về tình trạng tư tưởng ở
Pháp, nhưng ông ta cũng chú ý đến lời khuyên của Talleyrand do Vitrolles đem lại
cùng lúc với một bức thư không ký tên và cố ý viết ngoằn ngoèo như một người tập
viết. Sợ bị mất đầu, vì Vitrolles có thể bị cảnh binh của Napoléon bắt giữ ở dọc
đường, và mặc dầu chữ viết khác đi và sai văn phạm, cảnh binh vẫn có thể truy
ra được, nên Talleyrand đã khẩn khoản khuyên Aleksandr và phe Liên Minh tiến
quân về Paris, dù có phải bỏ Napoléon còn chưa bị đánh quỵ và hở hai bên sườn.
Nguy cơ không phải từ trong bản chất của tên phản bội quỷ quyệt Talleyrand mà
ra, song lại ở chỗ hắn đã hoàn toàn biết rõ tình trạng dao động và hoang mang
đang bao trùm lên Paris, từ dân chúng đến quân đội.
Ngày 20 tháng 3, trận Arcis Sur Aube đã diễn ra giữa Napoléon
lúc đó ở gần 3 vạn quân với quân Liên Minh do Schwarzenberg chỉ huy lúc đầu
giao chiến có ngót 11 vạn quân và sau này cuối trận đánh đã điều động tới gần 9
vạn. Mặc dầu Napoléon đã giành phần thắng và thực tế đã đánh lui được quân địch
trên nhiều điểm, nhưng kết quả trận đánh vẫn chưa rõ rệt: Napoléon không truy
kích Schwarzenberg, đã vượt qua sông Aube và phá cầu. Trong trận này, Napoléon
mất 3 nghìn người, quân Liên Minh mất 9 nghìn, nhưng cả lần này nữa, Napoléon
đã không thể tiêu diệt được quân Liên Minh. Quân Liên Minh kinh sợ một cuộc chiến
đấu dân tộc, một cuộc dấy lên của toàn dân Pháp như cuộc chiến tranh trong thời
kỳ Cách Mạng anh hùng đã cứu nước Pháp thoát khỏi cuộc xâm lược của nước ngoài
và sự phục hưng của triều đại Bourbon. Nhưng Aleksandr, Frederick Wilhelm,
Francis, Schwarzenberg và Metternich hẳn sẽ yên tâm nếu họ được nghe câu chuyện
giữa Napoléon và tướng Sébastiani sau trận Arcis Sur Aube. “Này, tướng quân,
tình hình này tướng quân bảo sao?”. “Hạ thần cho rằng chắc hẳn Hoàng Thượng còn
nhiều nguồn dự trữ khác mà hạ thần không biết tới”. “Chỉ có thế thôi đấy, chẳng
còn gì nữa đâu”. “Vậy sao Hoàng Thượng không nghĩ đến việc kích động quốc dân đứng
lên”. “Ảo tưởng, thật là ảo tưởng nếu vay mượn kinh nghiệm của cuộc chiến tranh
Tây Ban Nha và của cuộc Cách Mạng Pháp, nếu kích động nhân dân của cái nước mà
cách mạng đã thủ tiêu bọn quyền quý và bọn tăng lữ, mà chính bản thân tôi thì lại
là thủ tiêu cách mạng". Napoléon đã thấu suốt sự thể: Đã cố sức kiên trì
trong việc thủ tiêu mọi dấu tích của cách mạng, thì bây giờ đây, trong cuộc chiến
đấu sống mái để giữ lấy Paris này, dẫu cho Napoléon có muốn chăng nữa cũng
không thể kêu gọi được sự giúp đỡ của cuộc Cách Mạng Pháp mà trước kia ông ta
đã chà đạp và bóp nghẹt được. Cuộc nói chuyện trên đây giữa Napoléon và tướng
Sébastiani xảy ra ba ngày sau cuộc hội đàm giữa Aleksandr và Vitrolles.
Napoléon coi việc động viên quần chúng đông đảo nổi dậy với tinh thần, khí thế
như năm 1792 - mà kết thúc là sự tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa - là ảo tưởng;
còn như Aleksandr, kẻ thù không đội trời chung của ông, thì đúng là đang muốn
tước bỏ mọi chỗ dựa của Napoléon ở trong nhân dân Pháp bằng cách khỏi động, vẽ
ra trước mắt họ sự phục hưng chế độ Cộng Hòa.
3
Sau trận Arcis Sur Aube, Napoléon định đánh vào hậu phương của
quân địch để cắt đứt liên lạc của họ với sông Rhine, nhưng quân Liên Minh đã
quyết tâm tiến thẳng về Paris.
Những bức thư của Hoàng Hậu Marie Louise và của Bộ Trưởng Bộ
Công An Savary viết cho Napoléon, bị quân Cossacks chặn bắt được, đã làm cho.
Aleksandr tin chắc rằng ở Paris người ta không hy vọng gì vào cuộc kháng chiến
toàn dân và nếu quân Liên Minh vào được thủ đô thì sẽ kết thúc được chiến
tranh, sẽ quyết định luôn cả sự sụp đổ của Napoléon. Quân Liên Minh đi được đến
bước quyết định ấy là nhờ có Pozzo di Borgo, người đảo Corsica; Borgo là kẻ vốn
có mối thù với Napoléon từ lâu, và chính vì thế nên đã được Aleksandr tin cậy.
Sau trận Arcis Sur Aube, khi quân Liên Minh được tin là Napoléon định cắt đường
liên lạc của họ, thì Borgo tuyên bố: “Mục tiêu của chiến tranh là ở Paris. Chừng
nào các ngài còn nghĩ đến giao chiến thì các ngài còn bị đánh bại, vì bao giờ
Napoléon cũng nghênh chiến hơn các ngài, và vì binh lính của Napoléon, mặc dầu
bất mãn nhưng do danh dự thôi thúc, họ sẽ hy sinh đến người cuối cùng ở bên cạnh
Napoléon. Dẫu quyền lực quân sự của Napoléon có bị phá tan, Napoléon vẫn vĩ đại,
rất vĩ đại nữa kia, và dẫu thiên tài của Napoléon có bị đánh đổ, song vẫn vĩ đại
hơn các ngài. Nhưng quyền lực chính trị của Napoléon thì đã bị thủ tiêu. Thời
thế đã thay đổi. Nền chuyên chế quân sự được thừa nhận là một công lao sau ngày
Cách Mạng, nhưng kết quả của nó đã bị lên án từ lâu và hoàn toàn bị mất tín nhiệm.
Phải tìm cách chấm dứt chiến tranh bằng chính trị, chứ không phải bằng quân sự,
và muốn thế thì ngay khi địch có một chỗ hở nào đó có thể thọc qua được, và các
ngài hãy lợi dụng ngay chỗ đó, cấp tốc kéo về Paris, dùng ngón tay khẽ đụng vào
Paris, chỉ cần dùng ngón tay thôi, là kẻ khổng lồ ấy sẽ bị đổ nhào. Các ngài sẽ
bẻ gãy được thanh kiếm mà các ngài không thể nào tước nổi được của hắn ta”.
Pozzo di Borgo tin chắc rằng nhân dân đã quên bẵng dòng họ Bourbon, như hắn đã
nói với Khối Liên Minh, vả lại chính Khối Liên Minh cũng đã nhận định như vậy.
Khối Liên Minh đồng ý với Borgo về điểm cho rằng sau khi Napoléon đã bị lật đổ
thì dòng họ Bourbon sẽ trở thành “có khả năng”.
Thấy có khả năng thanh toán được Napoléon mà không phải trở lại
cái vấn đề Cộng Hòa vô cùng khó chịu, Aleksandr cho là không cần thiết phải nói
tới nền Cộng Hòa nữa. Quân Liên Minh quyết định hành động mạo hiểm. Lúc này
Napoléon đang đi xa, cũng đúng là để đánh vụ hồi vào sau lưng quân Liên Minh nhằm
kìm chân họ lại không cho tiến lại gần Paris. Lợi dụng sự đi xa ấy của Napoléon
và tin tưởng vào bọn phản bội sẽ nộp kinh thành trước khi đích thân ông Hoàng Đế
về được đến nơi, nên quân Liên Minh đã quyết định tiến thẳng đến Paris. Đường về
Paris do hai Thống Chế Marmont và Mortier cùng với hai tướng Pacthod và Amey án
ngữ: Cả thảy có hai vạn rưỡi quân. Napoléon đã cùng với quân chủ lực tiến xa về
phía Đông. Ngày 25 tháng 3, thắng trận ở Fère Champenoise, quân Liên Minh đã đẩy
lùi được hai Thống Chế trên đường về Paris và 10 vạn quân Liên Minh đã xuất hiện
ở ngoại vi thủ đô. Ngày 29 tháng 3, Hoàng Hậu Marie Louise rời Paris đi Château
de Blois cùng với chú vua nhỏ thành Roma. Để phòng giữ Paris, quân Pháp bố trí
khoảng 4 vạn quân. Khủng khiếp đè nặng kinh thành, tinh thần quân đội bạc nhược.
Aleksandr muốn tránh được một cuộc đổ máu dưới chân thành Paris giả bộ đóng vai
một kẻ chiến thắng đại lượng. “Thiếu lực lượng phòng giữ và thiếu người thủ
lĩnh vĩ đại, Paris không thể kháng cự được; tôi tin tưởng sâu sắc như vậy”, đó
là lời của Nga Hoàng nói với Orlov trong lúc trao cho Orlov tờ thiếp trắng để
đình chỉ trận đánh mỗi khi thấy hé ra hy vọng thủ đô Pháp sẽ đầu hàng không chiến
đấu. Trận đánh ác liệt diễn ra nhiều giờ liền; quân Liên Minh đã hao tổn 9
nghìn người, trong đó có chừng 6 nghìn quân Nga, nhưng rã rời vì lo sợ bị thất
bại và bị Talleyrand thúc đẩy nên ngày 30 tháng 3, vào hồi 5 giờ chiều, Thống
Chế Marmont đã đầu hàng.
Napoléon nhận được tin quân Liên Minh đánh bất ngờ vào Paris
giữa lúc ông ta đang giao chiến ở khoảng giữa Saint Dizier và Bar Sur Aube. “Thật
là một trận thất bại hoàn toàn. Và chưa bao giờ tôi ngờ được rằng tướng tá của
quân Liên Minh lại có thể làm được việc đó!” Napoléon nói như vậy vào ngày 27
tháng 3, khi người ta báo cho ông tin ấy. Những lời khen ngợi ấy, trước hết, là
lời của một nhà chiến lược trong người Napoléon.
Napoléon cùng với bộ đội cấp tốc quay về Paris. Về đến
Fontainebleau đêm 30 tháng 3, Napoléon được tin trận đánh vừa kết thúc và Paris
đã đầu hàng. Cũng như bất cứ bao giờ, Napoléon vẫn đầy cương nghị và kiên quyết.
Sau khi nắm được tình hình của sự biến, Napoléon im lặng mười lăm phút, rồi
trình bày cho Caulaincourt và các tướng tá bên cạnh ông biết kế hoạch mới,
Caulaincourt về Paris để nhân danh Napoléon giảng hòa với Aleksandr và quân
Liên Minh, với những điều kiện như Hội Nghị Châtillon đã đề ra. Caulaincourt phải
làm sao tìm đủ mọi cớ để đi đi lại lại giữa Paris và Fontainebleau nhằm kéo dài
thời gian ra ba ngày, thời gian cần thiết để Napoléon có thể điều động mọi lực
lượng sẵn có từ vùng Saint Dizier về, sau đó sẽ tống cổ quân Liên Minh ra khỏi
Paris. Caulaincourt ấp úng hỏi rằng tại sao không thể đem lại cho phe Liên Minh
một hòa ước thật sự, không phải là một thủ đoạn chiến tranh. “Không, không! -
Hoàng Đế ngắt lời - Không thể bị ê chề! Không thể hòa bình nhục nhã! Đây là vấn
đề thanh danh của nước Pháp, vinh dự của nước Pháp! Trong trận chiến đấu cuối
cùng, chỉ có gươm đao, gươm đao phải quyết định điều đó!” Caulaincourt lại đi
ngay Paris, còn Napoléon lại dốc hết tâm lực để chuẩn bị gấp rút cho trận đánh,
trong ba, bốn hôm nữa sẽ diễn ra, theo dự kiến của ông ta. Chủ yếu Napoléon cho
rằng trong thời gian ngắn ngủi ấy, quân Liên Minh không thể tiến hành được một
cuộc vận động chính trị quyết định nào có thể làm mất tinh thần và lôi kéo quần
chúng đang do dự ngả về phía họ. Chính vì vậy mà Napoléon đã bày ra màn kịch
đàm phán này và còn chịu nhận cả những điều kiện mà trước đây hai tuần Napoléon
đã miệt thị bác bỏ. Nhưng tình thế đã hoàn toàn không cứu vãn được nữa. Bọn Bảo
Hoàng vui mừng đón chào các vua chúa phe Liên Minh tiến vào Paris, đông đảo quần
chúng nhân dân giữ thái độ lạnh nhạt và chịu khuất phục, tất cả những điều đó
nói lên rằng thủ đô sẽ chấp nhận cái chính phủ mà người ta sẽ đặt ra cho họ.
Trong một bản tuyên bố, bọn vua chúa Liên Minh nói rằng bọn họ sẽ không đàm
phán với Napoléon, họ sẽ công nhận chính phủ và chính thể nào mà dân tộc Pháp
ưng thuận lựa chọn.
Như vậy là cuộc đàm phán của Caulaincourt với quân Liên Minh
đã không mang lại chút kết quả gì. Aleksandr nói trắng ra với Caulaincourt rằng
nước Pháp đã quá chán ghét Napoléon, đã quá mệt mỏi vì ông ta. Schwarzenberg nhắc
lại bằng một giọng chua chát rằng Napoléon đã làm rung chuyển cả thế giới trong
18 năm trời và không một ai có thể sống yên ổn được với Napoléon. Người ta đã
không ngừng đem lại cho ông ta hòa bình, bằng cách công nhận đế quốc của ông ta
nhưng ông ta không muốn nhượng bộ chút gì; bây giờ thì cũng đã quá muộn rồi.
Trong lúc nói như vậy, Schwarzenberg không biết rằng ngay cả lúc ấy Napoléon vẫn
không muốn nhân nhượng một chút gì và đã cử Caulaincourt đến chỉ là cướp lấy ba
ngày cho bộ đội của ông ta kịp về tới. Khi quay về với Napoléon, Caulaincourt
thấy tình hình như sau: Quân đội đang kéo về tập trung dần dần, ông Hoàng Đế
tính đến ngày 5 tháng 4 sẽ có trong tay 7 vạn quân và sẽ cầm đầu đoàn quân đó
tiến về Paris. Sáng ngày 4, Napoléon đi duyệt đội ngũ. Hoàng Đế nói: “Hỡi các
binh sĩ, quân thù đã chiếm của chúng ta ba biên trấn, chúng đã tới làm chủ
Paris. Phải tống cổ chúng đi! Những tên Pháp gian, những tên lưu vong, mà xưa
kia chúng ta đã nhu nhược không trừng trị, đã cấu kết với nước Anh và đã trương
cờ trắng. Những kẻ hèn hạ đó! Chúng sẽ phải đền tội một cách thích đáng. chúng
ta hãy thề thắng trận hoặc là chết, hãy thề rửa nhục cho Tổ Quốc và Quân Đội
chúng ta”. Binh sĩ hô lớn: “Xin thề!”. Nhưng sau khi duyệt binh, quay về lâu
đài thì ở đó Hoàng Đế thấy một tình hình tư tưởng hoàn toàn khác. Các Thống Chế
Oudinot, Ney, MacDonald, Berthier, công tước Bassano đứng trước Napoléon với vẻ
rầu rĩ lặng lẽ và không ai dám nói một lời. Napoléon gặng hỏi. Họ trả lời rằng
họ không còn hy vọng chiến thắng nữa, rằng toàn thể nhân dân Paris, không phân
biệt chính kiến, đều run sợ khi biết Hoàng Đế chuẩn bị công kích quân Liên Minh
đã có ở trong thủ đô; như vậy, cuộc tiến công đó có nghĩa là thủ tiêu dân chúng
và thành phố, bởi vì quân Liên Minh tất sẽ đốt cháy Paris để trả thù cho Moscow
trước đây, và sẽ gặp khó khăn trong việc chỉ huy quân lính chiến đấu giữa cảnh
hoang tàn của Paris. “Các người đi ra - Napoléon nói - tôi sẽ gọi và sẽ nói cho
các người rõ ý định của tôi”. Hoàng Đế chỉ giữ lại Caulaincourt, Berthier và
công tước xứ Bassano và ông tức tối phàn nàn về tinh thần do dự và bạc nhược của
các Thống Chế, về sự thiếu tận tụy của họ đối với Hoàng Đế. Sau vài phút, Hoàng
Đế tuyên bố với các Thống Chế rằng ông sẽ thoái vị, nhường ngôi cho con là chú
vua nhỏ thành Roma, trao quyền nhiếp chính cho Hoàng Hậu Marie Louise, và nếu
quân Liên Minh ưng thuận ký hòa ước với điều kiện như vậy thì chiến tranh sẽ kết
thúc; ông sẽ cử Caulaincourt đến Paris, mang theo những kiến nghị đó, để thương
lượng với quân Liên Minh.
Rồi Napoléon đọc cho các Thống Chế nghe bản tuyên bố mà ông vừa
mới thảo xong: “Các cường quốc Liên Minh đã tuyên bố Hoàng Đế Napoléon là trở lực
duy nhất cho việc lập lại hòa bình ở Châu Âu; trung thành với những lời thề của
mình, Hoàng Đế Napoléon tuyên bố rằng: Vì lợi ích của Tổ Quốc gắn liền với quyền
lợi của con Hoàng Đế, với quyền chấp chính của Hoàng Hậu và với việc duy trì luật
pháp của đế chế, Hoàng Đế sẵn sàng thoái vị, rời bỏ nước Pháp và nếu cần cả cuộc
đời nữa”. Các Thống Chế nhiệt liệt tán thành bản tuyên bố ấy. Sau khi đọc lại,
Hoàng Đế cầm bút nhưng trước khi ký đã nói: “Này, các ông hãy tin ở tôi, sáng
mai chúng ta sẽ đi và sẽ còn đánh bọn nó!”. Nhưng các Thống Chế im lặng. Không
một ai hưởng ứng những lời nói ấy. Napoléon ký, rồi giao văn kiện cho một đoàn
đại biểu gồm Caulaincourt, Ney, MacDonald. Bọn họ liền đi Paris ngay. Cũng
trong lúc đó, biết bao biến cố đã xảy ra ở Paris, Talleyrand nhóm họp cấp tốc một
bộ phận của Thượng Nghị Viện - gồm những kẻ được Talleyrand tin cậy - đã biểu
quyết truất ngôi dòng họ Bonaparte và lập lại dòng họ Bourbon và biến cố nghiêm
trọng hơn nữa là Marmont phản bội Hoàng Đế, đã cùng với quân đoàn của y rút về
Versailles, như vậy là y đã chạy sang hàng ngũ Talleyrand và “chính phủ lâm thời”
do Talleyrand điều khiển. Thoạt tiên, Aleksandr do dự: Cả Aleksandr lẫn ông
Hoàng Đế Francis đều không phản đối gì lắm việc chú bé “Napoléon đệ nhị” lên
ngôi, nhưng bọn Bảo Hoàng đứng vây quanh bọn vua chúa Liên Minh đã năn nỉ cố
sao cho những đề nghị của Napoléon bị bác bỏ. Nhưng rồi họ đã không do dự nữa
khi nhận được tin Marmont phản bội. Sự phản bội của các lực lượng chủ lực, do
Napoléon trực tiếp chỉ huy đã làm cho Napoléon không thể tiến về Paris được nữa,
và phe Liên Minh đã quyết định trao ngai vàng cho dòng họ Bourbon. Khi
Caulaincourt từ giã Nga Hoàng trở về, Aleksandr nói rằng: “Ngài hãy khuyên nhủ
Hoàng Đế của ngài nên tuân theo số mệnh”. Để một lần nữa tỏ lòng khâm phục “con
người vĩ đại”, Aleksandr nói tiếp: “Tôi sẽ làm tất cả những điều có thể làm được
vì danh dự của Napoléon”. Trước khi Caulaincourt đi, phe Liên Minh yêu cầu
Caulaincourt cố nói sao cho Hoàng Đế thoái vị không điều kiện: Người ta hứa với
Caulaincourt rằng sẽ giữ danh hiệu Hoàng Đế cho Napoléon và giao cho ông ta
toàn quyền sở hữu đảo Elba, đồng thời họ nài nẫm về bản tuyên bố thoái vị được
ký càng sớm càng hay. Phe Liên Minh và bọn Bảo Hoàng do Talleyrand cầm đầu lúc
này đã ngang nhiên đứng về phía quân Liên Minh đều lo sợ trước một cuộc nội chiến
có thể xảy ra và trước việc số đông quần chúng binh sĩ vẫn tuyệt đối trung
thành với Napoléon. Chỉ có thể diệt trừ được những sự rối loạn khi bản thân ông
Hoàng Đế ấy chính thức tuyên bố thoái vị. Lúc này nghị quyết của Thượng Nghị Viện
chẳng có một chút giá trị gì về mặt tinh thần: Người ta coi các Thượng Nghị Sĩ
như những kẻ tôi tớ của Napoléon, họ đã phản bội người chủ của họ không một
chút do dự để đi hầu hạ một người chủ khác. Khi nói chuyện với Aleksandr, Ney
đã thốt lên: “Cái Thượng Nghị Viện khốn kiếp ấy, đáng lẽ nó có thể làm cho
chúng ta tránh được mọi đau khổ bằng cách bền bỉ như thế nào để chống lại khát
vọng xâm lược của Napoléon; cái Thượng Nghị Viện khốn kiếp ấy, nó luôn luôn chịu
vâng theo ý chí của con người mà ngày hôm nay nó gọi là bạo chúa, thế thì cái
Thượng Nghị Viện ấy có quyền gì lên tiếng vào lúc này? Nó đã nín khi cần phải
nói, vậy thì hiện nay ai cho phép nó được nói trong khi tất cả đều bắt nó phải
câm đi”. Chỉ Napoléon, đích thân Napoléon, nói một lời mới có thể chấm dứt được
tình trạng lưỡng nan nặng nề này, và có thể giải được lời thề khi xưa cho binh
lính, sĩ quan, tướng lĩnh và viên chức của Napoléon. Đó là ý nghĩ của những người
Pháp thuộc bất cứ đảng phái nào cũng như của phe Liên Minh.
4
Tối ngày 5 tháng 4, Caulaincourt, Ney và MacDonald từ Paris về
đến Fontainebleau. Sau khi báo cáo với Napoléon về những cuộc bàn bạc với
Aleksandr và phe Liên Minh. Caulaincourt, Ney và MacDonald khuyên Napoléon nên
chịu theo tình thế; Napoléon nói rằng ông vẫn còn có một đạo quân, binh lính vẫn
trung thành với ông. “Vả lại rồi khắc biết!... Mai đây!” Sau khi để mọi người
ra, Napoléon cho gọi Caulaincourt tới. “Caulaincourt ạ, người đời, chao ôi, người
đời!... Napoléon kêu lên như vậy trong cuộc chuyện trò kéo dài suốt đêm ấy.
“Các Thống Chế của tôi đi theo con đường của Marmont, rồi họ
sẽ lấy làm hổ thẹn, vì khi nói đến Marmont lòng họ đầy giận giữ, nhưng họ cũng
rất đáng giận bởi họ đã thả mình lao trên con đường danh lợi! Họ rất muốn được
giữ nguyên chức vị dưới triều đại Bourbon mà không bị ô danh như Marmont”.
Napoléon đã nói rất nhiều về việc Marmont phản bội ông ta trong giờ phút quyết
định ấy. “Tên khốn kiếp không biết cái gì đang đợi chờ nó: Tên tuổi của nó sẽ bị
ô nhục. Tôi không nghĩ đến tôi nữa, ông hãy tin như vậy, sự nghiệp của tôi đã hết
hoặc sắp hết rồi. Vả lại, khi lòng người đã chán tôi và hướng về người khác, liệu
còn thích thú gì nữa mà trị vì? Tôi nghĩ đến nước Pháp... Chà! Nếu bọn đớn hèn ấy
không bỏ tôi, thì chỉ trong bốn tiếng đồng hồ là tôi sẽ khôi phục được thanh
danh, ông hãy tin là thế, bởi vì với vị trí hiện nay của quân Liên Minh, sau
lưng chúng là Paris và trước mặt chúng là tôi, chúng nhất định bị tiêu diệt. Để
thoát khỏi nguy cơ đó, bọn chúng buộc phải rút khỏi Paris và sẽ không bao giờ
trở lại được nữa. Thằng khốn khiếp ấy đã phá hoại cái kết quả tốt đẹp đó, nếu
không, nhất định là chúng ta có cách để vươn dậy trong khi kéo dài chiến tranh.
Tôi được tin rằng ở, khắp mọi nơi, nông dân vùng Lorraine,
Champenoise, Burgundy chọc tiết những quân địch đi lẻ. Hơn nữa, bọn Bourbon hiện
đã về, có trời biết được cái gì sẽ đi theo chúng nó. Chúng nó là cái gì? Là hòa
bình đối với nước ngoài, nhưng chiến tranh ở trong nước. Một năm nữa rồi ông thấy
bọn chúng sẽ làm được những gì cho đất nước. Nhưng, bây giờ đây lại cần một cái
gì khác chứ không phải tôi. Tên tuổi, hình ảnh, thanh kiếm của tôi đã gây sợ
hãi. Đành phải chịu. Tôi sẽ gọi các Thống Chế đến, và ông sẽ thấy bọn họ vui mừng
khi được tôi gỡ cho họ khỏi chỗ bối rối và cho phép họ làm như vậy mà vẫn giữ
trọn được danh dự”.
Đêm ấy, Napoléon thổ lộ với Caulaincourt tất cả những điều mà
chắc chắn là ông đã ngẫm nghĩ từ lâu; trong đó, điều nổi bật lên cự kỳ rõ rệt
là sự mệt mỏi kinh khủng, chưa từng có của đất nước đang không sao chịu đựng được
nữa cái triều đại đẫm máu, cái trò nướng sinh mạng không dứt, những cuộc tàn
sát rùng rợn, những sự hiến dâng bao nhiêu thế hệ hy sinh cho mục đích không thể
hiểu được. “Tôi muốn giữ vững cho nước Pháp là một đế quốc hoàn cầu”, Napoléon
đã thành thật thú nhận như vậy vào năm 1814; lúc ấy, ông ta không biết rằng những
thế hệ mai sau sẽ được chứng kiến một trường phái những nhà sử học yêu nước
Pháp cố công gắng sức chứng minh rằng Napoléon suốt đời không đánh ai, mà chỉ
là để tự vệ; nếu Napoléon đã đến Vienna, Milan, Madrid, Berlin, Moscow thì duy
nhất chỉ là bảo vệ “biên giới thiên nhiên” của nước Pháp, và đến sông Moscow là
để “bảo vệ” sông Rhine. Song chính Napoléon lại không nghĩ ra được lời giải
thích đó.
Như vậy, nó còn thành thật hơn nhiều. Ông ta cũng không biết
được con số tổng kê chính xác về các cuộc chiến tranh của mình; mãi mới đây,
sau khi tìm kiếm trong toàn bộ những tài liệu lưu trữ chính thức và những tư liệu
khác, Albert Menier mới xác định được, theo thống kê của ông, số công dân Pháp
bị chết và bị mất tích trong các trận đánh và cách chiến dịch dưới thời
Napoléon đã lên tới trên 1 triệu người (47 vạn người người bị chết chính thức
ghi chép trong sổ sách và 53 vạn người mất tích hẳn). Đó là không kể số người bị
thương nặng, bị tàn phế, không chết ngay ở chiến trường, mà ít lâu sau mới chết
trong các viện quân y vì các vết thương của họ. Những con tính của Menier không
bao gồm toàn đế quốc Napoléon, chỉ bao gồm: Nước Pháp “cũ” những “quận cũ”,
nghĩa là không phải toàn bộ đất đai do Napoléon trị vì kể từ ngày 18 Tháng
Sương Mù (bởi vì không tính nước Bỉ, xứ Piedmont, và những đất đai khác mà Cách
Mạng và bản thân nó đã chiếm được trước ngày ông ta làm đảo chính), chỉ tính có
nước Pháp trong phạm vi những đường biên giới vào năm 1799. Ngoài ra, cũng còn
chưa tính đến tất cả các cuộc chiến tranh mà Napoléon đã tiến hành từ năm 1800
(nói một cách khác là còn gác ra ngoài những con số thiệt hại trong chiến dịch
đầu tiên ở Ý vào năm 1796 - 1797, trong cuộc chiến tranh ở Ai Cập và ở Syria).
Như vậy là với dân số 26 triệu người, kể cả đàn bà và trẻ
con, “các quận cũ” đã mất hơn 1 triệu người trong các cuộc chiến tranh của
Napoléon. Napoléon không thể biết được điều đó một cách chính xác như vậy, tuy
nhiên Napoléon cũng thấy được những làng mạc bị thưa thớt bởi những cuộc trưng
binh, cũng thấy được những bãi chiến trường của vô số trận giao tranh của mình.
Đôi lúc, chính bản thân Napoléon cũng thấy bồn chồn lo lắng và ông ta cố gắng
an ủi người khác bằng cách vạch ra cho họ thấy binh lính trong quân đội Pháp, tức
là tất cả những người lính Đức, Thụy Điển, Ý, Bỉ, Hà Lan, Ba Lan, Illyria, v.v.
đã bị tiêu diệt nhiều hơn lính Pháp. nhưng sự tổn thất ba hoặc bốn triệu người
ngoại quốc chiến đấu trong quân đội Napoléon, là một sự an ủi chẳng có giá trị
gì đối với sự tổn thất một triệu người Pháp “chính cống”. Với Napoléon, hàng
triệu quân địch bị giết, bị mất tích, bị tàn phá đã chẳng đáng để ông nói đến
bao giờ. Trong suốt đêm dài ấy, đêm Napoléon đi đi lại lại trong những căn
phòng của lâu đài Fontainebleau nguy nga và tẻ ngắt đó, đối diện Caulaincourt,
làm một cuộc tổng kết, Napoléon chỉ rút ra một kết luận chủ yếu sau đây:
Napoléon đã làm cho nước Pháp bị mệt mỏi suy nhược, đất nước đang sức cùng lực
kiệt; chắc chắn bọn Bourbon chẳng làm nổi trò trống gì và sẽ không ai làm được
việc hơn Napoléon làm được. Trong những ngày tháng 4 ấy, người ta báo cho
Napoléon biết rằng nếu như các nhà buôn ở Paris và giai cấp tư sản không nhiệt
tình đón tiếp quân Liên Minh bằng giới quý tộc Bảo Hoàng thì họ cũng đã lớn tiếng
nói rằng họ bị chiến tranh tàn phá và xô đẩy đến bước đường cùng. Có thể nói rằng
đêm ấy Napoléon không ngủ. Bình minh ngày mồng 6 tháng 4 hé rạng; Napoléon cho
gọi các Thống Chế đến và nói rằng: “Xin các vị cứ yên tâm. Cả các vị và cả quân
đội, sẽ không ai phải đổ máu nữa. Tôi ưng thuận thoái vị không điều kiện. Tôi
đã những muốn vì các vị cũng như gia đình tôi mà trao quyền thừa kế cho con
trai tôi. Tôi thiết tưởng cái kết cục như vậy sẽ có lợi cho các ngài nhiều hơn
là cho tôi, vì hẳn là các ngài sẽ được sống dưới một chính thể thích hợp với gốc
xuất thân, với tình cảm và lợi ích của các ngài. Điều đó có thể làm được, nhưng
một sự phản bội bất chính đã cướp mất của các ngài cái hoàn cảnh sống mà tôi
mong mỏi đem lại cho các ngài. Đáng lẽ chúng ta có thể làm được nhiều việc khác
nữa, chúng ta có thể khôi phục được nước Pháp, nếu quân đoàn thứ 6 (Marmont)
không phản bội. Nhưng sự việc đã khác hẳn rồi. Tôi đành tuân theo số phận của
tôi, các ngài hãy tuân theo số phận của các ngài. Các ngài hãy cam chịu sống dưới
triều đại Bourbon và phục vụ trung thành bọn chúng. Các ngài mong mỏi được nghỉ
ngơi, thì để những linh cảm của tôi thành sự thật! Thế hệ chúng ta được sinh ra
không phải để nghỉ ngơi, cảnh hòa bình mà các ngài ao ước sẽ giết chết nhiều
người trong các ngài khi nằm trên nhung đệm hơn là cảnh chiến tranh dầm mưa dãi
tuyết". Rồi Napoléon cầm lấy tờ giấy và đọc cho các Thống Chế nghe: “Khi
các cường quốc Liên Minh đã tuyên bố Hoàng Đế Napoléon là trở lực duy nhất cho
việc hòa bình ở Châu Âu, thì Hoàng Đế Napoléon, trung thành với lời thề của
mình, tuyên bố rằng Hoàng Đế và những người thừa kế của Hoàng Đế sẽ từ bỏ ngai
vàng nước Pháp và nước Ý, và vì lợi ích của nước Pháp, Hoàng Đế sẵn sàng hy
sinh cá nhân, cho đến cả tính mạng của mình”.
Hoàng Đế ngồi vào bàn và ký tên. Các Thống Chế cảm động hôn
tay ông và tíu tít tung ra hàng tràng những lời xu nịnh như họ đã từng làm
trong suốt thời gian ông Hoàng Đế ấy trị vì. Caulaincourt cùng với hai Thống Chế
đem ngay văn kiện ấy tới Paris. Aleksandr và phe Liên Minh vô cùng lo lắng đợi
chờ kết cục. Khi đã nắm được bản tuyên bố thoái vị trong tay họ vui mừng khôn
xiết. Aleksandr ưng chuẩn đảo Elba sẽ hoàn toàn thuộc chủ quyền của Napoléon,
và con trai Napoléon, ông vua nhỏ thành Roma, cùng với Marie Louise sẽ được cấp
những đất đai gọi là những vương hầu độc lập ở Ý. Tất cả đã xong xuôi.
