Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

Napoléon Bonaparte 4 XXXXXX

Napoléon Bonaparte 4

CHƯƠNG 15

chiến dịch nước pháp
sự thoái vị lần thứ nhất
1

Trong năm 1814, cũng như trong suốt cuộc đấu tranh của Napoléon với Châu Âu năm 1813, Napoléon chỉ huy hoàn toàn và trông cậy vào lực lượng vũ trang. Tuy nhiên Napoléonn cũng nhận thấy rằng, sau trận Leipzig và trước ngày quân Liên Minh xâm lược nước Pháp thì không thể hành động như hồi tháng 7 và tháng 8 năm 1813 được nữa, hồi Napoléon cố tình phá hoại Hội Nghị Prague. Ngoài nước Pháp ra, lúc bấy giờ người ta còn đồng ý để lại cho Napoléon tất cả những đất đai đã chiếm được, trừ vùng Illyria, các thành phố đồng minh thương nghiệp ở miền Tây Bắc nước Đức và một vài vị trí ở nước Đức cùng với tất cả các danh vị và quyền đặc lợi, trừ danh vị và quyền lợi của người bảo hộ Liên Bang Sông Rhine. Nhưng Napoléon đã phá vỡ các cuộc đàm phán, những mong thanh toán gọn Khối Liên Minh bằng một trận đánh. Những điều kiện mà hiện nay người ta đưa ra với Napoléon chắc chắn là tệ hơn, Nhưng Napoléon biết rằng nông dân và thợ thuyền, tư sản thương nghiệp và công nghiệp và tầng lợp công chức đông đảo mà Napoléon đã tạo nên, và điều quan trọng nhất là Bộ Tư Lệnh Tối Cao của quân đội đứng đầu là các Thống Chế, nói tóm lại, toàn thể nhân dân bao gồm mọi giai cấp, trừ một số rất ít trường hợp ngoại lệ, đều đã mệt lả vì chiến tranh và khao khát hòa bình. Cho nên Napoléon không trắng trợn từ chối cuộc đàm phán do Saint Aignan chuyển đạt, đồng thời còn làm ra vẻ mong muốn hòa bình, nhưng Napoléon đã kéo dài công việc trong gần hai tháng trời (kể từ ngày 15 tháng 11 năm 1813, ngày Napoléon nhận được những điều kiện giảng hòa). Không phải vô cớ mà Napoléon hy vọng quân Liên Minh sẽ vi phạm những điều kiện do chính họ đã đưa ra và như vậy họ sẽ phải chịu trách nhiệm về việc chiến tranh tiếp diễn. Napoléon biết rằng trừ nước Áo ra thì không một nước nào hiện đang chiến tranh với ông lại mong muốn triều đại của ông tồn tại lâu dài và đặc biệt là nước Anh ắt sẽ không hài lòng chừng nào tỉnh Antwerp còn nằm trong tay ông. Nhưng, theo những điều kiện từ Frankfurt gửi đến cho Napoléon thì toàn bộ nước Bỉ (chứ không riêng gì tỉnh Antwerp) vẫn sẽ tiếp tục nằm trong đế quốc Pháp. Napoléon còn biết rằng càng làm trì trệ công việc thì càng tạo cơ hội tốt cho Castlereagh, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Anh, bác bỏ những điều kiệm mà Thượng Nghị Sĩ Aberdeen đã ưng thuận ở Frankfurt hồi đầu tháng 11, dưới áp lực của Metternich. Nhưng trong khi chờ đợi, Napoléon cần phải làm ra vẻ rằng hiện nay ông ta không hề gây trở ngại gì cho cuộc đàm phán hòa bình và nếu như Napoléon có trưng binh một lần nữa thì không phải để chiến tranh mà chỉ để làm hậu thuẫn cho thiện chí hòa bình của ông ta. “Tôi không phản đối gì việc lập lại hòa bình - đó là lời của Napoléon trong bài diễn văn khai mạc khoá họp của Thượng Nghị Viện ngày 19 tháng 12 năm 1813 - Tôi rất hiểu và rất thông cảm với quan niệm của người Pháp, tôi nói người Pháp bởi vì không một người Pháp nào muốn đổi danh dự lấy hòa bình. Rất tiếc tôi phải đòi hỏi ở nhân dân hào hiệp này những hy sinh mới; nhưng những hy sinh ấy đều do những quyền lợi cao cả và quý báu nhất của họ đòi hỏi. Tôi đã phải tăng cường quân đội của tôi bằng nhiều cuộc động viên mới; các quốc gia chỉ có thể yên ổn thương thuyết bằng cách tung hết lực lượng của mình ra”. Rõ ràng Napoléon không muốn hòa bình. “Sao cho những thế hệ mai sau đừng nói về chúng ta rằng: Họ đã hy sinh những quyền lợi căn bản của đất nước; họ đã phục tùng những quyền lực mà từ bốn thế kỷ nay nước Anh đã không bắt nổi nước Pháp phải theo”. Diễn từ của Napoléon kết thúc như vậy để đáp lại cuộc đàm phán hòa bình của các cường quốc đã khai mạc từ hơn một tháng nay. Tháng 1 năm 1814, 11 vạn tân binh được gọi nhập ngũ. Một cuộc động viên mới được quyết định. Napoléon phái một số Thượng Nghị Sĩ đi khắp nước Pháp để động viên nhiệt tình của các cấp chính quyền địa phương trong việc tuyển quân và thu các thứ thuế thường lệ và bất thường để nuôi quân đội. Ngay từ tháng 1 năm 1814, người ta được tin rằng cuối cùng quân đội địch đã vượt qua sông Rhine và làn sóng xâm lược đã tràn vào Alsace và Franche Comté, rằng Wellington đã vượt qua rặng Pyrenées và đang tiến vào miền Nam nước Pháp... “Tôi không sợ phải thú nhận việc đó, - đó là lời Hoàng Đế nói với các Thượng Nghị Sĩ được phái đi các tỉnh - tôi đã chiến tranh quá nhiều, tôi đã có những dự án lớn lao, tôi đã muốn bảo đảm cho nước Pháp quyền bá chủ trên thế giới. Tôi đã nhầm, những dự án đó không tương xứng với lực lượng dân số của dân chúng nước ta. Đáng lẽ phải gọi toàn dân nhập ngũ, và tôi đã nhận thấy được điều đó, nhưng những yêu cầu cả tiến bộ xã hội và cả sự thuần hoá phong tục đã không cho phép biến cả một quốc gia thành toàn dân vi binh”. Nếu các Thượng Nghị Sĩ không muốn mất khẩu khiếu trong suốt thời gian trị vì của Napoléon thì ắt họ đã có thể trả lời ông Hoàng Đế rằng Hoàng Đế đã quá khiêm tốn và rõ ràng là Hoàng Đế đã biến cả nước thành binh lính, trừ đàn bà, con trẻ và người già. “Tôi phải chịu lỗi vì quá tin vào vận hội của tôi, và tôi sẽ chịu... tôi mắc sai lầm thì chính tôi phải chịu - Hoàng Đế nói tiếp - chứ không phải là nước Pháp. Nước Pháp không mắc sai lầm, nước Pháp đã không tiếc cho tôi máu, đã không từ chối một sự hy sinh nào đối với tôi...”. Napoléon coi việc ký kết hòa bình là một sự hy sinh mà cá nhân ông phải chịu. Napoléon nói: “Còn tôi, tôi chỉ dành lại cho tôi cái vinh dự là phải can đảm phi thường, tức là can đảm từ bỏ cái tham vọng cao quý nhất chưa từng có, và vì hạnh phúc của dân chúng, tôi can đảm hy sinh những dự kiến lớn lao chỉ có thể thực hiện được bằng những cố gắng mà tôi không muốn đòi hỏi nữa”. Rất ít khi Napoléon nói thành thật như trong dịp này. Nhưng Napoléon không tín nhiệm gì mấy các Thượng Nghị Sĩ. Người ta có thể tóm tắt ý kiến của Napoléon về các Thượng Nghị Sĩ như thế này: Hôm nay là nô lệ, ngày mai là kẻ phản bội. Napoléon không còn nghi ngờ gì nữa về sự phản bội của Talleyrand. Vừa mới trở về đến Paris sau trận Leipzig vào tháng 11 năm 1813, trong một cuộc đại trào, Napoléon đã dừng lại trước mặt Talleyrand, lớn tiếng hỏi: “Ông đến đây làm gì? Tôi biết là ông tin rằng ông sẽ làm thủ lĩnh nếu như vừa rồi tôi chết đi. Hãy coi chừng, thưa ông, chống lại quyền lực của tôi, không được đâu. Xin báo để ông biết rằng nếu tôi ốm nguy kịch thì ông sẽ chết trước tôi!”. Tuy vậy, Napoléon cũng không cho xử bắn Talleyrand, như đã có lúc con cáo già ấy lo sợ, mà tháng 1 năm 1814, Napoléon lại còn yêu cầu Talleyrand cùng đi với Caulaincourt để tiến hành đàm phán với quân Liên Minh, và đã giơ nắm đấm dọa khi Talleyrand từ chối. Napoléon không còn tin Fouché, cũng như các Thống Chế của ông ta; ông ta chỉ còn tin vào binh lính, nhưng chỉ tin các cựu chiến binh, chứ không phải những binh lính chưa đến tuổi thành niên mà trong hai năm sau cùng, ông ta đã bức họ phải lìa bỏ gia đình. Song số cựu chiến binh chẳng còn là bao: Ở vùng thôn quê La Mã, trên cao nguyên Madrid, ở những vùng lân cận Jerusalem, trên con đường từ Moscow về đến sông Berezina, trên khắp cánh đồng Leipzig, xương cốt của họ còn phơi trắng ngổn ngang. Napoléon đã phải cấp tốc gọi về những người còn sống sót trong số những đám quân cũ ở Tây Ban Nha, ở Hà Lan và ở Ý. Tuy nhiên, Napoléon vẫn muốn chiến tranh, không muốn nói đến hòa bình. Vả lại, sau hai tháng lần lữa và sau khi đã chà đạp lên đất nước Pháp thì quân Liên Minh, tin vào việc nước Pháp đã mệt mỏi rã rời và vào tỷ lệ đảo ngũ ngày càng nhiều trong các tầng lớp binh lính mới gọi nhập ngũ của quân đội Pháp, đã xác định trong tư tưởng rằng sẽ chỉ để lại cho Napoléon những đường biên giới cũ của nước Pháp vào năm 1790, nghĩa là không bao gồm nước Bỉ, nước Hà Lan, xứ Savoy và tả ngạn sông Rhine chiếm được từ thời kỳ Cách Mạng. Như vậy là vẫn còn ít hơn so với những đề nghị hồi tháng 11 năm 1813, nhưng lần này phe Liên Minh đều đồng ý, kể cả thượng nghị sĩ Castlereagh, người đã thân chinh đến tận tổng hành dinh của quân Liên Minh.

Hội nghị hòa bình đã họp ở Châtillon, nhưng các cuộc đàm phán đã không mang lại kết quả gì. “Trước bản đề nghị nhục nhã mà ông đã gửi cho tôi, tôi bị kích động đến nỗi thấy rằng dù chỉ đặt tôi vào cái thế mà người ta đã đề nghị với ông cũng đã là mất hết danh dự rồi...”. Napoléon viết như vậy cho Caulaincourt, đại diện của ông ta ở hội nghị, khi Caulaincourt báo cho Napoléon biết đó là sự hy vọng cuối cùng để giữ được ngai vàng và ngăn ngừa sự phục hưng của dòng họ Bourbon được quân đội Liên minh giúp đỡ. “Lúc nào ông cũng nói đến bọn Bourbon. Chẳng thà tôi đành thấy bọn Bourbon phục hưng ở nước Pháp hơn là tôi phải chịu nhận những đề nghị nhục nhã mà ông gửi”. Chiến tranh, chiến tranh phải định đoạt tất cả. Hội nghị giải tán, không làm nên được trò gì, nhưng cũng đã ở vào giai đoạn giữa cuộc chiến tranh tuyệt vọng của Napoléon chống Khối Liên Minh. Đêm 24 rạng ngày 25 tháng 1 năm 1814, Napoléon lên đường chinh chiến. Ông giao quyền nhiếp chính cho vợ là Marie Louise. Trường hợp Hoàng Đế chết thì đứa con trai của Hoàng Đế, ông vua nhỏ thành Roma, lên ba tuổi, sẽ được đặt lên ngôi ngay, và Marie Louise vẫn giữ quyền nhiếp chính.

Trong đời mình, Napoléon chưa hề yêu ai như đứa trẻ này. Những người biết rõ Hoàng Đế đã không thể ngờ được rằng Hoàng Đế lại có thể quyến luyến với đứa bé đến như vậy, hơn với bất cứ ai. Khi Hoàng Đế ngồi làm việc trong phòng của mình, bên cạnh lò sưởi, đang viết hoặc đọc sách, đứa bé không rời khỏi đầu gối của Hoàng Đế, đứa bé không muốn rời khỏi gian phòng và đòi bố phải chơi lính chì với nó, Meneval, một trong những thư ký riêng của Napoléon đã kể lại như vậy. So với tất cả mọi người ở trong triều, chú bé này là người duy nhất không e sợ Hoàng Đế chút nào và chú ta cảm thấy mình hoàn toàn làm chủ trong phòng làm việc của Hoàng Đế. Suốt cả ngày 24 tháng 1, Napoléon ngồi trong phòng làm việc, bận giải quyết gấp các công việc khẩn cấp trước khi lên đường đi đánh trận quyết định này, cuộc đọ gươm đáng sợ với toàn thể Châu Âu đứng lên chống Napoléon. Chú bé với con ngựa gỗ vẫn quẩn quanh bên bố như thường lệ, và cuối cùng lấy làm khó chịu khi thấy bố miệt mài trên đống giấy tờ, nó kéo áo bố để bắt phải chú ý tới nó. Hoàng Đế nhấc bỗng đứa con tung lên không rồi lại bắt lấy để nô đùa với nó. Thích thú, chú vua nhỏ thành Roma cuống quýt hôn bố. Tối đến, người ta ẵm nó đi ngủ. Vào hồi ba giờ sáng, người vú, đêm ấy đến phiên trực trong phòng của thái tử, bất chợt thấy Napoléon “rón rén bước vào”, còn Napoléon thì không biết người vú đang nhìn mình. Napoléon đến đứng bên cạnh cái nôi của đứa con đang ngủ say sưa, chăm chú ngắm nghía hồi lâu. Lát sau, Napoléon đã lên xe và đến với quân đội. Từ đó, không bao giờ còn gặp lại đứa con trai của ông ta nữa.

2

Việc huấn luyện tân binh chưa xong, việc trưng binh vẫn tiếp tục, Hoàng Đế và các Thống Chế mới chỉ có 4 vạn 7 nghìn quân sẵn sàng chiến đấu được, còn Liên Minh đã dàn ra 23 vạn quân và một số quân gần bằng thế nữa đang cấp tốc kéo đến tăng cường trên nhiều ngả đường khác nhau. Hầu hết các Thống Chế, kể cả Ney, đều ngã lòng. Napoléon là người duy nhất còn đầy hăng say và khí thế, và ông ta cố gắng truyền lại cho các Thống Chế tinh thần lạc quan ấy. “Napoléon tỏ ra cương nghị và như trẻ lại”, những người chứng kiến đã kể lại như vậy. Đến Vittoria ngày hôm trước thì ngày hôm sau, 26 tháng 1, Napoléon cho tập trung hết lực lượng và đã đánh bật được Blücher ra khỏi Saint Dizier. Từ Saint Dizier, sau khi đã quan sát được hành động của quân Phổ, Napoléon tiến đánh quân Phổ và đánh quân đoàn Nga của Osten Sacken. Ngày 29 tháng 1, ở Brienne, Napoléon đã đánh thắng một trận mới vô cùng gay go, và trận này đã khôi phục tinh thần cho binh sĩ, lúc đó đang bạc nhược lên rất nhiều. Blücher bị đánh bại, vội vã lui về Bar Sur Aube, nơi mà chủ lực quân của Schwarzenberg đã đến tập trung. Quân Liên Minh điều động một khối 12 vạn 2 nghìn quân ở khoảng giữa Saumon và Bar Sur Aube. Trong tay chỉ còn hơn 3 vạn quân, nhưng Napoléon quyết tâm nghênh chiến, không lui. Trận Rothière đã diễn ra từ tinh mơ ngày 1 tháng 2, kéo dài đến 10 giờ. Sau đó, Napoléon vượt sông Aube không bị địch truy kích và tới Troyes vào ngày 3 tháng 2. Ở Rothière, quân Pháp có thể tin rằng mình sắp thắng lợi hoàn toàn; thắng lợi của Napoléon trong việc chống lại được những lực lượng đông gấp bốn, gấp năm lần thật vô cùng to lớn. Nhưng không phải vì thế mà tình hình không còn cực kỳ nguy hiểm, quân đội nhận được viện binh rất ít và rất chậm. Ney, MacDonald, Berthier, Marmont đều cho rằng biện pháp duy nhất để cứu vãn ngai vàng là đàm phán hòa bình và khi Hội Nghị Châtillon bị thất bại thì họ tỏ ra buồn bực. Nhưng nghị lực của Napoléon ngày càng lớn mạnh song song với sự hiểm nghèo. Ngay từ năm 1812, các Thống Chế đã nhận xét thấy ở Napoléon có những biểu hiện trì trệ, mệt mỏi, hình như thiên tài quân sự của Napoléon bị giảm sút. Nhưng vào tháng 2 và tháng 3 năm 1814, các Thống Chế không còn tin vào con mắt của mình nữa và thấy trước mặt họ vẫn là tướng Bonaparte, người anh hùng trẻ tuổi ở Ý và ở Ai Cập tựa hồ như Napoléon đã trút bỏ được cái gánh nặng của 15 năm trị vì, 15 năm chiến tranh đẫm máu, 15 năm cai trị một cách độc đoán cái đế quốc rộng lớn của ông và Châu Âu chư hầu. Napoléon giữ vững tinh thần cho các Thống Chế và binh lính, làm yên lòng cho các Bộ Trưởng còn lại ở Paris. Ngày 10 tháng 2, sau vài cuộc hành quân mau lẹ, Napoléon tiến công vào quân đoàn Olssufiev đóng ở Champaubert và đánh cho nó thất bại tan tành. Hơn 1 nghìn 5 năm trăm quân Nga bị giết chết, bị bắt làm tù binh chừng 3 nghìn, trong đó có cả viên tướng chỉ huy, số còn lại bỏ chạy. Chiều tối, Napoléon nói với các sĩ quan thân cận: “Nếu ngày mai ta cũng gặp may mắn như hôm nay thì 15 ngày nữa, ta sẽ đánh bật quân địch về đến sông Rhine, và từ sông Rhine đến sông Vistula chỉ còn một bước chân”.

Ngày hôm sau, Napoléon tiến từ Champaubert về Montmirail, nơi quân Nga và quân Phổ đang trú quân. Trận Montmirail diễn ra ngày 11 tháng 2, đã kết thúc bằng một thắng lợi mới và rực rỡ của Napoléon. Trong số 2 vạn quân chiến đấu dưới cờ của Liên Minh thì họ bị tổn thất gần 8 nghìn người, còn Napoléon mất chưa đầy 1 nghìn người. Quân Liên Minh vội vã rút khỏi chiến trường. Hoàng Đế lập tức tiến về Château Thierry, ở đó còn khoảng 1 vạn 8 nghìn quân Phổ và 1 vạn quân Nga. Sau này, Napoléon nói là mình đã lại tìm thấy đôi hài trong chiến dịch nước Ý. Những nhà bình luận quân sự đánh giá chiến dịch nước Pháp năm 1814 như một trong những chiến dịch đặc sắc nhất của thiên hùng ca Napoléon và là một chiến dịch trong đó thiên tài chiến lược của Hoàng Đế đã lên tới điểm tột cùng. Trận Château Thierry (ngày 12 tháng 2) là một chiến thắng mới của Napoléon. Nếu MacDonald hành quân không mắc phải sai lầm và chậm trễ thì có lẽ quân Liên Minh đã bị tiêu diệt.

 

Ngày 13 tháng 2, Blücher đánh và đã đuổi lui được Marmont nhưng ngày hôm sau, Napoléon đến ứng cứu và đã đánh bại được Blücher ở Vauchamps gần Étoges. Trong trận này, tướng Phổ mất 9 nghìn quân. Tuy Napoléon đã nhận thêm được viện binh và quân Liên Minh đã bị thua liền mấy trận nhưng tình thế của Hoàng Đế vẫn nguy ngập vì lực lượng của quân Liên Minh vẫn đông gấp bội. Nhưng những chiến thắng bất ngờ và xảy ra hàng ngày đó đã gieo hoang mang trong hàng ngũ quân đội Liên Minh, đến nỗi Schwarzenberg, tổng chỉ huy quân Liên Minh, ít nhất cũng là trên danh nghĩa đã phải phái một trong những sĩ quan hầu cận đến tổng hành dinh của Napoléon để đề nghị hoãn binh. Hai trận đánh mới nữa ở Mormant và ở Villeneuve cũng lại đã kết thúc có lợi cho quân Pháp và bức quân Liên Minh phải tiến hành một cuộc hoãn binh bất ngờ. Napoléon đã từ chối hội kiến riêng với bá tước Pahlen, phái viên của Schwarzenberg nhưng đã nhận bức thư của tướng Áo và không trả lời ngay. “Ta đã bắt được từ 3 đến 4 vạn tù binh, ta đã thu được 200 cỗ pháo và bắt được rất nhiều tướng lĩnh”. Napoléon đã viết như vậy cho Caulaincourt và tuyên bố rằng ông ta chỉ bằng lòng lập lại hòa bình với quân Liên Minh với điều kiện là nước Pháp giữ nguyên được “các đường biên giới thiên nhiên” (sông Rhine, dãy núi Apls, dãy núi Pyrenées). Napoléon từ chối đình chiến.

Ngày 18 tháng 2, một trận đánh mới lại diễn ra ở Montereau, ở đó quân Liên Minh đã bị đánh lui, bị thiệt hại 3 nghìn người vừa bị giết vừa bị thương và 4 nghìn bị bắt làm tù binh.

Theo lời của các nhà quan sát và của các ký giả, ngay cả của bên đối phương, thì trong chiến dịch năm 1814 dường như hoàn toàn tuyệt vọng ấy, tài năng của Napoléon đã trội hẳn lên. Song vì Napoléon có ít quân quá, các Thống Chế (Victor, Augereau) đã suy sụp đến cùng cực, phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác, nên đã làm cho Napoléon không thể khuyếch trương triệt để được những thắng lợi vừa rực rỡ vừa kỳ quan của ông. Napoléon nóng nảy khiển trách, tức giận la mắng các tướng tá của mình, thúc ép họ hành động: “Cái lý do mà ông đưa ra nghèo nàn lắm, Augereau ạ. Tôi đã tiêu diệt 8 vạn quân địch bằng những tiểu đoàn tân binh không có bạo dạn và vừa mới mặc quần áo. Nếu sáu chục tuổi đời của ông đã đè nặng lên ông thì ông hãy thôi đi, đừng chỉ huy nữa”. “Hoàng Đế nhất định không muốn hiểu rằng tất cả những người dưới quyền của Hoàng Đế không phải là những Napoléon”, một trong những tướng lĩnh của Napoléon viết trong tập hồi ký như vậy. Sau khi đã nhóm họp hội đồng quân sự. Schwarzenberg thỉnh thị ý kiến Hoàng Đế Aleksandr, vua nước Phổ, Hoàng Đế nước Áo, và ông đã quyết định đình chiến với Napoléon một lần nữa. Để tiến hành việc này, người ta cử hoàng thân Liechtenstein, người đứng đầu một trong những lệnh tộc có tiếng tăm của nước Áo, mang theo những đề nghị mới đến gặp Napoléon. Hiển nhiên là quân Liên Minh rất lo lắng và một số trong bọn họ đã muốn giải quyết thật sớm công việc bằng cách ký một điều ước hòa giải. Napoléon không từ chối tiếp nhận phái viên của Liên Minh. Bằng những lời lẽ rất nhã nhặn, Liechtenstein cam kết với Napoléon rằng Liên Minh thật sự mong muốn hòa bình và không muốn phục hưng dòng họ Bourbon. Tuy nhiên, cuộc đàm thoại đã không mang lại kết quả gì.

Với những thắng lợi rực rỡ đến cực điểm, lúc bấy giờ Napoléon cho rằng mình đã tiêu diệt được gần một nửa quân số của Liên minh (8 vạn trong số 20 vạn) nên ông đã ỷ vào ưu thế thuyệt đối về thiên tài quân sự của mình, cái thiên tài đã giúp ông đánh một kẻ địch vô cùng mạnh mẽ phải thất bại liên tiếp. Từ Paris, Talleyrand và đồng loã, từ lâu đã có những mối liên lạc bí mật rất chặt chẽ với quân Liên Minh để chuẩn bị cho dòng họ Bourbon trở lại. Đối với bọn này, phe Liên Minh giữ thái độ hết sức dè dặt và chính ngay kẻ thù không đội trời chung với Napoléon, như Aleksandr chẳng hạn, lại ưng để ông vua nhỏ thành Roma lên ngôi, miễn là Napoléon thoái vị. Nhưng lúc này người ta không bàn đến chuyện thoái vị nữa.

Người ta biết rằng một tên quý tộc cũ người Pháp, nam tước vùng Gouhaux, quê quán ở Troyes, đã gửi lên Aleksandr bản kiến nghị ủng hộ dòng họ Bourbon. Aleksandr trả lời là quân Liên Minh chưa hề có quyết định gì về việc thay thế triều đại Napoléon bằng triều đại Bourbon và khuyên những kẻ ký kiến nghị (không phải chỉ có một mình Gouhaux) nên tránh những cuộc vận động nguy hiểm như vậy. Vài ngày sau khi Napoléon tiến vào Troyes thì Gouhaux bị bắt, bị đưa ra tòa án binh và bị xử bắn. Sau này, Aleksandr lấy làm lạ rằng không hề thấy xuất hiện ở những vùng nông thôn nước Pháp ý muốn lật đổ Napoléon. Trái lại, ở vùng núi Vosges, vùng Lorraine, vùng núi Jura, chính nông dân đã bắt đầu tiến công vào những binh lính Liên Minh đi rớt lại sau, và biểu thị rõ rệt mối căm hờn đối với kẻ xâm lược. Những sự việc ấy xảy ra một phần là do nông dân phản ứng chống lại những vụ cướp bóc của quân Liên Minh cũng như vì họ lo sợ lại phải chịu đựng dòng họ Bourbon được đưa về bằng “những xe vận tải của nước ngoài” và việc lập lại những luật lệ phong kiến.

Napoléon đã nhanh chóng cảm thấy điều đó. “Cần phải dùng lại phương pháp công kích và cách giải quyết vấn đề trong năm 1793”[53] của ông ta. Napoléon viết như vậy cho các Thống Chế. Nhưng, mặc dầu thất bại, quân Liên Minh vẫn không ngã lòng. Rất nhiều quyền lợi bị đe dọa. Một loạt chiến thắng kỳ diệu, mà Napoléon liên tiếp thu được vào lúc tình thế Napoléon dường như tuyệt vọng, đã dẫn họ đến chỗ lo âu tự hỏi rằng rồi đây sự tình sẽ ra sao nếu con người ấy, con người mà từ lâu tất cả bọn họ đã phải coi là nhà chỉ huy lỗi lạc nhất của lịch sử thế giới, vẫn còn ngồi trên ngai vàng, khôi phục được sức lực và hùng cường trở lại? Lúc ấy, một hoặc hai năm nữa, ai sẽ là kẻ đi tới đích. Vào thượng tuần tháng 3, Hoàng Đế đã tập hợp được hơn 7 vạn 5 nghìn người; ông tách ra 4 vạn quân để bám sát hoạt động của Schwarzenberg đang rút lui, còn lại 3 vạn 5 nghìn quân, Napoléon ném đi truy kích Blücher. Viên quan cai trị khu Soissons đã nộp thành phố cho Blücher, chỉ nhờ sai lầm ấy Blücher mới thoát khỏi bị tiêu diệt. Nhưng sau khi tránh khỏi bị bắt. Blücher đã không thể lẩn tránh giao chiến: Ngày 7 tháng 3, Napoléon đã đuổi kịp và đánh bại Blücher ở Craonne; sau khi bị thất bại nặng nề, Blücher chạy trốn vào Laon; ở đó, Napoléon đã cố sức để đánh bật Blücher ra nhưng vô hiệu (vào ngày 9, 10 tháng 3). Tuy vậy, ít lâu sau, Hoàng Đế cũng đuổi được Blücher ra khỏi đấy, mặc dầu không tiêu diệt gọn được như đã dự định. Oudinot và MacDonald, được Hoàng Đế giao cho 4 vạn quân để bám chắc Schwarzenberg đã phải tháo chạy vào vùng Provence. Ngày 9 tháng 3, đại diện của các cường quốc Liên Minh đã ký ở Saumon một giao ước cùng nhau cam kết trước hết là sẽ buộc Napoléon phải thu nước Pháp trở về những đường biên giới như trước năm 1792, giải phóng hoàn toàn nước Hà Lan, nước Ý, nước Tây Ban Nha, nước Thuỵ Sĩ, tất cả các quốc gia Đức, và sẽ không xếp khí giới chừng nào mục đích trên còn chưa thực hiện được; ngoài ra, nước Nga, nước Phổ và nước Áo cam kết mỗi nước sẽ cung cấp 15 vạn quân, còn nước Anh cung cấp cho quân Liên Minh mỗi năm một khoản viện trợ là 5 triệu đồng bảng Anh trong suốt thời gian chiến tranh. Quân Liên Minh cũng không thể phỏng đoán được đến bao giờ và làm thế nào để bẻ gãy được sự kháng cự tuyệt vọng của Napoléon, người mà hiện nay cũng như trước đây không bao giờ muốn nghe nói đến biên giới cũ.

Trong thời gian này, các Thống Chế của Napoléon gặp hết rủi ro này đến rủi ro khác. Ở phía Nam, quân đội Anh của Wellington tiến về Bordaux, sau khi đã đánh lui được các Thống Chế Soult và Suchet. Khuyếch trương chiến quả. Schwarzenberg tiếp tục đánh MacDonald và Oudinot.

Không để cho quân đội và chính mình có thời gian nghỉ ngơi sau trận Laon. Napoléon lao vào đánh quân đoàn Nga, Phổ đang chiếm đóng ở Reims của viên tướng công tước Saint Priest, một kẻ lưu vong người Pháp chạy sang phục vụ nước Nga. Trận Reims (ngày 13 tháng 3) đã kết thúc bằng cuộc chạy dài của quân Liên Minh, với một nửa số quân bị mất và Saint Priest chết trận. Nhưng những chiến thắng mới ấy không thể làm thay đổi tình thế, vì quân Liên Minh đã kiên quyết không nhân nhượng, và Napoléon cũng kiên quyết không chấp nhận những điều kiện của phe Liên Minh và thà mất hết, kể cả ngai vàng, còn hơn chịu để đế quốc phải thu hẹp lại trong những đường biên giới cũ. Khi Caulaincourt, theo lệnh của Napoléon, tuyên bố với các đại biểu Anh, Nga, Phổ và Áo họp ở Hội Nghị Châtillon rằng Napoléon dứt khoát gạt bỏ những đề nghị của họ, và đòi tả ngạn sông Rhine cùng với Cologne và Mainz, Antwerp và Flanders, Savoy và Nice vẫn nằm trong biên giới của đế quốc như trước đây, thì cuộc đàm phán cũng bị tan vỡ. Vượt qua phòng tuyến của Napoléon và các vị trí tiền tiêu của quân Nga, bá tước Vitrolles, tay sai của bọn Bourbon và mật phái của Talleyrand, đã từ Paris đến bản doanh của quân Liên Minh ngày 17 tháng 3 và được Aleksandr tiếp đón ngay. Y đem đến cho Aleksandr tin tức và ý kiến của Talleyrand cho rằng quân Liên Minh phải tiến gấp về Paris chứ không nên đuổi theo Napoléon; Vitrolles còn nói chắc rằng ở Paris người ta đang chờ quân Liên Minh, và khi họ tới, người ta có thể sẽ tuyên bố ngay sự truất ngôi Hoàng Đế của Napoléon và sự lên ngôi của Louis XVIII (như lâu nay bá tước xứ Provence vẫn tự xưng. Để phục hưng dòng họ Bourbon). Nhưng Vitrolles đã hoảng hốt rụng rời khi phát hiện được rằng mặc dầu Aleksandr rất mong muốn Napoléon sụp đổ, song lại cho rằng quân Liên Minh tuyệt đối không nên can thiệp vào sự lựa chọn người kế nghiệp Napoléon, và Nga Hoàng lại đã coi nền Cộng Hòa như một giải pháp tốt đẹp. Vitrolles không còn tin ở hai tai của hắn nữa. “Lạy chúa, rồi chúng ta sẽ đi đến đâu?”. Vitrolles thốt lên như vậy khi báo cáo lại cuộc gặp gỡ. Hình như Aleksandr đã bị cái thực tế sau đây đập mạnh vào óc: Những sự phản kháng ở Pháp bắt đầu mang tính chất một cuộc kháng chiến của nước Pháp sau Cách Mạng chống lại quân đội nước ngoài kéo vào để lập lại chế độ xã hội cũ và phục hưng dòng họ Bourbon, và hình như hiểu rằng tình thế này sẽ củng cố vị trí của Napoléon đến mức nào, một con người luôn luôn đáng sợ và luôn luôn chiến thắng, nên Aleksandr đã không muốn đặt nước Pháp, và nhất là “đám dân đen” của nước Pháp đứng trước hai con đường: Napoléon hay là bọn Bourbon. Aleksandr đã đặt họ đứng trước hai con đường khác: Napoléon hay chế độ Cộng Hòa. Đó là một mánh lới tinh vi, nhưng khối óc chật chội của kẻ nịnh thần chính thống và tên lưu vong Vitrolles không thể nào hiểu được điều đó nên hắn đã sững sờ kinh ngạc khi phát hiện ra cái chủ nghĩa Cộng Hòa Pháp của Nga Hoàng của toàn thể các quốc gia Nga. Aleksandr luôn luôn xác định rằng bọn Bourbon và những tên Vitrolles tuyệt chẳng hiểu chút gì về tình trạng tư tưởng ở Pháp, nhưng ông ta cũng chú ý đến lời khuyên của Talleyrand do Vitrolles đem lại cùng lúc với một bức thư không ký tên và cố ý viết ngoằn ngoèo như một người tập viết. Sợ bị mất đầu, vì Vitrolles có thể bị cảnh binh của Napoléon bắt giữ ở dọc đường, và mặc dầu chữ viết khác đi và sai văn phạm, cảnh binh vẫn có thể truy ra được, nên Talleyrand đã khẩn khoản khuyên Aleksandr và phe Liên Minh tiến quân về Paris, dù có phải bỏ Napoléon còn chưa bị đánh quỵ và hở hai bên sườn. Nguy cơ không phải từ trong bản chất của tên phản bội quỷ quyệt Talleyrand mà ra, song lại ở chỗ hắn đã hoàn toàn biết rõ tình trạng dao động và hoang mang đang bao trùm lên Paris, từ dân chúng đến quân đội.

Ngày 20 tháng 3, trận Arcis Sur Aube đã diễn ra giữa Napoléon lúc đó ở gần 3 vạn quân với quân Liên Minh do Schwarzenberg chỉ huy lúc đầu giao chiến có ngót 11 vạn quân và sau này cuối trận đánh đã điều động tới gần 9 vạn. Mặc dầu Napoléon đã giành phần thắng và thực tế đã đánh lui được quân địch trên nhiều điểm, nhưng kết quả trận đánh vẫn chưa rõ rệt: Napoléon không truy kích Schwarzenberg, đã vượt qua sông Aube và phá cầu. Trong trận này, Napoléon mất 3 nghìn người, quân Liên Minh mất 9 nghìn, nhưng cả lần này nữa, Napoléon đã không thể tiêu diệt được quân Liên Minh. Quân Liên Minh kinh sợ một cuộc chiến đấu dân tộc, một cuộc dấy lên của toàn dân Pháp như cuộc chiến tranh trong thời kỳ Cách Mạng anh hùng đã cứu nước Pháp thoát khỏi cuộc xâm lược của nước ngoài và sự phục hưng của triều đại Bourbon. Nhưng Aleksandr, Frederick Wilhelm, Francis, Schwarzenberg và Metternich hẳn sẽ yên tâm nếu họ được nghe câu chuyện giữa Napoléon và tướng Sébastiani sau trận Arcis Sur Aube. “Này, tướng quân, tình hình này tướng quân bảo sao?”. “Hạ thần cho rằng chắc hẳn Hoàng Thượng còn nhiều nguồn dự trữ khác mà hạ thần không biết tới”. “Chỉ có thế thôi đấy, chẳng còn gì nữa đâu”. “Vậy sao Hoàng Thượng không nghĩ đến việc kích động quốc dân đứng lên”. “Ảo tưởng, thật là ảo tưởng nếu vay mượn kinh nghiệm của cuộc chiến tranh Tây Ban Nha và của cuộc Cách Mạng Pháp, nếu kích động nhân dân của cái nước mà cách mạng đã thủ tiêu bọn quyền quý và bọn tăng lữ, mà chính bản thân tôi thì lại là thủ tiêu cách mạng". Napoléon đã thấu suốt sự thể: Đã cố sức kiên trì trong việc thủ tiêu mọi dấu tích của cách mạng, thì bây giờ đây, trong cuộc chiến đấu sống mái để giữ lấy Paris này, dẫu cho Napoléon có muốn chăng nữa cũng không thể kêu gọi được sự giúp đỡ của cuộc Cách Mạng Pháp mà trước kia ông ta đã chà đạp và bóp nghẹt được. Cuộc nói chuyện trên đây giữa Napoléon và tướng Sébastiani xảy ra ba ngày sau cuộc hội đàm giữa Aleksandr và Vitrolles. Napoléon coi việc động viên quần chúng đông đảo nổi dậy với tinh thần, khí thế như năm 1792 - mà kết thúc là sự tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa - là ảo tưởng; còn như Aleksandr, kẻ thù không đội trời chung của ông, thì đúng là đang muốn tước bỏ mọi chỗ dựa của Napoléon ở trong nhân dân Pháp bằng cách khỏi động, vẽ ra trước mắt họ sự phục hưng chế độ Cộng Hòa.

3

Sau trận Arcis Sur Aube, Napoléon định đánh vào hậu phương của quân địch để cắt đứt liên lạc của họ với sông Rhine, nhưng quân Liên Minh đã quyết tâm tiến thẳng về Paris.

Những bức thư của Hoàng Hậu Marie Louise và của Bộ Trưởng Bộ Công An Savary viết cho Napoléon, bị quân Cossacks chặn bắt được, đã làm cho. Aleksandr tin chắc rằng ở Paris người ta không hy vọng gì vào cuộc kháng chiến toàn dân và nếu quân Liên Minh vào được thủ đô thì sẽ kết thúc được chiến tranh, sẽ quyết định luôn cả sự sụp đổ của Napoléon. Quân Liên Minh đi được đến bước quyết định ấy là nhờ có Pozzo di Borgo, người đảo Corsica; Borgo là kẻ vốn có mối thù với Napoléon từ lâu, và chính vì thế nên đã được Aleksandr tin cậy. Sau trận Arcis Sur Aube, khi quân Liên Minh được tin là Napoléon định cắt đường liên lạc của họ, thì Borgo tuyên bố: “Mục tiêu của chiến tranh là ở Paris. Chừng nào các ngài còn nghĩ đến giao chiến thì các ngài còn bị đánh bại, vì bao giờ Napoléon cũng nghênh chiến hơn các ngài, và vì binh lính của Napoléon, mặc dầu bất mãn nhưng do danh dự thôi thúc, họ sẽ hy sinh đến người cuối cùng ở bên cạnh Napoléon. Dẫu quyền lực quân sự của Napoléon có bị phá tan, Napoléon vẫn vĩ đại, rất vĩ đại nữa kia, và dẫu thiên tài của Napoléon có bị đánh đổ, song vẫn vĩ đại hơn các ngài. Nhưng quyền lực chính trị của Napoléon thì đã bị thủ tiêu. Thời thế đã thay đổi. Nền chuyên chế quân sự được thừa nhận là một công lao sau ngày Cách Mạng, nhưng kết quả của nó đã bị lên án từ lâu và hoàn toàn bị mất tín nhiệm. Phải tìm cách chấm dứt chiến tranh bằng chính trị, chứ không phải bằng quân sự, và muốn thế thì ngay khi địch có một chỗ hở nào đó có thể thọc qua được, và các ngài hãy lợi dụng ngay chỗ đó, cấp tốc kéo về Paris, dùng ngón tay khẽ đụng vào Paris, chỉ cần dùng ngón tay thôi, là kẻ khổng lồ ấy sẽ bị đổ nhào. Các ngài sẽ bẻ gãy được thanh kiếm mà các ngài không thể nào tước nổi được của hắn ta”. Pozzo di Borgo tin chắc rằng nhân dân đã quên bẵng dòng họ Bourbon, như hắn đã nói với Khối Liên Minh, vả lại chính Khối Liên Minh cũng đã nhận định như vậy. Khối Liên Minh đồng ý với Borgo về điểm cho rằng sau khi Napoléon đã bị lật đổ thì dòng họ Bourbon sẽ trở thành “có khả năng”.

Thấy có khả năng thanh toán được Napoléon mà không phải trở lại cái vấn đề Cộng Hòa vô cùng khó chịu, Aleksandr cho là không cần thiết phải nói tới nền Cộng Hòa nữa. Quân Liên Minh quyết định hành động mạo hiểm. Lúc này Napoléon đang đi xa, cũng đúng là để đánh vụ hồi vào sau lưng quân Liên Minh nhằm kìm chân họ lại không cho tiến lại gần Paris. Lợi dụng sự đi xa ấy của Napoléon và tin tưởng vào bọn phản bội sẽ nộp kinh thành trước khi đích thân ông Hoàng Đế về được đến nơi, nên quân Liên Minh đã quyết định tiến thẳng đến Paris. Đường về Paris do hai Thống Chế Marmont và Mortier cùng với hai tướng Pacthod và Amey án ngữ: Cả thảy có hai vạn rưỡi quân. Napoléon đã cùng với quân chủ lực tiến xa về phía Đông. Ngày 25 tháng 3, thắng trận ở Fère Champenoise, quân Liên Minh đã đẩy lùi được hai Thống Chế trên đường về Paris và 10 vạn quân Liên Minh đã xuất hiện ở ngoại vi thủ đô. Ngày 29 tháng 3, Hoàng Hậu Marie Louise rời Paris đi Château de Blois cùng với chú vua nhỏ thành Roma. Để phòng giữ Paris, quân Pháp bố trí khoảng 4 vạn quân. Khủng khiếp đè nặng kinh thành, tinh thần quân đội bạc nhược. Aleksandr muốn tránh được một cuộc đổ máu dưới chân thành Paris giả bộ đóng vai một kẻ chiến thắng đại lượng. “Thiếu lực lượng phòng giữ và thiếu người thủ lĩnh vĩ đại, Paris không thể kháng cự được; tôi tin tưởng sâu sắc như vậy”, đó là lời của Nga Hoàng nói với Orlov trong lúc trao cho Orlov tờ thiếp trắng để đình chỉ trận đánh mỗi khi thấy hé ra hy vọng thủ đô Pháp sẽ đầu hàng không chiến đấu. Trận đánh ác liệt diễn ra nhiều giờ liền; quân Liên Minh đã hao tổn 9 nghìn người, trong đó có chừng 6 nghìn quân Nga, nhưng rã rời vì lo sợ bị thất bại và bị Talleyrand thúc đẩy nên ngày 30 tháng 3, vào hồi 5 giờ chiều, Thống Chế Marmont đã đầu hàng.

Napoléon nhận được tin quân Liên Minh đánh bất ngờ vào Paris giữa lúc ông ta đang giao chiến ở khoảng giữa Saint Dizier và Bar Sur Aube. “Thật là một trận thất bại hoàn toàn. Và chưa bao giờ tôi ngờ được rằng tướng tá của quân Liên Minh lại có thể làm được việc đó!” Napoléon nói như vậy vào ngày 27 tháng 3, khi người ta báo cho ông tin ấy. Những lời khen ngợi ấy, trước hết, là lời của một nhà chiến lược trong người Napoléon.

Napoléon cùng với bộ đội cấp tốc quay về Paris. Về đến Fontainebleau đêm 30 tháng 3, Napoléon được tin trận đánh vừa kết thúc và Paris đã đầu hàng. Cũng như bất cứ bao giờ, Napoléon vẫn đầy cương nghị và kiên quyết. Sau khi nắm được tình hình của sự biến, Napoléon im lặng mười lăm phút, rồi trình bày cho Caulaincourt và các tướng tá bên cạnh ông biết kế hoạch mới, Caulaincourt về Paris để nhân danh Napoléon giảng hòa với Aleksandr và quân Liên Minh, với những điều kiện như Hội Nghị Châtillon đã đề ra. Caulaincourt phải làm sao tìm đủ mọi cớ để đi đi lại lại giữa Paris và Fontainebleau nhằm kéo dài thời gian ra ba ngày, thời gian cần thiết để Napoléon có thể điều động mọi lực lượng sẵn có từ vùng Saint Dizier về, sau đó sẽ tống cổ quân Liên Minh ra khỏi Paris. Caulaincourt ấp úng hỏi rằng tại sao không thể đem lại cho phe Liên Minh một hòa ước thật sự, không phải là một thủ đoạn chiến tranh. “Không, không! - Hoàng Đế ngắt lời - Không thể bị ê chề! Không thể hòa bình nhục nhã! Đây là vấn đề thanh danh của nước Pháp, vinh dự của nước Pháp! Trong trận chiến đấu cuối cùng, chỉ có gươm đao, gươm đao phải quyết định điều đó!” Caulaincourt lại đi ngay Paris, còn Napoléon lại dốc hết tâm lực để chuẩn bị gấp rút cho trận đánh, trong ba, bốn hôm nữa sẽ diễn ra, theo dự kiến của ông ta. Chủ yếu Napoléon cho rằng trong thời gian ngắn ngủi ấy, quân Liên Minh không thể tiến hành được một cuộc vận động chính trị quyết định nào có thể làm mất tinh thần và lôi kéo quần chúng đang do dự ngả về phía họ. Chính vì vậy mà Napoléon đã bày ra màn kịch đàm phán này và còn chịu nhận cả những điều kiện mà trước đây hai tuần Napoléon đã miệt thị bác bỏ. Nhưng tình thế đã hoàn toàn không cứu vãn được nữa. Bọn Bảo Hoàng vui mừng đón chào các vua chúa phe Liên Minh tiến vào Paris, đông đảo quần chúng nhân dân giữ thái độ lạnh nhạt và chịu khuất phục, tất cả những điều đó nói lên rằng thủ đô sẽ chấp nhận cái chính phủ mà người ta sẽ đặt ra cho họ. Trong một bản tuyên bố, bọn vua chúa Liên Minh nói rằng bọn họ sẽ không đàm phán với Napoléon, họ sẽ công nhận chính phủ và chính thể nào mà dân tộc Pháp ưng thuận lựa chọn.

Như vậy là cuộc đàm phán của Caulaincourt với quân Liên Minh đã không mang lại chút kết quả gì. Aleksandr nói trắng ra với Caulaincourt rằng nước Pháp đã quá chán ghét Napoléon, đã quá mệt mỏi vì ông ta. Schwarzenberg nhắc lại bằng một giọng chua chát rằng Napoléon đã làm rung chuyển cả thế giới trong 18 năm trời và không một ai có thể sống yên ổn được với Napoléon. Người ta đã không ngừng đem lại cho ông ta hòa bình, bằng cách công nhận đế quốc của ông ta nhưng ông ta không muốn nhượng bộ chút gì; bây giờ thì cũng đã quá muộn rồi. Trong lúc nói như vậy, Schwarzenberg không biết rằng ngay cả lúc ấy Napoléon vẫn không muốn nhân nhượng một chút gì và đã cử Caulaincourt đến chỉ là cướp lấy ba ngày cho bộ đội của ông ta kịp về tới. Khi quay về với Napoléon, Caulaincourt thấy tình hình như sau: Quân đội đang kéo về tập trung dần dần, ông Hoàng Đế tính đến ngày 5 tháng 4 sẽ có trong tay 7 vạn quân và sẽ cầm đầu đoàn quân đó tiến về Paris. Sáng ngày 4, Napoléon đi duyệt đội ngũ. Hoàng Đế nói: “Hỡi các binh sĩ, quân thù đã chiếm của chúng ta ba biên trấn, chúng đã tới làm chủ Paris. Phải tống cổ chúng đi! Những tên Pháp gian, những tên lưu vong, mà xưa kia chúng ta đã nhu nhược không trừng trị, đã cấu kết với nước Anh và đã trương cờ trắng. Những kẻ hèn hạ đó! Chúng sẽ phải đền tội một cách thích đáng. chúng ta hãy thề thắng trận hoặc là chết, hãy thề rửa nhục cho Tổ Quốc và Quân Đội chúng ta”. Binh sĩ hô lớn: “Xin thề!”. Nhưng sau khi duyệt binh, quay về lâu đài thì ở đó Hoàng Đế thấy một tình hình tư tưởng hoàn toàn khác. Các Thống Chế Oudinot, Ney, MacDonald, Berthier, công tước Bassano đứng trước Napoléon với vẻ rầu rĩ lặng lẽ và không ai dám nói một lời. Napoléon gặng hỏi. Họ trả lời rằng họ không còn hy vọng chiến thắng nữa, rằng toàn thể nhân dân Paris, không phân biệt chính kiến, đều run sợ khi biết Hoàng Đế chuẩn bị công kích quân Liên Minh đã có ở trong thủ đô; như vậy, cuộc tiến công đó có nghĩa là thủ tiêu dân chúng và thành phố, bởi vì quân Liên Minh tất sẽ đốt cháy Paris để trả thù cho Moscow trước đây, và sẽ gặp khó khăn trong việc chỉ huy quân lính chiến đấu giữa cảnh hoang tàn của Paris. “Các người đi ra - Napoléon nói - tôi sẽ gọi và sẽ nói cho các người rõ ý định của tôi”. Hoàng Đế chỉ giữ lại Caulaincourt, Berthier và công tước xứ Bassano và ông tức tối phàn nàn về tinh thần do dự và bạc nhược của các Thống Chế, về sự thiếu tận tụy của họ đối với Hoàng Đế. Sau vài phút, Hoàng Đế tuyên bố với các Thống Chế rằng ông sẽ thoái vị, nhường ngôi cho con là chú vua nhỏ thành Roma, trao quyền nhiếp chính cho Hoàng Hậu Marie Louise, và nếu quân Liên Minh ưng thuận ký hòa ước với điều kiện như vậy thì chiến tranh sẽ kết thúc; ông sẽ cử Caulaincourt đến Paris, mang theo những kiến nghị đó, để thương lượng với quân Liên Minh.

Rồi Napoléon đọc cho các Thống Chế nghe bản tuyên bố mà ông vừa mới thảo xong: “Các cường quốc Liên Minh đã tuyên bố Hoàng Đế Napoléon là trở lực duy nhất cho việc lập lại hòa bình ở Châu Âu; trung thành với những lời thề của mình, Hoàng Đế Napoléon tuyên bố rằng: Vì lợi ích của Tổ Quốc gắn liền với quyền lợi của con Hoàng Đế, với quyền chấp chính của Hoàng Hậu và với việc duy trì luật pháp của đế chế, Hoàng Đế sẵn sàng thoái vị, rời bỏ nước Pháp và nếu cần cả cuộc đời nữa”. Các Thống Chế nhiệt liệt tán thành bản tuyên bố ấy. Sau khi đọc lại, Hoàng Đế cầm bút nhưng trước khi ký đã nói: “Này, các ông hãy tin ở tôi, sáng mai chúng ta sẽ đi và sẽ còn đánh bọn nó!”. Nhưng các Thống Chế im lặng. Không một ai hưởng ứng những lời nói ấy. Napoléon ký, rồi giao văn kiện cho một đoàn đại biểu gồm Caulaincourt, Ney, MacDonald. Bọn họ liền đi Paris ngay. Cũng trong lúc đó, biết bao biến cố đã xảy ra ở Paris, Talleyrand nhóm họp cấp tốc một bộ phận của Thượng Nghị Viện - gồm những kẻ được Talleyrand tin cậy - đã biểu quyết truất ngôi dòng họ Bonaparte và lập lại dòng họ Bourbon và biến cố nghiêm trọng hơn nữa là Marmont phản bội Hoàng Đế, đã cùng với quân đoàn của y rút về Versailles, như vậy là y đã chạy sang hàng ngũ Talleyrand và “chính phủ lâm thời” do Talleyrand điều khiển. Thoạt tiên, Aleksandr do dự: Cả Aleksandr lẫn ông Hoàng Đế Francis đều không phản đối gì lắm việc chú bé “Napoléon đệ nhị” lên ngôi, nhưng bọn Bảo Hoàng đứng vây quanh bọn vua chúa Liên Minh đã năn nỉ cố sao cho những đề nghị của Napoléon bị bác bỏ. Nhưng rồi họ đã không do dự nữa khi nhận được tin Marmont phản bội. Sự phản bội của các lực lượng chủ lực, do Napoléon trực tiếp chỉ huy đã làm cho Napoléon không thể tiến về Paris được nữa, và phe Liên Minh đã quyết định trao ngai vàng cho dòng họ Bourbon. Khi Caulaincourt từ giã Nga Hoàng trở về, Aleksandr nói rằng: “Ngài hãy khuyên nhủ Hoàng Đế của ngài nên tuân theo số mệnh”. Để một lần nữa tỏ lòng khâm phục “con người vĩ đại”, Aleksandr nói tiếp: “Tôi sẽ làm tất cả những điều có thể làm được vì danh dự của Napoléon”. Trước khi Caulaincourt đi, phe Liên Minh yêu cầu Caulaincourt cố nói sao cho Hoàng Đế thoái vị không điều kiện: Người ta hứa với Caulaincourt rằng sẽ giữ danh hiệu Hoàng Đế cho Napoléon và giao cho ông ta toàn quyền sở hữu đảo Elba, đồng thời họ nài nẫm về bản tuyên bố thoái vị được ký càng sớm càng hay. Phe Liên Minh và bọn Bảo Hoàng do Talleyrand cầm đầu lúc này đã ngang nhiên đứng về phía quân Liên Minh đều lo sợ trước một cuộc nội chiến có thể xảy ra và trước việc số đông quần chúng binh sĩ vẫn tuyệt đối trung thành với Napoléon. Chỉ có thể diệt trừ được những sự rối loạn khi bản thân ông Hoàng Đế ấy chính thức tuyên bố thoái vị. Lúc này nghị quyết của Thượng Nghị Viện chẳng có một chút giá trị gì về mặt tinh thần: Người ta coi các Thượng Nghị Sĩ như những kẻ tôi tớ của Napoléon, họ đã phản bội người chủ của họ không một chút do dự để đi hầu hạ một người chủ khác. Khi nói chuyện với Aleksandr, Ney đã thốt lên: “Cái Thượng Nghị Viện khốn kiếp ấy, đáng lẽ nó có thể làm cho chúng ta tránh được mọi đau khổ bằng cách bền bỉ như thế nào để chống lại khát vọng xâm lược của Napoléon; cái Thượng Nghị Viện khốn kiếp ấy, nó luôn luôn chịu vâng theo ý chí của con người mà ngày hôm nay nó gọi là bạo chúa, thế thì cái Thượng Nghị Viện ấy có quyền gì lên tiếng vào lúc này? Nó đã nín khi cần phải nói, vậy thì hiện nay ai cho phép nó được nói trong khi tất cả đều bắt nó phải câm đi”. Chỉ Napoléon, đích thân Napoléon, nói một lời mới có thể chấm dứt được tình trạng lưỡng nan nặng nề này, và có thể giải được lời thề khi xưa cho binh lính, sĩ quan, tướng lĩnh và viên chức của Napoléon. Đó là ý nghĩ của những người Pháp thuộc bất cứ đảng phái nào cũng như của phe Liên Minh.

4

Tối ngày 5 tháng 4, Caulaincourt, Ney và MacDonald từ Paris về đến Fontainebleau. Sau khi báo cáo với Napoléon về những cuộc bàn bạc với Aleksandr và phe Liên Minh. Caulaincourt, Ney và MacDonald khuyên Napoléon nên chịu theo tình thế; Napoléon nói rằng ông vẫn còn có một đạo quân, binh lính vẫn trung thành với ông. “Vả lại rồi khắc biết!... Mai đây!” Sau khi để mọi người ra, Napoléon cho gọi Caulaincourt tới. “Caulaincourt ạ, người đời, chao ôi, người đời!... Napoléon kêu lên như vậy trong cuộc chuyện trò kéo dài suốt đêm ấy.

“Các Thống Chế của tôi đi theo con đường của Marmont, rồi họ sẽ lấy làm hổ thẹn, vì khi nói đến Marmont lòng họ đầy giận giữ, nhưng họ cũng rất đáng giận bởi họ đã thả mình lao trên con đường danh lợi! Họ rất muốn được giữ nguyên chức vị dưới triều đại Bourbon mà không bị ô danh như Marmont”. Napoléon đã nói rất nhiều về việc Marmont phản bội ông ta trong giờ phút quyết định ấy. “Tên khốn kiếp không biết cái gì đang đợi chờ nó: Tên tuổi của nó sẽ bị ô nhục. Tôi không nghĩ đến tôi nữa, ông hãy tin như vậy, sự nghiệp của tôi đã hết hoặc sắp hết rồi. Vả lại, khi lòng người đã chán tôi và hướng về người khác, liệu còn thích thú gì nữa mà trị vì? Tôi nghĩ đến nước Pháp... Chà! Nếu bọn đớn hèn ấy không bỏ tôi, thì chỉ trong bốn tiếng đồng hồ là tôi sẽ khôi phục được thanh danh, ông hãy tin là thế, bởi vì với vị trí hiện nay của quân Liên Minh, sau lưng chúng là Paris và trước mặt chúng là tôi, chúng nhất định bị tiêu diệt. Để thoát khỏi nguy cơ đó, bọn chúng buộc phải rút khỏi Paris và sẽ không bao giờ trở lại được nữa. Thằng khốn khiếp ấy đã phá hoại cái kết quả tốt đẹp đó, nếu không, nhất định là chúng ta có cách để vươn dậy trong khi kéo dài chiến tranh.

Tôi được tin rằng ở, khắp mọi nơi, nông dân vùng Lorraine, Champenoise, Burgundy chọc tiết những quân địch đi lẻ. Hơn nữa, bọn Bourbon hiện đã về, có trời biết được cái gì sẽ đi theo chúng nó. Chúng nó là cái gì? Là hòa bình đối với nước ngoài, nhưng chiến tranh ở trong nước. Một năm nữa rồi ông thấy bọn chúng sẽ làm được những gì cho đất nước. Nhưng, bây giờ đây lại cần một cái gì khác chứ không phải tôi. Tên tuổi, hình ảnh, thanh kiếm của tôi đã gây sợ hãi. Đành phải chịu. Tôi sẽ gọi các Thống Chế đến, và ông sẽ thấy bọn họ vui mừng khi được tôi gỡ cho họ khỏi chỗ bối rối và cho phép họ làm như vậy mà vẫn giữ trọn được danh dự”.

Đêm ấy, Napoléon thổ lộ với Caulaincourt tất cả những điều mà chắc chắn là ông đã ngẫm nghĩ từ lâu; trong đó, điều nổi bật lên cự kỳ rõ rệt là sự mệt mỏi kinh khủng, chưa từng có của đất nước đang không sao chịu đựng được nữa cái triều đại đẫm máu, cái trò nướng sinh mạng không dứt, những cuộc tàn sát rùng rợn, những sự hiến dâng bao nhiêu thế hệ hy sinh cho mục đích không thể hiểu được. “Tôi muốn giữ vững cho nước Pháp là một đế quốc hoàn cầu”, Napoléon đã thành thật thú nhận như vậy vào năm 1814; lúc ấy, ông ta không biết rằng những thế hệ mai sau sẽ được chứng kiến một trường phái những nhà sử học yêu nước Pháp cố công gắng sức chứng minh rằng Napoléon suốt đời không đánh ai, mà chỉ là để tự vệ; nếu Napoléon đã đến Vienna, Milan, Madrid, Berlin, Moscow thì duy nhất chỉ là bảo vệ “biên giới thiên nhiên” của nước Pháp, và đến sông Moscow là để “bảo vệ” sông Rhine. Song chính Napoléon lại không nghĩ ra được lời giải thích đó.

Như vậy, nó còn thành thật hơn nhiều. Ông ta cũng không biết được con số tổng kê chính xác về các cuộc chiến tranh của mình; mãi mới đây, sau khi tìm kiếm trong toàn bộ những tài liệu lưu trữ chính thức và những tư liệu khác, Albert Menier mới xác định được, theo thống kê của ông, số công dân Pháp bị chết và bị mất tích trong các trận đánh và cách chiến dịch dưới thời Napoléon đã lên tới trên 1 triệu người (47 vạn người người bị chết chính thức ghi chép trong sổ sách và 53 vạn người mất tích hẳn). Đó là không kể số người bị thương nặng, bị tàn phế, không chết ngay ở chiến trường, mà ít lâu sau mới chết trong các viện quân y vì các vết thương của họ. Những con tính của Menier không bao gồm toàn đế quốc Napoléon, chỉ bao gồm: Nước Pháp “cũ” những “quận cũ”, nghĩa là không phải toàn bộ đất đai do Napoléon trị vì kể từ ngày 18 Tháng Sương Mù (bởi vì không tính nước Bỉ, xứ Piedmont, và những đất đai khác mà Cách Mạng và bản thân nó đã chiếm được trước ngày ông ta làm đảo chính), chỉ tính có nước Pháp trong phạm vi những đường biên giới vào năm 1799. Ngoài ra, cũng còn chưa tính đến tất cả các cuộc chiến tranh mà Napoléon đã tiến hành từ năm 1800 (nói một cách khác là còn gác ra ngoài những con số thiệt hại trong chiến dịch đầu tiên ở Ý vào năm 1796 - 1797, trong cuộc chiến tranh ở Ai Cập và ở Syria).

Như vậy là với dân số 26 triệu người, kể cả đàn bà và trẻ con, “các quận cũ” đã mất hơn 1 triệu người trong các cuộc chiến tranh của Napoléon. Napoléon không thể biết được điều đó một cách chính xác như vậy, tuy nhiên Napoléon cũng thấy được những làng mạc bị thưa thớt bởi những cuộc trưng binh, cũng thấy được những bãi chiến trường của vô số trận giao tranh của mình. Đôi lúc, chính bản thân Napoléon cũng thấy bồn chồn lo lắng và ông ta cố gắng an ủi người khác bằng cách vạch ra cho họ thấy binh lính trong quân đội Pháp, tức là tất cả những người lính Đức, Thụy Điển, Ý, Bỉ, Hà Lan, Ba Lan, Illyria, v.v. đã bị tiêu diệt nhiều hơn lính Pháp. nhưng sự tổn thất ba hoặc bốn triệu người ngoại quốc chiến đấu trong quân đội Napoléon, là một sự an ủi chẳng có giá trị gì đối với sự tổn thất một triệu người Pháp “chính cống”. Với Napoléon, hàng triệu quân địch bị giết, bị mất tích, bị tàn phá đã chẳng đáng để ông nói đến bao giờ. Trong suốt đêm dài ấy, đêm Napoléon đi đi lại lại trong những căn phòng của lâu đài Fontainebleau nguy nga và tẻ ngắt đó, đối diện Caulaincourt, làm một cuộc tổng kết, Napoléon chỉ rút ra một kết luận chủ yếu sau đây: Napoléon đã làm cho nước Pháp bị mệt mỏi suy nhược, đất nước đang sức cùng lực kiệt; chắc chắn bọn Bourbon chẳng làm nổi trò trống gì và sẽ không ai làm được việc hơn Napoléon làm được. Trong những ngày tháng 4 ấy, người ta báo cho Napoléon biết rằng nếu như các nhà buôn ở Paris và giai cấp tư sản không nhiệt tình đón tiếp quân Liên Minh bằng giới quý tộc Bảo Hoàng thì họ cũng đã lớn tiếng nói rằng họ bị chiến tranh tàn phá và xô đẩy đến bước đường cùng. Có thể nói rằng đêm ấy Napoléon không ngủ. Bình minh ngày mồng 6 tháng 4 hé rạng; Napoléon cho gọi các Thống Chế đến và nói rằng: “Xin các vị cứ yên tâm. Cả các vị và cả quân đội, sẽ không ai phải đổ máu nữa. Tôi ưng thuận thoái vị không điều kiện. Tôi đã những muốn vì các vị cũng như gia đình tôi mà trao quyền thừa kế cho con trai tôi. Tôi thiết tưởng cái kết cục như vậy sẽ có lợi cho các ngài nhiều hơn là cho tôi, vì hẳn là các ngài sẽ được sống dưới một chính thể thích hợp với gốc xuất thân, với tình cảm và lợi ích của các ngài. Điều đó có thể làm được, nhưng một sự phản bội bất chính đã cướp mất của các ngài cái hoàn cảnh sống mà tôi mong mỏi đem lại cho các ngài. Đáng lẽ chúng ta có thể làm được nhiều việc khác nữa, chúng ta có thể khôi phục được nước Pháp, nếu quân đoàn thứ 6 (Marmont) không phản bội. Nhưng sự việc đã khác hẳn rồi. Tôi đành tuân theo số phận của tôi, các ngài hãy tuân theo số phận của các ngài. Các ngài hãy cam chịu sống dưới triều đại Bourbon và phục vụ trung thành bọn chúng. Các ngài mong mỏi được nghỉ ngơi, thì để những linh cảm của tôi thành sự thật! Thế hệ chúng ta được sinh ra không phải để nghỉ ngơi, cảnh hòa bình mà các ngài ao ước sẽ giết chết nhiều người trong các ngài khi nằm trên nhung đệm hơn là cảnh chiến tranh dầm mưa dãi tuyết". Rồi Napoléon cầm lấy tờ giấy và đọc cho các Thống Chế nghe: “Khi các cường quốc Liên Minh đã tuyên bố Hoàng Đế Napoléon là trở lực duy nhất cho việc hòa bình ở Châu Âu, thì Hoàng Đế Napoléon, trung thành với lời thề của mình, tuyên bố rằng Hoàng Đế và những người thừa kế của Hoàng Đế sẽ từ bỏ ngai vàng nước Pháp và nước Ý, và vì lợi ích của nước Pháp, Hoàng Đế sẵn sàng hy sinh cá nhân, cho đến cả tính mạng của mình”.

Hoàng Đế ngồi vào bàn và ký tên. Các Thống Chế cảm động hôn tay ông và tíu tít tung ra hàng tràng những lời xu nịnh như họ đã từng làm trong suốt thời gian ông Hoàng Đế ấy trị vì. Caulaincourt cùng với hai Thống Chế đem ngay văn kiện ấy tới Paris. Aleksandr và phe Liên Minh vô cùng lo lắng đợi chờ kết cục. Khi đã nắm được bản tuyên bố thoái vị trong tay họ vui mừng khôn xiết. Aleksandr ưng chuẩn đảo Elba sẽ hoàn toàn thuộc chủ quyền của Napoléon, và con trai Napoléon, ông vua nhỏ thành Roma, cùng với Marie Louise sẽ được cấp những đất đai gọi là những vương hầu độc lập ở Ý. Tất cả đã xong xuôi.

5

Lúc này, Napoléon lại bị lôi cuốn vào cái ý nghĩ chắc hẳn đã nhiều lần ám ảnh ông trong suốt thời gian chiến dịch năm 1814, một chiến dịch vô cùng chói lọi về phương diện chiến lược, nhưng thực tế chỉ là một công trình truyệt vọng. Năm 1813, các Thống Chế, tướng lĩnh, sĩ quan, cần vụ và ngay cả binh lính đội cận vệ đều nhận thấy rằng ông Hoàng Đế đã liều mạng, tình thế đòi hỏi ông nhưng thực ra những trường hợp liều mạng ấy hoàn toàn vô ích, chứ không như trong các cuộc chiến tranh trước kia, ở cầu Arcole năm 1796, hoặc ở bãi tha ma Eylau năm 1807.

Như chúng tôi đã nói, vào năm 1813, sau cái chết của Duroc, Hoàng Đế ngồi lặng lẽ một chốc trên một rễ cây, không nhúc nhích và như một tấm bia làm mồi cho những mảnh đạn đại bác đang tung toé quanh mình. Năm 1814, những hành động khác thường ấy lại thấy diễn ra nhiều hơn và không còn ai là người không hiểu ý nghĩa của chúng nữa. Rõ nhất là trong trận Arcis Sur Aube ngày 20 tháng 3, khi lại một lần nữa đi tới cái địa điểm mà chính Napoléon đã hạ lệnh cho binh sĩ rút lui vì không thể giữ được nữa, thì tướng Exelmans đã lao tới Napoléon để ngăn lại, nhưng Thống Chế Sébastiani nói với tướng Exelmans: “Để mặc Hoàng Đế. Ông không biết là Hoàng Đế đã có dụng ý sao, Hoàng Đế muốn kết liễu đời mình”. Nhưng chẳng một làn đạn nào, một quả đạn đại bác nào muốn chạm vào Hoàng Đế. Napoléon luôn luôn thấy rằng tự tử là biểu hiện của sự yếu đuối và hèn nhát, và trong trận Arcis sur Aube, cũng như trước đây, trong trường hợp tương tự vào năm 1813 và năm 1814, trong khi đi tìm cái chết bằng một sự tự tử biến hình, không tự tay mình kết liễu lấy cuộc đời thì hiển nhiên là Napoléon đã tự dối mình.

Nhưng ngày 11 tháng 4 năm 1814, tức là năm ngày sau khi Napoléon thoái vị, trong khi ở lâu đài Fontainebleau, người ta đang sửa soạn cho Napoléon đi ra đảo Elba, thì sau khi cáo từ Caulaincourt, người mà Napoléon dành nhiều thời gian để gặp gỡ trong những ngày cuối cùng đó, ông đã lui về phòng riêng của mình. Sau này người ta phát hiện những đồ dùng cần thiết khi đi chiến dịch mà ông ta luôn luôn đem theo bên mình. Ở Fontainebleau, Napoléon phải cầu cứu đến nó và ông đã uống hết ống thuốc phiện. Những cơn đau đớn khủng khiếp đã dằn vặt ông dữ dội. Do linh tính báo trước điềm xấu, Caulaincourt vào phòng của Hoàng Đế và tưởng rằng Hoàng Đế bất thần bị bệnh, đã định chạy vội đi tìm viên thầy thuốc riêng của Hoàng Đế, nhưng Napoléon yêu cầu Caulaincourt đừng gọi ai cả và cũng đã giận dữ ra lệnh cấm Caulaincourt làm việc ấy. Những cơn co giật mỗi lúc một ác liệt thêm, đến nỗi Caulaincourt phải bỏ đi và đánh thức bác sĩ Ian, người đã pha chế thuốc phiện cho Hoàng Đế sau trận Maloyaroslavets. Nhìn thấy ống thuốc trên mặt bàn, bác sĩ hiểu ngay. Napoléon bắt đầu phàn nàn rằng thuốc độc quá yếu hoặc đã hả hơi, và nghiêm nghị đòi viên bác sĩ phải cho ngay một liều khác. Bác sĩ Ian vội vàng rời căn phòng, vừa thề rằng sẽ không bao giờ phạm vào một tội lỗi như vậy lần thứ hai. Những cơn đau của Napoléon kéo dài trong vài giờ vì Napoléon không chịu uống thuốc giải độc.

Napoléon nghiêm khắc yêu cầu giữ kín sự việc đã xảy ra. Sau nhiều cơn quằn quại khủng khiếp, Napoléon buột miệng nói: “Cái chết thật là khó, mà ở ngoài chiến trường thì lại dễ quá. Chao ôi! Sao tôi lại đã không chết ở Arcis Sur Aube”. Thuốc độc không có năng lực giết người; từ đó Napoléon không quay lại ý định tự tử nữa và cũng không bao giờ nhắc lại việc đó. Việc chuẩn bị để lên đường đã xong. Theo những điều kiện đã quy định với quân Liên Minh, ông Hoàng Đế được đem theo ra đảo Elba một tiểu đoàn trong đội cựu cận vệ.

 

Ngày 20 tháng 4 năm 1814, tất cả đã sẵn sàng. Đoàn xe đưa Napoléon, một số nhân viên tùy tùng của ông ta và các uỷ viên của các cường quốc Liên Minh đi theo Hoàng Đế ra đảo Elba đã đậu thành hàng ở chân tường lâu đài. Napoléon muốn từ biệt đội cận vệ của ông. Đội cận vệ cũng đã đứng thành hàng ngũ ở trong sân chính lâu đài, một cái sân rộng lớn mà những nhà du lịch khi đến thăm quan Fontainebleau đều biết tiếng và nó đã được gọi là “sân vĩnh biệt”. Đội cựu cận vệ cùng các sĩ quan và các tướng lĩnh xếp thành đội hình chiến đấu ở phía trước, đội cận vệ mới ở phía sau. Khi Hoàng Đế hiện ra, người cầm cờ hạ lá cờ của đội cựu cận vệ xuống chân Hoàng Đế. “Hỡi các binh sĩ trong đội cựu cận vệ của ta, xin vĩnh biệt các người. Từ hai mươi năm nay, ta thường xuyên cùng các người đi trên con đường của vinh dự và chiến công. Trong những ngày cuối cùng này, cũng như trong những ngày cường thịnh trước kia của chúng ta, các người đã luôn luôn là mực thước của lòng dũng cảm và lòng trung nghĩa. Với những người như các người thì mục đích của chúng ta không thể nào thất bại được... nhưng biết đâu đó chẳng đã là nội chiến. Bởi vậy ta phải hy sinh mọi quyền lợi của chúng ta cho lợi ích của Tổ Quốc. Ta đi. Các người, các bạn thân thiết của ta, hãy tiếp tục phục vụ nước Pháp... Xin vĩnh biệt các bạn! Ta những muốn ghì chặt tất cả các bạn vào lòng ta; nhưng thôi, đành hôn lá cờ của các bạn”. Napoléon không thể nói được hơn nữa. Tiếng ông đã tắc nghẹn. Ông ôm hôn người cầm lá cờ, rồi bước nhanh lên xe.

Đoàn xe chuyển bánh giữa những tiếng hô “Hoàng Đế muôn năm!”. Nhiều binh lính cận vệ khóc nức nở. Thuật lại cảnh tượng ấy, báo chí Anh viết: “Thiên anh hùng ca vĩ đại nhất của lịch sử thế giới đã chấm dứt: Napoléon đã từ giã đội cận vệ của ông”. Nhưng thực tế, thiên anh hùng ca hai mươi năm trời đó, bắt đầu từ tháng 12 năm 1793 ở Toulon đến tháng 4 năm 1814 ở Fontainebleau, chưa phải đã hoàn toàn chấm dứt. Napoléon hẳn còn làm cho thế giới không ngờ tới được, cái thế giới từ hai mươi năm qua dường như đã từng học thuộc chữ ngờ.

[53] Tức là năm Bonaparte chỉ huy quân đội Cộng Hòa anh dũng đè bẹp cuộc nổi dậy của bọn Bảo Hoàng ở Toulon.