5
Lúc này, Napoléon lại bị lôi cuốn vào cái ý nghĩ chắc hẳn đã
nhiều lần ám ảnh ông trong suốt thời gian chiến dịch năm 1814, một chiến dịch
vô cùng chói lọi về phương diện chiến lược, nhưng thực tế chỉ là một công trình
truyệt vọng. Năm 1813, các Thống Chế, tướng lĩnh, sĩ quan, cần vụ và ngay cả
binh lính đội cận vệ đều nhận thấy rằng ông Hoàng Đế đã liều mạng, tình thế đòi
hỏi ông nhưng thực ra những trường hợp liều mạng ấy hoàn toàn vô ích, chứ không
như trong các cuộc chiến tranh trước kia, ở cầu Arcole năm 1796, hoặc ở bãi tha
ma Eylau năm 1807.
Như chúng tôi đã nói, vào năm 1813, sau cái chết của Duroc,
Hoàng Đế ngồi lặng lẽ một chốc trên một rễ cây, không nhúc nhích và như một tấm
bia làm mồi cho những mảnh đạn đại bác đang tung toé quanh mình. Năm 1814, những
hành động khác thường ấy lại thấy diễn ra nhiều hơn và không còn ai là người
không hiểu ý nghĩa của chúng nữa. Rõ nhất là trong trận Arcis Sur Aube ngày 20
tháng 3, khi lại một lần nữa đi tới cái địa điểm mà chính Napoléon đã hạ lệnh
cho binh sĩ rút lui vì không thể giữ được nữa, thì tướng Exelmans đã lao tới
Napoléon để ngăn lại, nhưng Thống Chế Sébastiani nói với tướng Exelmans: “Để mặc
Hoàng Đế. Ông không biết là Hoàng Đế đã có dụng ý sao, Hoàng Đế muốn kết liễu đời
mình”. Nhưng chẳng một làn đạn nào, một quả đạn đại bác nào muốn chạm vào Hoàng
Đế. Napoléon luôn luôn thấy rằng tự tử là biểu hiện của sự yếu đuối và hèn
nhát, và trong trận Arcis sur Aube, cũng như trước đây, trong trường hợp tương
tự vào năm 1813 và năm 1814, trong khi đi tìm cái chết bằng một sự tự tử biến
hình, không tự tay mình kết liễu lấy cuộc đời thì hiển nhiên là Napoléon đã tự
dối mình.
Nhưng ngày 11 tháng 4 năm 1814, tức là năm ngày sau khi
Napoléon thoái vị, trong khi ở lâu đài Fontainebleau, người ta đang sửa soạn
cho Napoléon đi ra đảo Elba, thì sau khi cáo từ Caulaincourt, người mà Napoléon
dành nhiều thời gian để gặp gỡ trong những ngày cuối cùng đó, ông đã lui về
phòng riêng của mình. Sau này người ta phát hiện những đồ dùng cần thiết khi đi
chiến dịch mà ông ta luôn luôn đem theo bên mình. Ở Fontainebleau, Napoléon phải
cầu cứu đến nó và ông đã uống hết ống thuốc phiện. Những cơn đau đớn khủng khiếp
đã dằn vặt ông dữ dội. Do linh tính báo trước điềm xấu, Caulaincourt vào phòng
của Hoàng Đế và tưởng rằng Hoàng Đế bất thần bị bệnh, đã định chạy vội đi tìm
viên thầy thuốc riêng của Hoàng Đế, nhưng Napoléon yêu cầu Caulaincourt đừng gọi
ai cả và cũng đã giận dữ ra lệnh cấm Caulaincourt làm việc ấy. Những cơn co giật
mỗi lúc một ác liệt thêm, đến nỗi Caulaincourt phải bỏ đi và đánh thức bác sĩ
Ian, người đã pha chế thuốc phiện cho Hoàng Đế sau trận Maloyaroslavets. Nhìn
thấy ống thuốc trên mặt bàn, bác sĩ hiểu ngay. Napoléon bắt đầu phàn nàn rằng
thuốc độc quá yếu hoặc đã hả hơi, và nghiêm nghị đòi viên bác sĩ phải cho ngay
một liều khác. Bác sĩ Ian vội vàng rời căn phòng, vừa thề rằng sẽ không bao giờ
phạm vào một tội lỗi như vậy lần thứ hai. Những cơn đau của Napoléon kéo dài
trong vài giờ vì Napoléon không chịu uống thuốc giải độc.
Napoléon nghiêm khắc yêu cầu giữ kín sự việc đã xảy ra. Sau
nhiều cơn quằn quại khủng khiếp, Napoléon buột miệng nói: “Cái chết thật là
khó, mà ở ngoài chiến trường thì lại dễ quá. Chao ôi! Sao tôi lại đã không chết
ở Arcis Sur Aube”. Thuốc độc không có năng lực giết người; từ đó Napoléon không
quay lại ý định tự tử nữa và cũng không bao giờ nhắc lại việc đó. Việc chuẩn bị
để lên đường đã xong. Theo những điều kiện đã quy định với quân Liên Minh, ông
Hoàng Đế được đem theo ra đảo Elba một tiểu đoàn trong đội cựu cận vệ.
Ngày 20 tháng 4 năm 1814, tất cả đã sẵn sàng. Đoàn xe đưa
Napoléon, một số nhân viên tùy tùng của ông ta và các uỷ viên của các cường quốc
Liên Minh đi theo Hoàng Đế ra đảo Elba đã đậu thành hàng ở chân tường lâu đài.
Napoléon muốn từ biệt đội cận vệ của ông. Đội cận vệ cũng đã đứng thành hàng
ngũ ở trong sân chính lâu đài, một cái sân rộng lớn mà những nhà du lịch khi đến
thăm quan Fontainebleau đều biết tiếng và nó đã được gọi là “sân vĩnh biệt”. Đội
cựu cận vệ cùng các sĩ quan và các tướng lĩnh xếp thành đội hình chiến đấu ở
phía trước, đội cận vệ mới ở phía sau. Khi Hoàng Đế hiện ra, người cầm cờ hạ lá
cờ của đội cựu cận vệ xuống chân Hoàng Đế. “Hỡi các binh sĩ trong đội cựu cận vệ
của ta, xin vĩnh biệt các người. Từ hai mươi năm nay, ta thường xuyên cùng các
người đi trên con đường của vinh dự và chiến công. Trong những ngày cuối cùng
này, cũng như trong những ngày cường thịnh trước kia của chúng ta, các người đã
luôn luôn là mực thước của lòng dũng cảm và lòng trung nghĩa. Với những người
như các người thì mục đích của chúng ta không thể nào thất bại được... nhưng biết
đâu đó chẳng đã là nội chiến. Bởi vậy ta phải hy sinh mọi quyền lợi của chúng
ta cho lợi ích của Tổ Quốc. Ta đi. Các người, các bạn thân thiết của ta, hãy tiếp
tục phục vụ nước Pháp... Xin vĩnh biệt các bạn! Ta những muốn ghì chặt tất cả
các bạn vào lòng ta; nhưng thôi, đành hôn lá cờ của các bạn”. Napoléon không thể
nói được hơn nữa. Tiếng ông đã tắc nghẹn. Ông ôm hôn người cầm lá cờ, rồi bước
nhanh lên xe.
Đoàn xe chuyển bánh giữa những tiếng hô “Hoàng Đế muôn năm!”.
Nhiều binh lính cận vệ khóc nức nở. Thuật lại cảnh tượng ấy, báo chí Anh viết:
“Thiên anh hùng ca vĩ đại nhất của lịch sử thế giới đã chấm dứt: Napoléon đã từ
giã đội cận vệ của ông”. Nhưng thực tế, thiên anh hùng ca hai mươi năm trời đó,
bắt đầu từ tháng 12 năm 1793 ở Toulon đến tháng 4 năm 1814 ở Fontainebleau,
chưa phải đã hoàn toàn chấm dứt. Napoléon hẳn còn làm cho thế giới không ngờ tới
được, cái thế giới từ hai mươi năm qua dường như đã từng học thuộc chữ ngờ.
[53] Tức là năm Bonaparte chỉ huy quân đội Cộng Hòa anh
dũng đè bẹp cuộc nổi dậy của bọn Bảo Hoàng ở Toulon.
CHƯƠNG 16
một trăm ngày
1
Trước khi nói đến câu chuyện về sự kiện dị thường nhất trong
cuộc đời của Napoléon, cần chú ý đến điều sau đây. Sau khi đến đảo Elba, trong
những ngày đầu, rõ ràng Hoàng Đế không còn ý đồ gì nữa, ông ta cho rằng cuộc đời
chính trị của ông đã hết và đã chỉ có ý định viết về lịch sử triều đại của mình
như ông đã hứa hẹn. Ít ra đó cũng là ý nghĩ nảy ra ở Napoléon suốt trong sáu
tháng đầu tiên sống trên đảo. Ông sống yên tĩnh và bình thản. Ở những quận miền
Nam nước Pháp, khi Napoléon đi qua, bọn Bảo Hoàng đã tỏ thái độ vô cùng thù địch
và có khi suýt gây nguy hiểm đến tính mạng ông, nhưng rồi ngày 3 tháng 5 năm
1814, ông đã tới đảo Elba.
Từ đây, Napoléon sống trên mảnh đất hiu quạnh, giữa những dân
cư xa lạ đã đón người thủ lĩnh mới của họ với thái độ cung kính nhất. Mùa xuân
năm 1811, đúng tròn ba năm trước ngày Napoléon đặt chân lên đảo Elba, Napoléon
đã tiếp tướng Wrede ở cung điện Tuileries lúc này đang vào giai đoạn chuẩn bị
công khai cho chiến dịch nước Nga - Wrede đã cung kính đánh bạo đưa ra ý kiến
không nên mở chiến dịch nước Nga, thì Napoléon đột ngột ngắt lời Wrede rằng “ba
năm nữa, ta sẽ làm bá chủ hoàn cầu”. Sau cuộc gặp gỡ ấy ba năm, “đại đế quốc” sụp
đổ, còn Napoléon trị vì một hòn đảo rộng 223km vuông với 3 thị trấn và vài ngàn
dân. Số mệnh đã đưa Napoléon trở về nơi chôn rau cắt rốn: Đảo Elba cách đảo
Corsica chừng 50km. Hồi tháng 4 năm 1814, đảo Elba vẫn thuộc quyền công tước
Toscany, một trong những chư hầu Ý của Napoléon, nhưng theo yêu cầu của phe
Liên Minh, công tước đã nhường lại cho ông Hoàng Đế thất thế. Napoléon đã đi
xem xét lãnh địa của ông, tiếp xúc với nhân dân và hình như có ý định ở lâu dài
trên đảo. Thỉnh thoảng gia đình ông đến thăm: Mẹ ông, bà Letizia, em gái ông,
quận chúa Pauline Borghese. Bà bá tước Waleska, người từng quan hệ mật thiết với
Napoléon hồi ở Błonie và đã yêu Napoléon suốt đời, cũng đến thăm. Marie Louise
và con trai không đến, một phần vì Hoàng Đế nước Áo không cho phép, vả chăng,
Marie Louise cũng không tha thiết lắm với việc gặp lại chồng. Những người Pháp
viết tiểu sử Napoléon thường công kích sự thờ ơ và phụ bạc của Marie Louise, họ
quên hẳn mất rằng năm 1810, khi Napoléon cầu hôn Marie Louise thì ông ta cũng
như mọi người, có ai đếm xỉa đến việc Marie có ưng thuận hay không. Cũng cần nhắc
lại bức thư Marie viết ở Ausfern gửi cho một người bạn gái thân hồi tháng 1 năm
1810: “Từ khi Napoléon ly dị Joséphine, mỗi lần giở tờ nhật báo Frankfurt, mình
chỉ muốn tìm tên người vợ mới của Napoléon, và thú thực là sự chậm trễ ấy đã
gây cho mình nhiều lo ngại. Mình chỉ còn biết phó thác số phận mình trong tay đấng
tối cao... Nhưng nếu điều bất hạnh chẳng tha mình, mình sẵn sàng hi sinh hạnh
phúc riêng cho lợi ích quốc gia”. Vị hôn thê và người vợ mai sau của ông Hoàng
Đế đã suy tính như vậy đó về sự cầu hôn đang đe dọa nàng. Đế quốc Napoléon sụp
đổ tất nhiên là sự giải phóng đối với Marie. Hoàng Đế cũng không được gặp người
vợ đầu tiên mà ông đã yêu tha thiết trước khi ly dị, Joséphine đã chết ở
Malmaison ngày 29 tháng 5 năm 1814, sau khi Napoléon đến đảo Elba vài tuần lễ.
Tin đó làm cho Hoàng Đế Napoléon ủ dột và trầm lặng trong mấy ngày liền. Những
ngày tháng đầu tiên đã trôi qua như vậy, lặng lờ và đơn điệu trên hòn đảo Elba.
Hoàng Đế thản nhiên trước việc đời và cũng không giấu diếm ai bản chất tình cảm
của mình. Ông trâm ngâm suy tưởng hàng tiếng đồng hồ liền. Chỉ từ mùa thu năm
1814, và đặc biệt là từ tháng 11, Napoléon mới bắt đầu chú ý đến tất cả những
điều người ta kể lại tình hình nước Pháp và Hội Nghị Vienna vừa khai mạc vào hồi
ấy. Không thiếu gì người cung cấp tin tức. Từ hải cảng Piombino ở Ý, cách đảo
Elba không quá 12 km, và trực tiếp từ nước Pháp bay đến cho Napoléon biết rõ rằng,
sau khi trở lại ngôi báu, bọn Bourbon và quần thần của chúng đã tỏ ra không có
chút uy tín nào và ngu xuẩn đến mức không ai tưởng tượng được. Talleyrand, kẻ
thông minh nhất trong bọn đã phản bội Napoléon và đã góp phần khôi phục dòng họ
Bourbon năm 1814, ngay lúc đó đã nói rằng: “Bọn chúng vẫn hệt như xưa”. Trong một
cuộc hội đàm với Caulaincourt, Aleksandr đệ nhất cũng đã cùng chung ý nghĩ như
vậy và nói rằng bọn Bourbon không chịu thay đổi gì cả và là những kẻ không thể
làm cho thay đổi được. Bản thân lão già tê thấp Louis XVIII là một kẻ rất thận
trọng, nhưng em hắn, bá tước d’Artois và mấy đứa con của y là công tước
Angoulême và Berry, cũng như cả cái tập đoàn lưu vong quay trở về cùng với dòng
họ Bourbon đều xử sự tuồng như chưa hề có cuộc cách mạng nổ ra và chưa hề có
Napoléon ở trên đời. Bọn chúng rất vui lòng quên đi và tha thứ cho những tội lỗi
của nước Pháp, với điều kiện là đất nước ấy phải tự nguyện chịu đau khổ, trở về
với lòng trung quân và trật tự chế độ xã hội cũ. Dù có ngu ngốc, bọn chúng cũng
phải thừa nhận rằng không thể nào thủ tiêu được những cơ quan và tổ chức bất khả
xâm phạm do Napoléon đã xây dựng như: Quận Trưởng ở các quận, tổ chức các bộ, bộ
máy cảnh sát, hệ thống tài chính, Bộ Luật Napoléon, toà án, nghĩa là toàn bộ sự
nghiệp của Napoléon, và thậm chí cả huân chương Bắc Đẩu, bộ máy cai trị, tổ chức
quân đội, tổ chức các trường đại học, cao đẳng và trung cấp, điều ước hòa giải
với Giáo Hoàng, tóm lại là toàn bộ cơ cấu Nhà Nước của Napoléon, có khác thì chỉ
là trước kia cái Nhà Nước ấy do một ông vua chuyên chế đứng đầu thì nay do một
ông vua “lập hiến”. Nhà vua bị thúc ép phải ban bố một hiến pháp, đặc biệt là
do Aleksandr khẩn thiết yêu cầu, vì Nga Hoàng tin chắc rằng nếu không có hiến
pháp, dòng họ Bourbon sẽ không thể đứng vững được. Theo hiến pháp ấy, chỉ có một
số rất ít người giàu có được quyền bầu cử (chừng 10 vạn người trong số 28, 29
triệu nhân dân Pháp). Những kẻ chủ trương phục hồi toàn vẹn chế độ cũ đã tức tối.
Kẻ chiếm đoạt ngôi vua thì đã trị vì chuyên chế trong ngần ấy năm trời, mà nay
nhà vua chính thống, nhà vua do Thượng Đế đã sắp đặt, lại bị hạn chế về quyền lực
ư? Bọn chúng còn bất mãn vì nhiều lý do khác nữa. Ngay từ những ngày đầu phục
hưng, bọn chúng đã không ngừng la ó đòi trả lại những đất đai của chúng đã bị
Cách Mạng tịch thu và bán đấu giá cho nông dân và tư sản. Đương nhiên, chẳng có
kẻ nào dám làm việc đó, song những yêu cầu ấy của bọn chúng cũng đủ làm cho
nông dân lo lắng cực độ và nông thôn bị náo động dữ dội. Tầng lớp tăng lữ, hoàn
toàn đồng tình với bọn lưu vong cũ, đã đi đến chỗ mạt sát những nông dân đã mua
được tài sản quốc gia, ở ngay trên toà giảng, chúng nói họ sẽ phải hiến mình
cho cơn thịnh nộ của Chúa Trời và nanh vuốt của chó ngao, như kẻ phản Chúa
Jezabel. Bọn quý tộc lưu vong trở về đã tỏ ra ngạo ngược hơn bao giờ hết. Nông
dân bị đánh đập nhưng không được tòa án can thiệp, xét xử. Những người có thiện
chí nhất trong triều đình Louis XVIII tỏ ra thất vọng trước tình hình đang diễn
ra ở nông thôn và nhìn thấy rõ những tin đồn đại về việc tước lại ruộng đất
đang làm cho nông dân bối rối hoang mang sâu sắc đến cùng cực, nhưng họ chẳng
thể làm gì được. Còn như giai cấp tư sản, trong những ngày đầu tiên sau khi đế
chế sụp đổ, thì bọn họ nói chung cảm thấy dễ chịu, họ có thể hy vọng được rằng
chiến tranh sẽ chấm dứt, chấm dứt cả nạn trưng binh (trong những năm cuối cùng
của đế chế, họ đã không mua được người đi lính thay cho con em họ như trước kia
nữa, vì thiếu đàn ông, hy vọng bắt tay vào việc chấn hưng thương nghiệp, người
ta cũng thoáng thấy được rằng chế độ độc tài gây nhiều trở ngại cho việc buôn
bán làm ăn cũng sẽ chấm dứt, còn tầng lớp đại tư sản công nghiệp thì từ những
năm 1813 - 1814, bản thân nó cũng đã không còn coi đế quốc rộng lớn là điều kiện
cần thiết cho sự phồn vinh của nó nữa.
Mới vài tháng sau khi nền đế chế sụp đổ và cuộc phong toả lục
địa kết thúc, số lớn giai cấp tư sản thương nghiệp và công nghiệp đã la ó ầm ĩ:
Chính quyền Bourbon không dám tính cả đến việc đầu tiên là kiên quyết mở một
chiến dịch thuế quan chống người Anh, những kẻ đã góp phần tích cực trong việc
đánh đổ Napoléon. Nếu trong giai cấp tư sản còn có một số đã đón dòng họ
Bourbon với một chút thiện cảm nào đó tương đối lâu dài, thì phải tìm giới trí
thức trong số những người làm nghề tự do: Luật sư, thầy thuốc, nhà báo...v.v.
Sau nền chuyên chế sắt thép của Napoléon, bản hiến pháp cực kỳ ôn hòa của Louis
XVIII ban bố là một ân huệ vô giá đối với họ. Số sách báo tăng lên, đó là điều
không thể có được dưới thời Napoléon. Nhưng chẳng bao lâu, những tầng lớp trí
thức ấy, môn đệ của những nhà văn và những nhà triết học của Thế Kỷ Ánh Sáng,
được đào tạo trong trường phái tư tưởng tự do, đã phẫn nộ vì sự lộng hành của của
tầng lớp tăng lữ Bourbon cũng như trong bộ máy chính quyền và đời sống xã hội.
Sự ngược đãi những người có tư tưởng Voltaire đã diễn ra ác liệt khắp nơi. Bọn
cuồng tín hoành hành dữ dội nhất ở các tỉnh, nơi mà bọn cầm quyền mới đều do
nhà thờ chọn lựa và giới thiệu. Càng ngày địa vị của bọn Bourbon và bè lũ càng
lung lay.
Không phục hưng được chế độ cũ, không thủ tiêu được luật pháp
ban bố dưới thời Cách Mạng và Đế Chế, cũng không dám đụng đến cái cơ đồ do
Napoléon đã xây dựng, bọn chúng bèn khiêu khích nông dân và tư sản bằng những lời
tuyên bố, những điều luật, những hành động điên khùng và thái độ ngạo ngược. Những
sự dọa nạt và khiêu khích của chúng chỉ làm cho toàn bộ tình hình chính trị
càng thêm không ổn định. Riêng nông dân bị rối loạn. Một tình trạng khác nữa rất
nghiêm trọng: Những binh lính tuyển mộ hàng loạt và số lớn các sĩ quan đều coi
dòng họ Bourbon do bên ngoài đưa vào là một tai hại bất đắc dĩ mà họ phải nhẫn
nhục âm thầm chịu đựng. Thời gian càng xoá nhòa ấn tượng của những thương tích
và chết chóc, càng chôn vùi dần ký ức những năm tàn sát đầy hãi hùng ghê rợn của
chiến dịch Nga. Những cảnh tượng bi thảm ấy mờ nhạt dần và chìm dần trong quên
lãng, nhường chỗ cho hình ảnh người thủ lĩnh đã dẫn họ đến những chiến công
chưa từng thấy và đã đem đến cho họ một vinh quang bất diệt. Trước mắt họ người
ấy không những chỉ là một người anh hùng lừng lẫy, một nhà chỉ huy vĩ đại, người
chủ của nửa quả đất, mà còn là người bạn chiến đấu của họ, là “Chú Cai Bé Nhỏ",
là người đã gọi họ bằng chính cái tên họ, đã véo tai giật râu họ để tỏ lòng ân
cần thân thiết. Hình như họ luôn cho rằng Napoléon yêu mến tất cả bọn họ, như tất
cả bọn họ đã yêu mến Napoléon. Ông Hoàng đã luôn luôn khéo biết nuôi dưỡng cái ảo
tưởng ấy. Hàng ngũ sĩ quan không tỏ thái độ thù địch với bọn Bourbon như binh
lính. Dẫu sao thì cũng có một bộ phận trong bọn họ đã mệt mỏi rã rời vì chiến
tranh và khao khát nghỉ ngơi. Nhưng bọn Bourbon đã không tin họ về mặt chính trị,
và cũng vì không cần dùng đến một số lượng sĩ quan lớn như vậy, nên trong một
lúc, chúng đã thải hồi một số lớn sĩ quan bằng cách cho về hưu. Những người còn
lại thì căm ghét và khinh bỉ những sĩ quan trẻ xuất thân trong giai cấp quý tộc
Bảo Hoàng được đưa lên làm cấp chỉ uy của họ. Lá cờ trắng mà bọn Bourbon thay
thế lá cờ ba sắc của quân đội Cách Mạng và quân đội của ông Hoàng Đế cũng đã là
một nguyên nhân làm họ tức giận. Với binh sĩ của Napoléon, lá cờ trắng ấy trước
kia là biểu tượng của những kẻ phản bội lưu vong mà họ đã bắt gặp và đánh bại
trong các cuộc chống ngoại xâm. Cũng vẫn dưới lá cờ ấy, bọn chúng đã trở về,
khôi phục chế độ cũ dưới sự che chở của lưỡi lê Nga, Áo và Phổ, tất cả kẻ phản
bội chống cách mạng ấy lại còn toan cướp lại ruộng đất của nông dân, những bức
thư từ làng quê đã cho họ biết vậy... “Hiện nay Người ở đâu? Bao giờ Người quay
về?”. Những câu hỏi ấy được đặt ra ở các làng mạc doanh trại sớm hơn là trong
các tầng lớp nhân dân khác. Napoléon biết rõ điều đó. Và ông cũng còn biết những
việc khác nữa.
Những tin tức về tình hình diễn biến của Hội Nghị Vienna đã đến
với Napoléon bằng con đường nước Ý thông thường bằng báo chí. Ông theo dõi các
vua chúa và các nhà ngoại giao đang cố gắng dàn xếp để chia nhau món gia tài kếch
xù của ông mà chưa ngã ngũ, và ông thấy rõ rằng những đất đai do ông chinh phục
được nay bị cắt ra khỏi nước Pháp đang làm cho Khối Liên Minh ngày nọ thèm thuồng
và tranh chấp nhau. Ông biết nước Anh và nước Áo chống lại nước Nga và nước Phổ
chỉ vì miếng mồi xứ Saxony và nước Ba Lan. Sự thống nhất hành động gữa các cường
quốc Châu Âu để chôn vùi cái đại đế quốc của Napoléon vào năm 1814, nay không
còn nữa. Tháng 12 năm 1814, trong khi đi dạo ở vùng lân cận lâu đài của mình ở
Portoferraio, thủ phủ đảo Elba, Napoléon bỗng dừng lại trước mặt người lính cận
vệ đang canh gác. Đó là người lính cận vệ trong tiểu đoàn cựu cận vệ được phe
Liên Minh cho đi theo Napoléon: “Này! Anh lính già, buồn đấy à?”, “Tâu Bệ Hạ,
không ạ, nhưng không phải ở đây lúc nào cũng vui”. “Anh lầm rồi, phải biết tùy
thời cơ chứ”, rồi Napoléon đặt vào bàn tay người lính một đồng tiền vàng và vừa
đi vừa ngâm nga: “Sẽ chẳng như thế nhiều mãi đâu”. Không biết những lời nói ấy
hoặc những lời có ý tứ tương tự thốt ra từ miệng Napoléon có bay đến tai ai
không. Chỉ biết rằng Metternich, Louis XVIII và chính phủ London đã rất lo lắng
về việc Napoléon có mặt ở một địa điểm quá gần bờ biển nước Pháp. Người ta tính
chuyện chuyển Napoléon đến một nơi nào đó xa hơn. Ngay cả ở trên hòn đảo nhỏ ấy,
Napoléon vẫn đáng sợ. Có tin đồn rằng người ta định sai người đi ám sát ông. Bọn
Bourbon và phe cánh của chúng càng chồng chất lên nước Pháp những chuyện ngu dại
bao nhiêu thì đám vua chúa và chính khách ngoại giao ở Vienna càng lo lắng.
Nhưng từ đảo Elba bắt đầu bay tới những tin tức mà người ta rất yên tâm, hoàn
toàn trái ngược với những tin đồn đại nguy cấp kia. Hầu như ông Hoàng Đế không
bước chân ra khỏi nhà, ông ta sống bình thản và cam chịu bước đường của định mệnh,
chuyện trò ân cần với Campbell, đại diện của nước Anh, và nói với Campbell rằng
từ nay chẳng có gì hấp dẫn được ông bằng hòn đảo bé nhỏ của ông. Trong buổi dạ
hội đêm 7 tháng 3 năm 1815, ở triều đình nước Áo, người ta đã tổ chức một cuộc
khiêu vũ để chiêu đãi các vị vua chúa và các vị đại diện của các cường quốc
Châu Âu đang họp ở Vienna. Cuộc vui đang tưng bừng hứng thú nhất thì bỗng nhiên
các quan khách thấy đám cận thần của Hoàng Đế Francis lộ vẻ bối rối cực độ, mặt
mày xanh xám, hốt hoảng, các đình thần chạy vội xuống cầu thang chính, tưởng
như có cháy trong cung điện. Chỉ trong nháy mắt, cái tin không ngờ sau đây đã
bay khắp các cung, phòng, làm mọi người hốt hoảng rụng rời bỏ cuộc khiêu vũ: Một
đạo tin vừa báo rằng Napoléon đã rời đảo Elba, đổ bộ lên đất Pháp và tay không
khí giới, tiến thẳng về Paris.
2
Ngay từ những ngày đầu tháng 2 năm 1815, quyết định trở về nước
Pháp và phục hưng đế chế đã bắt đầu được xác lập rõ rệt trong đầu óc Napoléon.
Ông chẳng hề nói cho ai biết ông đã đi đến quyết định đó như thế nào. Có lẽ chỉ
đến cuối năm 1814 và những tháng đầu năm 1815, ông mới thực sự tin chắc toàn thể
quân đội vẫn trung thành với ông chứ không phải chỉ riêng có đội quân cận vệ,
và bên cạnh những Thống Chế một lòng một dạ như Davout, còn có những tướng lĩnh
như Exelmans, còn có những sĩ quan đã về hưu hoặc đang tại ngũ, chỉ thấy căm giận
và khinh bỉ dòng họ Bourbon và tư tưởng của họ cũng hoàn toàn thống nhất với
quân đội, Napoléon cũng tin chắc rằng trong số những Thống Chế, vì khao khát được
nghỉ ngơi và vì mệt mỏi chán chường cuộc đời chiến tranh liên miên nên đã tình
nguyên phục vụ dòng họ Bourbon, có nhiều người nay tức giận và bất bình Louis
XVIII cũng như em hắn và lũ cháu hắn. Napoléon cũng biết rõ và rất quan tâm
theo dõi tình trạng tư tưởng của nông dân và tình hình nhốn nháo ngày càng
nghiêm trọng ở nông thôn. Một bản báo cáo đã thúc đẩy thêm sự việc. Vào giữa
tháng 2 năm 1815, Napoléon, được gặp gỡ Fleury de Chabulon, một viên chức trẻ
tuổi của đế chế, thay mặt Maret, cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao của Napoléon, hiện
đang ở Pháp, đến đảo Elba để đưa tin tức cho Napoléon. Công tước Bassano đã
trao cho Fleury nhiệm vụ báo cáo chi tiết với Hoàng Đế về sự bất mãn của toàn
dân và hành động vô sỉ của bọn lưu vong hồi hương, và nói với Hoàng Đế rằng
trong thâm tâm hầu hết quân đội chỉ thừa nhận có một ông chúa, đó là Napoléon,
và họ không thể chịu đựng được Louis XVIII cũng như những tên Bourbon khác. Bản
báo cáo thật bổ ích, nhưng thật ra, ngay trước khi phái viên của công tước
Bassano tới. Napoléon, cũng đã hiểu rõ thực chất của tình hình. Song, dẫu sao,
quyết tâm của Napoléon, cũng được xác định sau cuộc gặp gỡ ấy. Giữa thời gian ấy,
bà mẹ Napoléon, cũng đang ở đảo với con; Letizia là một người đàn bà thông
minh, quả quyết và có chí khí. Napoléon kính trọng bà hơn bất cứ ai trong gia
đình. Chính bà là người đầu tiên được Napoléon, thổ lộ tâm tình: “Con không thể
chết ở hòn đảo này được đâu và con cũng không thể kết thúc cuộc đời con bằng sự
nghỉ ngơi yên tĩnh chẳng xứng đáng với con". Napoléon nói với mẹ, “Quân đội
đang trông đợi con. Tất cả đều mong mỏi con về để chạy xổ đến với con. Chắc chắn
là con có thể gặp những trở lực không lường trước trên con đường con đi, có thể
con sẽ gặp một tên sĩ quan trung thành với dòng họ Bourbon, nó sẽ ngăn chặn bước
đi của con và lúc đó, sau vài tiếng đồng hồ, con sẽ ngã xuống. Nhưng cái kết
thúc ấy tốt hơn là chuỗi ngày dài đằng đẵng trên hòn đảo này với tương lai đã vạch
là cái chết. Vì vậy mà con muốn đi lao mình vào may rủi một lần nữa. Ý mẹ thế
nào, mẹ thân yêu của con?“ Letizia vô cùng sửng sốt trước câu hỏi bất ngờ ấy mà
bà không thể trả lời ngay được. “Con hãy để cho mẹ suy nghĩ một lát bằng tình cảm
cảm của người mẹ và rồi sau đó mẹ sẽ cho con biết ý mẹ”. Sau một lúc lâu im lặng,
bà nói: “Đi đi, con trai mẹ, đi đi, và theo đuổi định mệnh của con. Có lẽ con sẽ
thất bại khi mưu toan của con tan vỡ thì cái chết sẽ sát bên con. Nhưng con
không thể ở lại được đây, đó là điều làm mẹ đau đớn. Mà cũng cầu mong rằng Thượng
Đế đã từng che chở cho con trong bao nhiêu chiến trận thì nay Người hãy còn che
chở cho con một lần nữa”. Rồi bà ôm chặt lấy con trai.
Ngay sau khi chuyện trò xong với mẹ, Napoléon liền vời các tướng
lĩnh đã theo ông ra ở đảo Elba: Drouot, Bertrand và Cambronne. Hai viên tướng
sau đã hào hứng đón nhận ý định của Napoléon. Chỉ có Drouot lo ngại rằng sẽ
không đạt được thắng lợi, Napoléon cho Drouot biết từ nay ông không còn ý định
gây chiến chiến tranh và trị vì chuyên chế, ông chỉ muốn làm cho nhân dân Pháp
trở thành một dân tộc tự do. Đó là một đặc điểm trong đường lối chính trị mới của
Napoléon. Ông đã dùng nó để bắt đầu công cuộc của mình, nếu không phải với ý định
biến nó thành hành động thực tế thì ít ra cũng là với ý định sử dụng nó về
phương diện chiến thuật. Napoléon lập tức hạ mệnh lệnh và ra chỉ thị cho họ:
Không phải ông đi chinh phục nước Pháp bằng vũ lực, ý định của ông là trở về
Pháp, đổ bộ lên đất Pháp, công bố mục đích chính trị của mình và đòi lại ngôi
Hoàng Đế. Ông tin tưởng mãnh liệt vào uy tín cá nhân của ông đến nỗi ông cho rằng
đất nước sẽ thần phục ông ngay từ phút đầu, không xung đột cũng không hề có ý định
kháng cự lại ông. Nên chi, không có lực lượng vũ trang cũng sẽ không gặp trở ngại
gì. Ông đã có một số khá người trong tay để chống lại những bất trắc xảy ra có
thể làm hỏng việc trước khi ông được mọi người biết rằng đã tới đất liền và trước
khi ông được đứng trước một quân đội thực sự. Sáu trăm binh sĩ của đội cựu cận
vệ với hơn một trăm kỵ binh, thế là ông đã có một đội quân 724 người, và như vậy
là quá đủ để đảm bảo an toàn tính mạng cho Napoléon trong những phút đầu tiên;
còn sau đó chẳng còn gì đáng sợ nữa. Ngoài ra, một đội kỵ binh gồm trên 300 người
thuộc trung đoàn 35 mà xưa kia chính Napoléon đã phái ra để bảo vệ đảo, cũng
thuộc quyền chỉ huy của ông. Tổng cộng chừng 1.100 người, và Napoléon đã quyết
định đem đi tất cả. Để vượt biển, Napoléon có vài chiếc tầu nhỏ chờ sẵn ở cảng.