CHƯƠNG 16

một trăm ngày
1

Trước khi nói đến câu chuyện về sự kiện dị thường nhất trong cuộc đời của Napoléon, cần chú ý đến điều sau đây. Sau khi đến đảo Elba, trong những ngày đầu, rõ ràng Hoàng Đế không còn ý đồ gì nữa, ông ta cho rằng cuộc đời chính trị của ông đã hết và đã chỉ có ý định viết về lịch sử triều đại của mình như ông đã hứa hẹn. Ít ra đó cũng là ý nghĩ nảy ra ở Napoléon suốt trong sáu tháng đầu tiên sống trên đảo. Ông sống yên tĩnh và bình thản. Ở những quận miền Nam nước Pháp, khi Napoléon đi qua, bọn Bảo Hoàng đã tỏ thái độ vô cùng thù địch và có khi suýt gây nguy hiểm đến tính mạng ông, nhưng rồi ngày 3 tháng 5 năm 1814, ông đã tới đảo Elba.

Từ đây, Napoléon sống trên mảnh đất hiu quạnh, giữa những dân cư xa lạ đã đón người thủ lĩnh mới của họ với thái độ cung kính nhất. Mùa xuân năm 1811, đúng tròn ba năm trước ngày Napoléon đặt chân lên đảo Elba, Napoléon đã tiếp tướng Wrede ở cung điện Tuileries lúc này đang vào giai đoạn chuẩn bị công khai cho chiến dịch nước Nga - Wrede đã cung kính đánh bạo đưa ra ý kiến không nên mở chiến dịch nước Nga, thì Napoléon đột ngột ngắt lời Wrede rằng “ba năm nữa, ta sẽ làm bá chủ hoàn cầu”. Sau cuộc gặp gỡ ấy ba năm, “đại đế quốc” sụp đổ, còn Napoléon trị vì một hòn đảo rộng 223km vuông với 3 thị trấn và vài ngàn dân. Số mệnh đã đưa Napoléon trở về nơi chôn rau cắt rốn: Đảo Elba cách đảo Corsica chừng 50km. Hồi tháng 4 năm 1814, đảo Elba vẫn thuộc quyền công tước Toscany, một trong những chư hầu Ý của Napoléon, nhưng theo yêu cầu của phe Liên Minh, công tước đã nhường lại cho ông Hoàng Đế thất thế. Napoléon đã đi xem xét lãnh địa của ông, tiếp xúc với nhân dân và hình như có ý định ở lâu dài trên đảo. Thỉnh thoảng gia đình ông đến thăm: Mẹ ông, bà Letizia, em gái ông, quận chúa Pauline Borghese. Bà bá tước Waleska, người từng quan hệ mật thiết với Napoléon hồi ở Błonie và đã yêu Napoléon suốt đời, cũng đến thăm. Marie Louise và con trai không đến, một phần vì Hoàng Đế nước Áo không cho phép, vả chăng, Marie Louise cũng không tha thiết lắm với việc gặp lại chồng. Những người Pháp viết tiểu sử Napoléon thường công kích sự thờ ơ và phụ bạc của Marie Louise, họ quên hẳn mất rằng năm 1810, khi Napoléon cầu hôn Marie Louise thì ông ta cũng như mọi người, có ai đếm xỉa đến việc Marie có ưng thuận hay không. Cũng cần nhắc lại bức thư Marie viết ở Ausfern gửi cho một người bạn gái thân hồi tháng 1 năm 1810: “Từ khi Napoléon ly dị Joséphine, mỗi lần giở tờ nhật báo Frankfurt, mình chỉ muốn tìm tên người vợ mới của Napoléon, và thú thực là sự chậm trễ ấy đã gây cho mình nhiều lo ngại. Mình chỉ còn biết phó thác số phận mình trong tay đấng tối cao... Nhưng nếu điều bất hạnh chẳng tha mình, mình sẵn sàng hi sinh hạnh phúc riêng cho lợi ích quốc gia”. Vị hôn thê và người vợ mai sau của ông Hoàng Đế đã suy tính như vậy đó về sự cầu hôn đang đe dọa nàng. Đế quốc Napoléon sụp đổ tất nhiên là sự giải phóng đối với Marie. Hoàng Đế cũng không được gặp người vợ đầu tiên mà ông đã yêu tha thiết trước khi ly dị, Joséphine đã chết ở Malmaison ngày 29 tháng 5 năm 1814, sau khi Napoléon đến đảo Elba vài tuần lễ. Tin đó làm cho Hoàng Đế Napoléon ủ dột và trầm lặng trong mấy ngày liền. Những ngày tháng đầu tiên đã trôi qua như vậy, lặng lờ và đơn điệu trên hòn đảo Elba. Hoàng Đế thản nhiên trước việc đời và cũng không giấu diếm ai bản chất tình cảm của mình. Ông trâm ngâm suy tưởng hàng tiếng đồng hồ liền. Chỉ từ mùa thu năm 1814, và đặc biệt là từ tháng 11, Napoléon mới bắt đầu chú ý đến tất cả những điều người ta kể lại tình hình nước Pháp và Hội Nghị Vienna vừa khai mạc vào hồi ấy. Không thiếu gì người cung cấp tin tức. Từ hải cảng Piombino ở Ý, cách đảo Elba không quá 12 km, và trực tiếp từ nước Pháp bay đến cho Napoléon biết rõ rằng, sau khi trở lại ngôi báu, bọn Bourbon và quần thần của chúng đã tỏ ra không có chút uy tín nào và ngu xuẩn đến mức không ai tưởng tượng được. Talleyrand, kẻ thông minh nhất trong bọn đã phản bội Napoléon và đã góp phần khôi phục dòng họ Bourbon năm 1814, ngay lúc đó đã nói rằng: “Bọn chúng vẫn hệt như xưa”. Trong một cuộc hội đàm với Caulaincourt, Aleksandr đệ nhất cũng đã cùng chung ý nghĩ như vậy và nói rằng bọn Bourbon không chịu thay đổi gì cả và là những kẻ không thể làm cho thay đổi được. Bản thân lão già tê thấp Louis XVIII là một kẻ rất thận trọng, nhưng em hắn, bá tước d’Artois và mấy đứa con của y là công tước Angoulême và Berry, cũng như cả cái tập đoàn lưu vong quay trở về cùng với dòng họ Bourbon đều xử sự tuồng như chưa hề có cuộc cách mạng nổ ra và chưa hề có Napoléon ở trên đời. Bọn chúng rất vui lòng quên đi và tha thứ cho những tội lỗi của nước Pháp, với điều kiện là đất nước ấy phải tự nguyện chịu đau khổ, trở về với lòng trung quân và trật tự chế độ xã hội cũ. Dù có ngu ngốc, bọn chúng cũng phải thừa nhận rằng không thể nào thủ tiêu được những cơ quan và tổ chức bất khả xâm phạm do Napoléon đã xây dựng như: Quận Trưởng ở các quận, tổ chức các bộ, bộ máy cảnh sát, hệ thống tài chính, Bộ Luật Napoléon, toà án, nghĩa là toàn bộ sự nghiệp của Napoléon, và thậm chí cả huân chương Bắc Đẩu, bộ máy cai trị, tổ chức quân đội, tổ chức các trường đại học, cao đẳng và trung cấp, điều ước hòa giải với Giáo Hoàng, tóm lại là toàn bộ cơ cấu Nhà Nước của Napoléon, có khác thì chỉ là trước kia cái Nhà Nước ấy do một ông vua chuyên chế đứng đầu thì nay do một ông vua “lập hiến”. Nhà vua bị thúc ép phải ban bố một hiến pháp, đặc biệt là do Aleksandr khẩn thiết yêu cầu, vì Nga Hoàng tin chắc rằng nếu không có hiến pháp, dòng họ Bourbon sẽ không thể đứng vững được. Theo hiến pháp ấy, chỉ có một số rất ít người giàu có được quyền bầu cử (chừng 10 vạn người trong số 28, 29 triệu nhân dân Pháp). Những kẻ chủ trương phục hồi toàn vẹn chế độ cũ đã tức tối. Kẻ chiếm đoạt ngôi vua thì đã trị vì chuyên chế trong ngần ấy năm trời, mà nay nhà vua chính thống, nhà vua do Thượng Đế đã sắp đặt, lại bị hạn chế về quyền lực ư? Bọn chúng còn bất mãn vì nhiều lý do khác nữa. Ngay từ những ngày đầu phục hưng, bọn chúng đã không ngừng la ó đòi trả lại những đất đai của chúng đã bị Cách Mạng tịch thu và bán đấu giá cho nông dân và tư sản. Đương nhiên, chẳng có kẻ nào dám làm việc đó, song những yêu cầu ấy của bọn chúng cũng đủ làm cho nông dân lo lắng cực độ và nông thôn bị náo động dữ dội. Tầng lớp tăng lữ, hoàn toàn đồng tình với bọn lưu vong cũ, đã đi đến chỗ mạt sát những nông dân đã mua được tài sản quốc gia, ở ngay trên toà giảng, chúng nói họ sẽ phải hiến mình cho cơn thịnh nộ của Chúa Trời và nanh vuốt của chó ngao, như kẻ phản Chúa Jezabel. Bọn quý tộc lưu vong trở về đã tỏ ra ngạo ngược hơn bao giờ hết. Nông dân bị đánh đập nhưng không được tòa án can thiệp, xét xử. Những người có thiện chí nhất trong triều đình Louis XVIII tỏ ra thất vọng trước tình hình đang diễn ra ở nông thôn và nhìn thấy rõ những tin đồn đại về việc tước lại ruộng đất đang làm cho nông dân bối rối hoang mang sâu sắc đến cùng cực, nhưng họ chẳng thể làm gì được. Còn như giai cấp tư sản, trong những ngày đầu tiên sau khi đế chế sụp đổ, thì bọn họ nói chung cảm thấy dễ chịu, họ có thể hy vọng được rằng chiến tranh sẽ chấm dứt, chấm dứt cả nạn trưng binh (trong những năm cuối cùng của đế chế, họ đã không mua được người đi lính thay cho con em họ như trước kia nữa, vì thiếu đàn ông, hy vọng bắt tay vào việc chấn hưng thương nghiệp, người ta cũng thoáng thấy được rằng chế độ độc tài gây nhiều trở ngại cho việc buôn bán làm ăn cũng sẽ chấm dứt, còn tầng lớp đại tư sản công nghiệp thì từ những năm 1813 - 1814, bản thân nó cũng đã không còn coi đế quốc rộng lớn là điều kiện cần thiết cho sự phồn vinh của nó nữa.

Mới vài tháng sau khi nền đế chế sụp đổ và cuộc phong toả lục địa kết thúc, số lớn giai cấp tư sản thương nghiệp và công nghiệp đã la ó ầm ĩ: Chính quyền Bourbon không dám tính cả đến việc đầu tiên là kiên quyết mở một chiến dịch thuế quan chống người Anh, những kẻ đã góp phần tích cực trong việc đánh đổ Napoléon. Nếu trong giai cấp tư sản còn có một số đã đón dòng họ Bourbon với một chút thiện cảm nào đó tương đối lâu dài, thì phải tìm giới trí thức trong số những người làm nghề tự do: Luật sư, thầy thuốc, nhà báo...v.v. Sau nền chuyên chế sắt thép của Napoléon, bản hiến pháp cực kỳ ôn hòa của Louis XVIII ban bố là một ân huệ vô giá đối với họ. Số sách báo tăng lên, đó là điều không thể có được dưới thời Napoléon. Nhưng chẳng bao lâu, những tầng lớp trí thức ấy, môn đệ của những nhà văn và những nhà triết học của Thế Kỷ Ánh Sáng, được đào tạo trong trường phái tư tưởng tự do, đã phẫn nộ vì sự lộng hành của của tầng lớp tăng lữ Bourbon cũng như trong bộ máy chính quyền và đời sống xã hội. Sự ngược đãi những người có tư tưởng Voltaire đã diễn ra ác liệt khắp nơi. Bọn cuồng tín hoành hành dữ dội nhất ở các tỉnh, nơi mà bọn cầm quyền mới đều do nhà thờ chọn lựa và giới thiệu. Càng ngày địa vị của bọn Bourbon và bè lũ càng lung lay.

Không phục hưng được chế độ cũ, không thủ tiêu được luật pháp ban bố dưới thời Cách Mạng và Đế Chế, cũng không dám đụng đến cái cơ đồ do Napoléon đã xây dựng, bọn chúng bèn khiêu khích nông dân và tư sản bằng những lời tuyên bố, những điều luật, những hành động điên khùng và thái độ ngạo ngược. Những sự dọa nạt và khiêu khích của chúng chỉ làm cho toàn bộ tình hình chính trị càng thêm không ổn định. Riêng nông dân bị rối loạn. Một tình trạng khác nữa rất nghiêm trọng: Những binh lính tuyển mộ hàng loạt và số lớn các sĩ quan đều coi dòng họ Bourbon do bên ngoài đưa vào là một tai hại bất đắc dĩ mà họ phải nhẫn nhục âm thầm chịu đựng. Thời gian càng xoá nhòa ấn tượng của những thương tích và chết chóc, càng chôn vùi dần ký ức những năm tàn sát đầy hãi hùng ghê rợn của chiến dịch Nga. Những cảnh tượng bi thảm ấy mờ nhạt dần và chìm dần trong quên lãng, nhường chỗ cho hình ảnh người thủ lĩnh đã dẫn họ đến những chiến công chưa từng thấy và đã đem đến cho họ một vinh quang bất diệt. Trước mắt họ người ấy không những chỉ là một người anh hùng lừng lẫy, một nhà chỉ huy vĩ đại, người chủ của nửa quả đất, mà còn là người bạn chiến đấu của họ, là “Chú Cai Bé Nhỏ", là người đã gọi họ bằng chính cái tên họ, đã véo tai giật râu họ để tỏ lòng ân cần thân thiết. Hình như họ luôn cho rằng Napoléon yêu mến tất cả bọn họ, như tất cả bọn họ đã yêu mến Napoléon. Ông Hoàng đã luôn luôn khéo biết nuôi dưỡng cái ảo tưởng ấy. Hàng ngũ sĩ quan không tỏ thái độ thù địch với bọn Bourbon như binh lính. Dẫu sao thì cũng có một bộ phận trong bọn họ đã mệt mỏi rã rời vì chiến tranh và khao khát nghỉ ngơi. Nhưng bọn Bourbon đã không tin họ về mặt chính trị, và cũng vì không cần dùng đến một số lượng sĩ quan lớn như vậy, nên trong một lúc, chúng đã thải hồi một số lớn sĩ quan bằng cách cho về hưu. Những người còn lại thì căm ghét và khinh bỉ những sĩ quan trẻ xuất thân trong giai cấp quý tộc Bảo Hoàng được đưa lên làm cấp chỉ uy của họ. Lá cờ trắng mà bọn Bourbon thay thế lá cờ ba sắc của quân đội Cách Mạng và quân đội của ông Hoàng Đế cũng đã là một nguyên nhân làm họ tức giận. Với binh sĩ của Napoléon, lá cờ trắng ấy trước kia là biểu tượng của những kẻ phản bội lưu vong mà họ đã bắt gặp và đánh bại trong các cuộc chống ngoại xâm. Cũng vẫn dưới lá cờ ấy, bọn chúng đã trở về, khôi phục chế độ cũ dưới sự che chở của lưỡi lê Nga, Áo và Phổ, tất cả kẻ phản bội chống cách mạng ấy lại còn toan cướp lại ruộng đất của nông dân, những bức thư từ làng quê đã cho họ biết vậy... “Hiện nay Người ở đâu? Bao giờ Người quay về?”. Những câu hỏi ấy được đặt ra ở các làng mạc doanh trại sớm hơn là trong các tầng lớp nhân dân khác. Napoléon biết rõ điều đó. Và ông cũng còn biết những việc khác nữa.

Những tin tức về tình hình diễn biến của Hội Nghị Vienna đã đến với Napoléon bằng con đường nước Ý thông thường bằng báo chí. Ông theo dõi các vua chúa và các nhà ngoại giao đang cố gắng dàn xếp để chia nhau món gia tài kếch xù của ông mà chưa ngã ngũ, và ông thấy rõ rằng những đất đai do ông chinh phục được nay bị cắt ra khỏi nước Pháp đang làm cho Khối Liên Minh ngày nọ thèm thuồng và tranh chấp nhau. Ông biết nước Anh và nước Áo chống lại nước Nga và nước Phổ chỉ vì miếng mồi xứ Saxony và nước Ba Lan. Sự thống nhất hành động gữa các cường quốc Châu Âu để chôn vùi cái đại đế quốc của Napoléon vào năm 1814, nay không còn nữa. Tháng 12 năm 1814, trong khi đi dạo ở vùng lân cận lâu đài của mình ở Portoferraio, thủ phủ đảo Elba, Napoléon bỗng dừng lại trước mặt người lính cận vệ đang canh gác. Đó là người lính cận vệ trong tiểu đoàn cựu cận vệ được phe Liên Minh cho đi theo Napoléon: “Này! Anh lính già, buồn đấy à?”, “Tâu Bệ Hạ, không ạ, nhưng không phải ở đây lúc nào cũng vui”. “Anh lầm rồi, phải biết tùy thời cơ chứ”, rồi Napoléon đặt vào bàn tay người lính một đồng tiền vàng và vừa đi vừa ngâm nga: “Sẽ chẳng như thế nhiều mãi đâu”. Không biết những lời nói ấy hoặc những lời có ý tứ tương tự thốt ra từ miệng Napoléon có bay đến tai ai không. Chỉ biết rằng Metternich, Louis XVIII và chính phủ London đã rất lo lắng về việc Napoléon có mặt ở một địa điểm quá gần bờ biển nước Pháp. Người ta tính chuyện chuyển Napoléon đến một nơi nào đó xa hơn. Ngay cả ở trên hòn đảo nhỏ ấy, Napoléon vẫn đáng sợ. Có tin đồn rằng người ta định sai người đi ám sát ông. Bọn Bourbon và phe cánh của chúng càng chồng chất lên nước Pháp những chuyện ngu dại bao nhiêu thì đám vua chúa và chính khách ngoại giao ở Vienna càng lo lắng. Nhưng từ đảo Elba bắt đầu bay tới những tin tức mà người ta rất yên tâm, hoàn toàn trái ngược với những tin đồn đại nguy cấp kia. Hầu như ông Hoàng Đế không bước chân ra khỏi nhà, ông ta sống bình thản và cam chịu bước đường của định mệnh, chuyện trò ân cần với Campbell, đại diện của nước Anh, và nói với Campbell rằng từ nay chẳng có gì hấp dẫn được ông bằng hòn đảo bé nhỏ của ông. Trong buổi dạ hội đêm 7 tháng 3 năm 1815, ở triều đình nước Áo, người ta đã tổ chức một cuộc khiêu vũ để chiêu đãi các vị vua chúa và các vị đại diện của các cường quốc Châu Âu đang họp ở Vienna. Cuộc vui đang tưng bừng hứng thú nhất thì bỗng nhiên các quan khách thấy đám cận thần của Hoàng Đế Francis lộ vẻ bối rối cực độ, mặt mày xanh xám, hốt hoảng, các đình thần chạy vội xuống cầu thang chính, tưởng như có cháy trong cung điện. Chỉ trong nháy mắt, cái tin không ngờ sau đây đã bay khắp các cung, phòng, làm mọi người hốt hoảng rụng rời bỏ cuộc khiêu vũ: Một đạo tin vừa báo rằng Napoléon đã rời đảo Elba, đổ bộ lên đất Pháp và tay không khí giới, tiến thẳng về Paris.

2

Ngay từ những ngày đầu tháng 2 năm 1815, quyết định trở về nước Pháp và phục hưng đế chế đã bắt đầu được xác lập rõ rệt trong đầu óc Napoléon. Ông chẳng hề nói cho ai biết ông đã đi đến quyết định đó như thế nào. Có lẽ chỉ đến cuối năm 1814 và những tháng đầu năm 1815, ông mới thực sự tin chắc toàn thể quân đội vẫn trung thành với ông chứ không phải chỉ riêng có đội quân cận vệ, và bên cạnh những Thống Chế một lòng một dạ như Davout, còn có những tướng lĩnh như Exelmans, còn có những sĩ quan đã về hưu hoặc đang tại ngũ, chỉ thấy căm giận và khinh bỉ dòng họ Bourbon và tư tưởng của họ cũng hoàn toàn thống nhất với quân đội, Napoléon cũng tin chắc rằng trong số những Thống Chế, vì khao khát được nghỉ ngơi và vì mệt mỏi chán chường cuộc đời chiến tranh liên miên nên đã tình nguyên phục vụ dòng họ Bourbon, có nhiều người nay tức giận và bất bình Louis XVIII cũng như em hắn và lũ cháu hắn. Napoléon cũng biết rõ và rất quan tâm theo dõi tình trạng tư tưởng của nông dân và tình hình nhốn nháo ngày càng nghiêm trọng ở nông thôn. Một bản báo cáo đã thúc đẩy thêm sự việc. Vào giữa tháng 2 năm 1815, Napoléon, được gặp gỡ Fleury de Chabulon, một viên chức trẻ tuổi của đế chế, thay mặt Maret, cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao của Napoléon, hiện đang ở Pháp, đến đảo Elba để đưa tin tức cho Napoléon. Công tước Bassano đã trao cho Fleury nhiệm vụ báo cáo chi tiết với Hoàng Đế về sự bất mãn của toàn dân và hành động vô sỉ của bọn lưu vong hồi hương, và nói với Hoàng Đế rằng trong thâm tâm hầu hết quân đội chỉ thừa nhận có một ông chúa, đó là Napoléon, và họ không thể chịu đựng được Louis XVIII cũng như những tên Bourbon khác. Bản báo cáo thật bổ ích, nhưng thật ra, ngay trước khi phái viên của công tước Bassano tới. Napoléon, cũng đã hiểu rõ thực chất của tình hình. Song, dẫu sao, quyết tâm của Napoléon, cũng được xác định sau cuộc gặp gỡ ấy. Giữa thời gian ấy, bà mẹ Napoléon, cũng đang ở đảo với con; Letizia là một người đàn bà thông minh, quả quyết và có chí khí. Napoléon kính trọng bà hơn bất cứ ai trong gia đình. Chính bà là người đầu tiên được Napoléon, thổ lộ tâm tình: “Con không thể chết ở hòn đảo này được đâu và con cũng không thể kết thúc cuộc đời con bằng sự nghỉ ngơi yên tĩnh chẳng xứng đáng với con". Napoléon nói với mẹ, “Quân đội đang trông đợi con. Tất cả đều mong mỏi con về để chạy xổ đến với con. Chắc chắn là con có thể gặp những trở lực không lường trước trên con đường con đi, có thể con sẽ gặp một tên sĩ quan trung thành với dòng họ Bourbon, nó sẽ ngăn chặn bước đi của con và lúc đó, sau vài tiếng đồng hồ, con sẽ ngã xuống. Nhưng cái kết thúc ấy tốt hơn là chuỗi ngày dài đằng đẵng trên hòn đảo này với tương lai đã vạch là cái chết. Vì vậy mà con muốn đi lao mình vào may rủi một lần nữa. Ý mẹ thế nào, mẹ thân yêu của con?“ Letizia vô cùng sửng sốt trước câu hỏi bất ngờ ấy mà bà không thể trả lời ngay được. “Con hãy để cho mẹ suy nghĩ một lát bằng tình cảm cảm của người mẹ và rồi sau đó mẹ sẽ cho con biết ý mẹ”. Sau một lúc lâu im lặng, bà nói: “Đi đi, con trai mẹ, đi đi, và theo đuổi định mệnh của con. Có lẽ con sẽ thất bại khi mưu toan của con tan vỡ thì cái chết sẽ sát bên con. Nhưng con không thể ở lại được đây, đó là điều làm mẹ đau đớn. Mà cũng cầu mong rằng Thượng Đế đã từng che chở cho con trong bao nhiêu chiến trận thì nay Người hãy còn che chở cho con một lần nữa”. Rồi bà ôm chặt lấy con trai.

Ngay sau khi chuyện trò xong với mẹ, Napoléon liền vời các tướng lĩnh đã theo ông ra ở đảo Elba: Drouot, Bertrand và Cambronne. Hai viên tướng sau đã hào hứng đón nhận ý định của Napoléon. Chỉ có Drouot lo ngại rằng sẽ không đạt được thắng lợi, Napoléon cho Drouot biết từ nay ông không còn ý định gây chiến chiến tranh và trị vì chuyên chế, ông chỉ muốn làm cho nhân dân Pháp trở thành một dân tộc tự do. Đó là một đặc điểm trong đường lối chính trị mới của Napoléon. Ông đã dùng nó để bắt đầu công cuộc của mình, nếu không phải với ý định biến nó thành hành động thực tế thì ít ra cũng là với ý định sử dụng nó về phương diện chiến thuật. Napoléon lập tức hạ mệnh lệnh và ra chỉ thị cho họ: Không phải ông đi chinh phục nước Pháp bằng vũ lực, ý định của ông là trở về Pháp, đổ bộ lên đất Pháp, công bố mục đích chính trị của mình và đòi lại ngôi Hoàng Đế. Ông tin tưởng mãnh liệt vào uy tín cá nhân của ông đến nỗi ông cho rằng đất nước sẽ thần phục ông ngay từ phút đầu, không xung đột cũng không hề có ý định kháng cự lại ông. Nên chi, không có lực lượng vũ trang cũng sẽ không gặp trở ngại gì. Ông đã có một số khá người trong tay để chống lại những bất trắc xảy ra có thể làm hỏng việc trước khi ông được mọi người biết rằng đã tới đất liền và trước khi ông được đứng trước một quân đội thực sự. Sáu trăm binh sĩ của đội cựu cận vệ với hơn một trăm kỵ binh, thế là ông đã có một đội quân 724 người, và như vậy là quá đủ để đảm bảo an toàn tính mạng cho Napoléon trong những phút đầu tiên; còn sau đó chẳng còn gì đáng sợ nữa. Ngoài ra, một đội kỵ binh gồm trên 300 người thuộc trung đoàn 35 mà xưa kia chính Napoléon đã phái ra để bảo vệ đảo, cũng thuộc quyền chỉ huy của ông. Tổng cộng chừng 1.100 người, và Napoléon đã quyết định đem đi tất cả. Để vượt biển, Napoléon có vài chiếc tầu nhỏ chờ sẵn ở cảng. Công tác chuẩn bị được tiến hành rất bí mật. Napoléon hạ lệnh cho ba tướng đến ngày 26 tháng 2 phải chuẩn bị xong xuôi về mọi mặt. Buổi chiều hôm ấy, 1.100 binh sĩ ở Portoferraio bất thình lình được dẫn ra cảng và xuống tàu cùng với toàn bộ quân trang quân dụng. Họ không hề biết lý do chuyến đi cũng như nơi họ sẽ tới, vì người ta đã không hề nói hé ra, nhưng ngay trước khi bước chân lên mạn tàu họ cũng đoán ra được, và khi ông Hoàng Đế cùng ba viên tướng và vài viên sĩ quan cựu cận vệ ra cảng, họ hoan hỉ đón chào ông. Vừa từ biệt con, bà Letizia vừa thổn thức tuyệt vọng. Khi mọi người đều đã xuống tàu, cái hạm đội bé nhỏ ấy đã nhổ neo vào hồi 7 giờ tối và thuận gió, lướt về phía Bắc. Tàu buồm của người Anh và của hải quân hoàng gia Pháp thường xuyên đi lại trên hải phận Elbe, đó là nguy cơ đầu tiên. Một chiến hạm Pháp đi sát qua, một sĩ quan trên hạm giơ loa cất tiếng hỏi viên thuyền trưởng của Napoléon: “Ông vĩ nhân ấy có khoẻ không?”. “Khoẻ lắm!”, người thuyền trưởng đáp. Và cuộc chạm trán ấy kết thúc. Chiếc chiến hạm của nhà vua không trông thấy được binh sĩ của Napoléon ẩn kín trong tàu. May mắn thay, cũng không phải gặp tàu Anh nữa. Cuộc vượt biển kéo dài gần ba ngày, vì gió đã yếu dần. Ngày 1 tháng 3 năm 1815, hồi ba giờ chiều, hạm đội vào vịnh Juan, gần mũi Antibes. Hoàng Đế lên bờ và hạ lệnh cho đổ bộ ngay. Nhân viên đồn hải quan chạy tới và khi nhận ra là Napoléon, họ đã vẫy mũ và reo hò vang dậy để chào mừng ông Hoàng Đế. Napoléon cử Cambronne và mấy người lính đến Cannes để kiếm lương binh. Lương thực được tiếp tế đến ngay. Bỏ lại ở bờ biển bốn khẩu pháo đem từ Portoferraio tới, Napoléon dẫn đầu đội quân nhỏ bé của ông tiến về phía Bắc. Ông quyết định đi theo đường núi chạy qua địa phận tỉnh Dauphiné. Ông cũng đã cho in ở Grasse lời tuyên cáo của ông đối với quân đội và nhân dân Pháp. Không hề kháng cự, Grasse và Cannes đã rơi vào tay Napoléon. Không nấn ná lại lâu, Napoléon đi qua làng Sermons, rồi qua Digne và Corps, tiến thẳng đến Grenoble. Viên chỉ huy quân đội bảo vệ Grenoble quyết định chống cự, nhưng binh sĩ đã thẳng thắn bảo rằng chẳng ai có thể chĩa súng vào Hoàng Đế của họ được. Bọn tư sản ở Grenoble lo sợ bối rối, một số quý tộc bám riết lấy bọn cầm quyền và van lơn họ chống cự, còn số khác thì bỏ chạy tán loạn. Ngày 7 tháng 3, hai trung đoàn rưỡi quân chính quy có cả pháo binh và một trung đoàn khinh kỵ binh được cấp tốc điều đến Grenoble để chống lại Napoléon. Nhưng Hoàng Đế đã đến sát thành phố. Giờ phút hiểm nghèo đã điểm. Không thể đặt vấn đề nghênh chiến với tất cả những trung đoàn ấy và những cỗ pháo ấy. Quân đội của nhà vua có thể từ xa bắn phá vào binh lính của Napoléon, họ sẽ chẳng thiệt hại mảy may, vì Napoléon không có một khẩu pháo nào để đánh lại. Sáng ngày 7 tháng 3, Napoléon đến thị trấn La Mure (thuộc Grenoble). Người ta thấy ở đằng xa, quân đội của nhà vua đã dàn sẵn đội hình chiến đấu, ngăn bước tiến của Napoléon và sẵn sàng phá cầu Pingos. Napoléon dùng ống nhòm quan sát hồi lâu lực lượng quân địch đang triển khai. Sau đó ông hạ lệnh cho binh sĩ chuyển súng qua bên phải, cắp vào nách, chõ nòng xuống đất. “Tiến”, ông phát lệnh. Và ông đi đầu hàng quân tiến trước mũi súng của tiểu đoàn tiền vệ quân đội nhà vua. Nhìn binh sĩ của Hoàng Đế, viên tiểu đoàn trưởng quay về phía viên chỉ huy phó đội quân bảo vệ, rồi vừa chỉ vào binh sĩ vừa nói: “Mới trông thấy Napoléon mà chân tay chúng nó đã rụng rời, mặt xanh mày xám như chết rồi thế kia thì làm sao chiến đấu được...”. Viên tiểu đoàn trưởng hạ lệnh cho quân đội rút lui, nhưng không kịp nữa. Napoléon đã hạ lệnh cho năm mươi kỵ binh chặn đường rút. “Hỡi các bạn, đừng bắn! - Các kỵ binh kêu gọi - Hoàng Đế đang tiến đến đấy”. Tiểu đoàn dừng lại. Lúc ấy Napoléon đến sát bên họ, binh lính vẫn đứng im không động đậy, mũi súng chĩa thẳng, mắt chăm chăm nhìn vào con người mặc tấm áo Redingote màu xám, đầu đội chiếc mũ nhỏ, đang một mình tiến về phía họ với bước đi chắc nịch. “Hỡi binh sĩ thuộc trung đoàn thứ năm! - Những tiếng ấy cất lên giữa sự im lặng khủng khiếp - Ta là Hoàng Đế của các người. Có thừa nhận ta không?" - “Có, có, có!”. Những tiếng ấy liền vang dậy trong hàng quân. Vạch áo Redingote, Napoléon phanh ngực ra: “Nếu trong các người, có ai là người lính muốn bắn vào Hoàng Đế của mình, thì đây, ta đây!”. Những người được chứng kiến cảnh đó đã suốt đời không quên được những tiếng hoan hô vang trời dậy đất của binh lính khi giải tán hàng ngũ để chạy đến xúm quanh Napoléon. Họ vây chặt lấy Napoléon, hôn tay, hôn đầu gối ông và bị một thứ cuồng nhiệt chung kích động, họ khóc lên vì vui mừng. Sau khi vất vả lắm mới trấn tĩnh được họ, người ta chấn chỉnh hàng ngũ của họ để tiến về Grenoble. Tất cả các đơn vị được điều động để bảo vệ Grenoble đều đã lần lượt chạy sang hàng ngũ Napoléon. Đại tá La Bédoyère, chỉ huy một trung đoàn ở Grenoble từ ngày 7 tháng 3, không những không đợi Napoléon đến mà còn tập họp đơn vị ngay giữa thành phố và vừa đi duyệt các tiểu đoàn vừa hô lớn: “Hoàng Đế muôn năm!”, rồi dẫn đầu đơn vị đi gặp Napoléon. Cho đến lúc đó, viên đại tá cũng vẫn chưa biết tình hình xảy ra ở La Mure. Napoléon tiến vào Grenoble cùng với các trung đoàn đã quy phục và một đoàn nông dân vũ trang bằng đinh ba và súng cối. Những người thợ chữa xe ngựa đã phá tung một trong những cửa thành để mở đường cho Napoléon. Các nhà chức trách đều ra trình diện Napoléon, trừ một số viên chức đã bỏ chạy. Khi tiếp họ, Napoléon nhắc lại rằng ông ta đã quyết định dứt khoát là mang lại tự do và hòa bình cho nhân dân Pháp, ông ta thú nhận rằng đúng là trước kia ông ta đã quá “ham chuộng uy danh và chinh phục” nhưng từ nay trở đi ông ta sẽ theo một đường lối chính trị khác. Napoléon nhấn mạnh rằng ông ta đã từ bỏ cái ý định trước đây là muốn nước Pháp thống trị tất cả các dân tộc.

 

Đặc biệt hơn nữa Napoléon đã nhắc đi nhắc lại và nhấn mạnh rằng ông ta trở về để cứu nông dân đang bị sự khôi phục chế độ phong kiến của dòng họ Bourbon đe dọa và để giữ gìn ruộng đất của họ thoát khỏi những âm mưu của bọn lưu vong. Napoléon kiên quyết tuyên bố rằng ông ta sẽ xét lại các hình thức tổ chức Nhà Nước do chính ông ta lập ra, và sẽ chuyển nền đế chế thành chính thể quân chủ lập hiến, một nền quân chủ thật sự với chế độ đại nghị, cũng chính vì vậy mà Napoléon thẳng thắn nhận rằng cơ quan lập pháp dưới triều đại khi xưa đã có tất cả những gì người ta muốn, nhưng còn thiếu một tổ chức thật sự đại diện cho dân. Napoléon hứa sẽ hoàn toàn tha thứ cho tất cả những người nào chạy sang hàng ngũ của mình; và chứng thực rằng trước kia, khi thoái vị, chính ông ta đã khuyên nhủ cận thần của ông ta phục vụ dòng họ Bourbon và đã xoá bỏ cho họ lời thề trung thành với Hoàng Đế. “Nhưng bọn Bourbon đã tỏ ra không thích ứng với nước Pháp mới”. Sau khi duyệt tất cả các đơn vị kéo về tập trung ở Grenoble theo lệnh ông ta, Napoléon từ thành phố này tiến thẳng về Lyon, dẫn đầu sáu trung đoàn bộ binh và một lực lượng pháo binh đáng kể. Các đoàn đại biểu nông dân từ khắp nơi cuồn cuộn đổ về. Một đội quân 7.000 người cùng với 30 khẩu pháo đi trước. Napoléon cùng với quân chủ lực dừng lại thêm một ngày ở Grenoble và ông đã ra rất nhiều chỉ thị và mệnh lệnh, Napoléon lại cảm thấy mình là người cầm đầu nước Pháp. Từ đây, nếu cần, Napoléon đã có thể nghênh chiến với quân đội của nhà vua, nhưng ông vẫn tin chắc rằng sẽ không phải dùng đến một viên đạn nào, rằng trước đây cũng như bây giờ, ở nước Pháp chưa hề bao giờ có quân đội nhà vua, mà chỉ có quân đội của ông, của Napoléon, của Hoàng Đế, mà rồi chỉ vì một rủi ro bất ngờ, quân đội ấy phải buộc đứng dưới lá cờ xa lạ, lá cờ trắng trong mười một tháng trời. Theo lời những người đã được mục kích thì có một khối lớn chừng ba bốn nghìn nông dân từ khắp nơi đổ về, đi theo Napoléon, họ thay nhau hộ tống Napoléon từ làng này qua làng khác, cung cấp thực phẩm, phục vụ mọi công việc. Con người thì có thể thay đổi, nhưng số lượng thì lúc nào cũng vậy. Chính Napoléon, mặc dầu rất tin vào vận hội của mình, nhưng cũng chưa hề dám mong mỏi đến như vậy. Bây giờ thì Napoléon đã tin chắc được chỉ vài ngày nữa là ông sẽ đến Paris. Ai có thể ngăn bước được? Các cổng thành đóng chắc ư? Thì ở Grenoble, bọn Bảo Hoàng cũng đã đóng chặt cổng thành trước khi bỏ chạy rồi đó. Đã có lần Napoléon nói: “Ta chỉ cần cầm hộp thuốc lá gõ vào cổng là cổng phải bật ra”. Nói như vậy là ông nói quá lên một chút nhưng thật ra Napoléon có cần gõ vào cổng đâu, khi ông ta vừa mới tới gần thì cổng đã từ từ mở toang. Chiến thắng, Napoléon tiến về Lyon, ông đi giữa các trung đoàn đội ngũ chỉnh tề, vừa ra mệnh lệnh, cắt cử liên lạc, nhận báo cáo, đề bạt tướng tá mới cho các đơn vị vừa bổ nhiệm các viên chức mới.