Công tác chuẩn bị được tiến hành rất bí mật. Napoléon hạ lệnh cho ba tướng đến
ngày 26 tháng 2 phải chuẩn bị xong xuôi về mọi mặt. Buổi chiều hôm ấy, 1.100
binh sĩ ở Portoferraio bất thình lình được dẫn ra cảng và xuống tàu cùng với toàn
bộ quân trang quân dụng. Họ không hề biết lý do chuyến đi cũng như nơi họ sẽ tới,
vì người ta đã không hề nói hé ra, nhưng ngay trước khi bước chân lên mạn tàu họ
cũng đoán ra được, và khi ông Hoàng Đế cùng ba viên tướng và vài viên sĩ quan cựu
cận vệ ra cảng, họ hoan hỉ đón chào ông. Vừa từ biệt con, bà Letizia vừa thổn
thức tuyệt vọng. Khi mọi người đều đã xuống tàu, cái hạm đội bé nhỏ ấy đã nhổ
neo vào hồi 7 giờ tối và thuận gió, lướt về phía Bắc. Tàu buồm của người Anh và
của hải quân hoàng gia Pháp thường xuyên đi lại trên hải phận Elbe, đó là nguy
cơ đầu tiên. Một chiến hạm Pháp đi sát qua, một sĩ quan trên hạm giơ loa cất tiếng
hỏi viên thuyền trưởng của Napoléon: “Ông vĩ nhân ấy có khoẻ không?”. “Khoẻ lắm!”,
người thuyền trưởng đáp. Và cuộc chạm trán ấy kết thúc. Chiếc chiến hạm của nhà
vua không trông thấy được binh sĩ của Napoléon ẩn kín trong tàu. May mắn thay,
cũng không phải gặp tàu Anh nữa. Cuộc vượt biển kéo dài gần ba ngày, vì gió đã
yếu dần. Ngày 1 tháng 3 năm 1815, hồi ba giờ chiều, hạm đội vào vịnh Juan, gần
mũi Antibes. Hoàng Đế lên bờ và hạ lệnh cho đổ bộ ngay. Nhân viên đồn hải quan
chạy tới và khi nhận ra là Napoléon, họ đã vẫy mũ và reo hò vang dậy để chào mừng
ông Hoàng Đế. Napoléon cử Cambronne và mấy người lính đến Cannes để kiếm lương
binh. Lương thực được tiếp tế đến ngay. Bỏ lại ở bờ biển bốn khẩu pháo đem từ
Portoferraio tới, Napoléon dẫn đầu đội quân nhỏ bé của ông tiến về phía Bắc.
Ông quyết định đi theo đường núi chạy qua địa phận tỉnh Dauphiné. Ông cũng đã
cho in ở Grasse lời tuyên cáo của ông đối với quân đội và nhân dân Pháp. Không
hề kháng cự, Grasse và Cannes đã rơi vào tay Napoléon. Không nấn ná lại lâu,
Napoléon đi qua làng Sermons, rồi qua Digne và Corps, tiến thẳng đến Grenoble.
Viên chỉ huy quân đội bảo vệ Grenoble quyết định chống cự, nhưng binh sĩ đã thẳng
thắn bảo rằng chẳng ai có thể chĩa súng vào Hoàng Đế của họ được. Bọn tư sản ở
Grenoble lo sợ bối rối, một số quý tộc bám riết lấy bọn cầm quyền và van lơn họ
chống cự, còn số khác thì bỏ chạy tán loạn. Ngày 7 tháng 3, hai trung đoàn rưỡi
quân chính quy có cả pháo binh và một trung đoàn khinh kỵ binh được cấp tốc điều
đến Grenoble để chống lại Napoléon. Nhưng Hoàng Đế đã đến sát thành phố. Giờ
phút hiểm nghèo đã điểm. Không thể đặt vấn đề nghênh chiến với tất cả những
trung đoàn ấy và những cỗ pháo ấy. Quân đội của nhà vua có thể từ xa bắn phá
vào binh lính của Napoléon, họ sẽ chẳng thiệt hại mảy may, vì Napoléon không có
một khẩu pháo nào để đánh lại. Sáng ngày 7 tháng 3, Napoléon đến thị trấn La
Mure (thuộc Grenoble). Người ta thấy ở đằng xa, quân đội của nhà vua đã dàn sẵn
đội hình chiến đấu, ngăn bước tiến của Napoléon và sẵn sàng phá cầu Pingos.
Napoléon dùng ống nhòm quan sát hồi lâu lực lượng quân địch đang triển khai.
Sau đó ông hạ lệnh cho binh sĩ chuyển súng qua bên phải, cắp vào nách, chõ nòng
xuống đất. “Tiến”, ông phát lệnh. Và ông đi đầu hàng quân tiến trước mũi súng của
tiểu đoàn tiền vệ quân đội nhà vua. Nhìn binh sĩ của Hoàng Đế, viên tiểu đoàn
trưởng quay về phía viên chỉ huy phó đội quân bảo vệ, rồi vừa chỉ vào binh sĩ vừa
nói: “Mới trông thấy Napoléon mà chân tay chúng nó đã rụng rời, mặt xanh mày
xám như chết rồi thế kia thì làm sao chiến đấu được...”. Viên tiểu đoàn trưởng
hạ lệnh cho quân đội rút lui, nhưng không kịp nữa. Napoléon đã hạ lệnh cho năm
mươi kỵ binh chặn đường rút. “Hỡi các bạn, đừng bắn! - Các kỵ binh kêu gọi -
Hoàng Đế đang tiến đến đấy”. Tiểu đoàn dừng lại. Lúc ấy Napoléon đến sát bên họ,
binh lính vẫn đứng im không động đậy, mũi súng chĩa thẳng, mắt chăm chăm nhìn
vào con người mặc tấm áo Redingote màu xám, đầu đội chiếc mũ nhỏ, đang một mình
tiến về phía họ với bước đi chắc nịch. “Hỡi binh sĩ thuộc trung đoàn thứ năm! -
Những tiếng ấy cất lên giữa sự im lặng khủng khiếp - Ta là Hoàng Đế của các người.
Có thừa nhận ta không?" - “Có, có, có!”. Những tiếng ấy liền vang dậy
trong hàng quân. Vạch áo Redingote, Napoléon phanh ngực ra: “Nếu trong các người,
có ai là người lính muốn bắn vào Hoàng Đế của mình, thì đây, ta đây!”. Những
người được chứng kiến cảnh đó đã suốt đời không quên được những tiếng hoan hô
vang trời dậy đất của binh lính khi giải tán hàng ngũ để chạy đến xúm quanh
Napoléon. Họ vây chặt lấy Napoléon, hôn tay, hôn đầu gối ông và bị một thứ cuồng
nhiệt chung kích động, họ khóc lên vì vui mừng. Sau khi vất vả lắm mới trấn
tĩnh được họ, người ta chấn chỉnh hàng ngũ của họ để tiến về Grenoble. Tất cả
các đơn vị được điều động để bảo vệ Grenoble đều đã lần lượt chạy sang hàng ngũ
Napoléon. Đại tá La Bédoyère, chỉ huy một trung đoàn ở Grenoble từ ngày 7 tháng
3, không những không đợi Napoléon đến mà còn tập họp đơn vị ngay giữa thành phố
và vừa đi duyệt các tiểu đoàn vừa hô lớn: “Hoàng Đế muôn năm!”, rồi dẫn đầu đơn
vị đi gặp Napoléon. Cho đến lúc đó, viên đại tá cũng vẫn chưa biết tình hình xảy
ra ở La Mure. Napoléon tiến vào Grenoble cùng với các trung đoàn đã quy phục và
một đoàn nông dân vũ trang bằng đinh ba và súng cối. Những người thợ chữa xe ngựa
đã phá tung một trong những cửa thành để mở đường cho Napoléon. Các nhà chức
trách đều ra trình diện Napoléon, trừ một số viên chức đã bỏ chạy. Khi tiếp họ,
Napoléon nhắc lại rằng ông ta đã quyết định dứt khoát là mang lại tự do và hòa
bình cho nhân dân Pháp, ông ta thú nhận rằng đúng là trước kia ông ta đã quá
“ham chuộng uy danh và chinh phục” nhưng từ nay trở đi ông ta sẽ theo một đường
lối chính trị khác. Napoléon nhấn mạnh rằng ông ta đã từ bỏ cái ý định trước
đây là muốn nước Pháp thống trị tất cả các dân tộc.
Đặc biệt hơn nữa Napoléon đã nhắc đi nhắc lại và nhấn mạnh rằng
ông ta trở về để cứu nông dân đang bị sự khôi phục chế độ phong kiến của dòng họ
Bourbon đe dọa và để giữ gìn ruộng đất của họ thoát khỏi những âm mưu của bọn
lưu vong. Napoléon kiên quyết tuyên bố rằng ông ta sẽ xét lại các hình thức tổ
chức Nhà Nước do chính ông ta lập ra, và sẽ chuyển nền đế chế thành chính thể
quân chủ lập hiến, một nền quân chủ thật sự với chế độ đại nghị, cũng chính vì
vậy mà Napoléon thẳng thắn nhận rằng cơ quan lập pháp dưới triều đại khi xưa đã
có tất cả những gì người ta muốn, nhưng còn thiếu một tổ chức thật sự đại diện
cho dân. Napoléon hứa sẽ hoàn toàn tha thứ cho tất cả những người nào chạy sang
hàng ngũ của mình; và chứng thực rằng trước kia, khi thoái vị, chính ông ta đã
khuyên nhủ cận thần của ông ta phục vụ dòng họ Bourbon và đã xoá bỏ cho họ lời
thề trung thành với Hoàng Đế. “Nhưng bọn Bourbon đã tỏ ra không thích ứng với
nước Pháp mới”. Sau khi duyệt tất cả các đơn vị kéo về tập trung ở Grenoble
theo lệnh ông ta, Napoléon từ thành phố này tiến thẳng về Lyon, dẫn đầu sáu
trung đoàn bộ binh và một lực lượng pháo binh đáng kể. Các đoàn đại biểu nông
dân từ khắp nơi cuồn cuộn đổ về. Một đội quân 7.000 người cùng với 30 khẩu pháo
đi trước. Napoléon cùng với quân chủ lực dừng lại thêm một ngày ở Grenoble và
ông đã ra rất nhiều chỉ thị và mệnh lệnh, Napoléon lại cảm thấy mình là người cầm
đầu nước Pháp. Từ đây, nếu cần, Napoléon đã có thể nghênh chiến với quân đội của
nhà vua, nhưng ông vẫn tin chắc rằng sẽ không phải dùng đến một viên đạn nào, rằng
trước đây cũng như bây giờ, ở nước Pháp chưa hề bao giờ có quân đội nhà vua, mà
chỉ có quân đội của ông, của Napoléon, của Hoàng Đế, mà rồi chỉ vì một rủi ro bất
ngờ, quân đội ấy phải buộc đứng dưới lá cờ xa lạ, lá cờ trắng trong mười một
tháng trời. Theo lời những người đã được mục kích thì có một khối lớn chừng ba
bốn nghìn nông dân từ khắp nơi đổ về, đi theo Napoléon, họ thay nhau hộ tống
Napoléon từ làng này qua làng khác, cung cấp thực phẩm, phục vụ mọi công việc.
Con người thì có thể thay đổi, nhưng số lượng thì lúc nào cũng vậy. Chính
Napoléon, mặc dầu rất tin vào vận hội của mình, nhưng cũng chưa hề dám mong mỏi
đến như vậy. Bây giờ thì Napoléon đã tin chắc được chỉ vài ngày nữa là ông sẽ đến
Paris. Ai có thể ngăn bước được? Các cổng thành đóng chắc ư? Thì ở Grenoble, bọn
Bảo Hoàng cũng đã đóng chặt cổng thành trước khi bỏ chạy rồi đó. Đã có lần
Napoléon nói: “Ta chỉ cần cầm hộp thuốc lá gõ vào cổng là cổng phải bật ra”.
Nói như vậy là ông nói quá lên một chút nhưng thật ra Napoléon có cần gõ vào cổng
đâu, khi ông ta vừa mới tới gần thì cổng đã từ từ mở toang. Chiến thắng,
Napoléon tiến về Lyon, ông đi giữa các trung đoàn đội ngũ chỉnh tề, vừa ra mệnh
lệnh, cắt cử liên lạc, nhận báo cáo, đề bạt tướng tá mới cho các đơn vị vừa bổ
nhiệm các viên chức mới.
3
Tối 5 tháng 3, khi trạm điện báo Chapel vừa đưa cái tin không
thể ngờ được ấy đến thì người ta liền báo cho Louis XVIII. Lúc ấy Paris vẫn còn
chưa biết gì, và nhà vua đã ra lệnh phải giữ bí mật. Mãi đến ngày 7 tháng 3,
các báo chí mới tường thuật lại sự biến. Và sức tác động của nó thật lạ lùng.
Thoạt tiên không ai hiểu được Napoléon đã làm thế nào vượt qua được quãng đường
biển Địa Trung Hải luôn luôn có hạm đội Anh và Pháp tuần tiễu canh gác đảo Elba
và sau nữa Napoléon làm thế nào không bị bắt khi một mình ông ta vừa đặt chân
lên đất liền, hay dù có hộ tống thì một dúm quân nhỏ bé phỏng đáng kể gì. Phút
đầu chính phủ tin chắc rằng chuyện rắc rối đó sẽ được giải quyết gọn gàng nhanh
chóng: Cái tên côn đồ Bonaparte ấy quả đã hoàn toàn mất trí, bởi chỉ có kẻ điên
mới dám làm liều như vậy.
Nhưng trong khi ấy, cơ quan cảnh sát đã chú ý thấy ở Paris những
triệu chứng nghiêm trọng: Những người cách mạng, những người Jacobin, những người
vô thần, tất cả những người cách mạng hậu sinh từ lâu đã bị theo dõi và bị quản
thúc, nay lại công khai tỏ ra vui mừng và hoan hỉ khi được tin nhà chuyên chế
quay trở về, con người mà khi vừa bước chân vào sự nghiệp đã bóp chết cách mạng
và đã tiếp tục truy nã dai dẳng những người cách mạng. Và đó là ở Paris người
ta còn chưa biết gì về những chủ trương chính trị mới của Napoléon khi quay trở
về cũng như những bài diễn văn đọc ở Grenoble về cái “tự do” mà ông ta hứa hẹn.
Tuy nhiên, ở Paris lúc ấy cũng đã có sự hoan mang nào đó, đặc biệt là trong giới
tư sản giàu có. Trước hết, họ lo sợ một cuộc chiến tranh mới và sự buôn bán lại
suy sụp lần nữa. Những người theo chủ nghĩa lập hiến tự do thấy rằng nếu
Napoléon thắng lợi thì nền chuyên chế quân phiệt sẽ quay trở lại và cũng chấm dứt
cả các hình thức tham gia chính quyền Bourbon mà họ đang hy vọng chiếm lấy ưu
thế. Còn những phần tử Bảo Hoàng, và bọn lưu vong cùng trở về nước với bọn
Bourbon vào năm 1814 thì sợ hãi khủng khiếp. Bọn chúng hoàn toàn mất trí và
chìm đắm trong cơn sợ hãi tột độ, chúng chờ ngày mất đầu thật, theo đúng nghĩa
đen và vật chất của từ ngữ. Rồi đây, con quỷ ăn thịt người đảo Corsica sẽ làm
gì ta? Hình bóng đẫm máu của công tước Enghien ám ảnh bọn Bourbon và triều đình
chúng. Nhưng dù sao, ngay lúc ấy nhà vua vẫn không tin rằng sẽ xảy ra tai họa
ghê gớm. Tin tức bay về tới tấp xác nhận cuộc tiến công của Napoléon vào
Grenoble qua đường núi. Người ta còn chưa biết được những sự biến xảy ra ở La
Mure, nhưng hiển nhiên là không dám tin cậy vào quân đội nữa. Lúc này đây, các
Thống Chế và tướng lĩnh vẫn trung thành với nghĩa vụ, các sĩ quan chắc sẽ chẳng
chạy sang phía ông Hoàng Đế, nhưng binh lính bảo vệ Paris thì đã chẳng cần giấu
giếm nỗi vui sướng của họ.
Người ta quyết định cử thống chế Ney, có lẽ là người được
lòng quân đội nhất sau Hoàng Đế, để chống lại Napoléon. Hình như Ney là kẻ hoàn
toàn thực bụng cộng tác với dòng họ Bourbon; năm 1814, Ney đã ra sức thuyết phục
Napoléon thoái vị hơn ai hết. Trong khi ấy thì Napoléon đã phong cho Ney cấp Thống
Chế, tước công, rồi danh hiệu hoàng tử, và đối với quân đội, điều vinh dự hơn nữa
là Napoléon đã gọi Ney là: “Người anh dũng trong những người anh dũng”. Nếu một
người như vậy mà bằng lòng cầm quân thì dù có đi đánh Napoléon chăng nữa binh
sĩ ắt sẽ phục tùng. Ney được triệu đến cung vua. Vị Thống Chế đã kiên quyết chống
lại hành động của Napoléon, cho rằng nó chỉ gây thảm họa cho nước Pháp. Bị những
lời tán tụng khúm núm van nài của nhà vua và triều đình lung lạc, viên võ quan
sôi nổi ấy, người lính hung hãn ấy đã đứng ra bảo lĩnh quân đội: “Tâu Bệ Hạ, hạ
thần mong mỏi sẽ đưa được Napoléon về nằm trong cũi sắt”. Nhưng ngay cả trước
khi Ney bước lên đường đi chiến dịch, nhiều tin tức khác nhau đã bay đến làm
cho bọn Bourbon khiếp đảm: Quân đội không chiến đấu, chạy sang với ông Hoàng Đế,
các địa phương thì hết tỉnh này đến tỉnh khác, thành phố này đến thành phố khác
lần lượt rơi vào tay Napoléon, không hề kháng cự, toàn những chuyện xảy ra quá
sức tưởng tượng. Phải giữ cho được Lyon bằng bất cứ giá nào. Lyon, cái thành phố
đứng hàng thứ nhì nước Pháp, vì tài nguyên phong phú, vì dân cư đông đúc, vì tầm
quan trọng chính trị. Bá tước d’Artois, em vua, kẻ đáng ghét nhất trong dòng họ
Bourbon, đã đến Lyon với cái hy vọng ngu ngốc là kêu gọi nhân dân Lyon trung
thành tuyệt đối với quyền lợi dòng họ Bourbon. Người ta còn cử cả Thống Chế
MacDonald đến Lyon, người mà hoàng gia tin cậy như Ney. MacDonald hạ lệnh đắp ụ
trên các cầu, gấp rút tiến hành vài công tác phòng ngự khác nữa, và cho rằng tổ
chức một cuộc duyệt binh để giới thiệu bá tước d’Artois với quân đội là một việc
rất hợp thời. Cuộc biểu dương lực lượng long trọng ấy vừa chuẩn bị xong xuôi
thì một viên tướng chạy đến tìm MacDonald và nói rằng nên đưa ngay bá tước đi
nơi khác để đảm bảo tính mạng cho bá tước. MacDonald không thèm đếm xỉa đến ý
kiến ấy, cứ tập trung ba trung đoàn bảo vệ thành phố lại, và đứng trước hàng
quân, hắn tràng giang đại hải kêu gọi quân đội, nêu lên rằng nếu Napoléon chiến
thắng thì rồi sẽ lại xảy ra một cuộc chiến tranh mới với Châu Âu. Sau đó, để biểu
thị lòng trung thành của binh sĩ đối với dòng họ Bourbon, MacDonald yêu cầu
binh sĩ chào mừng bá tước d’Artois, phái viên của nhà vua, bằng cách hô khẩu hiệu:
“Hoàng Thượng muôn năm!” Đáp lời MacDonald là một sự im lặng như chết. Sợ hãi rụng
rời, bá tước d’Artois lật đật bỏ cuộc duyệt binh và ba chân bốn cẳng chuồn khỏi
Lyon. MacDonald ở lại điều khiển công việc phòng ngự. Binh lính trầm lặng và
làm việc với tinh thần bất đắc dĩ. Một lính công binh đến gần Thống Chế, nói:
“Thưa Thống Chế, làm thế này thì thật hoàn hảo, nhưng là một người dũng cảm như
vậy thì ngài nên bỏ bọn Bourbon và đến với chúng tôi, chúng tôi sẽ đưa ngài đến
với Hoàng Đế, gặp ngài chắc Hoàng Đế sẽ vui mừng lắm!”. MacDonald không đáp.
“Hoàng Đế muôn năm! Đả đảo bọn quí tộc!” Tiếng hô lớn đó của
một nông dân tiến vào ngoại ô Quilo Thiers báo cho thành phố biết đội tiền vệ của
Hoàng Đế đã đến gần. Khinh kỵ binh và giáp binh của Napoléon đã đột nhập vào
thành phố. MacDonald cùng bộ đội tiến ra quyết tâm giao chiến, nhưng các trung
đoàn của MacDonald, nhất là quân kỵ binh đi đầu vừa trông thấy bóng giáp binh của
Napoléon đã chạy đến đón và hô lớn: “Hoàng Đế muôn năm!”. Trong khoảnh khắc, bộ
đội của viên Thống Chế đã lẫn lộn và chỉ còn là một khối với quân đội của Hoàng
Đế. Để khỏi bị chính binh sĩ của mình bắt làm tù binh, MacDonald thúc ngựa chuồn
thẳng. Nửa giờ sau, Napoléon vào Lyon đã đầu hàng cũng như vào các thành phố
khác không mất một viên đạn. Hôm ấy là 10 tháng 3, chín ngày sau khi đổ bộ lên
đất liền ở vịnh Juan.
Ngày hôm sau, 11 tháng 3, Napoléon đi duyệt sư đoàn Lyon, sư
đoàn do chính phủ nhà vua tăng cường và cử đến đánh Napoléon. “Trên cầu, dưới bến,
khắp phố xá đều đen nghịt những người, đủ cả nam phụ lão ấu”, Fleury de
Chabulon, đi theo Napoléon, đã kể như vậy. Quần chúng xô lấn vào ngựa của đội hộ
vệ để được sờ vào quần áo của Napoléon. Nô nức hừng hực đến tột độ! Những tiếng
hô rầm trời “Hoàng Đế muôn năm” vang khắp các ngả, kéo dài hàng giờ liền. Tự
tin đến như Napoléon nhưng ông ta cũng không ngờ được rằng mình lại thắng lợi rực
rỡ đến như vậy. Đó là theo lời từ chính miệng Napoléon đã nói ra. Khi tiếp các
nhà chức trách của thành phố Lyon, Napoléon nhắc lại những lời ông đã từng nói
đi nói nói lại mãi ở Grenoble, cũng như trước khi đến và sau khi rời khỏi
Grenoble: Ông sẽ đem hòa bình cho nước Pháp tự do ở trong nước và hòa bình ở nước
ngoài. Ông trở về để bảo vệ và củng cố những nguyên tắc của cuộc Đại Cách Mạng,
ông hiểu rằng thời cuộc đã thay đổi, và từ nay trở đi, bằng lòng với một nước
Pháp, ông từ bỏ hẳn tư tưởng xâm lược. Ở Lyon, Napoléon đã ký sắc lệnh giải tán
Thượng Nghị Viện và Hạ Nghị Viện, nghĩa là những cơ quan hoạt động theo hiến
pháp của bọn Bourbon ban bố. Napoléon cách chức tất cả những viên chức tư pháp
do bọn Bourbon bổ nhiệm và bổ nhiệm những quan toà mới. Napoléon giữ nguyên đại
bộ phận các Quận Trưởng, trừ những trường hợp thật đặc biệt, và họ vẫn là những
người của chế độ Napoléon đẻ ra mà năm 1814 bọn Bourbon chưa kịp thay thế. Ở
Lyon, Napoléon chính thức giành lại chính quyền, truất ngôi dòng họ Bourbon, phế
bỏ hiến pháp hiện hành. Sau đó, cầm đầu gần 1 vạn 5 nghìn quân, Napoléon tiếp tục
tiến về Paris. Dùng lại cái hình ảnh đã nêu ra với binh sĩ trong lời tuyên bố của
ông khi vừa mới đổ bộ lên đất liền, Napoléon nói: “Con đại bàng cùng với lá quốc
kỳ sẽ bay từ tháp chuông này sang tháp chuông khác, đến tận dinh tháp chuông
nhà thờ đức mẹ ở Paris”. Napoléon vẫn tiến không gặp sức kháng cự, ông chiến thắng
kéo qua thành phố Mâcon và qua tất cả các làng mạc trên đường từ Lyon đến
Chalon trên sông Rhône. Nhưng trước khi đi đến Chalon thì ắt phải đấu một trận
quyết định với Thống Chế Ney. Napoléon hiểu rõ Ney. Napoléon đã được xem Ney
chiến đấu, ông nhớ lại Ney hồi nào trên cứ điểm Semenovskoe ở bên sông Moscow
và không quên những việc Ney đã làm khi Ney chỉ huy quân hậu vệ của đại quân
trong cuộc rút lui khỏi nước Nga. Khi ra khỏi Mâcon, được tin báo rằng Thống Chế
Ney bố trí ở Lons le Saunier để chặn mình thì Napoléon đã tin chắc rằng sẽ
không phải giao chiến. Với 1 vạn 5 nghìn người, trong đời ông ta, Napoléon đã từng
làm được nhiều việc hơn thế nữa, nhưng ông ta bấy giờ không muốn đổ máu: Điều
quan trọng đối với ông ta bấy giờ là làm chủ đất nước mà không một ai bị hy
sinh, thiệt mạng, cái đó sẽ là một chứng minh chính trị có sức thuyết phục nhất
đem lại cho ông ta những lợi ích không thể tưởng tượng được. Ney đến Lons le
Saunier ngày 12 tháng 3, với 4 trung đoàn, và còn đợi thêm viện binh. Lúc đó,
Ney đã quyết định theo đúng nhiệm vụ của mình: Ney cho rằng phương pháp duy nhất
để cứu nước Pháp năm 1814 là Hoàng Đế thoái vị. Khi thoái vị, chính Napoléon đã
cho phép các Thống Chế phục vụ triều đại Bourbon. Bây giờ, Napoléon hủy bỏ những
điều cam kết với với phe Liên Minh và tự bỏ đảo Elba quay về, muốn trở lại ngôi
cũ thì một cuộc chiến tranh với Châu Âu sẽ không thể nào tránh khỏi. Ney ngay
thật cho rằng mình chống lại Napoléon là phải. Ney biết rằng mọi nguồn hy vọng
của Louis XVIII bây giờ chỉ còn đặt vào Ney và nhà vua hoàn toàn tin cậy Ney.
Nhưng binh lính đã buồn bã lặng thinh khi chính Ney, người chỉ huy yêu mến của
họ, cố gắng thuyết phục họ. Ney diễn thuyết trước họ, sau khi nhắc lại rằng
mình đã suốt đời phục vụ Hoàng Đế chẳng hề gian nguy, Ney tuyên bố rằng bây giờ
đây, sự lặp lại đế chế sẽ gây cho nước Pháp vô vàn thống khổ và trước hết là
chiến tranh với toàn thể cái Châu Âu đã vô cùng chán ghét Napoléon. Những ai,
vì bất cứ lý do nào đó, không muốn chiến đấu đều có thể tự do rời khỏi hàng ngũ
ngay lúc này, Ney sẽ cùng với số còn lại lên đường chiến đấu. Sĩ quan và binh
lính lặng thinh. Bực tức và lo lắng, Ney quay về đại bản doanh. Trong đêm 13 rạng
ngày 14 tháng 3, người ta đánh thức viên Thống Chế dậy để báo tin rằng lực lượng
pháo binh tăng viện mà ông mong đợi từ Chalon đã nổi loạn chạy sang hàng ngũ
Napoléon, cùng với liên đội cảnh vệ của nó. Từ tảng sáng và suốt buổi sáng, tin
tức liên tiếp bay tới và báo rằng nhiều thành phố đã phá bỏ chính quyền nhà vua
và công nhận Napoléon, đích thân Hoàng Đế tiến về Lons le Saunier và giữa cơn
giông tố làm chấn động tư tưởng chao đảo hoang mang cực độ của Ney, giữa đám
binh lính buồn bã ủ ê, không thiết bắt lời chủ tướng, giữa những sĩ quan tìm
cách lánh mặt Ney, thì Ney nhận được lá thư sau của Hoàng Đế, do một liên lạc
chuyển đến: “Nói với Thống Chế rằng ta luôn luôn yêu mến ông ta và sẽ hôn ông
ta như ngày nào sau trận chiến đấu ở sông Moscow”. Phút lưỡng lự của Ney đã chấm
dứt. Ney hạ lệnh tập hợp ngay các trung đoàn. Đứng trước hàng quân, Ney rút kiếm
hô to: “Hỡi binh lính, quyền lợi của dòng họ Bourbon đã vĩnh viễn không còn.
Triều đại hợp pháp mà nước Pháp đã chấp nhận sẽ trở lại ngai vàng. Quyền trị vì
đất nước tươi đẹp của chúng ta từ nay trở đi thuộc về Hoàng Đế Napoléon, vị
chúa của chúng ta”. Tức khắc những tiếng hô: “Hoàng Đế muôn năm! Thống Chế Ney
muôn năm!” Làm át cả tiếng Ney.
Liền đó một số sĩ quan Bảo Hoàng lập tức rời khỏi hàng quân,
và Ney cũng chẳng giữ chúng lại. Một tên trong bọn chúng vừa bẻ gãy thanh kiếm
của nó vừa chua chát trách móc Ney. Thống Chế trả lời: “Vậy theo anh thì bây giờ
có thể làm được cái gì? Liệu tôi có thể ngăn nổi sóng biển với hai bàn tay của
tôi được không?”. Và sự trở mặt đột ngột như vậy, một chuyện khác không kém phần
lạ lùng nữa là theo chỉ thị của Hoàng Đế, Ney đã điều động các đơn vị của mình
đóng ở Lons le Saunier với tính chính xác cao nhất như trước kia. Thì ra
Napoléon đã gửi mệnh lệnh đó ngay cả trước khi biết được ý định của Ney, vì ông
ta tin chắc rằng Ney sẽ không quay súng chống lại ông. Gần như trong một lúc, ở
Paris người ta biết tin Napoléon đã tiến vào Lyon và đang tiến về phía Bắc, và
Ney phản bội. Trốn! Đó là ý nghĩ đầu tiên của triều đình. Trốn cái chết, trốn
không ngoái cổ lại, trốn cái hào Vincennes, nơi mà xác của công tước Enghien đã
rữa nát. Tình trạng hoang mang bối rối đến không thể tưởng tượng được. Thoạt
tiên, vua Louis XVIII phản đối việc bỏ trốn, vì như vậy là nhục nhã và mất ngai
vàng. Nhưng làm thế nào bây giờ? Người ta đi đến chỗ thảo luận nghiêm túc cái kế
hoạch chiến lược sau đây: Nhà vua sẽ lên xe và rời bỏ thành phố, đi theo là các
vị quần thần, hoàng gia và các vị chức sắc giáo hội; đến cổng thành, cái bầu
đoàn ấy sẽ dừng lại và sẽ chờ đợi kẻ thoán nghịch tới, trông thấy ông vua chính
thống, cái ông già đầu tóc bạc phơ, mạnh mẽ vì nắm pháp lý trong tay, bạo dạn
đem thân ra cản đường không cho kẻ thoán nghịch vào thủ đô, thì chắc chắn y sẽ
hổ thẹn vì hành động của y và sẽ rút lui. Trong những lúc thời bình nhất những
bộ óc ấy đã kém khôn ngoan, thì nay, trong những giờ phút sợ hãi khủng khiếp
này lại càng sáng chế ra không thiếu gì điều ngu xuẩn. Ở Paris, báo chí của
chính phủ hoặc thân cận với giới cao cấp đã từ thế bình chân như vại một cách
ngu xuẩn đến chỗ hoàn toàn tuyệt vọng, rồi cuối cùng là khiếp đảm ra mặt. Trong
thời kỳ này, những báo chí ấy có đặc điểm là biểu thị thái độ bằng những lời
chê, khen Napoléon liên tiếp thay đổi theo bước tiến lên phía Bắc của ông Hoàng
Đế.
— Thời kỳ thứ nhất: ”Con rắn đảo Corsica đã đổ bộ lên vịnh
Juan”.
— Thời kỳ thứ hai: ”Con quỷ tiến về Grenoble”
— Thời kỳ thứ ba: ”Kẻ thoán nghịch tiến vào Grenoble”
— Thời kỳ thứ tư: ”Bonaparte đã chiếm Lyon”.
— Thời kỳ thứ năm: ”Napoléon đến gần Fontainebleau”.
— Thời kỳ thứ sáu: “Đức Hoàng Đế hôm nay đang được thủ đô
trung thành của Người chờ đón”.
Chỉ trong vài ngày, vẫn những tờ báo ấy, vẫn những cái toà soạn
ấy đã liên tiếp thay đổi giọng lưỡi. Hãy còn một tia hy vọng chẳng mấy chốc đã
tắt ngấm này nữa. Ở Paris, người ta biết Napoléon không giữ mình, thí dụ như
khi chiến thắng tiến vào Lyon, Napoléon dẫn đầu đoàn tuỳ tùng và quân đội, cưỡi
ngựa đi bước một giữa đông đảo nhân dân đang hoan hô chào đón. Nếu cần phải cứu
lấy triều đại Bourbon thì ngại gì không cho một nhát dao găm? Và ở Paris những
người được chứng kiến nói rằng: “Nhiều lính kín trà trộn trong dân chúng để tìm
một kẻ như Jacques Clément”. Người ta hứa thẳng với thích khách rằng sẽ trọng
thưởng, vừa đề cao việc đó rất là hợp pháp, không hề có tội trước pháp luật vì
Nghị Viện đã công bố Napoléon là kẻ thù của nhân loại và đã đặt Napoléon ra
ngoài vòng pháp luật. Nhưng trong vài ngày còn lại, người ta không kịp tìm được
một tên Jacques Clément.
Đêm 19 rạng 20 tháng 3, Napoléon cùng đội tiền vệ đến
Fontainebleau. Hồi 11 giờ đêm ngày 19, nhà vua và tất cả hoàng gia trốn khỏi
Paris, chạy về phía biên giới nước Bỉ.
Ngày 20 tháng 3 năm 1815, hồi 9 giờ đêm, Napoléon tiến vào
Paris. Bạt ngàn quần chúng đón chờ Napoléon ở cung điện Tuileries, và khi những
tiếng reo hò vang dậy của những dòng thác người xô theo sau xe của Napoléon từ
rất xa vang vọng tới quảng trường mỗi lúc một mạnh mẽ và dần dần biến thành một
thứ tiếng ầm ĩ đầy hoan hỉ thì khối người đứng nêm quanh cung điện đã ùa đi đón
Napoléon.
Bị bao vây tứ phía, chiếc xe không thể tiến thêm được nữa. Kỵ
binh hộ vệ đã uổng công mở đường. Về sau, những người lính cận vệ kể lại rằng:
“Họ hò reo, khóc lóc, lăn xả vào chân ngựa, trèo lên xe; bất chấp tất cả. Khối
quần chúng cuồng nhiệt ấy đổ xô tới ông Hoàng Đế, chen bật cả đoàn tùy tùng,
lôi Hoàng Đế ra khỏi xe, rồi giữa những tiếng hoan hô không dứt, họ chuyền ông
hoàng từ tay người này sang tay người khác cho đến tận cung điện, rồi qua cầu
thang chính lên đến tầng cao nhất”.
Sau những thắng lợi to lớn nhất, sau những chiến dịch huy
hoàng nhất, sau những cuộc xâm lược các vùng đất đai rộng lớn và trù phú nhất,
Napoléon cũng chưa hề bao giờ được tiếp đón ở Paris như đêm ngày 20 tháng 3 năm
1815. Sau này, một tên Bảo Hoàng già cũng đã phải thốt ra rằng đó quả là một sự
sùng bái.
Sau khi người ta đã phải khó nhọc lắm mới khuyên nổi nhân dân
giải tán, Napoléon lại trở về phòng làm việc cũ khi xưa, nơi mà trước đây 24 giờ,
Louis XVIII đã bỏ trốn đi. Napoléon lại lao ngay vào đống công việc đang bề bộn,
thúc bách. Cái điều vô lý đã thành hiện thực. Không quân đội, không tiếng súng,
không một trận giao chiến, Napoléon đã từ Địa Trung Hải qua nước Pháp về tới
Paris trong 19 ngày để tống cổ bọn Bourbon, và lại trị vì.
Nhưng Napoléon biết điều này hơn ai hết: Lại lần này nữa
Napoléon không mang lại hòa bình mà là binh đao, và Châu Âu, sửng sốt kinh ngạc
trước sự quay về đột ngột của Napoléon, lần này cũng sẽ làm mọi cách để ngăn chặn
không cho Napoléon tập hợp lực lượng.
4
Vừa mới bắt đầu triều đại mới, Napoléon đã trịnh trọng hứa sẽ
đem lại cho nước Pháp tự do và hòa bình, như vậy là ông đã thẳng thắn và công
khai thừa nhận, như ông đã từng nhắc lại ở Grenoble, Lyon, Paris rằng thời kỳ
trị vì trước đây của ông ta đã không đem lại cho nước Pháp tự do cũng như hòa
bình. Gã Napoléon mà lại say mê hòa bình và tự do, điều đó đập vào tai nhân dân
Pháp và Châu Âu chẳng khác gì nói lửa thì giá lạnh, băng tuyết thì nóng bỏng.
Với trí thông minh kỳ diệu, chỉ thoáng nhìn qua cũng đã nắm
chắc và phán đoán được việc mọi việc một cách minh mẫn, Napoléon hoàn toàn hiểu
rằng nếu ông đã chiếm được ngai vàng nước Pháp trong vài ngày bằng hai bàn tay
không, chẳng một trận giao tranh thì hoàn toàn không phải vì tất cả mọi người đều
đã bị nội dung rộng lớn của cái tự do và tính chất bền vững của cái hòa bình mà
ông đã hứa hẹn ấy cám dỗ họ. Bọn Bourbon chưa vi phạm hòa bình, cũng không có ý
định vi phạm. Nhân dân đã quay lưng với chúng vì một lý do khác. Napoléon hiểu
rất rõ rằng sở dĩ ông thành công lớn như vậy là do những lời hứa hẹn của ông với
giai cấp nông nhân, tức là với quảng đại quần chúng nhân dân.
“Những con người không vụ lợi đã dẫn tôi về Paris. Hạ sĩ quan
và binh lính đã làm tất cả. Tôi hoàn toàn chịu ơn nhân dân và quân đội”.
Napoléon đã nhắc lại như vậy vào đêm 20 tháng 3 năm 1815, khi trở lại điện
Tuileries, có Fleury de Chabulon chứng kiến.
“Nông dân hò reo: “Hoàng Đế muôn năm, đả đảo quý tộc! Đả đảo
thầy tu!”. Họ đi theo tôi từ thành phố này sang thành phố khác, đến khi họ
không thể đi xa ơn được nữa thì họ giao phó cho những người khác nhiệm vụ hộ tống
tôi về Paris. Nông dân xứ Provence đã hộ tống tôi, sau họ là nông dân miền
Dauphiné, sau nông dân Dauphiné là nông dân Lyon, sau nông dân Lyon là nông dân
Bourgogne, và những kẻ thật sự âm mưu đem lại cho tôi những người bạn thân thiết
ấy lại chính là bọn Bourbon”. Trong những ngày sau khi về tới điện Tuileries,
Napoléon đã nói như vậy về chuyến đi đầy thắng lợi rực rỡ của mình.
Nhưng, thoả mãn được nguyện vọng của nhân dân, ít ra cũng là
một bộ phận trong họ, là việc dễ dàng: Đối với họ, Napoléon là tượng trưng cho
sự xoá bỏ hoàn toàn những luật lệ phong kiến, tượng trưng cho sự đảm bảo quyền
sở hữu ruộng đất của nông dân. Sự thật, nông dân còn mong muốn không có chiến
tranh, không có nạn trưng binh và khi ông Hoàng Đế nói về chính sách hòa bình
trong tương lai thì họ đã chăm chú nghe ngóng. Nhưng dầu sao, vấn đề hòa bình ấy
cũng chưa phải là vấn đề quan trọng hàng đầu mà là vấn đề khác.
Napoléon biết rằng trong 11 tháng sống dưới chế độ quân chủ lập
hiến, báo chí được hưởng đôi chút tự do, thì nay không phải giai cấp tư sản chỉ
trông đợi ở ông ta những quyền tự do tối thiểu, ông ta phải minh họa càng sớm
càng hay cho chương trình mà ông ta đã trình bày trên con đường tiến về Paris,
khi ông ta đóng vai trò lưu vong ra khỏi nước Pháp, ông đã nói như vậy ở
Grenoble: “Tôi xuất thân từ cách mạng”, ông ta tuyên bố thế ở Lyon: “Tôi về để
kéo dân Pháp thoát khỏi vòng nô lệ mà bọn quý tộc và thầy tu đang muốn dìm họ
vào... bọn chúng hãy coi chừng! Rồi chúng khắc biết tay tôi”.
Napoléon đã nhận được hàng loạt lời chúc từ những người
Jacobin cũ ở các tỉnh, lọt lưới trong những cuộc khủng bố ở thời kỳ trị vì lần
thứ nhất của Napoléon. Lúc này, những người ấy đã chào đón Napoléon như một tay
cách mạng vô địch chống bọn Bourbon, bọn quý tộc, bọn tu sĩ và linh mục. Ở
Toulouse, suốt trong một ngày trời, người ta rước tượng bán thân ông Hoàng Đế
đi diễu khắp thành phố, vừa hát bài Marseille vừa hô lớn: “Quẳng bọn quý tộc
vào lò than!” Từ các tỉnh, người ta gửi về cho Davout - vị Thống Chế được
Napoléon rất yêu mến và bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh - nhiều kiến nghị
yêu cầu Hoàng Đế thiết lập chế độ khủng bố như năm 1973. Napoléon thấu hiểu tâm
trạng ấy. Buổi tối ngày 20 - 3, khi người ta mới rước, Napoléon đã nói với bá
tước Molé:”Tôi lại thấy toàn thể quần chúng căm thù mãnh liệt bọn linh mục và
quý tộc như hồi đầu cách mạng”.
Nhưng, cũng như năm 1812, ở điện Kremlin, Napoléon không dám
liên minh với cuộc cách mạng nông dân ở Nga, thì năm 1815 cũng vậy, tại điện
Tuileries, Napoléon đã lùi bước khi nghĩ đến việc dựa vào nông dân lao động và
dựa vào chính sách khủng bố có tính chất cách mạng. Cũng như trước kia khi
Napoléon đã không cầu cứu đến một “Pugachev”, lúc này ông ta không cầu cứu đến
một “Marat”, và đó không phải là việc ngẫu nhiên.
Trong xã hội Pháp, giai cấp đã từng chiến thắng trong thời kỳ
cách mạng - chúng tôi muốn nói đến giai cấp đại tư sản - là giai cấp duy nhất
mà Napoléon cảm thông và cùng chung nguyện vọng. Napoléon là người đại diện chủ
yếu của họ, là người đã củng cố thắng lợi của họ. Chính Napoléon đã tìm dựa vào
giai cấp ấy, chính là vì quyền lợi của giai cấp ấy mà Napoléon chuẩn bị sẵn
sàng đấu tranh. Và cũng như năm 1812, Napoléon thấy mình gần gũi kẻ thù là
Aleksandr đệ nhất hơn là gần gũi quần chúng nông dân Nga, thì vào năm 1815,
Napoléon cũng đã không muốn dựa vào cách mạng mặc dầu là để đấu tranh chống lại
quân đội người thù địch. Napoléon đã nói với Benjamin Constant, một đại biểu điển
hình cho nguyện vọng của giai cấp tư sản thời đó: “Tôi không muốn là một ông
vua của phong trào nông dân”. Sau khi trở lại trị vì ít lâu, Hoàng Đế đã cho gọi
Benjamin đến cung điện để thảo luận quyết định việc cải tổ các tổ chức Nhà Nước
theo tinh thần tự do. Sự cải tố ấy, nhằm thoả mãn giai cấp đại tư sản, đã chứng
minh cái nhiệt tình mới mẻ của Napoléon đối với tự do và đồng thời xoa dịu phái
Jacobin đang trỗi dậy.
Cũng rất đáng chú ý rằng, Napoléon biết rõ lúc này chỉ có
tinh thần triệt để cách mạng mới giúp cho mình, chứ không phải đạo luật đẹp mã
của chủ nghĩa tự do ôn hòa. Sau này, khi nhắc lại năm 1815, Napoléon nói: “Kế
hoạch phòng ngự của tôi chẳng có tác dụng gì hết, bởi vì những phương tiện đều
không vượt được nguy cơ. Đáng lẽ tôi phải làm lại cuộc cách mạng, triệt để lợi
dụng những khả năng do cách mạng đẻ ra. Đáng lẽ tôi phải kích thích mọi khát vọng,
mọi nhiệt tình để lợi dụng sự mù quáng của chúng. Thiếu những cái đó, nên tôi
đã không cứu được nước Pháp”. Và nhà viết sử quân sự nổi tiếng là Jomini cũng
hoàn toàn tán thành ý kiến đó của Hoàng Đế. Từ bỏ cả việc làm sống lại phong
trào năm 1793 và những lực lượng vĩ đại của cách mạng mà ông ta đã nhận được,
Napoléon đã cho tìm kiếm Benjamin đang trốn tránh và cho dẫn về cung điện
Tuileries. Nhà ký giả và lý luận về tư tưởng tự do này đi trốn vì trước khi
Hoàng Đế tới Paris, hắn đã viết báo nói việc Hoàng Đế quay lại là một tai họa
chung, và coi Napoléon là cùng một đồng một cốt với Neron.
Benjamin Constant run sợ trình diện trước Napoléon và đã vô
cùng sung sướng khi biết rằng không những hắn không bị bắn mà còn được người ta
đề nghị hắn thảo ra ngay một bản hiến pháp của đế quốc Pháp. Napoléon tiếp
Constant ngày 6 - 4, đến ngày 23 thì bản hiến pháp đã thảo xong, với cái tên kỳ
quặc: ”Văn kiện bổ sung hiến pháp của đế chế”. Đó là Napoléon muốn nói thời kỳ
trị vì thứ nhất với thời kỳ thứ hai của ông. Còn Constant thì chỉ việc sửa lại
bản hiến pháp của Louis XVIII cho có đôi chút tính chất tự do. Suất thuế tuyển
cử quy định cho người bầu cử và ứng cử có giảm nhiều, nhưng muốn được ứng cử vẫn
phải giàu có. Tự do báo chí cũng được bảo đảm thêm một chút. Chế độ kiểm duyệt
trước bị bãi bỏ, và từ nay trở đi chỉ có toà án mới được xét xử những tội trạng
về báo chí.
Bên trên Hạ Nghị Viện do bầu cử (300 nghị viên), lập thêm một
Thượng Viện do Hoàng Đế chỉ định theo tước vị dòng thế lập. Luật pháp phải do
hai viện thông qua và được Hoàng Đế phê chuẩn.
Napoléon chuẩn y bản dự luật đó và bản hiến pháp mới được
công bố ngày 23/4. Hoàng Đế đã không chống đối gì lắm tác phẩm tự do của
Benjamin. Ông chỉ muốn hoãn thời gian bầu cử và việc triệu tập hai viện cho đến
khi nào giải quyết xong vấn đề chiến tranh: Nếu như chiến thắng rồi, người ta
thấy rõ rằng các nghị sĩ, báo chí và ngay cả bản thân Benjamin nữa sẽ phải làm
gì, và lúc bấy giờ thì bản hiến pháp ấy để ổn định tinh thần chung. Nhưng giai
cấp tư sản tự do không tin gì lắm vào chủ nghĩa tự do của ông Hoàng Đế và nó đã
yêu cầu khẩn thiết Hoàng Đế cấp tốc triệu tập họp hai viện. Sau vài lần phản đối,
Napoléon bằng lòng và ấn định ngày 25 tháng 5 sẽ họp “Hội Đồng Tháng Năm”,
trong thời gian ấy sẽ phải công bố kết quả cuộc bầu phiếu của toàn dân mà Hoàng
Đế đã chấp nhận theo hiến pháp mới của mình và đồng thời cũng phải làm lễ trao
cờ cho quân đội vệ quốc trước khi khai mạc khoá họp của hai viện.
Cuộc bầu phiếu có 1.552.450 phiếu thuận và 4.800 phiếu chống
bản hiến pháp. Thực tế, lễ trao cờ đã tổ chức long trọng và cảm động vào ngày 1
tháng 6 chứ không phải 26 tháng 5; cũng ngày 1 tháng 6, khoá họp của Hạ Nghị Viện
mới tuyển cử xong đã khai mạc và lấy tên là Hội Đồng Lập Pháp.
Các vị đại biểu làm việc chưa được một tuần rưỡi thì Napoléon
đã không bằng lòng họ và nổi giận. Ông ta không thể chịu được bất cứ một sự hạn
chế nào về quyền hành của mình, thậm chí không chịu được những biểu hiện có
tính độc lập của các Hạ Nghị Sĩ, dù rằng nhỏ nhặt nhất. Nghị Viện đã bầu
Lanjuinais, một người tự do ôn hòa, trước thuộc phái Girondins, làm chủ tịch. Cảm
tình của Napoléon đối với Lanjuinais rất bình thường. Nhưng không thể vì thế mà
cho rằng Lanjuinais manh tâm chống đối. Chắc chắn là Lanjuinais ưa thích
Napoléon hơn bọn Bourbon, nhưng khi nhận lời chúc mừng đầy thái độ khuất phục
và tôn kính của cơ quan lập pháp, Napoléon đã nổi khùng và nói: “Chúng ta đừng
có giống như những người Hy Lạp ở thời kỳ đế quốc La Mã suy tàn, họ tranh cãi để
mua vui với nhau khi giặc đã đến phá thành”. Như vậy Napoléon nói đến Khối Liên
Minh Châu Âu đang ùn ùn tập trung lực lượng từ khắp các nơi kéo đến biên giới
nước Pháp.
Napoléon nhận lời chúc mừng của các vị dân biểu ngày 11/6 và
ngày 12 thì ông lại trở về với quân đội để quyết đấu một trận lớn cuối cùng với
Châu Âu. Khi lên đường, Napoléon hiểu rõ rằng ông bỏ lại ở hậu phương những con
người chẳng đáng tin cậy gì: Không phải chỉ những người thuộc phái tự do trong
Nghị Viện, còn cả cái kẻ mà Napoléon đã không trả lại chức Bộ Trưởng Bộ Công An
ngay khi ông từ đảo Elba trở về. Trước khi Napoléon vào Paris, Joseph Fouché đã
lập mưu làm cho bọn Bourbon tức giận hắn, như vậy là hắn đã tự gây cho hắn điều
rủi ro, và cái mưu mô gian xảo ấy đã đem lại cho hắn chức Bộ Trưởng khi
Napoléon vào Paris. Hắn có thể tiến hành bất cứ một âm mưu nào, làm bất cứ một
chuyện đê tiện nào và bất cứ một sự phản bội nào, có bao giờ Napoléon phải ngờ
vực điều đó. Nhưng, trước hết là tỉnh Vendée đang lộn xộn và Fouché là người biết
rõ hơn ai hết phương pháp đối phó với cuộc khởi loạn ở Vendée. Sau nữa là Hoàng
Đế đã tin cậy vào mối bất hòa giữa Fouché và bọn Bourbon. Và, cũng như trong thời
gian trị vì trước đây: Vừa sử dụng tài mật thám và tài khiêu khích của Fouché,
vừa tuyệt đối bí mật cử người chuyên giám sát Fouché.
Để làm việc ấy, Napoléon đã chọn Fleury de Chabulon. Có lần
Chabulon đã khám phá được một vài chuyện thông đồng bí mật của Fouché với
Metternich. Đúng là Fouché đã gỡ thoát được việc đó, nhưng không phải Napoléon
đã không kết thúc cuộc gặp gỡ với hắn (sự viện xảy ra vào tháng 5 bằng những lời
sau đây:”Fouché! Ngươi là một tên phản bội. Ta chỉ còn việc treo cổ ngươi lên
thôi!”. Đã làm việc lâu năm với Napoléon đã quen nghe những câu chửi mắng như vậy
nên Fouché vừa cúi rạp mình cung kính vừa đáp: “Tâu Bệ Hạ, hạ thần không tán
thành ý kiến ấy của Bệ Hạ”).
Nhưng làm gì bây giờ? Nếu thắng được quân Liên Minh, nghị
viên sẽ khuất phục, Fouché sẽ trung thành và vô hại. Bằng không, ai sẽ chôn vùi
nền đế chế? Những nghị sĩ thuộc phái tự do hay những Bộ Trưởng phản nghịch? Điều
đó có quan trọng gì lắm đâu.
Napoléon tin cậy vào Davout, để Davout ở lại làm toàn quyền
thành phố và làm Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh. Napoléon cũng tin cậy vào Carnot,
con người Cộng Hòa cựu trào này lâu nay vẫn không chịu phục vụ kẻ chuyên chế từng
sát hại nền Cộng Hòa, đã đích thân đến xin phục vụ kẻ ấy vào năm 1815, vì
Carnot coi bọn Bourbon là cái tai họa ghê tởm nhất.
Napoléon biết một cách rất chắc chắn là khu ngoại ô thợ thuyền
sẽ không nổi dậy ở sau lưng Napoléon như vào năm 1813 và năm 1814, đó cũng là
lý do khuyến khích Carnot ra phục vụ Napoléon và người Jacobin vui mừng đón
chào cuộc đổ của Napoléon ở vùng vịnh Juan. Napoléon hiểu rằng lúc này, thợ
thuyền, cũng như Carnot và những người Jacobin ở các tỉnh, đều không nhìn
Napoléon là một ông Hoàng Đế đương bảo vệ ngôi báu của mình chống lại một kẻ
khác đang mưu toan lên ngôi, mà coi ông là người tổng chỉ huy các lực lượng vũ
trang của nước Pháp xuất thân từ cách mạng, là người đi chiến đấu bảo vệ đất nước,
chống sự can thiệp của nước ngoài, chống bọn Bourbon đang khôi phục lại chế độ
cũ. Trước con mắt cả thế giới, của bạn cũng như thù, người thủ lĩnh ấy là một
người thầy có một không hai trong nghệ thuật chiến tranh, người chỉ huy thiên
tài lỗi lạc nhất của mọi thời đại, một nhà chiến lược và chiến thuật kỳ tài,
không ai bì kịp. Nước Pháp và Châu Âu, trước kia đã nổi dậy chống lại người đó
thì nay lưỡng lữ.
5
Cuộc chiến tranh cuối cùng này của Napoléon đã luôn luôn là đối
tượng của các cuộc tranh luận hăng say và đã thường xuyên cung cấp một đề tài
phong phú cho các công trình nghiên cứu của các nhà bác học cũng như các sáng
tác tác phẩm của các nhà văn. Hầu như mọi người đều thấy ở đó một chuỗi những sự
việc rủi ro làm tiêu tan thắng lợi đã nắm sẵn trong tay Napoléon.
Đứng trên quan điểm phân tích khoa học và hiện thực chủ nghĩa
các sự kiện thì đặt vấn đề như vậy chỉ có ích cho những nhà bình luận quân sự.
Cho dù người ta có dễ dàng công nhận luận điểm đó đi chăng nữa, hoặc cho dù người
ta có thừa nhận về đại thể và không tranh cãi rằng nếu không có những sự ngẫu
nhiên, Napoléon ắt đã chiến thắng trong trận Waterloo thì rồi cuối cùng, chắn
chắn cuộc chiến tranh cũng vẫn sẽ kết thúc như vậy: Nền đế chế đã bị lên án, vì
toàn Châu Âu mới chỉ đang bắt đầu phát triển lực lượng, còn Napoléon thì đã dốc
hết lực lượng quận sự hiện có và dự trữ của mình.
Ngày 10/6/1815, Hoàng Đế có trong tay19 vạn 8 nghìn quân thì
đã phải phân tán một phần ba trên đất nước (ông phải để lại ở Vendée gần 6 vạn
5 nghìn quân để đề phòng mọi bất trắc). Đối với chiến dịch đang mở, Napoléon chỉ
có thể trông vào khoảng 12 vạn 8 nghìn quân và 344 khẩu pháo, kể cả quân số của
đội cận vệ, của năm quân đoàn và của đội kỵ binh dự bị. Cũng phải kể đến khoảng
20 vạn người nữa của lực lượng vệ quốc và các đơn vị khác không nằm trong biên
chế của quân đội, trong đó một nửa không được cấp quần áo mặc và một phần ba
không có vũ khí. Nếu chiến dịch kéo dài thì nhờ tài tổ chức của Bộ Trưởng Bộ
Chiến Tranh Davout, Napoléon còn có thể tập hợp thêm được từ 23 đến 24 vạn người
tuy rằng chật vật. Dù lúc đầu Napoléon đã chiến thắng, nhưng làm thế nào mà chiến
tranh lại không kéo dài được? Vì quân Anh, Phổ, Áo, Nga đã tung ra một lúc 70 vạn
quân, và còn có thể huy động thêm 30 vạn nữa vào cuối mùa hè, chưa kể những lực
lượng bổ sungsẽ sẵn sàng xuất trận vào mùa thu. Phe Liên Minh tính sẽ huy động
tất cả một triệu quân.
Khối Liên Minh đã nhất quyết tính cho xong Napoléon. Sau thời
gian đầu hốt hoảng và mất tinh thần, tất cả các Chính Phủ của các nước dự Hội
Nghị Vienna đều tỏ ra kiên quyết chưa từng thấy. Mọi ý đồ đàm phán riêng lẻ với
nước này hay nước khác của Napoléon đều bị cự tuyệt. Napoléon đã bị đặt ngoài
vòng pháp luật, bị coi như 'kẻ thù của nhân loại”.
Chỉ cần nhắc lại rằng, dù bỏ ngoài không tính đến những cường
quốc đứng hàng thứ hai, thì ngay sau trận Waterloo, nước Pháp đã thấy mình sẽ bị
quân đội Áo (23 vạn người), Nga (25 vạn), Phổ (31 vạn) và Anh (10 vạn) xâm chiếm.
Những đạo quân này được cấp tốc thành lập ngay sau khi có tin Napoléon đổ bộ
lên miền Nam nước Pháp. Ngoài mối căm thù với kẻ thoán nghịch và xâm lược,
ngoài nỗi kinh hoàng do viên tướng bách chiến bách thắng đáng sợ gây nên, điều
đã làm cho Aleksandr, Francis, Frederick Wilhelm, Metternich, thượng nghị sĩ
Castlereagh (lúc này rất chú ý đến tư tưởng của thợ thuyền và sự tiến triển của
phong trào cải cách trong giai cấp tư sản Anh) cũng như tất cả các giới cầm quyền
phản động ở Châu Âu phải lo lắng là những vẻ “tự do” mới mẻ mà Napoléon áp dụng
khi quay về. Dưới con mắt của những nhà cần quyền Châu Âu; chiếc khăn đỏ bịt đầu
của Marat còn đáng sợ hơn cái ngai nạm vàng của Napoléon. Đối với họ, hình như
vào năm 1815, đúng là Napoléon chuẩn bị làm cho “Marat sống lại” để tuyển mộ
Marat vào cuộc chiến đấu của mình. Napoléon đã không quyết định như vậy, vì đó
chính là điều Napoléon sợ nhất, nhưng ở Vienna, ở London, ở Berlin, ở
Peterburg, người ta vẫn sợ cái ảo ảnh đó, cái ảo ảnh chỉ khích động thêm mối
căm thù không đội trời chung với kẻ xâm lược.
Khi đến với quân đội, Napoléon được những người lính đón tiếp
nồng nhiệt không sao kể xiết. Nhân viên tình báo Anh kinh ngạc và báo cáo với
Wellington rằng sự tôn sùng Napoléon giống như một sự mê muội. Những lời báo
cáo ấy phù hợp với những báo cáo của các gián điệp ngoại quốc khác có nhiệmvụ
nghiên cứu tình trạng tư tưởng ở Pháp. Nhưng cả Wellington cũng như bọn gián điệp
của ông ta đều không nhận thấy được rằng trong tư tưởng của binh lính Pháp có một
điểm mà từ trước tới nay chưa bao giờ có trong quân đội Napoléon: Họ nghi ngờ
và mất tin tưởng vào các tướng lĩnh và Thống Chế.
Binh lính đã nhớ lại thái độ phản bội Hoàng Đế vào năm 1814 của
các Thống Chế. Bị lòng trung thành mù quáng với Napoléon kích động, họ muốn
Napoléon xử trí “bọn phản bội” như trước đây Hội Nghị Quốc Ước đã xử trí các tướng
lĩnh tình nghi. Cho những tên phản bội mặc áo cổ thêu lá sồi ấy lên máy chém!
Nhưng Napoléon đã không giải quyết như vậy, các Thống Chế và các tướng lĩnh vẫn
giữa nguyên chức vụ chỉ huy của họ, Napoléon không dùng đến chính sách khủng bố
có tính chất cách mạng, dù ở hậu phương hay ở ngoài tiền tuyến, mặc dù ông tự
nhủ rằng chính sách khủng bố đó có thể làm tăng thêm sức mạnh của ông.
Sự có mặt của Hoàng Đế làm cho tinh thần binh sĩ phấn khởi: Họ
yên lòng rằng, từ nay, các Thống Chế và các tướng lĩnh bị giám sát chặt chẽ,
đông đảo binh sĩ vẫn nghi rằng một vài người trong số các tướng lĩnh và Thống
Chế có thể bất thình lình phản bội, thì nay họ không còn lo sợ điều đó nữa.
Trước mặt Napoléon là quân Anh và quân Phổ, những nước đầu
tiên trong phe Liên Minh xuất hiện trên chiến trường. Quân Áo gấp rút tiến về
phía sông Rhine. Tháng 3 năm 1815, những ngày đầu tiên của triều đại mới của
Napoléon. Murat - người đã được Hoàng Đế phong làm vua xứ Naples vào năm 1814
và mặc nhiên được Hội Nghị Vienna công nhận - đột nhiên lại liên minh với
Napoléon ngay từ khi vừa nhận được tin Hoàng Đế đổ bộ lên đất Pháp và đã tuyên
chiến với nước Áo. Nhưng trước khi Napoléon mở chiến dịch đánh quân Liên Minh,
Murat đã bị đánh bại đến nỗi vào trung tuần tháng 6, Napoléon không còn có thể
trông cậy gì được nữa vào cánh quân ấy để giam chân một phần lực lượng của quân
Áo. Nhưng quân Áo hãy còn xa. Trước hết là phải đánh bật quân Anh đang ở
Brussels; Blücher chỉ huy quân đội Phổ đang ở sông Sambre và sông Meuse, ở giữa
Charleroi và Liège.
Ngày 14/6, Napoléon tràn vào nước Bỉ để mở đầu chiến dịch. Tiến
công nhanh chóng vào giữa Wellington và Blücher, Napoléon thọc sâu vào phòng
tuyến của Blücher. Quân Pháp đã chiếm được Charleroi và tràn qua sông Sambre.
Nhưng cánh phải của Napoléon hành binh hơi chậm: Tướng Bourmont, một tên Bảo
Hoàng bị tình nghi từ lâu, đã trốn sang hàng ngũ quân Phổ. Binh lính lại càng
không tin tưởng vào cấp chỉ huy.
Qua sự việc bất thình lình ấy, Blücher thấy có triệu chứng
thuận lợi, mặc dầu ông ta không thu nhận Bourmont, và còn sai người nói cho
Bourmont hiểu rằng ông ta coi tên phản bội như “cục cứt chó”. Blücher lại càng
kiên quyết hơn. Khi được tin báo Bourmont, tên Bảo Hoàng người Vendée, phản bội,
Napoléon nói:”Bọn trắng thì bao giờ chẳng trắng!”.
Ngày 15 tháng 6, Napoléon hạ Quatre Bras nằm trên đường đi
Brussels để kìm chặt quân Anh lại, nhưng vì Ney hành động yếu ớt nên đã thực hiện
chậm trễ. Ngày 16/6, Hoàng Đế mở cuộc tiến công lớn vào Blücher ở gần Ligny và
đã thu được thắng lợi: Blücher mất hơn 2 vạn quân, và Napoléon chừng 1 vạn 1
nghìn. Nhưng Napoléon không hài lòng với thắng lợi đó, vì nếu Ney không phạm
sai lầm, là đã đưa quân đoàn thứ nhất đi loanh quanh giữa Quatre Bras và Ligny
làm cho nó không thể tham gia chiến đấu được, thì ắt Napoléon đã có thể tiêu diệt
được quân Phổ. Bị đánh bại nhưng không bị tiêu diệt, Blücher đã rút lui mất hút
theo hướng nào không rõ.
Ngày 17, Napoléon cho quân lính nghỉ ngơi. Những nhà bình luận
quân sự phê phán Napoléon rằng như vậy là đã để mất một ngày quí báu và giúp
cho Blücher củng cố lại được đội ngũ. Đến trưa, Napoléon tách ra 3 vạn 6 nghìn
quân giao cho Thống Chế Grouchy chỉ huy, và hạ lệnh cho Grouchy tiếp tục truy
kích Blücher. Một bộ phận kỵ binh Pháp được cử đi truy kích đội quân Anh đã quấy
phá quân Pháp ở làng Quatre Bras từ đêm trước, nhưng một trận mưa rào như trút
nước làm ngập cả đường sá đã làm cuộc truy kích phải bỏ dở, Napoléon cùng với
quân chủ lực hội sư với Ney và kéo lên phía Bắc, tiến thẳng về Brussels.
Wellington, chỉ huy toàn bộ quân Anh, đã bố trí phòng ngự cách Brussels 22km,
trên cao nguyên Mont Saint Jean, ở phía Nam Waterloo. Khu rừng Soignes ở phía
bên làng đã cắt đứt đường rút lui về Brussels của Wellington.
Wellington cố thủ trên cao nguyên đó. Kế hoạch của Wellington
là đợi Napoléon tiến đến vị trí cực kỳ kiên cố ấy và kiên quyết giữ vững trận địa
bằng bất cứ giá nào để tạo điều kiện cho Blücher, đã hồi phục sau trận thất bại
và có thêm viện binh, kịp đến cứu viện cho mình.
Các trinh sát viên liên tiếp báo cáo về tổng hành dinh quân
Anh là mặc dầu đường sá bị ngập lụt, Napoléon vẫn tiếp tục tiến về phía núi
Mont Saint Jean. Nếu cầm cự được cho đến khi Blücher tới thì sẽ thắng lợi, bằng
không, quân đội Anh tất sẽ bị tiêu diệt.
Trong những giờ phút đầu tiên của buổi chiều ngày 17/6, tình
thế đã đặt ra cho Wellington như vậy thì tướng Gneisenau, tham mưu trưởng của
Blücher đã báo cho Wellington biết rằng ngay khi vừa chấn chỉnh xong đội ngũ,
quân Phổ lại cấp tốc hành quân để đến ứng cứu.
Ngày hôm sau vừa tắt thì Napoléon cũng đã đến gần cao nguyên
và từ đằng xa, ông đã trông thấy quân đội Anh qua màn sương mù.
6
Napoléon có 7 vạn 2 ngàn quân trong khi Wellington có 7 vạn
và đến sáng ngày 18/6/1815 hai bên đối mặt nhau. Cả hai bên bờ đều chờ viện
binh và bên nào cũng bắt buộc phải đợi: Napoléon thì chờ Grouchy có không quá 3
vạn 3 nghìn quân còn bên Anh thì chờ Blücher đưa đến chiến trường từ 4 đến 5 vạn
quân chiến đấu được trong số 8 vạn còn lại sau trận chiến đấu Ligny.
Đêm hết, Napoléon cũng đã bố trí xong đội hình chiến đấu
nhưng ông đã không thể mở cuộc tiến công ngay vào sáng sớm vì trời mưa lầy lội
đến nỗi không thể triển khai được kỵ binh. Buổi sáng, Hoàng Đế đã đi xem xét trận
địa của bộ đội và lấy làm hài lòng về sự đón tiếp của họ. Từ sau trận đấu
Austerlitz đến nay. Cuộc duyệt đội ngũ lần này là lần cuối cùng trong đời
Napoléon đã gây cho Napoléon và nhưng người có mặt hôm đó những ấn tượng không
bao giờ quên được.