3

Tối 5 tháng 3, khi trạm điện báo Chapel vừa đưa cái tin không thể ngờ được ấy đến thì người ta liền báo cho Louis XVIII. Lúc ấy Paris vẫn còn chưa biết gì, và nhà vua đã ra lệnh phải giữ bí mật. Mãi đến ngày 7 tháng 3, các báo chí mới tường thuật lại sự biến. Và sức tác động của nó thật lạ lùng. Thoạt tiên không ai hiểu được Napoléon đã làm thế nào vượt qua được quãng đường biển Địa Trung Hải luôn luôn có hạm đội Anh và Pháp tuần tiễu canh gác đảo Elba và sau nữa Napoléon làm thế nào không bị bắt khi một mình ông ta vừa đặt chân lên đất liền, hay dù có hộ tống thì một dúm quân nhỏ bé phỏng đáng kể gì. Phút đầu chính phủ tin chắc rằng chuyện rắc rối đó sẽ được giải quyết gọn gàng nhanh chóng: Cái tên côn đồ Bonaparte ấy quả đã hoàn toàn mất trí, bởi chỉ có kẻ điên mới dám làm liều như vậy.

Nhưng trong khi ấy, cơ quan cảnh sát đã chú ý thấy ở Paris những triệu chứng nghiêm trọng: Những người cách mạng, những người Jacobin, những người vô thần, tất cả những người cách mạng hậu sinh từ lâu đã bị theo dõi và bị quản thúc, nay lại công khai tỏ ra vui mừng và hoan hỉ khi được tin nhà chuyên chế quay trở về, con người mà khi vừa bước chân vào sự nghiệp đã bóp chết cách mạng và đã tiếp tục truy nã dai dẳng những người cách mạng. Và đó là ở Paris người ta còn chưa biết gì về những chủ trương chính trị mới của Napoléon khi quay trở về cũng như những bài diễn văn đọc ở Grenoble về cái “tự do” mà ông ta hứa hẹn. Tuy nhiên, ở Paris lúc ấy cũng đã có sự hoan mang nào đó, đặc biệt là trong giới tư sản giàu có. Trước hết, họ lo sợ một cuộc chiến tranh mới và sự buôn bán lại suy sụp lần nữa. Những người theo chủ nghĩa lập hiến tự do thấy rằng nếu Napoléon thắng lợi thì nền chuyên chế quân phiệt sẽ quay trở lại và cũng chấm dứt cả các hình thức tham gia chính quyền Bourbon mà họ đang hy vọng chiếm lấy ưu thế. Còn những phần tử Bảo Hoàng, và bọn lưu vong cùng trở về nước với bọn Bourbon vào năm 1814 thì sợ hãi khủng khiếp. Bọn chúng hoàn toàn mất trí và chìm đắm trong cơn sợ hãi tột độ, chúng chờ ngày mất đầu thật, theo đúng nghĩa đen và vật chất của từ ngữ. Rồi đây, con quỷ ăn thịt người đảo Corsica sẽ làm gì ta? Hình bóng đẫm máu của công tước Enghien ám ảnh bọn Bourbon và triều đình chúng. Nhưng dù sao, ngay lúc ấy nhà vua vẫn không tin rằng sẽ xảy ra tai họa ghê gớm. Tin tức bay về tới tấp xác nhận cuộc tiến công của Napoléon vào Grenoble qua đường núi. Người ta còn chưa biết được những sự biến xảy ra ở La Mure, nhưng hiển nhiên là không dám tin cậy vào quân đội nữa. Lúc này đây, các Thống Chế và tướng lĩnh vẫn trung thành với nghĩa vụ, các sĩ quan chắc sẽ chẳng chạy sang phía ông Hoàng Đế, nhưng binh lính bảo vệ Paris thì đã chẳng cần giấu giếm nỗi vui sướng của họ.

Người ta quyết định cử thống chế Ney, có lẽ là người được lòng quân đội nhất sau Hoàng Đế, để chống lại Napoléon. Hình như Ney là kẻ hoàn toàn thực bụng cộng tác với dòng họ Bourbon; năm 1814, Ney đã ra sức thuyết phục Napoléon thoái vị hơn ai hết. Trong khi ấy thì Napoléon đã phong cho Ney cấp Thống Chế, tước công, rồi danh hiệu hoàng tử, và đối với quân đội, điều vinh dự hơn nữa là Napoléon đã gọi Ney là: “Người anh dũng trong những người anh dũng”. Nếu một người như vậy mà bằng lòng cầm quân thì dù có đi đánh Napoléon chăng nữa binh sĩ ắt sẽ phục tùng. Ney được triệu đến cung vua. Vị Thống Chế đã kiên quyết chống lại hành động của Napoléon, cho rằng nó chỉ gây thảm họa cho nước Pháp. Bị những lời tán tụng khúm núm van nài của nhà vua và triều đình lung lạc, viên võ quan sôi nổi ấy, người lính hung hãn ấy đã đứng ra bảo lĩnh quân đội: “Tâu Bệ Hạ, hạ thần mong mỏi sẽ đưa được Napoléon về nằm trong cũi sắt”. Nhưng ngay cả trước khi Ney bước lên đường đi chiến dịch, nhiều tin tức khác nhau đã bay đến làm cho bọn Bourbon khiếp đảm: Quân đội không chiến đấu, chạy sang với ông Hoàng Đế, các địa phương thì hết tỉnh này đến tỉnh khác, thành phố này đến thành phố khác lần lượt rơi vào tay Napoléon, không hề kháng cự, toàn những chuyện xảy ra quá sức tưởng tượng. Phải giữ cho được Lyon bằng bất cứ giá nào. Lyon, cái thành phố đứng hàng thứ nhì nước Pháp, vì tài nguyên phong phú, vì dân cư đông đúc, vì tầm quan trọng chính trị. Bá tước d’Artois, em vua, kẻ đáng ghét nhất trong dòng họ Bourbon, đã đến Lyon với cái hy vọng ngu ngốc là kêu gọi nhân dân Lyon trung thành tuyệt đối với quyền lợi dòng họ Bourbon. Người ta còn cử cả Thống Chế MacDonald đến Lyon, người mà hoàng gia tin cậy như Ney. MacDonald hạ lệnh đắp ụ trên các cầu, gấp rút tiến hành vài công tác phòng ngự khác nữa, và cho rằng tổ chức một cuộc duyệt binh để giới thiệu bá tước d’Artois với quân đội là một việc rất hợp thời. Cuộc biểu dương lực lượng long trọng ấy vừa chuẩn bị xong xuôi thì một viên tướng chạy đến tìm MacDonald và nói rằng nên đưa ngay bá tước đi nơi khác để đảm bảo tính mạng cho bá tước. MacDonald không thèm đếm xỉa đến ý kiến ấy, cứ tập trung ba trung đoàn bảo vệ thành phố lại, và đứng trước hàng quân, hắn tràng giang đại hải kêu gọi quân đội, nêu lên rằng nếu Napoléon chiến thắng thì rồi sẽ lại xảy ra một cuộc chiến tranh mới với Châu Âu. Sau đó, để biểu thị lòng trung thành của binh sĩ đối với dòng họ Bourbon, MacDonald yêu cầu binh sĩ chào mừng bá tước d’Artois, phái viên của nhà vua, bằng cách hô khẩu hiệu: “Hoàng Thượng muôn năm!” Đáp lời MacDonald là một sự im lặng như chết. Sợ hãi rụng rời, bá tước d’Artois lật đật bỏ cuộc duyệt binh và ba chân bốn cẳng chuồn khỏi Lyon. MacDonald ở lại điều khiển công việc phòng ngự. Binh lính trầm lặng và làm việc với tinh thần bất đắc dĩ. Một lính công binh đến gần Thống Chế, nói: “Thưa Thống Chế, làm thế này thì thật hoàn hảo, nhưng là một người dũng cảm như vậy thì ngài nên bỏ bọn Bourbon và đến với chúng tôi, chúng tôi sẽ đưa ngài đến với Hoàng Đế, gặp ngài chắc Hoàng Đế sẽ vui mừng lắm!”. MacDonald không đáp.

“Hoàng Đế muôn năm! Đả đảo bọn quí tộc!” Tiếng hô lớn đó của một nông dân tiến vào ngoại ô Quilo Thiers báo cho thành phố biết đội tiền vệ của Hoàng Đế đã đến gần. Khinh kỵ binh và giáp binh của Napoléon đã đột nhập vào thành phố. MacDonald cùng bộ đội tiến ra quyết tâm giao chiến, nhưng các trung đoàn của MacDonald, nhất là quân kỵ binh đi đầu vừa trông thấy bóng giáp binh của Napoléon đã chạy đến đón và hô lớn: “Hoàng Đế muôn năm!”. Trong khoảnh khắc, bộ đội của viên Thống Chế đã lẫn lộn và chỉ còn là một khối với quân đội của Hoàng Đế. Để khỏi bị chính binh sĩ của mình bắt làm tù binh, MacDonald thúc ngựa chuồn thẳng. Nửa giờ sau, Napoléon vào Lyon đã đầu hàng cũng như vào các thành phố khác không mất một viên đạn. Hôm ấy là 10 tháng 3, chín ngày sau khi đổ bộ lên đất liền ở vịnh Juan.

Ngày hôm sau, 11 tháng 3, Napoléon đi duyệt sư đoàn Lyon, sư đoàn do chính phủ nhà vua tăng cường và cử đến đánh Napoléon. “Trên cầu, dưới bến, khắp phố xá đều đen nghịt những người, đủ cả nam phụ lão ấu”, Fleury de Chabulon, đi theo Napoléon, đã kể như vậy. Quần chúng xô lấn vào ngựa của đội hộ vệ để được sờ vào quần áo của Napoléon. Nô nức hừng hực đến tột độ! Những tiếng hô rầm trời “Hoàng Đế muôn năm” vang khắp các ngả, kéo dài hàng giờ liền. Tự tin đến như Napoléon nhưng ông ta cũng không ngờ được rằng mình lại thắng lợi rực rỡ đến như vậy. Đó là theo lời từ chính miệng Napoléon đã nói ra. Khi tiếp các nhà chức trách của thành phố Lyon, Napoléon nhắc lại những lời ông đã từng nói đi nói nói lại mãi ở Grenoble, cũng như trước khi đến và sau khi rời khỏi Grenoble: Ông sẽ đem hòa bình cho nước Pháp tự do ở trong nước và hòa bình ở nước ngoài. Ông trở về để bảo vệ và củng cố những nguyên tắc của cuộc Đại Cách Mạng, ông hiểu rằng thời cuộc đã thay đổi, và từ nay trở đi, bằng lòng với một nước Pháp, ông từ bỏ hẳn tư tưởng xâm lược. Ở Lyon, Napoléon đã ký sắc lệnh giải tán Thượng Nghị Viện và Hạ Nghị Viện, nghĩa là những cơ quan hoạt động theo hiến pháp của bọn Bourbon ban bố. Napoléon cách chức tất cả những viên chức tư pháp do bọn Bourbon bổ nhiệm và bổ nhiệm những quan toà mới. Napoléon giữ nguyên đại bộ phận các Quận Trưởng, trừ những trường hợp thật đặc biệt, và họ vẫn là những người của chế độ Napoléon đẻ ra mà năm 1814 bọn Bourbon chưa kịp thay thế. Ở Lyon, Napoléon chính thức giành lại chính quyền, truất ngôi dòng họ Bourbon, phế bỏ hiến pháp hiện hành. Sau đó, cầm đầu gần 1 vạn 5 nghìn quân, Napoléon tiếp tục tiến về Paris. Dùng lại cái hình ảnh đã nêu ra với binh sĩ trong lời tuyên bố của ông khi vừa mới đổ bộ lên đất liền, Napoléon nói: “Con đại bàng cùng với lá quốc kỳ sẽ bay từ tháp chuông này sang tháp chuông khác, đến tận dinh tháp chuông nhà thờ đức mẹ ở Paris”. Napoléon vẫn tiến không gặp sức kháng cự, ông chiến thắng kéo qua thành phố Mâcon và qua tất cả các làng mạc trên đường từ Lyon đến Chalon trên sông Rhône. Nhưng trước khi đi đến Chalon thì ắt phải đấu một trận quyết định với Thống Chế Ney. Napoléon hiểu rõ Ney. Napoléon đã được xem Ney chiến đấu, ông nhớ lại Ney hồi nào trên cứ điểm Semenovskoe ở bên sông Moscow và không quên những việc Ney đã làm khi Ney chỉ huy quân hậu vệ của đại quân trong cuộc rút lui khỏi nước Nga. Khi ra khỏi Mâcon, được tin báo rằng Thống Chế Ney bố trí ở Lons le Saunier để chặn mình thì Napoléon đã tin chắc rằng sẽ không phải giao chiến. Với 1 vạn 5 nghìn người, trong đời ông ta, Napoléon đã từng làm được nhiều việc hơn thế nữa, nhưng ông ta bấy giờ không muốn đổ máu: Điều quan trọng đối với ông ta bấy giờ là làm chủ đất nước mà không một ai bị hy sinh, thiệt mạng, cái đó sẽ là một chứng minh chính trị có sức thuyết phục nhất đem lại cho ông ta những lợi ích không thể tưởng tượng được. Ney đến Lons le Saunier ngày 12 tháng 3, với 4 trung đoàn, và còn đợi thêm viện binh. Lúc đó, Ney đã quyết định theo đúng nhiệm vụ của mình: Ney cho rằng phương pháp duy nhất để cứu nước Pháp năm 1814 là Hoàng Đế thoái vị. Khi thoái vị, chính Napoléon đã cho phép các Thống Chế phục vụ triều đại Bourbon. Bây giờ, Napoléon hủy bỏ những điều cam kết với với phe Liên Minh và tự bỏ đảo Elba quay về, muốn trở lại ngôi cũ thì một cuộc chiến tranh với Châu Âu sẽ không thể nào tránh khỏi. Ney ngay thật cho rằng mình chống lại Napoléon là phải. Ney biết rằng mọi nguồn hy vọng của Louis XVIII bây giờ chỉ còn đặt vào Ney và nhà vua hoàn toàn tin cậy Ney. Nhưng binh lính đã buồn bã lặng thinh khi chính Ney, người chỉ huy yêu mến của họ, cố gắng thuyết phục họ. Ney diễn thuyết trước họ, sau khi nhắc lại rằng mình đã suốt đời phục vụ Hoàng Đế chẳng hề gian nguy, Ney tuyên bố rằng bây giờ đây, sự lặp lại đế chế sẽ gây cho nước Pháp vô vàn thống khổ và trước hết là chiến tranh với toàn thể cái Châu Âu đã vô cùng chán ghét Napoléon. Những ai, vì bất cứ lý do nào đó, không muốn chiến đấu đều có thể tự do rời khỏi hàng ngũ ngay lúc này, Ney sẽ cùng với số còn lại lên đường chiến đấu. Sĩ quan và binh lính lặng thinh. Bực tức và lo lắng, Ney quay về đại bản doanh. Trong đêm 13 rạng ngày 14 tháng 3, người ta đánh thức viên Thống Chế dậy để báo tin rằng lực lượng pháo binh tăng viện mà ông mong đợi từ Chalon đã nổi loạn chạy sang hàng ngũ Napoléon, cùng với liên đội cảnh vệ của nó. Từ tảng sáng và suốt buổi sáng, tin tức liên tiếp bay tới và báo rằng nhiều thành phố đã phá bỏ chính quyền nhà vua và công nhận Napoléon, đích thân Hoàng Đế tiến về Lons le Saunier và giữa cơn giông tố làm chấn động tư tưởng chao đảo hoang mang cực độ của Ney, giữa đám binh lính buồn bã ủ ê, không thiết bắt lời chủ tướng, giữa những sĩ quan tìm cách lánh mặt Ney, thì Ney nhận được lá thư sau của Hoàng Đế, do một liên lạc chuyển đến: “Nói với Thống Chế rằng ta luôn luôn yêu mến ông ta và sẽ hôn ông ta như ngày nào sau trận chiến đấu ở sông Moscow”. Phút lưỡng lự của Ney đã chấm dứt. Ney hạ lệnh tập hợp ngay các trung đoàn. Đứng trước hàng quân, Ney rút kiếm hô to: “Hỡi binh lính, quyền lợi của dòng họ Bourbon đã vĩnh viễn không còn. Triều đại hợp pháp mà nước Pháp đã chấp nhận sẽ trở lại ngai vàng. Quyền trị vì đất nước tươi đẹp của chúng ta từ nay trở đi thuộc về Hoàng Đế Napoléon, vị chúa của chúng ta”. Tức khắc những tiếng hô: “Hoàng Đế muôn năm! Thống Chế Ney muôn năm!” Làm át cả tiếng Ney.

Liền đó một số sĩ quan Bảo Hoàng lập tức rời khỏi hàng quân, và Ney cũng chẳng giữ chúng lại. Một tên trong bọn chúng vừa bẻ gãy thanh kiếm của nó vừa chua chát trách móc Ney. Thống Chế trả lời: “Vậy theo anh thì bây giờ có thể làm được cái gì? Liệu tôi có thể ngăn nổi sóng biển với hai bàn tay của tôi được không?”. Và sự trở mặt đột ngột như vậy, một chuyện khác không kém phần lạ lùng nữa là theo chỉ thị của Hoàng Đế, Ney đã điều động các đơn vị của mình đóng ở Lons le Saunier với tính chính xác cao nhất như trước kia. Thì ra Napoléon đã gửi mệnh lệnh đó ngay cả trước khi biết được ý định của Ney, vì ông ta tin chắc rằng Ney sẽ không quay súng chống lại ông. Gần như trong một lúc, ở Paris người ta biết tin Napoléon đã tiến vào Lyon và đang tiến về phía Bắc, và Ney phản bội. Trốn! Đó là ý nghĩ đầu tiên của triều đình. Trốn cái chết, trốn không ngoái cổ lại, trốn cái hào Vincennes, nơi mà xác của công tước Enghien đã rữa nát. Tình trạng hoang mang bối rối đến không thể tưởng tượng được. Thoạt tiên, vua Louis XVIII phản đối việc bỏ trốn, vì như vậy là nhục nhã và mất ngai vàng. Nhưng làm thế nào bây giờ? Người ta đi đến chỗ thảo luận nghiêm túc cái kế hoạch chiến lược sau đây: Nhà vua sẽ lên xe và rời bỏ thành phố, đi theo là các vị quần thần, hoàng gia và các vị chức sắc giáo hội; đến cổng thành, cái bầu đoàn ấy sẽ dừng lại và sẽ chờ đợi kẻ thoán nghịch tới, trông thấy ông vua chính thống, cái ông già đầu tóc bạc phơ, mạnh mẽ vì nắm pháp lý trong tay, bạo dạn đem thân ra cản đường không cho kẻ thoán nghịch vào thủ đô, thì chắc chắn y sẽ hổ thẹn vì hành động của y và sẽ rút lui. Trong những lúc thời bình nhất những bộ óc ấy đã kém khôn ngoan, thì nay, trong những giờ phút sợ hãi khủng khiếp này lại càng sáng chế ra không thiếu gì điều ngu xuẩn. Ở Paris, báo chí của chính phủ hoặc thân cận với giới cao cấp đã từ thế bình chân như vại một cách ngu xuẩn đến chỗ hoàn toàn tuyệt vọng, rồi cuối cùng là khiếp đảm ra mặt. Trong thời kỳ này, những báo chí ấy có đặc điểm là biểu thị thái độ bằng những lời chê, khen Napoléon liên tiếp thay đổi theo bước tiến lên phía Bắc của ông Hoàng Đế.

— Thời kỳ thứ nhất: ”Con rắn đảo Corsica đã đổ bộ lên vịnh Juan”.

— Thời kỳ thứ hai: ”Con quỷ tiến về Grenoble”

— Thời kỳ thứ ba: ”Kẻ thoán nghịch tiến vào Grenoble”

— Thời kỳ thứ tư: ”Bonaparte đã chiếm Lyon”.

— Thời kỳ thứ năm: ”Napoléon đến gần Fontainebleau”.

— Thời kỳ thứ sáu: “Đức Hoàng Đế hôm nay đang được thủ đô trung thành của Người chờ đón”.

Chỉ trong vài ngày, vẫn những tờ báo ấy, vẫn những cái toà soạn ấy đã liên tiếp thay đổi giọng lưỡi. Hãy còn một tia hy vọng chẳng mấy chốc đã tắt ngấm này nữa. Ở Paris, người ta biết Napoléon không giữ mình, thí dụ như khi chiến thắng tiến vào Lyon, Napoléon dẫn đầu đoàn tuỳ tùng và quân đội, cưỡi ngựa đi bước một giữa đông đảo nhân dân đang hoan hô chào đón. Nếu cần phải cứu lấy triều đại Bourbon thì ngại gì không cho một nhát dao găm? Và ở Paris những người được chứng kiến nói rằng: “Nhiều lính kín trà trộn trong dân chúng để tìm một kẻ như Jacques Clément”. Người ta hứa thẳng với thích khách rằng sẽ trọng thưởng, vừa đề cao việc đó rất là hợp pháp, không hề có tội trước pháp luật vì Nghị Viện đã công bố Napoléon là kẻ thù của nhân loại và đã đặt Napoléon ra ngoài vòng pháp luật. Nhưng trong vài ngày còn lại, người ta không kịp tìm được một tên Jacques Clément.

Đêm 19 rạng 20 tháng 3, Napoléon cùng đội tiền vệ đến Fontainebleau. Hồi 11 giờ đêm ngày 19, nhà vua và tất cả hoàng gia trốn khỏi Paris, chạy về phía biên giới nước Bỉ.

Ngày 20 tháng 3 năm 1815, hồi 9 giờ đêm, Napoléon tiến vào Paris. Bạt ngàn quần chúng đón chờ Napoléon ở cung điện Tuileries, và khi những tiếng reo hò vang dậy của những dòng thác người xô theo sau xe của Napoléon từ rất xa vang vọng tới quảng trường mỗi lúc một mạnh mẽ và dần dần biến thành một thứ tiếng ầm ĩ đầy hoan hỉ thì khối người đứng nêm quanh cung điện đã ùa đi đón Napoléon.

Bị bao vây tứ phía, chiếc xe không thể tiến thêm được nữa. Kỵ binh hộ vệ đã uổng công mở đường. Về sau, những người lính cận vệ kể lại rằng: “Họ hò reo, khóc lóc, lăn xả vào chân ngựa, trèo lên xe; bất chấp tất cả. Khối quần chúng cuồng nhiệt ấy đổ xô tới ông Hoàng Đế, chen bật cả đoàn tùy tùng, lôi Hoàng Đế ra khỏi xe, rồi giữa những tiếng hoan hô không dứt, họ chuyền ông hoàng từ tay người này sang tay người khác cho đến tận cung điện, rồi qua cầu thang chính lên đến tầng cao nhất”.

Sau những thắng lợi to lớn nhất, sau những chiến dịch huy hoàng nhất, sau những cuộc xâm lược các vùng đất đai rộng lớn và trù phú nhất, Napoléon cũng chưa hề bao giờ được tiếp đón ở Paris như đêm ngày 20 tháng 3 năm 1815. Sau này, một tên Bảo Hoàng già cũng đã phải thốt ra rằng đó quả là một sự sùng bái.

Sau khi người ta đã phải khó nhọc lắm mới khuyên nổi nhân dân giải tán, Napoléon lại trở về phòng làm việc cũ khi xưa, nơi mà trước đây 24 giờ, Louis XVIII đã bỏ trốn đi. Napoléon lại lao ngay vào đống công việc đang bề bộn, thúc bách. Cái điều vô lý đã thành hiện thực. Không quân đội, không tiếng súng, không một trận giao chiến, Napoléon đã từ Địa Trung Hải qua nước Pháp về tới Paris trong 19 ngày để tống cổ bọn Bourbon, và lại trị vì.

Nhưng Napoléon biết điều này hơn ai hết: Lại lần này nữa Napoléon không mang lại hòa bình mà là binh đao, và Châu Âu, sửng sốt kinh ngạc trước sự quay về đột ngột của Napoléon, lần này cũng sẽ làm mọi cách để ngăn chặn không cho Napoléon tập hợp lực lượng.

4

Vừa mới bắt đầu triều đại mới, Napoléon đã trịnh trọng hứa sẽ đem lại cho nước Pháp tự do và hòa bình, như vậy là ông đã thẳng thắn và công khai thừa nhận, như ông đã từng nhắc lại ở Grenoble, Lyon, Paris rằng thời kỳ trị vì trước đây của ông ta đã không đem lại cho nước Pháp tự do cũng như hòa bình. Gã Napoléon mà lại say mê hòa bình và tự do, điều đó đập vào tai nhân dân Pháp và Châu Âu chẳng khác gì nói lửa thì giá lạnh, băng tuyết thì nóng bỏng.

Với trí thông minh kỳ diệu, chỉ thoáng nhìn qua cũng đã nắm chắc và phán đoán được việc mọi việc một cách minh mẫn, Napoléon hoàn toàn hiểu rằng nếu ông đã chiếm được ngai vàng nước Pháp trong vài ngày bằng hai bàn tay không, chẳng một trận giao tranh thì hoàn toàn không phải vì tất cả mọi người đều đã bị nội dung rộng lớn của cái tự do và tính chất bền vững của cái hòa bình mà ông đã hứa hẹn ấy cám dỗ họ. Bọn Bourbon chưa vi phạm hòa bình, cũng không có ý định vi phạm. Nhân dân đã quay lưng với chúng vì một lý do khác. Napoléon hiểu rất rõ rằng sở dĩ ông thành công lớn như vậy là do những lời hứa hẹn của ông với giai cấp nông nhân, tức là với quảng đại quần chúng nhân dân.

“Những con người không vụ lợi đã dẫn tôi về Paris. Hạ sĩ quan và binh lính đã làm tất cả. Tôi hoàn toàn chịu ơn nhân dân và quân đội”. Napoléon đã nhắc lại như vậy vào đêm 20 tháng 3 năm 1815, khi trở lại điện Tuileries, có Fleury de Chabulon chứng kiến.

“Nông dân hò reo: “Hoàng Đế muôn năm, đả đảo quý tộc! Đả đảo thầy tu!”. Họ đi theo tôi từ thành phố này sang thành phố khác, đến khi họ không thể đi xa ơn được nữa thì họ giao phó cho những người khác nhiệm vụ hộ tống tôi về Paris. Nông dân xứ Provence đã hộ tống tôi, sau họ là nông dân miền Dauphiné, sau nông dân Dauphiné là nông dân Lyon, sau nông dân Lyon là nông dân Bourgogne, và những kẻ thật sự âm mưu đem lại cho tôi những người bạn thân thiết ấy lại chính là bọn Bourbon”. Trong những ngày sau khi về tới điện Tuileries, Napoléon đã nói như vậy về chuyến đi đầy thắng lợi rực rỡ của mình.

Nhưng, thoả mãn được nguyện vọng của nhân dân, ít ra cũng là một bộ phận trong họ, là việc dễ dàng: Đối với họ, Napoléon là tượng trưng cho sự xoá bỏ hoàn toàn những luật lệ phong kiến, tượng trưng cho sự đảm bảo quyền sở hữu ruộng đất của nông dân. Sự thật, nông dân còn mong muốn không có chiến tranh, không có nạn trưng binh và khi ông Hoàng Đế nói về chính sách hòa bình trong tương lai thì họ đã chăm chú nghe ngóng. Nhưng dầu sao, vấn đề hòa bình ấy cũng chưa phải là vấn đề quan trọng hàng đầu mà là vấn đề khác.

Napoléon biết rằng trong 11 tháng sống dưới chế độ quân chủ lập hiến, báo chí được hưởng đôi chút tự do, thì nay không phải giai cấp tư sản chỉ trông đợi ở ông ta những quyền tự do tối thiểu, ông ta phải minh họa càng sớm càng hay cho chương trình mà ông ta đã trình bày trên con đường tiến về Paris, khi ông ta đóng vai trò lưu vong ra khỏi nước Pháp, ông đã nói như vậy ở Grenoble: “Tôi xuất thân từ cách mạng”, ông ta tuyên bố thế ở Lyon: “Tôi về để kéo dân Pháp thoát khỏi vòng nô lệ mà bọn quý tộc và thầy tu đang muốn dìm họ vào... bọn chúng hãy coi chừng! Rồi chúng khắc biết tay tôi”.

Napoléon đã nhận được hàng loạt lời chúc từ những người Jacobin cũ ở các tỉnh, lọt lưới trong những cuộc khủng bố ở thời kỳ trị vì lần thứ nhất của Napoléon. Lúc này, những người ấy đã chào đón Napoléon như một tay cách mạng vô địch chống bọn Bourbon, bọn quý tộc, bọn tu sĩ và linh mục. Ở Toulouse, suốt trong một ngày trời, người ta rước tượng bán thân ông Hoàng Đế đi diễu khắp thành phố, vừa hát bài Marseille vừa hô lớn: “Quẳng bọn quý tộc vào lò than!” Từ các tỉnh, người ta gửi về cho Davout - vị Thống Chế được Napoléon rất yêu mến và bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh - nhiều kiến nghị yêu cầu Hoàng Đế thiết lập chế độ khủng bố như năm 1973. Napoléon thấu hiểu tâm trạng ấy. Buổi tối ngày 20 - 3, khi người ta mới rước, Napoléon đã nói với bá tước Molé:”Tôi lại thấy toàn thể quần chúng căm thù mãnh liệt bọn linh mục và quý tộc như hồi đầu cách mạng”.

Nhưng, cũng như năm 1812, ở điện Kremlin, Napoléon không dám liên minh với cuộc cách mạng nông dân ở Nga, thì năm 1815 cũng vậy, tại điện Tuileries, Napoléon đã lùi bước khi nghĩ đến việc dựa vào nông dân lao động và dựa vào chính sách khủng bố có tính chất cách mạng. Cũng như trước kia khi Napoléon đã không cầu cứu đến một “Pugachev”, lúc này ông ta không cầu cứu đến một “Marat”, và đó không phải là việc ngẫu nhiên.

Trong xã hội Pháp, giai cấp đã từng chiến thắng trong thời kỳ cách mạng - chúng tôi muốn nói đến giai cấp đại tư sản - là giai cấp duy nhất mà Napoléon cảm thông và cùng chung nguyện vọng. Napoléon là người đại diện chủ yếu của họ, là người đã củng cố thắng lợi của họ. Chính Napoléon đã tìm dựa vào giai cấp ấy, chính là vì quyền lợi của giai cấp ấy mà Napoléon chuẩn bị sẵn sàng đấu tranh. Và cũng như năm 1812, Napoléon thấy mình gần gũi kẻ thù là Aleksandr đệ nhất hơn là gần gũi quần chúng nông dân Nga, thì vào năm 1815, Napoléon cũng đã không muốn dựa vào cách mạng mặc dầu là để đấu tranh chống lại quân đội người thù địch. Napoléon đã nói với Benjamin Constant, một đại biểu điển hình cho nguyện vọng của giai cấp tư sản thời đó: “Tôi không muốn là một ông vua của phong trào nông dân”. Sau khi trở lại trị vì ít lâu, Hoàng Đế đã cho gọi Benjamin đến cung điện để thảo luận quyết định việc cải tổ các tổ chức Nhà Nước theo tinh thần tự do. Sự cải tố ấy, nhằm thoả mãn giai cấp đại tư sản, đã chứng minh cái nhiệt tình mới mẻ của Napoléon đối với tự do và đồng thời xoa dịu phái Jacobin đang trỗi dậy.

Cũng rất đáng chú ý rằng, Napoléon biết rõ lúc này chỉ có tinh thần triệt để cách mạng mới giúp cho mình, chứ không phải đạo luật đẹp mã của chủ nghĩa tự do ôn hòa. Sau này, khi nhắc lại năm 1815, Napoléon nói: “Kế hoạch phòng ngự của tôi chẳng có tác dụng gì hết, bởi vì những phương tiện đều không vượt được nguy cơ. Đáng lẽ tôi phải làm lại cuộc cách mạng, triệt để lợi dụng những khả năng do cách mạng đẻ ra. Đáng lẽ tôi phải kích thích mọi khát vọng, mọi nhiệt tình để lợi dụng sự mù quáng của chúng. Thiếu những cái đó, nên tôi đã không cứu được nước Pháp”. Và nhà viết sử quân sự nổi tiếng là Jomini cũng hoàn toàn tán thành ý kiến đó của Hoàng Đế. Từ bỏ cả việc làm sống lại phong trào năm 1793 và những lực lượng vĩ đại của cách mạng mà ông ta đã nhận được, Napoléon đã cho tìm kiếm Benjamin đang trốn tránh và cho dẫn về cung điện Tuileries. Nhà ký giả và lý luận về tư tưởng tự do này đi trốn vì trước khi Hoàng Đế tới Paris, hắn đã viết báo nói việc Hoàng Đế quay lại là một tai họa chung, và coi Napoléon là cùng một đồng một cốt với Neron.

Benjamin Constant run sợ trình diện trước Napoléon và đã vô cùng sung sướng khi biết rằng không những hắn không bị bắn mà còn được người ta đề nghị hắn thảo ra ngay một bản hiến pháp của đế quốc Pháp. Napoléon tiếp Constant ngày 6 - 4, đến ngày 23 thì bản hiến pháp đã thảo xong, với cái tên kỳ quặc: ”Văn kiện bổ sung hiến pháp của đế chế”. Đó là Napoléon muốn nói thời kỳ trị vì thứ nhất với thời kỳ thứ hai của ông. Còn Constant thì chỉ việc sửa lại bản hiến pháp của Louis XVIII cho có đôi chút tính chất tự do. Suất thuế tuyển cử quy định cho người bầu cử và ứng cử có giảm nhiều, nhưng muốn được ứng cử vẫn phải giàu có. Tự do báo chí cũng được bảo đảm thêm một chút. Chế độ kiểm duyệt trước bị bãi bỏ, và từ nay trở đi chỉ có toà án mới được xét xử những tội trạng về báo chí.

Bên trên Hạ Nghị Viện do bầu cử (300 nghị viên), lập thêm một Thượng Viện do Hoàng Đế chỉ định theo tước vị dòng thế lập. Luật pháp phải do hai viện thông qua và được Hoàng Đế phê chuẩn.

Napoléon chuẩn y bản dự luật đó và bản hiến pháp mới được công bố ngày 23/4. Hoàng Đế đã không chống đối gì lắm tác phẩm tự do của Benjamin. Ông chỉ muốn hoãn thời gian bầu cử và việc triệu tập hai viện cho đến khi nào giải quyết xong vấn đề chiến tranh: Nếu như chiến thắng rồi, người ta thấy rõ rằng các nghị sĩ, báo chí và ngay cả bản thân Benjamin nữa sẽ phải làm gì, và lúc bấy giờ thì bản hiến pháp ấy để ổn định tinh thần chung. Nhưng giai cấp tư sản tự do không tin gì lắm vào chủ nghĩa tự do của ông Hoàng Đế và nó đã yêu cầu khẩn thiết Hoàng Đế cấp tốc triệu tập họp hai viện. Sau vài lần phản đối, Napoléon bằng lòng và ấn định ngày 25 tháng 5 sẽ họp “Hội Đồng Tháng Năm”, trong thời gian ấy sẽ phải công bố kết quả cuộc bầu phiếu của toàn dân mà Hoàng Đế đã chấp nhận theo hiến pháp mới của mình và đồng thời cũng phải làm lễ trao cờ cho quân đội vệ quốc trước khi khai mạc khoá họp của hai viện.

Cuộc bầu phiếu có 1.552.450 phiếu thuận và 4.800 phiếu chống bản hiến pháp. Thực tế, lễ trao cờ đã tổ chức long trọng và cảm động vào ngày 1 tháng 6 chứ không phải 26 tháng 5; cũng ngày 1 tháng 6, khoá họp của Hạ Nghị Viện mới tuyển cử xong đã khai mạc và lấy tên là Hội Đồng Lập Pháp.

Các vị đại biểu làm việc chưa được một tuần rưỡi thì Napoléon đã không bằng lòng họ và nổi giận. Ông ta không thể chịu được bất cứ một sự hạn chế nào về quyền hành của mình, thậm chí không chịu được những biểu hiện có tính độc lập của các Hạ Nghị Sĩ, dù rằng nhỏ nhặt nhất. Nghị Viện đã bầu Lanjuinais, một người tự do ôn hòa, trước thuộc phái Girondins, làm chủ tịch. Cảm tình của Napoléon đối với Lanjuinais rất bình thường. Nhưng không thể vì thế mà cho rằng Lanjuinais manh tâm chống đối. Chắc chắn là Lanjuinais ưa thích Napoléon hơn bọn Bourbon, nhưng khi nhận lời chúc mừng đầy thái độ khuất phục và tôn kính của cơ quan lập pháp, Napoléon đã nổi khùng và nói: “Chúng ta đừng có giống như những người Hy Lạp ở thời kỳ đế quốc La Mã suy tàn, họ tranh cãi để mua vui với nhau khi giặc đã đến phá thành”. Như vậy Napoléon nói đến Khối Liên Minh Châu Âu đang ùn ùn tập trung lực lượng từ khắp các nơi kéo đến biên giới nước Pháp.

Napoléon nhận lời chúc mừng của các vị dân biểu ngày 11/6 và ngày 12 thì ông lại trở về với quân đội để quyết đấu một trận lớn cuối cùng với Châu Âu. Khi lên đường, Napoléon hiểu rõ rằng ông bỏ lại ở hậu phương những con người chẳng đáng tin cậy gì: Không phải chỉ những người thuộc phái tự do trong Nghị Viện, còn cả cái kẻ mà Napoléon đã không trả lại chức Bộ Trưởng Bộ Công An ngay khi ông từ đảo Elba trở về. Trước khi Napoléon vào Paris, Joseph Fouché đã lập mưu làm cho bọn Bourbon tức giận hắn, như vậy là hắn đã tự gây cho hắn điều rủi ro, và cái mưu mô gian xảo ấy đã đem lại cho hắn chức Bộ Trưởng khi Napoléon vào Paris. Hắn có thể tiến hành bất cứ một âm mưu nào, làm bất cứ một chuyện đê tiện nào và bất cứ một sự phản bội nào, có bao giờ Napoléon phải ngờ vực điều đó. Nhưng, trước hết là tỉnh Vendée đang lộn xộn và Fouché là người biết rõ hơn ai hết phương pháp đối phó với cuộc khởi loạn ở Vendée. Sau nữa là Hoàng Đế đã tin cậy vào mối bất hòa giữa Fouché và bọn Bourbon. Và, cũng như trong thời gian trị vì trước đây: Vừa sử dụng tài mật thám và tài khiêu khích của Fouché, vừa tuyệt đối bí mật cử người chuyên giám sát Fouché.