Thoạt đầu, Napoléon đặt đại bản doanh ở trại Kaiyou. Đến 11h
rưỡi trưa thấy mặt đất đã se, Napoléon ra hiệu lệnh tiến công. 84 khẩu pháo
phát hỏa lực như sấm sét vào cánh trái của quân Anh và cuộc tiến công tiến hành
dưới sự chỉ huy của Ney. Đồng thời, quân Pháp cũng mở đường tiến công nghi binh
vào lâu đài Hougoumont thuộc cánh phải quân Anh, và các đợt xung phong vào vị
trí kiên cố này đã gặp phải sức kháng cự quyết liệt nhất.
Mũi tiến công vào cánh trái vẫn tiếp tục. Cuộc chiến đấu khốc
liệt ấy kéo dài được một giờ rưỡi thì Napoléon chợt thấy từ xa, về phía Đông Bắc
làng Chapelle Saint Lambert những đám quân lờ mờ đang tiến đến. Thoạt tiên,
Napoléon đoán là Grouchy, người mà trong đêm hôm trước và buổi sáng hôm sau đó
Napoléon đã nhiều lần ra lệnh phải cấp tốc quay lại chiến trường. Nhưng không
phải Grouchy mà lại là Blücher. Viên tướng này đã khéo nghi binh thoát khỏi sự
truy kích của Thống Chế Pháp và đến tiếp viện cho Wellington. Khi biết rõ sự thật,
Napoléon cũng không bối rối, ông tin chắc Grouchy vẫn bám sát gót quân Phổ, và
khi cả hai cùng tới nơi thì lực lượng sẽ tương đối ngang nhau, mặc dầu Blücher
đem tới cho Wellington số quân đông hơn Grouchy, và nếu trước đó, ông đã giáng
cho quân Anh một đòn sấm sét thì viện binh sẽ bảo đảm cho trận chiến đấu thắng
lợi.
Vừa phái một bộ phận kỵ binh đi chặn đường Blücher, Napoléon
vừa hạ lệnh cho Ney tiếp tục tiến công vào cánh trái và cánh giữa quân Anh đã bị
quân Pháp mở nhiều đợt xung phong dữ dội gây tổn thất khủng khiếp từ lúc bắt đầu
trận đánh và bốn sư đoàn đội hình rất trật tự của quân đoàn d’Erlon đã lao vào
quân Anh. Một trận huyết chiến đã sảy ra trong khu vực đó. Quân Anh đón các
trung đội khổng lồ ấy của Pháp bằng một hoả lực dữ dội và đã phản xung phong
nhiều lần. Các sư đoàn Pháp nối tiếp nhau lao vào cuộc chiến đấu, đã bị thiệt hại
rất nặng nề. Một đoàn kỵ binh người Écosse xông vào hàng ngũ quân Pháp và chém
giết được một số lớn. Thấy tình hình nguy ngập ấy, Napoléon phi ngựa lên một điểm
cao ở gần trại Belle Alliance và đã tung đội thiết giáp của Milhaud, quân số chừng
vài ngàn để ứng cứu, quân Écosse bị đánh lui và bị thiệt một trung đoàn.
Cuộc tiến công ấy của quân Écosse đã làm rối loạn hàng ngũ của
quân đoàn D’Erlon. Không thể phá vỡ được cánh trái của quân Anh nữa, Napoléon
liền thay đổi kế hoạch, ông tập trung lực lượng chủ yếu vào trung tâm và vào
cánh phải quân địch. Vào khoảng ba giờ rưỡi chiều, sư đoàn cánh trái của quân
đoàn D’Erlon đã chiếm được trại Haye Sante nhưng không còn đủ lực lượng để khuyếch
trương chiến đấu. Thấy vậy, Napoléon liền giao cho Ney 40 liên đội kỵ binh của
Milhaud và Lefebvre Desnouettes với nhiệm vụ thọc sâu vào cánh phải quân Anh giữa
Hougoumont, nhưng quân Anh tuy bị chết hàng nghìn người vẫn giữ được những vị
trí chủ yếu.
Trong khi thi hành nhiệm vụ trọng đại ấy, kỵ binh Pháp đã bị
kẹp vào giữa hỏa lực cuả bộ binh và pháo binh Anh. Mặc dầu bị tổn thất, những
người còn sống vẫn không bị rối loạn. Có lúc, Wellington cho rằng mình đã hoàn
toàn thất bại. Và không phải Wellington chỉ nghĩ như vậy mà còn nói như vậy với
bộ tham mưu của mình. Tình trạng tư tưởng của viên tướng Anh được bộc lộ bằng
những lời nói sau đây khi được báo cáo là lính không thể giữ nổi một vài vị
trí: “Nếu thế thì còn cách cố thủ cho tới chết! Tôi không còn lực lượng để tăng
viện nữa. Phải hy sinh đến người cuối cùng nhưng chúng ta phải đứng vững cho đến
khi Blücher tới”. Wellington đã trả lời các báo cáo nguy cấp như vậy, đồng thời
tung ra chiến trường những lực lượng cuối cùng.
Còn Napoléon thì không hy vọng gì vào quân bộ binh dự trữ. Chỉ
còn hy vọng kỵ binh để ném vào lò lửa chiến đấu. Napoléon điều động 37 liên đội
của Kellermann. Trời tối dần, cuối cùng Hoàng Đế đưa đội cận vệ vào cuộc chiến
đấu và đích thân chỉ huy xung phong. Nhưng sau đó, tiếng hò reo nổi dậy và súng
nổ vang bên phía sườn phải quân Pháp. Blücher cũng với 3 vạn quân ồ ạt xuất hiện
trên chiến trường. Đội cận vệ vẫn còn không ngừng tiến công chừng nào Napoléon
còn tin tưởng chắc chắn là Grouchy sẽ nối gót Blücher đến chiến trường!
Nhưng trong phút chốc, tình trạng hốt hoảng đã tràn lan như
ngòi thuốc nổ: Đội kỵ binh Phổ ùa vào đội cận vệ đang bị kẹp giữa hai vòng hoả
lực; trong khi ấy, Blücher với số binh lực còn lại, tiến công vào trại Belle
Alliance, nơi Napoléon và đội cận vệ vừa rời bỏ để chặn đường rút lui của
Napoléon. Lúc đó, đã 8h tối nhưng trời còn sáng. Wellington suốt ngày phải chịu
đựng nhiều đợt xung phong ác liệt của quân Pháp, cuối cùng đã hạ lệnh phản công
toàn diện. Grouchy vẫn biệt tăm. Cho đến phút cuối cùng, ông Hoàng vẫn uổng
công chờ đợi Grouchy.
Giờ kết thúc đã đến. Đội cận vệ với đội hình hình vuông từ từ
rút lui, liều chết mở đường vượt qua hàng ngũ dày đặc của quân địch, Napoléon
rút lui, đi ngựa giữa một tiểu đoàn cận vệ che chở cho ông. Cuộc cầm cự quyết
liệt của đội cận vệ vẫn kéo dài, làm chậm bước tiến của quân chiến thắng. Viên
đại tá Anh Hanket hô to với thế trận hình vuông của đội cận vệ do tướng
Cambronne chỉ huy đang bao vây tứ phía: “Các chiến sĩ Pháp dũng cảm, hãy hàng
đi!”. Nhưng họ thà chết còn hơn hàng và tướng Cambronne đã đáp lại lời của kẻ địch
bằng một câu chửi khinh miệt.
Quân Pháp vẫn chống cự ở những địa điểm khác, đặc biệt là ở
Plancenoit, nơi quân đoàn dự bị của Lobau tác chiến, nhưng cuối cùng đã không
chống nổi sức tiến công của các lực lượng quân Phổ còn nguyên vẹn, và họ đã chạy
tán loạn để thoát thân. Cho mãi đến ngày hôm sau, người ta mới tập hợp và tổ chức
lại được một số tàn quân. Quân Phổ đã tiếp tục truy kích rất xa suốt đêm.
7
Hai vạn rưỡi quân Pháp, 2 vạn 2 nghìn quân Anh và liên minh tử
trận, bị thương nằm phơi ngổn ngang trên chiến trường. Quân đội Pháp bỏ chạy, mất
hầu hết số pháo, hàng chục vạn quân Áo còn nguyên vẹn đã tiến gần biên giới nước
Pháp, và hàng trăm nghìn quân Nga sẽ tiến bước theo sau tất cả những sự việc đó
đã dồn Napoléon đến một tình thế hoàn toàn tuyệt vọng và Napoléon đã thấy ngay
được tình thế đó khi ông rời khỏi chiến trường Waterloo, nơi vừa chấm dứt sự
nghiệp đẫm máu của ông. Phải chăng Grouchy đã phản bội, cố tình chậm trễ để cho
quân đội Pháp bị tiêu diệt, hay đã vô tình đi lầm đường? Trong lúc chỉ huy kỵ
binh tiến công quân Anh, Ney đã chiến đấu như một anh hùng (theo nhận định của
Thiers) hay như một người mất trí (theo nhận định của Medellin)? Nên đợi đến
trưa hãy khai chiến, hay nên khai chiến từ sáng sớm để tiêu diệt quân Anh trước
khi Blücher kịp đến? Từ hơn một trăm năm nay tất cả những câu hỏi đó và hàng
nghìn câu khác đã làm bận tâm các nhà viết sử và thu hút sự say mê của những
người sống vào thời đại Waterloo. Nhưng chúng ta nên chú ý ngay rằng lúc ấy
Napoléon rất ít quan tâm đến các vấn đề đó. Vẻ ngoài vô cùng lặng lẽ, và suy tưởng
triền miên suốt dọc đường từ Waterloo, không ủ dột như sau trận Leipzig, mặc dầu
từ nay trở đi, đối với ông tất cả đều đã hết, không bao giờ trở lại nữa.
Một tuần lễ sau trận Waterloo, Napoléon phát biểu một nhận
xét khá kỳ lạ về nghĩa bí ẩn của trận đánh đó: ”Không phải các cường quốc chiến
tranh chống lại tôi, mà là chống lại cách mạng. Lúc nào họ cũng coi tôi là đại
biểu của cách mạng, là người của cách mạng”. Mặc dầu trên những quan điểm khác,
Napoléon còn đứng rất xa, nhưng về nhận xét ấy thì quan điểm của Napoléon đã gặp
gỡ quan điểm của những môn đồ thuộc phái tư tưởng tự do của những thế hệ cận đại
trong toàn cõi Châu Âu. Chỉ cần nhắc lại cảm xúc của Herzen khi đứng trước bức
tranh in lại, miêu tả Wellington và Blücher chào mừng nhau trên chiến trường
Waterloo: ”Napoléon đã xô đẩy các dân tộc đến bước đường cùng, làm cho họ sôi sục
căm thù, ăn miếng trả miếng, và họ đã chiến đấu với sự quyết liệt liều mạng cho
kiếp nô lệ và cho bọn chủ của họ. Nền chuyên chế quân phiệt lần này đã bị nền
chuyên chế phong kiến đánh bại. Tôi không thể dửng dưng trước bức tranh vẽ cuộc
gặp gỡ giữa Blücher với Wellington khi chiến thắng ở Waterloo. Tôi ngắm bức
tranh đó rất lâu và lần nào tôi cũng có cảm giác rờn rợn. Wellington và Blücher
đã vui vẻ chào mừng nhau. Và vì sao mà những kẻ ấy không vừa lòng nhau được? Họ
vừa mới hất bánh xe lịch sử vào vũng lầy mà đến nửa thế kỷ người ta cũng chưa
thể lôi lên được. Trời đã hừng sáng rồi! Song Châu Âu vẫn đang ngủ mê mệt,
không biết rằng số phận của nó đã thay đổi”. Herzen kết tội bản thân Napoléon
là đã xô đẩy các dân tộc Châu Âu đến chỗ giận dữ vì chế độ độc tài của ông vì
không thèm đếm xỉa đến quyền lợi và phẩm cách của họ, còn Napoléon thì vẫn lặng
thinh trước khía cạnh ấy của vấn đề, cái khía cạnh không hấp dẫn ông ta.
Nhưng qua những lời phát biểu của ông, người ta thấy ông nhìn
được rõ ràng trong một chừng mực nào đó, giai cấp quý tộc chuyên chế và phong
kiến - giai cấp mà ông đã giáng cho nhiều trận thất bại - đã phục thù được ở
Waterloo, rằng nước Pháp xuất thân từ cách mạng (có thể nói như vậy được) đã
cùng với đội cựu cận vệ rút lui ngày 18/6/1815.
Rất đáng chú ý là ngay sau trận Waterloo, Napoléon đã chỉ nói
đến toàn bộ thiên anh hùng ca vĩ đại của ông, và việc mới xảy ra làm kết thúc
thiên anh hùng đó như một người đứng ngoài cuộc quan sát và như thể ông không
phải là nhân vật chính.
Một sự thay đổi bất thần đã diễn ra. Sau trận Waterloo, khi
trở về Paris, Napoléon không chiến đấu để bảo vệ ngai vàng nữa, mà ông đã từ bỏ
tất cả. Chẳng phải vì lòng kiêng kỵ có một không hai đã rời bỏ Napoléon, mà chắc
chắn vì ông đã không chỉ hành động theo sự hiểu biết chủ quan của ông và vì ông
đã nhận thấy sự sâu sắc rằng ông đã hoàn thành tốt hay xấu sự nghiệp của mình
và vai trò của mình đã chấm hết. Mười lăm tháng trước đây, khi cầm bút để ký bảng
thoái vị lần đầu, Napoléon đã bất chợt ngẩng đầu lên và nói với các Thống Chế:
”Sáng mai, chúng ta tiến quân và đánh lại chúng nó”. Lúc đó ông cho là vai trò
của mình chưa chấm dứt. Và 3 tháng mới đây vào tháng 3 của cùng năm 1815 này,
Napoléon đã làm một việc mà chưa ai từng làm trong lịch sử thế giới lúc đó, lúc
đó ông còn đầy lòng tin tưởng mình, tin tưởng vào ngôi sao vận mệnh của mình.
Nhưng giờ đây ngôi sao ấy đã bị tắt đi bất chợt, vĩnh viễn.
Sau trận Waterloo, không khi nào Napoléon tuyệt vọng như đêm 11/4/1814, cái đêm
ông uống thuốc độc. Nhưng ông đã hoàn toàn mất mọi hứng thú hoạt động, ông chờ
đợi kết quả của các biến cố sẽ đến với ông. Ông đã quyết định phó mặc hết thẩy.
Về đến Paris ngày 21/6, Napoléon triệu tập các Bộ Trưởng.
Carnot đề nghị yêu cầu hai viện tuyên bố tín nhiệm nền chuyên chính độc tài của
Napoléon. Davout chỉ khuyên rằng nên kéo dài nhiệm kỳ của Thượng Viện và giải
tán Hạ Viện. Napoléon đã từ chối. Hạ Viện liền họp ngay và tuyên bố nhiệm kỳ
vĩnh viễn theo đề nghị của Lafayette, con người mà ta lại thấy xuất hiện như vậy
trong lịch sử.
Sau này, Napoléon có nói rằng ông chỉ cần nói một tiếng là
nhân dân sẽ đập tan Hạ Nghị Viện, và số đông các nghị sĩ sống trong thời kỳ ấy
đều xác nhận lời của Napoléon. Nhưng nếu như vậy thì hẳn là một lần nữa
Napoléon phải đặt Lafayette đối địch với ”Marat”, phải đặt năm 1793 đối địch với
những người thuộc phái tự do muốn làm sống lại năm 1789, phải đặt giai cấp tư sản
với quảng đại quần chúng là những người mà một phần tư thế kỷ trước đây đã cứu
vãn nước Pháp thoát khỏi Châu Âu quân chủ chuyên chế. Trước cũng như sau
Waterloo, chẳng bao giờ Napoléon muốn đi tới cực đoan như vậy.
Ngày 21, 22, 23 tháng 6, những tin tức lạ lùng nhất từ những
khu ngoại ô thợ thuyền liên tiếp bay tới: Ở những nơi đó, quần chúng tập trung
đông đảo, họ lớn tiếng và kiên quyết phản đối việc Hoàng Đế thoái vị, yêu cầu
tiếp tục đấu tranh chống quân xâm lược.
Suốt ngày 21/6, suốt đêm 21, 22 và suốt ngày hôm sau, các
đoàn biểu tình tuần hành trong các khu ngoại ô Saint Antoine, Saint Marcel và
khu ngoại ô Tanfleu, với những tiếng hò la: “Hoàng Đế muôn năm! Đả đảo quân phản
bội! Hoàng Đế hay là chết! Không thoái vị! Hoàng Đế! Vũ trang! Đả đảo Hạ Nghị
Viện!” Nhưng Napoléon đã không muốn chiến đấu và làm vua nữa rồi.
Ở Paris, bọn tài chủ hốt hoảng, những hội viên của cơ quan
thương mại, những chủ nhà băng đều nhóm mật với nhau, một bầu không khí khủng
khiếp không sao tả xiết trùm lên thị trường chứng khoán. Napoléon có thể nhìn
thấy rõ được rằng giai cấp tư sản đã bỏ rơi ông, đối với họ ông không còn tác dụng
gì nữa và hình như còn nguy hiểm. Bị phản bội bởi chính giai cấp mà ông đã dựa
vào trong suốt triều đại của ông, ông đã dứt khoát từ chối không theo đuổi cuộc
chiến đấu nữa.
Ngày 22/6, Napoléon thoái vị lần thứ hai, nhường ngôi cho chú
vua nhỏ thành Roma - chú đã cùng với mẹ ở với ông ngoại là Hoàng Đế Francis từ
mùa xuân năm 1814. Nhưng lần này, Napoléon không thể hy vọng rằng các cường quốc
sẽ ưng thuận gạt bỏ bọn Bourbon để chấp nhận con trai ông.
Một khối quần chúng khổng lồ tụ tập quanh điện Élysée, nơi
Napoléon ở sau khi rời quân đội trở về. Họ hô lớn: ”Không thoái vị! Hoàng Đế
muôn năm!”. Họ làm náo động đến nỗi tầng lớp tư sản ở trong trung tâm thành phố
rất lo sợ rằng sẽ nổ ra một cuộc cách mạng, ám ảnh của một cuộc cách mạng và thậm
chí một cuộc cách mạng có thể đưa Napoléon lên làm độc tài bắt đầu bám chặt lấy
mọi tâm chí, kể cả bọn buôn bạc kếch xù, và làm bọn họ sợ hãi. Nhưng khi tin
Napoléon thoái vị vừa mới lan ra thì tiền lợi tức ngân khố Nhà Nước tăng vọt
lên: Giai cấp tư sản vui lòng cam chịu để quân Anh, Phổ, Áo và Nga nay mai tiến
vào thủ đô hơn là để cho các khu ngoại ô thợ thuyền, những người muốn kháng chiến
chống xâm lược, hình như đã bắt đầu tiến vào vũ đài chính trị.
Tối 22, khi được tin Napoléon đi Malmaison và ông đã nhất quyết
thoái vị thì các đám đông dần dần giải tán. Tình trạng tư tưởng của một bộ phận
trong số thợ thuyền đã tham gia các cuộc biểu tình ấy được bộc lộ một phần qua
cái thực tế là ngoài số nhân dân lao động ở chính thủ đô, thường thường trong
mùa hè còn có thêm hàng ngàn thợ xây từ các tỉnh kéo đến thủ đô để xây dựng nhà
cửa và đường phố. Họ là thợ đẻo đá, thợ mộc, thợ khoá, thợ sơn, thợ lợp, thợ thảm,
thợ móng...v.v. So với công nhân ở Paris thì những người công nhân làm thời vụ ấy
gắn bó với nông thôn - nơi mà từ đó họ ra đi nhiều hơn. Vừa là nông dân vừa là
công nhân nên họ càng căm ghét dòng họ Bourbon hơn và họ coi Napoléon là người
bảo vệ họ chống lại dòng họ Bourbon ngóc đầu dậy. Những người ăn mặc sang trọng
không chịu hô theo quần chúng: ”Không được thoái vị” đã bị họ nghi là ”quý tộc”
và đã bị họ hành hung chí tử, bỏ mặc cho chết ngoài đường phố.
Quần chúng nhân dân liên tiếp tụ tập hết cuộc này đến cuộc
khác. Một người đã chứng kiến biến cố xảy ra ở Paris, đã viết: ”Chưa bao giờ
nhân dân, những người phải đem xương máu ra chiến đấu, lại tỏ ra gắn bó với
Hoàng Đế đến như vậy”. Tình hình ấy đã diễn ra không phải chỉ trước khi thoái vị,
mà cả những ngày 23, 24, 25 tháng 6, các đám đông hàng vạn quần chúng vẫn tiếp
tục biểu tình phản đối cái sự việc đã rồi ấy.
Ngày 28/6, Hoàng Đế rời Malmaison để đi ra bờ biển Đại Tây
Dương, ông quyết định sẽ đáp tầu buồm từ bến Rochefort để sang Châu Mỹ. Theo lệnh
của Bộ Hải Quân, hai chiếc tàu đã được làm cho Hoàng Đế. Hồi 8 giờ sáng ngày
3/7, khi Napoléon đến Rochefort thì các tàu buồm đã sẵn sàng ra khơi, nhưng
không thể rời bến được vì có một hạm đội Anh đang bao vây chặt bờ biển.
Napoléon đã chờ đợi. Đương nhiên là ông lần lữa ngày này qua ngày khác. Giới
văn học lãng mạn thời kỳ 1830 đã cho rằng ”trong các vinh quang của Hoàng Đế
còn thiếu cái anh hùng tuẫn tiết”, cho rằng thiên truyền kỳ của Hoàng Đế ắt đã
không hoàn chỉnh và vĩ đại đến thế nếu như nó không được nhắc mãi mãi vào tâm
trí người đời bằng hình ảnh của một vị thần Prometheus mới bị xiềng vào núi đá
và cho rằng Napoléon đã rất hiểu điều đó nên ông đã không muốn để cho thiên anh
hùng ca của mình kết thúc một cách khác. Dù sao chăng nữa, về sau này, chính
Napoléon cũng không bao giờ giải thích một cách thỏa đáng xử sự của mình lúc
đó. Sự có mặt của ông ở Rochefort bị lộ, và ngày ngày, hàng vạn người đã đến
bên cửa sổ nơi ông ở vừa hô lớn: ”Hoàng Đế muôn năm!”. Cuối cùng ngày 8/7,
Napoléon đã xuống một chiếc tàu buồm và rời bến, nhưng đã phải cập ngay vào đảo
Aix, về phía Tây Bắc Rochefort, vì hạm đội Anh đã bịt tất cả các lối ra đại
dương.
Napoléon lên bờ và mọi người đều biết ngay. Thủy thủ, bộ
binh, dân đánh cá, tất cả dân chúng các vùng lân cận vội vã đổ về phía chiếc tầu.
Binh lính đồn trú ở đảo đã xin ông Hoàng Đế đi duyệt đội ngũ, và khi được ông
Hoàng Đế nhận lời, họ đã vui sướng tràn trề. Ông cũng đã đi kiểm tra các pháo
đài đã được xây dựng theo kiểu của ông khi xưa.
Khi trở lại đất liền, Napoléon được biết rằng Paris hạ lệnh
chỉ được nhổ neo khi không có hạm đội Anh ở ngoài khơi. Nhưng tàu Anh sẵn sàng
chiến đấu, vẫn đang tuần tiễu ngoài cửa biển.
Napoléon bèn quyết định. Bên cạnh Hoàng Đế có công tước
Rovigo, Montholon, Thống Chế Bertrand, Las Cases và các sĩ quan trung thành, cuồng
tín của đại quân. Napoléon phái Savary và Las Cases đến thương thuyết với quân
Anh xem hạm đội Anh có ưng thuận để các tàu buôn Pháp chở Napoléon sang Châu Mỹ
không. Chỉ huy hạm đội Anh Maitland tiếp đón trên tàu Bellerophon và đã từ chối
một cách nhã nhặn nhưng kiên quyết. Maitland nói: ”Giả dụ nếu nước Anh quyết định
ưng thuận cho Napoléon được yên ổn đi Châu Mỹ, thì ông ta có gì đảm bảo là sau
này sẽ không quay trở về để lại làm cho nước tôi và Châu Âu phải chịu hy sinh
xương máu, hao tổn tiền bạc như đã phải chịu không?” Savary đã trả lời rằng cuộc
thoái vị lần này khác rất xa với cuộc thoái vị năm 1814, lần này Hoàng Đế đã tự
nguyện rời bỏ chính quyền, mặc dù Hoàng Đế vẫn có thể ở lại trên ngôi và tiếp tục
chiến đấu ngay cả sau trận Waterloo, rằng Hoàng Đế đã kiên quyết và vĩnh viễn
rút lui về với cuộc sống riêng tư. Maitland nói: ”Nếu là như vậy, tại sao ông
ta không xin sang nương náu ở nước Anh?”. Khi kết thúc cuộc gặp gỡ, các phái
viên của Napoléon đã không được một lời hứa hẹn, cũng không được trả lời về điểm
chủ yếu: Liệu có nước Anh có coi Napoléon là tù binh không?
Khi Savary và Cases quay trở về tàu của Napoléon, và khi các
thủy thủ và sĩ quan của hai tàu buồm pháp biết tin rằng Hoàng Đế có thể rơi vào
tay quân Anh, thì toàn thể thủy thủ và sĩ quan của hai tàu buồm Pháp ầm ầm phẫn
nộ. Thuyền trưởng Ponée, chỉ huy chiếc tàu thứ hai đã tuyên bố với tướng
Montholon: ”Tôi đã thăm dò các sĩ quan và thủy thủ của tôi. Tôi phát biểu ý kiến
đây là nhân danh họ và cá nhân tôi...”. Sau câu mở đầu đó, Ponée trình bày kế
hoạch của mình: Chiếc tàu Méduse của ông ta bắt đầu tập kích tàu Bellerophon
trong đêm tối ắt sẽ giữ được quân Anh lại trong hai tiếng đồng hồ, dĩ nhiên là
tàu Méduse sẽ bị hy sinh, nhưng khoản thời gian đó sẽ đủ để tàu Xander chở
Hoàng Đế vượt ra khơi bởi vì số còn lại của hạm đội Anh còn ở xa họ chỉ còn vài
chiếc tàu nhỏ, không đủ sức cản nổi một tàu chiến như chiếc Xander. Thủy thủ và
sĩ quan trên tàu Méduse ai nấy đều tuyên bố sẵn sàng hy sinh để cứu Hoàng Đế.
Khi biết đề nghị đó, Napoléon nói với Montholon rằng ông
không bằng lòng chấp nhận một sự hy sinh như vậy, ông không còn là Hoàng Đế nữa,
và không thể để một chiếc tàu buồm Pháp hy sinh cùng với toàn bộ thủy thủ để cứu
một cá nhân bình thường. Sau đó, Napoléon rời tàu Xander để đi đảo Aix. Vài sĩ
quan trẻ tuổi đảm nhiệm bí mật đưa Napoléon xuống một chiếc tàu nhỏ để chở ông
đến đảo.
Nhưng Napoléon đã tự định đoạt số phận mình. Las Cases quay
trở lại gặp Maitland biết là Napoléon đã quyết định trao số phận của ông vào
tay nước Anh. Maitland cam kết mặc dầu mình không có trách nhiệm gì đối với
Hoàng Đế, nhưng Hoàng Đế cũng sẽ được tiếp đón thích đáng ở trên tầu của ông
ta.
Ngày 15/7/1815, Napoléon xuống chiếc tàu nhỏ ”Epervier” để ra
tàu Bellerophon. Napoléon đã mặc quần áo mà ông ưa thích nhất, bộ quân phục cận
vệ và đội chiếc mũ nhỏ nổi tiếng. Đứng trước đội ngũ thủy binh tề chỉnh, viên
thuyền trưởng thuyền Epervier vừa hô to ”Hoàng Đế muôn năm!” vừa thi hành mệnh
lệnh của Napoléon. Tàu Epervier chạy tới sóng hàng bên cạnh tàu Bellerophon. Dưới
chân cầu thang tàu, thuyền trưởng Maitland đã rất kính cẩn chào đón Hoàng Đế.
Khi lên boong tàu Bellerophon, Hoàng Đế thấy toàn bộ thủy thủ của chiếc chiến hạm
Anh xếp hàng trước mặt mình và Maitland đã giới thiệu các sĩ quan với ông Hoàng
Đế. Ngay sau đó, Napoléon lui vào căn buồng tốt nhất của chiếc hạm do viên thuyền
trưởng đã bố trí cho ông.
Kẻ thù mạnh nhất, dai dẳng nhất, đáng sợ nhất, mà nước Anh đã
gặp phải trong lịch sử, đã nằm trong tay họ.
CHƯƠNG 17
trên đảo saint helena
1
Đầu thế kỷ thứ XVI, Vasco da Gama, một trong những người Bồ
Đào Nha thám hiểm vùng bờ biển phía Nam Đại Tây Dương đã tìm thấy một hòn đảo
nhỏ bé, hoang vu ở vĩ tuyến Nam 15 độ rưỡi. Ngày ấy là ngày 21 tháng 5 năm
1501, theo lịch của nhà thờ Thiên Chúa Giáo là ngày Đức Saint Helena. Do đó tên
ấy đã được dùng để đặt tên cho đảo. Vào thế kỷ thứ XVII, đảo thuộc người Hà
Lan, nhưng đến năm 1673 đã bị người Anh vĩnh viễn cướp đoạt. Công ty Phương
Đông của Anh đã dùng đảo làm một chặng đường dừng tàu trên đường Anh - Ấn.
Ngay sau khi được tin Napoléon đã ở trên tàu Bellerophon,
Chính Phủ Anh bèn quyết đày Napoléon ra đảo. Bờ biển Châu Phi là nơi gần nhất
cũng cách đảo ngót 2.000km; từ nước Anh đến đảo Saint Helena, tàu buồm của thời
đó phải đi từ hai tháng rưỡi tới ba tháng. Vị trí địa dư ấy của đảo đã ảnh hưởng
quyết định đến nghị quyết của chính phủ Anh. Sau Một Trăm Ngày, hình như
Napoléon còn đáng sợ hơn cả trước khi diễn ra hành động cuối cùng của thiên
hùng ca của ông. Nếu như ông lại xuất hiện trên đất Pháp thì lại một lần nữa đế
chế có thể tái sinh và một cuộc chiến tranh mới ở Châu Âu lại có thể nổ ra.
Nằm chơi vơi giữa biển cả mênh mông, xa xôi với mọi khu vực đất
liền, đảo Saint Helena đã là một đảm bảo để Napoléon không trở về. Những nhà
thơ lãng mạn và khuynh hướng viết sử dân tộc chủ nghĩa của Pháp đã coi hòn đảo
là nơi mà người Anh lựa chọn dành riêng vào việc đày đọa cho người tù binh của
họ chóng chết. Sự thật không phải thế. Khí hậu ở đảo Helena rất tốt lành. Vào
tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình ban ngày khoảng 24 độ, tháng lạnh nhất là
18 độ rưỡi. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21 độ. Ngày nay, ở đó chỉ còn ít những
cánh rừng lớn, nhưng trước đây một thế kỷ, đảo còn rất rậm rạp. Nước ăn trong
lành thơm tho, mưa nhiều nên đất đai ẩm ướt, cây cỏ um tùm tươi tốt, chim muông
ríu rít. Đảo rộng 122km vuông, vách đá dựng đứng, xanh ngắt dường như trong
lòng biển cả mọc ra.
Khi người ta báo Napoléon rằng sẽ bị đưa ra tàu buồm
Northumberland đi Saint Helena, ông đã phản đối rằng người ta không có quyền
coi ông ta là tù binh. Sau hai tháng rưỡi lênh đênh trên mặt biển, ngày
15/10/1815, chiếc tàu đã đưa Napoléon đến đảo và ông đã sống những ngày cuối
cùng ở đó.
Số người theo Napoléon đi đày rất ít, vì phần lớn những người
xin đi theo Napoléon ra đảo Helena đã bị Chính Phủ Anh từ chối. Cùng đi với ông
chỉ có vợ chồng Thống Chế Bertrand, vợ chồng tướng Montholon, tướng Gourgaud,
Las Cases và con trai. Ngoài ra còn có người hầu phòng Marchand và vài người hầu
phòng khác, trong đó có Santini, người đảo Corsica. Đầu tiên Napoléon ở một
ngôi nhà không tốt lắm, sau đó đến một ngôi rộng rãi hơn một chút thuộc quyền
cai trị của đô đốc Corbière, từ tháng tư năm 1816 cho tới khi Napoléon chết thì
đặt dưới quyền cai trị của viên toàn quyền Hudson Lowe. Lowe là một quân nhân cục
cằn, đần độn và thiển cận. Hắn sợ mọi thứ trên đời và sợ nhất là người tù của hắn.
Sợ trách nhiệm, chỉ lo Napoléon trốn mất nên hắn sống trong lo lắng khủng khiếp.
Trong khi ấy, theo chỉ thị của Chính Phủ Anh thì Napoléon được tự do, đi đâu,
muốn đi bộ, hoặc cưỡi ngựa, muốn tiếp ai hay không là tuỳ Napoléon. Ngay từ đầu,
Napoléon đã không ưa Hudson Lowe. Napoléon thường không tiếp Lowe, không dự tiệc
do Lowe mời ”tướng Bonaparte” (nước Anh tuyên chiến với Napoléon từ năm 1803, từ
thời Napoléon chưa lên ngôi Hoàng Đế). Trên đảo cũng có đại diện của các cường
quốc: Pháp, Nga, Áo. Đôi khi Napoléon tiếp các hành khách người Anh hay người
nước khác, khi họ dừng lại ở Helena, trên đường đi Ấn Độ, hay Châu Phi, hoặc
khi họ quay trở về.
Một đội quân được phái đến bảo vệ đảo, đóng ở Jamestown, cái
thị trấn nhỏ độc nhất ở Helena, cách Longwood khá xa. Đáng chú ý là các sĩ quan
và binh lính của đội quân bảo vệ này không những chỉ tỏ vẻ kính trọng Napoléon,
mà đôi khi còn bộc lộ chút tình cảm có tính chất sùng bái. Binh lính thường gửi
hoa tặng Napoléon và xin những người hầu cận cho họ được trộm xem mặt Napoléon.