Để làm việc ấy, Napoléon đã chọn Fleury de Chabulon. Có lần Chabulon đã khám phá được một vài chuyện thông đồng bí mật của Fouché với Metternich. Đúng là Fouché đã gỡ thoát được việc đó, nhưng không phải Napoléon đã không kết thúc cuộc gặp gỡ với hắn (sự viện xảy ra vào tháng 5 bằng những lời sau đây:”Fouché! Ngươi là một tên phản bội. Ta chỉ còn việc treo cổ ngươi lên thôi!”. Đã làm việc lâu năm với Napoléon đã quen nghe những câu chửi mắng như vậy nên Fouché vừa cúi rạp mình cung kính vừa đáp: “Tâu Bệ Hạ, hạ thần không tán thành ý kiến ấy của Bệ Hạ”).

Nhưng làm gì bây giờ? Nếu thắng được quân Liên Minh, nghị viên sẽ khuất phục, Fouché sẽ trung thành và vô hại. Bằng không, ai sẽ chôn vùi nền đế chế? Những nghị sĩ thuộc phái tự do hay những Bộ Trưởng phản nghịch? Điều đó có quan trọng gì lắm đâu.

Napoléon tin cậy vào Davout, để Davout ở lại làm toàn quyền thành phố và làm Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh. Napoléon cũng tin cậy vào Carnot, con người Cộng Hòa cựu trào này lâu nay vẫn không chịu phục vụ kẻ chuyên chế từng sát hại nền Cộng Hòa, đã đích thân đến xin phục vụ kẻ ấy vào năm 1815, vì Carnot coi bọn Bourbon là cái tai họa ghê tởm nhất.

Napoléon biết một cách rất chắc chắn là khu ngoại ô thợ thuyền sẽ không nổi dậy ở sau lưng Napoléon như vào năm 1813 và năm 1814, đó cũng là lý do khuyến khích Carnot ra phục vụ Napoléon và người Jacobin vui mừng đón chào cuộc đổ của Napoléon ở vùng vịnh Juan. Napoléon hiểu rằng lúc này, thợ thuyền, cũng như Carnot và những người Jacobin ở các tỉnh, đều không nhìn Napoléon là một ông Hoàng Đế đương bảo vệ ngôi báu của mình chống lại một kẻ khác đang mưu toan lên ngôi, mà coi ông là người tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang của nước Pháp xuất thân từ cách mạng, là người đi chiến đấu bảo vệ đất nước, chống sự can thiệp của nước ngoài, chống bọn Bourbon đang khôi phục lại chế độ cũ. Trước con mắt cả thế giới, của bạn cũng như thù, người thủ lĩnh ấy là một người thầy có một không hai trong nghệ thuật chiến tranh, người chỉ huy thiên tài lỗi lạc nhất của mọi thời đại, một nhà chiến lược và chiến thuật kỳ tài, không ai bì kịp. Nước Pháp và Châu Âu, trước kia đã nổi dậy chống lại người đó thì nay lưỡng lữ.

5

Cuộc chiến tranh cuối cùng này của Napoléon đã luôn luôn là đối tượng của các cuộc tranh luận hăng say và đã thường xuyên cung cấp một đề tài phong phú cho các công trình nghiên cứu của các nhà bác học cũng như các sáng tác tác phẩm của các nhà văn. Hầu như mọi người đều thấy ở đó một chuỗi những sự việc rủi ro làm tiêu tan thắng lợi đã nắm sẵn trong tay Napoléon.

Đứng trên quan điểm phân tích khoa học và hiện thực chủ nghĩa các sự kiện thì đặt vấn đề như vậy chỉ có ích cho những nhà bình luận quân sự. Cho dù người ta có dễ dàng công nhận luận điểm đó đi chăng nữa, hoặc cho dù người ta có thừa nhận về đại thể và không tranh cãi rằng nếu không có những sự ngẫu nhiên, Napoléon ắt đã chiến thắng trong trận Waterloo thì rồi cuối cùng, chắn chắn cuộc chiến tranh cũng vẫn sẽ kết thúc như vậy: Nền đế chế đã bị lên án, vì toàn Châu Âu mới chỉ đang bắt đầu phát triển lực lượng, còn Napoléon thì đã dốc hết lực lượng quận sự hiện có và dự trữ của mình.

Ngày 10/6/1815, Hoàng Đế có trong tay19 vạn 8 nghìn quân thì đã phải phân tán một phần ba trên đất nước (ông phải để lại ở Vendée gần 6 vạn 5 nghìn quân để đề phòng mọi bất trắc). Đối với chiến dịch đang mở, Napoléon chỉ có thể trông vào khoảng 12 vạn 8 nghìn quân và 344 khẩu pháo, kể cả quân số của đội cận vệ, của năm quân đoàn và của đội kỵ binh dự bị. Cũng phải kể đến khoảng 20 vạn người nữa của lực lượng vệ quốc và các đơn vị khác không nằm trong biên chế của quân đội, trong đó một nửa không được cấp quần áo mặc và một phần ba không có vũ khí. Nếu chiến dịch kéo dài thì nhờ tài tổ chức của Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh Davout, Napoléon còn có thể tập hợp thêm được từ 23 đến 24 vạn người tuy rằng chật vật. Dù lúc đầu Napoléon đã chiến thắng, nhưng làm thế nào mà chiến tranh lại không kéo dài được? Vì quân Anh, Phổ, Áo, Nga đã tung ra một lúc 70 vạn quân, và còn có thể huy động thêm 30 vạn nữa vào cuối mùa hè, chưa kể những lực lượng bổ sungsẽ sẵn sàng xuất trận vào mùa thu. Phe Liên Minh tính sẽ huy động tất cả một triệu quân.

Khối Liên Minh đã nhất quyết tính cho xong Napoléon. Sau thời gian đầu hốt hoảng và mất tinh thần, tất cả các Chính Phủ của các nước dự Hội Nghị Vienna đều tỏ ra kiên quyết chưa từng thấy. Mọi ý đồ đàm phán riêng lẻ với nước này hay nước khác của Napoléon đều bị cự tuyệt. Napoléon đã bị đặt ngoài vòng pháp luật, bị coi như 'kẻ thù của nhân loại”.

Chỉ cần nhắc lại rằng, dù bỏ ngoài không tính đến những cường quốc đứng hàng thứ hai, thì ngay sau trận Waterloo, nước Pháp đã thấy mình sẽ bị quân đội Áo (23 vạn người), Nga (25 vạn), Phổ (31 vạn) và Anh (10 vạn) xâm chiếm. Những đạo quân này được cấp tốc thành lập ngay sau khi có tin Napoléon đổ bộ lên miền Nam nước Pháp. Ngoài mối căm thù với kẻ thoán nghịch và xâm lược, ngoài nỗi kinh hoàng do viên tướng bách chiến bách thắng đáng sợ gây nên, điều đã làm cho Aleksandr, Francis, Frederick Wilhelm, Metternich, thượng nghị sĩ Castlereagh (lúc này rất chú ý đến tư tưởng của thợ thuyền và sự tiến triển của phong trào cải cách trong giai cấp tư sản Anh) cũng như tất cả các giới cầm quyền phản động ở Châu Âu phải lo lắng là những vẻ “tự do” mới mẻ mà Napoléon áp dụng khi quay về. Dưới con mắt của những nhà cần quyền Châu Âu; chiếc khăn đỏ bịt đầu của Marat còn đáng sợ hơn cái ngai nạm vàng của Napoléon. Đối với họ, hình như vào năm 1815, đúng là Napoléon chuẩn bị làm cho “Marat sống lại” để tuyển mộ Marat vào cuộc chiến đấu của mình. Napoléon đã không quyết định như vậy, vì đó chính là điều Napoléon sợ nhất, nhưng ở Vienna, ở London, ở Berlin, ở Peterburg, người ta vẫn sợ cái ảo ảnh đó, cái ảo ảnh chỉ khích động thêm mối căm thù không đội trời chung với kẻ xâm lược.

Khi đến với quân đội, Napoléon được những người lính đón tiếp nồng nhiệt không sao kể xiết. Nhân viên tình báo Anh kinh ngạc và báo cáo với Wellington rằng sự tôn sùng Napoléon giống như một sự mê muội. Những lời báo cáo ấy phù hợp với những báo cáo của các gián điệp ngoại quốc khác có nhiệmvụ nghiên cứu tình trạng tư tưởng ở Pháp. Nhưng cả Wellington cũng như bọn gián điệp của ông ta đều không nhận thấy được rằng trong tư tưởng của binh lính Pháp có một điểm mà từ trước tới nay chưa bao giờ có trong quân đội Napoléon: Họ nghi ngờ và mất tin tưởng vào các tướng lĩnh và Thống Chế.

Binh lính đã nhớ lại thái độ phản bội Hoàng Đế vào năm 1814 của các Thống Chế. Bị lòng trung thành mù quáng với Napoléon kích động, họ muốn Napoléon xử trí “bọn phản bội” như trước đây Hội Nghị Quốc Ước đã xử trí các tướng lĩnh tình nghi. Cho những tên phản bội mặc áo cổ thêu lá sồi ấy lên máy chém! Nhưng Napoléon đã không giải quyết như vậy, các Thống Chế và các tướng lĩnh vẫn giữa nguyên chức vụ chỉ huy của họ, Napoléon không dùng đến chính sách khủng bố có tính chất cách mạng, dù ở hậu phương hay ở ngoài tiền tuyến, mặc dù ông tự nhủ rằng chính sách khủng bố đó có thể làm tăng thêm sức mạnh của ông.

Sự có mặt của Hoàng Đế làm cho tinh thần binh sĩ phấn khởi: Họ yên lòng rằng, từ nay, các Thống Chế và các tướng lĩnh bị giám sát chặt chẽ, đông đảo binh sĩ vẫn nghi rằng một vài người trong số các tướng lĩnh và Thống Chế có thể bất thình lình phản bội, thì nay họ không còn lo sợ điều đó nữa.

Trước mặt Napoléon là quân Anh và quân Phổ, những nước đầu tiên trong phe Liên Minh xuất hiện trên chiến trường. Quân Áo gấp rút tiến về phía sông Rhine. Tháng 3 năm 1815, những ngày đầu tiên của triều đại mới của Napoléon. Murat - người đã được Hoàng Đế phong làm vua xứ Naples vào năm 1814 và mặc nhiên được Hội Nghị Vienna công nhận - đột nhiên lại liên minh với Napoléon ngay từ khi vừa nhận được tin Hoàng Đế đổ bộ lên đất Pháp và đã tuyên chiến với nước Áo. Nhưng trước khi Napoléon mở chiến dịch đánh quân Liên Minh, Murat đã bị đánh bại đến nỗi vào trung tuần tháng 6, Napoléon không còn có thể trông cậy gì được nữa vào cánh quân ấy để giam chân một phần lực lượng của quân Áo. Nhưng quân Áo hãy còn xa. Trước hết là phải đánh bật quân Anh đang ở Brussels; Blücher chỉ huy quân đội Phổ đang ở sông Sambre và sông Meuse, ở giữa Charleroi và Liège.

Ngày 14/6, Napoléon tràn vào nước Bỉ để mở đầu chiến dịch. Tiến công nhanh chóng vào giữa Wellington và Blücher, Napoléon thọc sâu vào phòng tuyến của Blücher. Quân Pháp đã chiếm được Charleroi và tràn qua sông Sambre. Nhưng cánh phải của Napoléon hành binh hơi chậm: Tướng Bourmont, một tên Bảo Hoàng bị tình nghi từ lâu, đã trốn sang hàng ngũ quân Phổ. Binh lính lại càng không tin tưởng vào cấp chỉ huy.

Qua sự việc bất thình lình ấy, Blücher thấy có triệu chứng thuận lợi, mặc dầu ông ta không thu nhận Bourmont, và còn sai người nói cho Bourmont hiểu rằng ông ta coi tên phản bội như “cục cứt chó”. Blücher lại càng kiên quyết hơn. Khi được tin báo Bourmont, tên Bảo Hoàng người Vendée, phản bội, Napoléon nói:”Bọn trắng thì bao giờ chẳng trắng!”.

 

Ngày 15 tháng 6, Napoléon hạ Quatre Bras nằm trên đường đi Brussels để kìm chặt quân Anh lại, nhưng vì Ney hành động yếu ớt nên đã thực hiện chậm trễ. Ngày 16/6, Hoàng Đế mở cuộc tiến công lớn vào Blücher ở gần Ligny và đã thu được thắng lợi: Blücher mất hơn 2 vạn quân, và Napoléon chừng 1 vạn 1 nghìn. Nhưng Napoléon không hài lòng với thắng lợi đó, vì nếu Ney không phạm sai lầm, là đã đưa quân đoàn thứ nhất đi loanh quanh giữa Quatre Bras và Ligny làm cho nó không thể tham gia chiến đấu được, thì ắt Napoléon đã có thể tiêu diệt được quân Phổ. Bị đánh bại nhưng không bị tiêu diệt, Blücher đã rút lui mất hút theo hướng nào không rõ.

Ngày 17, Napoléon cho quân lính nghỉ ngơi. Những nhà bình luận quân sự phê phán Napoléon rằng như vậy là đã để mất một ngày quí báu và giúp cho Blücher củng cố lại được đội ngũ. Đến trưa, Napoléon tách ra 3 vạn 6 nghìn quân giao cho Thống Chế Grouchy chỉ huy, và hạ lệnh cho Grouchy tiếp tục truy kích Blücher. Một bộ phận kỵ binh Pháp được cử đi truy kích đội quân Anh đã quấy phá quân Pháp ở làng Quatre Bras từ đêm trước, nhưng một trận mưa rào như trút nước làm ngập cả đường sá đã làm cuộc truy kích phải bỏ dở, Napoléon cùng với quân chủ lực hội sư với Ney và kéo lên phía Bắc, tiến thẳng về Brussels. Wellington, chỉ huy toàn bộ quân Anh, đã bố trí phòng ngự cách Brussels 22km, trên cao nguyên Mont Saint Jean, ở phía Nam Waterloo. Khu rừng Soignes ở phía bên làng đã cắt đứt đường rút lui về Brussels của Wellington.

Wellington cố thủ trên cao nguyên đó. Kế hoạch của Wellington là đợi Napoléon tiến đến vị trí cực kỳ kiên cố ấy và kiên quyết giữ vững trận địa bằng bất cứ giá nào để tạo điều kiện cho Blücher, đã hồi phục sau trận thất bại và có thêm viện binh, kịp đến cứu viện cho mình.

Các trinh sát viên liên tiếp báo cáo về tổng hành dinh quân Anh là mặc dầu đường sá bị ngập lụt, Napoléon vẫn tiếp tục tiến về phía núi Mont Saint Jean. Nếu cầm cự được cho đến khi Blücher tới thì sẽ thắng lợi, bằng không, quân đội Anh tất sẽ bị tiêu diệt.

 

Trong những giờ phút đầu tiên của buổi chiều ngày 17/6, tình thế đã đặt ra cho Wellington như vậy thì tướng Gneisenau, tham mưu trưởng của Blücher đã báo cho Wellington biết rằng ngay khi vừa chấn chỉnh xong đội ngũ, quân Phổ lại cấp tốc hành quân để đến ứng cứu.

Ngày hôm sau vừa tắt thì Napoléon cũng đã đến gần cao nguyên và từ đằng xa, ông đã trông thấy quân đội Anh qua màn sương mù.

6

Napoléon có 7 vạn 2 ngàn quân trong khi Wellington có 7 vạn và đến sáng ngày 18/6/1815 hai bên đối mặt nhau. Cả hai bên bờ đều chờ viện binh và bên nào cũng bắt buộc phải đợi: Napoléon thì chờ Grouchy có không quá 3 vạn 3 nghìn quân còn bên Anh thì chờ Blücher đưa đến chiến trường từ 4 đến 5 vạn quân chiến đấu được trong số 8 vạn còn lại sau trận chiến đấu Ligny.

Đêm hết, Napoléon cũng đã bố trí xong đội hình chiến đấu nhưng ông đã không thể mở cuộc tiến công ngay vào sáng sớm vì trời mưa lầy lội đến nỗi không thể triển khai được kỵ binh. Buổi sáng, Hoàng Đế đã đi xem xét trận địa của bộ đội và lấy làm hài lòng về sự đón tiếp của họ. Từ sau trận đấu Austerlitz đến nay. Cuộc duyệt đội ngũ lần này là lần cuối cùng trong đời Napoléon đã gây cho Napoléon và nhưng người có mặt hôm đó những ấn tượng không bao giờ quên được.

Thoạt đầu, Napoléon đặt đại bản doanh ở trại Kaiyou. Đến 11h rưỡi trưa thấy mặt đất đã se, Napoléon ra hiệu lệnh tiến công. 84 khẩu pháo phát hỏa lực như sấm sét vào cánh trái của quân Anh và cuộc tiến công tiến hành dưới sự chỉ huy của Ney. Đồng thời, quân Pháp cũng mở đường tiến công nghi binh vào lâu đài Hougoumont thuộc cánh phải quân Anh, và các đợt xung phong vào vị trí kiên cố này đã gặp phải sức kháng cự quyết liệt nhất.

Mũi tiến công vào cánh trái vẫn tiếp tục. Cuộc chiến đấu khốc liệt ấy kéo dài được một giờ rưỡi thì Napoléon chợt thấy từ xa, về phía Đông Bắc làng Chapelle Saint Lambert những đám quân lờ mờ đang tiến đến. Thoạt tiên, Napoléon đoán là Grouchy, người mà trong đêm hôm trước và buổi sáng hôm sau đó Napoléon đã nhiều lần ra lệnh phải cấp tốc quay lại chiến trường. Nhưng không phải Grouchy mà lại là Blücher. Viên tướng này đã khéo nghi binh thoát khỏi sự truy kích của Thống Chế Pháp và đến tiếp viện cho Wellington. Khi biết rõ sự thật, Napoléon cũng không bối rối, ông tin chắc Grouchy vẫn bám sát gót quân Phổ, và khi cả hai cùng tới nơi thì lực lượng sẽ tương đối ngang nhau, mặc dầu Blücher đem tới cho Wellington số quân đông hơn Grouchy, và nếu trước đó, ông đã giáng cho quân Anh một đòn sấm sét thì viện binh sẽ bảo đảm cho trận chiến đấu thắng lợi.

Vừa phái một bộ phận kỵ binh đi chặn đường Blücher, Napoléon vừa hạ lệnh cho Ney tiếp tục tiến công vào cánh trái và cánh giữa quân Anh đã bị quân Pháp mở nhiều đợt xung phong dữ dội gây tổn thất khủng khiếp từ lúc bắt đầu trận đánh và bốn sư đoàn đội hình rất trật tự của quân đoàn d’Erlon đã lao vào quân Anh. Một trận huyết chiến đã sảy ra trong khu vực đó. Quân Anh đón các trung đội khổng lồ ấy của Pháp bằng một hoả lực dữ dội và đã phản xung phong nhiều lần. Các sư đoàn Pháp nối tiếp nhau lao vào cuộc chiến đấu, đã bị thiệt hại rất nặng nề. Một đoàn kỵ binh người Écosse xông vào hàng ngũ quân Pháp và chém giết được một số lớn. Thấy tình hình nguy ngập ấy, Napoléon phi ngựa lên một điểm cao ở gần trại Belle Alliance và đã tung đội thiết giáp của Milhaud, quân số chừng vài ngàn để ứng cứu, quân Écosse bị đánh lui và bị thiệt một trung đoàn.

Cuộc tiến công ấy của quân Écosse đã làm rối loạn hàng ngũ của quân đoàn D’Erlon. Không thể phá vỡ được cánh trái của quân Anh nữa, Napoléon liền thay đổi kế hoạch, ông tập trung lực lượng chủ yếu vào trung tâm và vào cánh phải quân địch. Vào khoảng ba giờ rưỡi chiều, sư đoàn cánh trái của quân đoàn D’Erlon đã chiếm được trại Haye Sante nhưng không còn đủ lực lượng để khuyếch trương chiến đấu. Thấy vậy, Napoléon liền giao cho Ney 40 liên đội kỵ binh của Milhaud và Lefebvre Desnouettes với nhiệm vụ thọc sâu vào cánh phải quân Anh giữa Hougoumont, nhưng quân Anh tuy bị chết hàng nghìn người vẫn giữ được những vị trí chủ yếu.

 

Trong khi thi hành nhiệm vụ trọng đại ấy, kỵ binh Pháp đã bị kẹp vào giữa hỏa lực cuả bộ binh và pháo binh Anh. Mặc dầu bị tổn thất, những người còn sống vẫn không bị rối loạn. Có lúc, Wellington cho rằng mình đã hoàn toàn thất bại. Và không phải Wellington chỉ nghĩ như vậy mà còn nói như vậy với bộ tham mưu của mình. Tình trạng tư tưởng của viên tướng Anh được bộc lộ bằng những lời nói sau đây khi được báo cáo là lính không thể giữ nổi một vài vị trí: “Nếu thế thì còn cách cố thủ cho tới chết! Tôi không còn lực lượng để tăng viện nữa. Phải hy sinh đến người cuối cùng nhưng chúng ta phải đứng vững cho đến khi Blücher tới”. Wellington đã trả lời các báo cáo nguy cấp như vậy, đồng thời tung ra chiến trường những lực lượng cuối cùng.

Còn Napoléon thì không hy vọng gì vào quân bộ binh dự trữ. Chỉ còn hy vọng kỵ binh để ném vào lò lửa chiến đấu. Napoléon điều động 37 liên đội của Kellermann. Trời tối dần, cuối cùng Hoàng Đế đưa đội cận vệ vào cuộc chiến đấu và đích thân chỉ huy xung phong. Nhưng sau đó, tiếng hò reo nổi dậy và súng nổ vang bên phía sườn phải quân Pháp. Blücher cũng với 3 vạn quân ồ ạt xuất hiện trên chiến trường. Đội cận vệ vẫn còn không ngừng tiến công chừng nào Napoléon còn tin tưởng chắc chắn là Grouchy sẽ nối gót Blücher đến chiến trường!

Nhưng trong phút chốc, tình trạng hốt hoảng đã tràn lan như ngòi thuốc nổ: Đội kỵ binh Phổ ùa vào đội cận vệ đang bị kẹp giữa hai vòng hoả lực; trong khi ấy, Blücher với số binh lực còn lại, tiến công vào trại Belle Alliance, nơi Napoléon và đội cận vệ vừa rời bỏ để chặn đường rút lui của Napoléon. Lúc đó, đã 8h tối nhưng trời còn sáng. Wellington suốt ngày phải chịu đựng nhiều đợt xung phong ác liệt của quân Pháp, cuối cùng đã hạ lệnh phản công toàn diện. Grouchy vẫn biệt tăm. Cho đến phút cuối cùng, ông Hoàng vẫn uổng công chờ đợi Grouchy.

Giờ kết thúc đã đến. Đội cận vệ với đội hình hình vuông từ từ rút lui, liều chết mở đường vượt qua hàng ngũ dày đặc của quân địch, Napoléon rút lui, đi ngựa giữa một tiểu đoàn cận vệ che chở cho ông. Cuộc cầm cự quyết liệt của đội cận vệ vẫn kéo dài, làm chậm bước tiến của quân chiến thắng. Viên đại tá Anh Hanket hô to với thế trận hình vuông của đội cận vệ do tướng Cambronne chỉ huy đang bao vây tứ phía: “Các chiến sĩ Pháp dũng cảm, hãy hàng đi!”. Nhưng họ thà chết còn hơn hàng và tướng Cambronne đã đáp lại lời của kẻ địch bằng một câu chửi khinh miệt.

Quân Pháp vẫn chống cự ở những địa điểm khác, đặc biệt là ở Plancenoit, nơi quân đoàn dự bị của Lobau tác chiến, nhưng cuối cùng đã không chống nổi sức tiến công của các lực lượng quân Phổ còn nguyên vẹn, và họ đã chạy tán loạn để thoát thân. Cho mãi đến ngày hôm sau, người ta mới tập hợp và tổ chức lại được một số tàn quân. Quân Phổ đã tiếp tục truy kích rất xa suốt đêm.

7

Hai vạn rưỡi quân Pháp, 2 vạn 2 nghìn quân Anh và liên minh tử trận, bị thương nằm phơi ngổn ngang trên chiến trường. Quân đội Pháp bỏ chạy, mất hầu hết số pháo, hàng chục vạn quân Áo còn nguyên vẹn đã tiến gần biên giới nước Pháp, và hàng trăm nghìn quân Nga sẽ tiến bước theo sau tất cả những sự việc đó đã dồn Napoléon đến một tình thế hoàn toàn tuyệt vọng và Napoléon đã thấy ngay được tình thế đó khi ông rời khỏi chiến trường Waterloo, nơi vừa chấm dứt sự nghiệp đẫm máu của ông. Phải chăng Grouchy đã phản bội, cố tình chậm trễ để cho quân đội Pháp bị tiêu diệt, hay đã vô tình đi lầm đường? Trong lúc chỉ huy kỵ binh tiến công quân Anh, Ney đã chiến đấu như một anh hùng (theo nhận định của Thiers) hay như một người mất trí (theo nhận định của Medellin)? Nên đợi đến trưa hãy khai chiến, hay nên khai chiến từ sáng sớm để tiêu diệt quân Anh trước khi Blücher kịp đến? Từ hơn một trăm năm nay tất cả những câu hỏi đó và hàng nghìn câu khác đã làm bận tâm các nhà viết sử và thu hút sự say mê của những người sống vào thời đại Waterloo. Nhưng chúng ta nên chú ý ngay rằng lúc ấy Napoléon rất ít quan tâm đến các vấn đề đó. Vẻ ngoài vô cùng lặng lẽ, và suy tưởng triền miên suốt dọc đường từ Waterloo, không ủ dột như sau trận Leipzig, mặc dầu từ nay trở đi, đối với ông tất cả đều đã hết, không bao giờ trở lại nữa.

Một tuần lễ sau trận Waterloo, Napoléon phát biểu một nhận xét khá kỳ lạ về nghĩa bí ẩn của trận đánh đó: ”Không phải các cường quốc chiến tranh chống lại tôi, mà là chống lại cách mạng. Lúc nào họ cũng coi tôi là đại biểu của cách mạng, là người của cách mạng”. Mặc dầu trên những quan điểm khác, Napoléon còn đứng rất xa, nhưng về nhận xét ấy thì quan điểm của Napoléon đã gặp gỡ quan điểm của những môn đồ thuộc phái tư tưởng tự do của những thế hệ cận đại trong toàn cõi Châu Âu. Chỉ cần nhắc lại cảm xúc của Herzen khi đứng trước bức tranh in lại, miêu tả Wellington và Blücher chào mừng nhau trên chiến trường Waterloo: ”Napoléon đã xô đẩy các dân tộc đến bước đường cùng, làm cho họ sôi sục căm thù, ăn miếng trả miếng, và họ đã chiến đấu với sự quyết liệt liều mạng cho kiếp nô lệ và cho bọn chủ của họ. Nền chuyên chế quân phiệt lần này đã bị nền chuyên chế phong kiến đánh bại. Tôi không thể dửng dưng trước bức tranh vẽ cuộc gặp gỡ giữa Blücher với Wellington khi chiến thắng ở Waterloo. Tôi ngắm bức tranh đó rất lâu và lần nào tôi cũng có cảm giác rờn rợn. Wellington và Blücher đã vui vẻ chào mừng nhau. Và vì sao mà những kẻ ấy không vừa lòng nhau được? Họ vừa mới hất bánh xe lịch sử vào vũng lầy mà đến nửa thế kỷ người ta cũng chưa thể lôi lên được. Trời đã hừng sáng rồi! Song Châu Âu vẫn đang ngủ mê mệt, không biết rằng số phận của nó đã thay đổi”. Herzen kết tội bản thân Napoléon là đã xô đẩy các dân tộc Châu Âu đến chỗ giận dữ vì chế độ độc tài của ông vì không thèm đếm xỉa đến quyền lợi và phẩm cách của họ, còn Napoléon thì vẫn lặng thinh trước khía cạnh ấy của vấn đề, cái khía cạnh không hấp dẫn ông ta.

Nhưng qua những lời phát biểu của ông, người ta thấy ông nhìn được rõ ràng trong một chừng mực nào đó, giai cấp quý tộc chuyên chế và phong kiến - giai cấp mà ông đã giáng cho nhiều trận thất bại - đã phục thù được ở Waterloo, rằng nước Pháp xuất thân từ cách mạng (có thể nói như vậy được) đã cùng với đội cựu cận vệ rút lui ngày 18/6/1815.

Rất đáng chú ý là ngay sau trận Waterloo, Napoléon đã chỉ nói đến toàn bộ thiên anh hùng ca vĩ đại của ông, và việc mới xảy ra làm kết thúc thiên anh hùng đó như một người đứng ngoài cuộc quan sát và như thể ông không phải là nhân vật chính.

Một sự thay đổi bất thần đã diễn ra. Sau trận Waterloo, khi trở về Paris, Napoléon không chiến đấu để bảo vệ ngai vàng nữa, mà ông đã từ bỏ tất cả. Chẳng phải vì lòng kiêng kỵ có một không hai đã rời bỏ Napoléon, mà chắc chắn vì ông đã không chỉ hành động theo sự hiểu biết chủ quan của ông và vì ông đã nhận thấy sự sâu sắc rằng ông đã hoàn thành tốt hay xấu sự nghiệp của mình và vai trò của mình đã chấm hết. Mười lăm tháng trước đây, khi cầm bút để ký bảng thoái vị lần đầu, Napoléon đã bất chợt ngẩng đầu lên và nói với các Thống Chế: ”Sáng mai, chúng ta tiến quân và đánh lại chúng nó”. Lúc đó ông cho là vai trò của mình chưa chấm dứt. Và 3 tháng mới đây vào tháng 3 của cùng năm 1815 này, Napoléon đã làm một việc mà chưa ai từng làm trong lịch sử thế giới lúc đó, lúc đó ông còn đầy lòng tin tưởng mình, tin tưởng vào ngôi sao vận mệnh của mình.

Nhưng giờ đây ngôi sao ấy đã bị tắt đi bất chợt, vĩnh viễn. Sau trận Waterloo, không khi nào Napoléon tuyệt vọng như đêm 11/4/1814, cái đêm ông uống thuốc độc. Nhưng ông đã hoàn toàn mất mọi hứng thú hoạt động, ông chờ đợi kết quả của các biến cố sẽ đến với ông. Ông đã quyết định phó mặc hết thẩy.

Về đến Paris ngày 21/6, Napoléon triệu tập các Bộ Trưởng. Carnot đề nghị yêu cầu hai viện tuyên bố tín nhiệm nền chuyên chính độc tài của Napoléon. Davout chỉ khuyên rằng nên kéo dài nhiệm kỳ của Thượng Viện và giải tán Hạ Viện. Napoléon đã từ chối. Hạ Viện liền họp ngay và tuyên bố nhiệm kỳ vĩnh viễn theo đề nghị của Lafayette, con người mà ta lại thấy xuất hiện như vậy trong lịch sử.

Sau này, Napoléon có nói rằng ông chỉ cần nói một tiếng là nhân dân sẽ đập tan Hạ Nghị Viện, và số đông các nghị sĩ sống trong thời kỳ ấy đều xác nhận lời của Napoléon. Nhưng nếu như vậy thì hẳn là một lần nữa Napoléon phải đặt Lafayette đối địch với ”Marat”, phải đặt năm 1793 đối địch với những người thuộc phái tự do muốn làm sống lại năm 1789, phải đặt giai cấp tư sản với quảng đại quần chúng là những người mà một phần tư thế kỷ trước đây đã cứu vãn nước Pháp thoát khỏi Châu Âu quân chủ chuyên chế. Trước cũng như sau Waterloo, chẳng bao giờ Napoléon muốn đi tới cực đoan như vậy.

Ngày 21, 22, 23 tháng 6, những tin tức lạ lùng nhất từ những khu ngoại ô thợ thuyền liên tiếp bay tới: Ở những nơi đó, quần chúng tập trung đông đảo, họ lớn tiếng và kiên quyết phản đối việc Hoàng Đế thoái vị, yêu cầu tiếp tục đấu tranh chống quân xâm lược.

Suốt ngày 21/6, suốt đêm 21, 22 và suốt ngày hôm sau, các đoàn biểu tình tuần hành trong các khu ngoại ô Saint Antoine, Saint Marcel và khu ngoại ô Tanfleu, với những tiếng hò la: “Hoàng Đế muôn năm! Đả đảo quân phản bội! Hoàng Đế hay là chết! Không thoái vị! Hoàng Đế! Vũ trang! Đả đảo Hạ Nghị Viện!” Nhưng Napoléon đã không muốn chiến đấu và làm vua nữa rồi.

Ở Paris, bọn tài chủ hốt hoảng, những hội viên của cơ quan thương mại, những chủ nhà băng đều nhóm mật với nhau, một bầu không khí khủng khiếp không sao tả xiết trùm lên thị trường chứng khoán. Napoléon có thể nhìn thấy rõ được rằng giai cấp tư sản đã bỏ rơi ông, đối với họ ông không còn tác dụng gì nữa và hình như còn nguy hiểm. Bị phản bội bởi chính giai cấp mà ông đã dựa vào trong suốt triều đại của ông, ông đã dứt khoát từ chối không theo đuổi cuộc chiến đấu nữa.

Ngày 22/6, Napoléon thoái vị lần thứ hai, nhường ngôi cho chú vua nhỏ thành Roma - chú đã cùng với mẹ ở với ông ngoại là Hoàng Đế Francis từ mùa xuân năm 1814. Nhưng lần này, Napoléon không thể hy vọng rằng các cường quốc sẽ ưng thuận gạt bỏ bọn Bourbon để chấp nhận con trai ông.

Một khối quần chúng khổng lồ tụ tập quanh điện Élysée, nơi Napoléon ở sau khi rời quân đội trở về. Họ hô lớn: ”Không thoái vị! Hoàng Đế muôn năm!”. Họ làm náo động đến nỗi tầng lớp tư sản ở trong trung tâm thành phố rất lo sợ rằng sẽ nổ ra một cuộc cách mạng, ám ảnh của một cuộc cách mạng và thậm chí một cuộc cách mạng có thể đưa Napoléon lên làm độc tài bắt đầu bám chặt lấy mọi tâm chí, kể cả bọn buôn bạc kếch xù, và làm bọn họ sợ hãi. Nhưng khi tin Napoléon thoái vị vừa mới lan ra thì tiền lợi tức ngân khố Nhà Nước tăng vọt lên: Giai cấp tư sản vui lòng cam chịu để quân Anh, Phổ, Áo và Nga nay mai tiến vào thủ đô hơn là để cho các khu ngoại ô thợ thuyền, những người muốn kháng chiến chống xâm lược, hình như đã bắt đầu tiến vào vũ đài chính trị.

Tối 22, khi được tin Napoléon đi Malmaison và ông đã nhất quyết thoái vị thì các đám đông dần dần giải tán. Tình trạng tư tưởng của một bộ phận trong số thợ thuyền đã tham gia các cuộc biểu tình ấy được bộc lộ một phần qua cái thực tế là ngoài số nhân dân lao động ở chính thủ đô, thường thường trong mùa hè còn có thêm hàng ngàn thợ xây từ các tỉnh kéo đến thủ đô để xây dựng nhà cửa và đường phố. Họ là thợ đẻo đá, thợ mộc, thợ khoá, thợ sơn, thợ lợp, thợ thảm, thợ móng...v.v. So với công nhân ở Paris thì những người công nhân làm thời vụ ấy gắn bó với nông thôn - nơi mà từ đó họ ra đi nhiều hơn. Vừa là nông dân vừa là công nhân nên họ càng căm ghét dòng họ Bourbon hơn và họ coi Napoléon là người bảo vệ họ chống lại dòng họ Bourbon ngóc đầu dậy. Những người ăn mặc sang trọng không chịu hô theo quần chúng: ”Không được thoái vị” đã bị họ nghi là ”quý tộc” và đã bị họ hành hung chí tử, bỏ mặc cho chết ngoài đường phố.

Quần chúng nhân dân liên tiếp tụ tập hết cuộc này đến cuộc khác. Một người đã chứng kiến biến cố xảy ra ở Paris, đã viết: ”Chưa bao giờ nhân dân, những người phải đem xương máu ra chiến đấu, lại tỏ ra gắn bó với Hoàng Đế đến như vậy”. Tình hình ấy đã diễn ra không phải chỉ trước khi thoái vị, mà cả những ngày 23, 24, 25 tháng 6, các đám đông hàng vạn quần chúng vẫn tiếp tục biểu tình phản đối cái sự việc đã rồi ấy.

Ngày 28/6, Hoàng Đế rời Malmaison để đi ra bờ biển Đại Tây Dương, ông quyết định sẽ đáp tầu buồm từ bến Rochefort để sang Châu Mỹ. Theo lệnh của Bộ Hải Quân, hai chiếc tàu đã được làm cho Hoàng Đế. Hồi 8 giờ sáng ngày 3/7, khi Napoléon đến Rochefort thì các tàu buồm đã sẵn sàng ra khơi, nhưng không thể rời bến được vì có một hạm đội Anh đang bao vây chặt bờ biển. Napoléon đã chờ đợi. Đương nhiên là ông lần lữa ngày này qua ngày khác. Giới văn học lãng mạn thời kỳ 1830 đã cho rằng ”trong các vinh quang của Hoàng Đế còn thiếu cái anh hùng tuẫn tiết”, cho rằng thiên truyền kỳ của Hoàng Đế ắt đã không hoàn chỉnh và vĩ đại đến thế nếu như nó không được nhắc mãi mãi vào tâm trí người đời bằng hình ảnh của một vị thần Prometheus mới bị xiềng vào núi đá và cho rằng Napoléon đã rất hiểu điều đó nên ông đã không muốn để cho thiên anh hùng ca của mình kết thúc một cách khác. Dù sao chăng nữa, về sau này, chính Napoléon cũng không bao giờ giải thích một cách thỏa đáng xử sự của mình lúc đó. Sự có mặt của ông ở Rochefort bị lộ, và ngày ngày, hàng vạn người đã đến bên cửa sổ nơi ông ở vừa hô lớn: ”Hoàng Đế muôn năm!”. Cuối cùng ngày 8/7, Napoléon đã xuống một chiếc tàu buồm và rời bến, nhưng đã phải cập ngay vào đảo Aix, về phía Tây Bắc Rochefort, vì hạm đội Anh đã bịt tất cả các lối ra đại dương.