Lâu về sau, khi nói đến người tù đã làm họ phải sống nhiều năm trên một hòn đảo
hoang vu, cô quạnh, không phải các sĩ quan đã không tỏ ra có thiện cảm. Những mối
cảm tình ấy đã không thoát khỏi sự chú ý của các nhân viên những cường quốc có
nhiệm vụ giám sát Napoléon ở Helena. Bá tước Balmain, đại diện cho Aleksandr đệ
nhất tuyên bố: ”Điều lạ lùng nhất là người tù binh bị mất ngôi, bị canh gác bốn
bề vẫn dội ảnh hưởng đến tất cả những ai đến gần ông ta...Những người Pháp thì
run lên trước con mắt ông ta và họ coi rằng được phục vụ ông ta là một niềm hạnh
phúc thực sự... Những người Anh thì tỏ thái độ sùng kính khi đến gần ông ta.
Ngay cả những người canh gác ông ta cũng cầu mong được ông ta nhìn họ, tìm cách
để được ông ta nói với họ, dù chỉ là một đôi tiếng. Không một ai dám cư xử
ngang hàng với ông ta”.
Cái triều đình bé nhỏ của Napoléon, đã theo ông ta đảo Saint
Helena và đóng đô với ông ở Longwood, cũng cãi cọ, đối phó với nhau đúng như
khi còn ở Paris, trong cung điện Tuileries. Las Cases, Montholon, Gourgaud thì
tôn sùng Napoléon, coi Napoléon là Thượng Đế của họ, và ghen tị lẫn nhau.
Gourgaud đã đi tới chỗ đòi đánh nhau với Montholon, chỉ đến khi ông Hoàng Đế nổi
giận can thiệp vào mới chấm dứt được cuộc cãi lộn. Ba năm sau, Napoléon đã viện
nhiều cớ để trả Gourgaud về Châu Âu, thật ra chỉ vì Napoléon đã quá mệt do đầu
óc mê tín dị đoan và tính nết kỳ cục của Gourgaud. Napoléon cũng đã phải chia
tay với Las Cases, người mà Hudson Lowe đã bức phải rời đảo vào năm 1818. Las
Cases đã ghi lại những cuộc chuyện trò với Napoléon, thường do chính Napoléon đọc
cho viết, và trong số những bút ký viết về Helena thì chắc hẳn những ghi chép ấy
là một công trình đáng chú ý nhất. Khi Las Cases phải đi, Napoléon đã không tìm
được người thư ký nào làm tròn nhiệm vụ và có học thức như vậy để thay thế. Vì
vậy, chúng ta được biết rất ít về những năm cuối cùng của ông Hoàng Đế.
2
Tuy không hề thổ lộ với cái triều đình bé nhỏ của ông, nhưng
tất cả đều nhận thấy Napoléon sầu muộn u uất. Đâu phải vì những sự quấy nhiễu của
Hudson Lowe, bởi chung những sự quấy nhiễu ấy dù có ti tiện và khó chịu đến đâu
cũng không thể làm Napoléon bị tổn thương sâu sắc, vả chăng với Napoléon, có
bao giờ ông thừa nhận Hudson Lowe là viên toàn quyền cai trị ông. Cũng không phải
vì khí hậu ở đảo, một thứ khí hậu điều hòa và trong lành. Cũng không phải vì đời
sống vật chất của ông, chẳng hề kém viên quan toàn quyền. Cái đã giết ông chính
là sự ăn không ngồi rồi. Napoléon đọc sách rất nhiều, đi chơi, bách bộ, cưỡi ngựa,
đọc cho Las Cases viết. Nhưng lúc cuộc sống đã thu hẹp lại như vậy, sau khi sống
cả cuộc đời với những ngày làm việc 15, thậm chí 18 tiếng đồng hồ, thì sự nhàn
rỗi ấy đối với Napoléon là điều không sao chịu đựng nổi.
Napoléon che giấu tâm trạng của mình, cố gắng trò chuyện và tỏ
ra vui vẻ với mọi người xung quanh và hình như cũng có lúc làm ông khuây khoả
đôi chút. Ông đã kiên trì chịu đựng hoàn cảnh của ông. Suốt cuộc đi biển trong
con tàu ”Northumberland”, Napoléon đã bắt đầu đọc cho Las Cases, với Montholon,
với Gourgaud, những bức thư viết từ đảo cho tới khi người thư ký ấy ra đi. Những
cuộc đàm luận với Las Cases, với Montholon, Gourgaud, những ”Bức thư viết từ đảo”
do Napoléon đọc và duyệt lại, mà sau này Las Cases xuất bản theo chỉ thị của
Napoléon nhưng không ký tên Napoléon, những nguồn tài liệu đó đã không nói lên
được sự thật lịch sử của các sự kiện, mà chỉ nêu lên những hình ảnh bên ngoài của
chúng như Napoléon mong muốn để lại cho đời sau.
Trong tất cả những ghi chép về những cuộc gặp gỡ ấy với
Napoléon, trong tất cả những tập hồi ký đáng tin cậy đôi chút ấy (Hồi ký của
Las Cases, của Montholon và của Gourgaud, của Antommarchi và của O’Meara thì chẳng
có giá trị gì), người ta có thể rút ra nhiều điều cho tập ”Truyền Kỳ Napoléon”,
nhưng rút ra được rất ít chất liệu có giá trị và chân thật giúp cho sự xác định
tính chất của chính con người Napoléon và lịch sử triều đại của ông. Thiên
”Truyền Kỳ Napoléon” sau này đã được dùng để đóng một vai trò lịch sử rất tích
cực, đã biết tự sáng tạo trước của Victor Hugo và Heine, Goethe và Schiller,
Pushkin và Lermontov, Balzac và Beranger, Mickievic và Tovianski; nó đã bắt đầu
sự sáng tạo cùng đội ngũ của các nhà thơ, nhà báo, nhà chính trị và nhà sử học
mà tư tưởng và tâm hồn họ, nhất là trí tưởng tượng của họ, đã gắn bó từ sâu sắc
rất lâu với nhân vật vĩ đại đó, nhân vật mà sau trận Jena, Hegel cho là hiện
thân của lịch sử nhân loại. Thiên truyền kỳ ấy đã bắt đầu tự sáng tạo ở đảo
Saint Helena.
Nhưng trong cuốn sách này, chúng ta chỉ nói về Napoléon và
tuyệt nhiên không nói về truyện ”Truyền Kỳ Napoléon”.
Do đó, những tài liệu viết trong thời gian ông Hoàng Đế ở đảo
cung cấp cho chúng ta rất ít vấn đề. Ông ”Thượng Đế” đọc những lời lẽ khẳng định,
và những tín đồ của ông đã ghi chép lại, Sự sùng bái, tin yêu, tôn thờ không phải
là những tình cảm thuận lợi cho việc phân tích phê phán. Napoléon nói với những
người thân cận của ông không phải là cho họ nghe, mà cho hậu thế, cho lịch sử.
Phải chẳng lúc đó Napoléon vẫn tin chắc rằng triều đại của ông sẽ được triệu về
để trị vì nước Pháp một lần nữa? Chúng ta không biết điều đó, nhưng Napoléon đã
nói với các cận thần tựa hồ như ông đã đoán trước được việc ấy. Cũng đã có lần
Napoléon quyết đoán rằng con trai ông sẽ trị vì.
Tất cả những nhận xét và những lời bình luận, do Napoléon đọc
ra, nói về các cuộc chiến tranh của ông, về tài thao lược của các danh tướng
khác và về nghệ thuật chiến tranh nói chung, những điều đặc biệt bổ ích. Trong
mỗi lời, người ta đều cảm thấy Napoléon quả là bậc thầy, là người am hiếu và là
người say mê nghề nghiệp của mình. Có lần Napoléon nói: ”Nghệ thuật chiến tranh
thật là lạ lùng, tôi đã chiến đấu trong 60 trận, và tôi cam đoan rằng tôi chẳng
học được gì cả ngoài những điều mà tôi đã học được từ những trận đầu tiên”.
Napoléon đánh giá cao tướng Turenne và tướng Condé. Rõ ràng Napoléon đã coi
mình là một viên tướng tài nhất của các thời đại, mặc dầu người ta chưa bao giờ
nghe Napoléon nói rõ điều đó. Napoléon hãnh diện đặc biệt về trận Austerlitz,
trận sông Moscow, trận chiến dịch nước Pháp năm 1796 - 1797, và chiến dịch cuối
cùng, tức là chiến dịch 1814. Ông coi trận thất bại của quân Áo ở Wagram là một
trong những thắng lợi lớn nhất của ông về mặt chiến lược. Nếu lúc đó, Turenne
và Condé có mặt ở Wagram thì ắt hẳn họ đã thấy ngay nơi hiểm yếu của trận địa
cũng như ông và ông nói thêm rằng, ”nhưng còn Caesar và Hannibal thì không thể
thấy được”. Napoléon khẳng định rằng: ”Nếu có Turenne bên tôi để giúp đỡ tôi
tác chiến, hẳn tôi đã làm bá chủ thế giới”. Theo Napoléon, một quân đội giỏi phải
có những sĩ quan biết xử trí đúng với tình huống.
Có lần, Napoléon đã tỏ ý tiếc rằng ông đã không chết ở bên
sông Moscow hay ở điện Kremlin. Nhưng cũng có lúc, khi trở về với ý nghĩ trên.
Napoléon lại muốn chết ở Dresden hay tốt hơn nữa, ở Waterloo;Napoléon tự hào nhắc
lại giai đoạn Một Trăm Ngày và lòng tin yêu của nhân dân đối với cá nhân ông
khi ông đổ bộ lên vịnh Juan và sau trận Waterloo.
Napoléon tiếc mãi việc bỏ Ai Cập và việc lui quân từ Syria về,
sau khi không vây Saint Jean d’Acre, vào năm 1799. Theo ý Napoléon đáng lẽ phải
ở lại Phương Đông, chinh phục các nước Ả Rập, Ấn Độ, làm Hoàng Đế Phương Đông
chứ không phải là Phương Tây. ”Nếu tôi hạ thành Acre thì tôi đã tới vùng
Constantinople và nước Ấn Độ”. Napoléon nhắc lại rằng ai chiếm được Ai Cập sẽ
làm chủ được Ấn Độ (ta nên chú ý là điều này hoàn toàn nhất trí với chiến lược
hiện đại). Về việc người Anh thống trị nước Ấn Độ, Napoléon nói rằng ông chỉ cần
đưa đến đó một dúm người là đã có thể tống cổ được người Anh. Napoléon thường
nói nhiều đến trận Waterloo, và cho rằng nếu không xảy ra những sự bất ngờ
không thể lường trước được, và nếu bên cạnh ông có những tướng như như
Bessières, Lannes (đã chết trong những chiến dịch trước), nếu có Murat thì trận
đánh đã kết thúc khác. Mỗi khi nghĩ đến thắng lợi của trận đánh cuối cùng ấy lại
thuộc về người Anh, Napoléon lấy làm vô cùng buồn bực.
Việc xâm chiếm Tây Ban Nha đã là sai lầm đầu tiên của ông
(cái ung thư Tây Ban Nha) và khi nói đến ”sự hiểu lầm” đã đưa ông tiến vào
Moscow, thì hồi ấy chưa thật nghiêm khắc với mình, song ông cũng nhận ra chiến
dịch nước Nga là sai lầm thứ hai, nặng nề, tai hại hơn cả chiến dịch Tây Ban
Nha. Nhưng không phải Napoléon chỉ nhận trách nhiệm của mình đến như vậy mà
thôi, ông còn cho rằng năm 1812, đến Dresden, khi nhận được Bernadotte - lúc đó
đã trở thành thái tử nước Thụy Điển - không có ý giúp mình đánh bại nước Nga,
và nhà vua Thổ Nhĩ Kỳ đã ký hòa ước với Nga, thì đáng lẽ ông phải bỏ cuộc xâm
lăng. Khi vào Moscow đáng lẽ phải rút ngay khỏi và rượt theo Kutuzov để tiêu diệt
quân Nga. ”Cuộc chiến tranh đau đớn ấy với nước Nga đã đến với tôi do sự sai lầm;
cái thủy thổ ác nghiệt ấy đã tàn phá cả một đạo quân... Rồi thì, cả thế giới chống
lại tôi... Tôi đã chống cự lâu dài được như vậy, đã nhiều lần tôi tức khắc vượt
qua được hết thảy và tôi đã ra khỏi đống hỗn độn ấy một cách oai hùng hơn bao
giờ hết, phải chăng đó là một điều kỳ diệu?”.
Napoléon còn cho rằng khi ở Tilsit ông đã không xoá bỏ nước
Phổ trên bản đồ thế giới cũng là một sai lầm. Napoléon cũng thú nhận rằng năm
1809 ông đã muốn thủ tiêu nước Áo, nhưng trận thất bại Essling của ông đã không
cho phép ông làm điều đó, vì thế sau trận Wagram, mặc dầu nước Áo đã bị tổn thất
vô cùng nặng nề, nó vẫn tiếp tục tồn tại.
Napoléon nhiều lần nhắc đến cái chết của công tước Enghien, tỏ
ra không mảy may hối hận về việc đó nếu phải làm lại. Cũng không phải là không
bổ ích khi nhận xét rằng cuộc tàn sát khủng khiếp - đã diễn ra trên chiến trường
Châu Âu ròng rã hai mươi năm mà chính Napoléon cho rằng ông đã đóng vai trò quyết
định - đã không hề bao giờ gợi cho Napoléon một chút u sầu, một cảm giác nặng nề
và tâm hồn buồn bã, dù rằng đã thoáng qua chốc lát. Rõ ràng Napoléon thèm khát
xâm chiếm, song trước hết là ”lòng quá say mê chiến tranh” đã chiếm lĩnh con
người Napoléon.
Cô bé Betsy Balcombe, con một nhà thầu khoán người Anh sinh
cơ lập nghiệp ở đảo, được Napoléon đặc biệt chú ý - muốn dạy cô bé tiếng Pháp,
cô bé được ra vào nơi Hoàng Đế ở, được phép trò chuyện với Hoàng Đế. Và sau khi
đã quen dạn, có lần Betsy và Jane, chị của cô bé đã hỏi rằng có thật Napoléon
ăn thịt người không - chả vì lũ trẻ được nghe người ta nói vậy ở Anh - Hoàng Đế
phá lên cười, nói rằng có ăn thịt người thật và vẫn sống bằng cách ấy. Napoléon
khuây khoả khi các cô bé hoàn toàn nghĩ theo nghĩa đen của cái danh từ mà người
lớn dùng để gọi mình: Con quỷ sứ đảo Corsica. Những tiếng đó với nghĩa bóng của
chúng, đã đến tai Napoléon từ lâu trước khi quen cô bé Balcombe và chỉ làm cho
Napoléon nhún vai khinh bỉ.
Sau khi li dị Joséphine, sau cái chết của Lannes ở Essling và
Duroc ở Markersdorf, ở đời chỉ còn một người được Napoléon yêu dấu, đứa con
trai ông, vua thành Roma, từ năm 1814 sống với mẹ là Marie Louise. Với những thời
gian đầu ở đảo Helena, Napoléon tỏ ra tin tưởng rằng con mình sẽ trị vì, bởi từ
này trở đi, ở Pháp người ta chỉ có thể dựa vào ”quần chúng bình dân”. Và triều
đại bình dân đó chỉ có thể là triều đại của dòng họ Bonaparte, do nhân dân bầu
cử.
Chính sự không nhất trí giữa tư tưởng và hành động ấy của
Napoléon đã không cho phép ông, vào năm 1815, cầm đầu một phong trào quần chúng
rộng rãi chống lại bọn Bourbon, bọn quý tộc và thầy tu, nhưng ngay ở đảo
Helena, Napoléon vẫn còn cho rằng năm 1815 ông đã hành động đúng.
Ở đây, chỉ có một mâu thuẫn hiển nhiên, bắt đầu tự sự hiểu vấn
đề không chính xác: Nền quân chủ của Napoléon không phải là nền quân chủ bình
dân mà là ”tư sản” và Napoléon vẫn mơ ước cho con ông một chính quyền không dựa
vào ý chí và quyền lợi của đông đảo quần chúng nhân dân và của các giai cấp lao
động, nhưng dựa vào ý chí và quyền lợi của giai cấp tư sản. Sau trận Waterloo
khi quần chúng vây quanh lâu đài của Napoléon yêu cầu Napoléon tiếp tục ở ngôi
vua, Napoléon nói: ”Họ chịu ơn gì tôi? Tôi đã gặp gỡ họ, nhưng tôi đã để họ
nghèo khổ”.
Và hồi đó ở Paris, cũng như sau này ở đảo Saint Helena,
Napoléon nhắc lại với bá tước Montholon rằng năm 1815, sau khi đổ bộ ông đã gặp
ở Pháp lòng căm thù cách mạng chống lại giai cấp quý tộc và tầng lớp tăng lữ, nếu
ông muốn lợi dụng nó thì ông đã về Paris với ”hai triệu nông dân” đi theo;
nhưng ông lại không muốn đứng đầu ”đám dân chúng ấy” vì ”chỉ nghĩ đến việc đó
cũng không chịu nổi”. Rất rõ ràng là Napoléon vẫn giữ những khuynh hướng mà nhiều
lần chúng ta đã nói tới. Nhưng bất thình lình, cuối cùng, do ảnh hưởng cụ thể của
những tin tức trên báo chí và truyền miệng từ Châu Âu dội đến đảo Helena báo
tin phong trào cách mạng sôi sục ở Đức...v.v. Ông Hoàng Đế bỗng nhiên thay đổi
trận tuyến, và năm 1819, đã tuyên bố, cũng với Montholon, nhưng điều ngược hẳn
lại những lời từ trước tới nay; ”Đáng lẽ tôi phải xây dựng đế chế với sự ủng hộ
của những người Jacobin”. Cuộc cách mạng Jacobin thực tế là một núi lửa, nhờ nó
người ta có thể dễ dàng đánh đổ nước Phổ. Và trong tư tưởng của Napoléon, nếu
cách mạng thắng lợi ở Phổ, thì Phổ sẽ hoàn toàn thuộc về quyền ông ngay, và
toàn Châu Âu sẽ rơi vào tay ông ta bằng ”vũ khí của tôi là lực lượng Jacobin”.
Thực tế là khi nói đến một cuộc cách mạng tương lai hay có thể xẩy ra, tư tưởng
của Napoléon không vượt quá phạm vi ”chủ nghĩa Jacobin” tiểu tư sản và không
tính đến một sự đảo lộn hẳn lại xã hội. Đối với Napoléon đã có lúc cuộc cách mạng
Jacobin bắt đầu hiện ra như một bạn đồng minh mà ông đã lầm lẫn cự tuyệt.
3
Cuộc nói chuyện cuối cùng và quan trọng ấy với Montholon về
những người Jacobin và cách mạng là vào ngày 10/3/1819, và đã là một trong những
cuộc gặp gỡ cuối cùng của Napoléon với những người thân cận của ông.
Sau đó những tức về ông Hoàng Đế ngày càng ít ỏi, mơ hồ và đứt
đoạn. Las Cases không còn ở đấy nữa, vì đã bị Hudson Lowe đuổi đi, cả Gourgaud
cũng không, người mà chính Hoàng Đế đã cho về. Việc bác sĩ người Ireland là
O’Meara còn ở lại với Napoléon một thời gian, lợi dụng công việc để do thám và
báo cáo với viên toàn quyền tình hình ở Longwood. Trong số những người khác, có
bác sĩ Antommarchi, do gia đình Napoléon gửi từ Châu Âu sang, một viên thầy thuốc
dốt nát và một người viết hồi ký không trung thực, mà Napoléon đã không cho
giáp mặt. Chỉ còn Bertrand, Montholon và người hầu hạ là những người đã hiểu biết
về Napoléon nhiều nhất trong hai năm cuối cùng của đời ông.
Từ 1819, Napoléon càng ngày càng đau ốm luôn. Đến năm 1820, bệnh
càng nặng thêm, và đến đầu năm 1821, viên thầy thuốc người Anh là Arnott, được
Napoléon cho phép đến thăm bệnh, đã thấy bệnh tình khá nghiêm trọng. Tuy vậy,
người ta nói cũng có lúc bệnh tình thuyên giảm trong một thời gian dài mà Hoàng
Đế đi dạo chơi ở ngoài được. Đến cuối năm 1820 những ý kiến và những ký ức của
Napoléon về triều đại của mình - do ông ta kể lại cho hai người thân tín là Las
Cases và bá tước Montholon chép; Las Cases chép về những năm trước cho đến năm
1818, còn Montholon chép một phần về những năm ấy và một phần từ năm 1818 đến hết
năm 1820 - chiếm hai cuốn đồ sộ trong văn tập của Las Cases (những lần xuất bản
cuối cùng) và 8 cuốn trong văn tập Montholon (lần xuất bản năm 1847), đó là
chưa kể đến hai tập hồi ký do Montholon viết dành riêng về thời gian Hoàng Đế ở
đảo Saint Helena. Cuối năm 1820, Napoléon thôi không đi dạo chơi trên xe nữa.
Còn cưỡi ngựa thì ông đã thôi từ lâu.
Tháng 3/1821, những cơn đau ghê gớm, mà Napoléon đã âm thầm
chịu đựng, luôn luôn diễn ra. Từ lâu, Hoàng Đế đã đoán chắc rằng mình bị bệnh
ung thư, một bệnh gia truyền đã làm cho ông là Carlo Bonaparte chết năm 40 tuổi.
Vấn đề này, cũng nên nhắc lại rằng khoảng mười lăm hay hai
mươi năm gần đây, trong các tập san y tế Pháp và Đức, đã nhiều lần người ta đưa
giả thuyết là căn bệnh đã giết Napoléon không phải là ung thư, mà là một bệnh đặc
biệt ở vùng nhiệt đới. Họ cho rằng Napoléon đã nhiễm bệnh này từ hồi còn trẻ,
trong chiến dịch Ai Cập và Syria và khi ông trở lại vùng nhiệt đới thì bệnh lại
đã phát triển.
Ngày 5/4, bác sĩ Arnott đã thông báo cho những người bạn đồng
hành của Napoléon, Thống Chế Bertrand và bá tước Montholon, rằng bệnh tình của
Napoléon cực kỳ trầm trọng. Khi cơn đau dịu đi, Napoléon cố giữ tinh thần cho
những người chung quanh mình. Hoàng Đế pha trò về bệnh của mình: “Ung thư này
chính là Waterloo đã nhiễm vào bên trong phủ tạng”.
Ngày 13/4, Napoléon đọc cho bá tước Montholon viết chúc thư,
sau đó ông ta tự tay viết và ký vào, ngày ấy là 15/4. Trong chúc thư ấy người
ta đã đọc được những dòng chữ (hiện khắc vào tấm đá cẩm thạch đặt trên mộ
Napoléon trong điện Invalides): ”Tôi muốn hài cốt của tôi sẽ được đặt bên bờ
sông Seine, giữa lòng nhân dân Pháp mà tôi xiết bao yêu mến”. Trong chúc thư,
Napoléon đã liệt Marmont, Augereau, Talleyrand, Lafayette vào tội phản bội, đã
hai lần giúp cho kẻ thù của nước Pháp chiến thắng; hiển nhiên là vì Augereau đã
to tiếng cãi lộn với Napoléon vào hồi tháng 4/1814, Lafayette thì vì đã phản đối
Hoàng Đế ở Hạ Nghị Viện vào tháng 6 năm 1815. Sau này, hai nhận xét khắc nghiệt
đó không được ai thừa nhận, ngay cả những người ở phe với Hoàng Đế, nhưng Hoàng
Đế đã xác nhận sự nhơ nhuốc xấu xa của Talleyrand và Marmont. Trong chúc thư
Napoléon còn định đoạt cả việc chia tài sản của mình: Cho Bertrand 50 vạn, hầu
phòng Marchand 40 vạn francs, cho mỗi người hầu hạ ông ở đảo 10 vạn francs,
cũng như cho Las Cases và các tướng lĩnh, quan chức khác hiện còn trên đất Pháp
mà ông biết là họ vẫn trung thành với ông. Nhưng Napoléon đã dành phần lớn gia
tài của mình, tới 200 triệu francs vàng, một nửa cho những binh lính, sĩ quan
đã từng chiến đấu dưới quyền ông, một nửa cho các địa phương ở Pháp đã bị tổn
thất vì cuộc xâm lăng năm 1814 và 1815. Trong chúc thư, người ta cũng tìm được
một câu dành cho người Anh và Hudson Lowe: “Tôi chết sớm vì bọn tài phiệt Anh
và kẻ thích khách của chúng ám sát tôi. Sớm muộn nhân dân Anh sẽ trả thù cho
tôi”. Napoléon căn dặn con trai ông không bao giờ chống lại nước Pháp và phải
nhớ rằng: ”Con sinh ra đã là hoàng tử của nước Pháp”.
Napoléon rất bình tâm đọc những ý muốn cuối cùng của mình rồi
tự tay viết lại. Ba ngày sau Napoléon còn đọc cho Montholon viết một bức thư gửi
cho viên toàn quyền đòi người Anh phải cho tất cả những người tuỳ tùng và phục
vụ ông hồi hương về Châu Âu sau khi ông chết đi.
Trong đêm 21/4, vào hồi 4 giờ sáng, bất thần Napoléon nghĩ đến
việc đọc cho Montholon viết một dự án cải tổ quân đội quốc gia Pháp để có thể sử
dụng hợp lý quân đội trong công cuộc bảo vệ đất nước chống lại ngoại xâm.
Ngày 2/5, các bác sĩ Arnott, Shortt và Michaels báo cho mọi
người biết là Hoàng Đế sắp mất. Cơn đau kịch liệt đến nỗi trong đêm ngày 5/5,
Napoléon như mê sảng, lăn xuống đất, ghì chặt Montholon với sức mạnh phi thường
và cả hai đều lăn lộn trên nền nhà. Người ta đặt lại Napoléon lên giường, ông
mê man nằm im trong mấy giờ liền. Mắt mở mà không hề kêu rên. Vả chăng, trong
suốt những cơn đau ghê gớm nhất, Napoléon hầu như không hề kêu rên, tuy cựa quậy
rất nhiều. Kẻ đứng đầu giường, người đứng trên ngưỡng cửa, những người thân cận
và những người hầu hạ Napoléon tề tựu bên cạnh người sắp từ trần, Napoléon mấp
máy đôi môi, nhưng hầu như không ai nghe rõ được điều gì, vì hôm ấy một trận
bão khủng khiếp bốc trên đại dương, lay tung cây cối, cuốn mất một số nhà cửa ở
đảo và làm chấn động cả vùng Longwood.
Ngay khi được tin báo rằng Napoléon hấp hối, Hudson Lowe và
các sĩ quan quân đội Anh đồn trú ở đảo vội vàng tới nơi và trú ở những phòng
bên. Những người đứng ở đầu giường Napoléon nghe được lời cuối cùng sau đây:
”Nước Pháp... đứng đầu quân đội...”. 6 giờ chiều ngày 5/5/1821, Napoléon trút
hơi thở cuối cùng.
Marchand vừa khóc vừa đắp lên thi hài Napoléon tấm áo choàng
mà ông mặc ngày 14/7/1800 ở Marengo. Viên toàn quyền và các sĩ quan vào, kính cẩn
nghiêng mình chào người quá cố. Lúc này Bertrand mới để cho đại diện các cường
quốc vào phòng Napoléon lần đầu tiên, kể từ khi họ đến đây, vì trước đây,
Napoléon không bao giờ cho phép họ đến gần ông.
Bốn ngày sau, linh cữu rời khỏi khu Longwood. Ngoài đoàn tuỳ
tùng và những người hầu của Napoléon ra, toàn thể đơn vị canh gác đảo, tất cả
lính thủy và sĩ quan hải quân có mặt trên đảo, tất cả những viên chức hành
chính, do viên toàn quyền dẫn đầu, và hầu hết nhân dân đảo Saint Helena đều đi
đưa đám. Khi hạ huyệt, một loạt đại bác vang rền: Người Anh dùng nghi lễ quân đội
để vĩnh biệt ông Hoàng Đế quá cố.
CHƯƠNG 18
kết luận
1
Gắn liền với Napoléon là một hiện tượng lịch sử đã được mang
tên “Chủ nghĩa Bonaparte” mà các nhà Marxist kinh điển đã rất chú ý nghiên cứu,
và sự đánh giá của họ đều nhất trí và bổ sung hoàn chỉnh cho nhau. Trong khi trở
lại nhiều lần và rất nhiền lần vấn đề chủ nghĩa Bonaparte, họ đã chú ý đến cả
thời đại Napoléon đệ tam, và vạch ra một cách đúng đắn rằng nguồn gốc của cái hệ
thống chính trị ấy bắt nguồn từ vụ Hoàng Đế Pháp đầu tiên. Nhưng trong khi
Napoléon đệ nhất, nhằm củng cố nền chuyên chính của giai cấp đại tư sản, không
những đã đấu tranh chống bọn Bảo Hoàng là những kẻ muốn làm chủ của ”chế độ
cũ”, thì Napoléon đệ tam lại đã xây dựng đế chế của ông ta như một thứ vũ khí đấu
tranh của giai cấp tư sản (chủ yếu của giai cấp đại tư sản) chống lại giai cấp
thợ thuyền và những xu hướng dân chủ của giai cấp tiểu tư sản.
Trong phạm vi cuốn sách này, trước khi đề cập chủ nghĩa
Bonaparte trong thời kỳ Napoléon đệ nhất trước hết cần phải làm sáng tỏ vai trò
của Napoléon đệ nhất đối với vận mệnh của cuộc cách mạng tư sản Pháp, vào cuối
thế kỷ thứ XVIII.
Lối viết sử tư sản cũ và hiện đại khẳng định rằng Napoléon đã
hoàn thành tốt đẹp sự nghiệp của cuộc cách mạng. Chắc chắn là không phải như vậy.
Napoléon đã nắm lấy và lợi dụng những thành quả của cách mạng về mặt phát triển
sự hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản Pháp, nhưng ông ta lại đã dập tắt cơn
giông tố cách mạng. Vì vậy, trong bất cứ chừng mực nào người ta cũng không thể
coi Napoléon là người ”đã hoàn thành tốt đẹp cuộc cách mạng”, ngược lại
Napoléon chỉ có nhiệm vụ thủ tiêu cách mạng.
Bóp chết được cuộc cách mạng, nền chuyên chính Napoléon, trước
hết có ý nghĩa là giai cấp tư sản chiến thắng giai cấp vô sản thủ công nghiệp,
chiến thắng quần chúng bình dân đã đóng vai trò cách mạng rất lớn lao từ năm
1789 đến năm 1794 cho tới ngày 9 tháng Nóng. Cùng lần ấy, tầng lớp nông dân hữu
sản, mà Napoléon đã bảo vệ quyền lợi của họ chống lại những âm mưu phục hưng chế
độ phong kiến, đã ủng hộ triệt để nền chuyên chính của ông.
Napoléon, kẻ đã bắn chết người Jacobin, trở thành vị đế vương
độc tài và biến những nước Cộng Hòa bao quanh nước Pháp thành những vương quốc
rồi đem phân phát cho anh em ruột, anh em họ và Thống Chế của mình; nhân vật lịch
sử ấy đã hiển nhiên là thế, chứ không hề liên quan gì đến con người đáng lẽ ra
đã hoàn thành tốt đẹp Cuộc Cách Mạng.
Và chỉ có lý tưởng hoá một cách dối trá mới có thể phủ nhận
được điều đó. Thủ tiêu nền dân chủ, thiết lập uy quyền cá nhân tuyệt đối để trực
tiếp bảo vệ cho các tầng lớp hữu sản và quyền bá chủ trên toàn cõi Châu Âu - đó
là đặc điểm sự nghiệp của Bonaparte đệ nhất, và chỉ có thể chối cãi điều đó bằng
cách bất chấp sự thật lịch sử nhằm duy trì vĩnh viễn và xác nhận ”thiên truyền
kỳ Napoléon”, cái đã gây nên bao nhiêu đau khổ trong quá khứ và thật ra đã được
bịa đặt để nhằm tác động tinh thần của quần chúng còn kém giác ngộ và còn đang
do dự. Chung quy, thiên truyền kỳ ấy đã luôn luôn phục vụ cho những âm mưu phản
động về mặt xã hội và chính trị, đặc biệt là thời kỳ 1830 trở đi.
Ở cuốn sách này, độc giả sẽ tìm thấy một số trong nhiều sự
đánh giá cụ thể của Marx và đặc biệt là của Engels về thiên tài quân sự và về ảnh
hưởng của những cuộc chinh phục của Napoléon đối với Châu Âu phong kiến. Những
ai quan tâm đến vấn đề này mà đọc một cách có hệ thống toàn bộ tác phẩm của
Marx và Engels thì sẽ còn tìm thấy rất nhiều nhận xét cùng một loại như vậy.
Hơn nữa, với một thái độ hoàn toàn vô tư, không phải Marx và Engels chỉ giới hạn
trong việc nêu rõ tiến bộ khách quan của Napoléon trong lịch sử nhân loại, mà
còn vạch rõ vai trò Napoléon đã đóng: Vai trò người sáng lập ra cái Chủ Nghĩa
Bonaparte phản động đã xéo nát những mầm mống của quyền tự do chính trị ở Pháp.
Marx và Engels đã sống trong thời kỳ đế chính thứ hai nhưng
chắc chắn là hai ông đã chẳng cần đến cái kinh nghiệm sống phũ phàng đó mới thấu
hiểu được Chủ Nghĩa Bonaparte - trong những điều kiện bắt nguồn từ sự bành trướng
nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản vào thế kỷ thứ XIX - với tư cách là một chế độ
chính trị đối nội và đối ngoại, chỉ có thể là phản động, bằng sự lừa bịp quần
chúng một cách có hệ thống, và trong trường hợp cần thiết bằng những hành động
quân sự phiêu lưu mạo hiểm.
2
Trong lĩnh vực đối ngoại, những khát vọng xâm lược, đế quốc
chủ nghĩa, do quyền lợi của giai cấp đại tư sản Pháp xui khiến đã thúc đẩy
Napoléon chống lại Châu Âu, và cái xã hội nửa phong kiến đang ran rã ấy đã
không thể kháng cự được một cách có hiệu lực những trận tiến công đầu tiên của
mình. Đồng thời, ách đô hộ của Napoléon tròng vào cổ các dân tộc bị chinh phục
đã kích động làn sóng giải phóng dân tộc, còn như những ngón đòn mà Napoléon
giáng vào nền kinh tế nước Anh thì đã góp phần nhóm thổi ngọn lửa cách mạng
bùng lên một cách vững bền ngay trong lòng giai cấp thợ thuyền Anh.