Napoléon lên bờ và mọi người đều biết ngay. Thủy thủ, bộ binh, dân đánh cá, tất cả dân chúng các vùng lân cận vội vã đổ về phía chiếc tầu. Binh lính đồn trú ở đảo đã xin ông Hoàng Đế đi duyệt đội ngũ, và khi được ông Hoàng Đế nhận lời, họ đã vui sướng tràn trề. Ông cũng đã đi kiểm tra các pháo đài đã được xây dựng theo kiểu của ông khi xưa.

Khi trở lại đất liền, Napoléon được biết rằng Paris hạ lệnh chỉ được nhổ neo khi không có hạm đội Anh ở ngoài khơi. Nhưng tàu Anh sẵn sàng chiến đấu, vẫn đang tuần tiễu ngoài cửa biển.

Napoléon bèn quyết định. Bên cạnh Hoàng Đế có công tước Rovigo, Montholon, Thống Chế Bertrand, Las Cases và các sĩ quan trung thành, cuồng tín của đại quân. Napoléon phái Savary và Las Cases đến thương thuyết với quân Anh xem hạm đội Anh có ưng thuận để các tàu buôn Pháp chở Napoléon sang Châu Mỹ không. Chỉ huy hạm đội Anh Maitland tiếp đón trên tàu Bellerophon và đã từ chối một cách nhã nhặn nhưng kiên quyết. Maitland nói: ”Giả dụ nếu nước Anh quyết định ưng thuận cho Napoléon được yên ổn đi Châu Mỹ, thì ông ta có gì đảm bảo là sau này sẽ không quay trở về để lại làm cho nước tôi và Châu Âu phải chịu hy sinh xương máu, hao tổn tiền bạc như đã phải chịu không?” Savary đã trả lời rằng cuộc thoái vị lần này khác rất xa với cuộc thoái vị năm 1814, lần này Hoàng Đế đã tự nguyện rời bỏ chính quyền, mặc dù Hoàng Đế vẫn có thể ở lại trên ngôi và tiếp tục chiến đấu ngay cả sau trận Waterloo, rằng Hoàng Đế đã kiên quyết và vĩnh viễn rút lui về với cuộc sống riêng tư. Maitland nói: ”Nếu là như vậy, tại sao ông ta không xin sang nương náu ở nước Anh?”. Khi kết thúc cuộc gặp gỡ, các phái viên của Napoléon đã không được một lời hứa hẹn, cũng không được trả lời về điểm chủ yếu: Liệu có nước Anh có coi Napoléon là tù binh không?

Khi Savary và Cases quay trở về tàu của Napoléon, và khi các thủy thủ và sĩ quan của hai tàu buồm pháp biết tin rằng Hoàng Đế có thể rơi vào tay quân Anh, thì toàn thể thủy thủ và sĩ quan của hai tàu buồm Pháp ầm ầm phẫn nộ. Thuyền trưởng Ponée, chỉ huy chiếc tàu thứ hai đã tuyên bố với tướng Montholon: ”Tôi đã thăm dò các sĩ quan và thủy thủ của tôi. Tôi phát biểu ý kiến đây là nhân danh họ và cá nhân tôi...”. Sau câu mở đầu đó, Ponée trình bày kế hoạch của mình: Chiếc tàu Méduse của ông ta bắt đầu tập kích tàu Bellerophon trong đêm tối ắt sẽ giữ được quân Anh lại trong hai tiếng đồng hồ, dĩ nhiên là tàu Méduse sẽ bị hy sinh, nhưng khoản thời gian đó sẽ đủ để tàu Xander chở Hoàng Đế vượt ra khơi bởi vì số còn lại của hạm đội Anh còn ở xa họ chỉ còn vài chiếc tàu nhỏ, không đủ sức cản nổi một tàu chiến như chiếc Xander. Thủy thủ và sĩ quan trên tàu Méduse ai nấy đều tuyên bố sẵn sàng hy sinh để cứu Hoàng Đế.

Khi biết đề nghị đó, Napoléon nói với Montholon rằng ông không bằng lòng chấp nhận một sự hy sinh như vậy, ông không còn là Hoàng Đế nữa, và không thể để một chiếc tàu buồm Pháp hy sinh cùng với toàn bộ thủy thủ để cứu một cá nhân bình thường. Sau đó, Napoléon rời tàu Xander để đi đảo Aix. Vài sĩ quan trẻ tuổi đảm nhiệm bí mật đưa Napoléon xuống một chiếc tàu nhỏ để chở ông đến đảo.

Nhưng Napoléon đã tự định đoạt số phận mình. Las Cases quay trở lại gặp Maitland biết là Napoléon đã quyết định trao số phận của ông vào tay nước Anh. Maitland cam kết mặc dầu mình không có trách nhiệm gì đối với Hoàng Đế, nhưng Hoàng Đế cũng sẽ được tiếp đón thích đáng ở trên tầu của ông ta.

Ngày 15/7/1815, Napoléon xuống chiếc tàu nhỏ ”Epervier” để ra tàu Bellerophon. Napoléon đã mặc quần áo mà ông ưa thích nhất, bộ quân phục cận vệ và đội chiếc mũ nhỏ nổi tiếng. Đứng trước đội ngũ thủy binh tề chỉnh, viên thuyền trưởng thuyền Epervier vừa hô to ”Hoàng Đế muôn năm!” vừa thi hành mệnh lệnh của Napoléon. Tàu Epervier chạy tới sóng hàng bên cạnh tàu Bellerophon. Dưới chân cầu thang tàu, thuyền trưởng Maitland đã rất kính cẩn chào đón Hoàng Đế. Khi lên boong tàu Bellerophon, Hoàng Đế thấy toàn bộ thủy thủ của chiếc chiến hạm Anh xếp hàng trước mặt mình và Maitland đã giới thiệu các sĩ quan với ông Hoàng Đế. Ngay sau đó, Napoléon lui vào căn buồng tốt nhất của chiếc hạm do viên thuyền trưởng đã bố trí cho ông.

Kẻ thù mạnh nhất, dai dẳng nhất, đáng sợ nhất, mà nước Anh đã gặp phải trong lịch sử, đã nằm trong tay họ.

CHƯƠNG 17

trên đảo saint helena
1

Đầu thế kỷ thứ XVI, Vasco da Gama, một trong những người Bồ Đào Nha thám hiểm vùng bờ biển phía Nam Đại Tây Dương đã tìm thấy một hòn đảo nhỏ bé, hoang vu ở vĩ tuyến Nam 15 độ rưỡi. Ngày ấy là ngày 21 tháng 5 năm 1501, theo lịch của nhà thờ Thiên Chúa Giáo là ngày Đức Saint Helena. Do đó tên ấy đã được dùng để đặt tên cho đảo. Vào thế kỷ thứ XVII, đảo thuộc người Hà Lan, nhưng đến năm 1673 đã bị người Anh vĩnh viễn cướp đoạt. Công ty Phương Đông của Anh đã dùng đảo làm một chặng đường dừng tàu trên đường Anh - Ấn.

Ngay sau khi được tin Napoléon đã ở trên tàu Bellerophon, Chính Phủ Anh bèn quyết đày Napoléon ra đảo. Bờ biển Châu Phi là nơi gần nhất cũng cách đảo ngót 2.000km; từ nước Anh đến đảo Saint Helena, tàu buồm của thời đó phải đi từ hai tháng rưỡi tới ba tháng. Vị trí địa dư ấy của đảo đã ảnh hưởng quyết định đến nghị quyết của chính phủ Anh. Sau Một Trăm Ngày, hình như Napoléon còn đáng sợ hơn cả trước khi diễn ra hành động cuối cùng của thiên hùng ca của ông. Nếu như ông lại xuất hiện trên đất Pháp thì lại một lần nữa đế chế có thể tái sinh và một cuộc chiến tranh mới ở Châu Âu lại có thể nổ ra.

Nằm chơi vơi giữa biển cả mênh mông, xa xôi với mọi khu vực đất liền, đảo Saint Helena đã là một đảm bảo để Napoléon không trở về. Những nhà thơ lãng mạn và khuynh hướng viết sử dân tộc chủ nghĩa của Pháp đã coi hòn đảo là nơi mà người Anh lựa chọn dành riêng vào việc đày đọa cho người tù binh của họ chóng chết. Sự thật không phải thế. Khí hậu ở đảo Helena rất tốt lành. Vào tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình ban ngày khoảng 24 độ, tháng lạnh nhất là 18 độ rưỡi. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21 độ. Ngày nay, ở đó chỉ còn ít những cánh rừng lớn, nhưng trước đây một thế kỷ, đảo còn rất rậm rạp. Nước ăn trong lành thơm tho, mưa nhiều nên đất đai ẩm ướt, cây cỏ um tùm tươi tốt, chim muông ríu rít. Đảo rộng 122km vuông, vách đá dựng đứng, xanh ngắt dường như trong lòng biển cả mọc ra.

Khi người ta báo Napoléon rằng sẽ bị đưa ra tàu buồm Northumberland đi Saint Helena, ông đã phản đối rằng người ta không có quyền coi ông ta là tù binh. Sau hai tháng rưỡi lênh đênh trên mặt biển, ngày 15/10/1815, chiếc tàu đã đưa Napoléon đến đảo và ông đã sống những ngày cuối cùng ở đó.

Số người theo Napoléon đi đày rất ít, vì phần lớn những người xin đi theo Napoléon ra đảo Helena đã bị Chính Phủ Anh từ chối. Cùng đi với ông chỉ có vợ chồng Thống Chế Bertrand, vợ chồng tướng Montholon, tướng Gourgaud, Las Cases và con trai. Ngoài ra còn có người hầu phòng Marchand và vài người hầu phòng khác, trong đó có Santini, người đảo Corsica. Đầu tiên Napoléon ở một ngôi nhà không tốt lắm, sau đó đến một ngôi rộng rãi hơn một chút thuộc quyền cai trị của đô đốc Corbière, từ tháng tư năm 1816 cho tới khi Napoléon chết thì đặt dưới quyền cai trị của viên toàn quyền Hudson Lowe. Lowe là một quân nhân cục cằn, đần độn và thiển cận. Hắn sợ mọi thứ trên đời và sợ nhất là người tù của hắn. Sợ trách nhiệm, chỉ lo Napoléon trốn mất nên hắn sống trong lo lắng khủng khiếp. Trong khi ấy, theo chỉ thị của Chính Phủ Anh thì Napoléon được tự do, đi đâu, muốn đi bộ, hoặc cưỡi ngựa, muốn tiếp ai hay không là tuỳ Napoléon. Ngay từ đầu, Napoléon đã không ưa Hudson Lowe. Napoléon thường không tiếp Lowe, không dự tiệc do Lowe mời ”tướng Bonaparte” (nước Anh tuyên chiến với Napoléon từ năm 1803, từ thời Napoléon chưa lên ngôi Hoàng Đế). Trên đảo cũng có đại diện của các cường quốc: Pháp, Nga, Áo. Đôi khi Napoléon tiếp các hành khách người Anh hay người nước khác, khi họ dừng lại ở Helena, trên đường đi Ấn Độ, hay Châu Phi, hoặc khi họ quay trở về.

Một đội quân được phái đến bảo vệ đảo, đóng ở Jamestown, cái thị trấn nhỏ độc nhất ở Helena, cách Longwood khá xa. Đáng chú ý là các sĩ quan và binh lính của đội quân bảo vệ này không những chỉ tỏ vẻ kính trọng Napoléon, mà đôi khi còn bộc lộ chút tình cảm có tính chất sùng bái. Binh lính thường gửi hoa tặng Napoléon và xin những người hầu cận cho họ được trộm xem mặt Napoléon. Lâu về sau, khi nói đến người tù đã làm họ phải sống nhiều năm trên một hòn đảo hoang vu, cô quạnh, không phải các sĩ quan đã không tỏ ra có thiện cảm. Những mối cảm tình ấy đã không thoát khỏi sự chú ý của các nhân viên những cường quốc có nhiệm vụ giám sát Napoléon ở Helena. Bá tước Balmain, đại diện cho Aleksandr đệ nhất tuyên bố: ”Điều lạ lùng nhất là người tù binh bị mất ngôi, bị canh gác bốn bề vẫn dội ảnh hưởng đến tất cả những ai đến gần ông ta...Những người Pháp thì run lên trước con mắt ông ta và họ coi rằng được phục vụ ông ta là một niềm hạnh phúc thực sự... Những người Anh thì tỏ thái độ sùng kính khi đến gần ông ta. Ngay cả những người canh gác ông ta cũng cầu mong được ông ta nhìn họ, tìm cách để được ông ta nói với họ, dù chỉ là một đôi tiếng. Không một ai dám cư xử ngang hàng với ông ta”.

Cái triều đình bé nhỏ của Napoléon, đã theo ông ta đảo Saint Helena và đóng đô với ông ở Longwood, cũng cãi cọ, đối phó với nhau đúng như khi còn ở Paris, trong cung điện Tuileries. Las Cases, Montholon, Gourgaud thì tôn sùng Napoléon, coi Napoléon là Thượng Đế của họ, và ghen tị lẫn nhau. Gourgaud đã đi tới chỗ đòi đánh nhau với Montholon, chỉ đến khi ông Hoàng Đế nổi giận can thiệp vào mới chấm dứt được cuộc cãi lộn. Ba năm sau, Napoléon đã viện nhiều cớ để trả Gourgaud về Châu Âu, thật ra chỉ vì Napoléon đã quá mệt do đầu óc mê tín dị đoan và tính nết kỳ cục của Gourgaud. Napoléon cũng đã phải chia tay với Las Cases, người mà Hudson Lowe đã bức phải rời đảo vào năm 1818. Las Cases đã ghi lại những cuộc chuyện trò với Napoléon, thường do chính Napoléon đọc cho viết, và trong số những bút ký viết về Helena thì chắc hẳn những ghi chép ấy là một công trình đáng chú ý nhất. Khi Las Cases phải đi, Napoléon đã không tìm được người thư ký nào làm tròn nhiệm vụ và có học thức như vậy để thay thế. Vì vậy, chúng ta được biết rất ít về những năm cuối cùng của ông Hoàng Đế.

2

Tuy không hề thổ lộ với cái triều đình bé nhỏ của ông, nhưng tất cả đều nhận thấy Napoléon sầu muộn u uất. Đâu phải vì những sự quấy nhiễu của Hudson Lowe, bởi chung những sự quấy nhiễu ấy dù có ti tiện và khó chịu đến đâu cũng không thể làm Napoléon bị tổn thương sâu sắc, vả chăng với Napoléon, có bao giờ ông thừa nhận Hudson Lowe là viên toàn quyền cai trị ông. Cũng không phải vì khí hậu ở đảo, một thứ khí hậu điều hòa và trong lành. Cũng không phải vì đời sống vật chất của ông, chẳng hề kém viên quan toàn quyền. Cái đã giết ông chính là sự ăn không ngồi rồi. Napoléon đọc sách rất nhiều, đi chơi, bách bộ, cưỡi ngựa, đọc cho Las Cases viết. Nhưng lúc cuộc sống đã thu hẹp lại như vậy, sau khi sống cả cuộc đời với những ngày làm việc 15, thậm chí 18 tiếng đồng hồ, thì sự nhàn rỗi ấy đối với Napoléon là điều không sao chịu đựng nổi.

Napoléon che giấu tâm trạng của mình, cố gắng trò chuyện và tỏ ra vui vẻ với mọi người xung quanh và hình như cũng có lúc làm ông khuây khoả đôi chút. Ông đã kiên trì chịu đựng hoàn cảnh của ông. Suốt cuộc đi biển trong con tàu ”Northumberland”, Napoléon đã bắt đầu đọc cho Las Cases, với Montholon, với Gourgaud, những bức thư viết từ đảo cho tới khi người thư ký ấy ra đi. Những cuộc đàm luận với Las Cases, với Montholon, Gourgaud, những ”Bức thư viết từ đảo” do Napoléon đọc và duyệt lại, mà sau này Las Cases xuất bản theo chỉ thị của Napoléon nhưng không ký tên Napoléon, những nguồn tài liệu đó đã không nói lên được sự thật lịch sử của các sự kiện, mà chỉ nêu lên những hình ảnh bên ngoài của chúng như Napoléon mong muốn để lại cho đời sau.

Trong tất cả những ghi chép về những cuộc gặp gỡ ấy với Napoléon, trong tất cả những tập hồi ký đáng tin cậy đôi chút ấy (Hồi ký của Las Cases, của Montholon và của Gourgaud, của Antommarchi và của O’Meara thì chẳng có giá trị gì), người ta có thể rút ra nhiều điều cho tập ”Truyền Kỳ Napoléon”, nhưng rút ra được rất ít chất liệu có giá trị và chân thật giúp cho sự xác định tính chất của chính con người Napoléon và lịch sử triều đại của ông. Thiên ”Truyền Kỳ Napoléon” sau này đã được dùng để đóng một vai trò lịch sử rất tích cực, đã biết tự sáng tạo trước của Victor Hugo và Heine, Goethe và Schiller, Pushkin và Lermontov, Balzac và Beranger, Mickievic và Tovianski; nó đã bắt đầu sự sáng tạo cùng đội ngũ của các nhà thơ, nhà báo, nhà chính trị và nhà sử học mà tư tưởng và tâm hồn họ, nhất là trí tưởng tượng của họ, đã gắn bó từ sâu sắc rất lâu với nhân vật vĩ đại đó, nhân vật mà sau trận Jena, Hegel cho là hiện thân của lịch sử nhân loại. Thiên truyền kỳ ấy đã bắt đầu tự sáng tạo ở đảo Saint Helena.

Nhưng trong cuốn sách này, chúng ta chỉ nói về Napoléon và tuyệt nhiên không nói về truyện ”Truyền Kỳ Napoléon”.

Do đó, những tài liệu viết trong thời gian ông Hoàng Đế ở đảo cung cấp cho chúng ta rất ít vấn đề. Ông ”Thượng Đế” đọc những lời lẽ khẳng định, và những tín đồ của ông đã ghi chép lại, Sự sùng bái, tin yêu, tôn thờ không phải là những tình cảm thuận lợi cho việc phân tích phê phán. Napoléon nói với những người thân cận của ông không phải là cho họ nghe, mà cho hậu thế, cho lịch sử. Phải chẳng lúc đó Napoléon vẫn tin chắc rằng triều đại của ông sẽ được triệu về để trị vì nước Pháp một lần nữa? Chúng ta không biết điều đó, nhưng Napoléon đã nói với các cận thần tựa hồ như ông đã đoán trước được việc ấy. Cũng đã có lần Napoléon quyết đoán rằng con trai ông sẽ trị vì.

Tất cả những nhận xét và những lời bình luận, do Napoléon đọc ra, nói về các cuộc chiến tranh của ông, về tài thao lược của các danh tướng khác và về nghệ thuật chiến tranh nói chung, những điều đặc biệt bổ ích. Trong mỗi lời, người ta đều cảm thấy Napoléon quả là bậc thầy, là người am hiếu và là người say mê nghề nghiệp của mình. Có lần Napoléon nói: ”Nghệ thuật chiến tranh thật là lạ lùng, tôi đã chiến đấu trong 60 trận, và tôi cam đoan rằng tôi chẳng học được gì cả ngoài những điều mà tôi đã học được từ những trận đầu tiên”. Napoléon đánh giá cao tướng Turenne và tướng Condé. Rõ ràng Napoléon đã coi mình là một viên tướng tài nhất của các thời đại, mặc dầu người ta chưa bao giờ nghe Napoléon nói rõ điều đó. Napoléon hãnh diện đặc biệt về trận Austerlitz, trận sông Moscow, trận chiến dịch nước Pháp năm 1796 - 1797, và chiến dịch cuối cùng, tức là chiến dịch 1814. Ông coi trận thất bại của quân Áo ở Wagram là một trong những thắng lợi lớn nhất của ông về mặt chiến lược. Nếu lúc đó, Turenne và Condé có mặt ở Wagram thì ắt hẳn họ đã thấy ngay nơi hiểm yếu của trận địa cũng như ông và ông nói thêm rằng, ”nhưng còn Caesar và Hannibal thì không thể thấy được”. Napoléon khẳng định rằng: ”Nếu có Turenne bên tôi để giúp đỡ tôi tác chiến, hẳn tôi đã làm bá chủ thế giới”. Theo Napoléon, một quân đội giỏi phải có những sĩ quan biết xử trí đúng với tình huống.

Có lần, Napoléon đã tỏ ý tiếc rằng ông đã không chết ở bên sông Moscow hay ở điện Kremlin. Nhưng cũng có lúc, khi trở về với ý nghĩ trên. Napoléon lại muốn chết ở Dresden hay tốt hơn nữa, ở Waterloo;Napoléon tự hào nhắc lại giai đoạn Một Trăm Ngày và lòng tin yêu của nhân dân đối với cá nhân ông khi ông đổ bộ lên vịnh Juan và sau trận Waterloo.

Napoléon tiếc mãi việc bỏ Ai Cập và việc lui quân từ Syria về, sau khi không vây Saint Jean d’Acre, vào năm 1799. Theo ý Napoléon đáng lẽ phải ở lại Phương Đông, chinh phục các nước Ả Rập, Ấn Độ, làm Hoàng Đế Phương Đông chứ không phải là Phương Tây. ”Nếu tôi hạ thành Acre thì tôi đã tới vùng Constantinople và nước Ấn Độ”. Napoléon nhắc lại rằng ai chiếm được Ai Cập sẽ làm chủ được Ấn Độ (ta nên chú ý là điều này hoàn toàn nhất trí với chiến lược hiện đại). Về việc người Anh thống trị nước Ấn Độ, Napoléon nói rằng ông chỉ cần đưa đến đó một dúm người là đã có thể tống cổ được người Anh. Napoléon thường nói nhiều đến trận Waterloo, và cho rằng nếu không xảy ra những sự bất ngờ không thể lường trước được, và nếu bên cạnh ông có những tướng như như Bessières, Lannes (đã chết trong những chiến dịch trước), nếu có Murat thì trận đánh đã kết thúc khác. Mỗi khi nghĩ đến thắng lợi của trận đánh cuối cùng ấy lại thuộc về người Anh, Napoléon lấy làm vô cùng buồn bực.

Việc xâm chiếm Tây Ban Nha đã là sai lầm đầu tiên của ông (cái ung thư Tây Ban Nha) và khi nói đến ”sự hiểu lầm” đã đưa ông tiến vào Moscow, thì hồi ấy chưa thật nghiêm khắc với mình, song ông cũng nhận ra chiến dịch nước Nga là sai lầm thứ hai, nặng nề, tai hại hơn cả chiến dịch Tây Ban Nha. Nhưng không phải Napoléon chỉ nhận trách nhiệm của mình đến như vậy mà thôi, ông còn cho rằng năm 1812, đến Dresden, khi nhận được Bernadotte - lúc đó đã trở thành thái tử nước Thụy Điển - không có ý giúp mình đánh bại nước Nga, và nhà vua Thổ Nhĩ Kỳ đã ký hòa ước với Nga, thì đáng lẽ ông phải bỏ cuộc xâm lăng. Khi vào Moscow đáng lẽ phải rút ngay khỏi và rượt theo Kutuzov để tiêu diệt quân Nga. ”Cuộc chiến tranh đau đớn ấy với nước Nga đã đến với tôi do sự sai lầm; cái thủy thổ ác nghiệt ấy đã tàn phá cả một đạo quân... Rồi thì, cả thế giới chống lại tôi... Tôi đã chống cự lâu dài được như vậy, đã nhiều lần tôi tức khắc vượt qua được hết thảy và tôi đã ra khỏi đống hỗn độn ấy một cách oai hùng hơn bao giờ hết, phải chăng đó là một điều kỳ diệu?”.

Napoléon còn cho rằng khi ở Tilsit ông đã không xoá bỏ nước Phổ trên bản đồ thế giới cũng là một sai lầm. Napoléon cũng thú nhận rằng năm 1809 ông đã muốn thủ tiêu nước Áo, nhưng trận thất bại Essling của ông đã không cho phép ông làm điều đó, vì thế sau trận Wagram, mặc dầu nước Áo đã bị tổn thất vô cùng nặng nề, nó vẫn tiếp tục tồn tại.

Napoléon nhiều lần nhắc đến cái chết của công tước Enghien, tỏ ra không mảy may hối hận về việc đó nếu phải làm lại. Cũng không phải là không bổ ích khi nhận xét rằng cuộc tàn sát khủng khiếp - đã diễn ra trên chiến trường Châu Âu ròng rã hai mươi năm mà chính Napoléon cho rằng ông đã đóng vai trò quyết định - đã không hề bao giờ gợi cho Napoléon một chút u sầu, một cảm giác nặng nề và tâm hồn buồn bã, dù rằng đã thoáng qua chốc lát. Rõ ràng Napoléon thèm khát xâm chiếm, song trước hết là ”lòng quá say mê chiến tranh” đã chiếm lĩnh con người Napoléon.

Cô bé Betsy Balcombe, con một nhà thầu khoán người Anh sinh cơ lập nghiệp ở đảo, được Napoléon đặc biệt chú ý - muốn dạy cô bé tiếng Pháp, cô bé được ra vào nơi Hoàng Đế ở, được phép trò chuyện với Hoàng Đế. Và sau khi đã quen dạn, có lần Betsy và Jane, chị của cô bé đã hỏi rằng có thật Napoléon ăn thịt người không - chả vì lũ trẻ được nghe người ta nói vậy ở Anh - Hoàng Đế phá lên cười, nói rằng có ăn thịt người thật và vẫn sống bằng cách ấy. Napoléon khuây khoả khi các cô bé hoàn toàn nghĩ theo nghĩa đen của cái danh từ mà người lớn dùng để gọi mình: Con quỷ sứ đảo Corsica. Những tiếng đó với nghĩa bóng của chúng, đã đến tai Napoléon từ lâu trước khi quen cô bé Balcombe và chỉ làm cho Napoléon nhún vai khinh bỉ.

Sau khi li dị Joséphine, sau cái chết của Lannes ở Essling và Duroc ở Markersdorf, ở đời chỉ còn một người được Napoléon yêu dấu, đứa con trai ông, vua thành Roma, từ năm 1814 sống với mẹ là Marie Louise. Với những thời gian đầu ở đảo Helena, Napoléon tỏ ra tin tưởng rằng con mình sẽ trị vì, bởi từ này trở đi, ở Pháp người ta chỉ có thể dựa vào ”quần chúng bình dân”. Và triều đại bình dân đó chỉ có thể là triều đại của dòng họ Bonaparte, do nhân dân bầu cử.

Chính sự không nhất trí giữa tư tưởng và hành động ấy của Napoléon đã không cho phép ông, vào năm 1815, cầm đầu một phong trào quần chúng rộng rãi chống lại bọn Bourbon, bọn quý tộc và thầy tu, nhưng ngay ở đảo Helena, Napoléon vẫn còn cho rằng năm 1815 ông đã hành động đúng.

Ở đây, chỉ có một mâu thuẫn hiển nhiên, bắt đầu tự sự hiểu vấn đề không chính xác: Nền quân chủ của Napoléon không phải là nền quân chủ bình dân mà là ”tư sản” và Napoléon vẫn mơ ước cho con ông một chính quyền không dựa vào ý chí và quyền lợi của đông đảo quần chúng nhân dân và của các giai cấp lao động, nhưng dựa vào ý chí và quyền lợi của giai cấp tư sản. Sau trận Waterloo khi quần chúng vây quanh lâu đài của Napoléon yêu cầu Napoléon tiếp tục ở ngôi vua, Napoléon nói: ”Họ chịu ơn gì tôi? Tôi đã gặp gỡ họ, nhưng tôi đã để họ nghèo khổ”.

Và hồi đó ở Paris, cũng như sau này ở đảo Saint Helena, Napoléon nhắc lại với bá tước Montholon rằng năm 1815, sau khi đổ bộ ông đã gặp ở Pháp lòng căm thù cách mạng chống lại giai cấp quý tộc và tầng lớp tăng lữ, nếu ông muốn lợi dụng nó thì ông đã về Paris với ”hai triệu nông dân” đi theo; nhưng ông lại không muốn đứng đầu ”đám dân chúng ấy” vì ”chỉ nghĩ đến việc đó cũng không chịu nổi”. Rất rõ ràng là Napoléon vẫn giữ những khuynh hướng mà nhiều lần chúng ta đã nói tới. Nhưng bất thình lình, cuối cùng, do ảnh hưởng cụ thể của những tin tức trên báo chí và truyền miệng từ Châu Âu dội đến đảo Helena báo tin phong trào cách mạng sôi sục ở Đức...v.v. Ông Hoàng Đế bỗng nhiên thay đổi trận tuyến, và năm 1819, đã tuyên bố, cũng với Montholon, nhưng điều ngược hẳn lại những lời từ trước tới nay; ”Đáng lẽ tôi phải xây dựng đế chế với sự ủng hộ của những người Jacobin”. Cuộc cách mạng Jacobin thực tế là một núi lửa, nhờ nó người ta có thể dễ dàng đánh đổ nước Phổ. Và trong tư tưởng của Napoléon, nếu cách mạng thắng lợi ở Phổ, thì Phổ sẽ hoàn toàn thuộc về quyền ông ngay, và toàn Châu Âu sẽ rơi vào tay ông ta bằng ”vũ khí của tôi là lực lượng Jacobin”. Thực tế là khi nói đến một cuộc cách mạng tương lai hay có thể xẩy ra, tư tưởng của Napoléon không vượt quá phạm vi ”chủ nghĩa Jacobin” tiểu tư sản và không tính đến một sự đảo lộn hẳn lại xã hội. Đối với Napoléon đã có lúc cuộc cách mạng Jacobin bắt đầu hiện ra như một bạn đồng minh mà ông đã lầm lẫn cự tuyệt.

3

Cuộc nói chuyện cuối cùng và quan trọng ấy với Montholon về những người Jacobin và cách mạng là vào ngày 10/3/1819, và đã là một trong những cuộc gặp gỡ cuối cùng của Napoléon với những người thân cận của ông.

Sau đó những tức về ông Hoàng Đế ngày càng ít ỏi, mơ hồ và đứt đoạn. Las Cases không còn ở đấy nữa, vì đã bị Hudson Lowe đuổi đi, cả Gourgaud cũng không, người mà chính Hoàng Đế đã cho về. Việc bác sĩ người Ireland là O’Meara còn ở lại với Napoléon một thời gian, lợi dụng công việc để do thám và báo cáo với viên toàn quyền tình hình ở Longwood. Trong số những người khác, có bác sĩ Antommarchi, do gia đình Napoléon gửi từ Châu Âu sang, một viên thầy thuốc dốt nát và một người viết hồi ký không trung thực, mà Napoléon đã không cho giáp mặt. Chỉ còn Bertrand, Montholon và người hầu hạ là những người đã hiểu biết về Napoléon nhiều nhất trong hai năm cuối cùng của đời ông.

Từ 1819, Napoléon càng ngày càng đau ốm luôn. Đến năm 1820, bệnh càng nặng thêm, và đến đầu năm 1821, viên thầy thuốc người Anh là Arnott, được Napoléon cho phép đến thăm bệnh, đã thấy bệnh tình khá nghiêm trọng. Tuy vậy, người ta nói cũng có lúc bệnh tình thuyên giảm trong một thời gian dài mà Hoàng Đế đi dạo chơi ở ngoài được. Đến cuối năm 1820 những ý kiến và những ký ức của Napoléon về triều đại của mình - do ông ta kể lại cho hai người thân tín là Las Cases và bá tước Montholon chép; Las Cases chép về những năm trước cho đến năm 1818, còn Montholon chép một phần về những năm ấy và một phần từ năm 1818 đến hết năm 1820 - chiếm hai cuốn đồ sộ trong văn tập của Las Cases (những lần xuất bản cuối cùng) và 8 cuốn trong văn tập Montholon (lần xuất bản năm 1847), đó là chưa kể đến hai tập hồi ký do Montholon viết dành riêng về thời gian Hoàng Đế ở đảo Saint Helena. Cuối năm 1820, Napoléon thôi không đi dạo chơi trên xe nữa. Còn cưỡi ngựa thì ông đã thôi từ lâu.

Tháng 3/1821, những cơn đau ghê gớm, mà Napoléon đã âm thầm chịu đựng, luôn luôn diễn ra. Từ lâu, Hoàng Đế đã đoán chắc rằng mình bị bệnh ung thư, một bệnh gia truyền đã làm cho ông là Carlo Bonaparte chết năm 40 tuổi.

Vấn đề này, cũng nên nhắc lại rằng khoảng mười lăm hay hai mươi năm gần đây, trong các tập san y tế Pháp và Đức, đã nhiều lần người ta đưa giả thuyết là căn bệnh đã giết Napoléon không phải là ung thư, mà là một bệnh đặc biệt ở vùng nhiệt đới. Họ cho rằng Napoléon đã nhiễm bệnh này từ hồi còn trẻ, trong chiến dịch Ai Cập và Syria và khi ông trở lại vùng nhiệt đới thì bệnh lại đã phát triển.

Ngày 5/4, bác sĩ Arnott đã thông báo cho những người bạn đồng hành của Napoléon, Thống Chế Bertrand và bá tước Montholon, rằng bệnh tình của Napoléon cực kỳ trầm trọng. Khi cơn đau dịu đi, Napoléon cố giữ tinh thần cho những người chung quanh mình. Hoàng Đế pha trò về bệnh của mình: “Ung thư này chính là Waterloo đã nhiễm vào bên trong phủ tạng”.

Ngày 13/4, Napoléon đọc cho bá tước Montholon viết chúc thư, sau đó ông ta tự tay viết và ký vào, ngày ấy là 15/4. Trong chúc thư ấy người ta đã đọc được những dòng chữ (hiện khắc vào tấm đá cẩm thạch đặt trên mộ Napoléon trong điện Invalides): ”Tôi muốn hài cốt của tôi sẽ được đặt bên bờ sông Seine, giữa lòng nhân dân Pháp mà tôi xiết bao yêu mến”. Trong chúc thư, Napoléon đã liệt Marmont, Augereau, Talleyrand, Lafayette vào tội phản bội, đã hai lần giúp cho kẻ thù của nước Pháp chiến thắng; hiển nhiên là vì Augereau đã to tiếng cãi lộn với Napoléon vào hồi tháng 4/1814, Lafayette thì vì đã phản đối Hoàng Đế ở Hạ Nghị Viện vào tháng 6 năm 1815. Sau này, hai nhận xét khắc nghiệt đó không được ai thừa nhận, ngay cả những người ở phe với Hoàng Đế, nhưng Hoàng Đế đã xác nhận sự nhơ nhuốc xấu xa của Talleyrand và Marmont. Trong chúc thư Napoléon còn định đoạt cả việc chia tài sản của mình: Cho Bertrand 50 vạn, hầu phòng Marchand 40 vạn francs, cho mỗi người hầu hạ ông ở đảo 10 vạn francs, cũng như cho Las Cases và các tướng lĩnh, quan chức khác hiện còn trên đất Pháp mà ông biết là họ vẫn trung thành với ông. Nhưng Napoléon đã dành phần lớn gia tài của mình, tới 200 triệu francs vàng, một nửa cho những binh lính, sĩ quan đã từng chiến đấu dưới quyền ông, một nửa cho các địa phương ở Pháp đã bị tổn thất vì cuộc xâm lăng năm 1814 và 1815. Trong chúc thư, người ta cũng tìm được một câu dành cho người Anh và Hudson Lowe: “Tôi chết sớm vì bọn tài phiệt Anh và kẻ thích khách của chúng ám sát tôi. Sớm muộn nhân dân Anh sẽ trả thù cho tôi”. Napoléon căn dặn con trai ông không bao giờ chống lại nước Pháp và phải nhớ rằng: ”Con sinh ra đã là hoàng tử của nước Pháp”.

Napoléon rất bình tâm đọc những ý muốn cuối cùng của mình rồi tự tay viết lại. Ba ngày sau Napoléon còn đọc cho Montholon viết một bức thư gửi cho viên toàn quyền đòi người Anh phải cho tất cả những người tuỳ tùng và phục vụ ông hồi hương về Châu Âu sau khi ông chết đi.

Trong đêm 21/4, vào hồi 4 giờ sáng, bất thần Napoléon nghĩ đến việc đọc cho Montholon viết một dự án cải tổ quân đội quốc gia Pháp để có thể sử dụng hợp lý quân đội trong công cuộc bảo vệ đất nước chống lại ngoại xâm.

Ngày 2/5, các bác sĩ Arnott, Shortt và Michaels báo cho mọi người biết là Hoàng Đế sắp mất. Cơn đau kịch liệt đến nỗi trong đêm ngày 5/5, Napoléon như mê sảng, lăn xuống đất, ghì chặt Montholon với sức mạnh phi thường và cả hai đều lăn lộn trên nền nhà. Người ta đặt lại Napoléon lên giường, ông mê man nằm im trong mấy giờ liền. Mắt mở mà không hề kêu rên. Vả chăng, trong suốt những cơn đau ghê gớm nhất, Napoléon hầu như không hề kêu rên, tuy cựa quậy rất nhiều. Kẻ đứng đầu giường, người đứng trên ngưỡng cửa, những người thân cận và những người hầu hạ Napoléon tề tựu bên cạnh người sắp từ trần, Napoléon mấp máy đôi môi, nhưng hầu như không ai nghe rõ được điều gì, vì hôm ấy một trận bão khủng khiếp bốc trên đại dương, lay tung cây cối, cuốn mất một số nhà cửa ở đảo và làm chấn động cả vùng Longwood.

Ngay khi được tin báo rằng Napoléon hấp hối, Hudson Lowe và các sĩ quan quân đội Anh đồn trú ở đảo vội vàng tới nơi và trú ở những phòng bên. Những người đứng ở đầu giường Napoléon nghe được lời cuối cùng sau đây: ”Nước Pháp... đứng đầu quân đội...”. 6 giờ chiều ngày 5/5/1821, Napoléon trút hơi thở cuối cùng.

Marchand vừa khóc vừa đắp lên thi hài Napoléon tấm áo choàng mà ông mặc ngày 14/7/1800 ở Marengo. Viên toàn quyền và các sĩ quan vào, kính cẩn nghiêng mình chào người quá cố. Lúc này Bertrand mới để cho đại diện các cường quốc vào phòng Napoléon lần đầu tiên, kể từ khi họ đến đây, vì trước đây, Napoléon không bao giờ cho phép họ đến gần ông.

Bốn ngày sau, linh cữu rời khỏi khu Longwood. Ngoài đoàn tuỳ tùng và những người hầu của Napoléon ra, toàn thể đơn vị canh gác đảo, tất cả lính thủy và sĩ quan hải quân có mặt trên đảo, tất cả những viên chức hành chính, do viên toàn quyền dẫn đầu, và hầu hết nhân dân đảo Saint Helena đều đi đưa đám. Khi hạ huyệt, một loạt đại bác vang rền: Người Anh dùng nghi lễ quân đội để vĩnh biệt ông Hoàng Đế quá cố.

CHƯƠNG 18

kết luận
1

Gắn liền với Napoléon là một hiện tượng lịch sử đã được mang tên “Chủ nghĩa Bonaparte” mà các nhà Marxist kinh điển đã rất chú ý nghiên cứu, và sự đánh giá của họ đều nhất trí và bổ sung hoàn chỉnh cho nhau. Trong khi trở lại nhiều lần và rất nhiền lần vấn đề chủ nghĩa Bonaparte, họ đã chú ý đến cả thời đại Napoléon đệ tam, và vạch ra một cách đúng đắn rằng nguồn gốc của cái hệ thống chính trị ấy bắt nguồn từ vụ Hoàng Đế Pháp đầu tiên. Nhưng trong khi Napoléon đệ nhất, nhằm củng cố nền chuyên chính của giai cấp đại tư sản, không những đã đấu tranh chống bọn Bảo Hoàng là những kẻ muốn làm chủ của ”chế độ cũ”, thì Napoléon đệ tam lại đã xây dựng đế chế của ông ta như một thứ vũ khí đấu tranh của giai cấp tư sản (chủ yếu của giai cấp đại tư sản) chống lại giai cấp thợ thuyền và những xu hướng dân chủ của giai cấp tiểu tư sản.

Trong phạm vi cuốn sách này, trước khi đề cập chủ nghĩa Bonaparte trong thời kỳ Napoléon đệ nhất trước hết cần phải làm sáng tỏ vai trò của Napoléon đệ nhất đối với vận mệnh của cuộc cách mạng tư sản Pháp, vào cuối thế kỷ thứ XVIII.

Lối viết sử tư sản cũ và hiện đại khẳng định rằng Napoléon đã hoàn thành tốt đẹp sự nghiệp của cuộc cách mạng. Chắc chắn là không phải như vậy. Napoléon đã nắm lấy và lợi dụng những thành quả của cách mạng về mặt phát triển sự hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản Pháp, nhưng ông ta lại đã dập tắt cơn giông tố cách mạng. Vì vậy, trong bất cứ chừng mực nào người ta cũng không thể coi Napoléon là người ”đã hoàn thành tốt đẹp cuộc cách mạng”, ngược lại Napoléon chỉ có nhiệm vụ thủ tiêu cách mạng.

Bóp chết được cuộc cách mạng, nền chuyên chính Napoléon, trước hết có ý nghĩa là giai cấp tư sản chiến thắng giai cấp vô sản thủ công nghiệp, chiến thắng quần chúng bình dân đã đóng vai trò cách mạng rất lớn lao từ năm 1789 đến năm 1794 cho tới ngày 9 tháng Nóng. Cùng lần ấy, tầng lớp nông dân hữu sản, mà Napoléon đã bảo vệ quyền lợi của họ chống lại những âm mưu phục hưng chế độ phong kiến, đã ủng hộ triệt để nền chuyên chính của ông.

Napoléon, kẻ đã bắn chết người Jacobin, trở thành vị đế vương độc tài và biến những nước Cộng Hòa bao quanh nước Pháp thành những vương quốc rồi đem phân phát cho anh em ruột, anh em họ và Thống Chế của mình; nhân vật lịch sử ấy đã hiển nhiên là thế, chứ không hề liên quan gì đến con người đáng lẽ ra đã hoàn thành tốt đẹp Cuộc Cách Mạng.

Và chỉ có lý tưởng hoá một cách dối trá mới có thể phủ nhận được điều đó. Thủ tiêu nền dân chủ, thiết lập uy quyền cá nhân tuyệt đối để trực tiếp bảo vệ cho các tầng lớp hữu sản và quyền bá chủ trên toàn cõi Châu Âu - đó là đặc điểm sự nghiệp của Bonaparte đệ nhất, và chỉ có thể chối cãi điều đó bằng cách bất chấp sự thật lịch sử nhằm duy trì vĩnh viễn và xác nhận ”thiên truyền kỳ Napoléon”, cái đã gây nên bao nhiêu đau khổ trong quá khứ và thật ra đã được bịa đặt để nhằm tác động tinh thần của quần chúng còn kém giác ngộ và còn đang do dự. Chung quy, thiên truyền kỳ ấy đã luôn luôn phục vụ cho những âm mưu phản động về mặt xã hội và chính trị, đặc biệt là thời kỳ 1830 trở đi.

Ở cuốn sách này, độc giả sẽ tìm thấy một số trong nhiều sự đánh giá cụ thể của Marx và đặc biệt là của Engels về thiên tài quân sự và về ảnh hưởng của những cuộc chinh phục của Napoléon đối với Châu Âu phong kiến. Những ai quan tâm đến vấn đề này mà đọc một cách có hệ thống toàn bộ tác phẩm của Marx và Engels thì sẽ còn tìm thấy rất nhiều nhận xét cùng một loại như vậy. Hơn nữa, với một thái độ hoàn toàn vô tư, không phải Marx và Engels chỉ giới hạn trong việc nêu rõ tiến bộ khách quan của Napoléon trong lịch sử nhân loại, mà còn vạch rõ vai trò Napoléon đã đóng: Vai trò người sáng lập ra cái Chủ Nghĩa Bonaparte phản động đã xéo nát những mầm mống của quyền tự do chính trị ở Pháp.

Marx và Engels đã sống trong thời kỳ đế chính thứ hai nhưng chắc chắn là hai ông đã chẳng cần đến cái kinh nghiệm sống phũ phàng đó mới thấu hiểu được Chủ Nghĩa Bonaparte - trong những điều kiện bắt nguồn từ sự bành trướng nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản vào thế kỷ thứ XIX - với tư cách là một chế độ chính trị đối nội và đối ngoại, chỉ có thể là phản động, bằng sự lừa bịp quần chúng một cách có hệ thống, và trong trường hợp cần thiết bằng những hành động quân sự phiêu lưu mạo hiểm.

2

Trong lĩnh vực đối ngoại, những khát vọng xâm lược, đế quốc chủ nghĩa, do quyền lợi của giai cấp đại tư sản Pháp xui khiến đã thúc đẩy Napoléon chống lại Châu Âu, và cái xã hội nửa phong kiến đang ran rã ấy đã không thể kháng cự được một cách có hiệu lực những trận tiến công đầu tiên của mình. Đồng thời, ách đô hộ của Napoléon tròng vào cổ các dân tộc bị chinh phục đã kích động làn sóng giải phóng dân tộc, còn như những ngón đòn mà Napoléon giáng vào nền kinh tế nước Anh thì đã góp phần nhóm thổi ngọn lửa cách mạng bùng lên một cách vững bền ngay trong lòng giai cấp thợ thuyền Anh.

Lý luận và thực tiễn của Napoléon về chiến tranh đã đóng vai trò lớn lao trong việc hủy diệt chế độ phòng kiến chuyên chế xây dựng trên chế độ nông nô đang thống trị Châu Âu hồi đó. Lý luận và thực tiễn ấy đã tạo ra những phương tiện mà Napoléon đã biết lợi dụng một cách tài tình. Không phải Napoléon mà chính là cách mạng đã đem lại khả năng thực hiện và đã đẻ ra những cuộc chiến đấu cường tập, chiến thuật đội hình phân tán kết hợp với việc sử dụng những trung đội mật tập, quy mô tổ chức những đạo quân khổng lồ gồm những binh sĩ có ý thức, những nguyên tắc mới trong việc tuyển binh; nhưng cũng lại chính Napoléon, chứ không phải người nào khác, đã chứng minh rằng người ta có thể sử dụng tất cả những cái đó như thế nào, với những kết quả như thế nào, và Engels từng nghiên cứu kỹ lưỡng các chiến dịch của Napoléon đã xác nhận rằng Napoléon đã là người đầu tiên dạy cách hiểu, cách nắm chắc, nói gọn lại là cách thấy triệt tất cả những sự biến hóa ấy. Trong lĩnh vực chiến tranh thời đó, không ai sánh được với Napoléon và ông đã vĩ đại hơn hẳn so với các lĩnh vực hoạt động khác của ông.

Theo Engels, Napoléon đã vượt xa vô cùng các vị tiền bối của ông và các tướng lĩnh cận đại đã học cách dùng binh của ông, đã cố gắng bắt chước ông trong một nghệ thuật có như vậy: ”... công lao bất diệt của Napoléon chủ yếu là ở chỗ đã tìm ra được cách sử dụng - những khối lớn quần chúng đã vũ trang mà những khối lớn ấy thì chỉ nhờ có cách mạng mới có thể xuất hiện được. Chiến lược và chiến thuật ấy đã được Napoléon làm cho hoàn thiện đến mức mà tướng lĩnh đương thời không có một ai có thể vượt nổi ông và họ chỉ có thể cố gắng bắt chước ông trong các cuộc hành binh rực rỡ nhất và may mắn nhất của họ mà thôi”.

Khi nghiên cứu những sự cải tiến trong nghệ thuật chiến tranh của Napoléon, Engels đã coi hai yếu tố sau đây là hai ”cái trục” trong phương pháp quân sự của Napoléon: “... Sự tập trung quy mô lớn những phương tiện tiến công: Ngựa, pháo, và tính cơ động của toàn bộ bộ máy tiến công ấy”.

Engels nhìn thấy ở Napoléon một người chỉ huy vĩ đại, ngay trong những chiến dịch mà Napoléon đã bị thất bại. ”Trong số những cuộc hành binh phòng ngự và những trận tiến công trực tiếp tiến hành trong những chiến dịch hoàn toàn nhằm mục đích phòng ngự, phải kể đến hai bài học đặc sắc nhất trong chiến dịch kỳ lạ nhất của Napoléon bằng việc Napoléon bị đầy ra đảo Elba, và chiến dịch năm 1815 chấm dứt bằng trận thất bại Waterloo và Paris đầu hàng. Trong quá trình hai chiến dịch đó, với những hành động nhằm mục đích hoàn toàn phòng ngự, viên tướng tổng chỉ huy ấy đã tiến công kẻ địch trên khắp các vị trí mỗi khi gặp thời cơ thuận lợi; tuy lực lượng luôn luôn ít hơn kẻ địch một cách rõ rệt mỗi lần xuất trận, Napoléon đã thất bại trong hai chiến dịch năm 1814 và năm 1815 là do những nguyên nhân ”hoàn toàn độc lập” với những kế hoạch tác chiến, với phương pháp thực hiện các kế hoạch đó của ông, nhưng nhất là vì quân số các lực lượng vũ trang đánh vào một quốc gia đã bị kiệt quệ bởi những cuộc chiến tranh liên tiếp trong suốt một phần tư thế kỷ”.

Engels nói: “Trận Austerlitz được coi là một trong những chiến thắng lớn nhất của Napoléon và là bằng chứng không thể bác bỏ được về thiên tài quân sự có một không hai của Napoléon”; bởi vì nếu như những sai lầm của quân Liên Minh đã rõ ràng là nguyên nhân chủ yếu làm cho họ thất bại thì “con mắt phát hiện ra được lầm lẫn đó” (lầm lẫn của tướng lĩnh đối phương- N.D.Tiếng Nga), lòng kiên nhẫn chờ đợi cho lầm lẫn đó chín muồi để quyết tâm giáng đòn quyết định, sự mau lẹ cực kỳ chớp nhoáng đã đánh tan kẻ địch, tất cả những cái đó của Napoléon đáng cho ta phải hoàn toàn khâm phục và không đủ lời khen ngợi. Trận Austerlitz là một sự kỳ diệu về chiến lược mà người ta sẽ không bao giờ quên được chừng nào còn có chiến tranh”.

Napoléon nói: “Ở Châu Âu có nhiều tướng giỏi, nhưng họ nhìn một lúc nhiều cái quá, đó là những khối người, tôi cố tiêu diệt chúng...”. Cũng không ai có thể bắt chước được Napoléon trong việc khuyếch trương chiến quả, trong nghệ thuật dùng truy kích để đánh tan đối phương. Nhà sử học quân sự Phổ, bá tước Yorck von Wartenburg, tác giả nổi tiếng của cuốn sách Napoléon Người Tổng Chỉ Huy, nói rằng mệnh lệnh Napoléon gửi cho nguyên soái Soult, ngày 3/12/1805 (hôm sau trận Austerlitz) chứa đựng toàn bộ “thuật truy kích do bộ chỉ huy trình bày trong một số chữ”. Trong thời kỳ đó, không ai vượt được Napoléon về nghệ thuật nắm và điều động những khối quân lớn trong giai đoạn chuẩn bị cũng như khi ở chiến trường và tài chỉ huy đội hình tác chiến một cách đột ngột nhất.

Các nhà sử học và các nhà chiến lược có tài nhất - các tác giả chuyên nghiên cứu về Napoléon - và cả những người chỉ do ngẫu nhiên mà quan tâm đến Napoléon đã sử dụng và tiếp thu những khả năng mới mà cuộc Cách Mạng Pháp vừa mới đẻ ra xong, và do lợi dụng một cách tài tình cái di sản ấy của cách mạng mà Napoléon đã trở thành nhà lý luận lớn nhất về phương pháp chỉ đạo chiến tranh tiến hành với những lực lượng dự bị đông đảo mà chỉ có quyền lực của một Nhà Nước tư sản lớn mới có khả năng huy động được, là cuộc chiến tranh sử dụng có hiệu quả những nguồn lực, vật lực, nhân lực khổng lồ do một hậu phương có tổ chức cung cấp; hình thức chiến tranh đó đã chỉ phát triển toàn vẹn dưới thời Napoléon. Những đoàn quân đông đặc, chặt chẽ của đại quân đặt dưới quyền chỉ huy của ông tỏ ra - theo lời của ông ta, - mạnh hơn đối phương “vào lúc đã định và ở nơi đã định”.

Napoléon thông thạo bản đồ và biết cách sử dụng bản đồ giỏi hơn ai hết, vượt cả tham mưu trưởng của mình là nhà bản đồ nổi tiếng Berthier, cũng vượt cả các bậc danh tướng trước trong lịch sử, và tuy vậy, Napoléon không bao giờ bị nô lệ vào bản đồ; khi mắt ông ta rời khỏi bản đồ và khi ông ta ra chiến trường là ông ta kích thích quân lính bằng những lời hiệu triệu, ông ta hạ mệnh lệnh và ông ta điều động những trung đội khổng lồ, hơn nữa ông ta còn đứng ở vị trí của mình, vị trí hàng đầu và đã không có một ai có thể so sánh với ông được. Cho đến tận ngày nay, những mệnh lệnh, thư từ, của Napoléon gửi cho các Thống Chế và một vài câu châm ngôn của Napoléon vẫn còn giá trị như những bản khái luận cơ bản về những vấn đề về công sự, về pháo binh, về tổ chức hậu phương, về tiến quân đánh vào sườn, về hành binh bao vây trận địa quân địch và về nhiều vấn đề hết sức khác nhau của nghệ thuật quân sự.

Có lẽ ngoài Alexander Đại Đế ra thì sự thật là không có một vị tướng nổi tiếng nào lại ở vào hoàn cảnh thuận lợi như Napoléon: Không những Napoléon đã hợp nhất vào trong tay ông quyền hành của một vị đế vương chuyên chế với quyền hành của một vị tổng tư lệnh, mà ông còn trị vì trên vùng trù phú nhất của thế giới. Trong những bước đầu tiên của mình, Caesar đã tiến hành chiến tranh khá lâu dài dưới danh nghĩa là tổng tư lệnh, được Thượng Nghị Viện, cơ quan điều khiển Nhà Nước, cấp cho những phương tiện để chinh phục một tỉnh mới và trong những năm cuối cùng của đời ông, Caesar đã tiến hành một cuộc chiến tranh dài và ác liệt chống lại quân đội của phe đối lập. Hannibal là một tướng tổng tư lệnh phụ thuộc vào ý muốn của cái Thượng Nghị Viện keo kiệt và xảo trá của một nước Cộng Hòa buôn bán. Turenne và Condé thì bị lệ thuộc vào những sở thích nhất thời của triều đình Pháp. Suvorov thì thoạt đầu lệ thuộc vào Hoàng Hậu Catherine, con người chẳng ưa gì Suvorov, sau đó thì lệ thuộc vào Pavel đệ nhất, một con người gàn dở, cuối cùng là lệ thuộc vào Pháp Đình Tối Cao của đế quốc Áo. Đúng là Gustav II Adolf, Charles XII, Friedrich đệ nhị đều là những vị đế vương chuyên chế nhưng họ trị vì những nước bé nhỏ, nghèo nàn nguồn nhân tài vật lực có hạn. Còn như Napoléon thì chỉ những chiến dịch đầu tiên (ở Toulon, ở Ý, ở Ai Cập, ở Syria) mới bị đặt dưới quyền một chính phủ mà ngay hồi đó ông đã không phục tùng; song từ năm 1799 trở đi, Napoléon đã trở thành chúa tể chuyên chế của nước Pháp, cũng như của tất cả các nước đã bị ông chinh phục một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và trong số đó có một số nước đã có một nền kinh tế tiên tiến nhất lục địa, như ngoài bản thân nước Pháp ra, còn có nước Hà Lan và nước Đức. Sau ngày 18 Tháng Sương Mù, Napoléon đã trị vì chuyên chế sau suốt 15 năm liền, còn Julius Caesar, sau khi vượt sông Rubicone, đã chỉ nắm được quyền lực tối cao trong khoảng năm năm, nhưng đã mất hai năm đầu vào cuộc nội chiến và chính nó đã nghiến nát vụn lực lượng của đế quốc La Mã.

Để thực hành thiên tài quân sự của mình, Napoléon có trong tay nhiều nguồn lực vật chất, nhiều thời gian, nhiều điều kiện hơn bất cứ một vị tiền bối nào về nghệ thuật chiến tranh của ông. Cũng không cần bàn cãi về vấn đề thiên tài của Napoléon đã tỏ ra lỗi lạc hơn bất cứ một ai trong số những người ấy.

Napoléon có tài làm cho những câu nói trở thành độc đáo; để xác định toàn bộ những đức tính cần thiết của một người tướng tài, Napoléon nói rằng: “Bề cao và bề nằm phải bằng nhau”, ông ta hiểu “Bề nằm” là phẩm chất của con người, là lòng quả cảm, lòng can đảm, tính quả quyết, và “bề cao” là tài trí, là những đức tính về trí tuệ. Nếu cốt cách mạnh hơn tài trí, người tướng sẽ bị lôi cuốn ra ngoài mức cần thiết, nếu quân đội không đành tâm chịu thất bại trước. Napoléon cho rằng một viên tổng tư lệnh tồi còn hơn là hai viên tổng tư lệnh giỏi. Và nếu trừ trận vây thành Toulon năm 1793 ra, thì chưa trận nào Napoléon chia sẻ quyền chỉ huy và cũng không phải phục tùng một cấp trên nào.

Chúng ta sẽ chỉ dừng lại ở một vài đặc điểm.

Napoléon phá bỏ tệ sùng bái bạch binh rất phổ biến thời Suvorov, mặc dầu chính Suvorov chẳng hề phủ nhận tầm quan trọng của pháo binh. “Ngày nay, các trận đánh được quyết định bằng hoả lực, không phải bằng xung lực” ông Hoàng Đế đã viết dứt khoát như vậy ở một trong những cuốn sách của ông nói về công sự dã chiến. Là người kế tục chiến thuật quân đội cách mạng Pháp, trong những cuộc chiến tranh đầu, Napoléon đã tung trước những tuyến tân binh cơ động, với sự yểm hộ của pháo binh bằng cách mở đường cho các trung đội xung kích. Napoléon chăm lo chu đáo và chỉ thị nghiêm ngặt cho các Thống Chế của mình và cho phó vương nước Ý là Eugène de Beauharnais rằng không chỉ dạy cho binh lính biết bắn, mà phải chăm lo đến việc dậy họ bắn trúng đích. Nhưng từ ý kiến của Napoléon, tuyệt nhiên không thể nghĩ rằng nên để tân binh hoạt động trong một khoảng thời gian khá lâu hoặc có sự chi viện của pháo binh, bởi vì như vậy họ có thể dễ bị mất tinh thần dưới hoả pháo của địch và dễ bỏ chạy; mà Napoléon căn dặn phải sử dụng pháo binh một cách kiên quyết nhất, bởi vì chỉ có dùng hoả lực khủng khiếp của pháo mới thu được kết quả khả quan.Trong các trận đánh của Napoléon, pháo binh đóng vai trò to lớn và đôi khi quyết định, như ở Friedland, 40 khẩu pháo cỡ lớn của Senarmon, yểm hộ cho quân đoàn của Victor, đã gây cho hàng ngũ quân Nga rối loạn tơi bời ngày từ phút đầu của trận đánh, và đã buộc quân Nga phải rút lui vô trật tự qua Friedland và qua cầu Alle, và chính tình trạng vô trật tự ấy đã dẫn đến thất bại.

Đáng chú ý từ năm 1807, Napoléon đã càng ngày càng tin vào một chiến thuật mới và những quy mô tác chiến mới, bao gồm việc sử dụng các đội hình quá dày đặc và vì vậy dễ bị sát thương, trái với phép dùng binh trước đây trong nửa giai đoạn đầu sự nghiệp của ông ta. Thực tế là những lỗ hổng, khoét dần hàng ngũ những người lính già của cách mạng và những cựu binh của Ai Cập, của Marengo, của Austerlitz, đã buộc ông ta phải cầu cứu đến cách dùng những khối người quá dày đặc ở chiến trường.

Nhiều người cho rằng Napoléon đã không coi trọng các công sự của đối phương. Thật là sai lầm. Napoléon chỉ yêu cầu các Thống Chế và tướng lĩnh của ông ta phải hiểu rằng vấn đề quyết định chiến tranh không phải là việc đánh chiếm các công sự của kẻ địch mà là việc tiêu diệt sinh lực địch ở trên chiến trường. Nhưng ngay cả trong vấn đề ấy, Napoléon cũng tỏ ra linh hoạt và thông minh kỳ diệu khi ông ta nhận định rằng những tình huống không bao giờ lập lại hoàn toàn đúng như nhau.

Vào năm 1805, khi Napoléon nhận định là chỉ chiếm được thành Ulm thì mới tiêu diệt được chủ lực của quân Áo, ông ta đã tập trung phần cố gắng chủ yếu vào việc đánh chiếm pháo đài ấy.

Sở dĩ Napoléon đặt công sự xuống vị trí quan trọng thứ yếu đó là do cái logic sau đây: Ông ta cho rằng quyền chủ động sáng tạo đóng vai trò chủ yếu. Napoléon nói rằng chỉ nên tiến hành một chiến dịch sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng, nhưng một khi đã bắt đầu thì phải chiến đấu đến cùng để giữ lấy thế chủ động sáng tạo.

Khi cái ngày khủng khiếp ở Eylau kết thúc, ngày 8 tháng 2 năm 1807, quân đội của Napoléon cũng như quân đội Nga đều bị thiệt hại nặng nề đến nỗi quân số của một vài trung đoàn chỉ còn bằng một tiểu đoàn và thậm chí có vài trung đoàn lại còn ít hơn thế nữa. Ban đêm, chui vào lều, Napoléon đã thừa nhận sự thất bại của ông ta bằng những lời lẽ mập mờ. Nhưng rồi chẳng bao lâu, buổi binh minh ảm đạm của một ngày mùa đông bắt đầu, và người ta thấy rằng không những Bennigsen đã chỉ rút đi, mà Bennigsen đã vừa đánh vừa chạy rất xa. Thế là quyền chủ động vẫn thuộc về Napoléon, và như vậy là ngày hôm trước của Napoléon đã là ngày thắng trận. Và Napoléon đã liệt Eylau vào sổ chiến thắng của ông ta, mặc dầu ông ta hoàn toàn biết rằng quân Nga chưa phải bị bại trận. Bennigsen đã thiếu bình tĩnh và bền bỉ, đã hốt hoảng và đã rời bỏ chiến trường trước, để lại quyền chủ động cho Napoléon mặc dầu cứ ba xác lính Nga thì người ta cũng đếm được từ hai đến ba xác lính Pháp.

Quyền chủ động trong sự chỉ đạo chung chiến tranh, trong việc lựa chọn địa hình và thời cơ giao chiến, trong những hành động chiến thuật đầu tiên trước khi giao chiến phải thuộc về người tổng chỉ huy. Trước trận đánh trước khi hạ mệnh lệnh cho các Thống Chế một cách cụ thể, mà đến ngày nay vẫn còn có những chuyên viên quân sự phải khâm phục, Napoléon không bao giờ hạn chế các Thống Chế của ông ta bằng những chỉ thị chi tiết vụn vặt. Thời đó, cách chỉ đạo vụn vặt thuộc môn phái quân sự cũ, người Áo, Phổ, Anh và cả người Nga nữa, mặc dù Nga còn ở trình độ thấp kém hơn nhiều.

Napoléon chỉ thị cho tướng lĩnh của mình thừa hành một nhiệm vụ này hoặc một nhiệm vụ nọ ở một địa điển này hoặc một địa điểm khác bằng cách chỉ rõ mục đích chiến lược cuối cùng phải đạt được, nhưng đạt được mục đích đó bằng cách nào là do các tướng lĩnh quyết định. Trong chiến đấu, Napoléon là trung tâm và đầu não của quân đội. Trong khi làm nhiệm vụ của họ, các Thống Chế liên lạc thường xuyên với Hoàng Đế tình hình của các cuộc hành binh, xin viện binh và báo cho Hoàng Đế biết rõ những sự thay đổi luôn luôn diễn ra của tình huống.

Gần năm tháng sau trận Austerlitz, khi chỉ trích bản báo cáo của Kutuzov đệ lên Aleksandr về trận ấy, Napoléon viết rằng số quân đội khổng lồ của Pháp đã hoàn toàn do Hoàng Đế chỉ huy và sẵn sàng chấp hành bất cứ một mệnh lệnh nào của Hoàng Đế, chẳng khác gì một tiểu đoàn đặt dưới quyền chỉ huy của một viên tiểu đoàn trưởng.

Điều khó khăn nhất cho những người sống trong những thời kỳ ấy và cũng như đời sau là tìm hiểu xem Napoléon đã giữ vai trò chỉ huy đó như thế nào để không làm mất tính chủ động sáng tạo của cấp dưới. Đương nhiên rằng đây là tính sáng tạo cục bộ, còn như tất cả sự thực hiện đều hoàn toàn phụ thuộc vào cấp chỉ huy cấp tối cao, quyền chỉ đạo của Hoàng Đế và quyền chủ động chỉ đạo của Hoàng Đế có thói quen không tự quyết định khi gặp tình thế nguy hiểm quá lớn và khi Hoàng Đế không có ở bên cạnh họ. Những tướng lĩnh của Napoléon thật sự có năng lực hành động độc lập được thì có ít: Năng lực của Davout, Masséna, Augereau cũng chỉ có chừng mực nhất định, những tướng lĩnh khác thì chủ yếu là những người thực hiện xuất sắc, ưu tú, tính độc lập của họ chỉ là tương đối và tùy từng trường hợp vì nó chỉ phụ thuộc vào phạm vi thừa hành. Napoléon đã chua chát nhận thấy điều đó vì đã có lúc ông ta phải kêu lên rằng ông ta không thể ở khắp mọi nơi trong một lúc được.

Năm 1814, chiến đấu ở vùng lân cận Paris, không phải Napoléon đã thiếu 30 vạn lính tinh nhuệ, trong đó một số đã phải phơi xương trên các bãi chiến trường từ năm 1808 và số còn lại cũng đã cùng chung số phận ở Tây Ban Nha, không phải ông ta thiếu những đoàn quân người Pháp đang bận chiếm đóng một vài thành phố của Đức và một vài vùng của nước Ý; mà Napoléon còn thiếu Masséna, viên tướng bị sức cùng lực kiệt vì cuộc chiến chinh dài đằng đẵng và vô hiệu ở Tây Ban Nha, thiếu Davout đang bị vây hãm ở Hamburg, thiếu Murat, vì Murat đã không rời bỏ xứ Naples để đến với ông ta. Những binh sĩ ưu tú của ông ta, ông ta đã ném họ đi trên bốn phương đế quốc mênh mông của ông ta, và đến lúc lâm nguy thì số đông trong bọn họ đã chẳng ở bên ông ta. Không phải chỉ vì điều đó, nhưng điều đó cũng là một trong những nguyên nhân của cuộc thất bại cuối cùng của ông ra vào năm 1815.

Nhưng nếu như Napoléon còn đủ các tướng lĩnh ở bên cạnh ông ta và nếu như đại quân đã không bị chia sẻ làm đôi - một thì chiến đấu diệt vong ở Tây Ban Nha - trong một khoảng thời gian nghiệt ngã thì ông vẫn tự thấy mình mãi mãi là người chủ tể tuyệt đối và vững như đá của Châu Âu.

Việc lựa chọn những người thực hiện ưu tú đã góp phần vào thắng lợi của chiến thuật mới về hành binh bao vây trung tâm quân địch; và Jomini đã xây dựng chiến thuật ấy thành lý luận dựa trên cơ sở nghiên cứu các cuộc chiến tranh của Napoléon là người đã chứng minh rằng bao vây đối phương chỉ có nghĩa trong hai trường hợp: Thứ nhất là khi tiến vào hậu phương của địch và cắt đứt các tuyến đường giao thông, thứ hai là khi cuộc hành binh đó dẫn đến một trận đánh, trong đó có những trung đội bao vây tham chiến.

Von Bülow, một nhà lý luận khác thời Napoléon, cho rằng chỉ cần uy hiếp các đường giao thông là đủ. Nhưng, dựa vào nghệ thuật quân sự của Napoléon, Jomini đã nhấn mạnh rằng trận đánh là kết cục cần thiết của một cuộc hành binh bao vây thành công và phù hợp với ý đồ của nhà chiến lược. Napoléon cho rằng người tướng mở một cuộc hành binh bao vây sẽ có nguy cơ bị đối phương hành binh phản lại và tiến công nếu không hành động khẩn trương. Những Thống Chế được Napoléon đào tạo tiến hành những cuộc hành binh ấy với một mức độ chuẩn xác và khẩn trương đôi khi lý tưởng và hầu như bao giờ cũng thu được kết quả mỹ mãn.

Nếu kẻ địch cùng quân chủ lực của họ trong pháo đài hoặc trong công sự thì Napoléon bao vây lại và nếu quân địch không đầu hàng thì ông ta xung phong đánh vào. Khi đã bị buộc phải dùng đến biện pháp cực đoan đấy, thì nếu thắng lợi, Napoléon đã tỏ ra rất quyết liệt. Năm 1806, Blücher chống cự trong các đường phố thành Lubeck, nên khi quân Pháp thắng lợi, vả lại họ vốn trung thành với truyền thống cũ, đã tàn phá tang hoang thành phố và tàn sát vô vàn nhân dân. Trong những cuộc chiến tranh của Napoléon có đầy dẫy những thí dụ tàn bạo như vậy. Tháng 7/1799, khi một đội quân Thổ gồm một vạn người được trang bị đầy đủ, đổ bộ lên Ai Cập và ẩn trong pháo đài Aboukir, sau còn 3 nghìn quân nữa hội sư ở đó, thì Napoléon thấy một trở ngại đáng sợ trên con đường của ông: Vậy là cuộc chinh phục Ai Cập vừa hoàn thành đã bị lâm nguy. Quân Thổ bằng đường biển. Bởi vậy Napoléon đã hạ quyết tâm đánh chiếm pháo đài với bất cứ giá nào, bằng một cuộc tấn công chính diện. Ngày 25/7/1799, vào hồi 2h sáng, Napoléon nổi lệnh tiến công. Lannes và Murat là những người đầu tiên đột nhập pháo đài, ngay sau đó là quân chủ lực xung kích. Toàn thể quân đội Thổ đã bị chém giết và tàn sát ngay tại chỗ. ”Trận đánh ấy là một trong những trận đánh đẹp nhất mà tôi nhận thấy. Tất cả đạo quân ấy không thoát được một ai”, hai ngày sau chiến công đó, Napoléon đã viết như vậy. Tuy nhiên, những trận công kích chính diện không phải chỉ làm cho đối phương bị thiệt mạng, mà cả quân Pháp nữa, nên Napoléon chỉ dùng đến khi không còn cách nào khác.

Tuy Napoléon đánh giá rất cao tinh thần dũng cảm cá nhân, tính linh hoạt và biệt tài chiến đấu của một số cá nhân nào đó, nhưng ông ta tin rằng những kỵ binh tác chiến với đội hình phân tán thì dũng mãnh như quân Mamelukes hay quân Cossack cũng không thể đương đầu được với những khối quân hàng ngũ chặt chẽ của một quân đội Châu Âu có kỷ luật, và cứ cho rằng trong những trận đánh nhỏ lẻ, ưu thế cá nhân của họ có thể thật sự giúp cho họ thắng lợi và họ đã thật sự mạnh hơn, nhưng rốt cuộc, các khối lớn sẽ quyết định hết thảy. Napoléon không ngừng nhắc lại chân lý ấy, nghệ thuật của người tổng tư lệnh trước hết là biết tập trung, trang bị và huấn luyện nhanh chóng những tiểu đoàn lớn mạnh để thành lập những khối quân sự lớn; thứ hai là làm thế nào để khi đánh đòn quyết định thì tất cả những đơn vị ấy đều đã ở vị trí đã định; thứ ba là khi đã khai chiến thì, nếu cần thiết để chiến thắng, phải biết hy sinh những tiểu đoàn lớn mạnh ấy; thứ tư là, khi đã tập trung được khối lớn ấy rồi thì không bao giờ được lẩn tránh hoặc trì hoãn giao chiến, mà phải tìm cách giao chiến sớm nhất, miễn là có cơ hội thắng lợi; thứ năm là, đây là điểm khó nhất, tìm thấy được trong trận thế của quân địch cái điểm để giáng đòn quyết định. Napoléon nói rằng, trong chiến tranh, những sự ngẫu nhiên và may rủi giữ một vai trò đáng kể, nhưng dẫu sao thì những kế hoạch to tát bao giờ cũng tuỳ thuộc vào những đức tính cá nhân của người chỉ huy: Tài trí, kiến thức, đầu óc phương pháp trong hành động và đầu óc phán đoán. “Không phải có một vị thần thánh nào đó mách riêng cho tôi biết điều tôi phải nói hoặc phải làm trong một tình huống bất ngờ đối với những người khác, mà đó chỉ là sự suy nghĩ của tôi, sự nghiên cứu, nghiền ngẫm”, có lần Napoléon đã nói như vậy. “Alexander đại đế, Caesar, Hannibal, Gustav II Adolf trở thành vĩ đại không phải vì thời vận giúp họ, mà vì họ là những bậc vĩ nhân và đã biết làm chủ thời vận". Napoléon đã nói như vậy vào những năm cuối cùng của đời ông.

Không kể vài sai lầm ngẫu nhiên và dấu hiệu mệt mỏi thì nghệ thuật sử dụng tất cả mọi thủ đoạn để đạt tới mục đích của mình, tóm lại thiên tài quân sự của Napoléon vào những năm 1813 - 1814 so với những năm rực rỡ nhất trong đời võ nghiệp của ông đã không hề bị giảm sút: Đó là ý kiến nhất trí của những nhà chiến lược và chiến thuật nghiên cứu lịch sử của Napoléon. Ngay cả năm 1815, với những lực lượng kém hẳn địch về quân số, trong hoàn cảnh chính trị tuyệt vọng và cơ thể bị đau yếu từ lâu, Napoléon vẫn vạch ra một kế hoạch chiến lược nhằm tiêu diệt đến cùng quân đội đối phương; và nó cũng đã không kém phần tài tình như kế hoạch đã mang lại thắng lợi rực rỡ cho Napoléon trong chiến dịch nước Ý lần đầu tiên của ông năm 1796. Thắng lợi rực rỡ mở đường cho kế hoạch đó (trận thất bại của Blücher ở Ligny) và kết cục của chiến dịch (trận Waterloo, chỉ do tình cờ mà Blücher đến đúng lúc và đã cứu được Wellington khỏi một cuộc thất bại không thể tránh được) đã chứng minh rằng Napoléon luôn luôn là người thầy xuất chúng trong nghệ thuật chiến tranh.

Tuy nhiên lúc ấy, Napoléon còn thiếu một điều ngay chính ông ta cũng cho rằng điều đó đối với người tổng tư lệnh là cần thiết hơn cả thiên tài: Thiếu tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Ông ta thiếu lòng tin cần thiết nhất của ông ta, khi bàn về chiến dịch Waterloo, Napoléon đã nói với Las Cases như vậy.