Lý luận và thực tiễn của Napoléon về chiến tranh đã đóng vai
trò lớn lao trong việc hủy diệt chế độ phòng kiến chuyên chế xây dựng trên chế
độ nông nô đang thống trị Châu Âu hồi đó. Lý luận và thực tiễn ấy đã tạo ra những
phương tiện mà Napoléon đã biết lợi dụng một cách tài tình. Không phải Napoléon
mà chính là cách mạng đã đem lại khả năng thực hiện và đã đẻ ra những cuộc chiến
đấu cường tập, chiến thuật đội hình phân tán kết hợp với việc sử dụng những
trung đội mật tập, quy mô tổ chức những đạo quân khổng lồ gồm những binh sĩ có
ý thức, những nguyên tắc mới trong việc tuyển binh; nhưng cũng lại chính
Napoléon, chứ không phải người nào khác, đã chứng minh rằng người ta có thể sử
dụng tất cả những cái đó như thế nào, với những kết quả như thế nào, và Engels
từng nghiên cứu kỹ lưỡng các chiến dịch của Napoléon đã xác nhận rằng Napoléon
đã là người đầu tiên dạy cách hiểu, cách nắm chắc, nói gọn lại là cách thấy triệt
tất cả những sự biến hóa ấy. Trong lĩnh vực chiến tranh thời đó, không ai sánh
được với Napoléon và ông đã vĩ đại hơn hẳn so với các lĩnh vực hoạt động khác của
ông.
Theo Engels, Napoléon đã vượt xa vô cùng các vị tiền bối của
ông và các tướng lĩnh cận đại đã học cách dùng binh của ông, đã cố gắng bắt chước
ông trong một nghệ thuật có như vậy: ”... công lao bất diệt của Napoléon chủ yếu
là ở chỗ đã tìm ra được cách sử dụng - những khối lớn quần chúng đã vũ trang mà
những khối lớn ấy thì chỉ nhờ có cách mạng mới có thể xuất hiện được. Chiến lược
và chiến thuật ấy đã được Napoléon làm cho hoàn thiện đến mức mà tướng lĩnh
đương thời không có một ai có thể vượt nổi ông và họ chỉ có thể cố gắng bắt chước
ông trong các cuộc hành binh rực rỡ nhất và may mắn nhất của họ mà thôi”.
Khi nghiên cứu những sự cải tiến trong nghệ thuật chiến tranh
của Napoléon, Engels đã coi hai yếu tố sau đây là hai ”cái trục” trong phương
pháp quân sự của Napoléon: “... Sự tập trung quy mô lớn những phương tiện tiến
công: Ngựa, pháo, và tính cơ động của toàn bộ bộ máy tiến công ấy”.
Engels nhìn thấy ở Napoléon một người chỉ huy vĩ đại, ngay
trong những chiến dịch mà Napoléon đã bị thất bại. ”Trong số những cuộc hành
binh phòng ngự và những trận tiến công trực tiếp tiến hành trong những chiến dịch
hoàn toàn nhằm mục đích phòng ngự, phải kể đến hai bài học đặc sắc nhất trong
chiến dịch kỳ lạ nhất của Napoléon bằng việc Napoléon bị đầy ra đảo Elba, và
chiến dịch năm 1815 chấm dứt bằng trận thất bại Waterloo và Paris đầu hàng.
Trong quá trình hai chiến dịch đó, với những hành động nhằm mục đích hoàn toàn
phòng ngự, viên tướng tổng chỉ huy ấy đã tiến công kẻ địch trên khắp các vị trí
mỗi khi gặp thời cơ thuận lợi; tuy lực lượng luôn luôn ít hơn kẻ địch một cách
rõ rệt mỗi lần xuất trận, Napoléon đã thất bại trong hai chiến dịch năm 1814 và
năm 1815 là do những nguyên nhân ”hoàn toàn độc lập” với những kế hoạch tác chiến,
với phương pháp thực hiện các kế hoạch đó của ông, nhưng nhất là vì quân số các
lực lượng vũ trang đánh vào một quốc gia đã bị kiệt quệ bởi những cuộc chiến
tranh liên tiếp trong suốt một phần tư thế kỷ”.
Engels nói: “Trận Austerlitz được coi là một trong những chiến
thắng lớn nhất của Napoléon và là bằng chứng không thể bác bỏ được về thiên tài
quân sự có một không hai của Napoléon”; bởi vì nếu như những sai lầm của quân
Liên Minh đã rõ ràng là nguyên nhân chủ yếu làm cho họ thất bại thì “con mắt
phát hiện ra được lầm lẫn đó” (lầm lẫn của tướng lĩnh đối phương- N.D.Tiếng
Nga), lòng kiên nhẫn chờ đợi cho lầm lẫn đó chín muồi để quyết tâm giáng đòn
quyết định, sự mau lẹ cực kỳ chớp nhoáng đã đánh tan kẻ địch, tất cả những cái
đó của Napoléon đáng cho ta phải hoàn toàn khâm phục và không đủ lời khen ngợi.
Trận Austerlitz là một sự kỳ diệu về chiến lược mà người ta sẽ không bao giờ
quên được chừng nào còn có chiến tranh”.
Napoléon nói: “Ở Châu Âu có nhiều tướng giỏi, nhưng họ nhìn một
lúc nhiều cái quá, đó là những khối người, tôi cố tiêu diệt chúng...”. Cũng
không ai có thể bắt chước được Napoléon trong việc khuyếch trương chiến quả,
trong nghệ thuật dùng truy kích để đánh tan đối phương. Nhà sử học quân sự Phổ,
bá tước Yorck von Wartenburg, tác giả nổi tiếng của cuốn sách Napoléon Người Tổng
Chỉ Huy, nói rằng mệnh lệnh Napoléon gửi cho nguyên soái Soult, ngày 3/12/1805
(hôm sau trận Austerlitz) chứa đựng toàn bộ “thuật truy kích do bộ chỉ huy
trình bày trong một số chữ”. Trong thời kỳ đó, không ai vượt được Napoléon về
nghệ thuật nắm và điều động những khối quân lớn trong giai đoạn chuẩn bị cũng
như khi ở chiến trường và tài chỉ huy đội hình tác chiến một cách đột ngột nhất.
Các nhà sử học và các nhà chiến lược có tài nhất - các tác giả
chuyên nghiên cứu về Napoléon - và cả những người chỉ do ngẫu nhiên mà quan tâm
đến Napoléon đã sử dụng và tiếp thu những khả năng mới mà cuộc Cách Mạng Pháp vừa
mới đẻ ra xong, và do lợi dụng một cách tài tình cái di sản ấy của cách mạng mà
Napoléon đã trở thành nhà lý luận lớn nhất về phương pháp chỉ đạo chiến tranh
tiến hành với những lực lượng dự bị đông đảo mà chỉ có quyền lực của một Nhà Nước
tư sản lớn mới có khả năng huy động được, là cuộc chiến tranh sử dụng có hiệu
quả những nguồn lực, vật lực, nhân lực khổng lồ do một hậu phương có tổ chức
cung cấp; hình thức chiến tranh đó đã chỉ phát triển toàn vẹn dưới thời
Napoléon. Những đoàn quân đông đặc, chặt chẽ của đại quân đặt dưới quyền chỉ
huy của ông tỏ ra - theo lời của ông ta, - mạnh hơn đối phương “vào lúc đã định
và ở nơi đã định”.
Napoléon thông thạo bản đồ và biết cách sử dụng bản đồ giỏi
hơn ai hết, vượt cả tham mưu trưởng của mình là nhà bản đồ nổi tiếng Berthier,
cũng vượt cả các bậc danh tướng trước trong lịch sử, và tuy vậy, Napoléon không
bao giờ bị nô lệ vào bản đồ; khi mắt ông ta rời khỏi bản đồ và khi ông ta ra
chiến trường là ông ta kích thích quân lính bằng những lời hiệu triệu, ông ta hạ
mệnh lệnh và ông ta điều động những trung đội khổng lồ, hơn nữa ông ta còn đứng
ở vị trí của mình, vị trí hàng đầu và đã không có một ai có thể so sánh với ông
được. Cho đến tận ngày nay, những mệnh lệnh, thư từ, của Napoléon gửi cho các
Thống Chế và một vài câu châm ngôn của Napoléon vẫn còn giá trị như những bản
khái luận cơ bản về những vấn đề về công sự, về pháo binh, về tổ chức hậu
phương, về tiến quân đánh vào sườn, về hành binh bao vây trận địa quân địch và
về nhiều vấn đề hết sức khác nhau của nghệ thuật quân sự.
Có lẽ ngoài Alexander Đại Đế ra thì sự thật là không có một vị
tướng nổi tiếng nào lại ở vào hoàn cảnh thuận lợi như Napoléon: Không những
Napoléon đã hợp nhất vào trong tay ông quyền hành của một vị đế vương chuyên chế
với quyền hành của một vị tổng tư lệnh, mà ông còn trị vì trên vùng trù phú nhất
của thế giới. Trong những bước đầu tiên của mình, Caesar đã tiến hành chiến
tranh khá lâu dài dưới danh nghĩa là tổng tư lệnh, được Thượng Nghị Viện, cơ
quan điều khiển Nhà Nước, cấp cho những phương tiện để chinh phục một tỉnh mới
và trong những năm cuối cùng của đời ông, Caesar đã tiến hành một cuộc chiến
tranh dài và ác liệt chống lại quân đội của phe đối lập. Hannibal là một tướng
tổng tư lệnh phụ thuộc vào ý muốn của cái Thượng Nghị Viện keo kiệt và xảo trá
của một nước Cộng Hòa buôn bán. Turenne và Condé thì bị lệ thuộc vào những sở
thích nhất thời của triều đình Pháp. Suvorov thì thoạt đầu lệ thuộc vào Hoàng Hậu
Catherine, con người chẳng ưa gì Suvorov, sau đó thì lệ thuộc vào Pavel đệ nhất,
một con người gàn dở, cuối cùng là lệ thuộc vào Pháp Đình Tối Cao của đế quốc
Áo. Đúng là Gustav II Adolf, Charles XII, Friedrich đệ nhị đều là những vị đế
vương chuyên chế nhưng họ trị vì những nước bé nhỏ, nghèo nàn nguồn nhân tài vật
lực có hạn. Còn như Napoléon thì chỉ những chiến dịch đầu tiên (ở Toulon, ở Ý, ở
Ai Cập, ở Syria) mới bị đặt dưới quyền một chính phủ mà ngay hồi đó ông đã
không phục tùng; song từ năm 1799 trở đi, Napoléon đã trở thành chúa tể chuyên
chế của nước Pháp, cũng như của tất cả các nước đã bị ông chinh phục một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp và trong số đó có một số nước đã có một nền kinh tế
tiên tiến nhất lục địa, như ngoài bản thân nước Pháp ra, còn có nước Hà Lan và
nước Đức. Sau ngày 18 Tháng Sương Mù, Napoléon đã trị vì chuyên chế sau suốt 15
năm liền, còn Julius Caesar, sau khi vượt sông Rubicone, đã chỉ nắm được quyền
lực tối cao trong khoảng năm năm, nhưng đã mất hai năm đầu vào cuộc nội chiến
và chính nó đã nghiến nát vụn lực lượng của đế quốc La Mã.
Để thực hành thiên tài quân sự của mình, Napoléon có trong
tay nhiều nguồn lực vật chất, nhiều thời gian, nhiều điều kiện hơn bất cứ một vị
tiền bối nào về nghệ thuật chiến tranh của ông. Cũng không cần bàn cãi về vấn đề
thiên tài của Napoléon đã tỏ ra lỗi lạc hơn bất cứ một ai trong số những người ấy.
Napoléon có tài làm cho những câu nói trở thành độc đáo; để
xác định toàn bộ những đức tính cần thiết của một người tướng tài, Napoléon nói
rằng: “Bề cao và bề nằm phải bằng nhau”, ông ta hiểu “Bề nằm” là phẩm chất của
con người, là lòng quả cảm, lòng can đảm, tính quả quyết, và “bề cao” là tài
trí, là những đức tính về trí tuệ. Nếu cốt cách mạnh hơn tài trí, người tướng sẽ
bị lôi cuốn ra ngoài mức cần thiết, nếu quân đội không đành tâm chịu thất bại
trước. Napoléon cho rằng một viên tổng tư lệnh tồi còn hơn là hai viên tổng tư
lệnh giỏi. Và nếu trừ trận vây thành Toulon năm 1793 ra, thì chưa trận nào
Napoléon chia sẻ quyền chỉ huy và cũng không phải phục tùng một cấp trên nào.
Chúng ta sẽ chỉ dừng lại ở một vài đặc điểm.
Napoléon phá bỏ tệ sùng bái bạch binh rất phổ biến thời
Suvorov, mặc dầu chính Suvorov chẳng hề phủ nhận tầm quan trọng của pháo binh.
“Ngày nay, các trận đánh được quyết định bằng hoả lực, không phải bằng xung lực”
ông Hoàng Đế đã viết dứt khoát như vậy ở một trong những cuốn sách của ông nói
về công sự dã chiến. Là người kế tục chiến thuật quân đội cách mạng Pháp, trong
những cuộc chiến tranh đầu, Napoléon đã tung trước những tuyến tân binh cơ động,
với sự yểm hộ của pháo binh bằng cách mở đường cho các trung đội xung kích.
Napoléon chăm lo chu đáo và chỉ thị nghiêm ngặt cho các Thống Chế của mình và
cho phó vương nước Ý là Eugène de Beauharnais rằng không chỉ dạy cho binh lính
biết bắn, mà phải chăm lo đến việc dậy họ bắn trúng đích. Nhưng từ ý kiến của
Napoléon, tuyệt nhiên không thể nghĩ rằng nên để tân binh hoạt động trong một
khoảng thời gian khá lâu hoặc có sự chi viện của pháo binh, bởi vì như vậy họ
có thể dễ bị mất tinh thần dưới hoả pháo của địch và dễ bỏ chạy; mà Napoléon
căn dặn phải sử dụng pháo binh một cách kiên quyết nhất, bởi vì chỉ có dùng hoả
lực khủng khiếp của pháo mới thu được kết quả khả quan.Trong các trận đánh của
Napoléon, pháo binh đóng vai trò to lớn và đôi khi quyết định, như ở Friedland,
40 khẩu pháo cỡ lớn của Senarmon, yểm hộ cho quân đoàn của Victor, đã gây cho
hàng ngũ quân Nga rối loạn tơi bời ngày từ phút đầu của trận đánh, và đã buộc
quân Nga phải rút lui vô trật tự qua Friedland và qua cầu Alle, và chính tình
trạng vô trật tự ấy đã dẫn đến thất bại.
Đáng chú ý từ năm 1807, Napoléon đã càng ngày càng tin vào một
chiến thuật mới và những quy mô tác chiến mới, bao gồm việc sử dụng các đội
hình quá dày đặc và vì vậy dễ bị sát thương, trái với phép dùng binh trước đây
trong nửa giai đoạn đầu sự nghiệp của ông ta. Thực tế là những lỗ hổng, khoét dần
hàng ngũ những người lính già của cách mạng và những cựu binh của Ai Cập, của
Marengo, của Austerlitz, đã buộc ông ta phải cầu cứu đến cách dùng những khối
người quá dày đặc ở chiến trường.
Nhiều người cho rằng Napoléon đã không coi trọng các công sự
của đối phương. Thật là sai lầm. Napoléon chỉ yêu cầu các Thống Chế và tướng
lĩnh của ông ta phải hiểu rằng vấn đề quyết định chiến tranh không phải là việc
đánh chiếm các công sự của kẻ địch mà là việc tiêu diệt sinh lực địch ở trên
chiến trường. Nhưng ngay cả trong vấn đề ấy, Napoléon cũng tỏ ra linh hoạt và
thông minh kỳ diệu khi ông ta nhận định rằng những tình huống không bao giờ lập
lại hoàn toàn đúng như nhau.
Vào năm 1805, khi Napoléon nhận định là chỉ chiếm được thành
Ulm thì mới tiêu diệt được chủ lực của quân Áo, ông ta đã tập trung phần cố gắng
chủ yếu vào việc đánh chiếm pháo đài ấy.
Sở dĩ Napoléon đặt công sự xuống vị trí quan trọng thứ yếu đó
là do cái logic sau đây: Ông ta cho rằng quyền chủ động sáng tạo đóng vai trò
chủ yếu. Napoléon nói rằng chỉ nên tiến hành một chiến dịch sau khi chuẩn bị kỹ
lưỡng, nhưng một khi đã bắt đầu thì phải chiến đấu đến cùng để giữ lấy thế chủ
động sáng tạo.
Khi cái ngày khủng khiếp ở Eylau kết thúc, ngày 8 tháng 2 năm
1807, quân đội của Napoléon cũng như quân đội Nga đều bị thiệt hại nặng nề đến
nỗi quân số của một vài trung đoàn chỉ còn bằng một tiểu đoàn và thậm chí có
vài trung đoàn lại còn ít hơn thế nữa. Ban đêm, chui vào lều, Napoléon đã thừa
nhận sự thất bại của ông ta bằng những lời lẽ mập mờ. Nhưng rồi chẳng bao lâu,
buổi binh minh ảm đạm của một ngày mùa đông bắt đầu, và người ta thấy rằng
không những Bennigsen đã chỉ rút đi, mà Bennigsen đã vừa đánh vừa chạy rất xa.
Thế là quyền chủ động vẫn thuộc về Napoléon, và như vậy là ngày hôm trước của
Napoléon đã là ngày thắng trận. Và Napoléon đã liệt Eylau vào sổ chiến thắng của
ông ta, mặc dầu ông ta hoàn toàn biết rằng quân Nga chưa phải bị bại trận.
Bennigsen đã thiếu bình tĩnh và bền bỉ, đã hốt hoảng và đã rời bỏ chiến trường
trước, để lại quyền chủ động cho Napoléon mặc dầu cứ ba xác lính Nga thì người
ta cũng đếm được từ hai đến ba xác lính Pháp.
Quyền chủ động trong sự chỉ đạo chung chiến tranh, trong việc
lựa chọn địa hình và thời cơ giao chiến, trong những hành động chiến thuật đầu
tiên trước khi giao chiến phải thuộc về người tổng chỉ huy. Trước trận đánh trước
khi hạ mệnh lệnh cho các Thống Chế một cách cụ thể, mà đến ngày nay vẫn còn có
những chuyên viên quân sự phải khâm phục, Napoléon không bao giờ hạn chế các Thống
Chế của ông ta bằng những chỉ thị chi tiết vụn vặt. Thời đó, cách chỉ đạo vụn vặt
thuộc môn phái quân sự cũ, người Áo, Phổ, Anh và cả người Nga nữa, mặc dù Nga
còn ở trình độ thấp kém hơn nhiều.
Napoléon chỉ thị cho tướng lĩnh của mình thừa hành một nhiệm
vụ này hoặc một nhiệm vụ nọ ở một địa điển này hoặc một địa điểm khác bằng cách
chỉ rõ mục đích chiến lược cuối cùng phải đạt được, nhưng đạt được mục đích đó
bằng cách nào là do các tướng lĩnh quyết định. Trong chiến đấu, Napoléon là
trung tâm và đầu não của quân đội. Trong khi làm nhiệm vụ của họ, các Thống Chế
liên lạc thường xuyên với Hoàng Đế tình hình của các cuộc hành binh, xin viện
binh và báo cho Hoàng Đế biết rõ những sự thay đổi luôn luôn diễn ra của tình
huống.
Gần năm tháng sau trận Austerlitz, khi chỉ trích bản báo cáo
của Kutuzov đệ lên Aleksandr về trận ấy, Napoléon viết rằng số quân đội khổng lồ
của Pháp đã hoàn toàn do Hoàng Đế chỉ huy và sẵn sàng chấp hành bất cứ một mệnh
lệnh nào của Hoàng Đế, chẳng khác gì một tiểu đoàn đặt dưới quyền chỉ huy của một
viên tiểu đoàn trưởng.
Điều khó khăn nhất cho những người sống trong những thời kỳ ấy
và cũng như đời sau là tìm hiểu xem Napoléon đã giữ vai trò chỉ huy đó như thế
nào để không làm mất tính chủ động sáng tạo của cấp dưới. Đương nhiên rằng đây
là tính sáng tạo cục bộ, còn như tất cả sự thực hiện đều hoàn toàn phụ thuộc
vào cấp chỉ huy cấp tối cao, quyền chỉ đạo của Hoàng Đế và quyền chủ động chỉ đạo
của Hoàng Đế có thói quen không tự quyết định khi gặp tình thế nguy hiểm quá lớn
và khi Hoàng Đế không có ở bên cạnh họ. Những tướng lĩnh của Napoléon thật sự
có năng lực hành động độc lập được thì có ít: Năng lực của Davout, Masséna,
Augereau cũng chỉ có chừng mực nhất định, những tướng lĩnh khác thì chủ yếu là
những người thực hiện xuất sắc, ưu tú, tính độc lập của họ chỉ là tương đối và
tùy từng trường hợp vì nó chỉ phụ thuộc vào phạm vi thừa hành. Napoléon đã chua
chát nhận thấy điều đó vì đã có lúc ông ta phải kêu lên rằng ông ta không thể ở
khắp mọi nơi trong một lúc được.
Năm 1814, chiến đấu ở vùng lân cận Paris, không phải Napoléon
đã thiếu 30 vạn lính tinh nhuệ, trong đó một số đã phải phơi xương trên các bãi
chiến trường từ năm 1808 và số còn lại cũng đã cùng chung số phận ở Tây Ban
Nha, không phải ông ta thiếu những đoàn quân người Pháp đang bận chiếm đóng một
vài thành phố của Đức và một vài vùng của nước Ý; mà Napoléon còn thiếu
Masséna, viên tướng bị sức cùng lực kiệt vì cuộc chiến chinh dài đằng đẵng và
vô hiệu ở Tây Ban Nha, thiếu Davout đang bị vây hãm ở Hamburg, thiếu Murat, vì
Murat đã không rời bỏ xứ Naples để đến với ông ta. Những binh sĩ ưu tú của ông
ta, ông ta đã ném họ đi trên bốn phương đế quốc mênh mông của ông ta, và đến
lúc lâm nguy thì số đông trong bọn họ đã chẳng ở bên ông ta. Không phải chỉ vì
điều đó, nhưng điều đó cũng là một trong những nguyên nhân của cuộc thất bại cuối
cùng của ông ra vào năm 1815.
Nhưng nếu như Napoléon còn đủ các tướng lĩnh ở bên cạnh ông
ta và nếu như đại quân đã không bị chia sẻ làm đôi - một thì chiến đấu diệt
vong ở Tây Ban Nha - trong một khoảng thời gian nghiệt ngã thì ông vẫn tự thấy
mình mãi mãi là người chủ tể tuyệt đối và vững như đá của Châu Âu.
Việc lựa chọn những người thực hiện ưu tú đã góp phần vào thắng
lợi của chiến thuật mới về hành binh bao vây trung tâm quân địch; và Jomini đã
xây dựng chiến thuật ấy thành lý luận dựa trên cơ sở nghiên cứu các cuộc chiến
tranh của Napoléon là người đã chứng minh rằng bao vây đối phương chỉ có nghĩa
trong hai trường hợp: Thứ nhất là khi tiến vào hậu phương của địch và cắt đứt
các tuyến đường giao thông, thứ hai là khi cuộc hành binh đó dẫn đến một trận
đánh, trong đó có những trung đội bao vây tham chiến.
Von Bülow, một nhà lý luận khác thời Napoléon, cho rằng chỉ cần
uy hiếp các đường giao thông là đủ. Nhưng, dựa vào nghệ thuật quân sự của
Napoléon, Jomini đã nhấn mạnh rằng trận đánh là kết cục cần thiết của một cuộc
hành binh bao vây thành công và phù hợp với ý đồ của nhà chiến lược. Napoléon
cho rằng người tướng mở một cuộc hành binh bao vây sẽ có nguy cơ bị đối phương
hành binh phản lại và tiến công nếu không hành động khẩn trương. Những Thống Chế
được Napoléon đào tạo tiến hành những cuộc hành binh ấy với một mức độ chuẩn
xác và khẩn trương đôi khi lý tưởng và hầu như bao giờ cũng thu được kết quả mỹ
mãn.
Nếu kẻ địch cùng quân chủ lực của họ trong pháo đài hoặc
trong công sự thì Napoléon bao vây lại và nếu quân địch không đầu hàng thì ông
ta xung phong đánh vào. Khi đã bị buộc phải dùng đến biện pháp cực đoan đấy,
thì nếu thắng lợi, Napoléon đã tỏ ra rất quyết liệt. Năm 1806, Blücher chống cự
trong các đường phố thành Lubeck, nên khi quân Pháp thắng lợi, vả lại họ vốn
trung thành với truyền thống cũ, đã tàn phá tang hoang thành phố và tàn sát vô
vàn nhân dân. Trong những cuộc chiến tranh của Napoléon có đầy dẫy những thí dụ
tàn bạo như vậy. Tháng 7/1799, khi một đội quân Thổ gồm một vạn người được
trang bị đầy đủ, đổ bộ lên Ai Cập và ẩn trong pháo đài Aboukir, sau còn 3 nghìn
quân nữa hội sư ở đó, thì Napoléon thấy một trở ngại đáng sợ trên con đường của
ông: Vậy là cuộc chinh phục Ai Cập vừa hoàn thành đã bị lâm nguy. Quân Thổ bằng
đường biển. Bởi vậy Napoléon đã hạ quyết tâm đánh chiếm pháo đài với bất cứ giá
nào, bằng một cuộc tấn công chính diện. Ngày 25/7/1799, vào hồi 2h sáng,
Napoléon nổi lệnh tiến công. Lannes và Murat là những người đầu tiên đột nhập
pháo đài, ngay sau đó là quân chủ lực xung kích. Toàn thể quân đội Thổ đã bị
chém giết và tàn sát ngay tại chỗ. ”Trận đánh ấy là một trong những trận đánh đẹp
nhất mà tôi nhận thấy. Tất cả đạo quân ấy không thoát được một ai”, hai ngày
sau chiến công đó, Napoléon đã viết như vậy. Tuy nhiên, những trận công kích
chính diện không phải chỉ làm cho đối phương bị thiệt mạng, mà cả quân Pháp nữa,
nên Napoléon chỉ dùng đến khi không còn cách nào khác.
Tuy Napoléon đánh giá rất cao tinh thần dũng cảm cá nhân,
tính linh hoạt và biệt tài chiến đấu của một số cá nhân nào đó, nhưng ông ta
tin rằng những kỵ binh tác chiến với đội hình phân tán thì dũng mãnh như quân
Mamelukes hay quân Cossack cũng không thể đương đầu được với những khối quân
hàng ngũ chặt chẽ của một quân đội Châu Âu có kỷ luật, và cứ cho rằng trong những
trận đánh nhỏ lẻ, ưu thế cá nhân của họ có thể thật sự giúp cho họ thắng lợi và
họ đã thật sự mạnh hơn, nhưng rốt cuộc, các khối lớn sẽ quyết định hết thảy.
Napoléon không ngừng nhắc lại chân lý ấy, nghệ thuật của người tổng tư lệnh trước
hết là biết tập trung, trang bị và huấn luyện nhanh chóng những tiểu đoàn lớn mạnh
để thành lập những khối quân sự lớn; thứ hai là làm thế nào để khi đánh đòn quyết
định thì tất cả những đơn vị ấy đều đã ở vị trí đã định; thứ ba là khi đã khai
chiến thì, nếu cần thiết để chiến thắng, phải biết hy sinh những tiểu đoàn lớn
mạnh ấy; thứ tư là, khi đã tập trung được khối lớn ấy rồi thì không bao giờ được
lẩn tránh hoặc trì hoãn giao chiến, mà phải tìm cách giao chiến sớm nhất, miễn
là có cơ hội thắng lợi; thứ năm là, đây là điểm khó nhất, tìm thấy được trong
trận thế của quân địch cái điểm để giáng đòn quyết định. Napoléon nói rằng,
trong chiến tranh, những sự ngẫu nhiên và may rủi giữ một vai trò đáng kể,
nhưng dẫu sao thì những kế hoạch to tát bao giờ cũng tuỳ thuộc vào những đức
tính cá nhân của người chỉ huy: Tài trí, kiến thức, đầu óc phương pháp trong
hành động và đầu óc phán đoán. “Không phải có một vị thần thánh nào đó mách
riêng cho tôi biết điều tôi phải nói hoặc phải làm trong một tình huống bất ngờ
đối với những người khác, mà đó chỉ là sự suy nghĩ của tôi, sự nghiên cứu, nghiền
ngẫm”, có lần Napoléon đã nói như vậy. “Alexander đại đế, Caesar, Hannibal,
Gustav II Adolf trở thành vĩ đại không phải vì thời vận giúp họ, mà vì họ là những
bậc vĩ nhân và đã biết làm chủ thời vận". Napoléon đã nói như vậy vào những
năm cuối cùng của đời ông.
Không kể vài sai lầm ngẫu nhiên và dấu hiệu mệt mỏi thì nghệ
thuật sử dụng tất cả mọi thủ đoạn để đạt tới mục đích của mình, tóm lại thiên
tài quân sự của Napoléon vào những năm 1813 - 1814 so với những năm rực rỡ nhất
trong đời võ nghiệp của ông đã không hề bị giảm sút: Đó là ý kiến nhất trí của
những nhà chiến lược và chiến thuật nghiên cứu lịch sử của Napoléon. Ngay cả
năm 1815, với những lực lượng kém hẳn địch về quân số, trong hoàn cảnh chính trị
tuyệt vọng và cơ thể bị đau yếu từ lâu, Napoléon vẫn vạch ra một kế hoạch chiến
lược nhằm tiêu diệt đến cùng quân đội đối phương; và nó cũng đã không kém phần
tài tình như kế hoạch đã mang lại thắng lợi rực rỡ cho Napoléon trong chiến dịch
nước Ý lần đầu tiên của ông năm 1796. Thắng lợi rực rỡ mở đường cho kế hoạch đó
(trận thất bại của Blücher ở Ligny) và kết cục của chiến dịch (trận Waterloo,
chỉ do tình cờ mà Blücher đến đúng lúc và đã cứu được Wellington khỏi một cuộc
thất bại không thể tránh được) đã chứng minh rằng Napoléon luôn luôn là người
thầy xuất chúng trong nghệ thuật chiến tranh.
Tuy nhiên lúc ấy, Napoléon còn thiếu một điều ngay chính ông
ta cũng cho rằng điều đó đối với người tổng tư lệnh là cần thiết hơn cả thiên
tài: Thiếu tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Ông ta thiếu lòng tin cần thiết
nhất của ông ta, khi bàn về chiến dịch Waterloo, Napoléon đã nói với Las Cases
như vậy.
Sự mất tin tưởng đó là hậu quả của những cái sai lầm của
Napoléon, trước hết là những sai lầm về chính trị. Những mục tiêu chính trị to
lớn, không thể thực hiện được của ông ta, thúc đẩy ông ta đến chỗ đi chinh phục
thế giới, đã đưa ông ta xa rời chính những nguyên tắc chiến lược của ông ta.
Ta chỉ cần xem xét mặt chuyên môn của sự xâm lược: Làm thế
nào vừa có lực lượng quân sự chiếm đóng cả cái đế quốc khổng lồ đã rơi vào tay
Napoléon, vừa chiếm đóng cả lãnh thổ mới ở Nga lại vừa bảo vệ các tuyến đường
giao thông với Moscow? Trong điều kiện như vậy thì lấy đâu ra đủ cho các trận
đánh cần thiết để chinh phục nước Nga? Làm thế nào cho phù hợp với những nguyên
tắc chính ông ta đã đề ra: Bao giờ cũng phải mạnh hơn quân địch vào lúc và nơi
đã định? Xoay sở ra sao để đồng thời vừa chiến thắng ở Madrid lại vừa ở cả từ
Smolensk đến Moscow?
Trong những chiến dịch lớn lao, ông ta đã cố giữ vững nguyên
tắc cơ bản sau đây của mình: Hết sức tăng cường lực lượng để bảo vệ các đường
giao thông liên lạc. Mà cũng chính vì để thực hiện điều đó nên trong quá trình
chiến dịch nước Nga, ông ta làm cho lực lượng của mình bị suy yếu rất nhiều
ngay từ trước khi rút lui. Tháng 6/1812, ở sông Niemen, khi vượt qua biên giới
để bắt đầu cuộc xâm lược, Napoléon có 42 vạn quân, nhưng khi tiến sâu vào nội địa
nước Nga thì ông chỉ dẫn theo có 36 vạn 3 nghìn quân, vì số còn lại kia phải bảo
vệ sườn phía Bắc và phía Nam trận tuyến. Khi tới Vitebsk thì quân đã không còn
36 vạn 3 nghìn nữa, mà là 22 vạn 9 nghìn, và khi tới vùng phụ cận Smolensk thì
giảm xuống 18 vạn rưỡi. Sau khi đánh trận Smolensk và để lại quân bảo vệ thành
phố ấy, Napoléon đã tiến về Gzhatsk với 15 vạn 6 nghìn quân và khi tới Borodino
thì còn 13 vạn 5 nghìn. Rồi ông ta tiến vào Moscow với 9 vạn 5 nghìn chiến
binh. Napoléon bị tổn thương nhiều như vậy không phải vì bên địch đánh, vì bệnh
tật, vì khí hậu, mà là còn vì tuyến đường giao thông dài rộng mênh mông đã tiếu
ngốn người của đại quân, đó là chưa kể số 22 vạn quân mà Napoléon không đưa được
đến cả sông Niemen vì đã phải để lại trên đế quốc Châu Âu bao la của ông cũng
không tính số 22 vạn quân và còn hơn thế nữa đang chiến đấu ở Tây Ban Nha.
Đồng thời, Napoléon đã nói với Las Cases, có những lúc phải
tính đến nước quyết liều, tập trung hết thảy lực lượng để đánh một đòn quyết định
và tiêu diệt quân địch bằng một thắng lợi khủng khiếp; để làm như vậy, cũng phải
tạm thời giảm bớt lực lượng bảo vệ đường giao thông liên lạc. “Trong chiến dịch
năm 1805, khi tôi đang chiến đấu ở Moravia thì nước Thổ đã sẵn sàng tiến công
tôi và như vậy là không thể rút quân ra khỏi nước Đức được. Nhưng tôi đã chiến
thắng Austerlitz. Năm 1806, tôi đã thấy rõ nước Áo sắp sửa đánh vào các đường
giao thông của tôi và nước Tây Ban Nha đang đe dọa xâm chiếm nước Pháp bằng
cách vượt qua rặng núi Pyrenées. Nhưng tôi đã chiến thắng ở Jena. Trong chiến dịch
năm 1809, tình thế còn nguy hiểm hơn thế. Nhưng tôi đã chiến thắng ở Wagram”.