Sự mất tin tưởng đó là hậu quả của những cái sai lầm của Napoléon, trước hết là những sai lầm về chính trị. Những mục tiêu chính trị to lớn, không thể thực hiện được của ông ta, thúc đẩy ông ta đến chỗ đi chinh phục thế giới, đã đưa ông ta xa rời chính những nguyên tắc chiến lược của ông ta.

Ta chỉ cần xem xét mặt chuyên môn của sự xâm lược: Làm thế nào vừa có lực lượng quân sự chiếm đóng cả cái đế quốc khổng lồ đã rơi vào tay Napoléon, vừa chiếm đóng cả lãnh thổ mới ở Nga lại vừa bảo vệ các tuyến đường giao thông với Moscow? Trong điều kiện như vậy thì lấy đâu ra đủ cho các trận đánh cần thiết để chinh phục nước Nga? Làm thế nào cho phù hợp với những nguyên tắc chính ông ta đã đề ra: Bao giờ cũng phải mạnh hơn quân địch vào lúc và nơi đã định? Xoay sở ra sao để đồng thời vừa chiến thắng ở Madrid lại vừa ở cả từ Smolensk đến Moscow?

Trong những chiến dịch lớn lao, ông ta đã cố giữ vững nguyên tắc cơ bản sau đây của mình: Hết sức tăng cường lực lượng để bảo vệ các đường giao thông liên lạc. Mà cũng chính vì để thực hiện điều đó nên trong quá trình chiến dịch nước Nga, ông ta làm cho lực lượng của mình bị suy yếu rất nhiều ngay từ trước khi rút lui. Tháng 6/1812, ở sông Niemen, khi vượt qua biên giới để bắt đầu cuộc xâm lược, Napoléon có 42 vạn quân, nhưng khi tiến sâu vào nội địa nước Nga thì ông chỉ dẫn theo có 36 vạn 3 nghìn quân, vì số còn lại kia phải bảo vệ sườn phía Bắc và phía Nam trận tuyến. Khi tới Vitebsk thì quân đã không còn 36 vạn 3 nghìn nữa, mà là 22 vạn 9 nghìn, và khi tới vùng phụ cận Smolensk thì giảm xuống 18 vạn rưỡi. Sau khi đánh trận Smolensk và để lại quân bảo vệ thành phố ấy, Napoléon đã tiến về Gzhatsk với 15 vạn 6 nghìn quân và khi tới Borodino thì còn 13 vạn 5 nghìn. Rồi ông ta tiến vào Moscow với 9 vạn 5 nghìn chiến binh. Napoléon bị tổn thương nhiều như vậy không phải vì bên địch đánh, vì bệnh tật, vì khí hậu, mà là còn vì tuyến đường giao thông dài rộng mênh mông đã tiếu ngốn người của đại quân, đó là chưa kể số 22 vạn quân mà Napoléon không đưa được đến cả sông Niemen vì đã phải để lại trên đế quốc Châu Âu bao la của ông cũng không tính số 22 vạn quân và còn hơn thế nữa đang chiến đấu ở Tây Ban Nha.

Đồng thời, Napoléon đã nói với Las Cases, có những lúc phải tính đến nước quyết liều, tập trung hết thảy lực lượng để đánh một đòn quyết định và tiêu diệt quân địch bằng một thắng lợi khủng khiếp; để làm như vậy, cũng phải tạm thời giảm bớt lực lượng bảo vệ đường giao thông liên lạc. “Trong chiến dịch năm 1805, khi tôi đang chiến đấu ở Moravia thì nước Thổ đã sẵn sàng tiến công tôi và như vậy là không thể rút quân ra khỏi nước Đức được. Nhưng tôi đã chiến thắng Austerlitz. Năm 1806, tôi đã thấy rõ nước Áo sắp sửa đánh vào các đường giao thông của tôi và nước Tây Ban Nha đang đe dọa xâm chiếm nước Pháp bằng cách vượt qua rặng núi Pyrenées. Nhưng tôi đã chiến thắng ở Jena. Trong chiến dịch năm 1809, tình thế còn nguy hiểm hơn thế. Nhưng tôi đã chiến thắng ở Wagram”. Napoléon nói rằng mọi cuộc chiến tranh đều phải tiến hành “có phương pháp", nghĩa là được nghiên cứu sâu sắc, và chỉ như vậy mới có cơ thắng lợi. Napoléon kiên quyết bác bỏ cái thành kiến cho rằng các cuộc xâm lược của Thành Cát Tư Hãn và của Tamerlane chỉ là những hoạt động tự phát và rối loạn. ”Những cuộc chiến tranh của Thành Cát Tư Hãn, của Tamerlane là có tính phương pháp vì chúng đã tiến hành đã tương xứng với lực lượng quân đội của họ”. Napoléon nói như vậy với Montholon. Về vấn đề này, ta nên chú ý rằng các nhà sử học cận đại nghiên cứu về Á Đông hoàn toàn xác nhận quan điểm của Napoléon về các cuộc chinh phục của người Mông Cổ.

Napoléon đã nói rất nhiều lần và trong nhiều trường hợp khác nhau rằng nghệ thuật chiến tranh chung quy là biết tập trung vào nơi và lúc cần thiết một lực lượng lớn hơn lực lượng của quân đội địch lúc ấy. Khi nói về cuộc chiến tranh năm 1796 - 1797, viên đốc chính Gothier khen ngợi Napoléon thường đánh bại kẻ địch mạnh hơn mình bằng những lực lượng ít hơn, thì Napoléon nói rằng thật ra không phải thế, mà chỉ là do ông đã cố gắng tiến công chớp nhoáng vào những lực lượng ấy của địch, cho nên sở dĩ ông thu được thắng lợi thì đúng chỉ vì một trận tiến công cục bộ ấy, ông đều tạm thời mạnh hơn kẻ địch, mặc dầu tổng số lực lượng quân đội bên địch hơn quân đội của ông.

Napoléon rất quan tâm đến “tinh thần” của quân đội. Napoléon đã hoàn toàn thừa nhận việc thủ tiêu nhục hình trong quân đội do cách mạng đề xướng và ông nói với người Anh rằng ông không thể hiểu được tại sao người Anh lại đã không lấy làm ghê tởm về việc dùng roi vọt ở trong quân đội của họ: “Khi một người lính bị làm nhục và mất danh dự vì roi vọt thì họ còn thiết gì đến vinh quang của chiến thắng. Đối với mọi người đã bị đánh đòn trước mặt bạn bè của họ thì liệu họ có còn cảm thấy cái gì là danh dự nữa không? Tôi những muốn dạy bảo họ bằng tinh thần danh dự chứ không bằng roi vọt. Sau một trận chiến đấu, tôi tập hợp các sĩ quan và binh lính lại và tôi hỏi: Những ai là người xuất sắc nhất?”. Napoléon khen thưởng bằng cấp bậc cho cho những người biết đọc biết viết và ra lệnh cho người mù chữ phải học “năm giờ mỗi ngày", sau đó thì họ được Napoléon bổ nhiệm làm hạ sĩ quan, rồi sau nữa là sĩ quan. Đối với những tội nặng Napoléon nghiêm khắc xử bắn, nhưng nói chung Napoléon khen thường nhiều hơn là kỷ luật: Khen thưởng bằng tiền bạc, bằng cấp bậc, bằng huân chương, bằng biểu dương trước toàn đơn vị, ông biết khen thưởng một cách rộng rãi chưa từng thấy. Ngày 14 Tháng Hoa năm 1801, ở phiên họp về việc ban hành huân chương Bắc Đẩu thì Napoléon la lên rằng: “Các ngài tưởng rằng các ngài đưa người ta đi chiến đấu bằng phân tích chăng? Đừng hòng. Phân tích chỉ tốt với nhà bác học ở trong văn phòng của họ mà thôi. Với binh sĩ thì phải có vinh quang, ưu đãi, khen thưởng cho họ. Quân Đội Cộng Hòa đã làm được nhiều điều to lớn, bởi vì quân đội đó gồm những con cái của dân cày và những người nông dân tốt, chứ không phải là một bầy hạ lưu đê tiện, bởi vì những sĩ quan mới đã thay thế những sĩ quan của chế độ cũ, và họ có danh dự”.

Như vậy là những chất liệu do cách mạng đẻ ra, Napoléon đã sáng tạo một cái có ý thức và đầy kết quả rực rỡ một công cụ hiệu nghiệm và hùng mạnh, và nằm trong tay một người như Napoléon, công cụ ấy tất phải đem lại những kết quả chưa từng thấy trong lịch sử quân sự.

Ông ta đánh giá một đức tính mà ông ta cho là chủ yếu, có ngay ở con người mình; ông ta khẳng định ý chí sắt đá, tinh thần kiên quyết và lòng dũng cảm khác thường là đức tính quan trọng bậc nhất và không thể có đức tính nào khác thay thế được. Lòng dũng cảm khác thường ấy không phải là ở chỗ ông ta lao lên cầu Arcole với lá cờ trong tay hay ở chỗ phơi mình trong hàng bao nhiêu giờ liền dưới làn đạn pháo của quân Nga ở bãi nghĩa địa Eylau, mà ở chỗ đó mình hoàn toàn gánh lấy trách nhiệm nào quan trọng nhất và nặng nề nhất, đó là trách nhiệm hạ quyết tâm. Người thắng lợi không phải là người đã vạch ra kế hoạch tác chiến hoặc đã tìm thấy giải pháp cần thiết, mà là người nhận lấy về phần mình trách nhiệm thi hành.

Tất cả các nhà bình luận quân sự đều cho rằng Napoléon là một nhà chiến thuật đại tài - nghĩa là trong nghệ thuật chiến thắng - và một nhà ngoại giao đại tài- nghĩa là trong nghệ thuật buộc kẻ địch bại trận phải hoàn toàn phục tùng ý muốn của ông ta, nghĩa là không phải chỉ ông ta đè bẹp tinh thần và khả năng đề kháng của bên địch, mà còn bức bách bên địch phải thừa nhận như vậy khi hạ bút ký vào hiệp ước theo ý muốn của người thắng trận, cả ba đức tính ấy đã phối hóa và hòa hợp khăng khít ở Napoléon. Khi trận tổng công kích đã thắng lợi, Napoléon liền tung Murat và kỵ binh của viên thống chế này đi truy kích nhằm tiêu diệt những kẻ trốn chạy. Khi Murat đã hoàn thành nhiệm vụ, thì để chuyển biến trận đánh bằng thắng lợi của toàn bộ cuộc chiến tranh, lúc đó vấn đề là tiếp tục và hoàn toàn thành cuộc truy kích quân sự ”trên bàn cờ” mà quân cờ là những công thức và những yêu sách ngoại giao.

Mỗi khi bắt đầu một cuộc chiến tranh, Napoléon luôn luôn cố gắng đánh quỵ kẻ địch một cách mau chóng nhất bằng một đòn khủng khiếp và nhanh như chớp, rồi bức kẻ địch phải cầu hòa. Điều đó đã cho phép Clausewitz định nghĩa quan niệm chỉ đạo chiến tranh của Napoléon là một hiện tượng hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử và đã đưa chiến tranh tới gần ”mức hoàn chỉnh của nó”. Clausewitz viết: “.... Kể từ thời Bonaparte thì chiến tranh, trước hết hãy đứng về một phía mà xét - phía người Pháp trong quá trình chống ngoại xâm - rồi đứng về phía khác - phía các dân tộc chống Napoléon, đã trở thành công việc của toàn dân. Nó đã mang một tính chất khác hẳn, hoặc nói một cách khác hơn, chiến tranh đã tiến lại rất gần thực chất của nó, sự hoàn chỉnh tuyệt đối của nó. Do sự phát triển của các phương tiện chiến tranh, của những viễn cảnh rộng lớn mở rộng ra một khi chiến thắng và của sự thức tỉnh tinh thần mạnh mẽ của con người, nên trí lực dành vào việc chỉ đạo chiến tranh đã tiến triển đến cao độ. Tiêu diệt kẻ địch đã trở thành mục đích của các cuộc hành binh; ngừng lại và đi vào đàm phán chỉ có thể tiến hành được khi kẻ địch đã bị đánh bại và không còn đủ sức chiến đấu”.[54] Khi nghiên cứu vấn đề “tầm cỡ những mục đích chính trị của chiến tranh và cường độ của chiến tranh”, Clausewitz đã có sự đánh giá sâu sắc, tuy nhiên cần phải bổ sung bằng cách lưu ý rằng chính Napoléon đã phân biệt thành hai loại chiến tranh (tiến công và phòng ngự), nhưng ông vạch cho nó một ranh giới rõ rệt, mà tùy theo tính chất của mỗi cuộc chiến tranh xâm lược... Mọi cuộc chiến tranh tiến hành theo quy tắc của nghệ thuật đều là những cuộc chiến tranh tiến hành theo đúng phương pháp. Chiến tranh phòng ngự không loại trừ tiến công không loại trừ phòng ngự, dẫu rằng mục đích của nó là chọc thủng biên giới để xâm lược đất nước của kẻ địch.

Sau khi đã nhận xét vắn tắt những chiến dịch của các bậc tướng lĩnh lỗi lạc nhất, Napoléon thấy không cần thiết phải nói bất kỳ điều gì về những cái thường được mệnh danh là ngôn phái của nghệ thuật chiến tranh. Tuy nhiên, cũng như tất cả các nhà quân sự lớn, ông ta cũng đã ra sức đánh bại và tiêu diệt đối phương.

Quan điểm của Clausewitz mà chúng tôi vừa dẫn là đặc biệt của riêng ông: Người ta không hề tìm thấy quan điểm đó ở Jomini chẳng hạn. Về vấn đề này mặc dầu Engels thừa nhận những ưu điểm lớn các tác phẩm của Clausewitz, nhưng người ta lại thích nghiên cứu về Napoléon của Jomini. Thí dụ, Engels đã viết cho Joseph Vendémiaire (ngày 12/4/1853): “Chung quy, Jomini vẫn là nhà sử học khá nhất của chúng (của các chiến dịch của Napoléon), và tuy rằng có đôi điểm đặc sắc, nhưng cái thiên tài tự nhiên ấy của Clausewitz vẫn không làm tôi thoả mãn chút nào”[55].

3

Napoléon hiềm ghét những người Jacobin, đối xử tàn tệ với họ, còn họ chỉ muốn khuyếch trương thành quả của cách mạng.

Sự bảo vệ tài sản, tất cả mọi tài sản, trong đó có cả tài sản của nông dân lớp trung sản và tiểu sản - tầng lớp phát triển rộng rãi dưới thời cách mạng - đã trở thành một trong những viên đá nền tảng trong chính sách đối nội của Napoléon, mặc dầu, như Marx đã nhận định trong cuốn Gia Đình Thần Thánh, Napoléon đã làm cho quyền lợi của mọi tầng lớp trong giai cấp tư sản phải phục tùng quyền lợi của đế chế. Đối với Napoléon những người dân không tài sản, ví dụ như thợ thuyền ở Paris, ở Lyon, ở Amiens và ở Ruane đều là những thành phần phá rối, nhưng ông đã quá thông minh cho rằng biện pháp duy nhất để chống lại họ là bọn lính tuần tiễu, hiến binh và cảnh binh và mạng lưới mật thám vô cùng khôn khéo và đắc lực do Fouché đẻ ra. Napoléon đã cố chống lại làn sóng thất nghiệp năm 1811 đã đẩy hàng nghìn thợ thuyền đói khát, lang thang, cùng khổ, Napoléon cũng tìm cách rút ra khỏi tình trạng ấy một sự bào chữa cho cuộc phong toả lục địa cũng như việc bóc lột tàn nhẫn về kinh tế và làm việc chiếm độc quyền tất cả các nước bị xâm chiếm để bảo đạm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm Pháp và để cung cấp nguyên liệu rẻ mạt cho nền công nghiệp Pháp.

Những động cơ chính của chính sách kinh tế của Napoléon là: Ước vọng đảm bảo ưu thế cho công nghiệp Pháp ở trên thế giới và điều này không tách khỏi những điều trên, ước vọng đuổi người Anh ra khỏi thị trường Châu Âu. Nhưng trong phạm vi quan hệ giữa chủ và thợ, Napoléon đã giữ nguyên vẹn Bộ Luật Le Chapelier trong bộ pháp chế của ông. Bộ Luật Le Chapelier đã cấm hết thảy mọi biểu hiện đình công, dù rằng rất nhỏ: nhưng đặt ra “tiểu bạ công nhân", Napoléon lại đi xa hơn nữa trên con đường áp bức bóc lột thợ thuyền.

Tại sao ngay cả trong những phút gay go nhất, thợ thuyền cũng không nổi dậy chống ông Hoàng Đế? Tại sao vào những năm 1816, 1817, 1818,1919, 1820, 1821, các toà án của dòng họ Bourbon phục hưng lại kết án tù nhiều tháng cho những người thợ ở Paris và ở các tỉnh đã phạm tội đã phun ra những “tiếng hô phản nghịch": “Hoàng đế muôn năm!"?

Trong các trang sách này, tôi xin cố gắng giải đáp về vấn đề đó. Sự giải đáp nằm trong cái thực tế là thợ thuyền đã hiểu một cách bản năng rằng trật tự tư sản xuất xứ từ cách mạng, mà Hoàng Đế là người đại diện, đối với họ dẫu sao cũng còn có lợi hơn là cái giẻ rách phong kiến mục nát mà những xe vận tải của quân Liên Minh đã tha về.

Những ngày quang vinh của cách mạng còn chưa phai mờ trong trí nhớ của quần chúng lao động. Họ là dân chúng của các vùng ngoại ô Saint Antoine và Saint Marceau, khu phố Tanfleu và phố Molfetta. Trong giai đoạn Một Trăm Ngày, những người trung thành nhất với truyền thống cách mạng đều đã nhìn thấy rằng dầu sao ở Napoléon cũng không có chút tai họa gì, đối với họ cái nguy hại là chế độ phong kiến quay trở lại.

Nếu trong cuộc đấu tranh ở nước Pháp chống lại sự đe dọa phục hưng chế độ cũ, Napoléon là người đại diện cho một kỷ nguyên mới, công nghiệp và tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế thì đương nhiên rằng những cuộc chinh phục của Napoléon đã đóng vai trò cách mạng khi ông đánh đổ sập những nền tảng phong kiến của Châu Âu.

Marx và Engels đã không ngừng nhấn mạnh tầm quan trọng của Napoléon trong việc thúc đẩy lịch sử tiến lên. ”Napoléon đã tiêu diệt được Đế Quốc La Mã Thần Thánh Germany và đã giảm bớt số lượng các quốc gia nhỏ ở Đức, lập nên những quốc gia lớn hơn. Napoléon đã mang vào các nước bị chinh phục bộ luật của ông cực kỳ tiến bộ so với tất cả các bộ luật hiện hành thời ấy, và bộ luật ấy về nguyên tắc, đã thừa nhận quyền bình đẳng”[56]. Theo ý Engels, họ bực bội về giá cafe, đường, thuốc lá...v.v. lên cao, trong khi đó thì chính cuộc phong toả lục địa lại là nguyên nhân của động lực khởi thủy của nền công nghiệp của họ”... Ngoài ra, họ không phải là những kẻ hiểu được tầm lớn lao các kế hoạch của Napoléon. Họ nguyền rủa ông bắt con cái họ đi chống lại cuộc chiến tranh do bọn quí tộc và do tầng lớp trung sản Anh xuất vốn và đã tán tụng những người Anh ấy, những kẻ đã thực sự gây ra chiến tranh, là bạn hữu...”[57]

“Chính sách khủng bố đã thuộc về dĩ vãng ở nước Pháp, đã được Napoléon áp dụng ở những nước khác dưới hình thức chiến tranh và chính sách khủng bố ấy là tuyệt đối cần thiết ở nước Đức”.[58]

Trong một báo cáo chống Bakunin (ngày 14/2/1849), chúng ta được đọc: ”Trong lịch sử không có gì phát sinh, phát triển mà không cần đến bạo lực và một ý chí sắt đá, và nếu như Aleksandr, Caesar và Napoléon mà lại đã là những người nổi tiếng về lòng trắc ẩn - cái thứ trắc ẩn mà những người bênh vực dân tộc Slavia dùng để bảo chữa cho khách hàng suy yếu của họ - thì lịch sử đã ra sao?.[59]

Marx và Engels còn cho rằng (khi nói về sự bất lực chung của cả hai bên đối phương trong cuộc chiến tranh Phương Đông năm 1853 - 1854) quyết tâm của Napoléon còn nhân đạo hơn thói quen hành động cũ kỹ của những kẻ hậu sinh bất tài.

Về cuộc vây thành Sevastopol, Marx và Engels đã viết: “Thật ra, Napoléon đại đế, người “đồ tể” đã sát hại bao nhiêu triệu người, với phương pháp lãnh đạo chiến tranh khẩn trương, quả quyết và mạnh như vũ bão, đã là một chuẩn mực về lòng nhân đạo, nếu đem so sánh với những chính khách đợi thời cơ và do dự đang chỉ dạo cuộc chiến tranh ấy ở Nga...”.[60]

Không hạ thấp vai trò cách mạng của các cuộc chinh phục của Napoléon ở Châu Âu, Engels không hề lẩn tránh cái thực tế là vào cuối thời đại của Napoléon, Napoléon ngày càng biến thành một “ông đế vương do Chúa Trời chỉ định”. Sai lầm lớn nhất của Napoléon là đã liên kết với các triều đại phản cách mạng già cỗi, khi ông ta kết hôn với con gái Hoàng Đế nước Áo, và đáng lẽ phải xoá bỏ mọi vết tích của cái Châu Âu già cỗi đó đi Napoléon lại đã tìm cách thoả hiệp với nó, đã muốn là người đứng đầu hàng đế vương Châu Âu, vì vậy mà Napoléon đã tìm mọi cách để cấu tạo triều đình của ông theo kiểu triều đình của họ.[61] Theo ý kiến của Fr. Engels thì cái đã làm cho Napoléon cuối cùng bị thất bại là ông đã đầu hàng “nguyên tắc triều đại chính thống”.

Sự thất bại của tất cả các nước quân chủ ở lục địa Châu Âu đã bị Napoléon chinh phục là kết quả của một cuộc chiến tranh khổng lồ; Chính cuộc chiến tranh ấy cuối cùng đã làm cho Napoléon bị kiệt sức, bởi vì bên cạnh Châu Âu lạc hậu về nền kinh tế so với nước Pháp về mặt kinh tế và về phương tiện chiến lược thì Napoléon đã không thể giáng những đòn trực tiếp tới được, bởi lẽ nước Anh làm bá chủ mặt biển. Napoléon đã nhìn thấy ngay rằng kẻ thù đó là đáng sợ nhất. Napoléon muốn đánh bại nó ở Phương Đông bằng Ai Cập và Syria; từ trại lính Boulogne, Napoléon đã chuẩn bị để đánh bại nó ở London. Cả hai ý đồ đó đã không đạt kết quả, Napoléon liền tìm cách tống cổ hàng hóa Anh ra khỏi lục địa, song không phải bằng số lượng nhiều, chất lượng tốt và giá cả của hàng hoá Pháp - điều này không thể làm được - mà bằng lưỡi lê và súng đạn, bằng binh lính và thuế quan. Để tàn phá nước Anh, chỉ tiêu diệt nền công nghiệp Anh chưa đủ, còn phải phá hoại nền thương nghiệp, cũng như công nghiệp vận tải đường biển của nó, và làm cho thuộc địa Anh mất hết tác dụng. Napoléon đã tiến hành công việc ấy bằng cách cấm nhập khẩu chè, bông, chàm, chè Indonesia, cà phê, gia vị. Tất yếu là sự thực hiện cuộc phong toả lục địa đòi hỏi toàn thể Châu Âu và nước Nga phải tuyệt đối phục tùng ý chí của Napoléon nghĩa là thiết lập nền quân chủ thế giới; Sau trận Austerlitz, rõ ràng là Napoléon đã có ý đồ ấy, nhưng ông che đậy nguyện vọng ấy một cách lộ liễu bằng cái danh hiệu “Hoàng Đế Phương Đông”. Sau trận Tilsit, những nguyện vọng ấy ngày càng bộc lộ rõ. Lao trên con đường ấy, Napoléon không thể không thất bại và đã thất bại.

Tất cả những mưu toan nhằm mục đích miêu tả Napoléon là một nhân vật không thể phạm sai lầm, là một vị thần giáng thế duy nhất chỉ đem lại hạnh phúc cho loài người; mọi cố gắng nhằm giải thích những con sông máu lênh láng chảy suốt trong hai chục năm trời vì sự cần thiết để ”tự vệ”, để biện bạch cho một số hành động đen tối nhất gắn liền với tên tuổi Napoléon, đều hoàn toàn vô ích. Còn như Napoléon, không bao giờ ông ta để lại những kỷ niệm u uất ấy. Với vẻ thành thật nhất, đến nỗi đối với bất kỳ hành động nào của mình, ông ta cũng đều sẵn sàng bào chữa rằng đó là vì lợi ích của nước Pháp, vì quang vinh của nước Pháp, vì an ninh của nước Pháp; đối với Napoléon những lý do ấy đã bào chữa cho tất cả những việc ông ta đã làm.

Tôi đã nói ở phần trên rằng khi nói đến nước Pháp thì Napoléon quan niệm đó là giai cấp nào: Giai cấp đại tư sản và một bộ phận nông dân hữu sản.

Nhưng gác bỏ sang một bên mặt đức hạnh, hay đúng hơn, mặt đạo đức của vấn đề, đứng về phương diện trí tuệ của nó thì người ta có thể hiểu câu nói sau đây của thượng nghị sĩ Ruthenberg: “Napoléon đã đẩy lùi vào cõi chết cái mà, trước ông đã coi là những giới hạn tột cùng của trí tuệ và nặng lực của con người”. Một người Anh khác, giáo sư Hollon Rogers, tuy hoàn toàn không phải là người sùng tín Napoléon, và trên nhiều điểm còn nhận xét Napoléon một cách khắt khe, cũng đã liệt ông đứng vào “hàng đầu những người bất diệt”, vì thiên tài kiệt xuất về mọi mặt mà tạo hoá đã ban cho Napoléon một cách quá đầy đủ và vị trí của ông trong lịch sử thế giới. “Napoléon đã quyết định số phận của toàn bộ lục địa trong khoảnh khắc, trong những quyết định ấy của ông ta, ông ta đã thống nhất được thiên tài thật sự với ý chí kiên quyết đạt tới mục đích của ông ta”.[62]

Napoléon không say mê sự tàn bạo, nhưng ông ta thờ ơ trước con người, ông ta chỉ coi họ như là phương tiện và công cụ. Và khi thấy cần thiết phải tàn bạo, phải mưu mẹo, phải nham hiểm thì ông ta đã dùng đến không một chút do dự. Tinh thần tỉnh táo cuả ông ta đã cho ông ta biết rằng, trong bất kỳ việc gì, nếu cố đạt được mục đích không bằng tàn bạo vẫn là phương pháp hơn cả. Napoléon đã hành động phù hợp với nguyên tắc đó, miễn là khi cân nhắc ông thấy rằng hoàn cảnh cho phép. Những mục tiêu chủ yếu nhất mà Napoléon đặt ra sau trận Tilsit và nhất là sau trận Wagram thường là ảo tưởng và không thực hiện được, nhưng để đạt được, tài năng của ông đã đem lại cho ông những kiến giải rất khác nhau, tìm được những phương pháp mới lạ nhất, luôn luôn phân biệt với cái chủ yếu và am hiểu mọi chi tiết nhưng không bị chìm ngập vào đó. Bất chấp câu phương ngôn cũ, Napoléon đã nhìn cả cánh rừng lẫn từng khóm cây, không những thế, ông ta còn nhìn cả cành, lá trong mỗi cái cây.

Quyền lực và quang vinh, đó là những khát vọng thống trị con người Napoléon, và khát vọng quyền lực còn mạnh hơn quang vinh. Suy nghĩ không ngừng, thông minh sắc sảo và luôn tỉnh táo, hay nghi ngờ và dễ nổi nóng, đó là đặc điểm nổi bật nhất ở Napoléon. Được xung quanh sùng tín đến tôn thờ quá lâu ngày, Napoléon đã làm quen với nó, coi như là một sự tôn kính thường lệ và tất nhiên phải thế đối với ông ta. Nhưng Napoléon thường chú ý nhiều nhất đến những lợi ích thực tế mà ông ta có thể thu hoạch được trong sự tôn thờ ấy. Những động lực chủ yếu kích thích con người hành động là sự sợ hãi và quyền lợi, chứ không phải là tình thương yêu, Napoléon tin tưởng sâu sắc như vậy, có ngoại lệ chỉ là đối với binh sĩ của ông ta, nhưng cũng chỉ đối với một bộ phận mà thôi. Khi Napoléon còn đang thống trị Châu Âu, có hôm ông ta đặt ra câu hỏi: Nếu nhận được tin ông ta chết thì thiên hạ sẽ nghĩ thế nào? Triều thần vội vã đoán trước rằng thiên hạ sẽ đau buồn, nhưng Napoléon đã ngắt lời họ bằng những lời chua chát sau đây: Theo ý kiến ông ta thì Châu Âu ắt sẽ thở dài khoan khoái.

Napoléon tự biết rằng binh lính tôn sùng ông ta và mặc dầu ông ta yêu mến binh lính còn xa mới bằng họ yêu mến ông ta, nhưng ông ta đã luôn luôn tin tưởng ở họ.

Napoléon không sợ chết. Khi Napoléon mất đi, tắm rửa thi hài cho ông, người ta tìm thấy trên người ông có nhiều vết thương mà từ trước tới nay chưa hề ai hay biết (trừ vết sẹo bị lưỡi lê đâm ở trận xung phong thành Toulon và một vết đạn ở chân trong trận Ratisbonne năm 1809). Rõ ràng Napoléon đã dấu các vết thương ấy của ông ta để binh lính khỏi dao động trong khi đang chiến đấu, và đã nhờ những người thân cận nhất băng bó, đồng thời cũng hạ lệnh cho họ không được tiết lộ. Napoléon không chút ngờ vực gì về quang vinh sẽ đến với ông ta sau khi ông ta mất đi. Napoléon đã giải thích cuộc đời kỳ dị của ông ta trước hết bằng cái vận hội mà người ta chỉ có thể ngàn năm mới gặp một lần. ”Nhưng đời ta là một cuốn tiểu thuyết như thế nào nhỉ”, có lần, Napoléon đã nói như vậy với Las Cases, ở đảo Saint Helena.

Sự vắng mặt của Napoléon trên vũ đài lịch sử đã gây cho những con người đương thời một ấn tượng giống như một cơn giông tố tột nhiên biến đi sau sau một thời gian dài hoành hành ác liệt. Từ trước thời Napoléon, sự tiến triển xã hội và kinh tế đã làm suy yếu nhiều chính thể cổ hủ ở Châu Âu thời ấy - những chính thể đó đã duy trì chế độ phong kiến trong hàng bao nhiêu thế kỷ, sự tiến triển ấy đã phá vỡ cơ sở của nhiều thượng tầng kiến trúc - về pháp chế và hiến pháp - vẫn tồn tại bởi sức ỳ của chúng và đã đục khoét vô số lâu đài trông mã ngoài cổ kính, lộng lẫy. Cơn lốc xoáy ở Châu Âu mà Napoléon đứng ở trung tâm đã quật đổ và lôi cuốn đi số lớn những toà lâu đài mọt rỗng ấy; đương nhiên không có Napoléon, chúng cũng sẽ sụp đổ, tất yếu đó sớm diễn ra. Nghệ thuật giết người mà Napoléon đã sử dụng với tài năng không thể bắt chước được đã giúp ông ta dễ dàng hoàn thành sứ mạng lịch sử ấy.

Sau Napoléon, một vài quốc gia phong kiến sống sót đã tồn tại được một thời gian ở Tây Âu, nhưng trừ một vài ngoại lệ thì chúng giống như một xác chết tráng men. Cuộc cách mạng năm 1830 ở Pháp, cuộc cách mạng năm 1848 ở Đức và ở Áo đã đẩy mạnh công cuộc quyét dọn những thây ma lịch sử. Nước Nga, đến năm 1861, mới cất bước đầu tiên quan trọng trên con đường ấy (con đường thủ tiêu chế độ nông nô); bị miễn cưỡng và căm giận; đa số trong giai cấp quý tộc Nga đã công khai nuôi hy vọng đoạt lại những cái mà hoàn cảnh đã buộc chúng phải nhượng bộ, hoặc ít ra trong khi chờ đợi tuyệt vọng, chúng cố gắng giảm bớt sự nhượng bộ, và trong mọi việc này, bọn chúng đã thành công mỹ mãn.

Tuy nhiên, nên nhận thấy rằng Napoléon đã tạo điều kiện to lớn cho Châu Âu phong kiến dễ dàng chống lại ông và chiến thắng ông. Hình ảnh viên tướng cũ của cách mạng càng chìm biến trong hình ảnh của vị Hoàng Đế Pháp, và hình ảnh của vị Hoàng Đế Pháp càng chìm đắm trong hoàn cảnh của vị chúa tể toàn cầu thì Napoléon càng tỏ ra do dự trong việc giải phóng các dân tộc thoát khỏi ách phong kiến (như ở Ba Lan 1807 - 1812, Napoléon đã giải phóng cho nông dân song không chia ruộng đất cho họ, như vậy thực tế là vẫn để cho chế độ nông nô tồn tại; ở Nga vào năm 1812), và Napoléon càng tỏ ra ngang ngạnh, kiên quyết bao nhiêu trong việc buộc các dân tộc và các Chính Phủ phải tuyệt đối phục tùng quyền lực vũ đoán của ông ta thì Châu Âu càng kiên quyết nổi dậy chống lại kẻ áp bức toàn thế giới.

Bởi vậy, năm 1818 - 1814, không phải chỉ có bọn quý tộc cặn bã của giai cấp phong kiến mới thấy rằng con đường thoát duy nhất là vùng ra khỏi ách Napoléon. Giai cấp tư sản ở các nước bị chinh phục cũng khao khát san phẳng những chướng ngại do Napoléon đã đặt ra để kìm hãm sự phát triển của nó. Giai cấp tư sản thấy rõ và không chịu nổi phương thức bóc lột thậm tệ mà Napoléon đã dùng ở những nước ấy để phục vụ quyền lợi độc quyền của giai cấp tư sản Pháp. Đúng là khi cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc đã cho phép các dân tộc vứt bỏ ách thống trị của Napoléon thì thành quả trực tiếp của thắng lợi ấy đã không rơi vào tay giai cấp tư sản, mà lại rơi vào tay bọn phản động phong kiến chuyên chế, như vậy là do sự yếu hèn và tình trạng thiếu tổ chức của giai cấp tư sản ở Châu Âu hồi đó.

Chính vì vậy mà vào những năm 1813, 1814, 1815, người ta đã thấy trong hàng ngũ chống lại Napoléon có cả các giai cấp của xã hội Châu Âu trước kia đã từng hết lời ca ngợi Napoléon là ”vị Tổng Tài công dân số một” hoặc ít ra thì cũng là ”người bảo vệ những tư tưởng tự do của cách mạng” như một số đông người vẫn còn lầm tưởng trong khoảng thời gian từ ngày 18 Tháng Sương Mù đến ngày tuyên bố thành lập Đế Chế. Chính sách kinh tế của Napoléon ở các nước bị chinh phục không thể đem lại một kết quả cuối cùng nào khác. Cho đến khi chết, Napoléon cũng không muốn hiểu điều đó và thực chất cũng không thể hiểu được.

Tượng Hoàng Đế bằng đồng đen, đầu đội vòng hoa chiến thắng, một tay cầm gươm báu, một tay cầm quả địa cầu, đứng sừng sững ở trung tâm Paris, trên đỉnh cột Vendôme, đúc bằng đại bác chiến lợi phẩm, dường như làm sống lại một phần con người Napoléon lúc sinh thời đang miệt mài trong giấc mơ cuồng nhiệt: Thâu tóm Châu Âu và, nếu có thể, cả Châu Á, và với bàn tay cũng cương nghị như trong pho tượng, ông ta nắm chặt quả địa cầu. Nhưng nền đế chính toàn cầu đã sụp đổ, và trong sự nghiệp của Napoléon, chỉ còn một sống vĩnh viễn những phần nào do sức tác động quyết định của những nguyên nhân sâu xa về kinh tế và xã hội đẻ ra ngay từ trước khi ông lên ngôi.

Hình ảnh Napoléon mãi mãi in sâu trong tâm trí loài người; nó gợi cho người này bóng của Attila, Tamerlane, Thành Cát Tư Hãn, người khác thì lại Alexander đại đế và Julius Caesar; nhưng với sự tiến bộ của khoa nghiên cứu lịch sử, hình ảnh ấy luôn luôn hiện ra ngày một rõ nét trong tính độc đáo có một không hai và trong sự phức tạp kỳ lạ của cá nhân con người ấy.

HẾT

★★★

[54] Clausewitz, Bàn Về Chiến Tranh, nhà xuất bản Quân Sự Moscow, 1935, tr. 545.

[55] K. Marx và Fr. Engels, Toàn tập, bản tiếng Nga, t. XXV, tr. 183.

[56] K. Marx và Fr. Engels, Toàn tập, bản tiếng Nga, t.V, tr.8.

[57] Sách đã dẫn, tr. 9.

[58] Sách đã dẫn, t.V, tr.8.

[59] Sách đã dẫn, t. VII, tr. 212.

[60] Sách đã dẫn, t. X, tr.26

[61] Sách dẫn, t. V, tr. 10.

[62] K. Marx và Fr. Engels, Toàn tập, bản tiếng Nga, t. IX, tr. 372.

Yevgeny Viktorovich Tarle

Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Mười tám nhà thiên văn tiền phong XXXXX

Mười tám nhà thiên văn tiền phong COPERNICUS Trong giảng đường đại học, giáo sư thiên văn Maria da Novara nhìn lướt qua các sinh viên củ...