Napoléon nói rằng mọi cuộc chiến tranh đều phải tiến hành “có phương
pháp", nghĩa là được nghiên cứu sâu sắc, và chỉ như vậy mới có cơ thắng lợi.
Napoléon kiên quyết bác bỏ cái thành kiến cho rằng các cuộc xâm lược của Thành
Cát Tư Hãn và của Tamerlane chỉ là những hoạt động tự phát và rối loạn. ”Những
cuộc chiến tranh của Thành Cát Tư Hãn, của Tamerlane là có tính phương pháp vì
chúng đã tiến hành đã tương xứng với lực lượng quân đội của họ”. Napoléon nói
như vậy với Montholon. Về vấn đề này, ta nên chú ý rằng các nhà sử học cận đại
nghiên cứu về Á Đông hoàn toàn xác nhận quan điểm của Napoléon về các cuộc
chinh phục của người Mông Cổ.
Napoléon đã nói rất nhiều lần và trong nhiều trường hợp khác
nhau rằng nghệ thuật chiến tranh chung quy là biết tập trung vào nơi và lúc cần
thiết một lực lượng lớn hơn lực lượng của quân đội địch lúc ấy. Khi nói về cuộc
chiến tranh năm 1796 - 1797, viên đốc chính Gothier khen ngợi Napoléon thường
đánh bại kẻ địch mạnh hơn mình bằng những lực lượng ít hơn, thì Napoléon nói rằng
thật ra không phải thế, mà chỉ là do ông đã cố gắng tiến công chớp nhoáng vào
những lực lượng ấy của địch, cho nên sở dĩ ông thu được thắng lợi thì đúng chỉ
vì một trận tiến công cục bộ ấy, ông đều tạm thời mạnh hơn kẻ địch, mặc dầu tổng
số lực lượng quân đội bên địch hơn quân đội của ông.
Napoléon rất quan tâm đến “tinh thần” của quân đội. Napoléon
đã hoàn toàn thừa nhận việc thủ tiêu nhục hình trong quân đội do cách mạng đề
xướng và ông nói với người Anh rằng ông không thể hiểu được tại sao người Anh lại
đã không lấy làm ghê tởm về việc dùng roi vọt ở trong quân đội của họ: “Khi một
người lính bị làm nhục và mất danh dự vì roi vọt thì họ còn thiết gì đến vinh
quang của chiến thắng. Đối với mọi người đã bị đánh đòn trước mặt bạn bè của họ
thì liệu họ có còn cảm thấy cái gì là danh dự nữa không? Tôi những muốn dạy bảo
họ bằng tinh thần danh dự chứ không bằng roi vọt. Sau một trận chiến đấu, tôi tập
hợp các sĩ quan và binh lính lại và tôi hỏi: Những ai là người xuất sắc nhất?”.
Napoléon khen thưởng bằng cấp bậc cho cho những người biết đọc biết viết và ra
lệnh cho người mù chữ phải học “năm giờ mỗi ngày", sau đó thì họ được
Napoléon bổ nhiệm làm hạ sĩ quan, rồi sau nữa là sĩ quan. Đối với những tội nặng
Napoléon nghiêm khắc xử bắn, nhưng nói chung Napoléon khen thường nhiều hơn là
kỷ luật: Khen thưởng bằng tiền bạc, bằng cấp bậc, bằng huân chương, bằng biểu
dương trước toàn đơn vị, ông biết khen thưởng một cách rộng rãi chưa từng thấy.
Ngày 14 Tháng Hoa năm 1801, ở phiên họp về việc ban hành huân chương Bắc Đẩu
thì Napoléon la lên rằng: “Các ngài tưởng rằng các ngài đưa người ta đi chiến đấu
bằng phân tích chăng? Đừng hòng. Phân tích chỉ tốt với nhà bác học ở trong văn
phòng của họ mà thôi. Với binh sĩ thì phải có vinh quang, ưu đãi, khen thưởng
cho họ. Quân Đội Cộng Hòa đã làm được nhiều điều to lớn, bởi vì quân đội đó gồm
những con cái của dân cày và những người nông dân tốt, chứ không phải là một bầy
hạ lưu đê tiện, bởi vì những sĩ quan mới đã thay thế những sĩ quan của chế độ
cũ, và họ có danh dự”.
Như vậy là những chất liệu do cách mạng đẻ ra, Napoléon đã
sáng tạo một cái có ý thức và đầy kết quả rực rỡ một công cụ hiệu nghiệm và
hùng mạnh, và nằm trong tay một người như Napoléon, công cụ ấy tất phải đem lại
những kết quả chưa từng thấy trong lịch sử quân sự.
Ông ta đánh giá một đức tính mà ông ta cho là chủ yếu, có
ngay ở con người mình; ông ta khẳng định ý chí sắt đá, tinh thần kiên quyết và
lòng dũng cảm khác thường là đức tính quan trọng bậc nhất và không thể có đức
tính nào khác thay thế được. Lòng dũng cảm khác thường ấy không phải là ở chỗ
ông ta lao lên cầu Arcole với lá cờ trong tay hay ở chỗ phơi mình trong hàng
bao nhiêu giờ liền dưới làn đạn pháo của quân Nga ở bãi nghĩa địa Eylau, mà ở
chỗ đó mình hoàn toàn gánh lấy trách nhiệm nào quan trọng nhất và nặng nề nhất,
đó là trách nhiệm hạ quyết tâm. Người thắng lợi không phải là người đã vạch ra
kế hoạch tác chiến hoặc đã tìm thấy giải pháp cần thiết, mà là người nhận lấy về
phần mình trách nhiệm thi hành.
Tất cả các nhà bình luận quân sự đều cho rằng Napoléon là một
nhà chiến thuật đại tài - nghĩa là trong nghệ thuật chiến thắng - và một nhà
ngoại giao đại tài- nghĩa là trong nghệ thuật buộc kẻ địch bại trận phải hoàn
toàn phục tùng ý muốn của ông ta, nghĩa là không phải chỉ ông ta đè bẹp tinh thần
và khả năng đề kháng của bên địch, mà còn bức bách bên địch phải thừa nhận như
vậy khi hạ bút ký vào hiệp ước theo ý muốn của người thắng trận, cả ba đức tính
ấy đã phối hóa và hòa hợp khăng khít ở Napoléon. Khi trận tổng công kích đã thắng
lợi, Napoléon liền tung Murat và kỵ binh của viên thống chế này đi truy kích nhằm
tiêu diệt những kẻ trốn chạy. Khi Murat đã hoàn thành nhiệm vụ, thì để chuyển
biến trận đánh bằng thắng lợi của toàn bộ cuộc chiến tranh, lúc đó vấn đề là tiếp
tục và hoàn toàn thành cuộc truy kích quân sự ”trên bàn cờ” mà quân cờ là những
công thức và những yêu sách ngoại giao.
Mỗi khi bắt đầu một cuộc chiến tranh, Napoléon luôn luôn cố gắng
đánh quỵ kẻ địch một cách mau chóng nhất bằng một đòn khủng khiếp và nhanh như
chớp, rồi bức kẻ địch phải cầu hòa. Điều đó đã cho phép Clausewitz định nghĩa
quan niệm chỉ đạo chiến tranh của Napoléon là một hiện tượng hoàn toàn mới mẻ
trong lịch sử và đã đưa chiến tranh tới gần ”mức hoàn chỉnh của nó”. Clausewitz
viết: “.... Kể từ thời Bonaparte thì chiến tranh, trước hết hãy đứng về một
phía mà xét - phía người Pháp trong quá trình chống ngoại xâm - rồi đứng về
phía khác - phía các dân tộc chống Napoléon, đã trở thành công việc của toàn
dân. Nó đã mang một tính chất khác hẳn, hoặc nói một cách khác hơn, chiến tranh
đã tiến lại rất gần thực chất của nó, sự hoàn chỉnh tuyệt đối của nó. Do sự
phát triển của các phương tiện chiến tranh, của những viễn cảnh rộng lớn mở rộng
ra một khi chiến thắng và của sự thức tỉnh tinh thần mạnh mẽ của con người, nên
trí lực dành vào việc chỉ đạo chiến tranh đã tiến triển đến cao độ. Tiêu diệt kẻ
địch đã trở thành mục đích của các cuộc hành binh; ngừng lại và đi vào đàm phán
chỉ có thể tiến hành được khi kẻ địch đã bị đánh bại và không còn đủ sức chiến
đấu”.[54] Khi nghiên cứu vấn đề “tầm cỡ những mục đích chính trị của chiến
tranh và cường độ của chiến tranh”, Clausewitz đã có sự đánh giá sâu sắc, tuy
nhiên cần phải bổ sung bằng cách lưu ý rằng chính Napoléon đã phân biệt thành
hai loại chiến tranh (tiến công và phòng ngự), nhưng ông vạch cho nó một ranh
giới rõ rệt, mà tùy theo tính chất của mỗi cuộc chiến tranh xâm lược... Mọi cuộc
chiến tranh tiến hành theo quy tắc của nghệ thuật đều là những cuộc chiến tranh
tiến hành theo đúng phương pháp. Chiến tranh phòng ngự không loại trừ tiến công
không loại trừ phòng ngự, dẫu rằng mục đích của nó là chọc thủng biên giới để
xâm lược đất nước của kẻ địch.
Sau khi đã nhận xét vắn tắt những chiến dịch của các bậc tướng
lĩnh lỗi lạc nhất, Napoléon thấy không cần thiết phải nói bất kỳ điều gì về những
cái thường được mệnh danh là ngôn phái của nghệ thuật chiến tranh. Tuy nhiên,
cũng như tất cả các nhà quân sự lớn, ông ta cũng đã ra sức đánh bại và tiêu diệt
đối phương.
Quan điểm của Clausewitz mà chúng tôi vừa dẫn là đặc biệt của
riêng ông: Người ta không hề tìm thấy quan điểm đó ở Jomini chẳng hạn. Về vấn đề
này mặc dầu Engels thừa nhận những ưu điểm lớn các tác phẩm của Clausewitz,
nhưng người ta lại thích nghiên cứu về Napoléon của Jomini. Thí dụ, Engels đã
viết cho Joseph Vendémiaire (ngày 12/4/1853): “Chung quy, Jomini vẫn là nhà sử
học khá nhất của chúng (của các chiến dịch của Napoléon), và tuy rằng có đôi điểm
đặc sắc, nhưng cái thiên tài tự nhiên ấy của Clausewitz vẫn không làm tôi thoả
mãn chút nào”[55].
3
Napoléon hiềm ghét những người Jacobin, đối xử tàn tệ với họ,
còn họ chỉ muốn khuyếch trương thành quả của cách mạng.
Sự bảo vệ tài sản, tất cả mọi tài sản, trong đó có cả tài sản
của nông dân lớp trung sản và tiểu sản - tầng lớp phát triển rộng rãi dưới thời
cách mạng - đã trở thành một trong những viên đá nền tảng trong chính sách đối
nội của Napoléon, mặc dầu, như Marx đã nhận định trong cuốn Gia Đình Thần
Thánh, Napoléon đã làm cho quyền lợi của mọi tầng lớp trong giai cấp tư sản phải
phục tùng quyền lợi của đế chế. Đối với Napoléon những người dân không tài sản,
ví dụ như thợ thuyền ở Paris, ở Lyon, ở Amiens và ở Ruane đều là những thành phần
phá rối, nhưng ông đã quá thông minh cho rằng biện pháp duy nhất để chống lại họ
là bọn lính tuần tiễu, hiến binh và cảnh binh và mạng lưới mật thám vô cùng
khôn khéo và đắc lực do Fouché đẻ ra. Napoléon đã cố chống lại làn sóng thất
nghiệp năm 1811 đã đẩy hàng nghìn thợ thuyền đói khát, lang thang, cùng khổ,
Napoléon cũng tìm cách rút ra khỏi tình trạng ấy một sự bào chữa cho cuộc phong
toả lục địa cũng như việc bóc lột tàn nhẫn về kinh tế và làm việc chiếm độc quyền
tất cả các nước bị xâm chiếm để bảo đạm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm Pháp
và để cung cấp nguyên liệu rẻ mạt cho nền công nghiệp Pháp.
Những động cơ chính của chính sách kinh tế của Napoléon là: Ước
vọng đảm bảo ưu thế cho công nghiệp Pháp ở trên thế giới và điều này không tách
khỏi những điều trên, ước vọng đuổi người Anh ra khỏi thị trường Châu Âu. Nhưng
trong phạm vi quan hệ giữa chủ và thợ, Napoléon đã giữ nguyên vẹn Bộ Luật Le
Chapelier trong bộ pháp chế của ông. Bộ Luật Le Chapelier đã cấm hết thảy mọi
biểu hiện đình công, dù rằng rất nhỏ: nhưng đặt ra “tiểu bạ công nhân",
Napoléon lại đi xa hơn nữa trên con đường áp bức bóc lột thợ thuyền.
Tại sao ngay cả trong những phút gay go nhất, thợ thuyền cũng
không nổi dậy chống ông Hoàng Đế? Tại sao vào những năm 1816, 1817, 1818,1919,
1820, 1821, các toà án của dòng họ Bourbon phục hưng lại kết án tù nhiều tháng
cho những người thợ ở Paris và ở các tỉnh đã phạm tội đã phun ra những “tiếng
hô phản nghịch": “Hoàng đế muôn năm!"?
Trong các trang sách này, tôi xin cố gắng giải đáp về vấn đề
đó. Sự giải đáp nằm trong cái thực tế là thợ thuyền đã hiểu một cách bản năng rằng
trật tự tư sản xuất xứ từ cách mạng, mà Hoàng Đế là người đại diện, đối với họ
dẫu sao cũng còn có lợi hơn là cái giẻ rách phong kiến mục nát mà những xe vận
tải của quân Liên Minh đã tha về.
Những ngày quang vinh của cách mạng còn chưa phai mờ trong
trí nhớ của quần chúng lao động. Họ là dân chúng của các vùng ngoại ô Saint
Antoine và Saint Marceau, khu phố Tanfleu và phố Molfetta. Trong giai đoạn Một
Trăm Ngày, những người trung thành nhất với truyền thống cách mạng đều đã nhìn
thấy rằng dầu sao ở Napoléon cũng không có chút tai họa gì, đối với họ cái nguy
hại là chế độ phong kiến quay trở lại.
Nếu trong cuộc đấu tranh ở nước Pháp chống lại sự đe dọa phục
hưng chế độ cũ, Napoléon là người đại diện cho một kỷ nguyên mới, công nghiệp
và tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế thì đương nhiên rằng những cuộc chinh phục của
Napoléon đã đóng vai trò cách mạng khi ông đánh đổ sập những nền tảng phong kiến
của Châu Âu.
Marx và Engels đã không ngừng nhấn mạnh tầm quan trọng của
Napoléon trong việc thúc đẩy lịch sử tiến lên. ”Napoléon đã tiêu diệt được Đế
Quốc La Mã Thần Thánh Germany và đã giảm bớt số lượng các quốc gia nhỏ ở Đức, lập
nên những quốc gia lớn hơn. Napoléon đã mang vào các nước bị chinh phục bộ luật
của ông cực kỳ tiến bộ so với tất cả các bộ luật hiện hành thời ấy, và bộ luật ấy
về nguyên tắc, đã thừa nhận quyền bình đẳng”[56]. Theo ý Engels, họ bực bội về
giá cafe, đường, thuốc lá...v.v. lên cao, trong khi đó thì chính cuộc phong toả
lục địa lại là nguyên nhân của động lực khởi thủy của nền công nghiệp của họ”...
Ngoài ra, họ không phải là những kẻ hiểu được tầm lớn lao các kế hoạch của
Napoléon. Họ nguyền rủa ông bắt con cái họ đi chống lại cuộc chiến tranh do bọn
quí tộc và do tầng lớp trung sản Anh xuất vốn và đã tán tụng những người Anh ấy,
những kẻ đã thực sự gây ra chiến tranh, là bạn hữu...”[57]
“Chính sách khủng bố đã thuộc về dĩ vãng ở nước Pháp, đã được
Napoléon áp dụng ở những nước khác dưới hình thức chiến tranh và chính sách khủng
bố ấy là tuyệt đối cần thiết ở nước Đức”.[58]
Trong một báo cáo chống Bakunin (ngày 14/2/1849), chúng ta được
đọc: ”Trong lịch sử không có gì phát sinh, phát triển mà không cần đến bạo lực
và một ý chí sắt đá, và nếu như Aleksandr, Caesar và Napoléon mà lại đã là những
người nổi tiếng về lòng trắc ẩn - cái thứ trắc ẩn mà những người bênh vực dân tộc
Slavia dùng để bảo chữa cho khách hàng suy yếu của họ - thì lịch sử đã ra sao?.[59]
Marx và Engels còn cho rằng (khi nói về sự bất lực chung của
cả hai bên đối phương trong cuộc chiến tranh Phương Đông năm 1853 - 1854) quyết
tâm của Napoléon còn nhân đạo hơn thói quen hành động cũ kỹ của những kẻ hậu
sinh bất tài.
Về cuộc vây thành Sevastopol, Marx và Engels đã viết: “Thật
ra, Napoléon đại đế, người “đồ tể” đã sát hại bao nhiêu triệu người, với phương
pháp lãnh đạo chiến tranh khẩn trương, quả quyết và mạnh như vũ bão, đã là một
chuẩn mực về lòng nhân đạo, nếu đem so sánh với những chính khách đợi thời cơ
và do dự đang chỉ dạo cuộc chiến tranh ấy ở Nga...”.[60]
Không hạ thấp vai trò cách mạng của các cuộc chinh phục của
Napoléon ở Châu Âu, Engels không hề lẩn tránh cái thực tế là vào cuối thời đại
của Napoléon, Napoléon ngày càng biến thành một “ông đế vương do Chúa Trời chỉ
định”. Sai lầm lớn nhất của Napoléon là đã liên kết với các triều đại phản cách
mạng già cỗi, khi ông ta kết hôn với con gái Hoàng Đế nước Áo, và đáng lẽ phải
xoá bỏ mọi vết tích của cái Châu Âu già cỗi đó đi Napoléon lại đã tìm cách thoả
hiệp với nó, đã muốn là người đứng đầu hàng đế vương Châu Âu, vì vậy mà
Napoléon đã tìm mọi cách để cấu tạo triều đình của ông theo kiểu triều đình của
họ.[61] Theo ý kiến của Fr. Engels thì cái đã làm cho Napoléon cuối cùng bị
thất bại là ông đã đầu hàng “nguyên tắc triều đại chính thống”.
Sự thất bại của tất cả các nước quân chủ ở lục địa Châu Âu đã
bị Napoléon chinh phục là kết quả của một cuộc chiến tranh khổng lồ; Chính cuộc
chiến tranh ấy cuối cùng đã làm cho Napoléon bị kiệt sức, bởi vì bên cạnh Châu
Âu lạc hậu về nền kinh tế so với nước Pháp về mặt kinh tế và về phương tiện chiến
lược thì Napoléon đã không thể giáng những đòn trực tiếp tới được, bởi lẽ nước
Anh làm bá chủ mặt biển. Napoléon đã nhìn thấy ngay rằng kẻ thù đó là đáng sợ
nhất. Napoléon muốn đánh bại nó ở Phương Đông bằng Ai Cập và Syria; từ trại
lính Boulogne, Napoléon đã chuẩn bị để đánh bại nó ở London. Cả hai ý đồ đó đã
không đạt kết quả, Napoléon liền tìm cách tống cổ hàng hóa Anh ra khỏi lục địa,
song không phải bằng số lượng nhiều, chất lượng tốt và giá cả của hàng hoá Pháp
- điều này không thể làm được - mà bằng lưỡi lê và súng đạn, bằng binh lính và
thuế quan. Để tàn phá nước Anh, chỉ tiêu diệt nền công nghiệp Anh chưa đủ, còn
phải phá hoại nền thương nghiệp, cũng như công nghiệp vận tải đường biển của
nó, và làm cho thuộc địa Anh mất hết tác dụng. Napoléon đã tiến hành công việc ấy
bằng cách cấm nhập khẩu chè, bông, chàm, chè Indonesia, cà phê, gia vị. Tất yếu
là sự thực hiện cuộc phong toả lục địa đòi hỏi toàn thể Châu Âu và nước Nga phải
tuyệt đối phục tùng ý chí của Napoléon nghĩa là thiết lập nền quân chủ thế giới;
Sau trận Austerlitz, rõ ràng là Napoléon đã có ý đồ ấy, nhưng ông che đậy nguyện
vọng ấy một cách lộ liễu bằng cái danh hiệu “Hoàng Đế Phương Đông”. Sau trận
Tilsit, những nguyện vọng ấy ngày càng bộc lộ rõ. Lao trên con đường ấy,
Napoléon không thể không thất bại và đã thất bại.
Tất cả những mưu toan nhằm mục đích miêu tả Napoléon là một
nhân vật không thể phạm sai lầm, là một vị thần giáng thế duy nhất chỉ đem lại
hạnh phúc cho loài người; mọi cố gắng nhằm giải thích những con sông máu lênh
láng chảy suốt trong hai chục năm trời vì sự cần thiết để ”tự vệ”, để biện bạch
cho một số hành động đen tối nhất gắn liền với tên tuổi Napoléon, đều hoàn toàn
vô ích. Còn như Napoléon, không bao giờ ông ta để lại những kỷ niệm u uất ấy. Với
vẻ thành thật nhất, đến nỗi đối với bất kỳ hành động nào của mình, ông ta cũng
đều sẵn sàng bào chữa rằng đó là vì lợi ích của nước Pháp, vì quang vinh của nước
Pháp, vì an ninh của nước Pháp; đối với Napoléon những lý do ấy đã bào chữa cho
tất cả những việc ông ta đã làm.
Tôi đã nói ở phần trên rằng khi nói đến nước Pháp thì
Napoléon quan niệm đó là giai cấp nào: Giai cấp đại tư sản và một bộ phận nông
dân hữu sản.
Nhưng gác bỏ sang một bên mặt đức hạnh, hay đúng hơn, mặt đạo
đức của vấn đề, đứng về phương diện trí tuệ của nó thì người ta có thể hiểu câu
nói sau đây của thượng nghị sĩ Ruthenberg: “Napoléon đã đẩy lùi vào cõi chết
cái mà, trước ông đã coi là những giới hạn tột cùng của trí tuệ và nặng lực của
con người”. Một người Anh khác, giáo sư Hollon Rogers, tuy hoàn toàn không phải
là người sùng tín Napoléon, và trên nhiều điểm còn nhận xét Napoléon một cách
khắt khe, cũng đã liệt ông đứng vào “hàng đầu những người bất diệt”, vì thiên
tài kiệt xuất về mọi mặt mà tạo hoá đã ban cho Napoléon một cách quá đầy đủ và
vị trí của ông trong lịch sử thế giới. “Napoléon đã quyết định số phận của toàn
bộ lục địa trong khoảnh khắc, trong những quyết định ấy của ông ta, ông ta đã
thống nhất được thiên tài thật sự với ý chí kiên quyết đạt tới mục đích của ông
ta”.[62]
Napoléon không say mê sự tàn bạo, nhưng ông ta thờ ơ trước
con người, ông ta chỉ coi họ như là phương tiện và công cụ. Và khi thấy cần thiết
phải tàn bạo, phải mưu mẹo, phải nham hiểm thì ông ta đã dùng đến không một
chút do dự. Tinh thần tỉnh táo cuả ông ta đã cho ông ta biết rằng, trong bất kỳ
việc gì, nếu cố đạt được mục đích không bằng tàn bạo vẫn là phương pháp hơn cả.
Napoléon đã hành động phù hợp với nguyên tắc đó, miễn là khi cân nhắc ông thấy
rằng hoàn cảnh cho phép. Những mục tiêu chủ yếu nhất mà Napoléon đặt ra sau trận
Tilsit và nhất là sau trận Wagram thường là ảo tưởng và không thực hiện được,
nhưng để đạt được, tài năng của ông đã đem lại cho ông những kiến giải rất khác
nhau, tìm được những phương pháp mới lạ nhất, luôn luôn phân biệt với cái chủ yếu
và am hiểu mọi chi tiết nhưng không bị chìm ngập vào đó. Bất chấp câu phương
ngôn cũ, Napoléon đã nhìn cả cánh rừng lẫn từng khóm cây, không những thế, ông
ta còn nhìn cả cành, lá trong mỗi cái cây.
Quyền lực và quang vinh, đó là những khát vọng thống trị con
người Napoléon, và khát vọng quyền lực còn mạnh hơn quang vinh. Suy nghĩ không
ngừng, thông minh sắc sảo và luôn tỉnh táo, hay nghi ngờ và dễ nổi nóng, đó là
đặc điểm nổi bật nhất ở Napoléon. Được xung quanh sùng tín đến tôn thờ quá lâu
ngày, Napoléon đã làm quen với nó, coi như là một sự tôn kính thường lệ và tất
nhiên phải thế đối với ông ta. Nhưng Napoléon thường chú ý nhiều nhất đến những
lợi ích thực tế mà ông ta có thể thu hoạch được trong sự tôn thờ ấy. Những động
lực chủ yếu kích thích con người hành động là sự sợ hãi và quyền lợi, chứ không
phải là tình thương yêu, Napoléon tin tưởng sâu sắc như vậy, có ngoại lệ chỉ là
đối với binh sĩ của ông ta, nhưng cũng chỉ đối với một bộ phận mà thôi. Khi
Napoléon còn đang thống trị Châu Âu, có hôm ông ta đặt ra câu hỏi: Nếu nhận được
tin ông ta chết thì thiên hạ sẽ nghĩ thế nào? Triều thần vội vã đoán trước rằng
thiên hạ sẽ đau buồn, nhưng Napoléon đã ngắt lời họ bằng những lời chua chát
sau đây: Theo ý kiến ông ta thì Châu Âu ắt sẽ thở dài khoan khoái.
Napoléon tự biết rằng binh lính tôn sùng ông ta và mặc dầu
ông ta yêu mến binh lính còn xa mới bằng họ yêu mến ông ta, nhưng ông ta đã
luôn luôn tin tưởng ở họ.
Napoléon không sợ chết. Khi Napoléon mất đi, tắm rửa thi hài
cho ông, người ta tìm thấy trên người ông có nhiều vết thương mà từ trước tới
nay chưa hề ai hay biết (trừ vết sẹo bị lưỡi lê đâm ở trận xung phong thành
Toulon và một vết đạn ở chân trong trận Ratisbonne năm 1809). Rõ ràng Napoléon
đã dấu các vết thương ấy của ông ta để binh lính khỏi dao động trong khi đang
chiến đấu, và đã nhờ những người thân cận nhất băng bó, đồng thời cũng hạ lệnh
cho họ không được tiết lộ. Napoléon không chút ngờ vực gì về quang vinh sẽ đến
với ông ta sau khi ông ta mất đi. Napoléon đã giải thích cuộc đời kỳ dị của ông
ta trước hết bằng cái vận hội mà người ta chỉ có thể ngàn năm mới gặp một lần.
”Nhưng đời ta là một cuốn tiểu thuyết như thế nào nhỉ”, có lần, Napoléon đã nói
như vậy với Las Cases, ở đảo Saint Helena.
Sự vắng mặt của Napoléon trên vũ đài lịch sử đã gây cho những
con người đương thời một ấn tượng giống như một cơn giông tố tột nhiên biến đi
sau sau một thời gian dài hoành hành ác liệt. Từ trước thời Napoléon, sự tiến
triển xã hội và kinh tế đã làm suy yếu nhiều chính thể cổ hủ ở Châu Âu thời ấy
- những chính thể đó đã duy trì chế độ phong kiến trong hàng bao nhiêu thế kỷ,
sự tiến triển ấy đã phá vỡ cơ sở của nhiều thượng tầng kiến trúc - về pháp chế
và hiến pháp - vẫn tồn tại bởi sức ỳ của chúng và đã đục khoét vô số lâu đài
trông mã ngoài cổ kính, lộng lẫy. Cơn lốc xoáy ở Châu Âu mà Napoléon đứng ở
trung tâm đã quật đổ và lôi cuốn đi số lớn những toà lâu đài mọt rỗng ấy; đương
nhiên không có Napoléon, chúng cũng sẽ sụp đổ, tất yếu đó sớm diễn ra. Nghệ thuật
giết người mà Napoléon đã sử dụng với tài năng không thể bắt chước được đã giúp
ông ta dễ dàng hoàn thành sứ mạng lịch sử ấy.
Sau Napoléon, một vài quốc gia phong kiến sống sót đã tồn tại
được một thời gian ở Tây Âu, nhưng trừ một vài ngoại lệ thì chúng giống như một
xác chết tráng men. Cuộc cách mạng năm 1830 ở Pháp, cuộc cách mạng năm 1848 ở Đức
và ở Áo đã đẩy mạnh công cuộc quyét dọn những thây ma lịch sử. Nước Nga, đến
năm 1861, mới cất bước đầu tiên quan trọng trên con đường ấy (con đường thủ
tiêu chế độ nông nô); bị miễn cưỡng và căm giận; đa số trong giai cấp quý tộc
Nga đã công khai nuôi hy vọng đoạt lại những cái mà hoàn cảnh đã buộc chúng phải
nhượng bộ, hoặc ít ra trong khi chờ đợi tuyệt vọng, chúng cố gắng giảm bớt sự
nhượng bộ, và trong mọi việc này, bọn chúng đã thành công mỹ mãn.
Tuy nhiên, nên nhận thấy rằng Napoléon đã tạo điều kiện to lớn
cho Châu Âu phong kiến dễ dàng chống lại ông và chiến thắng ông. Hình ảnh viên
tướng cũ của cách mạng càng chìm biến trong hình ảnh của vị Hoàng Đế Pháp, và
hình ảnh của vị Hoàng Đế Pháp càng chìm đắm trong hoàn cảnh của vị chúa tể toàn
cầu thì Napoléon càng tỏ ra do dự trong việc giải phóng các dân tộc thoát khỏi
ách phong kiến (như ở Ba Lan 1807 - 1812, Napoléon đã giải phóng cho nông dân
song không chia ruộng đất cho họ, như vậy thực tế là vẫn để cho chế độ nông nô
tồn tại; ở Nga vào năm 1812), và Napoléon càng tỏ ra ngang ngạnh, kiên quyết
bao nhiêu trong việc buộc các dân tộc và các Chính Phủ phải tuyệt đối phục tùng
quyền lực vũ đoán của ông ta thì Châu Âu càng kiên quyết nổi dậy chống lại kẻ
áp bức toàn thế giới.
Bởi vậy, năm 1818 - 1814, không phải chỉ có bọn quý tộc cặn
bã của giai cấp phong kiến mới thấy rằng con đường thoát duy nhất là vùng ra khỏi
ách Napoléon. Giai cấp tư sản ở các nước bị chinh phục cũng khao khát san phẳng
những chướng ngại do Napoléon đã đặt ra để kìm hãm sự phát triển của nó. Giai cấp
tư sản thấy rõ và không chịu nổi phương thức bóc lột thậm tệ mà Napoléon đã
dùng ở những nước ấy để phục vụ quyền lợi độc quyền của giai cấp tư sản Pháp.
Đúng là khi cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc đã cho phép các dân tộc vứt bỏ
ách thống trị của Napoléon thì thành quả trực tiếp của thắng lợi ấy đã không
rơi vào tay giai cấp tư sản, mà lại rơi vào tay bọn phản động phong kiến chuyên
chế, như vậy là do sự yếu hèn và tình trạng thiếu tổ chức của giai cấp tư sản ở
Châu Âu hồi đó.
Chính vì vậy mà vào những năm 1813, 1814, 1815, người ta đã
thấy trong hàng ngũ chống lại Napoléon có cả các giai cấp của xã hội Châu Âu
trước kia đã từng hết lời ca ngợi Napoléon là ”vị Tổng Tài công dân số một” hoặc
ít ra thì cũng là ”người bảo vệ những tư tưởng tự do của cách mạng” như một số
đông người vẫn còn lầm tưởng trong khoảng thời gian từ ngày 18 Tháng Sương Mù đến
ngày tuyên bố thành lập Đế Chế. Chính sách kinh tế của Napoléon ở các nước bị
chinh phục không thể đem lại một kết quả cuối cùng nào khác. Cho đến khi chết,
Napoléon cũng không muốn hiểu điều đó và thực chất cũng không thể hiểu được.
Tượng Hoàng Đế bằng đồng đen, đầu đội vòng hoa chiến thắng, một
tay cầm gươm báu, một tay cầm quả địa cầu, đứng sừng sững ở trung tâm Paris,
trên đỉnh cột Vendôme, đúc bằng đại bác chiến lợi phẩm, dường như làm sống lại
một phần con người Napoléon lúc sinh thời đang miệt mài trong giấc mơ cuồng nhiệt:
Thâu tóm Châu Âu và, nếu có thể, cả Châu Á, và với bàn tay cũng cương nghị như
trong pho tượng, ông ta nắm chặt quả địa cầu. Nhưng nền đế chính toàn cầu đã sụp
đổ, và trong sự nghiệp của Napoléon, chỉ còn một sống vĩnh viễn những phần nào
do sức tác động quyết định của những nguyên nhân sâu xa về kinh tế và xã hội đẻ
ra ngay từ trước khi ông lên ngôi.
Hình ảnh Napoléon mãi mãi in sâu trong tâm trí loài người; nó
gợi cho người này bóng của Attila, Tamerlane, Thành Cát Tư Hãn, người khác thì
lại Alexander đại đế và Julius Caesar; nhưng với sự tiến bộ của khoa nghiên cứu
lịch sử, hình ảnh ấy luôn luôn hiện ra ngày một rõ nét trong tính độc đáo có một
không hai và trong sự phức tạp kỳ lạ của cá nhân con người ấy.
HẾT
★★★
[54] Clausewitz, Bàn Về Chiến Tranh, nhà xuất bản Quân Sự
Moscow, 1935, tr. 545.
[55] K. Marx và Fr. Engels, Toàn tập, bản tiếng Nga, t.
XXV, tr. 183.
[56] K. Marx và Fr. Engels, Toàn tập, bản tiếng Nga,
t.V, tr.8.
[57] Sách đã dẫn, tr. 9.
[58] Sách đã dẫn, t.V, tr.8.
[59] Sách đã dẫn, t. VII, tr. 212.
[60] Sách đã dẫn, t. X, tr.26
[61] Sách dẫn, t. V, tr. 10.
[62] K. Marx và Fr. Engels, Toàn tập, bản tiếng Nga, t.
IX, tr. 372.
Yevgeny Viktorovich Tarle
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét