Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

Napoléon Bonaparte 1 XXXXXX

Napoléon Bonaparte 1

LỜI NÓI ĐẦU

Người mà tôi phải viết về thân thế và giải thích về tính cách là một trong những hiện tượng kỳ lạ nhất của lịch sử thế giới, và cũng không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy người ta đã viết, đang viết và còn phải viết rất nhiều cuốn sách nữa về con người ấy.

Cuộc tàn sát trên thế giới trong những năm 1914 - 1918 tất nhiên làm thức tỉnh và làm tăng thêm sự chú ý tới nhân vật mà các chuyên gia đều đã nhất trí coi là thiên tài quân sự lớn nhất của các thời đại. Những tướng bất tài như loại Robert Georges Nivelle ở Pháp, Helmuth Johannes Ludwig von Moltke cháu và Erich von Falkenhayn ở Đức, John French và Frederick William Hedges ở Anh, Paul von Rennenkampf và Nikolai Nikolaevich Yanushkevich ở Nga thì nhiều vô kể, đến nỗi buộc người ta phải coi đến cả những nhân vật mà tài năng hạn chế như Erich Ludendorff, Ferdinand Jean Marie Foch, hay Harold Aleksandr là những nhà chiến lược thiên tài. Ngay sự tồn tại của những nhà chỉ huy bất lực ấy của hàng triệu người vũ trang cũng đã chứng minh một cách không thể chối cãi được rằng, tình trạng chiến tranh và sử dụng những quân đội khổng lồ tự thân nó không có khả năng tạo nên một nhà chỉ huy thiên tài, cũng như toàn thể những mỏ đá Cara đẹp nhất không có khả năng sinh ra một nhà điêu khắc như Phidias hay một họa sỹ như Michelangelo được. Sau cuộc chiến tranh thế giới, sự thật ấy đã được thừa nhận một cách không cần bàn cãi, và một điều rất tự nhiên là nó đã làm sống lại một cách mạnh mẽ sự chú ý tới một số bậc thầy về nghệ thuật chiến tranh như Annibal (Hannibal Barca), Julius Caesar, Alexander Vasilyevich Suvorov, và dĩ nhiên, trước hết là tới “người đứng đầu trong số những người đứng đầu" về nghệ thuật này: Napoléon.

Theo quan điểm của Napoléon thì những cuộc chiến tranh, những cuộc xung phong, những cuộc hành quân, những cuộc xâm lược đều nhằm đánh bại kẻ địch, bắt chúng phải làm theo ý muốn của mình, bắt chúng phải hàng phục một cách chắc chắn và lâu dài, hàng phục “mãi mãi", rồi từ đó nhào nặn lịch sử nước bị đánh bại theo ý muốn của mình, hay nếu không có khả năng đạt được mục đích đó ngay, thì ít ra cũng làm ảnh hưởng đến lịch sử của nước ấy. Những thắng lợi không chiến quả, nghĩa là những thắng lợi không mang lại những quyền lợi chính trị trực tiếp thì Napoléon không bao giờ cần đến.

Đương nhiên là chỉ ở vào thời kỳ thơ ngây của lối viết lịch sử duy tâm và đặc biệt là của “trường phái anh hùng" - một trong những cách viết theo quan điểm duy tâm - người ta mới gán cho Napoléon vai trò của kẻ đã sáng tạo ra thời đại mà Napoléon đã sống, thời đại mà Napoléon được coi là người mang lại cả ý nghĩa lẫn tinh thần tầm quan trọng về mọi mặt đối với sự tiến bộ của nhân loại.

Sau khi bóp chết được cách mạng Pháp, Napoléon đã làm cho mọi người không còn nhớ gì đến cuộc cách mạng ấy nữa; ông ta đã khủng bố dữ dội những người Jacobins vào tháng 12 năm 1800 không phải vì phái này đã tổ chức “vụ bom nổ" (ngay sau đó ông ta biết phái nay không dính dáng gì vào việc ấy), mà chỉ bởi họ là những người Cộng Hòa và họ nhất định không muốn vì cái danh dự của lòng yêu nước theo lối chauvinism và hiếu chiến mà phản lại truyền thống cách mạng. Trên con đường phản động chính trị, Napoléon đã làm tất cả những cái gì cần làm trước hết và trên hết cho giai cấp đại tư sản thương nghiệp và công nghiệp; ông ta đã chỉnh đốn toàn bộ chính sách đối nội và đối ngoại của mình để làm thế nào có thể thỏa mãn hoàn toàn những quyền lợi của giai cấp này.

Kẻ chuyên chế ấy đã gạt ra khỏi sinh hoạt chính trị và xã hội thuộc đế quốc của y ngay cả những khái niệm còn chưa phải là khái niệm tự do. Trong suốt thời gian ngự trị của Napoléon, một không khí im lặng tuyệt đối đã bao trùm lên đế quốc rộng lớn của ông ta. Ông ta muốn chỉ đạo mọi việc, chỉ huy mọi người, đến nỗi ở triều đình, ngay trong đám đại thần và tướng lĩnh, người ta lấy vợ lấy chồng cũng phải theo lệnh và chỉ thị của ông ta, và người ta phải ly dị nhau khi Napoléon thấy là cần thiết.

Chiến tranh đã làm nước Pháp kiệt quệ. Vào những năm 1814 - 1815, có những làng không còn đàn ông từ 15 tuổi trở lên đến 70 tuổi trở xuống nữa. Napoléon đã đấu tranh một cách kiên quyết và luôn luôn tàn bạo chống lại tinh thần cách mạng của thợ thuyền. Chính bản thân ông ta cũng biểu hiện điều đó và đã có lần nói, với cái lối thẳng thắn đặc biệt của ông ta, rằng thợ thuyền không có một lý do gì để yêu ông ta được, rằng ông ta “thấy họ sống cùng khổ và cứ để mặc cho họ khổ". Nhưng, ông ta đã quên nói thêm rằng không có một chính phủ nào của cuộc cách mạng tư sản bị ông ta đè bẹp tỏ ra có được tài năng tuyệt diệu bằng ông ta trong việc tìm ra những thủ đoạn bóc lột đến tận xương tủy giai cấp thợ thuyền, vì việc lập ra “tiểu bạ công nhân"[1] của ông ta đã vĩnh viễn tước đoạt mất của thợ thuyền khả năng bảo vệ quyền lợi của mình, dù rất ít hiệu lực, để chống lại sự bóc lột của bọn chủ.

Ông hoàng Pyotr Andreyevich Vyazemsky, bạn lớn tuổi của Pushkin, sống vào thời kỳ Napoléon, đã nói rằng sự áp bức thường xuyên, sự hoảng hốt và sự lo lắng nơm nớp cho một ngày mai bấp bênh đã bao trùm lên cả Châu Âu trong suốt thời gian Đế chế thứ nhất. Không ai có thể biết được rằng ngày mai đây sự gì sẽ đến với bản thân họ và đất nước họ, vì không biết Napoléon, có chuẩn bị một đòn bất ngờ nào không. Là kẻ ngưỡng mộ, tán dụng Napoléon, Albert Count Vandal đã khéo dùng một từ bóng bẩy để gợi đến những “biên giới di động" của cái đế quốc do người anh hùng mà ông ta yêu chuộng lập nên. Nhưng, dù cho độc giả chẳng hiểu rõ thế nào là “biên giới di động" thì rồi ngay đây độc giả cũng sẽ tin lời hoàng thân P.A. Vyazemsky và sẽ hiểu tại sao tình trạng áp chế và náo động đã đè nặng lên Châu Âu trong thời đẫm máu đó. Biên giới của đế quốc Napoléon không những chỉ “di động" trong và sau chiến tranh, mà còn di động cả trong những khoảng thời gian ngắn ngủi mà Napoléon không đi chinh chiến. Khi có thời cơ thuận tiện, ông ta chỉ việc đưa ra một sắc lệnh sát nhập vô điều kiện các nước mà ông ta muốn vào đế quốc của ông ta. Đối với Napoléon các hiệp ước đều không có một chút giá trị gì. Sự cướp bóc đã được công khai tổ chức và diễn ra trên tất cả các nước mà Napoléon đã giữ cho nền tài chính của nước Pháp vẫn ở tình trạng khả quan và hầu như không bị mắc nợ (còn như nước Anh, suốt 40 năm chưa trả hết nợ đã mắc trong thời kỳ Napoléon) và về vấn đề này, các nhà viết sử Pháp “yêu nước" đã quá dễ dàng cảm kích, họ quên rằng kết quả rực rỡ đó chẳng qua chỉ là do sự cướp bóc thả cửa chưa từng thấy ở các nước bị chinh phục.

Độc giả của cuốn sách này thường hỏi tôi, liệu có thể đánh giá như tôi rằng “chiến tranh của Napoléon là chiến tranh đế quốc" không, mặc dầu chủ nghĩa đế quốc, như hiện nay chúng ta hiểu, chưa xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XIX. Lẽ dĩ nhiên người ta có thể gọi, và thậm chí phải gọi như vậy, vì từ ngữ “chiến tranh đế quốc" được áp dụng một cách hoàn toàn chính xác vào các cuộc chiếm đoạt của Napoléon, nếu xét về tính chất và ý nghĩa của chúng, Lenin đã nhiều lần nói đến vấn đề này, và trong thời kỳ những hoạt động nổi tiếng của Người cho Hòa Ước Brest - Litovsk, Người đã nói như sau: “Những cuộc chiến tranh đế quốc của Napoléon đã diễn ra trong nhiều năm, bao gồm cả một thế kỷ, và đã làm xuất hiện một hệ thống đặc biệt phức tạp những mối quan hệ đế quốc chủ nghĩa trong những mâu thuẫn của chúng với các phong trào giải phóng dân tộc". Và như đoán trước được câu hỏi của độc giả tôi, Người liền nói rõ thêm: “Ở đây, tôi gọi chủ nghĩa đế quốc là sự cướp bóc các nước khác nói chung và chiến tranh đế quốc là chiến tranh giữa quân ăn cướp để chia nhau những của ăn cướp được".

Vin vào tất cả mọi cớ có thể vin được để nô dịch về mặt chính trị và cướp bóc thả cửa, đó là ý nghĩa của các cuộc chiến tranh của Napoléon đối với các nước bị chinh phục.

Giai cấp đại tư sản cần thống trị về mặt kinh tế trên lục địa Châu Âu bị nô dịch. Giai cấp ấy giúp Napoléon giữ được uy quyền tuyệt đối ở trong nước và ở Châu Âu. Đó là quy tắc của đế quốc Napoléon. Nhưng đó mới chỉ là một hình ảnh cục bộ của nền thống trị Napoléon và nếu cho thế là hết thì quả thật là không hiểu hết ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp của con người dị thường này.

Châu Âu phong kiến và chuyên chế sụp đổ dưới những đòn của Napoléon là một sự kiện hiển nhiên và không thể chối cãi được, phủ nhận ý nghĩa lịch sử tích cực và tiến bộ của sự kiện ấy là không công bằng và không xứng đáng với bất cứ một nhà học giả nào, dù rằng chỉ có đôi chút tinh thần nghiêm túc.

Điều mà K. Marx và Fr. Engels nói về nước Đức đều có thể vận dụng vào các nước khác trên lục địa: “Nếu Napoléon tồn tại là người chiến thắng ở nước Đức thì, với đường lối chính trị kiên quyết nổi tiếng của mình, Napoléon ắt đã loại trừ ít ra là ba tá các vị phụ mẫu yêu quý của nhân dân. Pháp chế và nền cai trị của nước Pháp ắt đã tạo nên một nền móng vững chắc cho sự thống nhất nước Đức và ắt đã giải thoát cho chúng ta khỏi 33 năm nhục nhã và bạo ngược... Của Quốc Hội Liên Bang. Chỉ cần hai hay ba đạo luật của Napoléon là hủy bỏ vĩnh viễn được chế độ lao dịch nhục nhã của thời trung cổ, mọi đặc quyền đặc lợi, toàn bộ nền kinh tế phong kiến và chế độ gia trưởng còn đè nặng lên chúng ta trên khắp mọi ngả, mọi nơi trong tổ quốc của chúng ta”.

Napoléon đã giáng cho chế độ phong kiến những đòn chí tử, làm cho nó không bao giờ còn có thể ngóc đầu lên được, và đó cũng là ý nghĩa tiến bộ của thiên sử anh hùng ca gắn liền với tên tuổi Napoléon.

Với tư cách là một thực tế lịch sử, Napoléon là một hiện tượng không bao giờ có thể tái sinh ở bất cứ đâu, trong lịch sử thế giới, không bao giờ có thể tái diễn tình hình đã xảy ra ở nước Pháp và ở Châu Âu vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX.

Mục đích chủ yếu của tác giả là cố dựng một bức họa thật chi tiết về thân thế và sự nghiệp của ông Hoàng Đế đầu tiên của nước Pháp, với đặc điểm như là một con người, một nhân vật lịch sử, cùng với tài năng, bản chất và ước vọng của ông ta. Chúng tôi cho rằng ít ra độc giả cũng đã có một hiểu biết chung về thời đại, về các lực lượng trong lịch sử có tính chất quyết định, về cơ cấu giai cấp xã hội nước Pháp sau cách mạng và ở Châu Âu phong kiến và chuyên chế.

Trong hoàn cảnh của Châu Âu lúc đó, chính Napoléon là người đã giáng vào trật tự phong kiến nhiều đòn khủng khiếp. Không biết lịch sử nền đế chế Napoléon, độc giả sẽ không hiểu gì về toàn bộ lịch sử của Châu Âu từ năm 1815 đến năm 1848.

Độc giả, dẫu làm quen rất ít với các tác phẩm viết về Napoléon hẳn đều đồng ý rằng cái định nghĩa của tôi ở đây, dù xấu hay tốt, cũng không phù hợp với định nghĩa mà các nhà viết sử tư sản đã gán cho Napoléon, kể cả những người đã tán tụng và những người dèm pha Napoléon. Lý do là vì tôi đã cố gắng mô tả một cách hoàn toàn khách quan nhân vật vừa rộng lớn lại vừa phức tạp này và vì không phải tôi chỉ chú ý (và chú ý nhiều) đến động cơ hành động của nhân vật đó hơn là đến ý nghĩa lịch sử của những hành động ấy. Jens (Gien-xơ?) nhà ký giả người Áo, một trong những kẻ thù hăng nhất của Napoléon, đã gọi Napoléon là một hiện tượng của tạo hóa, mặc dầu đã tin như vậy, Jens cũng vẫn đả kích kịch liệt cái “hiện tượng của tạo hóa" ấy. Pushkin đã gọi Napoléon là “người đã được thiên định để chấp hành những định mệnh bí ẩn" của lịch sử. Nhắc lại lời của Pushkin là cốt để nói lên rằng, chính điểm ấy đã làm tôi phải chú ý và tìm xem Napoléon đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử lớn lao của mình như thế nào.

Cuốn sách này không phải là một tác phẩm phổ thông, mà là kết quả của một sự tìm tòi chuyên đề, một bản tóm tắt cô đọng những kết luận mà tác giả đã đạt được sau khi nghiên cứu các tài liệu lưu trữ hoặc đã được xuất bản. Tác giả đã khai thác những tài liệu ấy (và có một số tài liệu, tác giả là người đầu tiên đã tìm ra) trong khi biên soạn hai chương nghiên cứu về cuộc phong tỏa lục địa cũng như khi nghiên cứu về tình hình báo chí dưới thời Napoléon. Lẽ tất nhiên, tôi cũng đã tham khảo những tài liệu có liên quan đến các mặt khác trong sự nghiệp của Napoléon.

[1] Tiểu bạ công nhân (livret ouvrier): Napoléon quy định mỗi công nhân phải có một quyển sổ, hàng ngày chủ ký vào, ai không có tiểu bạ hoặc có tiểu bạ mà không có chữ ký của chủ đều bị xem là lưu manh và bị bắt giam.

CHƯƠNG 1

1

Ngày 15 tháng 8 năm 1769, tại thành phố Ajaccio thuộc đảo Corsica[2], Letizia Bonaparte, 19 tuổi, vợ một người quý tộc địa phương làm nghề luật sư, đang đi ngoài phố bỗng thấy đau đẻ, vội rảo bước về nhà thì sinh được một đứa con trai. Lúc bấy giờ, quanh Letizia không có ai nên đứa bé đã bị đẻ rơi. Thế là gia đình của Carlo Bonaparte, một luật sư nghèo ở thành phố Ajaccio, thêm một người. Carlo Bonaparte quyết định cho con mình hấp thụ nền giáo dục Pháp chứ không phải nền giáo dục Corsica. Khi đứa bé lớn lên, gia đình đông người ấy không có đủ tiền cho con ăn học, Carlo Bonaparte đã xin được học bổng cho con vào theo học ở một trường võ bị Pháp.

Đảo Corsica, sau nhiều năm thuộc về nước Genoa[3], đã nổi dậy dưới sự lãnh đạo của một địa chủ địa phương tên là Paoli, và năm 1755, đã đuổi được người Genoa ra khỏi đảo.

Lẽ dĩ nhiên, đó là một cuộc khởi nghĩa của tầng lớp tiểu quý tộc nông thôn và của nông dân được những người săn bắn, những người chăn cừu ở trên núi và dân nghèo ở một vài thành thị ủng hộ. Tóm lại, đó là cuộc khởi nghĩa của một dân tộc muốn thoát ra khỏi ách bóc lột hà khắc về thuế khoá và cai trị của một nước Cộng Hòa buôn bán. Cuộc khởi nghĩa thu được thắng lợi, và từ năm 1755, đảo Corsica sống độc lập dưới sự lãnh đạo của Paoli. Những tàn dư của xã hội tộc trưởng vẫn còn mạnh (đặc biệt ở trong nội địa đảo). Thỉnh thoảng, các thị tộc lại giao tranh ác liệt và dai dẳng. Tệ tục “thù truyền kiếp” rất phổ biến, thường được kết thúc bằng những trận chiến đấu khủng khiếp.

Năm 1768, nước Genoa đã bán lại cho vua nước Pháp Louis XV “quyền hành của mình” ở Corsica - thực tế quyền hành ấy đã bị thủ tiêu, và mùa xuân năm 1769, quân đội Pháp đã đánh bại quân của Paoli (việc này xảy ra vào tháng 5 năm 1769, ba tháng trước khi Napoléon ra đời). Đảo Corsica trở thành đất đai thuộc Pháp.

Như vậy, Napoléon đã sống những ngày thơ ấu trong một thời mà lòng dân đảo Corsica còn luyến tiếc nền độc lập chính trị đã mất đi một cách quá đột ngột, còn như một bộ phận của giai cấp địa chủ và tư sản thành thị thì tự nhủ rằng tốt hơn hết là hãy trở thành những thần dân trung thành và tự nguyện của nước Pháp. Bố Napoléon, Carlo Bonaparte, thuộc phái thân người bảo vệ đảo Corsica đã bị đưa đi đày, và căm ghét những người xâm lăng.

Ngay từ hồi còn nhỏ, Napoléon đã tỏ ra không nhẫn nại và nôn nóng. Sau này, khi ôn lại những kỷ niệm thời ấu thơ của mình, Napoléon nói rằng: Không ai bắt nạt được mình, hay gây gổ, hay đánh đứa này, chọc đứa khác và mọi đứa bé đều sợ cậu ta. Đặc biệt là Joseph, anh Napoléon, đã phải chịu đựng chuyện ấy nhiều.

Napoléon đánh anh, cắn anh, nhưng chính Joseph lại bị quở mắng, vì sau cuộc ẩu đả, Joseph chưa kịp hoàn hồn thì Napoléon đã đi mách mẹ. Napoléon kể thêm: Mưu mẹo đã giúp tôi như vậy đấy, nếu không mẹ tôi đã phạt tôi về tội hay cãi nhau và không bao giờ tha thứ những hành động gây gổ của tôi.

Napoléon là một đứa trẻ lầm lì và nóng tính. Tuy bà mẹ yêu con, nhưng dạy dỗ Napoléon cũng nghiêm khắc như đối với anh em của Napoléon. Gia đình sinh hoạt tằn tiện nhưng không túng bấn. Trông bề ngoài, ông bố là một người đàn ông tốt và bà Letizia, người chủ thật sự của gia đình, một người đàn bà quả quyết, nghiêm khắc và cần cù. Napoléon thừa hưởng của mẹ tinh thần ham làm việc và nếp sống trật tự nghiêm ngặt.

Đảo Corsica ở xa lục địa, nhân dân còn man rợ sống trong núi rừng, những cuộc xung đột kéo dài giữa các thị tộc, tệ nạn “thù truyền kiếp”, mối ác cảm rất khéo che giấu nhưng sâu sắc, dai dẳng của dân đảo đối với bọn xâm lược Pháp, tất cả những đặc điểm đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến những cảm giác đầu tiên của cậu bé Napoléon.

Năm 1779, sau bao lần chạy chọt, Carlo Bonaparte mới gửi được hai đứa con lớn là Joseph và Napoléon sang Pháp theo học ở trường trung học Nobles; mùa xuân năm ấy, Napoléon được nhà trường nước Pháp cấp học bổng và chuyển sang học ở trường võ bị Brienne, một thị trấn nhỏ ở miền Đông nước Pháp. Lúc này, Napoléon 10 tuổi.

Ở Brienne, Napoléon là một đứa bé âu sầu, kín đáo, cáu kỉnh và hay giận dữ lâu, không gần gũi ai, không coi ai ra gì, không bạn bè, cảm tình với ai, rất tự tin mặc dầu tầm vóc nhỏ bé và còn ít tuổi. Người ta đã thử sỉ nhục, trêu chọc, chế giễu giọng nói địa phương của Napoléon. Cậu Bonaparte đã giận dữ ẩu đả, có khi được có khi thua, nhưng cũng đã làm cho bạn bè của cậu hiểu rằng những cuộc xung đột như vậy không phải là không nguy hiểm. Napoléon học giỏi lạ lùng, nghiên cứu đến nơi đến chốn sử Hy Lạp và sử La Mã, cũng rất say mê toán học và địa lý. Các giáo sư của trường võ bị ở cái tỉnh nhỏ đó không giỏi lắm về các môn khoa học mà họ giảng dạy nên cậu Napoléon phải bồi bổ thêm kiến thức của mình bằng cách đọc sách. Napoléon đọc sách trong những năm còn ít tuổi và sau này còn đọc rất nhiều và đọc rất nhanh. Lòng yêu quê hương đảo Corsica của Napoléon đã làm cho bạn bè người Pháp ngạc nhiên và xa lánh Napoléon: Lúc bấy giờ Napoléon còn coi nước Pháp như một chủng tộc xa lạ, là những kẻ xâm lược hòn đảo quê hương của mình. Napoléon chỉ liên lạc được với tổ quốc xa xôi của mình bằng thư từ của bố mẹ, anh em, vì gia đình không đủ tiền cho Napoléon về nhà nghỉ hè.

Năm 1784, 15 tuổi đã học xong và tốt nghiệp, Napoléon được gửi đi học ở trường võ bị École Militaire Paris, nơi đào tạo sĩ quan của quân đội lúc bấy giờ. Trường này có nhiều giáo sư rất giỏi, trong số đó có nhà toán học Monge và nhà thiên văn học Laplace. Napoléon say sưa học và đọc sách. Tại đó, Napoléon có sách, có thầy để học. Những ngày trong năm đầu, Napoléon đã gặp một điều không may: Vào học ở trường võ bị từ cuối tháng 10 năm 1784 thì đến tháng 2 năm 1785, bố Napoléon chết vì bệnh ung thư dạ dày cũng như sau này chính Napoléon đã bị. Hầu như gia đình không còn cách sống. Không thể trông mong được mấy vào người anh cả Joseph, một người bất lực và lười biếng, cậu học sinh sĩ quan 16 tuổi phải đứng ra chăm sóc mẹ và các em trai, em gái của mình. Sau một năm học ở trường võ bị Paris, ngày 30 tháng 10 năm 1785, Napoléon nhập ngũ, mang cấp hiệu thiếu uý và nhận công tác ở một trung đoàn đóng ở Valence.

Ở Valence, viên sĩ quan trẻ tuổi ấy sống một cuộc sống khó khăn. Hàng tháng, Napoléon gửi về cho mẹ gần hết số lương chỉ giữ lại đủ để trả tiền những bữa ăn đạm bạc của mình và không vui chơi giải trí gì. Trong ngôi nhà Napoléon thuê được một căn buồng, có một cửa hàng nhỏ bán sách cũ. Napoléon đã dành tất cả thời gian rỗi rãi của mình vào việc đọc sách do người chủ hiệu cho mượn. Napoléon không thích giao du, vả lại Napoléon ăn mặc quá tồi tàn đến nỗi không muốn và cũng không thể có một cuộc sống xã giao tối thiểu. Napoléon say mê đọc sách chưa từng thấy, khi đọc ông ghi chép và viết những ý kiến phân tích của mình dày đặc cả sổ tay.

Trước hết, Napoléon thích đọc các tác phẩm lịch sử quân sự, sách toán học, địa lý và các sách tả cuộc du lịch. Napoléon cũng đọc cả sách triết học. Chính vào thời kỳ này Napoléon bắt đầu nghiên cứu những tác giả cổ điển của Thế kỷ ánh sáng: Voltaire[4], Rousseau[5], d’Alembert, Mably và Raynal.

Thật khó mà xác định được vào thời kỳ nào thì xuất hiện ở Napoléon những dấu hiệu đầu tiên của lòng căm ghét đối với những nhà tư tưởng của cuộc cách mạng tư sản và thứ triết học rất đặc biệt của Napoléon. Dù sao, lúc này, người trung uý phó 16 tuổi vẫn học nhiều hơn là phê phán. Và đây nữa cũng là một điểm cơ bản của tinh thần Napoléon: Thời thanh niên, khi đọc sách cũng như khi tiếp xúc với người mới quen biết, Napoléon đều khao khát và nóng lòng muốn được hấp thu nhanh chóng và đầy đủ những điều mà mình chưa biết tới, những điều có thể góp phần bồi dưỡng tinh thần cho bản thân mình.

Napoléon cũng đọc các tác phẩm văn học bằng văn xuôi, văn vần; say mê cuốn tiểu thuyết “Nỗi Đau Của Chàng Werther" và một vài tác phẩm khác của Goethe; đọc cả tác phẩm của Racine, Pierre Corneille, Molière[6], các bài thơ lừng danh một thời bị gán là của Ossian, một thi sĩ hát rong người Écosse thời trung cổ (thực tế chỉ là một sự lừa nghịch trong văn học). Đọc những loại sách ấy xong, Napoléon lại lao vào sách toán học và các tác phẩm có liên quan đến các vấn đề quân sự, đặc biệt là pháo binh.

Tháng 9 năm 1786, Napoléon xin phép nghỉ dài hạn về quê ở Ajaccio để thu xếp sự sinh sống của gia đình. Khi chết, bố Napoléon có để lại một ít tài sản và một số công việc khá rắc rối. Napoléon đã giải quyết những công việc đó một cách tích cực và có kết quả.

Napoléon được phép nghỉ thêm đến giữa năm 1788, không được hưởng lương nhưng kết quả hoạt động của Napoléon để ổn định công việc gia đình đã bù đắp lại.

Trở về Pháp vào tháng 6 năm 1788, Napoléon đi theo trung đoàn lên đóng ở Auxonne, và lần này Napoléon ở trong trại, không ở nhà riêng nữa. Napoléon vẫn mê mải đọc tất cả các loại sách đã có trong tay và đặc biệt là các tác phẩm bàn về những vấn đề quân sự đã làm say mê các chuyên gia ở thế kỷ thứ XVIII. Một lần, bị phạt không được đi lại, Napoléon đã tìm được ở nơi nhốt mình một cuốn sách cũ nói về pháp luật đời cổ La Mã, viết theo lệnh của Hoàng Đế Justinian. Napoléon không những đã đọc hết cuốn đó, mà gần 15 năm sau, trong khi biên soạn Bộ Dân Luật, Napoléon còn đọc thuộc lòng cả bộ tuyển tập Pháp Luật La Mã. Việc này đã làm cho các nhà luật học lỗi lạc nhất ở Pháp ngạc nhiên. Napoléon quả có một trí nhớ phi thường.

Khả năng làm việc bằng trí óc một cách căng thẳng cũng như khả năng tập trung cao độ và lâu dài sức suy nghĩ của Napoléon đã thấy lộ rõ từ thời kỳ này. Sau này, nhiều lần Napoléon nói rằng: Nếu người ta thấy tôi luôn luôn sẵn sàng đối phó với mọi tình huống thì điều đó có thể giải thích như thế này: Trước khi làm bất cứ việc gì, tôi đã suy nghĩ kỹ trước khá lâu và dự kiến hết những gì có thể xảy ra. Chẳng phải là đã có một vị thần thánh nào thình lình hiện ra để gà cho Napoléon những tình huống dường như bất ngờ đối với những người khác, Napoléon nói thêm rằng “... Lúc nào tôi cũng làm việc, làm việc trong khi ăn, ở rạp hát, ban đêm...”. Khi nói đến thiên tài của mình thì lời lẽ của Napoléon thường đượm vẻ châm biếm hoặc giễu cợt và rồi bao giờ Napoléon cũng nhấn mạnh và rất nghiêm túc đến tinh thần làm việc của mình. Napoléon lấy làm tự hào về khả năng làm việc vô tận của mình hơn bất cứ năng khiếu nào khác mà tạo hoá đã ban cho một cách vô cùng rộng lượng.

Ở Auxonne, Napoléon viết một cuốn sách nhỏ nói về thuật bắn (về cách phóng đạn). Binh chủng pháo binh thật sự trở thành sở trường của Napoléon. Trong tài liệu của Napoléon ở thời kỳ này, người ta còn tìm thấy một vài bản thảo tác phẩm văn học, những công trình nghiên cứu có tính chất triết học và chính trị... v.v. Tư tưởng của Napoléon thường thấy đượm ít nhiều màu sắc của chủ nghĩa tự do và đôi khi còn lặp lại y nguyên một số tư tưởng của Rousseau, mặc dầu, nói chung, người ta không thể nào coi Napoléon như một tín đồ của tác phẩm Khế Ước Xã Hội[7].

Trong những năm này, có một điểm nổi bật: Ý chí và lý trí của Napoléon đã hoàn toàn khống chế được những ham mê về dục vọng. Napoléon không bao giờ ăn thích khẩu, thường xa lánh chỗ đông người, xa lánh giới phụ nữ, khước từ mọi cuộc vui chơi giải trí, làm việc không mệt mỏi, dành tất cả thời giờ nhàn rỗi vào việc đọc sách. Liệu Napoléon có cam chịu mãi với số phận của mình, số phận của một viên sĩ quan nghèo tỉnh nhỏ, xuất thân trong gia đình quý tộc nghèo người Corsica, luôn luôn bị lũ bạn bè quyền quý và bọn cấp trên quyền quý nhìn bằng con mắt khinh bỉ không? Trước khi Napoléon có thời gian để tìm được câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi ấy và cũng chưa có cả thời gian để xây dựng kế hoạch cụ thể cho tương lại thì cái sân khấu mà Napoléon đang chuẩn bị vai trò để bước lên hoạt động đã bắt đầu lung lay, rồi cuối cùng tan vỡ và sụp đổ: Cách mạng Pháp bùng nổ.

2

Biết bao nhiêu nhà chép tiểu sử và viết tiểu sử của Napoléon có khuynh hướng gán cho nhân vật của họ có đức khôn ngoan siêu phàm, có bẩm năng tiên đoán việc đời, có lòng tin vào thiên chức của mình, muốn tìm xem trong viên trung uý pháo binh mới 20 tuổi đóng ở Auxonne này có tiên cảm gì về những lợi ích mà cuộc cách mạng nổ ra năm 1789 ắt phải đem lại cho chàng ta.

Thực tế, mọi việc đã xảy ra một cách giản đơn và tự nhiên hơn nhiều. Do vị trí xã hội của mình, Napoléon chỉ có lợi trong cuộc chiến thắng của giai cấp tư sản đối với chế độ phong kiến chuyên chế. Ở Corsica, ngay cả dưới thời thống trị của Genoa, bọn quý tộc (đặc biệt là tầng lớp quý tộc địa chủ nhỏ) không bao giờ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi mà bọn quý tộc Pháp rất quý trọng. Dẫu sao chàng quý tộc nhỏ này, gốc gác ở một hòn đảo Ý kém văn minh, vừa mới bị người Pháp xâm chiếm, cũng không thể mong có được bước đường công danh rạng rỡ và nhanh chóng ở trong quân đội. Trong cuộc cách mạng 1789, nếu có cái gì có thể cám dỗ được chàng ta, thì chính là từ nay trở đi chỉ riêng có những khả năng của cá nhân là có thể giúp cho con người leo lên những bậc thang xã hội. Để nhảy vào cuộc, viên trung uý pháo binh Bonaparte không cần gì khác nữa.

Những suy tính thực tiễn đã thu hút tâm trí Napoléon. Lợi ích to lớn nhất mà Napoléon có thể thu được ở cách mạng là cái gì? Và ở đâu có điều kiện tốt nhất? Có hai câu trả lời: Một là ở Corsica, hai là ở Pháp. Lúc này, không nên đánh giá quá cao phạm vi và mức độ yêu đảo Corsica của Napoléon. Vào năm 1789, chàng trung uý Bonaparte chẳng còn nhớ tới chú sói con 10 tuổi đã từng đánh nhau rất hăng ở trong sân trường Brienne, mỗi khi bạn bè chế giễu gọng Corsica của mình.

Bây giờ chàng ta đã biết thế nào là nước Pháp và thế nào là đảo Corsica, đã có thể so sánh được hai nước này về mặt diện tích, và tất nhiên đã nhận ra được hai nước này không giống nhau đến mức độ nào. Nhưng vấn đề đặt ra ngay cả vào năm 1789, Napoléon cũng không thể hy vọng chiếm được ở nước Pháp cái địa vị mà ông có thể có được ở Corsica, nhất là nay cách mạng đã bắt đầu bùng nổ, mặc dầu ở Corsica, Napoléon có rất ít điều kiện thuận lợi. Hai tháng rưỡi sau khi ngục Bastille[8] bị phá, Napoléon xin phép nghỉ và trở về Corsica.

Trong số rất nhiều tác phẩm định viết, đúng vào năm 1789, Napoléon đã viết xong một bản tiểu luận nói về lịch sử đảo Corsica và trao bản đó cho Raynal để xin ý kiến, và Napoléon rất lấy làm thích thú về lời đánh giá tâng bốc của nhà văn đang nổi tiếng ấy. Chủ đề ấy đủ để chứng minh rằng Napoléon rất quan tâm đến hòn đảo quê hương của mình, ngay cả khi Napoléon còn chưa có khả năng để chuyên tâm hoạt động chính trị ở đó. Về tới nhà mẹ, Napoléon lập tức tuyên bố tán thành Paoli (Paoli đã trở về sau một thời gian dài bị đày) nhưng Paoli đã tiếp viên trung uý trẻ tuổi rất lạnh nhạt, và chẳng bao lâu, quả nhiên là mỗi người đi một con đường khác. Paoli mơ tưởng đến việc giải phóng hoàn toàn đảo Corsica khỏi ách đô hộ của người Pháp, còn Bonaparte thì cho rằng cuộc cách mạng mở ra những con đường mới cho sự tiến bộ của đảo Corsica và có thể - điều này mới chính cho sự nghiệp của bản thân.

Sau mấy tháng ở nhà không đạt được kết quả gì, Napoléon trở lại đơn vị, mang theo đứa em trai là Louis để giảm bớt một phần chi tiêu cho mẹ. Hai anh em ở Valence, nơi trung đoàn của Napoléon trở lại đóng quân. Từ nay trở đi, trung uý Bonaparte phải sống với em và nuôi nấng cho em ăn học bằng đồng lương quá ít ỏi của mình. Có bữa ăn trưa chỉ có mỗi một miếng bánh. Napoléon tiếp tục phục vụ quân đội một cách hăng hái và say mê đọc những tác phẩm về lịch sử quân sự.

Tháng 9 năm 1790, người ta lại thấy Napoléon ở Corsica, do Napoléon đã tìm cách để được thuyên chuyển về. Lần này, Napoléon vĩnh viễn cắt đứt quan hệ với Paoli đã công khai hoạt động tách đảo Corsica ra khỏi nước Pháp, điều mà Napoléon không muốn chút nào. Tháng 4 năm 1791, khi xảy ra cuộc xung đột giữa bọn giáo sĩ phản cách mạng, ủng hộ triệt để chủ trương tách đảo Corsica của Paoli với những đại diện của chính quyền cách mạng, Bonaparte đã ra lệnh bắn cả vào những đám đông bạo động xông vào đánh quân đội đặt dưới quyền chỉ huy của mình. Cuối cùng, bị chính quyền Cộng Hòa tình nghi vì âm mưu đánh chiếm một pháo đài (không có lệnh cấp trên), Napoléon lại sang Pháp và lập tức phải đến trình diện trước Bộ Chiến Tranh ở Paris để xác minh thái độ có phần nào mờ ám của mình ở Corsica. Đến thủ đô nước Pháp vào cuối tháng 5 năm 1792, Napoléon chứng kiến nhiều biến cố sôi nổi của cách mạng xảy ra vào năm đó.

Chúng tôi có những bằng cớ chính xác cho phép xét đoán sự phản ứng của viên sĩ quan 23 tuổi đó trước hai biến cố trọng đại xảy ra: Cuộc đánh chiếm cung điện Tuileries của quần chúng nhân dân vào ngày 20 tháng 6 và cuộc lật đổ chế độ quân chủ ngày 10 tháng 8 năm 1792. Tham gia những biến cố ấy bằng cách đứng ngoài vòng chứng kiến một cách bất ngờ nên hai lần ấy là dịp để Bonaparte biểu lộ tư tưởng của mình trong một nhóm bạn thân. Với họ, Bonaparte có thể tự do bộc lộ những ý nghĩ thật và tất cả bản chất của mình. Và những lời ông ta nói thật rõ ràng, không chút gì úp mở: “Chúng ta hãy đi theo bọn vô lại này”, Napoléon đã nói như vậy với Bourrienne lúc cùng đi với nhau trong phố, khi thấy quần chúng tiến về phía cung điện nhà vua ngày 20 tháng 6. Khi thấy vua Louis XVI, hốt hoảng trước cuộc biểu tình đầy uy thế, phải ra chào quần chúng ở bao lơn, đầu đội mũ đỏ Phrygian[9], Napoléon liền khinh bỉ nói: “Thằng hèn! Thế mà lại để cho bọn vô lại này vào được! Đáng lẽ phải dùng pháo quét đi độ bốn, năm trăm thằng là những thằng khác sẽ chạy dài!”. Tôi đã giảm nhẹ hình dung từ mà Napoléon dùng cho Louis XVI, vì tiếng ấy không thể nào in lên sách được. Ngày 10 tháng 8 (ngày dân chúng tiến công vào cung điện Tuileries, và ngày Louis XVI bị lật đổ), Napoléon vẫn lang thang ngoài phố và lại vẫn dùng hình dung từ trên để chỉ Louis XVI, đồng thời gọi những người nổi lên làm cách mạng là “lũ dân đen ghê tởm nhất”.

Đương nhiên, Napoléon không thể biết được rằng ngày 10 tháng 8 năm 1792, trong khi ông ta đang đứng giữa đám đông chứng kiến cuộc tiến công vào cung điện Tuileries và tống cổ Louis XVI ra khỏi ngai vàng thì chính sự việc ấy lại là vì lợi ích của bản thân ông ta, Bonaparte; cũng như quần chúng đang đứng vây quanh ông ta hân hoan chào mừng nền Cộng Hòa ra đời đâu có thể ngờ được rằng viên sĩ quan trẻ tuổi ấy, thân hình bé nhỏ, gầy gò, xoàng xĩnh trong chiếc áo dạ dài sờn rách, chìm biến trong đám đông quần chúng, lại chính là người sau này sẽ bóp nghẹt nền Cộng Hòa đó để trở thành Hoàng Đế độc tài. Có một điều đáng chú ý là, ngay ở đây, ta đã thấy bản chất Napoléon là thích dùng súng đạn, coi nó là phương tiện thích hợp nhất để trả lời những cuộc nổi dậy của nhân dân, Napoléon còn quay lại đảo Corsica lần nữa và đặt chân lên đất này vào đúng lúc Paoli trở thành người quyết tâm tách đảo Corsica khỏi nước Pháp và đã dâng mình cho người Anh. Trải qua bao gian khổ và nguy khốn, Napoléon mới đưa được mẹ và gia đình thoát khỏi đảo Corsica, trước khi quân Anh tới chiếm đảo. Việc xảy ra hồi tháng 6 năm 1793. Vừa trốn thoát thì nhà cửa của Napoléon liền bị đồng đảng của Paoli, những người chủ trương chia cắt, cướp phá.

Tiếp đó là những năm tháng đầy cùng cực. Cái gia đình đông người đó đã hoàn toàn bị phá sản và viên đại uý trẻ tuổi phải cáng đáng nuôi cả mẹ lẫn bảy anh em (Napoléon mới được thăng đại uý trước đó ít lâu). Lúc đầu, Napoléon để gia đình sống qua ngày ở Toulon, sau chuyển đến Marseille. Cuộc sống khó khăn túng thiếu của họ trôi đi tháng này qua tháng khác, không một tia hy vọng, thì bỗng đâu nếp sống quen thuộc cũ kỹ ấy bị gián đoạn một cách quá bất ngờ.

Ở miền Nam nước Pháp đã xảy ra một cuộc bạo động phản cách mạng. Năm 1792, bọn Bảo Hoàng ở Toulon nổi lên đánh đuổi và tàn sát các đại biểu của chính quyền cách mạng và cầu cứu hạm đội Anh đang tuần tiễu ở phía Tây Địa Trung Hải. Quân đội cách mạng vây thành Toulon ở trên bộ. Dưới sự chỉ huy của Carteaux, cuộc vây thành đã tiến hành yếu ớt và không thu được thắng lợi. Saliceti, uỷ viên quân sự, người đã trấn áp cuộc bạo động của bọn Bảo Hoàng ở miền Nam, là người Corsica, quen Bonaparte và đã cùng Bonaparte chống lại bọn Paoli. Bonaparte đến thăm bạn đồng hương của mình ở doanh trại trước thành Toulon và chỉ vẽ cho Saliceti cách duy nhất đánh chiếm thành và đuổi hạm đội Anh. Saliceti bèn cử viên đại uý trẻ tuổi ấy làm chỉ huy phó lực lượng pháo binh hãm thành.

Cuộc tiến công trong những ngày đầu tháng 10 bị thất bại, vì Doppet, người chỉ huy đánh thành hôm đó, đã ra lệnh rút lui vào lúc quyết định chiến trường, trái với ý định và lòng mong muốn của Bonaparte. Bonaparte tin chắc rằng nếu không có khuyết điểm tầm thường ấy thì thắng lợi đã về tay người Pháp. Bản thân Bonaparte cũng đã bị thương trong khi dẫn đầu quân xung phong. Sau một thời gian dài cự tuyệt và nhiều phen lần lữa của những người chỉ huy cấp trên, vì họ không tin lắm vào Napoléon, người sĩ quan trẻ tuổi vô danh và đột nhiên xuất hiện ở doanh trại - người chỉ huy mới là Dugommier đã cho phép Bonaparte thực hiện kế hoạch. Sau khi đã bố trí pháo theo ý đã định sẵn từ lâu và sau một trận pháo hỏa kinh khủng, Bonaparte liều mạng dẫn đầu binh sĩ xung phong đánh chiếm điểm cao Éguillette để bảo vệ cửa biển và bắt đầu mở đợt bắn phá hạm đội Anh.

Sau hai ngày pháo kích ác liệt, ngày 17 tháng 12, 7.000 quân Cộng Hòa xung phong đánh chiếm các pháo đài, nhưng đã bị đánh lui sau một trận kịch chiến. Nhưng Bonaparte đã kịp thời đến tiếp ứng cùng với một đội quân dự bị và nhờ vậy đã quyết định thắng lợi. Ngày hôm sau, tất cả những kẻ được quân Anh thoả thuận cho rút xuống tàu bắt đầu lũ lượt chạy trốn khỏi thành phố. Thành Toulon đầu hàng không điều kiện, quân đội Cộng Hòa tiến vào thành phố. Hạm đội Anh đã rút ra khỏi cửa biển.

 

Sau trận chiến thắng này, tướng Dutiné báo cáo về Bộ Chiến Tranh ở Paris rằng, ông ta không đủ chữ để nói hết công trạng của Bonaparte. Ông ta nói về Bonaparte rằng đó là người vừa tài giỏi vừa thông minh và còn là người có thừa những đặc tính cần có. Dutiné còn nói thêm rằng những cái đó chỉ mới mô tả được phần nào người sĩ quan hiếm có ấy.

Dutiné nhiệt liệt tiến cử Bonaparte với Bộ Trưởng và đề nghị trọng dụng Bonaparte vì lợi ích của nền Cộng Hòa. Trong hàng ngũ quân đội ở Toulon, vai trò quan trọng của Bonaparte trong việc bố trí các khẩu pháo, tài chỉ huy cuộc vây thành và trận pháo hoả cũng như biết tiến công vào lúc quyết định đã được tất cả mọi người công nhận.

Chiến công ấy, trận đánh đầu tiên mà Napoléon chỉ huy và thu được thắng lợi, diễn ra ngày 17 tháng 12 năm 1793. Từ ngày đánh chiếm thành Toulon đến ngày 18 tháng 6 năm 1815, ngày mà Hoàng Đế thua trận rút khỏi chiến trường Waterloo đầy xác chết, là một sự nghiệp lâu dài và đẫm máu, kéo dài trong suốt 22 năm trời (có những lúc gián đoạn). Và sự nghiệp đó đã được nghiên cứu cẩn thận trong suốt thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc ở Châu Âu, và những bài học của nó, cho đến tận bây giờ, vẫn còn là đối tượng của một sự nghiên cứu có hệ thống.

Trong suốt đời mình, Napoléon đã đánh cả thảy 60 trận lớn, nhỏ (nhiều hơn cả tổng số những trận của Alexander đại đế, Hannibal, Caesar và Suvorov cộng lại) và số quân đã tham gia vào các trận đánh đó còn đông gấp bội so với số quân trong các cuộc chiến tranh của các vị tiền bối về nghệ thuật quân sự của Napoléon. So với con số những trận đánh khổng lồ đã quyết định sự nghiệp của Napoléon thì chiến thắng Toulon thật quá tầm thường, song mặc dầu thế, chiến thắng Toulon vẫn mãi mãi chiếm một vị trí đặc biệt trong thiên anh hùng ca Napoléon. Nó đã làm cho mọi người lần đầu tiên chú ý tới Napoléon. Ủy Ban Cứu Quốc rất mực hài lòng về việc đã thanh toán được bọn phản bội Toulon và đã tống cổ được người Anh ra khỏi bờ biển.

Chiều hướng của tình hình báo trước triển vọng thanh toán nhanh chóng được hoạt động phản cách mạng của bọn Bảo Hoàng ở khắp miền Nam nước Pháp. Xưa nay Toulon vẫn được coi như một pháo đài kiên cố bất khả xâm phạm, đến nỗi khi Toulon thất thủ rồi mà nhiều kẻ vẫn không tin và cũng không tin rằng một gã vô danh tên là Bonaparte lại có thể đánh chiếm được thành. May mắn cho Napoléon là trong hàng ngũ những người vây thành có một người còn nhiều thế lực hơn Saliceti, đó là Augustin Robespierre, em trai của Maximilien, cũng dự trận đánh thành và đã tường thuật trong một bản báo cáo gửi về Paris. Kết quả là lập tức Napoléon Bonaparte được phong chức thiếu tướng, quyết định ký ngày 14 tháng 1 năm 1794. Lúc đó Napoléon 24 tuổi. Bước đi đầu tiên đã thành đạt.

3

Việc Napoléon hạ thành Toulon xảy ra vào thời kỳ mà phái Montagnards đang thống trị hoàn toàn Hội Nghị Quốc Ước[10], vào lúc mà phái Jacobin đang có ảnh hưởng rất lớn ở thủ đô và các tỉnh vào lúc mà nền chuyên chính vô địch của cách mạng, trong cuộc đấu tranh quyết liệt của mình, đã chiến thắng được thù trong giặc ngoài và đã đập tan được những cuộc phiến loạn của bọn Bảo Hoàng, bọn Girondin và bọn thầy tu ngoan cố.

Trong cuộc nội chiến ác liệt này, Napoléon Bonaparte không thể không thấy cần phải chọn một con đường giữa nền Cộng Hòa và nền Quân Chủ: nền Cộng Hòa sẽ có thể cho ông ta tất cả và nền quân chủ ắt sẽ tước tất cả và sẽ không tha thứ cho ông ta việc chiếm thành Toulon, cũng như việc ông ta vừa mới cho xuất bản cuốn sách Bữa Ăn Tối Ở Poke, trong đó Napoléon đã vạch rõ cho các thành phố nổi loạn ở miền Nam hiểu rằng tình thế của họ thật là tuyệt vọng. Mùa xuân và đầu mùa hạ, các uỷ viên Hội Nghị Quốc Ước ở miền Nam (đặc biệt có Robespierre em, chịu ảnh hưởng trực tiếp của Bonaparte) chuẩn bị xâm chiếm xứ Piémontais và miền Bắc nước Ý, để từ đó đe dọa nước Áo. Ủy Ban Cứu Quốc lưỡng lự, Carnot lúc đó phản đối kế hoạch ấy. Bonaparte tin rằng dùng Augustin Robespierre làm trung gian thì có thể thực hiện được ước mơ của mình: Được tham gia việc chinh phục nước Ý. Chính phủ Pháp lúc này chưa làm quen với tư tưởng cho rằng muốn chống lại sự can thiệp của Châu Âu phản cách mạng thì không phải là phòng ngự, mà phải trực tiếp tiến công vào Châu Âu và điều đó xem chừng quá táo bạo. Do đó, năm 1794, Napoléon không thực hiện được kế hoạch của mình. Một biến cố chính trị xảy ra bất ngờ đối với Napoléon, đã đảo lộn cả tình thế.

Để được đích thân trình bày kế hoạch tiến công nước Ý trước anh mình và trước Ủy Ban Cứu Quốc, Robespierre em đi Paris. Lúc đó đã vào đầu mùa hè, cần phải giải quyết vấn đề.

Sau khi đi Genoa để hoàn thành một nhiệm vụ mật có liên quan đến cuộc viễn chinh nói trên, Bonaparte về Nice. Chợt một tin bất ngờ từ Paris bay tới, bất ngờ không những đối với tỉnh Nice xa xôi ở miền Nam mà còn ngay cả đối với chính Paris nữa: Tin hết sức lạ lùng đó là ngày 9 Tháng Nóng[11], ngay giữa buổi họp của Hội Nghị Quốc Ước, Maximilien, Saint Juste, Couthon, và sau này cả đồng đảng của họ, đều bị bắt giữ. Ngày hôm sau, tất cả những người ấy đều bị đưa lên máy chém, không cần xét xử gì vì chính phủ đã tuyên bố một cách vô điều kiện rằng họ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Lập tức người ta tiến hành lùng bắt trong khắp nước Pháp những ai có hoặc coi như có liên hệ mật thiết nhất với những nhà lãnh đạo chính của chế độ đã bị đánh đổ. Sau khi Augustin Robespierre bị hành hình, tướng Bonaparte liền ở vào tình trạng bị đe dọa. Không đầy hai tuần lễ, sau ngày 9 Tháng Nóng (27 tháng 7), Napoléon bị bắt (10 tháng 8 năm 1794) và bị áp giải về thành Antibes. Sau 14 ngày bị giam giữ, Bonaparte được tha: Lục soát các giấy tờ của Bonaparte, người ta đã không tìm thấy một bằng cớ gì để truy tố Bonaparte.

Trong suốt thời gian khủng bố của bọn đảo chính Thermidor, người ta thấy rất nhiều người có quan hệ ít nhiều với Robespierre hoặc những người thuộc phái Robespierre bị sát hại; còn Bonaparte thì có thể tự lấy làm vui sướng rằng mình đã thoát khỏi lưỡi máy chém. Chỉ biết rằng vừa bước ra khỏi nhà giam, Bonaparte đã lập tức nhận thấy rằng thời thế đã thay đổi và sự nghiệp của mình vừa mới bắt đầu thuận lợi nhường ấy mà nay đã dừng lại. Những kẻ mới lên còn tình nghi Bonaparte, vả lại, họ cũng chưa biết rõ Bonaparte lắm. Cuộc vây hãm thành Toulon chưa đem lại cho Bonaparte một tiếng tăm lớn về mặt quân sự. “Bonaparte à? Bonaparte là ai nhỉ? Đã làm việc ở đâu? Không ai biết hắn cả?” Đó là lời phản ứng của bố viên trung uý trẻ tuổi Junot, khi Junot báo cho bố biết tướng Bonaparte muốn chọn mình làm sĩ quan phụ tá. Chiến công Toulon đã bị quên mất rồi, hoặc dẫu sao thì nó cũng không còn được đánh giá cao như lúc đầu nữa.

Một chuyện không vui khác lại xảy ra. Đột nhiên ủy ban Cứu quốc Tháng Nóng chỉ thị cho Bonaparte phải đến Vendée dẹp bọn phiến loạn và khi đến Paris, tướng Bonaparte được biết người ta giao cho chỉ huy một lữ đoàn bộ binh trong khi Bonaparte chuyên về pháo binh và không muốn phục vụ ở bộ binh. Sau một hồi tranh luận gay gắt với Aubry, một uỷ viên của ủy ban, Napoléon xin từ chức.

Napoléon lại lâm vào thời kỳ túng thiếu mới. Viên tướng 25 tuổi này, về vườn vì bất bình với cấp trên, không một nguồn sống, đã buồn bã sống ở Paris qua mùa đông gay go năm 1794 - 1795 và sang xuân lại còn túng đói gay go hơn nữa. Dường như mọi người đã quên Napoléon. Cuối cùng, tháng 8 năm 1795, Napoléon được bổ nhiệm làm thiếu tướng pháo binh ở phòng Đồ Bản của Ủy Ban Cứu Quốc. Phòng Đồ Bản này là nét điển hình độc đáo đầu tiên của Bộ Tổng Tham Mưu do Carnot, trên thực tế là người tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Cộng Hòa, xây dựng. Ở đấy, Napoléon vẫn say mê đọc sách và tự học, đi thăm vườn cây nổi tiếng ở Paris, thăm Nhà Thiên Văn và đã chăm chỉ theo học lớp thiên văn của Lalande.

Lương bổng của Napoléon ít ỏi, thỉnh thoảng khi nào muốn ăn sáng, Napoléon chỉ còn có cách là đến thăm gia đình Pernod, vì gia đình này rất quý mến Napoléon. Nhưng, suốt trong thời gian cơ cực đó, không bao giờ Napoléon hối hận về việc đã xin từ chức, cũng không hề nghĩ đến việc quay trở lại phục vụ bộ binh, có lẽ vì muốn đạt được việc đó thì chỉ còn cách cầu xin qụy lụy. Nhưng dịp may lại đến với Napoléon: Chính thể Cộng Hòa lại cần đến Napoléon để chống lại cũng với những kẻ thù như hồi ở Toulon.

Năm 1795 là một trong những bước ngoặt của lịch sử các mạng Pháp. Cuộc cách mạng tư sản, đã lật đổ chế độ phong kiến và chuyên chế, sau biến cố ngày 9 Tháng Nóng đã tự làm mất vũ khí sắc bén nhất của mình là nền chuyên chính Jacobin, và khi đã nắm được chính quyền, khi đã đi vào con đường phản động, giai cấp tư sản lưỡng lự, đi tìm những phương sách và những hình thức mới thích hợp với sự giữ vững nền thống trị của nó. Suốt mùa đông năm 1794 - 1795 và mùa xuân năm 1795, sức phản động của giai cấp tư sản đã mạnh mẽ và táo tợn gấp bội hồi cuối mùa hạ cùng năm đó, tức là ngay khi vừa thủ tiêu nền chuyên chính Jacobin; và đến mùa xuân năm 1795 thì cánh hữu trong Hội Nghị Quốc Ước lại còn nói năng và hành động tự do, trắng trợn gấp bội hơn mùa thu năm 1794. Đồng thời, trong cái năm đói kém kinh khủng ấy, đã diễn ra hai cảnh hết sức trái ngược: Ở các vùng ngoại ô, thợ thuyền chết đói, các bà mẹ phải tự kết liễu cuộc đời mình sau khi đã dìm xuống nước hoặc đâm chết tất cả đàn con của họ, còn ở trong những “khu vực trung tâm” là cảnh sống đầy hoan lạc của giai cấp tư sản: Một bầy nhung nhúc những tên tài chủ, những tên đầu cơ, những tên buôn chứng khoán, những tên ăn cắp của công, lớn bé đủ hạng - ngóc đầu vênh vang đắc thắng sau khi Robespierre bị chết - miệt mài trong đời sống xa hoa, dâm dật.

Hai cuộc bạo động của thợ thuyền nổ ra từ các vùng ngoại ô và công khai chống lại Hội Nghị Quốc Ước Tháng Nóng, nhiều cuộc biểu tình vũ trang thị uy, và hai lần chuyển thành tiến công trực tiếp vào Hội Nghị Quốc Ước ngày 12 Tháng Nảy Mầm (1 tháng 4) và ngày 1 Tháng Đồng Cỏ (20 tháng 5) đều bị thất bại. Tiếp sau việc tước vũ khí vùng ngoại ô Saint Antoine là cuộc trấn áp khủng khiếp hồi Tháng Đồng Cỏ đã làm cho đông đảo quần chúng lớp dưới ở Paris không thể thống nhất hành động được trong suốt một thời gian dài. Sau hết, việc kích động khủng bố trắng trợn như vậy đã không tránh khỏi làm sống lại trong lòng giai cấp tư sản quân chủ “cũ” và giai cấp quý tộc những niềm hy vọng hình như đã bị tiêu tan: Bọn Bảo Hoàng ngỡ rằng thời cơ của chúng đã đến. Nhưng chúng đã tính lầm. Sau khi dập tắt phong trào của quảng đại quần chúng, giai cấp tư sản đã không tước vũ khí của các khu thợ thuyền ở ngoại ô, vì như vậy sẽ tạo điều kiện thắng lợi cho kẻ đang âm mưu lên ngôi vua nước Pháp, đó là bá tước xứ Provence, em trai vua Louis XVI đã chết trên máy chém. Giai cấp hữu sản Pháp có quan tâm gì đến chính thể Cộng Hòa, nhưng họ lại quan tâm nhiều đến cái mà cuộc cách mạng tư sản đã mang lại cho họ. Bọn Bảo Hoàng không muốn hiểu và cũng không thể hiểu những việc đã xảy ra vào những năm 1789 - 1795, không muốn và không thể hiểu được rằng chế độ phong kiến đã sụp đổ và không bao giờ trở lại nữa, rằng kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản đã mở ra, rằng cuộc cách mạng tư sản đã đào khoét một vực sâu không thể vượt qua được giữa thời kỳ cũ và thời kỳ mới của lịch sử nước Pháp, và những tư tưởng phục hưng của bọn chúng là rất xa lạ đối với đại đa số trong giai cấp tư sản thành thị và nông thôn.

Những lời đòi trừng phạt nghiêm khắc những người đã tham gia cách mạng không ngớt nổi lên trong những nơi tụ bạ của bọn xuất dương có thế lực ở London, ở Coblentz, ở Mitau, ở Hamburg, ở Roma. Sau vụ bạo động Tháng Đồng Cỏ và những tiếng nổ hung ác của “khủng bố trắng", chúng nhắc lại với một niềm hân hoan đầy ác ý rằng “bọn kẻ cướp Paris” đã bắt đầu chém giết lẫn nhau kịch liệt và rồi nhất định phái Bảo Hoàng sẽ chụp đánh bọn họ để nhanh chóng treo cổ tất cả bọn họ - bọn Thermidor và bọn Montagnards còn sót lại. Cái âm mưu ngu muội toan kéo lùi bước đi của lịch sử đã làm thui chột mọi ước mộng và đã dẫn mưu đồ của bọn Bảo Hoàng đến thất bại. Công bằng mà nói, người ta có thể kết tội và coi tất cả bọn Talliens, Frérons, Bourdons, Boissy d’Anglas, Barras - những kẻ đã lật đổ nền chuyên chính Jacobin và ngày 9 Tháng Nóng và đã đàn áp cuộc bạo động đáng sợ của “những người không quần chẽn”[12] vào bốn ngày đầu Tháng Đồng Cỏ - là những kẻ gian manh, những con thú vật ích kỷ, những tên tàn bạo hung ác, những quân vô sỉ, nhưng đứng trước bọn Bảo Hoàng họ đã tỏ ra không khiếp nhược. Khi được William Pitt tích cực giúp đỡ, bọn Bảo Hoàng đã vội vã tổ chức cho bọn quý tộc lưu vong đổ bộ vào Quiberon; không một chút do dự, những người lãnh đạo Hội Nghị Quốc Ước Tháng Nóng đã lập tức phái tướng Hoche cầm đầu một đội quân đến dẹp, và sau khi các lực lượng đổ bộ đã hoàn toàn tan rã, họ đã ra lệnh bắn ngay tại trận 750 tên Bảo Hoàng bị bắt làm tù binh. Ngay sau lần thất bại này, bọn Bảo Hoàng vẫn chưa cho thế là hết hy vọng. Cho nên chưa đầy hai tháng sau, bọn chúng lại nổi dậy và lần này thì ở ngay tại Paris. Lúc đó vào cuối tháng 9, sang đầu tháng 10 năm 1795, theo lịch cách mạng thì vào thượng tuần Tháng Hái Nho năm thứ IV.

Tình hình như sau: Hội Nghị Quốc Ước đã thảo xong hiến pháp mới. Theo hiến pháp đó thì năm viên đốc chính sẽ đứng đầu quyền hành chính, còn quyền lập pháp thì tập trung vào hai viện: Hạ Nghị Viện[13] và Thượng Nghị Viện[14]. Hội Nghị Quốc Ước chuẩn bị cho thi hành bản hiến pháp này và tự giải tán, nhưng nhận thấy rằng ý nguyện quay về chế độ quân chủ ngày càng biểu hiện rõ ở các tầng lớp trên của giai cấp “cựu” tư sản và lo rằng bọn Bảo Hoàng xảo quyệt sẽ không khéo lợi dụng tình trạng tư tưởng ấy để kéo thêm đông vây cánh của chúng vào Hạ Nghị Viện để có lợi trong những cuộc bầu cử. Do đó, trong những ngày cuối cùng của Hội Nghị Quốc Ước, nhóm lãnh đạo những người Thermidor, đứng đầu là Barras, đã đưa ra hai bản sắc lệnh quy định hai phần ba số đại biểu của Hạ Nghị Viện và của Thượng Nghị Viện đều bắt buộc phải lấy trong số những đại biểu hiện nay của Hội Nghị Quốc Ước, còn một phần ba thì tuỳ ý cử tri lựa chọn.

Lần này, ở Paris, bọn Bảo Hoàng không còn đơn độc nữa, chúng cũng không đứng đầu cả trong việc chuẩn bị cũng như trong khi thực hiện âm mưu. Vì vậy, vào Tháng Hái Nho, Hội Nghị Quốc Ước lâm vào tình thế đặc biệt nguy khốn. Một bộ phận khá quan trọng của bọn quý tộc tài chính và giai cấp đại tư sản của các “khu vực giàu có”, như người ta gọi, nghĩa là của các khu vực trung tâm của Paris, đã phản đối những sắc lệnh vũ đoán đó, những sắc lệnh đã được ban hành với mục đích rõ rệt và công nhiên là duy trì và kéo dài vô tận sự thống trị của phe đa số hiện thời ở trong Hội đồng Quốc ước. Rõ ràng là bọn chúng đã âm mưu hoạt động nhằm gạt giũ hoàn toàn bộ phận những người Thermidor hiện nay đã là trở ngại cho quan điểm hữu khuynh mạnh mẽ của những tầng lớp khá giả nhất ở thành thị cũng như ở nông thôn. Trong những khu vực trung tâm của Paris đột nhiên nổi lên chống lại Hội Nghị Quốc Ước vào tháng 10 năm 1795, cố nhiên là không thấy có nhiều những tên Bảo Hoàng tiêu biểu, những tên Bảo Hoàng chính cống mơ ước dòng họ Bourbon[15] quay trở lại ngay, nhưng tất cả chúng đều mừng quýnh khi nhìn chiều hướng của phong trào này, và đã hào hứng phỏng đoán cảnh kết thúc của các biến cố. Bọn “Cộng Hòa Bảo Thủ” của giai cấp tư sản Paris đang dọn đường cho việc trung hưng chế độ quân chủ, vì dưới con mắt chúng, bản thân Hội Nghị Quốc Ước Tháng Nóng xem ra đã quá cách mạng. Và ngay từ ngày 7 Tháng Hái Nho (29 tháng 9), khi bắt đầu nhận được những tin tức khẩn cấp về khuynh hướng của các trung tâm Paris, Hội Nghị Quốc Ước đã nhìn thấy nguy cơ hiện ra trước mắt. Như vậy, trong thực tế, Hội Nghị Quốc Ước sẽ dựa vào đâu trong cuộc đấu tranh mới này để giữ lấy chính quyền? Sau cuộc đàn áp dữ dội các vùng ngoại ô thợ thuyền cách đấy gần bốn tháng, sau một tháng tròn bắn giết, tàn sát những người cách mạng Jacobin, sau vụ tước vũ khí toàn bộ những vùng ngoại ô thợ thuyền một cách tàn nhẫn nhất, thì rất tự nhiên rằng Hội Nghị Quốc Ước không thể trông mong vào sự giúp đỡ tích cực của đông đảo quần chúng được.

Lúc này, thợ thuyền Paris đã thấy ở trong các uỷ ban của Hội Nghị Quốc Ước và ngay sau bản thân cái Hội Nghị Quốc Ước có rất nhiều kẻ thù tàn ác nhất của họ. Thợ thuyền Paris không thể có được ý nghĩ chiến đấu để bảo vệ quyền lực của hai phần ba uỷ viên của cái Hội Nghị Quốc Ước ấy trong Hạ Nghị Viện sau này. Và ngay bản thân Hội Nghị Quốc Ước cũng không thể nghĩ tới việc kêu gọi sự giúp đỡ của quần chúng lao động thủ đô đang căm ghét mình và chính mình cũng đang sợ họ. Chỉ còn có quân đội, nhưng về phía này, tình hình cũng không được tốt lắm. Thật ra, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, binh lính cũng không do dự bắn vào bọn lưu vong, cái lũ phản bội đáng ghê tởm, và bắn vào bạn bè lũ Bảo Hoàng và quân đội của chúng ở bất kỳ nơi nào mà họ bắt gặp, trong rừng Normandie, trên cồn cát ở Vendée, trên bán đảo Quiberon, ở Bỉ, ở biên giới Đức. Nhưng trước hết, phong trào Tháng Hái Nho đã không nêu khẩu hiệu: Trung hưng dòng họ Bourbon, mà ngoài mặt lại kêu gọi đấu tranh vì nguyên tắc chủ quyền của nhân dân đã bị những sắc lệnh của Hội Nghị Quốc Ước vi phạm và vì quyền tự do bầu cử những đại biểu chân chính của nhân dân, và sau nữa nếu binh lính là những người Cộng Hòa triệt để, chỉ có thể bị đánh lừa vì những khẩu hiệu xảo quyệt của phong trào Tháng Hái Nho, thì về phía các tướng lĩnh sự tình lại càng xấu hơn.

Chỉ cần nêu thí dụ tướng Manou, người chỉ huy quân đội đóng ở Paris. Liệu Manou có thích lính tập kích chiếm đóng ngoại ô Saint Antoine, đóng quân khắp nơi trong thành phố và đưa lên máy chém hàng loạt công nhân? Hắn dám làm và hắn đã làm, và tối ngày 4 Tháng Đồng Cỏ, sau khi đã chiến thắng được công nhân, quân của Manou, kèn trống đi đầu, diễu qua các khu trung tâm của thủ đô, và khi “công chúng lịch sự” đứng đầy đường nhiệt liệt hoan hô Manou và ban tham mưu của hắn, thì quả là đã có một sự tâm đầu ý hợp hoàn toàn giữa những kẻ đi tung hô và kẻ được tung hô. Chiều tối ngày 4 Tháng Đồng Cỏ, Manou có thể tự thấy mình là kẻ đại diện của các giai cấp hữu sản, giai cấp đã chiến thắng đông đảo quần chúng, là kẻ đứng đầu những kẻ no nê chống lại những người đói khát. Đối với Manou, đó là một việc rõ ràng, dễ hiểu và thú vị. Nhưng bây giờ đây, vào Tháng Hái Nho, Manou sẽ lấy danh nghĩa gì mà bắn vào cũng vẫn cái đám người lịch sự ấy, bọn người vừa mới đây đã nhiệt liệt hoan hô hắn và một đồng một cốt với hắn? Nếu hỏi giữa Manou và Hội Nghị Quốc Ước Tháng Nóng có cái gì khác nhau, thì cái khác chính là ở chỗ viên tướng này cực kỳ khuynh hữu và phản động hơn cả những người Thermidor phản động nhất. Các khu vực trung tâm đòi quyền tự do bầu một Nghị Viện bảo thủ hơn Hội Nghị Quốc Ước nhiều, vì thế mà tướng Manou không muốn bắn vào bọn Bảo Hoàng.

Trong đêm 12 Tháng Hái Nho (4 tháng 10), các thủ lĩnh của phái Tháng Nóng đã nghe thấy vang lên từ từ phía những tiếng reo hò mừng rỡ: Các đoàn người biểu tình, hân hoan náo nhiệt, tung ra khắp thành phố cái tin: Hội Nghị Quốc Ước đã từ chối chiến đấu; cuộc chiến đấu trong đường phố có thể tránh được; những sắc lệnh đã được bãi bỏ và sẽ được tự do tuyển cử. Về tin ấy, người ta chỉ đưa ra được một chứng cớ độc nhất sau đây nhưng rất xác thực và không thể chối cãi được: Viên chỉ huy các lực lượng vũ trang của một trong những khu trung ương (khu Lepelletier) là tên Deslalos nào đó đã đến gặp tướng Manou và Manou đã ứng thuận đình chiến với bọn phản động. Quân đội đã rút về doanh trại và thành phố đã rơi vào tay bọn phiến loạn.

Nhưng những nỗi cuồng vui ấy quá sớm, Hội Nghị Quốc Ước đã quyết định chiến đấu; tướng Manou bị cách chức và bị bắt ngay đêm 13 Tháng Hái Nho. Tiếp đó, Hội Nghị Quốc Ước cử Barras, một trong những nhân vật chính của phái Tháng Nóng, lên thay Manou chỉ huy các lực lượng vũ trang Paris. Cần phải hành động ngay đêm đó vì khi được tin Manou bị cách chức và bị bắt, và sau khi biết rằng Hội Nghị Quốc Ước nhất định chiến đấu, các khu nổi loạn đã bắt đầu không do dự và tức tốc tụ tập trên những đường phố gần Hội Nghị Quốc Ước để sáng hôm sau chiến đấu. Tên thủ lính của bọn nổi loạn là Riche de Serizi và ngay cả một số đông uỷ viên của Hội Nghị Quốc Ước đều cho rằng thắng lợi chắc chắn sẽ ngả về phía chúng. Nhưng bọn chúng đã tính lầm.

Những người đương thời thấy Barras là hiện thân của những thói xấu rất khác nhau và những dục vọng đê tiện nhất. Là một kẻ hưởng lạc, ăn hối lộ, sa đọa, cơ hội, xảo quyệt và vô đạo đức, Barras hơn hẳn những người Thermidor về đầu óc vụ lợi (và điều đó không phải là chuyện dễ). Nhưng Barras không phải là một kẻ hèn nhát. Dưới mắt của con người có trí thông minh sắc sảo ấy, ngay từ buổi đầu Tháng Hái Nho, Barras đã thấy rõ là phong trào mới chớm nở ấy có thể đưa nước Pháp tới sự phục hưng dòng họ Bourbon và điều đó đối với Barras là một sự đe dọa trực tiếp. Những người quý tộc đi theo cách mạng như Barras đều biết rất rõ mối căm hờn sâu cay của bọn Bảo Hoàng đối với những kẻ đã phản bội giai cấp.

Vậy nên không thể chậm trễ được, trong vài tiếng nữa là phải giao chiến ngay. Nhưng Barras không phải là nhà quân sự. Cần phải bổ nhiệm ngay một người tướng và ngẫu nhiên Barras đã nghĩ tới người thanh niên gầy còm vận chiếc áo khoác ngoài màu xám đã mất tuyết, người mà trong những ngày gần đây đã nhiều lần đến gặp Barras để xin nghỉ việc. Tất cả những điều mà Barras biết về con người đó chỉ vẻn vẹn có thế này: Một viên tướng thôi việc, nổi danh trong trận vây thành Toulon, nhưng ngay sau đó gặp một vài việc rắc rối và sống thiếu thốn vất vưởng ở thủ đô với đồng lương quá ít ỏi. Barras hạ lệnh cho đi tìm chàng thanh niên đó và dẫn về cho mình. Bonaparte tới và đã được hỏi ngay xem có muốn đi quét sạch cuộc bạo động không. Bonaparte xin ít phút để suy nghĩ. Không mất nhiều thời gian để suy nghĩ xem việc bảo vệ quyền lợi của Hội Nghị Quốc Ước đối với mình có gì là chống đối về nguyên tắc không, Bonaparte đã nhanh chóng nhận lời với điều kiện duy nhất là không ai được can thiệp vào những quyết định của mình. Bonaparte nói: “Tôi đã tuốt kiếm ra thì nó chỉ được tra vào vỏ khi nào trật tự đã được lập lại, dù phải trả bằng bất cứ giá nào”.

Tức thì Bonaparte được bổ nhiệm là phó cho Barras; sau khi tìm hiểu tình hình, Bonaparte đã nhận rõ được lực lượng của bọn nổi loạn và mối nguy cơ khủng khiếp đang đe dọa Hội Nghị Quốc Ước. Nhưng Bonaparte đã có một kế hoạch hành động rất rõ rệt và dựa vào việc sử dụng pháo binh một cách quyết liệt. Sau này, khi mọi việc đã xong xuôi, Bonaparte có nói với bạn là Junot (sau này là tướng và là công tước Abrantès) một câu trong đó Bonaparte quy kết rằng: Thắng lợi là do sự bất tài về chiến lược của bọn nổi loạn. Bonaparte nói thêm: “Nếu lũ ấy để Bonaparte chỉ huy thì Bonaparte đã đánh tan Hội Nghị Quốc Ước rồi”. Từ tảng sáng, Bonaparte đã điều pháo đến bố trí ở lân cận điện Tuileries.

Ngày lịch sử 13 Tháng Hái Nho đã bắt đầu như vậy; đối với cuộc đời của Bonaparte ngày ấy đã giữ được một vai trò quan trọng hơn hẳn cả chiến công đầu tiên của Bonaparte là việc hạ thành Toulon. Bọn nổi loạn tiến về Hội Nghị Quốc Ước và pháo binh của Bonaparte đã gầm lên chống lại bọn chúng. Cuộc tàn sát diễn ra đặc biệt kinh khủng ở tiền đình và nhà thờ Saint Roch, nơi tập trung đội dự bị của bọn nổi loạn. Lẽ ra ban đêm, bọn nổi loạn có thể cướp được pháo nhưng chúng đã bỏ lỡ cơ hội. Chúng chống cự bằng súng trường. Đến trưa thì mọi việc xong xuôi. Bỏ lại ở trên vỉa hè vài trăm xác chết và mang những tên bị thương đi theo, bọn nổi loạn bỏ chạy tứ tung và trốn về nhà; tên nào có thể rời khỏi Paris được thì đều đã đi ngay. Tối đến, Barras nhiệt liệt khen ngợi vị tướng trẻ tuổi và đã khẩn khoản xin cho Bonaparte được bổ nhiệm làm chỉ huy các Lực Lượng Vũ Trang Đối Nội (Barras đã xin từ chức ngay sau khi cuộc bạo động bị thất bại).

Trong chàng thanh niên tư lự và cau có ấy, điểm đặc biệt đã chinh phục được Barras và những nhà lãnh đạo khác là sự bình tĩnh hoàn toàn và tài quyết định nhanh chóng; với những đức tính đó, Bonaparte đã dùng một phương thức tác chiến mà cho đến tận lúc đó vẫn ít ai dùng tới, đó là dùng đại bác bắn vào giữa đám đông ở ngay trong thành phố. Về phương pháp đè bẹp những hoạt động ở đường phố ấy thì Bonaparte chính là tiền thân chính thống và trực tiếp của Nikolai đệ nhất, vì Nikolai là người đã tái diễn lại chiến công này vào ngày 14 tháng 12 năm 1825, duy chỉ có khác là với bản chất đạo đức giả của mình, Nga Hoàng đã tuyên bố rằng ông ta đã hãi hùng toan không dùng biện pháp đó, nhưng những lời khẩn khoản của hoàng tử Vazxinxicop đã thắng được đức độ và lòng nhân đạo gương mẫu của ông ta. Còn như Bonaparte thì không hề nghĩ đến thanh minh hoặc đổ trách nhiệm đó cho người khác. Bọn nổi loạn có trên 24.000 người vũ trang, trong khi đó Bonaparte có chưa đầy 6.000 người, nghĩa là bốn lần ít hơn. Ngoài đại bác ra, không còn hy vọng nào khác và Bonaparte đã đưa đại bác ra trận. Khi đã không thể tránh được cuộc chiến đấu thì phải đánh thắng bằng bất cứ giá nào. Napoléon đã luôn theo đúng quy tắc ấy một cách tuyệt đối. Napoléon không thích tiêu phí đạn đại bác, nhưng chỗ nào mà đạn giúp ích được thì Napoléon lại không bao giờ dè xẻn chút nào. Ngày 16 Tháng Hái Nho, Napoléon đã không tiết kiệm đạn trái phá, bởi vậy, tiền đình nhà thờ Saint Roch đã nhầy nhụa một đống thịt nát đẫm máu.

Tính chất kiên quyết triệt để trong chiến đấu là một trong những đặc điểm của Napoléon. Trong Napoléon có hai con người, một do lý trí thống trị, một do tình cảm thống trị. Không nên để cho người ta tưởng rằng Napoléon không có một trái tim nhạy cảm như những người khác. Theo Napoléon thì ông ta cũng là người có một tấm lòng khá tốt. Nhưng ngay từ thời niên thiếu, Napoléon đã cố gắng làm cho sợi dây tình cảm ấy trở thành câm lặng và hiện nay thì nó chẳng còn rung lên được một tiếng nào nữa, trong những phút thành khẩn rất hiếm có, Napoléon đã nói như vậy với Rodre, một trong những người được Napoléon ưa mến.

Khi phải tiêu diệt mọi kẻ thù dám táo bạo ngang nhiên khai chiến với Napoléon thì sẽ không bao giờ, tuyệt không bao giờ sợi dây đó còn rung động hoặc bắt đầu rung động ở trong con người Napoléon.

Ngày 13 Tháng Hái Nho đã giữ một vai trò to lớn trong thiên anh hùng ca của Napoléon. Tầm quan trọng lịch sử của việc đè bẹp cuộc phiến loạn Tháng Hái Nho là ở chỗ:

— Hy vọng của bọn Bảo Hoàng đặt vào một cuộc thắng lợi sắp tới và việc dòng họ Bourbon quay trở lại đã vấp phải một thất bại mới, nặng nề hơn cả thất bại ở Quiberon.

— Những tầng lớp trên của giai cấp tư sản thành thị đã tự nhận thấy là đã quá vội vã trong việc trực tiếp cướp lấy chính quyền bằng vũ lực. Ngoài ra, chúng đã quên mất rằng còn có những thành phần trong giai cấp tư sản thành thị và nông thôn đứng về phía nền Cộng Hòa và vẫn lấy làm lo ngại trước sự bành trướng quá nhanh chóng và quá trơ tráo của bọn phản động. Tên Riche de Serizi cầm đầu bọn nổi loạn đó là ai? Một tên Bảo Hoàng.

Vậy thì người ta nhìn thấy rõ được rằng những người nông dân có đất, nghĩa là cái khối giai cấp tiểu tư sản to lớn ở nông thôn, đã nhìn cuộc bạo động đó bằng con mắt nào? Họ đã coi việc trung hưng dòng họ Bourbon là sự sống lại của chế độ phong kiến, cái chế độ sẽ tước lại của họ những mảnh đất vừa mới mua được trong số đất đai tịch thu được của bọn quý tộc xuất dương và trong những tài sản tịch biên của Giáo hội.

— Cuối cùng, chứng minh một lần nữa rằng tính tư tưởng của những chiến dịch chống lại sự trung hưng đã tác động một cách đặc biệt mạnh mẽ vào quân đội và đông đảo quần chúng binh sĩ, những người mà người ta có thể hoàn toàn tin cậy trong cuộc đấu tranh chống tất cả những lực lượng trực tiếp hoặc gián tiếp, toàn bộ hay cục bộ câu kết với dòng họ Bourbon.

Đó là ý nghĩa lịch sử của ngày 13 Tháng Hái Nho. Còn đối với bản thân Bonaparte thì ngày 13 Tháng Hái Nho đã làm cho người ta lần đầu tiên biết đến tên tuổi của Bonaparte, không chỉ trong các giới quân sự (từ hồi Toulon, Bonaparte đã có phần nào nổi danh rồi), mà còn trong mọi tầng lớp xã hội, ngay cả ở những nơi từ trước tới nay chưa bao giờ người ta nghe nói đến Bonaparte. Bonaparte từ nay được coi như một người rất tài giỏi, rất quyền biến, đầy cương nghị và quyết tâm. Những nhà chính trị cướp được chính quyền từ những ngày đầu của Viện Đốc Chính[16] (nghĩa là từ năm thứ IV Tháng Hái Nho), trước hết là Barras, đều rất hâm mộ viên tướng trẻ ấy. Lúc đó, họ cho rằng trong tương lai, nếu còn phải dùng đến lực lượng quân đội để chống lại các cuộc khởi nghĩa của quần chúng, người ta vẫn có thể trông cậy vào Bonaparte.

Nhưng Bonaparte lại mơ ước khác. Bị các mặt trận ngoài nước hấp dẫn, Bonaparte mơ ước được làm chỉ huy một trong những đạo quân của nền Cộng Hòa Pháp. Mối quan hệ tốt của Bonaparte đối với Barras hình như đã làm cho những mơ ước ấy có thể thực hiện được chứ không như hồi trước Tháng Hái Nho, thời mà viên tướng 26 tuổi về vườn này còn phải chạy khắp Paris để xin việc. Chỉ trong một ngày mà tất cả đã đổi thay. Bonaparte đã là người chỉ huy đạo quân ở Paris, được viên đốc chính có quyền thế là Barras mến chuộng, và có khả năng sẽ được giữ một chức vụ độc lập tại một trong những đạo quân đang tác chiến.

Sau lần tiến chức đột ngột đó ít lâu, Bonaparte làm quen với vợ góa của viên tướng bá tước De Beauharnais bị hành hình trong thời kỳ khủng bố, và mê vợ viên tướng đó. Joséphine hơn Bonaparte sáu tuổi, trong đời đã trải qua nhiều cuộc tình duyên lãng mạn và không có những tình cảm đằm thắm đặc biệt với Bonaparte. Tất nhiên là những lý do thuộc về vật chất đã thúc đẩy Joséphine nhiều hơn: Từ ngày 13 Tháng Hái Nho, Bonaparte đã là một người rất nổi tiếng và đã có một cương vị quan trọng. Còn Bonaparte, vì say mê đắm đuối một cách bất ngờ nên đã cầu hôn và cưới Joséphine ngay. Trước đấy không lâu, Joséphine đã có những sự đi lại thân mật với Barras và cuộc kết hôn này lại mở rộng hơn nữa cho Bonaparte mối quan hệ với những nhân vật có quyền thế nhất trong chính phủ Cộng Hòa.

Trong gần 200.000 cuốn sách viết về Napoléon mà nhà thư mục học nổi tiếng Kircheisen và các chuyên gia khác đã thống kê, đã có một số lớn nói về những mối quan hệ của Napoléon với Joséphine và với phụ nữ nói chung. Để giải quyết cho xong dứt vấn đề này, tôi xin nói rằng: Dù là Joséphine, dù là vợ thứ hai của Napoléon là Marie Louise nước Áo, hay bà Rémusat, hay cô Mademoiselle George, hay nữ bá tước Waleska hay bất cứ một phụ nữ nào khác đã quan hệ mật thiết với Napoléon, không hiểu thấu cái bản chất bất trị, độc đoán, bẳn gắt và đa nghi ấy, đều đã không gây và thậm chí đã không dám gây nên một chút ảnh hưởng cụ thể gì đến Napoléon. Bonaparte đã ghét cay ghét đắng bà Stael, ngay cả trước khi ý thức chống đối về chính trị của bà đã làm Bonaparte nổi khùng; chỉ vì bà ta đã quan tâm đến chính trị và đã có nguyện vọng đi vào học vấn uyên thâm mà Bonaparte đã có ác cảm ngay với bà, vì theo ông ta, những cái đó đều là thừa đối với phụ nữ. Vâng lời và khuất phục hoàn toàn là hai đức tính cần thiết của người phụ nữ, không có hai đức tính ấy thì người phụ nữ đối với Napoléon, coi như không có. Vả lại, trong cuộc đời bề bộn rất nhiều công việc, thời gian đã không đủ cho Napoléon nghĩ nhiều đến tình cảm và dành nhiều thời giờ cho những khát vọng của trái tim.

Lần này đã đúng như vậy: Lễ cưới tổ chức ngày 9 tháng 3 năm 1796 thì hai hôm sau, ngày 11 tháng 3, Bonaparte từ biệt vợ và lên đường đi chinh chiến.

Một chương mới, dài và đẫm máu đã mở ra trong lịch sử Châu Âu.

[2] Corse: Hòn đảo nằm ở Địa Trung Hải, một quận của nước Pháp.

[3] Gênes: hiện nay là một trong những thành phố chính ở miền Bắc nước Ý có cửa biển trông ra Địa Trung Hải, nổi tiếng về cảnh đẹp, có nhiều lâu đài, cung điện nguy nga, nhiều viện bảo tàng phong phú.

[4] Francois Marie Arouet dit Voltaire (1694-1778) nhà đại văn hào Pháp, người đã công kích kịch liệt chế độ độc đoán của bọn phong kiến và Giáo Hội thời ấy, là người giương cao ngọn cờ đấu tranh cho tự do cá nhân, chống lại chủ nghĩa cuồng tín và ngu dân của Giáo Hội và giáo sĩ thuộc tầng lớp trên.

[5] Jean Jacques Rousseau (1712-1778) văn hào Pháp, tác giả cuốn “Khế Ước Xã Hội” (1762), một trong những người đã đề ra Chủ Nghĩa Ánh Sáng Pháp.

[6] Molière, nhà soạn kịch nổi tiếng của chủ nghĩa cổ điển Pháp, tác giả những vở: “Lão hà tiện”, “Tartuffe”, “Tư sản quý tộc”...

[7] Khế Ước Xã Hội (Contrat social), một trong những tác phẩm chính của Jean Jacques Rousseau (1712-1788), rất có ảnh hưởng trong thời đại cách mạng tư sản Pháp. Trong tác phẩm này, Rousseau cho rằng Nhà Nước là một tổ chức do con người lập nên trên cơ sở khế ước nhằm quyền lợi chung của toàn thể xã hội và do đó đã đả kích kịch liệt vào lý thuyết quyền lực, do trời trao cho vua chúa.

[8] Nhà ngục Bastille ở thành phố Paris tiêu biểu cho chế độ quân chủ độc đoán, bị nhân dân Paris đánh chiếm ngày 14 tháng 7 năm 1789 (ngày nổ ra cuộc Cách Mạng Tư Sản Pháp)

[9] Loại mũ chỏm đỏ mà trước kia người xứ Phrygie thuộc Trung Á thường đội. Dưới thời đệ nhất Cộng Hòa Pháp, mũ này được coi như biểu hiện của tự do.

[10] Hội Nghị Quốc Ước (La Convention): hội đồng cách mạng lập năm 1792, thay thế cho Hội Nghị Lập Pháp, phế bỏ vua Louis XVI, tuyên bố Đệ Nhất Cộng Hòa và cai trị nước Pháp đến năm 1795 (26 tháng 10). Trước biến cố ngày 9 Tháng Nóng. Hội Nghị này phân ra làm ba phái: Phái Girondin, phái “Núi”, phái “Đồng Bằng”, sở dĩ có những tên gọi này vì trong hội trường, phái Jacobin ngồi ở những hàng ghế cao nhất, được gọi là phái “Núi”. Ở những hàng ghế thấp hơn là phái Girondin đại diện cho tư sản công thương nghiệp. Ở những hàng ghế thấp hơn nữa là những phần tử lưng chừng, không thuộc đảng phái nào, gồm ba phần tư số đại biểu trong Hội Nghị. Họ ngả về phe nào mạnh nhất, lúc đầu họ theo phái Girondin, về sau theo phái Jacobin. Người ta gọi họ là phái “Đồng Bằng” hay “Đồng Lầy” để chế giễu lập trường bấp bênh, nghiêng ngửa của họ.

[11] Theo lịch Cộng Hòa Pháp đặt ra ngày 24 tháng 11 năm 1793 thì mỗi năm bắt đầu từ ngày 22 tháng 9 và chia ra 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, cộng thêm năm ngày phụ dùng vào các ngày lễ Cộng Hòa. 12 tháng ấy lấy tên như sau: Tháng Hái Nho (Vendemisire), Tháng Sương Mù (Brumaire), Tháng Băng Giá (Frimaire), Tháng Tuyết (Nivôse), Tháng Mưa (Pluviôse), Tháng Gió (Ventôse), Tháng Nảy Mầm (Germinal), Tháng Hoa (Floréa), Tháng Đồng Cỏ (Prairial), Tháng Gặt (Messidor), Tháng Nóng (Thermidor), Tháng Quả.

[12] Những người không quần chẽn (les sans culottes), năm 1792, những người cách mạng Pháp không mặc quần chẽn và thay thế bằng quần dài ống và ống rộng, bọn quý tộc bèn gọi họ là những người không quần chẽn; đồng thời danh từ ấy cũng có nghĩa là những người cách mạng.

[13] Hạ Nghị Viện: Gồm 500 đại biểu, nên còn gọi là Viện 500. Cùng với Thượng Nghị Viện, Hạ Nghị Viện là cơ quan lập pháp do Hiến pháp năm thứ III quy định.

[14] Thượng Nghị Viện: Gồm 250 đại biểu, có nhiệm vụ thông qua những pháp luật do Hạ Nghị Viện khởi thảo.

[15] Bourbon: Dòng họ vua Pháp trị vì từ cuối thế kỷ XVI đến cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và sau cách mạng (trong suốt những năm 1814-1830) với Louis XVIII và Chales.

[16] Viện Đốc Chính (Directoire): Chính phủ chấp chính ở nước Pháp từ năm 1795 đến năm 1799.

CHƯƠNG 2

chiến dịch nước ý
1

Từ ngày được Barras và nhiều nhân vật quan trọng khác của chế độ tin dùng, nghĩa là sau khi dẹp xong cuộc phiến loạn của bọn quân chủ vào ngày 13 Tháng Hái Nho, Bonaparte cố gắng thuyết phục những nhân vật ấy về sự cần thiết phải ngăn ngừa một cuộc liên minh mới của các cường quốc chống lại nước Pháp, phải mở một cuộc tiến công và ở nước Áo và đồng minh của Áo là nước Ý, và muốn thế, phải xâm chiếm miền Bắc nước Ý. Thật ra, đó không phải là một Khối Liên Minh mới mà vẫn là Khối Liên Minh cũ thành lập từ năm 1792, và năm 1795, nước Phổ đã rút khỏi Khối Liên Minh ấy sau khi đã ký một hòa ước riêng với nước Pháp ở Basle. Nhưng vẫn còn lại các nước Áo, Anh, Nga, vương quốc Sardegna, hai vương quốc Sicilia và một số các quốc gia Đức là Württemberg, Bavaria, Baden. Vì toàn thể Châu Âu lúc bấy giờ có thái độ thù địch với Viện Đốc Chính, nên Viện Đốc Chính cho rằng chiến trường chính của chiến dịch sắp tới, vào mùa xuân và mùa hạ năm 1796, phải là miền Tây và Tây Nam nước Đức và qua những miền đó, người Pháp sẽ cố gắng tiến vào những vùng thực sự là đất Áo. Viện Đốc Chính đã chuẩn bị cho chiến dịch này những đội quân tinh nhuệ nhất do những nhà chiến lược lỗi lạc nhất chỉ huy, đứng đầu là tướng tổng chỉ huy Moreau. Đối với đạo quân này, người ta không tiếc một thứ gì, trang bị của nó được tổ chức thật tuyệt vời và chính phủ Pháp tin cậy trước nhất vào nó.

Đối với những đề nghị khẩn khoản của tướng Bonaparte về việc xâm chiếm miền Bắc nước Ý bằng con đường từ các tỉnh Pháp giáp phía Nam, Viện Đốc Chính tỏ ra không tán thành mấy kế hoạch đó. Nhưng dầu sao người ta cũng phải nhận rằng như vậy sẽ có tác dụng nghi binh, buộc triều đình Vienna phải phân tán lực lượng và không chú ý tới chiến trường chính của cuộc chiến tranh sắp diễn ra. Để đạt mục đích ấy, người ta đã quyết định dùng mấy chục nghìn quân đóng ở phía Nam làm cho quân Áo và đồng minh của Áo, vua Sardegna, phải lo lắng.

Khi đặt ra vấn đề ai sẽ là chỉ huy trưởng ở mặt trận thứ yếu đó, thì Carnot (không phải là Barras như bấy lâu người ta vẫn khẳng định) chỉ định Bonaparte. Những vị đốc chính đều đồng ý ngay, vì các vị tướng có tiếng tăm nhất và có địa vị nhất chẳng ai màng đến chức trách đó. Quyết định bổ nhiệm Bonaparte làm chỉ huy trưởng đạo quân đi đánh nước Ý ký ngày 23 tháng 2 năm 1796 và ngày 11 tháng 3, vị tướng tổng chỉ huy mới đi nhận nhiệm vụ.

Trong lịch sử của Napoléon, cuộc chiến tranh đầu tiên này, do Napoléon điều khiển, bao giờ cũng vẫn chói lọi. Năm 1796, tên tuổi của Napoléon đã bay đi khắp Châu Âu, để rồi từ đó không bao giờ rời vũ đài lịch sử nữa. “Gã này còn đi xa, đã đến lúc cần phải chặn hắn lại”, đó là lời của Suvorov nói vào giữa lúc chiến dịch nước Ý của Bonaparte đang diễn ra ác liệt. Suvorov đã là một trong những người đầu tiên phát hiện cơn giông tố làm cho Châu Âu phải điêu đứng trong một thời gian rất dài vì những sấm sét của nó.

Tới đơn vị, qua kiểm tra, Bonaparte biết ngay tại sao những viên tướng có thế lực nhất của nền Cộng Hòa Pháp lại tỏ ra không thiết tha gì lắm với chức chỉ huy này. Quân đội ở vào tình trạng đến nỗi trông không khác gì một đám đói rách. Chưa bao giờ người ta thấy cái tệ bóc lột và ăn hối lộ dưới đủ mọi hình thức lại hoành hành quá dữ dội như vậy và điều đó cũng chưa bao giờ thấy xảy ra trong ngành hậu cần Pháp trong những năm cuối cùng của Hội Nghị Quốc Ước Tháng Nóng và dưới thời của Viện Đốc Chính. Đúng là Paris cung cấp rất ít cho đạo quân này, nhưng ngay “cái ít đó” cũng lại bị tham ô một cách nhanh chóng và trắng trợn. Người ta không biết 43.000 quân đóng ở Nice hoặc ở những vùng lân cận đã ăn và mặc ra sao. Vừa mới đến, Bonaparte đã được báo cáo là ngày hôm trước có một tiểu đoàn không chấp hành lệnh di chuyển vì không ai có giày. Đạo quân bị bỏ quên và bị bỏ rơi không những bị suy nhược về thể chất lại còn đèo thêm cả một sự lỏng lẻo về kỷ luật. Binh lính chẳng còn ngờ vực gì nữa, chính mặt họ đã trông thấy ở chỗ nào cũng có tệ ăn cắp gây ra cho họ biết bao đau khổ.

Một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất đang đợi Bonaparte. Đối với Bonaparte, cái khó không những là phải lo giải quyết quần áo, giày dép, kỷ luật cho quân sĩ, mà là phải lo giải quyết những vấn đề đó ở dọc đường, sau khi đã bước vào hoạt động rồi và giữa hai đợt chiến dịch. Hoàn cảnh của Bonaparte có thể trở lên khó khăn thêm vì những va chạm với những cấp chỉ huy của đạo quân này, là cấp dưới của Bonaparte, như: Augereau, Berthier, Masséna, Sérurier. Họ có thể sẵn sàng phục tùng một viên tướng thâm niên hoặc có nhiều thành tích hơn (chẳng hạn như Moreau, chỉ huy trưởng đạo quân mặt trận Tây Đức), nhưng hình như họ lại lấy làm nhục khi phải nhận mệnh lệnh của một cấp trên mới 27 tuổi như Bonaparte. Có thể xảy ra những mâu thuẫn và tiếng đồn của hàng trăm cửa miệng trong các trại lính truyền đi, nhắc đi nhắc lại, bóp méo và thêu dệt mãi về vấn đề ấy. Thí dụ người ta truyền đi câu chuyện, không biết ai đã tung ra, là trong một cuộc cãi lộn gay go, Bonaparte, thân hình bé nhỏ, ngước nhìn Augereau cao lớn từ đầu đến chân và chắc là đã nói rằng: “Anh đã nói những lời phản nghịch, hãy coi chừng, đừng để tôi phải làm bổn phận của tôi. Cái thân hình to lớn của anh cũng không tránh cho anh khỏi bị xử bắn ngay bây giờ đâu”. Thực tế là ngay từ đầu, Bonaparte đã làm cho mọi người hiểu rằng Bonaparte không thể chịu được sự chống đối lại trong đơn vị mình và Bonaparte sẽ đập tan tất cả những kẻ nào cưỡng lại mình, dù kẻ đó ở cấp bậc nào. “Ở đây, phải đốt, phải bắn”, Bonaparte đã báo cáo đại khái như vậy và không giải thích thêm gì với Viện Đốc Chính ở Paris.

Bonaparte lập tức tiến hành một cuộc đấu tranh kiên quyết chống lại nạn trộm cắp đang hoành hành dữ dội. Binh lính đã chú ý ngay đến việc đó và nó đã góp phần vào việc khôi phục kỷ luật hơn hẳn cả những ban chuyên môn đi xử bắn. Nhưng trong hoàn cảnh của Bonaparte lúc ấy, trì hoãn các cuộc hành binh đến khi trang bị xong bộ đội thì thực tế chẳng khác gì thôi không mở chiến dịch năm 1796. Bonaparte đã hạ quyết tâm và đã nói rõ điều đó trong lời tuyên bố của mình với binh sĩ. Người ta đã tranh luận rất nhiều để tìm xem bản tuyên bố được đưa vào sử sách ấy đã được viết xong đúng vào lúc nào và ngày nay, những nhà viết tiểu sử của Napoléon khẳng định rằng chỉ có những câu đầu tiên mới đúng là của Napoléon, còn hầu hết phần sau chỉ là đoạn văn sau này người ta thêm thắt vào. Tôi nhận thấy ngay cả những câu đầu người ta cũng chỉ có thể bảo đảm chúng là của Napoléon về ý nghĩa chung nhiều hơn là về từng chữ một: “Hỡi các binh sĩ, các người không đủ cơm ăn, không đủ áo mặc... Ta sẽ đưa các người đến những cánh đồng phì nhiêu nhất thế giới”.

Ngay từ những bước đầu, Bonaparte đã cho rằng chiến tranh phải nuôi chiến tranh, rằng mỗi binh sĩ phải tự mình thấy gắn bó với chiến dịch sắp mở ra ở miền Bắc nước Ý và cần phải chỉ cho binh sĩ biết rằng không cần phải đợi người ta cung cấp cho những thứ cần thiết, mà chính là mình phải lấy của địch tất cả những gì mình cần đến và hơn thế nữa. Nói chuyện với ba quân lần ấy, người tướng trẻ chỉ phát biểu chỉ có vậy. Bonaparte luôn luôn biết tạo nên, tăng cường và nuôi dưỡng uy tín và quyền hành của cá nhân mình trong tâm hồn người chiến sĩ. Những chuyện dông dài nói “tình thương yêu” của Napoléon đối với binh sĩ, những người mà trong những phút sống thật thà nhất đối với cõi lòng của mình, Napoléon đã gọi là “bia đỡ đạn”, đều là những chuyện không có ý nghĩa gì hết. “Thương yêu binh sĩ”, không thể có chuyện ấy ở Napoléon, nhưng Napoléon rất chăm lo đến binh sĩ. Napoléon đã khéo làm việc ấy, khiến cho binh sĩ bề ngoài thấy là họ đã được cấp trên chú ý đến cá nhân họ nhưng thực ra Napoléon chỉ lo làm sao có trong tay một công cụ thật tốt và có năng lực chiến đấu.

Tháng 4 năm 1796, trong giai đoạn đầu của chiến dịch đầu tiên của Bonaparte, dưới con mắt của binh sĩ, Bonaparte chỉ là một pháo thủ có năng lực, là người mà hơn hai năm trước đây đã chiến đấu tốt trong cuộc vây thành Toulon, là một viên tướng đã nã súng vào bọn phiến loạn đang tiến công Hội Nghị Quốc Ước vào ngày 13 Tháng Hái Nho, và đã được nhận chức chỉ huy đạo quân miền Nam nước Pháp, ngoài ra chẳng có gì hơn nữa. Lúc bấy giờ, Bonaparte còn chưa có uy tín và chưa nắm chắc được binh sĩ. Vì vậy, Bonaparte quyết định tác động vào người lính bằng cách duy nhất là vạch ra trực tiếp, cụ thể và thiết thực cho họ thấy rằng những của cải vật chất đang chờ đợi họ ở nước Ý.

Ngày 9 tháng 4 năm 1796, Bonaparte quyết định vượt qua núi Apls cùng với quân đội.

Tướng Jomini, người Thụy Sĩ, nhà bác học về chiến lược chiến thuật, tác giả nổi tiếng của một quyển sử dày nói về chiến dịch của Napoléon, lúc đầu làm việc dưới quyền của Napoléon, sau chạy sang hàng ngũ người Nga, có nhận xét rằng ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc chỉ huy đầu tiên, Bonaparte đã tỏ ra can đảm đến liều lĩnh và coi thường cả nguy hiểm đối với bản thân: Bonaparte đã cùng với bộ tham mưu của mình chọn con đường nguy hiểm nhất, nhưng ngắn nhất, qua con đường Corniche nổi tiếng chạy dọc theo dãy núi Apls giáp biển, luôn nằm phơi dưới tầm hỏa lực của pháo trên chiến thuyền Anh đi tuần phòng ở gần bờ. Đây là lần đầu tiên mà một trong những đặc điểm của Napoléon đã được biểu lộ: Một mặt, so với những người đồng thời cùng có những đặc điểm gan góc, lì lợm, can đảm, dũng mãnh như Napoléon, thí dụ như các Thống Chế Lannes, Murat, Ney, tướng Miloradovich[17], hoặc như Skobelev trong số những tướng tá của thời kỳ gần đây hơn, thì Napoléon đã không hề được nổi tiếng về những đặc điểm ấy. Bao giờ Napoléon cũng cho rằng nếu không thật cần thiết và không tuyệt đối cần thiết thì người chỉ huy trong thời chiến không được liều thân vào nơi nguy hiểm, bởi vì chỉ cái chết của người đó cũng đã đủ gây hoang mang, hốt hoảng, thất bại cho trận đánh, thậm chí cho cả toàn bộ cuộc chiến tranh. Nhưng mặt khác, Napoléon cho rằng nếu tình thế đòi hỏi mình phải gương mẫu thì người chỉ huy phải xông vào lửa đạn, không được do dự.

Cuộc hành quân vượt qua đường Corniche được tiến hành thuận lợi từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 1796; khi đã tới được nước Ý, Bonaparte lập tức hạ quyết tâm chiến đấu ngay. Đối diện với Bonaparte là quân đội của nước Áo và Piedmont phối hợp lại, chia thành ba cụm, bảo vệ các con đường đi Piedmont và đi Genoa. Trận đầu tiên đánh với quân đoàn áo của tướng Argenteau diễn ra ở trung tâm vùng Montenotte. Tập trung tất cả lực lượng thành một khối mạnh và đánh lừa được quân cảnh giới của tướng tổng chỉ huy áo Beaulieu lúc đó đang ở quá phía Nam trên đường đi Genoa, Bonaparte thọc mạnh vào trung tâm quân địch. Chỉ vài giờ sau, quân Áo bị thua. Nhưng đó mới chỉ là một bộ phận của đội Quân Áo. Chỉ cho binh sĩ của mình nghỉ ngơi trong một thời gian ngắn, Bonaparte lại tiến quân ngay. Hai ngày sau, quân đội Piedmont bị đánh thua liểng xiểng ở gần vùng Millesimo phải rời bỏ chiến địa đầy thương binh tử sĩ, mất 13 cỗ pháo, năm tiểu đoàn hạ khí giới đầu hàng với số còn lại bỏ chạy: Đó là kết quả cuộc chiến đấu của quân Liên Minh. Bonaparte lập tức truy kích, không cho quân địch có thời gian củng cố lại hàng ngũ.

Những nhà viết sử quân sự coi những trận chiến đấu đầu tiên của Bonaparte - “sáu thắng lợi trong sáu ngày” - chỉ là một trận đánh và một trận đánh lớn. Nguyên tắc chiến đấu cơ bản của Napoléon trong những ngày ấy đã biểu hiện đầy đủ: Nhanh chóng tập hợp lực lượng lớn thành một khối mạnh, đánh hết mục tiêu chiến lược này đến mục tiêu chiến lược khác, không dùng đến những cuộc điều quân quá phức tạp, và chia cắt địch ra mà đánh.

Một trong những nét đặc biệt khác của Napoléon cũng đã được biểu hiện, đó là khả năng giải quyết vấn đề chính trị và chiến lược như là một thể thống nhất không tách rời nhau được; trong suốt tuần lễ của tháng 4 năm 1796, tuy đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhưng không lúc nào Bonaparte quên rằng phải làm sao buộc nước Piedmont (vương quốc Sardegna) ký thật sớm hiệp ước riêng, để cho trước mặt mình chỉ còn quân Áo.

Sau khi quân Pháp chiến thắng quân Piedmont ở Mondovi và thành phố này đầu hàng Bonaparte, thì viên tướng Piedmont là Colli đi vào đàm phán hòa bình, và hiệp ước đình chiến với Piedmont được ký kết ngày 28 tháng 4. Những điều kiện cực kỳ nặng nề đã đè lên kẻ chiến bại: Vua Piedmont, Victor Amadeus, phải giao cho Napoléon hai pháo đài tốt nhất của mình và nhiều địa phương khác nữa. Hòa ước chính thức ký với quốc gia này ở Paris vào ngày 15 tháng 5 năm 1796. Nước Piedmont chính thức cam kết không để quân đội của một nước nào đi qua lãnh thổ Piedmont, trừ quân đội của nước Pháp và từ nay trở đi không liên minh với bất cứ một nước nào. Nước Piedmont nhượng lại cho nước Pháp lãnh địa Nice và toàn bộ vùng Savoy. Ngoài ra, biên giới nước Pháp và nước Piedmont được “điều chỉnh lại” một cách rất có lợi cho nước Pháp. Nước Piedmont còn cam kết cung cấp lương thực cần thiết cho quân đội Pháp.

Thế là nhiệm vụ đầu tiên đã hoàn thành. Chỉ còn lại quân Áo. Bằng những thắng lợi mới, Bonaparte đã đẩy lùi quân Áo đến sông Po, bức quân Áo rút lui sang bờ sông phía Đông, rồi Bonaparte cũng vượt qua sông, tiếp tục truy kích. Hoảng hốt bao trùm lên tất cả triều đình Ý. Công tước xứ Parma, tuy thực tế không đánh nhau với nước Pháp, nhưng lại là một trong những nạn nhân đầu tiên; Bonaparte đã không tin những lời cam kết, không công nhận sự trung lập của xứ này, bắt Parma phải đóng góp một số tiền là hai triệu francs vàng và nộp 1.700 con ngựa. Bonaparte vẫn tiếp tục tiến quân, chẳng bao lâu đã tiến đến làng Lodi nhỏ bé và phải vượt qua sông Adda. Vị trí trọng yếu này do một binh đoàn 10.000 quân Áo phòng giữ.

Trận chiến đấu lừng danh Lodi diễn ra vào ngày 10 tháng 5. Lần này cũng như lần vượt qua Corniche, Bonaparte thấy cần thiết phải liều mạng: Lúc cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở đầu cầu thì Bonaparte, dẫn đầu một tiểu đoàn cận vệ, xông tới dưới làn mưa đạn, 20 khẩu pháo của quân Áo nhả đạn quét sạch cầu và lân cận. Lính cận vệ, do Bonaparte dẫn đầu, đã chiếm được cầu và đánh bật được quân Áo ra xa; quân Áo bỏ lại trên chiến trường 15 khẩu pháo và chừng 2.000 người vừa bị chết và bị thương. Bonaparte lập tức truy kích quân địch, và ngày 15 tiến vào Milan. Ngày hôm trước, 14 tháng 3 (ngày 26 Tháng Hoa), Bonaparte đã báo cáo về Viện Đốc Chính rằng từ nay miền Lombardia thuộc về nước Pháp.

Tháng 6, theo lệnh của Napoléon, một bộ phận quân Pháp do tướng Murat chỉ huy, đã chiếm được Leghorn, trong khi tướng Augereau chiếm được Bologna. Vào trung tuần tháng 6, Bonaparte thân hành đánh chiếm Modena, rồi đến lượt Tuscany, mặc dù công tước xứ này vẫn đứng trung lập trước cuộc chiến tranh Áo - Pháp. Bonaparte không đếm xỉa gì đến thái độ trung lập của các quốc gia Ý. Bonaparte vào các thành phố, làng mạc, trưng thu tất cả những gì cần thiết cho quân đội, nói chung là vơ vét tất cả những gì mà Bonaparte cho là đáng lấy, kể từ những cỗ pháo, khẩu súng, thuốc súng cho đến những bức tranh của các họa sĩ bậc thầy thời Phục hưng.

Bonaparte nhìn bằng con mắt đầy khoan dung những trò giải trí kiểu ấy, những trò mà lúc bấy giờ chiến binh của ông ta say sưa lao vào, đến nỗi nhân dân địa phương đã phải nổi dậy bạo động. Ở Pavia, nhiều lần nhân dân đã xông vào đánh binh lính Pháp. Ở Lugo (gần Ferrera) cũng vậy, nhân dân đã giết chết năm kỵ binh và sau đó thì thành phố bị xử theo quân lệnh: Vài trăm người bị chém đầu và binh lính được lệnh tàn phá, cướp bóc thành phố, chúng hạ sát tất cả những người dân nào bị chúng nghi là chống lại chúng. Nhiều nơi khác cũng phải chịu đựng những sự trừng phạt tàn bạo như vậy. Sau khi đã dùng pháo và đạn dược tước được của quân Áo hoặc của các quốc gia trung lập Ý để tăng cường, bổ sung đầy đủ cho đơn vị pháo binh của mình, Bonaparte tiến thẳng về pháo đài Mantua, một trong những pháo đài mạnh nhất Châu Âu do địa thế thiên nhiên cũng như do nghệ thuật kiến trúc hệ thống phòng ngự.

Vừa bắt đầu chính thức vây thành Mantua thì Bonaparte được tin một đạo quân Áo gồm 30.000 người được đặc biệt cấp tốc phái từ Tyrol đến để cứu nguy cho Mantua. Đạo binh ấy đặt dưới quyền chỉ huy của Wurmser, một viên tướng rất mẫn tiệp và có tài năng. Tin này đã cổ vũ mạnh mẽ tất cả những kẻ thù của nước Pháp. Hơn nữa, trong suốt mùa xuân và mùa hè năm 1796, hàng nghìn dân thành thị và nông thôn bị điêu đứng vì nạn cướp phá của quân đội tướng Bonaparte, đã nhập bọn với tăng lữ và bọn quý tộc nửa phong kiến miền Bắc nước Ý là những kẻ căm ghét cả đến những nguyên lý của cuộc cách mạng tư sản do quân đội Pháp mang vào nước Ý. Nước Piedmont, đã thua trận và buộc phải ký hòa ước, có thể nổi lên đánh vào hậu phương của Bonaparte và cắt đứt đường giao thông của Bonaparte với nước Pháp.

Bonaparte cắt 16.999 quân dùng vào việc vây thành Mantua, 29.000 quân còn lại làm đội dự bị, và chờ viện binh ở Pháp sang. Bonaparte cử Masséna, một trong những tướng giỏi nhất của Bonaparte, giao chiến với Wurmser. Nhưng Wurmser đã đánh tan quân Masséna, Bonaparte liền cử tướng Augereau, một tướng rất có năng lực và được phong cấp tướng trước Bonaparte. Augereau cũng lại bị Wurmser đánh lui nốt. Quân Pháp lâm vào tình thế tuyệt vọng, và lúc ấy Bonaparte đã tiến hành một cuộc hành binh mà theo ý kiến của những nhà lý luận quân sự trước đây cũng như hiện đại nhất đều cho rằng: Dù Bonaparte có bị tử trận ngay vào thời kỳ đó, vào buổi bình minh của sự nghiệp lâu dài của Bonaparte, thì chỉ một cuộc hành binh đó cũng đã đủ bảo đảm cho Bonaparte “một vinh quang bất diệt” (lời nói của Jomini). Tưởng rằng sắp thắng được địch thủ đáng gờm của mình, Wurmser cho kéo quân vào thành Mantua đang bị vây hãm, và như vậy là ông ta đã giải vây được, thì thình lình Wurmser được tin Bonaparte đang tập trung tất cả lực lượng tiến công vào một cánh quân Áo khác đang hoạt động trên các đường giao thông giữa Bonaparte với Milan và đã đánh cho cánh quân Áo ấy bị thua liền ba trận ở Lonato, Salo và ở Brescia. Được tin ấy, Wurmser dùng toàn bộ lực lượng rời khỏi Mantua, sau khi đánh tan được phòng tuyến quân Pháp án ngữ ở trước mặt do tướng Valette chỉ huy, và qua một loạt trận giao chiến đánh lùi được những cánh quân Pháp khác, cuối cùng đã vấp phải cánh quân do chính Bonaparte chỉ huy gần Castiglione, nơi đây Wurmser đã thất bại nặng vì một cuộc hành binh tài tình của Napoléon; nhờ cuộc hành binh ấy, một bộ phận quân Pháp vừa đánh tạt sườn vừa đánh tập hậu quân Áo.

Sau một loạt trận chiến đấu khác. Wurmser, cùng với tàn quân, lúc đầu đã chạy vòng quanh thượng lưu sông Adige, rồi sau rút vào thành Mantua. Bonaparte quay trở lại bao vây. Lần này, để ứng cứu không phải chỉ riêng cho Mantua mà còn cho cả chính Wurmser nữa, nước Áo đã tức tốc điều động một đạo quân mới do Alvinczi chỉ huy. Cũng như Wurmser và Đại Công Tước Chales, Alvinczi là một trong những tướng giỏi của đế quốc Áo. Bonaparte để lại 8.300 quân làm lực lượng vây thành Mantua và dẫn đầu 28.500 quân tiến đánh Alvinczi. Lực lượng dự bị của Bonaparte hầu như chẳng còn gì, chưa đầy 4.000 người. “Người tướng nào cố giữ lại những đội quân cho những trận đánh hôm sau thì hầu như bao giờ cũng bị thua”, Napoléon luôn nhắc lại như vậy mặc dầu ông không hề phủ nhận tầm quan trong to lớn của các lực lượng dự bị trong cuộc chiến tranh kéo dài. Về số lượng, quân Alvinczi đông gấp bội và đã giao chiến nhiều trận với quân đội Pháp. Hạ lệnh rút quân ra khỏi Vicenza và một vài vị trí khác, Bonaparte đã tập trung toàn bộ lực lượng để đánh một đòn quyết định.

Ngày 15 tháng 11 năm 1796, một trận kịch chiến đẫm máu đã bắt đầu ở gần Arcole và kết thúc vào buổi tối ngày 17 tháng 11. Cuối cùng, Alvinczi chạm trán với Bonaparte.

Quân Áo đông hơn nhiều và chiến đấu với một tinh thần ngoan cường phi thường, vì triều đình Hapsburg[18] đã phái đến những trung đoàn tinh nhuệ nhất. Một trong những cứ điểm trọng yếu và có tiếng nhất là cầu Arcole. Ba lần quân Pháp đã xung phong, đã đoạt được cầu, ba lần lại bị đánh lui và bị tổn thất nặng nề. Diễn lại đúng hệt chiến công ở Lodi mấy tháng trước đây, tướng tổng chỉ huy Bonaparte lại tay cầm cờ lao lên trước. Bên cạnh Bonaparte, nhiều binh lính và một số sĩ quan hầu cận bị giết chết. Trận đánh kéo dài ròng rã ba ngày, kể cả những lúc tạm ngừng ngắn ngủi. Alvinczi đã bị đánh bại và buộc phải lui.

 

Quân Áo phải mất một tháng rưỡi mới hàn gắn được những thua thiệt ở Arcole và chuẩn bị phục thù. Trận quyết định đã diễn ra vào trung tuần tháng 1 năm 1797. Lần này, quân đội Áo, noi gương nhà chiến lược trẻ tuổi người Pháp, cũng tập trung thành một khối lớn. Trong một trận đánh đẫm máu kéo dài ba ngày ở gần Bivoli, những ngày 14, 15, 16 tháng 1 năm 1797, tướng Bonaparte đã đánh tan tành toàn bộ quân đội Áo. Alvinczi, cùng với tàn binh chạy thoát, không còn nghĩ đến việc giải vây cho Mantua và đạo quân của Wurmser đang bị hãm trong đó được nữa. Sau trận Rivoli hai tuần rưỡi thì Mantua đầu hàng. Bonaparte đã đối xử với bại tướng Wurmser một cách khoan dung đại lượng nhất.

Chiếm xong Mantua, Bonaparte tiến quân lên phía Bắc, hiển nhiên ông ta đe dọa những vùng đất đai chiếm hữu cha truyền con nối của hoàng gia Áo. Sau khi Đại Công Tước Chales người mà hồi đầu mùa xuân năm 1797, được điều động vội vã sang chiến trường nước Ý - đã bị Bonaparte đánh bại trong nhiều trận và đã bị đuổi dồn về đèo Brenner và ở đó Đại Công Tước đã phải rút lui cùng với nhiều tổn thất nặng nề, thì tình hình thành Vienna trở lên nhốn nháo, hoảng hốt, trước hết là ở hoàng cung. Nhân dân kinh thành được biết rằng trong hoàng cung người ta đang vội vàng đóng gói vàng bạc, châu báu của hoàng gia cất giấu vào chỗ kín. Một cuộc xâm lược của quân đội Pháp đang đe dọa thủ đô nước Áo. “Tướng Hannibal đã đứng ở cổng rồi! Bonaparte đang ở Tyrol rồi! Ngày mai Bonaparte sẽ đến Vienna!”.

Những tin đồn loại ấy, những lời bàn tán, những tiếng than vãn như vậy còn âm vang mãi trong ký ức những người đương thời đã sống qua những giờ phút ấy ở cái thủ đô già nua và béo bở của đất nước quân chủ của dòng họ Habsburg. Những đội quân Áo tinh nhuệ nhất bị tiêu diệt, những tướng lĩnh thao lược và tài năng nhất bị đại bại, tất cả miền Bắc nước Ý bị mất, thủ đô nước Áo bị đe dọa trực tiếp, đó là thành tích cái chiến dịch một năm của Bonaparte bắt đầu vào cuối tháng 3 năm 1796, thời kỳ mà lần đầu tiên Bonaparte làm chỉ huy trưởng một đạo quân Pháp. Tên tuổi Bonaparte vang lừng khắp Châu Âu.

2

Sau những thất bại mới và cuộc tổng rút lui của Đại Công Tước Chales, triều đình Vienna đã nhận thấy nguy cơ nếu kéo dài chiến tranh. Trong những ngày đầu tháng 4 năm 1797, tướng Bonaparte được tin báo chính thức là Hoàng Đế Francis nước Áo đề nghị mở cuộc đàm phán hòa bình. Cũng cần chú ý rằng về phần Bonaparte, ông ta cũng cố gắng tìm mọi cách để chấm dứt chiến tranh với nước Áo vào một thời cơ thuận lợi nhất cho mình và trong khi Bonaparte tập trung mọi lực lượng để truy kích Đại Công Tước Chales đang vội vã rút lui thì đồng thời Bonaparte cũng báo tin cho Đại Công Tước Chales biết là mình sẵn sàng điều đình ngừng chiến. Người ta nhận thấy bức thư của Bonaparte thật là kỳ lạ: Trong thư, để không làm tổn thương lòng tự ái của kẻ bại trận, Bonaparte viết rằng nếu ký được hòa ước thì Bonaparte sẽ lấy làm tự hào hơn là “cái vinh quang đau thương cho những thắng lợi quân sự đem lại”. “Chúng ta đã giết hại mất khá nhiều sinh linh và đã phạm khá nhiều tội đối với nhân loại đau thương rồi!”. Bonaparte nói với Chales như vậy.

Viện Đốc Chính chấp thuận ký hòa ước, chỉ còn lo chưa biết chọn ai để đi đàm phán. Nhưng trong khi Viện Đốc Chính suy nghĩ và khi người được chọn là Cluke bắt đầu lên đường đến đại bản doanh của Bonaparte thì viên tướng chiến thắng ấy đã ký xong hiệp ước đình chiến Leoben.

Ngay từ buổi đầu của cuộc đàm phán Leoben, Bonaparte đã giải quyết xong với Roma. Giáo Hoàng Pius VI, kẻ thù điên cuồng của cách mạng Pháp, coi “viên tướng của Tháng Hái Nho” như một tên tay sai của địa ngục, vì Bonaparte đã được thăng làm tổng chỉ huy để thưởng công đã diệt trừ được bọn Bảo Hoàng sùng đạo ngày 13 Tháng Hái Nho và Giáo Hoàng đã hết sức giúp đỡ nước Áo trong cuộc chiến đấu gian khổ. Ngay sau khi Wurmser nộp thành Mantua cho người Pháp cùng với 13.000 quân và hàng trăm khẩu pháo, ngay sau khi Bonaparte có thể rút được số quân vây thành ra thì Bonaparte liền mở một cuộc tiến công vào đất đai của toà thánh.

Quân đội của Giáo Hoàng bị tan vỡ ngay từ trận đầu tiên và tháo chạy nhanh đến nỗi tướng Junot, do Bonaparte cử đi truy kích, đã phải mất hai giờ mới đuổi kịp: Junot chém giết ngay một phần và bắt số còn lại làm tù binh. Rồi các thành phố lần lượt đầu hàng Bonaparte không một chút kháng cự. Bonaparte cướp hết những gì có giá trị: Tiền bạc, kim cương, tranh, bát đĩa quí giá. Cũng như ở miền Bắc nước Ý, các thành phố, nhà tu, kho tàng của những ngôi nhà thờ cổ đã mang lại cho Bonaparte một nguồn chiến lợi phẩm lớn. Bọn nhà giàu và những nhân vật thuộc tầng lớp giáo sĩ cao cấp, lũ lượt từng đám rời bỏ thành Roma đầy khủng khiếp, trốn chạy về phía Naples.

Giáo Hoàng Pius VI, khiếp sợ rụng rời, đã viết một bức thư lời lẽ khẩn khoản giao cho cháu là Hồng Y giáo chủ Cardinal Mattei cùng đi với một phái đoàn mang đến Bonaparte để cầu hòa. Tướng Bonaparte chấp nhận lời cầu xin đó với thái độ kẻ cả và cũng cho biết ngay rằng Giáo Hoàng chỉ có thể đầu hàng hoàn toàn. Hòa ước được ký vào ngày 19 tháng 2 năm 1797 ở Torino với điều kiện là Giáo Hoàng phải nhường lại một bộ phận đất đai khá rộng và giàu có nhất, trả một khoản đảm phụ 30 triệu francs vàng, nộp những bức tranh và những pho tượng độc nhất trong các viện bảo tàng. Những vật phẩm nghệ thuật đó cùng những vật phẩm đã vơ vét được ở Milan, Bologna, Modena, Parma, Piacenza và sau này ở Venezia đều được Bonaparte gửi về Paris. Vì sợ hãi đến cực độ Pius VI đã nhận ngay tất cả những điều kiện đó, việc này đối với Giáo Hoàng cũng dễ dàng, vả lại Bonaparte cũng chẳng cần đếm xỉa đến sự ưng thuận của Giáo Hoàng nữa.

Tại sao lúc này Napoléon không làm những việc mà mấy năm sau đây Napoléon phải làm? Tại sao Napoléon không chiếm thành Roma và không bắt giữ Giáo Hoàng? Trước hết, vì việc đàm phán hòa bình với nước Áo còn đang tiến hành và nếu Napoléon xử trí quá nghiệt ngã với Giáo Hoàng thì sẽ có thể cho giáo dân ở miền trung và miền Nam nước Ý nổi dậy, như vậy sẽ gây nên tình hình rối loạn ở hậu phương của Napoléon. Vả lại, chúng ta cũng nên biết rằng trong quá trình của chiến dịch nước Ý đầu tiên lẫy lừng ấy, với sự chiến thắng liên tiếp nhiều đội quân hùng mạnh và đáng sợ của đế quốc Áo thời bấy giờ, viên tướng trẻ ấy đã thức một đêm trắng đi đi lại lại suy nghĩ trước lều, lần đầu tiên tự đặt cho mình có nên tiếp tục chiến thắng và chinh phục mãi các đất đai mới cho Viện Đốc Chính, cho “bọn luật sư” ấy hay không? Trước khi Bonaparte khám phá ra điều đó để rồi đêm ấy trầm ngâm suy tưởng thì năm tháng đã phải trôi qua một đận dài, sông nước chân cầu đã phải thay đi trăm dòng nghìn lớp và máu người đã phải đổ thành sông. Và đương nhiên câu trả lời mà bản thân Bonaparte tự đáp lại mình là: Không, không và không! Và năm 1797, con người đã chinh phục nước Ý ấy, tuổi vừa 28, đã biết nhìn thấy ở Pius VI không phải là một lão già suy nhược và sợ hãi rụng rời để Napoléon muốn làm gì cũng được; Napoléon coi Pius VI là thủ lĩnh tinh thần của bao nhiêu triệu con người, ngay cả trên đất Pháp và kẻ nào muốn dựa vào hàng triệu con người ấy để củng cố quyền lực của mình ắt phải tính đến lòng mê tín của họ. Napoléon đánh giá giáo hội với nghĩa rất đúng của nó: Một công cụ cảnh sát tinh thần, rất tiện lợi để điều khiển đông đảo quần chúng và về phương diện này, theo quan điểm của Napoléon, giáo hội Thiên Chúa Giáo có tác dụng đặc biệt, mặc dù điều không may là xưa nay nó đã và vẫn cứ tiếp tục mưu toan đóng một vai trò chính trị độc lập; sở dĩ như vậy chính vì nó có một tổ chức hoàn chỉnh và hoàn toàn phục tùng quyền lực Giáo Hoàng.

Ngay chính cả cái chức Giáo Hoàng, Napoléon cũng coi như là một trò hoàn toàn lừa bịp đã được xây dựng được thừa nhận qua gần 2000 năm lịch sử và do các giám mục thành Roma thời đó đã khôn khéo lợi dụng những điều kiện địa phương và lịch sử của đời sống trung cổ để bịa đặt ra. Nhưng một cái trò bịp bợm như vậy lại đã có thể tạo nên một lực lượng chính trị rất quan trọng. Napoléon hiểu rất rõ điều đó.

Bị trấn áp và bị mất những lãnh địa tốt đẹp nhất, Giáo Hoàng run sợ sống an toàn một thời gian trong lâu đài Vatican. Napoléon không vào thành Roma; khi vừa giải quyết xong công việc với Pius VI, Napoléon vội vàng trở lại Bắc Ý, ở đó Napoléon còn phải ký hòa ước với nước Áo bại trận.

Trước hết cần phải nói rằng trong cuộc đàm phán để ký hiệp ước đình chiến Leoben cũng như sau này ký Hòa Ước Campo Formio, hay nói chung trong tất cả các cuộc đàm phán ngoại giao, Bonaparte luôn luôn chỉ đạo với thói quen võ đoán thường ngày và ra điều kiện một cách độc đoán. Tại sao lại có thể như thế được? Tại sao Bonaparte lại có thể tự giải quyết dễ dàng như thế được? trước hết là do theo cái quy luật cũ quy định: “Không được phê bình những người chiến thắng”! Những tướng tá Cộng Hòa (những người giỏi nhất như Moreau chẳng hạn), cũng vào năm 1796 ấy và đầu năm 1797, đã bị kẻ địch đánh bại nhiều lần trên sông Rhine và đạo quân sông Rhine đã phải xin tiền chính phủ để sống, mặc dầu ngay từ đầu, đạo quân đó đã được trang bị rất đầy đủ. Còn Bonaparte, ông ta đã biến bầy người rách rưới và vô kỷ luật thành một đội quân đáng sợ và trung thành, không đòi hỏi chính phủ một chút gì; trái lại, còn gửi về Paris hàng triệu đồng tiền vàng, các tác phẩm nghệ thuật, đồng thời Bonaparte lại đã chinh phục được nước Ý, đã tiêu diệt hết đội quân này đến đội quân khác của nước Áo trong rất nhiều trận giao tranh và đã buộc nước Áo phải cầu hòa. Trận Rivoli, việc chiếm thành Mantua và việc chinh phục lãnh thổ của Giáo Hoàng - những chiến công ấy đã xác lập vững vàng uy tín của Bonaparte.

3

Leoben là một thành phố thuộc tỉnh Styria nước Áo, cách Vienna chừng 250km. Để bảo đảm quyền chiếm cứ đúng như thủ tục và vĩnh viễn tất cả những gì mà Bonaparte đã chinh phục được và còn muốn chinh phục thêm nữa ở miền Nam và hơn nữa, muốn dẫn người Áo đến chỗ bằng lòng cùng chịu đựng những hy sinh nặng nề trên chiến trường Tây Đức, nơi mà quân Pháp đang gặp nhiều khó khăn, thì dù sao cũng cần thiết phải bù lại chút ít cho nước Áo. Tuy tiền quân của Bonaparte đã tiến đến Leoben, nhưng Bonaparte cũng biết rằng nếu cứ đánh dồn Áo đến thế cùng, Áo có thể sẽ chống lại một cách điên cuồng và cũng đã đến lúc cần phải giải quyết cho xong việc nước Áo. Nhưng lấy ở đâu để bù lại cho Áo? Ở Venezia. Sự thật là nước Cộng Hòa Venezia giữ thái độ hoàn toàn trung lập và làm mọi cách để tránh khỏi bị xâm chiếm nhưng trong những trường hợp như vậy, không bao giờ Bonaparte một chút lúng túng. Chộp được bất cứ cớ nào, Bonaparte đã phái sang Venice một sư đoàn. Trước khi làm việc này, Bonaparte đã ký hiệp ước đình chiến Leoben với Áo theo những điều kiện sau đây: Áo nhường cho Pháp tả ngạn sông Rhine và tất cả những đất đai của họ trên đất Ý mà Bonaparte đã chiếm được; để bù lại, Pháp hứa đổi cho Áo xứ Venice.

Thực tế Bonaparte đã quyết định chia cắt Venice. Phần thành phố trên bãi biển sẽ thuộc về nước Áo, còn phần đất đai của Venice trên đất liền sẽ thuộc về nước “Cộng Hòa bên kia dãy núi Apls” (Cisalpine HA) mà Bonaparte quyết định sẽ thành lập cùng với toàn bộ đất đai của Ý mà Bonaparte đã chinh phục được. Đương nhiên trên thực tế nước “Cộng Hòa mới này” có gì khác hơn là một vùng đất đai mới của Pháp. Chỉ còn có một nghi thức nhỏ nữa là báo cho Thủ Tướng, cho Thượng Nghị Viện nước Cộng Hòa Venezia biết rằng quốc gia của họ, độc lập từ ngày khai quốc, vào giữa thế kỷ thứ V, đến nay đã không còn nữa, vì tướng Bonaparte muốn như vậy để những kế hoạch ngoại giao của ông ta được thành công tốt đẹp. Đối với ngay cả chính phủ Pháp, Bonaparte cũng chỉ báo cáo cho biết sau khi đã bắt tay vào thực hiện mưu đồ đó. Bonaparte viết cho Thủ Tướng nước Cộng Hòa Venezia đang cầu xin tha tội: “Ông tưởng rằng những binh đoàn Pháp ở Ý sẽ tha thứ cho ông cái tội tàn sát mà ông đã gây nên chăng? Máu của các bạn chiến đấu của chúng tôi sẽ được trả thù”. Những lời nói xa xôi ấy liên quan đến việc một viên đại uý Pháp đã bị giết ở vịnh Lido.

Nhưng cũng chẳng cần viện đến bất cứ một cớ nào vì tất cả đều rõ ràng. Bonaparte đã ra lệnh cho tướng Baraguay D’Hilliers đánh chiếm Venice. Đến tháng 3 năm 1797, mọi việc đều xong xuôi; sau 13 thế kỷ lịch sử độc lập và có biết bao nhiêu sự kiện phong phú, nước Cộng Hòa buôn bán này đã không còn nữa. Món chiến lợi phẩm béo bở để chia nhau - món duy nhất mà Bonaparte còn thiếu để có thể ký với người Áo một hòa ước tối hậu và có lợi - đã rơi vào tay Bonaparte như vậy đó.

Nhưng việc đánh chiếm Venice lại giúp cho Bonaparte một việc khác, hoàn toàn bất ngờ. Vào một buổi tối tháng 5 năm 1797, một người đưa thư đã mang đến bản doanh của Tổng chỉ huy quân đội Pháp, tướng Bonaparte, đang ở Milan, một tin khẩn của tướng Bernadotte, cấp dưới của Bonaparte, báo rằng y vừa chiếm được Trieste. Vấn đề là ở chỗ đã lấy được một cái cặp trong tay một hầu tước d’Antraigues nào đó, một tên Bảo Hoàng và tay sai của bọn Bourbon. Để trốn quân Pháp, d’Antraigues đã từ Venice đến Triest, nhưng Bernadotte đã vào thành phố rồi và đã bắt được y. Chiếc cặp ấy chứa nhiều tài liệu lạ lùng.

Để có thể hiểu hết lợi hại của việc bắt được chiếc cặp ấy, cần nhắc qua sự việc đang xảy ra ở Paris hồi đó.

Giới tài chủ lớn, tư bản thương nghiệp và quý tộc địa chủ - hay có thể gọi được là cái chất nuôi dưỡng cuộc bạo động Tháng Hái Nho năm 1795 - chưa hề bị tiêu diệt và lại càng không hề bị đạn đại bác của Bonaparte tiêu diệt. Đại bác của Bonaparte chỉ tiêu diệt được bộ tham mưu của chúng, những phần tử cầm đầu các khu vực đã sát cánh với những tên Bảo Hoàng tích cực trong ngày hôm đó. Nhưng còn bộ phận trên đây của giai cấp tư sản, ngay cả sau Tháng Hái Nho, vẫn không ngừng ngấm ngầm chống lại Viện Đốc Chính.

Vào mùa xuân năm 1796, khi tổ chức cách mạng của Babeuf bị bại lộ và ám ảnh của một cuộc khởi nghĩa của giai cấp vô sản, nghĩa là của một Tháng Đồng Cỏ mới, bắt đầu gây hoảng hốt cho bọn hữu sản thành thị và nông thôn thì bọn Bảo Hoàng bị đánh bại trong cuộc bạo động Tháng Hái Nho đã lại hồi phục tinh thần và ngóc đầu dậy. Nhưng lần này nữa, chúng lại đã tính lầm, cũng như vào mùa hè năm 1795 ở Quiberon, và Tháng Hái Nho ở Paris. Lần này nữa, chúng lại đã không đếm xỉa đến một thực tế là: Nếu tầng lớp địa chủ mới muốn tạo nên một chính quyền mạnh mẽ vững chắc để bảo vệ tài sản của chúng; nếu giai cấp tư sản mới, làm giàu bằng cách bán tài sản của quốc gia, sẵn sàng thừa nhận một chế độ quân chủ, thậm chí một chế độ quân chủ độc đoán, thì chỉ có một số nhỏ xíu đại tư sản thành thị và nông thôn tán thành dòng họ Bourbon trở về, vì một tên Bourbon bao giờ cũng chỉ là vua của bọn quý tộc chứ không phải vua của giai cấp tư sản, và ắt chế độ phong kiến sẽ trở lại với tên vua đó, và bọn quý tộc lưu vong ắt sẽ kéo về đòi lại đất đai của chúng.

Tuy vậy, so với các nhóm phản cách mạng khác thì bọn Bảo Hoàng là có tổ chức nhất, nhất trí nhất, lại được sự giúp đỡ tích cực và sự viện trợ về vật chất của nước ngoài và được tầng lớp tăng lữ ủng hộ, cho nên vào mùa xuân và mùa hạ năm 1797, lại một lần nữa bọn chúng nắm vai trò lãnh đạo trong việc chuẩn bị lật đổ Viện Đốc Chính. Rốt cuộc, chính cái đó đã làm cho phong trào lần này cũng lại bị thất bại. Thực tế, mỗi một cuộc tuyển cử bộ phận vào Hạ Nghị Viện đều hiển nhiên có lợi cho các phần tử phản động, và đôi khi còn làm lợi rõ rệt cho bọn Bảo Hoàng. Ngay trong Viện Đốc Chính, đang bị phong trào phản cách mạng uy hiếp, cũng có những sự do dự. Barthélemy và Carnot phản đối mọi biện pháp kiên quyết, hơn nữa Barthélemy còn có cảm tình với phong trào đang tiến triển ấy về nhiều điểm. Ba vị đốc chính khác, Barras, Rewbell, La Révellière Lépeaux luôn luôn hội họp với nhau, nhưng lại không quyết định phải làm gì để ngăn ngừa cái âm mưu đang chuẩn bị ấy.

Khi Barras và hai đồng sự không muốn từ bỏ chính quyền và có lẽ không muốn từ bỏ cuộc đời mà không chiến đấu - đã quyết tâm chiến đấu bằng mọi cách thì một trong những trường hợp làm cho họ lo lắng quá đỗi là việc tướng Pichegru, người nổi tiếng vì chinh phục nước Hà Lan vào năm 1795, lại đứng về phía đối phương. Pichegru được bầu làm chủ tịch Hạ Nghị Viện, và do đó mà đứng đầu quyền lập pháp của Nhà Nước: Người ta đã dành cho Pichegru quyền chỉ đạo cuộc tiến công sắp tới vào “ba vị chấp chính” Cộng Hòa, người ta vẫn gọi ba vị đốc chính (Barras, La Révellière Lépeaux và Rewbell) như vậy.

Đó là tình hình nước Pháp vào mùa hạ năm 1797. Vừa chinh chiến ở Ý, Bonaparte vừa chăm chú theo dõi tình hình ở Paris. Bonaparte thấy rõ ràng là nền Cộng Hòa đang bị uy hiếp.

Cá nhân Bonaparte cũng không ưa gì nền Cộng Hòa mà không bao lâu nữa ông ta sẽ bóp nghẹt. Nhưng Bonaparte không có ý để cho việc đó xảy ra quá sớm và nhất là có lợi cho kẻ khác. Trong cái đêm thao thức không ngủ được ở nước Ý, Bonaparte đã tự trả lời là không hiến dâng mãi chiến công duy nhất cho quyền lợi của “bọn luật sư”. Nhưng Bonaparte lại càng không muốn chiến thắng vì quyền lợi của dòng họ Bourbon. Hệt như các viên đốc chính, Bonaparte cũng lo lắng khi thấy một viên tướng nổi tiếng như Pichegru đứng đầu bọn âm mưu. Vào giờ phút quyết định, kẻ ấy có thể làm cho binh lính lầm lạc, chỉ vì họ tin vào cái chủ nghĩa Cộng Hòa thật thà của Pichegru mà họ có thể theo Pichegru, không cần biết Pichegru sẽ dẫn họ đi đến đâu.

Bây giờ thì ta có thể hiểu được dễ dàng tâm trạng của Bonaparte khi người ta tức tốc gửi từ Triest đến cho Bonaparte chiếc cặp to tướng, tước được trong tay hầu tước d’Antraigues, và trong đó Bonaparte đã tìm thấy những bằng chúng sờ sờ về tội phản bộ của Pichegru, về những cuộc thương lượng bí mật của Pichegru với Foche Borelle, một tên tay chân của hoàng thân Condé, những bằng chứng trực tiếp về hành vi phản bội đã lâu của hắn đối với nền Cộng Hòa mà hắn phục vụ. Có một việc phiền toái nhỏ đã làm cho việc gửi những giấy tờ ấy về Paris cho Barras phải chậm lại ít lâu. Ở một trong những giấy tờ đó (tài liệu chủ yếu để buộc tội Pichegru), có chép việc một tên tay sai khác của bọn Bourbon, Monheyar, thuật lại một trong nhiều việc khác là hắn đã được đến tổng hành dinh của Bonaparte ở Ý và cũng đã cố gắng thương lượng với Bonaparte. Mặc dầu tài liệu chẳng có gì, ngoài vài hàng chữ chẳng đáng kể ấy, mặc dầu thực tế là Monheyar có thể đã gặp Bonaparte với một cái cớ nào đó và dưới một cái tên giả mạo nào đó, nhưng Bonaparte thấy tốt hơn hết là thủ tiêu những dòng chữ ấy để khỏi làm giảm nhẹ vấn đề về Pichegru. Bonaparte hạ lệnh dẫn d’Antraigues đến và bắt hắn viết lại ngay tài liệu ấy, bỏ đoạn nói trên và ký vào đó, nếu không sẽ xử bắn. D’Antraigues tức khắc làm những điều mà người ta yêu cầu và sau đó ít lâu hắn được thả ra (dưới hình thức một “vụ vượt ngục” giả). Sau đó, các tài liệu được gửi tới cho Barras. Việc này làm cho “ba vị chấp chính” dễ bề hành động. Thoạt tiên họ không công bố các tài liệu đáng sợ mà Bonaparte đã gửi về. Họ điều về một số các sư đoàn được đặc biệt tin cậy, rồi đợi tướng Augereau do Bonaparte đã cấp tốc điều từ Ý về Paris để ứng cứu cho các vị đốc chính. Ngoài ra, Bonaparte còn hứa gửi về ba triệu francs vàng, kết quả của các cuộc trưng thu mới ở Ý, để bổ sung cho quỹ của Viện Đốc Chính giữa lúc đang nguy ngập.

Ba giờ sáng ngày 18 Tháng Quả (4 tháng 9 năm 1797), Barras hạ lệnh bắt giữ hai viên đốc chính bị tình nghi, vì thái độ ôn hòa của họ: Barthélemy bị bắt, còn Carnot đã trốn thoát. Hàng loạt những tên Bảo Hoàng bị bắt giữ, và người ta tiến hành thanh trừ Hạ và Thượng Nghị Viện. Sau các vụ bắt bớ ấy là các vụ đưa đi đày ở Guyana không cần xét xử (mà rất ít người được trở về), các tờ báo bị tình nghi là Bảo Hoàng bị đóng cửa, một đợt bắt bớ mới diễn ra ở Paris và ở các tỉnh. Sáng sớm ngày 18 Tháng Quả, nhiều áp phích lớn được dán lên khắp các tường: Đó là những bản sao các tài liệu mà Bonaparte đã gửi về rất đúng lúc cho Barras, Pichegru, chủ tịch Hạ Nghị Viện, bị bắt và lập tức bị đưa đi đày ở Guyana. Cuộc đảo chính ngày 18 Tháng Quả không gặp phải sức phản kháng nào. Quảng đại quần chúng lao động, căm thù chế độ quân chủ hơn Viện Đốc Chính, vô cùng hoan hỉ trước việc đập tan được bọn đồ đảng cố cựu của triều đại Bourbon. Và lần ấy “các khu vực giàu sang” đã không dám ló mặt ra đường vì chúng còn nhớ rất rõ sự trừng phạt khủng khiếp bằng đại bác mà Bonaparte đã giáng xuống chúng vào Tháng Hái Nho năm thứ IV. Viện Đốc Chính đã chiến thắng, nền Cộng Hòa thoát khỏi cơn nguy biến, và từ đại bản doanh xa xôi bên Ý, vị tướng chiến thắng Bonaparte đã nhiệt liệt chúc mừng Viện Đốc Chính (mà hai năm sau Bonaparte sẽ thủ tiêu) đã cứu vãn được nền Cộng Hòa (mà bảy năm sau Bonaparte cũng thủ tiêu nốt).

4

Bonaparte lấy làm hài lòng về sự biến ngày 18 Tháng Quả, cả về phương diện khác của nó. Hiệp ước Leoben, ký hồi tháng 5 năm 1797 với Áo, mới chỉ là một sự đình chiến. Vào mùa hạ, chính phủ Áo đột nhiên có những dấu hiệu táo bạo và gần như dọa nạt nữa. Còn Bonaparte thì đã biết rất rõ vấn đề: Lúc ấy, nước Áo cũng như cả Châu Âu quân chủ đã nín thở theo dõi ván bài đang diễn ra ở Paris. Ở Ý, người ta chờ đợi ngày này qua ngày khác sự sụp đổ của Viện Đốc Chính và của nền Cộng Hòa, chờ đợi việc quay trở lại của dòng họ Bourbon và theo sau đó, tất nhiên là việc thanh toán tất cả những đất đai mà quân Pháp đã chiếm được. Ngày 18 Tháng Quả, với sự thất bại của bọn Bảo Hoàng và việc công bố âm mưu phản bội của Pichegru, đã chấm dứt tất cả những hy vọng đó.

Từ nay, tướng Bonaparte tập trung cao độ vào việc ký hòa ước một cách nhanh chóng. Để đàm phán với Bonaparte, nước Áo cử nhà ngoại giao có tài là Cobenzl. Nhưng Cobenzl đã gặp phải một tay bậc thầy. Qua những cuộc thương lượng liên tục kéo dài và khó khăn, Cobenzl phàn nàn với chính phủ mình rằng ít khi gặp phải “một người hay sinh sự và nhẫn tâm” đến như tướng Bonaparte. Trong dịp này, tài ngoại giao của tướng Bonaparte đã bộc lộ rõ rệt hơn bao giờ hết, và theo ý kiến của nhiều người được chứng kiến hồi bấy giờ, tài ngoại giao của Bonaparte cũng không kém gì tài chỉ huy quân sự. Hồi này, nóng giận còn là điều mới mẻ đối với Bonaparte, và ông ta chỉ bị những cơn điên khùng lôi cuốn có một lần, nhưng sau này, khi đã thấy mình là chủ tể cả Châu Âu, thì Bonaparte lại thường hay mắc phải. “Đế quốc của ngài là một con đĩ già quen thói hiến thân cho mọi người.... ngài quên rằng nước Pháp là kẻ chiến thắng, mà các ngài là những kẻ chiến bại... Ngài quên rằng ngài thương lượng với tôi ở đây, xung quanh có lính cận vệ của tôi...”, Bonaparte thịnh nộ hét lên như vậy và hất đổ cái bàn tròn trên đặt bộ đồ cà phê quý do Cobenzl mang tới, món quà của Hoàng Hậu nước Nga Catherine tặng nhà ngoại giao Áo. Bộ đồ vỡ tan ra từng mảnh. Cobenzl báo cáo rằng: “Bonaparte đã xử sự như một kẻ mất trí”. Cuối cùng hòa ước giữa nước Cộng Hòa Pháp và đế quốc Áo đã được ký kết ở cái tỉnh nhỏ Campo Formio ngày 17 tháng 10 năm 1797.

Hầu hết những điều Bonaparte yêu sách đều được thoả mãn ở Ý, nơi Bonaparte đã chiến thắng, cũng như ở Đức, nơi mà người Áo chưa bao giờ bị các tướng Pháp đánh bại. Như ý muốn của Bonaparte, xứ Venice đã được trao cho Áo để đền bù vào phần đất đai ở tả ngạn sông Rhine mà nước Áo đã nhượng cho Pháp.

Tin ký hòa ước làm Paris sôi nổi vui mừng. Nước Pháp chờ mong ở hòa bình sự phục hưng nền thương nghiệp và kỹ nghệ. Tên tuổi vị tướng có tài được tất cả mọi người nhắc nhở.

Mọi người đều thấy rõ rằng các tướng khác đều đã thua trận trên sông Rhine, chỉ riêng có Bonaparte đã thắng ở Ý và sông Rhine cũng đã được cứu thoát. Những lời ca ngợi chính thức, không chính thức và riêng tư đăng trên báo chí và thốt ra từ miệng mỗi người hòa thành một bản hợp tấu không ngừng không dứt để tán dương viên tướng chiến thắng, con người chinh phục nước Ý. Trong một bài diễn văn, viên đốc chính La Révellière Lépeaux thốt lên rằng: chỉ có tinh thần hùng cường của tư tưởng tự do mới có thể kích thích được quân đội ở Ý và Bonaparte. Ông ca ngợi hạnh phúc của nước Pháp.

Giữa thời gian ấy, Napoléon gấp rút hoàn thành việc tổ chức nước Cộng Hòa chư hầu mới, nước “Cộng Hòa ở bên kia rặng núi Apls”, trong đó có một phần đất đai đã chiếm được, và trước hết là miền Lombardia. Một phần khác thì trực tiếp sáp nhập vào nước Pháp. Sau hết, phần còn lại, như thành Roma, lúc đó còn nằm trong tay vua chúa cũ của chúng, nhưng trên thực tế chúng nằm trong hệ thống chư hầu của nước Pháp. Bonaparte khéo léo tổ chức các nước “Cộng Hòa bên kia rặng núi Apls” dưới hình thức một Nghị Viện tư vấn gồm đại biểu của những tầng lớp giàu có trong nhân dân, nhưng mọi quyền hành đều lọt vào tay các nhà cầm quyền chiếm đóng Pháp và uỷ viên phái từ Paris sang. Luận điệu trống rỗng cổ truyền về vấn đề giải phóng các dân tộc, các nước Cộng Hòa anh em, v.v. chỉ gợi cho Napoléon một sự khinh bỉ ra mặt.

Không một phút nào Napoléon tin rằng lại đã có một số người, dù rằng rất ít, thấy hứng thú với cái tự do mà chính Napoléon đã nói trong những lời tuyên bố của ông ta với nhân dân các nước bị xâm chiếm.

Theo bản dịch chính thức được truyền đi khắp Châu Âu thì dân tộc Ý vĩ đại đã quẳng cái ách mê tín và áp bức đè nặng từ bao thế kỷ, đã cầm vũ khí để giúp đỡ những người Pháp giải phóng họ nhưng, thực ra, Bonaparte đã báo cáo mật với các vị đốc chính rằng các vị đã lầm khi cho rằng tư tưởng tự do sẽ có thể thúc đẩy được một dân tộc già nua mê tín, khiếp nhược và xảo quyệt làm nên đại sự. Trong quân đội của Bonaparte không hề có một người Ý, trừ phi người ta cho rằng một nghìn rưỡi kẻ lười biếng, đã nhặt nhạnh được ở ngoài phố, chỉ biết đi ăn cướp và chẳng làm được trò gì ấy cũng là quân đội. Bonaparte nói tiếp rằng chỉ có một cách duy nhất là cai trị khéo léo, dựa vào “kỷ luật nghiêm khắc” mới có thể nắm chắc được nước Ý. Và người Ý đã có dịp được biết Bonaparte quan niệm thế nào là kỷ luật nghiêm khắc. Bonaparte đã trừng phạt tàn nhẫn nhân dân thành phố Binatco và Pavia, cũng như một vài làng khác vì binh lính Pháp đã bị giết ở lân cận những làng ấy.

Trong mọi trường hợp, hành động của Bonaparte đều bắt nguồn từ một đường lối chính trị rõ ràng mà ông ta luôn luôn trung thành và giữ vững: không bao giờ nên tàn bạo vô ích, nhưng khi cần thiết để khuất phục nước bị chiếm thì phải khủng bố nặng nề và khốc liệt. Ở Ý, Napoléon đã thủ tiêu mọi dấu vết của luật lệ phong kiến ở bất kỳ nơi nào, và cấm giáo hội, nhà tu được quyền thu một vài khoản bổng cấp; trong một năm rưỡi ở Ý (từ mùa xuân năm 1796 đến cuối mùa thu năm 1797), Napoléon đã thành công trong việc ban bố một số đạo luật làm cho tình trạng xã hội và pháp chế miền Bắc Ý gần giống như tình trạng mà giai cấp tư sản đã lập nên ở Pháp. Để bù lại, Napoléon đã khai thác một cách có phương pháp tất cả những đất đai của Ý ở tất cả những nơi mà ông ta đã đặt chân tới. Napoléon đã gửi về cho Viện Đốc Chính hàng triệu đồng tiền vàng và hàng trăm tác phẩm nghệ thuật quý giá của các viện bảo tàng và các phòng triển lãm nghệ thuật ở Ý. Napoléon đã không quên bản thân ông ta cũng như các tướng lĩnh của ông ta: Sau chiến dịch ấy, khi trở về họ đều giàu có.

Tuy nhiên, trong khi bóc lột nước Ý thậm tệ như vậy, Napoléon nhận thấy rằng, theo ý ông ta tuy người Ý rất khiếp nhược nhưng chẳng có lý do gì khiến họ yêu mến người Pháp (họ phải nuôi dưỡng quân đội Pháp thường trực trên đất nước họ), và rồi có thể một ngày kia họ sẽ chẳng còn kiên trì nhẫn nhục được nữa. Vì vậy, đe dọa khủng bố bằng vũ lực là biện pháp hành động chủ yếu đối với người Ý để buộc họ tuân theo ý muốn của kẻ đi chinh phục.

Bonaparte còn muốn ở lại Ý, nhưng sau Hòa Ước Campo Formio, Viện Đốc Chính đã rất khéo léo song cố thiết triệu Bonaparte về Paris và bổ nhiệm là Tổng chỉ huy đội quân sẽ đi đánh nước Anh.

Đã từ lâu, Bonaparte cảm thấy Viện Đốc Chính đã bắt đầu sợ mình. “Họ ganh ghét tôi, tôi biết, mặc dầu họ xu nịnh tôi. Nhưng họ sẽ không thể làm rối trí tôi được. Họ vội vã bổ nhiệm tôi làm tướng đạo quân đi đánh nước Anh để rút tôi ra khỏi nước Ý, nơi mà tôi làm vua nhiều hơn là làm tướng”. Napoléon đã nhận xét việc bổ nhiệm của mình như vậy qua những lời trao đổi tâm sự riêng tư.

Ngày 7 tháng 12 năm 1797, Bonaparte có mặt ở Paris, tại đó, ngày mồng 10, toàn thể Viện Đốc Chính mở cuộc tiếp đón long trọng Bonaparte ở điện Luxembourg. Quần chúng đông nghịt đứng vây quanh cung điện, hò reo, vỗ tay như sấm dậy khi Bonaparte tới nơi. Đối với bài diễn văn của Barras, vị đốc chính thứ nhất, cũng như của các đồng sự của Barras, của Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Talleyrand, con người thông minh nhưng vụ lợi, có tài phán đoán về tương lai hơn ai hết, và những nhân vật khác trong chính phủ, cùng những lời hoan hô của đông đảo quần chúng trên quảng trường, viên tướng 28 tuổi đó đều tiếp nhận với một vẻ hoàn toàn bình thản, như đó là một việc tất nhiên và không hề làm cho Bonaparte ngạc nhiên. Trong thâm tâm, không bao giờ Bonaparte quý trọng những biểu thị nhiệt tình của quần chúng nhân dân. “Chà! Nếu tôi phải lên máy chém, hẳn họ cũng sẽ nô nức kéo đến đông như thế này trên con đường tôi đi”, sau những đợt sóng hoan hô ấy, Bonaparte đã nói như vậy (tất nhiên không nói công khai).

Vừa về tới Paris, Bonaparte đã cố sức làm cho Viện Đốc Chính chấp nhận kế hoạch một cuộc đại chiến mới: Với tư cách là người tướng được chỉ định để tiến hành những cuộc hành binh chống nước Anh, Bonaparte nhận định rằng có thể uy hiếp nước Anh, từ phía Ai Cập, như vậy sẽ dễ thắng lợi hơn là từ biển Manche, vì ở Manche hạm đội Anh mạnh hơn hạm đội Pháp. Bởi vậy, Bonaparte đề nghị chiếm Ai Cập để xây dựng ở Phương Đông những cứ điểm tiếp cận và những căn cứ quân sự nhằm uy hiếp nền thống trị của Anh ở Ấn Độ.

Mùa hạ năm 1798, ở Châu Âu, khi biết được tin ấy, nhiều người tự hỏi không hiểu sao Bonaparte có điên không, vì đến tận lúc đó kế hoạch mới và sự bàn bạc của Bonaparte trong các phiên họp của Viện Đốc Chính vào mùa xuân năm ấy vẫn còn giữ rất bí mật. Nhưng, cái mà bọn dông dài ngốc nghếch đứng tít đằng xa ngắm nghía cho là một sự phiêu lưu kỳ cục thì thực tế lại liên quan mật thiết đến nguyện vọng đã ấp ủ từ lâu của giai cấp tư sản cách mạng Pháp, cũng như của giai cấp tư sản nước Pháp trước cách mạng. Kế hoạch của Bonaparte đã được chấp thuận.

[17] Miloradovich (1771-1825 ), tướng Nga, học trò của Suvorov, người kế tục của Kutuzov. Miloradovich nổi tiếng can đảm, kiên quyết và tích cực trong các trận đánh do ông chỉ huy.

[18] Hapsburg: Dòng họ làm chủ nước Áo, đồng thời cũng làm Hoàng Đế Đức (tức Hoàng Đế Đế Quốc La Mã Thần Thánh). Nguyên đất Áo xưa kia là một lãnh địa thuộc Đức. Vua Áo trở nên mạnh từ cuối thế kỷ XV, khiến cho chức vụ Hoàng Đế (do vua Đức bầu ra) trở thành sở hữu riêng của dòng họ Hapsburg. Từ đó vua Áo đồng thời là Hoàng Đế Đức (thực ra chức vị Hoàng Đế này chỉ là hư vị). Sau năm 1805, vua Áo không còn đứng đầu đế quốc La Mã Thần Thánh (tức là toàn bộ các quốc gia Đức) nữa, mà chỉ còn làm chủ nước Áo (trong đó có đất Áo, đất Hung) và vẫn giữ chức vị Hoàng Đế, từ đó gọi là Hoàng Đế Áo.

CHƯƠNG 3

cuộc xâm chiếm ai cập
chiến dịch syria
1

Trong sự nghiệp lịch sử của Napoléon, cuộc viễn chinh Ai Cập - cuộc chiến tranh lớn thứ hai của ông ta - giữ một vai trò đặc biệt, và trong lịch sử xâm chiếm thuộc địa của Pháp, mưu đồ đó cũng chiếm một địa vị hoàn toàn đặc biệt.

Giai cấp tư sản ở Marseille và ở khắp miền Nam nước Pháp có những quan hệ rất rộng rãi và rất có lợi lộc cho nền thương mại và kỹ nghệ Pháp với các nước ở vùng Cận Đông, nói một cách khác, với các hải cảng của bản đảo Balkan, với nước Syria, Ai Cập, với các đảo ở phía Đông Địa Trung Hải và Aspern. Cũng đã từ lâu, các tầng lớp tư sản Pháp nói trên mong mỏi nước Pháp củng cố được địa vị chính trị ở các nước có nhiều nguồn lợi đó, nhưng lại rất lộn xộn về tổ chức chính sự; cho nên việc buôn bán ở đó thường xuyên cần đến sự bảo hộ và uy thế của quân đội. Vào cuối thế kỷ thứ XVIII, những tài nguyên giàu có của Syria và Ai Cập đã được rất nhiều người miêu tả một cách quyến rũ; nếu biến những nơi đó thành thuộc địa và lập ở đó những đại lý thương mại thì sẽ thu được những nguồn lợi to lớn.

Những nhà ngoại giao Pháp từ lâu đã nhòm ngó các nước Cận Đông ấy. Những nước ấy là một bộ phận đất đai của Hoàng Đế Constantinople và nằm trong lãnh thổ của triều đình Ottoman, nhưng sự tổ chức bảo vệ những đất đai ấy của Thổ Nhĩ Kỳ hình như quá yếu ớt. Đã từ lâu, trong các giới cầm quyền Pháp, người ta nhìn xứ Ai Cập, với địa thế nằm giữa Địa Trung Hải và Hồng Hải, như một căn cứ mà từ đó có thể uy hiếp được các đối thủ về kinh tế và chính trị ở Ấn Độ và Indonesia. Trong thời của mình, nhà triết học nổi tiếng Leibniz đã đệ lên vua Louis thứ XIV một bản tâu trình, trong đó Leibniz khuyên nên chiếm Ai Cập để có thể phá được vị trí của người Hà Lan ở khắp Phương Đông. Vào cuối thế kỷ XVIII, không phải người Hà Lan là kẻ thù chính của nước Pháp nữa mà là người Anh; do tất cả những điều vừa nói trên đây nên những nhà chính trị Pháp không hề coi Bonaparte là một người điên khi ông ta đề nghị đánh Ai Cập và họ cũng không hề lấy làm ngạc nhiên khi thấy Talleyrand, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao của họ, một người vốn lạnh lùng, thận trọng, dè dặt và hoài nghi lại đã ủng hộ kế hoạch đó một cách kiên quyết nhất.

Vừa mới làm chủ Venezia, Bonaparte đã ra lệnh cho một trong những tướng lĩnh của mình đánh chiếm lấy các đảo Ionian, Bonaparte nói rằng việc chiếm lấy các đảo ấy là một kế hoạch phụ trợ để chuẩn bị cho kế hoạch đánh chiếm Ai Cập. Chúng tôi có nhiều chứng cớ cụ thể cho phép khẳng định rằng trong suốt chiến dịch nước Ý lần thứ nhất, Bonaparte đã luôn luôn nghĩ đến Ai Cập. Tháng 8 năm 1797, từ bản doanh chiến dịch, Bonaparte viết về cho Paris: “Chẳng mấy nữa mà chúng ta sẽ nhận thấy rằng muốn thực sự tiêu diệt được nước Anh tất phải đánh chiếm Ai Cập”. Trong suốt thời gian chiến tranh ở Ý, lúc rỗi, Bonaparte vẫn tiếp tục ngốn ngấu đọc sách như thường lệ, nhất là cho tìm và đọc sách của Volney viết về Ai Cập, cũng như rất nhiều tác phẩm khác nói về vấn đề ấy. Bonaparte tha thiết với việc chinh phục các đảo Ionian đến mức đã viết về cho Viện Đốc Chính rằng nếu phải lựa chọn thì thà từ bỏ nước Ý còn hơn là từ bỏ các đảo đó. Đồng thời, ngay trước khi ký xong hòa ước với người Áo, Bonaparte đã cố tình khuyên nên đánh chiếm đảo Malta. Đối với Bonaparte, tất cả những căn cứ hải đảo ở Địa Trung Hải đều cần thiết để tổ chức cuộc tiến công sang Ai Cập sau này.

Sau Hòa Ước Campo Formio, khi đã tạm thời giải quyết xong với nước Áo thì nước Anh là kẻ thù chính. Bonaparte đã cố hết sức thuyết phục Viện Đốc Chính cấp cho ông ta một hạm đội và một đạo quân để đi chinh phục Ai Cập. Phương Đông luôn luôn hấp dẫn Bonaparte. Và vào thời kỳ này của đời mình, tâm trí Bonaparte bị Alexander Đại đế xâm chiếm nhiều hơn là Caesar hay Charlemagne hoặc bất cứ vị anh hùng nào khác của lịch sử.

Sau đó ít lâu, trên sa mạc ở Ai Cập, với giọng nửa đùa cợt, Bonaparte nói với các chiến hữu của ông ta rằng đáng tiếc là mình “đã ra đời quá muộn” và đã không được sống và thời kỳ mà “Alexander sau khi chinh phục được Châu Á, đã tự xưng với nhân dân là con Trời và được tất cả phương Đông tin như vậy”. Rồi Bonaparte nghiêm trang nói tiếp: “Châu Âu là một cái hang chuột, chưa bao giờ ở Châu Âu có những đế quốc vĩ đại và những cuộc cách mạng vĩ đại như ở phương Đông”.

Những xu hướng thầm kín đó của Bonaparte hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của thời bấy giờ và với lợi ích sự nghiệp của Bonaparte. Thực tế là từ cái đêm không ngủ ấy ở nước Ý, Bonaparte đã quyết định không muốn chỉ chiến thắng duy nhất vì Viện Đốc Chính nữa, mà Bonaparte nhằm đạt đến quyền lực tối cao. “Tôi không biết phục tùng nữa rồi”. Trong thời gian đàm phán hòa bình với Áo, Bonaparte đã công khai tuyên bố như vậy ở tổng hành dinh của mình khi nhận được những chỉ thị từ Paris gửi tới làm ông ta bực mình. Nhưng lật đổ Viện Đốc Chính ngay lúc bấy giờ thì chưa thể làm được. Tình hình chưa chín muồi, và nếu Napoléon đã không biết phục tùng nữa thì ông ta cũng còn biết chờ thời cơ thuận lợi.

Viện Đốc Chính chưa mất hết tín nhiệm và Bonaparte còn chưa đủ trở thành đứa con cưng và thần tượng của toàn thể quân đội, mặc dầu Bonaparte đã có thể hoàn toàn tin cậy vào những sư đoàn mà ông ta đã chỉ huy ở Ý. Nhưng sử dụng thế nào cho tốt thời gian chờ đợi, còn cách nào hơn là dùng nó vào những cuộc chinh phục mới, những chiến công mới, rực rỡ trên đất nước của các vị Pharaon, trên xứ sở của Kim tự tháp theo tấm gương của Alexander Đại đế, và đe dọa nước Anh đáng ghét kia trên đất Ấn Độ của họ.

Trong trường hợp này, sự giúp đỡ của Talleyrand đối với Bonaparte thật vô cùng cần thiết. Trong hàng loạt vấn đề ấy, Talleyrand “không tin tưởng sắt đá” lắm, nhưng Talleyrand thấy rõ ràng là có khả năng thành lập ở Ai Cập một thuộc địa Pháp giàu có và phồn vinh, có lợi về mặt kinh tế, Talleyrand đã báo cáo vấn đề này lên Viện Hàn lâm khoa học, ngay cả trước khi biết ý đồ Bonaparte. Kẻ quý tộc cơ hội chủ nghĩa chui vào chính phủ Cộng Hòa ấy chẳng qua cũng chỉ là nhân cơ hội đó mà phát biểu những nguyện vọng của cái giai cấp quan tâm đặc biệt đến việc buôn bán với vùng Cận Đông, là những thương gia Pháp.

Thêm vào đó là Talleyrand mong được Bonaparte, nhìn y bằng con mắt thiện cảm, vì nhìn vào Bonaparte, con mắt tinh đời của nhà ngoại giao ấy đã đoán trước được đó sẽ là người chủ tương lai của nước Pháp và là người nhất định sẽ bóp chết được phái Jacobin.

Nhưng Bonaparte và Talleyrand đã không phải khó khăn nhiều để thuyết phục Viện Đốc Chính cho binh lính, tiền bạc, tàu bè dùng vào cuộc xâm chiếm xa xôi và nguy hiểm đó.

Trước hết (và lại là điều quan trọng hơn cả), vì những lý do chung về kinh tế và những lý do riêng về chính trị và quân sự, Viện Đốc Chính cũng đã nhìn thấy lợi ích và ý nghĩa của cuộc xâm chiếm này, và sau nữa (điều này chẳng quan trọng gì) vì một vài người trong số các vị đốc chính, như Barras chẳng hạn, thật ra có thể cho rằng cuộc viễn chinh xa xôi và nguy hiểm ấy có cái lợi chính vì nó xa xôi và nguy hiểm... Việc Bonaparte đột nhiên nổi danh vang lừng đã làm cho họ lo lắng từ lâu; Viện Đốc Chính rõ hơn ai hết việc Bonaparte “không biết phục tùng nữa”. Napoléon chẳng đã ký Hòa Ước Campo Formio theo ý riêng của ông ta, không đếm xỉa đến một số ý kiến mà Viện Đốc Chính đã phát biểu rõ ràng đó sao? Trong buổi đón tiếp long trọng Napoléon ngày 10 tháng 12 năm 1797, ông đã không xử sự như một “chiến sĩ” trẻ tuổi tiếp nhận những lời khen ngợi của tổ quốc với một tấm lòng cảm động và biết ơn, mà lại làm như một vị Hoàng Đế La Mã được cái Thượng Nghị Viện tôi tớ nghênh đón trong cuộc lễ khải hoàn tổ chức sau một trận chiến thắng: thái độ lầm lì, lạnh lùng gần như cau có, ông ta đã nhận tất cả những vinh dự ấy như một việc tất nhiên phải thế và nghĩa vụ buộc phải thế đối với ông ta.

Tóm lại, tất cả những cử chỉ, thái độ của Napoléon làm người ta phải nghĩ ngợi lo âu.

Vậy thì cứ để Bonaparte đi Ai Cập, nếu trở về được thì tốt, bằng không, Barras và mấy đồng sự của ông ta đành sẵn sàng chịu đựng cái tổn thất ấy vậy. Ngày 5 tháng 3 năm 1798, cuộc viễn chinh được quyết định và Bonaparte được cử làm tổng chỉ huy.

Với một tinh thần khẩn trương gấp rút, Bonaparte tức khắc bắt tay vào việc chuẩn bị chuyến đi, kiểm tra tàu bè, lựa chọn binh lính. Tài năng của Napoléon đã biểu hiện rõ hơn cả thời kỳ đầu của cuộc viễn chinh sang Ý. Napoléon tiến hành những công việc rất to lớn và rất khó khăn, đồng thời cũng chú ý đến cả những chi tiết nhỏ nhặt nhưng không bao giờ chìm ngập vào đó, ông vừa nhìn cả cây vừa nhìn cả rừng, hay có thể nói từng cái cành trong từng cái cây một. Vừa kiểm tra bờ biển và hạm đội, vừa thành lập đoàn quân viễn chinh vừa chăm chú theo dõi tình hình diễn biến chính trị trên thế giới và tất cả những tin tức nói về hoạt động của hạm đội Nelson là hạm đội có thể đánh đắm hạm đội Pháp trong khi đi ngang qua, và trong khi chờ đợi, hạm đội ấy đang đi đi lại lại nhìn ngó vào bờ biển nước Pháp. Bonaparte lựa chọn rất cẩn thận trong số những binh lính đã chiến đấu dưới quyền mình ở Ý. Ông biết tường tận cá nhân của rất nhiều binh sĩ. Về sau này, trí nhớ khác thường của Bonaparte luôn luôn làm cho những người xung quanh hết sức ngạc nhiên.

Ông biết rõ anh lính này chiến đấu dũng cảm và kiên quyết, nhưng lại hay uống rượu, anh lính kia thì thông minh và tháo vát nhưng lại chóng mệt vì mắc bệnh sa đì. Về sau này, mỗi khi cần đến, Bonaparte đã biết lựa chọn đúng và tốt từ tướng soái cho đến các hạ sĩ quan và những người lính thường. Để đi viễn chinh ở Ai Cập, để làm chiến tranh dưới trời nắng như thiêu đốt, 50 độ hay cao hơn, để vượt qua sa mạc mênh mông, cát nóng bỏng không nước và không bóng mát, cần có những binh lính dẻo dai chịu đựng được mọi gian khổ.

Ngày 19 tháng 5 năm 1798, công việc chuẩn bị đã xong xuôi, hạm đội Bonaparte rời khỏi Toulon. 350 chiếc tàu lớn nhỏ và một đoàn thuyền, trên chở một đạo quân 30.000 người cùng với pháo binh, phải vượt qua gần hết Địa Trung Hải, vừa phải tránh hạm đội Nelson, cái hạm đội tất sẽ bắn phá và đánh chìm được hạm đội của Bonaparte nếu gặp nhau.

Toàn Châu Âu biết rằng có một cuộc viễn chinh bằng đường biển đang được chuẩn bị. Nước Anh biết rõ là tại khắp các hải cảng miền Nam nước Pháp người ta đang hoạt động dữ dội, quân đội không ngớt cuồn cuộn kéo đến và tướng Bonaparte là người đứng đầu cuộc viễn chinh, điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của nó. Nhưng nó sẽ nhằm cái đích nào đây? Bonaparte đã rất khéo léo phao tin là ông ta có ý định vượt qua eo biển Gibraltar, đi vòng qua Tây Ban Nha để đổ bộ lên Ireland. Tin này bay đến tai Nelson và đã đánh lừa được Nelson.

Nelson phục kích Napoléon ở những vùng lân cận Gibraltar, trong khi đó hạm đội Pháp, rời khỏi hải cảng, tiến thẳng về phía Đông, đến đảo Malta. Từ thế kỷ thứ XVI, đảo Malta thuộc “Dòng Họ Kỵ Sĩ”. Khi vừa cập bến, tướng Bonaparte buộc đảo này phải đầu hàng; đảo đã quy phục và Bonaparte tuyên bố đó là đất thuộc nước Cộng Hòa Pháp. Sau vài ngày đậu lại đảo, chiến thuyền của Bonaparte lại giương buồm đi về phía Ai Cập. Tính đến Malta là đã được gần nửa đường; Bonaparte tới Malta ngày 10 tháng 6 và rời đi ngày 19.

Được thuận gió, Bonaparte cùng đại quân cập bến Ai Cập ở gần Alexandria ngày 30 tháng 6; Bonaparte lập tức đổ bộ.

Tình thế lúc đó thật nguy hiểm: Vừa đến Alexandria thì Bonaparte được tin trước đó đúng 48 giờ, một hạm đội Anh đã cập bến này và hỏi tin tức về Bonaparte (dĩ nhiên người ta không biết gì hết). Về phía Nelson, sau khi hay tin quân Pháp đã lấy được Malta và biết ra rằng mình bị Bonaparte đánh lừa, ông ta liền gấp rút tiến về phía Ai Cập để ngăn chặn quân Pháp đổ bộ và để đánh chìm họ ngay ngoài biển. Nhưng sự hấp tấp của Nelson và cuộc hành quân quá nhanh của hạm đội Anh đã phản lại Nelson, vì sau khi biết đích xác là Bonaparte đã rời Malta đi Ai Cập, rồi khi đến Alexandria chẳng hề nghe thấy nói về Bonaparte, Nelson bèn quyết đoán nếu quân Pháp không có ở Ai Cập thì chỉ có thể là họ đi Constantinople không còn hướng nào khác nữa. Nelson lại gấp rút đi về phía Constantinople và thế là ông ta lại lầm lẫn lần nữa.

Một loạt những sự tình cờ và lầm lẫn ấy của Nelson đã cứu thoát đội quân viễn chinh Pháp. Vì bất cứ lúc nào Nelson cũng có thể quay lại được nên cuộc đổ bộ của Bonaparte đã được tiến hành một cách khẩn trương nhất, và đêm ngày 2 tháng 7, quân đội Pháp đã ở trên đất liền.

2

Được trở lại với môi trường của mình là đất liền, cùng với những binh lính trung thành, Bonaparte không còn sợ gì nữa. Ông lập tức tiến quân về Alexandria (Bonaparte đã đổ bộ lên Maratbu, một làng dân chài, cách thành phố vài km).

Ai Cập được coi là một thuộc quốc của triều đình Thổ, nhưng quyền hành ở đó thực tế thuộc về bọn sĩ quan cao cấp Mamelukes[19], một đội kỵ binh được trang bị rất đầy đủ và cấp chỉ huy của họ chiếm cứ những đất đai màu mỡ ở Ai Cập. Giới quý tộc phong kiến quân phiệt ấy phải triều cống cho vua Thổ Nhĩ Kỳ ở Constantinople và tuy công nhận quyền lực tối cao của vua Thổ, nhưng thực tế rất ít phục tùng vua Thổ.

Người Ả Rập, thành phần dân tộc cơ bản của xứ này, hoặc buôn bán (trong số đó có những thương gia khá giả và cũng có người giàu có), hoặc làm nghề thủ công, hoặc vận chuyển bằng lạc đà, hoặc làm nghề nông. Dân tộc Koptos, tàn tích của những bộ lạc cũ trước khi có cuộc xâm chiếm của người Ả Rập, là những người bị áp bức và cực khổ nhất. Người ta thường gọi là “fellas” (dân cày). Nhưng đối với những dân cày nguồn gốc Ả Rập, lâm vào những cảnh túng cùng cực khổ, người ta cũng gọi như vậy. Họ là những công nhân nông nghiệp, những người làm mướn, những người chăn dắt lạc đà và một số buôn bán vặt ở các chợ.

Mặc dầu nước đó được coi là thuộc vua Thổ, nhưng khi tới xâm chiếm, Bonaparte đã không ngừng tuyên bố rằng không muốn chiến tranh với vua Thổ - người mà Bonaparte muốn chung sống trong hòa bình và hữu nghị bền vững nhất - Bonaparte đến đây chỉ để giải phóng cho người Ả Rập (ông ta không nói đến người Koptos) khỏi ách áp chế của bọn Mamelukes là bọn đã bóc lột và hành hạ dân chúng quá tàn bạo. Và khi Bonaparte tiến về phía Alexandria, hạ được thành sau một trận chiến đấu nhỏ trong vài giờ, và khi đã vào được cái thành phố rộng lớn và khá trù phú đó vào thời kỳ bấy giờ thì Bonaparte đã vừa bám lấy luận điệu tuyên truyền ấy, vừa nhắc đi nhắc lại rằng mình đến đây chỉ để tiêu diệt cái ách của bọn Mamelukes, và đặt ngay nền thống trị của Pháp ở xứ ấy. Bằng đủ mọi giọng lưỡi, ông ta bảo đảm với người Ả Rập là tôn trọng Đạo Hồi và kinh thánh của họ, nhưng khuyên nhủ họ phải quy phục hoàn toàn và đe dọa sẽ dùng đến những biện pháp nghiêm khắc.

 

Sau vài ngày ở Alexandria, Bonaparte tiến về phía Nam và đi sâu vào sa mạc. Quân đội bị thiếu nước, dân cư các làng hoảng hốt rời bỏ nhà cửa và khi chạy trốn đã đầu độc và làm bẩn các giếng nước. Quân Mamelukes vừa đánh vừa rút lui từ từ, thỉnh thoảng lại quấy quân Pháp, rồi lẩn trốn mất trên lưng những con ngựa quý của họ.

Ngày 20 tháng 7 năm 1798, khi nhìn thấy Kim tự tháp, Bonaparte cuối cùng đã gặp chủ lực quân Mamelukes. Trước khi khởi chiến, Napoléon đã nói với quân đội mình: “Hỡi các binh sĩ! Từ trên đỉnh cao của Kim tự tháp này, 4.000 năm lịch sử đang quan chiêm các người chiến thắng!”.

Cuộc chiến đấu đã diễn ra ở quãng giữa làng Embabeh và Kim tự tháp. Quân Mamelukes, hoàn toàn bị đánh bại, đã chạy trốn về phía Nam, bỏ lại một phần pháo binh (40 khẩu pháo). Mấy nghìn xác chết phủ kín chiến trường.

Ngay sau thắng lợi này, Napoléon tiến vào Cairo, thành phố thứ hai trong số các thành phố lớn của Ai Cập. Dân chúng sợ hãi lặng lẽ đón tiếp kẻ chiến thắng: Những người dân ấy không bao giờ nghe nói đến Bonaparte và ngay cả lúc đó cũng chẳng hề biết Bonaparte là ai, tại sao lại đến đây và đánh nhau với ai.

Ở Cairo trù phú hơn cả Alexandria, Bonaparte đã lấy được rất nhiều lương thực. Quân đội đã được nghỉ ngơi sau những chặng đường vất vả. Quả thật là Bonaparte đã bực mình khi thấy nhân dân quá sợ hãi, và trong một bản công bố đặc biệt, được dịch ra tiếng địa phương, tướng Bonaparte hô hào mọi người hãy yên tâm. Nhưng, cùng lúc ấy, Bonaparte lại hạ lệnh đi cướp phá và đốt làng Ancam, cách Cairo không xa, để trừng phạt vì bị nghi là đã ám sát vài tên lính Pháp, do đó dân Ả Rập chỉ càng sợ hãi thêm.

 

Trong những trường hợp như vậy, không bao giờ Napoléon do dự khi hạ lệnh, dù là ở Ý, ở Ai Cập hay ở bất kỳ nơi nào mà sau này Napoléon tiến hành chiến tranh, và cái đường lối chính trị đó đã được ông ta tính toán rất kỹ: Phải làm cho quân lính thấy được rằng người chỉ huy của họ đã thi hành những hình phạt kinh khủng thế nào với bất kỳ kẻ nào dám đụng đến một người Pháp.

Khi đã đặt chân đến đất Cairo, Napoléon liền tổ chức việc cai trị ở đấy. Tôi sẽ không kể những chi tiết không cần thiết, chỉ xin nói đến những nét đặc biệt nhất của chế độ Napoléon:

— Trước hết, quyền hành trong mỗi thành phố, trong mỗi làng đều phải tập trung vào tay viên chỉ huy của quân đội Pháp đồn trú ở đó.

— Thứ hai là phải thành lập ở bên cạnh Napoléon một “nội các” tư vấn gồm những người dân có tiếng tăm nhất ở địa phương và cũng do Napoléon lựa chọn.

— Thứ ba là Đạo Hồi phải được hết sức tôn trọng, các giáo đường và tăng lữ đều được giữ nguyên quyền bất khả xâm phạm cổ truyền.

— Bốn là, ở Cairo, cũng phải tổ chức một cơ quan tư vấn lớn, không những gồm các đại biểu của thành phố đó mà còn có đại biểu của các tỉnh, cũng đặt ở bên cạnh vị tướng tổng chỉ huy. Việc thu thuế thân và các thứ thuế phải được tiến hành đều đặn, việc đóng góp bằng hiện vật cũng phải được tổ chức nhằm sao cho xứ này bảo đảm được việc đài thọ kinh phí cho quân đội Pháp. Những người đứng đầu địa phương, có các cơ quan tư vấn giúp sức, phải bảo đảm sự an ninh tuyệt đối, phải bảo vệ thương nghiệp và quyền tư hữu tài sản. Mọi thứ thuế ruộng đất do bọn Mamelukes đặt ra đều bị bãi bỏ. Đất đai của bọn quan lại cao cấp Thổ Nhĩ Kỳ không chịu quy phục và chạy trốn về Nam tiếp tục chống lại đều bị tịch thu và sung vào công quỹ của nước Pháp.

Cũng như ở bên Ý, Bonaparte muốn thủ tiêu chế độ phong kiến (điều đó rất hợp thời, vì chỉ có bọn Mamelukes là theo đuổi cuộc chống cự bằng vũ trang) và dựa vào giai cấp tư sản cũng như dựa vào bọn địa chủ Ả Rập; còn những người fellas bị giai cấp tư sản Ả Rập bóc lột thì Bonaparte không hề mảy may quan tâm bảo vệ họ.

Tất cả những biện pháp đó đều nhằm củng cố nền chuyên chính quân phiệt tập trung trong tay Bonaparte và bảo đảm trật tự xã hội tư sản do Bonaparte xây dựng. Cuối cùng, sự nới rộng về tôn giáo và sự tôn trọng kinh điển Đạo Hồi mà Bonaparte thường xuyên tuyên bố, thì tiện đây cũng xin nói rằng đó là một điều mới lạ dị thường đến nỗi vào mùa xuân năm 1807, khi đưa ra cái luận đề táo bạo rằng Napoléon là cùng một giuộc với những kẻ “tiền thân” của quỷ vương phản Chúa thì Hội đồng giáo phái Nga đã lấy hành động của Bonaparte ở Ai Cập, lấy việc ông ta bảo vệ Hồi giáo, v.v. làm dẫn chứng cho lập luận của họ.

Sau khi đã thiết lập chế độ chính trị mới ở Ai Cập, Bonaparte chuẩn bị một chiến dịch mới: Từ Ai Cập đi xâm chiếm Syria. Bonaparte đã quyết định để lại ở Ai Cập những nhà bác học do ông ta đem từ Pháp sang. Bonaparte không bao giờ tỏ ra có lòng kính trọng thật sâu sắc đối với những phát minh thiên tài của những nhà bác học đương thời, nhưng ông ta biết rõ rằng một nhà khoa học nếu được sử dụng vào những công việc cụ thể do các nhiệm vụ quân sự, chính trị hoặc kinh tế đòi hỏi thì có thể mang lại những lợi ích to lớn. Vì thế Bonaparte đã đối xử bằng mối cảm tình nồng hậu nhất và trọng vọng nhất với những nhà bác học mà ông ta đã đem đi theo trong cuộc viễn chinh. Người ta thường nhắc đến cái mệnh lệnh nổi tiếng sau đây của Bonaparte trong một cuộc tiến quân đánh bọn Mamelukes: “Lừa ngựa và những nhà bác học đi vào giữa!”. Mệnh lệnh đó đã nói lên cái ý muốn: trước hết là phải bảo vệ an toàn cho những nhà đại biểu của khoa học ngang như những súc vật đài tải vô cùng quý báu đối với chiến dịch. Việc đặt hai danh từ ấy cạnh nhau không phải là bất ý nhưng đó chỉ duy nhất là do cách nói vắn gọn của quân sự và cách nói giản lược cần thiết của những khẩu lệnh chỉ huy. Cũng phải nói thêm rằng, trong lịch sử của khoa Ai Cập học, chiến dịch của Bonaparte đã đóng một vai trò to lớn. Có thể nói được rằng những nhà bác học đi theo Bonaparte đã là những người đầu tiên mở cửa cho khoa học tiến vào miền cổ kính ấy, một trong những mảnh đất quê hương của nền văn minh của nhân loại.

 

3

Ngay trước khi bắt đầu cuộc viễn chinh xâm lược Syria, Bonaparte cũng đã từng có dịp để thấy rõ rằng người Ả Rập không phải ai ai cũng hứng thú về cái gọi là “công cuộc giải phóng khỏi ách Mamelukes” mà người Pháp, kẻ chinh phục, thường luôn luôn nói tới trong các bản tuyên bố của mình. Quân Pháp có đầy đủ lương thực là do họ đã đặt ra một chế độ trưng thu và thuế khóa rất có hiệu lực, song đó là một ách đè nặng lên nhân dân; nhưng tiền mặt thì không dễ dàng như vậy và người ta đã thi hành nhiều biện pháp khác nhau để kiếm cho ra tiền.

Tướng Kleber, mà Bonaparte để lại ở Alexandria làm toàn quyền, đã cho bắt viên tù trưởng cũ của thành phố đó là Sidy Mohammed El Coraim, một người rất giàu, bị buộc tội là phản nghịch mặc dầu chẳng có chứng cớ gì. El Coraim bị áp giải đi Cairo, đến đó người ta nói cho El Coraim biết rằng muốn thoát chết phải nộp 300.000 francs vàng. Trước sự bất hạnh của mình, El Coraim cho rằng đó là định mệnh: “Nếu số mệnh đã bắt tôi phải chết lúc này thì chẳng có cái gì có thể cứu được tôi và tiền bạc của tôi ắt bị mất không; nếu số mệnh cho tôi sống thì tại sao tôi lại phải nộp tiền?”. Tướng Bonaparte hạ lệnh chém đầu và mang đi bêu ở ngoài phố với tấm biển sau đây: “Tất cả những kẻ phản bội và những kẻ không giữ đúng lời hứa sẽ bị trị tội như thế này”. Đã tìm đi tìm lại vẫn không thấy số tiền của viên tù trưởng bị hành hình đã giấu đi. Để bù vào đó, một số nhà giàu Ả Rập đã nộp tất cả những gì mà người ta đòi hỏi ở họ, và chỉ trong vài ngày sau cuộc hành hình El Coraim, chừng bốn triệu francs vàng đã nằm trong quỹ quân đội Pháp. Đối với thường dân, cố nhiên người ta chẳng cần dùng đến những biện pháp phiền phức.

Cuối tháng 10 năm 1798, một mưu toan khởi nghĩa đã xảy ra ở ngay Cairo. Một vài tên lính thuộc quân đoàn chiếm đóng đã bị đánh một cách công nhiên và bị giết, nghĩa quân đã kháng cự trong ba ngày liền ở một vài khu. Cuộc trấn áp diễn ra rất khốc liệt. Ngoài những người Ả Rập và fellas bị tàn sát hàng loạt trong cuộc trấn áp, những cuộc hành hình liên tiếp đã diễn ra trong nhiều ngày sau, mỗi lần từ 12 đến 30 người.

Cuộc nổi dậy ở Cairo vang đội đến các làng lân cận. Khi được tin về cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong số các cuộc khởi nghĩa đó, Bonaparte hạ lệnh cho viên sĩ quan hầu cận của mình là Caroisdie đến tận nơi, vây chặt bộ lạc lại, chém sạch đàn ông không trừ một ai, dẫn đàn bà, trẻ con về Cairo và đốt hết nhà cửa. Mệnh lệnh được chấp hành triệt để. Đàn bà và trẻ con phải đi bộ về Cairo, bị chết một số lớn ở dọc đường. Và sau cuộc hành binh trừng phạt đó vài giờ, người ta thấy đoàn lừa thồ những bao tải đến quảng trường của thành phố Cairo. Người ta mở những bao tải ấy và đầu lâu những người đàn ông trong cái bộ lạc phạm tội lăn lóc trên mặt đất.

Theo lời những người được mục kích cảnh ấy thì những biện pháp man rợ đó đã làm cho nhân dân hoảng sợ trong một thời gian. Tuy vậy, Bonaparte vẫn phải tính đến hai trường hợp cực kỳ nguy hiểm với ông ta. Trước hết là cách đó ít lâu, đúng một tháng sau cuộc đổ bộ lên Ai Cập, đô đốc Nelson cuối cùng đã tìm thấy hạm đội Pháp trú ẩn ở vùng biển Abu Qir và Nelson đã tiến công tiêu diệt được hạm đội ấy. Đô đốc Pháp Bruay bị chết trận. Quân đội chiến đấu ở Ai Cập bị đứt liên lạc hẳn với nước Pháp. Sau nữa, chính phủ Thổ kiên quyết không chấp nhận lời tuyên bố xảo trá của Bonaparte rằng ông ta không hề chiến tranh với triều đình Ottoman, mà chỉ là trừng phạt bọn Mamelukes đã đối xử không tốt với các thương gia Pháp và áp bức nặng nề người Ả Rập. Một đạo quân Thổ được đưa đến Syria. Bonaparte đã thân hành đến Syria giao chiến với quân Thổ. Bonaparte cho rằng tàn bạo là phương pháp tốt nhất để ổn định hậu phương trong thời gian ông ta đi chiến dịch xa xôi.

Chiến dịch Syria cực kỳ gian khổ, đặc biệt vì thiếu nước. Các thành phố lần lượt đầu hàng Bonaparte đầu tiên là El Arish. Sau khi vượt qua eo Suez, Bonaparte tiến về Jaffa và bao vây Jaffa vào ngày 4 tháng 3 năm 1799. Vì Jaffa không đầu hàng nên Bonaparte công bố cho dân chúng biết rằng, nếu họ để quân Pháp phải đánh lấy thành thì tất cả nhân dân trong thành sẽ bị tuyệt diệt, sẽ không giữ một ai làm tù binh. Jaffa không đầu hàng. Cuộc công thành diễn ra ngày 6 tháng 3, binh lính ùa vào trong thành, thật sự tàn sát tất cả những ai bị rơi vào tay chúng. Nhà cửa và hiệu buôn đều bị cướp phá. Sau đó không lâu, khi cuộc tàn sát và cướp phá thành phố đã chấm dứt, người ta báo cáo với tướng Bonaparte rằng trong thành phố còn 4.000 lính Thổ, phần lớn là người Albania còn sót lại trong cuộc tàn sát, họ vẫn kháng cự ở trong một vị trí, luỹ đắp bốn bề; khi các sĩ quan Pháp đến dọa dẫm để buộc họ đầu hàng, họ đã trả lời rằng sẽ chỉ đầu hàng nếu người ta hứa không giết họ, bằng không, họ sẽ chống cự đến giọt máu cuối cùng. Sĩ quan Pháp đã hứa với họ và họ đã rời khỏi chiến luỹ hạ khí giới đầu hàng. Quân Pháp nhốt những tù binh đó trong một nhà kho. Bonaparte tức giận đến cực điểm. Ông ta cho rằng hứa tha chết cho những lính Thổ ấy là một sự điên rồ. “Chúng định bắt tôi làm gì bây giờ? Làm gì có lương thực để nuôi chúng? Làm gì có tàu để chở chúng về Ai Cập hay về Pháp? Chúng đã làm được gì cho tôi?”.

Quả thực, không có một chiếc tàu nào để chở từ Jaffa về Ai Cập, cũng không đủ binh lính để áp giải 4.000 lính tinh nhuệ ấy qua những bãi sa mạc Syria, Ai Cập để đến Alexandria hoặc Cairo. Thoạt tiên Napoléon còn chưa quyết tâm thực hiện ý định khủng khiếp ấy. Qua ba ngày suy nghĩ, do dự và ngần ngại, cuối cùng, ngày thứ tư, Bonaparte hạ lệnh đem bắn hết 4.000 tù binh bị dẫn ra bờ biển và bị bắn đến người cuối cùng. Một trong số sĩ quan Pháp đã nói: “Tôi mong rằng đừng ai cảm thấy những điều mà chúng tôi đã cảm thấy khi chứng kiến cuộc hành hình ấy”.

Ngay sau đó, Napoléon tiến về pháo đài Acre mà quân Pháp vẫn thường gọi là Saint Jean d’Acre, người Thổ gọi là Akko. Nấn ná mãi ở Jaffa chẳng hay ho gì nữa vì bệnh dịch hạch đang bám lấy quân đội Pháp và về mặt vệ sinh, ở lại đấy thật cực kỳ nguy hiểm. Trong nhà, ngoài phố, trên mái nhà, trong hầm chứa, trong vườn rau, vườn cây ăn quả, đâu đâu cũng thấy xác dân chúng bị tàn sát đang thối rữa không ai thu dọn.

Cuộc vây pháo đài Acre kéo dài đúng hai tháng và kết thúc bằng một thất bại Bonaparte không có pháo tham gia bao vây. Pháo đài Acre do người Anh tên là Sidney Smith chỉ huy; được nước Anh tiếp tế vũ khí và lương thực bằng đường biển; quân đồn trú người Thổ rất đông. Sau nhiều đợt xung phong vô hiệu, ngày 20 tháng 5 năm 1799, quân Pháp phải bỏ cuộc bao vây, tổng cộng quân Pháp đã mất 3.000 người. Bên bị bao vây còn thiệt hại lớn hơn thế nữa. Sau đó, quân Pháp đã lại lên đường về Ai Cập.

Đến đây cũng nên chú ý là cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời, Napoléon vẫn gán cho thất bại ấy một ý nghĩa đặc biệt và có tính chất định mệnh. Acre là nơi xa nhất của Phương Đông mà số mệnh đã cho Napoléon được đặt chân tới. Chuẩn bị ở lại lâu đài ở Ai Cập, Napoléon ra lệnh cho các kỹ sư nghiên cứu những vết tích về dự định đào kênh Suez của thời cổ đại và xây dựng quy hoạch công trình đào kênh để sau này tiến hành.

Chúng ta biết rằng Napoléon đã viết thư hứa giúp đỡ Hoàng Đế Tipu Sahib (ở phía Nam Ấn Độ) lúc đó đang chiến tranh chống người Anh. Ông ta cũng dự định đặt quan hệ và ký hiệp ước liên minh với vua Ba Tư. Cuộc kháng cự vấp phải ở Acre, những tin tức đáng lo ngại về những cuộc nổi dậy của các làng Syria ở hậu phương của Napoléon, giữa El Arish và Acre, và nhất là việc không thể kéo dài hơn nữa tuyến đường giao thông hiện đã kéo dài một cách rất nguy hiểm vì không có viện binh mới, tất cả những tình hình đó đã đập tan cái mộng ổn định nền thống trị Pháp trên đất nước Syria của Napoléon.

Cuộc rút lui còn gay go hơn cuộc tiến công nhiều, vì lúc đó đã vào cuối tháng 5 và tháng 6, cái mùa nóng bức ghê người, không sao chịu nổi đang sắp tới. Bao giờ cũng vậy, Bonaparte không ngần ngại gì không trừng phạt tàn nhẫn các làng Syria mà ông ta cho là cần phải trừng phạt.

Một điều đáng chú ý là viên tướng tổng chỉ huy này đã cùng chịu đựng với quân lính mọi nỗi gian khổ trên con đường rút lui dài dằng dặc đó, không hề dành cho bản thân mình, cũng như tướng tá của mình, dù ở cấp bậc cao nhất, một chút ưu tiên nào. Bệnh dịch hạch vẫn hoành hành, ngày càng dữ dội hơn. Người ta bỏ lại tại chỗ những người mắc bệnh ấy, chỉ mang theo những thương binh và những bệnh binh khác. Bonaparte đã hạ lệnh cho mọi người xuống ngựa để nhường cho thương binh, bệnh binh. Sau khi lệnh đó ban ra người giám mã, tưởng rằng đối với vị tướng tổng chỉ huy thì được miễn, nên hỏi Bonaparte sẽ dành lại con ngựa nào, Bonaparte nổi giận vừa quất roi ngựa vào giữa mặt người giám mã vừa hét lên: “Tất cả đi bộ, đ. mẹ...! Ta là người đầu tiên! Anh không biết thế nào là mệnh lệnh à? Cút đi!...”.

Do những cơn nổi khùng như vậy, binh lính lại càng mến Napoléon hơn; và trong những ngày trở về già của họ, họ thường hay nhớ đến Napoléon với những nét tương tự như vậy hơn là những chiến công và những cuộc chinh phục của ông ta. Bonaparte rất biết điều đó và không bao giờ do dự trong những trường hợp tương tự. Trong số những người quan sát Bonaparte, về sau này không ai có thể phân định được lúc Bonaparte làm như vậy thì đâu là do bản năng tự phát, đâu là đóng kịch và có tính toán. Có thể là có cả hai trong cùng một lúc như ở một diễn viên lành nghề. Và Napoléon đã là một bậc thầy về nghệ thuật này, mặc dù trong buổi bình minh của sự nghiệp của ông ta, ở Toulon, ở Ý, ở Ai Cập, tài năng ấy của ông ta chỉ có rất ít người và những người tinh ý nhất trong số gần gũi ông ta phát hiện được. Nhưng hồi đó những người như vậy lại quá hiếm ở trong số những người thân thiết của ông ta.

Ngày 14 tháng 6 năm 1799, quân đội của Bonaparte đã trở về đến Cairo, nhưng thời gian - trong khoảng đó, nếu không phải toàn quân thì ít ra cũng là vị tướng tổng chỉ huy còn được ở lại trên mảnh đất do mình đã đánh chiếm và khuất phục được - đã chấm hết.

Bonaparte chưa nghỉ ngơi được mấy ở Cairo thì đã nhận được tin một đạo quân Thổ, được phái đến để giải phóng Ai Cập khỏi ách xâm lược Pháp, đã đổ bộ ở gần Abu Qir, nơi mà một năm trước đây Nelson đã tiêu diệt hạm đội Pháp. Bonaparte lập tức rời Cairo cùng với quân đội tiến lên phía Bắc, phía đồng bằng sông Nile. Ngày 25 tháng 7, Bonaparte đột kích và tiêu diệt quân đội Thổ. Gần 15.000 quân Thổ bị chết. Napoléon đã hạ lệnh không bắt làm tù binh và tàn sát hết. Với giọng chiến thắng, Napoléon viết: “Trận đánh này là một trong những trận đẹp nhất mà chưa bao giờ tôi được thấy 40.000 quân địch không chạy thoát được một”. Dường như cuộc chinh phục của quân Pháp đã được ổn định lâu dài. Một số nhỏ lính Thổ chạy trốn lên tàu Anh. Mặt biển vẫn luôn luôn thuộc về người Anh, nhưng đất Ai Cập lại thuộc về quyền lực của Bonaparte một cách vững vàng hơn bao giờ hết.

Bỗng dưng lúc đó một sự cố bất thần xảy ra, không ai lường được. Đã lâu ngày bị đứt mọi liên lạc với Châu Âu, tình cờ qua một tờ báo, Bonaparte mới hay rằng trong khi ông ta đi chinh phục Ai Cập thì nước Áo, nước Anh, nước Nga và vương quốc Naples đã gây lại chiến tranh với nước Pháp. Suvorov đã xuất hiện ở Ý để đánh bại quân Pháp và đã thủ tiêu nước Cộng Hòa bên kia rằng núi Apls, Suvorov đang tiến đến gần núi Apls và nước Pháp bị đe dọa; trộm cướp, rối loạn, hoang mang cao độ đang đè lên nước Pháp. Viện Đốc Chính bị đa số nhân dân chán ghét, suy yếu và bối rối. “Nước Ý đã mất! Quân khốn kiếp! Thế là mọi chiến quả của chúng ta đã tiêu tan hết! Ta phải về mới được!”. Bonaparte nói như vậy sau khi đọc tờ báo.

Napoléon lập tức quyết định. Ông ta giao lại quyền chỉ huy tối cao quân đội cho tướng Kleber, hạ lệnh cấp tốc và rất bí mật trang bị bốn chiếc tàu, đưa xuống 500 người chọn lọc kỹ càng, và ngày 23 tháng 8 năm 1799, rời bến về Pháp, để lại cho Kleber một đội quân lớn trang bị rất đầy đủ, cả một bộ máy cái trị và tài chính do Napoléon xây dựng và hoạt động rất hoàn hảo, cùng với dân chúng câm lặng, bị khuất phục và bị khủng bố của cái nước lớn đã bị chinh phục ấy.

[19] Mamelukes, đội quân Thổ - Ai Cập gồm những người nô lệ sau này trở thành đội quân làm chủ xứ Ai Cập (1200-1517). Trong trận Embabeh (1789) quân đội này bị Napoléon đánh bại, đến năm 1811 bị Muhammad Ali tiêu diệt.

CHƯƠNG 4

ngày 18 tháng sương mù
1

Lật đổ Viện Đốc Chính và cướp lấy quyền lực tối cao, đó là quyết tâm sắt đá và không gì lay chuyển nổi của Napoléon khi rời Ai Cập. Một công cuộc liều lĩnh táo tợn: Đánh đổ nền Cộng Hòa, “chấm dứt cuộc cách mạng” đã bắt đầu từ việc phá ngục Bastille cách đấy 10 năm; làm được tất cả việc đó sẽ gặp phải vô vàn hiểm nghèo đáng sợ, dù Napoléon đã có trong quá khứ của mình những Toulon, Tháng Hái Nho, nước Ý và xứ Ai Cập. Và những hiểm nghèo đó đã xuất hiện ngay khi Napoléon vừa rời khỏi bờ biển Ai Cập. Trong 47 ngày vượt biển về Pháp, nguy cơ gặp phải hạm đội Anh đã không ngừng diễn ra, và như vậy, cảnh sa vào cạm bẫy của hiểm nghèo dường như là điều tất yếu; theo lời những người đã được chứng kiến thì Bonaparte là người duy nhất giữ được bình tĩnh và đề ra được những mệnh lệnh cần thiết với lòng cương nghị sẵn có. Sáng ngày 8 tháng 10 năm 1799, tàu của Napoléon đã buông neo trong vịnh Fréjus. Để hiểu tình hình đã xảy ra trong 30 ngày kể từ ngày 3 tháng 10 năm 1799, ngày Bonaparte đặt chân lên đất Pháp, đến ngày 8 tháng 11, ngày Bonaparte trở thành người thủ lĩnh của nước Pháp, cần ôn lại vài lời về tình hình nước Pháp vào lúc biết tin người chinh phục Ai Cập đã trở về.

Sau cuộc đảo chính 18 Tháng Quả năm thứ 5 (1797) và việc bắt giữ Pichegru, hình như Barras và các đồng sự có thể tin vào những lực lượng đã ủng hộ họ ngày hôm đó: Một là những tầng lớp mới trong giai cấp tư sản thành thị và nông thôn làm giàu bằng bán tài sản của quốc gia, đất đai của nhà thờ và của bọn lưu vong, tuyệt đại đa số bọn này sợ dòng họ Bourbon trở về nhưng lại mơ ước thiết lập một nền trật tự ổn định vững vàng và một chính quyền trung ương mạnh mẽ; lực lượng thứ hai là quân đội: Đông đảo binh sĩ gắn liền với giai cấp nông dân lao động sẽ nổi dậy ngay trước sự phục hưng triều đại cũ và nền quân chủ phong kiến, dù mới chỉ là trong ý định.

Nhưng kể từ cuộc đảo chính Tháng Quả đến mùa thu năm 1799, trong hai năm đã trôi đi ấy rõ ràng là Viện Đốc Chính đã mất hết chỗ dựa giai cấp. Bọn đại tư sản mơ ước một vị độc tài, người phục hưng được nền thương nghiệp, mơ ước một người sẽ bảo đảm được sự phát triển của công nghiệp và sẽ đem lại cho nước Pháp một nền hòa bình đầy thắng lợi và một “nền trật tự” trong nước mạnh mẽ. Tư sản lớp dưới và lớp giữa, và trước hết là nông dân, đã tậu được đất đai và trở nên giàu có, đều có những nguyện vọng giống nhau: Kẻ nào làm độc tài cũng được, miễn là không phải một tên Bourbon. Còn thợ thuyền Paris, thì sau cuộc tước vũ khí hàng loạt và cuộc khủng bố dã man đã tàn sát họ vào Tháng Đồng Cỏ năm 1795, sau vụ bắt giữ và hành hình Babeuf năm 1796, sau vụ mang đi đày những người theo Babeuf năm 1797, và sau khi đã thấy toàn bộ đường lối, chính sách của Viện Đốc Chính chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của bọn đại tư sản, bọn đầu cơ và đặc biệt là bọn viên chức các cấp không làm tròn nghĩa vụ, còn những người thợ thuyền ấy họ vẫn bị đói khát, chịu đựng nạn thất nghiệp và sinh hoạt đắt đỏ, vẫn không ngớt nguyền rủa bọn lũng đoạn và bọn đầu cơ, rất tự nhiên rằng những người thợ ấy chẳng hề muốn chống lại bất cứ ai để bảo vệ Viện Đốc Chính. Còn về phần những thợ thuyền làm theo vụ, những người làm công nhật ở nông thôn ra, thực tế họ chỉ có một khẩu hiệu duy nhất: “Chúng tôi muốn một chế độ mà người ta có miếng ăn”. Cảnh binh của Viện Đốc Chính luôn luôn nghe thấy câu nói đó ở các vùng ngoại ô Paris và đã báo cáo lên các cấp trên đang bồn chồn lo lắng của họ.

Từ khi lên nắm chính quyền, Viện Đốc Chính đã tỏ ra bất lực một cách không chối cãi được trong việc xây dựng trật tự tư sản vững bền, có thể tổng hợp lại thành pháp chế và được thi hành một cách đầy đủ. Trong thời gian gần đây, Viện Đốc Chính cũng đã tỏ ra nhu nhược về nhiều phương diện khác nữa. Trong giới sản xuất tơ lụa ở Lyon, ban đầu người ta phấn khởi về cuộc đánh chiếm nước Ý của Bonaparte vì Bonaparte đã mang lại cho họ một số lớn chiến lợi phẩm: Tơ chưa chế biến, một loại nguyên liệu hàng đầu trong kỹ nghệ của họ; nhưng sau đó, vào năm 1799, trong thời gian Bonaparte vắng mặt, khi Suvorov tiến quân vào nước Ý và cướp mất nước ấy từ tay người Pháp thì họ trở nên tuyệt vọng, rã rời. Tình cảnh vô vọng ấy cũng đã lan rộng trong các tầng lớp tư sản khác ở Pháp, khi họ nhìn thấy nước Pháp gặp những khó khăn ngày càng tăng trong việc đấu tranh chống lại Khối Liên Minh Châu Âu vững mạnh, khi họ thấy rằng hàng triệu đồng tiền vàng do Bonaparte chuyển từ Ý về Paris trong những năm 1796 - 1797 phần lớn đã chui vào túi bọn viên chức và bọn đầu cơ là bọn thông đồng với chính Viện Đốc Chính để cướp phá công quỹ. Trận thất bại khủng khiếp mà Suvorov đã giáng cho quân Pháp ở Novi, nơi mà chỉ huy trưởng Joubert bị tử trận; sự phản bội của tất cả những “bạn đồng minh nước Ý “ của Pháp; việc biên giới nước Pháp bị đe dọa; tất cả tình hình đó đã làm cho cái khối lớn giai cấp tư sản thành thị và nông thôn hoàn toàn xa rời Viện Đốc Chính.

Còn như quân đội thì không cần nói. Họ luôn luôn nhớ tới Bonaparte lúc đó đã đi Ai Cập. Binh lính lớn tiếng phàn nàn rằng họ phải ăn uống đói khát vì nạn ăn cắp phổ biến và họ nói đi nói lại rằng người ta đưa họ đến chỗ chết một cách vô ích. Hoạt động của bọn Bảo Hoàng bấy lâu vẫn chỉ ngấm ngầm, bỗng lại bùng lên ở Vendée.

Những tên thủ lĩnh của phong trào Chouan như George Cadoudal, Frotté, La Rose Jacqueline lại kích động miền Bretagne và miền Normandie nổi dậy. Ở một vài nơi, bọn Bảo Hoàng đã dám cả gan hô ở giữa phố: “Suvorov muôn năm! Đả đảo chính thể Cộng Hòa!”. Hàng nghìn thanh niên, buộc phải rời bỏ quê hương để trốn nạn dịch, đi lang thang khắp nước. Sinh hoạt ngày càng đắt đỏ vì sự suy sụp toàn bộ của nền tài chính, nền thương nghiệp và nền công nghiệp, vì những sự trưng thu liên miên và vô tổ chức để đem lại những nguồn lợi kếch xù cho bọn đầu cơ và bọn lũng đoạn. Cho đến cả sau mùa thu năm 1799, mặc dù Masséna đã đánh bại được quân Nga của Korsakov ở gần Zurich và đạo quân Nga của Suvorov đã bị Hoàng Đế Paul gọi về, nhưng những thắng lợi đó cũng chẳng giúp cho Viện Đốc Chính được bao nhiêu và cũng không khôi phục lại được uy tín cho Viện Đốc Chính.

Để tóm tắt trong vài câu tình hình nước Pháp hồi đó, hồi giữa năm 1799 người ta có thể nói theo cách này: Dưới con mắt của đại đa số giai cấp hữu sản, Viện Đốc Chính là vô ích và bất lực, thậm chí có nhiều người dứt khoát cho rằng nó là có hại. Đối với đông đảo quần chúng nghèo khổ ở thành thị cũng như nông thôn, Viện Đốc Chính là đại diện cho chế độ của bọn đầu cơ, của bọn ăn cắp được nuôi béo, một chế độ đem lại giàu sang và khoái lạc cho bọn đục khoét của công và một chế độ gieo rắc đói khổ và áp bức tàn tệ cho thợ thuyền, những người làm công nhật, tức là người tiêu thụ nghèo. Cuối cùng, đối với binh lính Viện Đốc Chính là một bầy những kẻ gian manh đã bỏ mặc họ không giày dép, không bánh mỳ và chỉ trong vài tháng đã nộp cho quân địch tất cả những chiến quả do Bonaparte đã thu được bằng hàng chục trận chiến thắng. Tình thế đã sẵn sàng để một nền độc tài ra đời.

2

Ngày 13 tháng 10 (21 Tháng Hái Nho) năm 1799, Viện Đốc Chính lấy làm hài lòng thông báo cho Hạ Nghị Viện biết rằng tướng Bonaparte đã về tới nước Pháp và đã đổ bộ lên Fréjus. Giữa những tràng vỗ tay như pháo nổ, những tiếng reo hò sung sướng, những đợt vui mừng phấn khởi không thành tiếng, tất cả các vị đại diện cho dân đều đứng dậy hoan hô hồi lâu để chào mừng sự trở về đó. Buổi họp bị gián đoạn. Những người được mục kích có kể lại rằng, khi đi ra phố để về nhà, các nghị sĩ vừa loan báo tin ấy ra thì bỗng nhiên hình như thủ đô vui sướng cuống cuồng; trong rạp hát, trong những phòng khách, trên các đường phố chính, đâu đâu người ta cũng chỉ nghe thấy tên Bonaparte. Tin tức về các cuộc tiếp đón chưa từng có vị tướng của nhân dân miền Nam, miền trung và các thành phố mà ông ta đi qua để về Paris tới tấp bay đến thủ đô. Nông dân rời bỏ làng mạc, các đoàn đại biểu các thành phố nối nhau đến trình diện Bonaparte, đón chào Bonaparte như một vị tướng giỏi nhất của nền Cộng Hòa. Không một ai, kể cả Bonaparte, có thể tưởng tượng trước được cuộc biểu tình vừa bất ngờ, vừa vĩ đại, lại vừa đầy ý nghĩa như vậy. Và đây là một trường hợp nổi bật: Ở Paris, vừa thoạt biết tin Bonaparte đã lên bờ, quân đội đóng ở Paris bèn rời khỏi doanh trại, quân nhạc đi đầu, diễu hành khắp thủ đô và người ta không thể tìm biết được ai đã ra lệnh đó, có lệnh đó không, hay chỉ là do họ tự động.

Ngày 16 tháng 10 (24 Tháng Hái Nho), tướng Bonaparte về tới Paris. Viện Đốc Chính chỉ còn ba tuần lễ để sống, nhưng lúc đó kể cả Barras, con người đã chết hẳn về mặt chính trị, cũng như các vị Viện Đốc Chính sắp giúp Bonaparte chôn vùi chính chế độ của họ, đều không ngờ được rằng giờ kết thúc lại quá gần như vậy và việc thiết lập nền chuyên chính quân phiệt không phải là chuyện hàng tuần nữa mà là hàng ngày và rồi ngay sau đó đã không còn là hàng ngày nữa, chỉ là hàng giờ.

Hành trình của Bonaparte ở Pháp, từ Fréjus đến Paris, đã vạch rõ ra rằng người ta coi Bonaparte như một “đấng cứu tinh”. Đâu đâu cũng chỉ thấy những cuộc tiếp đón long trọng, những bài diễn văn đầy nhiệt tình, những hội đèn hoa rực rỡ, những cuộc biểu tình ủng hộ và những phái đoàn hoan nghênh. Nông dân, thị dân thành phố và các tỉnh nhỏ kéo đến gặp Bonaparte. Sĩ quan và binh lính tổ chức một cuộc tiếp đón vô cùng nồng nhiệt người tướng lỗi lạc của họ. Tất cả những hình thức biểu thị tình cảm và ý chí ấy, tất cả những con người ấy lần lượt diễu qua trước mắt Bonaparte trên đường về Paris, muôn màu muôn vẻ như một ống kính vạn hoa, nhưng chưa đủ bảo đảm cho Bonaparte có thể thắng lợi ngay tức khắc được. Trước hết, cần phải tìm hiểu tình hình thủ đô. Quân đội đồn trú ở Paris nhiệt liệt đón chào người chỉ huy trở về, mình đầy những vòng hoa chiến thắng mới tinh khôi hái trong cuộc chinh phục Ai Cập, người chiến thắng quân Mamelukes, người chiến thắng quân đội Thổ, người mà trước khi rời bỏ sông Nile đã giáng cho đối phương một đòn trí mạng. Bonaparte thấy ngay chỗ dựa mạnh mẽ ở những tầng lớp thượng lưu. Đúng là ngày từ ngày đầu, đại bộ phận giai cấp tư sản và đặc biệt những tầng lớp hữu sản mới đã tỏ rõ thái thù địch với Viện Đốc Chính, vì bọn họ thấy rằng Viện Đốc Chính bất lực cả về đối nội cũng như về đối ngoại và bọn họ thực sự run sợ trước những hoạt động của bọn Bảo Hoàng, nhưng còn run sợ hơn nữa khi thấy phong trào đang âm ỉ ở các ngoại ô, nơi mà Viện Đốc Chính vừa đánh xong một đòn mới vào đông đảo thợ thuyền: Ngày 13 tháng 8, Sieyès, theo yêu cầu của bọn chủ nhà băng, đã thanh toán cứ điểm trọng yếu cuối cùng của chủ nghĩa Jacobin: “Hội những người bạn Tự do và Bình đẳng”, có gần 5.000 hội viên và chiếm 250 ghế trong hai viện. Giai cấp tư sản và những kẻ đứng đầu họ đã tức khắc tin tưởng sắt đá rằng Bonaparte chính là kẻ có nhiều khả năng nhất để ngăn ngừa nguy cơ do phe hữu gây nên và nhất là của phe tả. Ngoài ra, bất thần người ta phát hiện được rằng, giá như Bonaparte có quyết định đảo chính ngay lúc đó, thì nội trong năm viên đốc chính cũng sẽ chẳng có một ai có khả năng chống lại Bonaparte một cách triệt để và đích đáng. Những nhân vật bất tài như Gohier, Moulin, Roger Ducos đều không đáng đếm xỉa đến. Người ta đặt họ lên chức đốc chính chỉ vì ai cũng biết đích xác rằng họ không có khả năng suy nghĩ độc lập, cũng như không dám há miệng khi mà Sieyès và Barras đã cho rằng việc họ nói là quá thừa.

Chỉ còn lại có Sieyès và Barras. Sieyès, con người vang danh trong thời kỳ tiền cách mạng do viết cuốn sách nổi tiếng về Đẳng Cấp Thứ Ba[20], thì đã và đang là người đại biểu và nhà tư tưởng của giai cấp đại tư sản Pháp. Cũng như giai cấp đại tư sản, Sieyès đã bất đắc sĩ phải chịu đựng nền chuyên chính cách mạng của phái Jacobin; đã nhiệt liệt vỗ tay ngày 9 Tháng Nóng khi thấy nền chuyên chính đó bị lật đổ và khi thấy diễn ra cuộc khủng bố Tháng Đồng Cỏ đối với quần chúng lao động khởi nghĩa; cũng như giai cấp ấy, Sieyès mong mỏi trật tự tư sản được củng cố, và tuy chính bản thân Sieyès - một trong số năm viên đốc chính - đã cho rằng chế độ đốc chính hoàn toàn bất lực trước việc củng cố trật tự. Sieyès vẫn đặt tất cả hy vọng vào cuộc trở về của Bonaparte, nhưng không khỏi hiểu lầm một cách kỳ quái về cốt cách của viên tướng này. “Ta cần một thanh kiếm”. Sieyès nói như vậy, ngớ ngẩn cho rằng Bonaparte chỉ là thanh kiếm, còn y, Sieyès mới là người sáng lập chế độ mới. Ngay dưới đây chúng ta sẽ thấy những hậu quả của sự hiểu lầm đáng buồn đó (dù sao cũng chỉ riêng cho Sieyès).

Còn Barras, người ta gặp ở y một loại người khác hẳn, có một cuộc đời khác hẳn, một tính khí khác hẳn Sieyès. Chắc chắn là Barras thông minh hơn Sieyès, vì Barras không có một chút gì tỏ ra là một gã lý luận chính trị, tự cao tự mãn như Sieyès, có thể nói rằng Sieyès là con người tự phụ chứ không phải chỉ giản đơn là một kẻ ích kỷ. Liều lĩnh, dâm đãng, hoài nghi, tự do phóng mình vào những cuộc trác táng, cũng như vào tật xấu và tội lỗi, nguyên tử tước Barras, trước cách mạng là sĩ quan, trong cách mạng là người thuộc phái Núi, là một trong những kẻ chủ chốt thực hiện những thủ đoạn trong Nghị Viện, là một trong những kẻ âm mưu làm cuộc đảo chính ngày 9 Tháng Nóng, là nhà chính trị lớn của phái Tháng Nóng, là kẻ chủ mưu chính ngày 18 Tháng Quả; chỗ nào có uy quyền - chỗ mà người ta có thể chia nhau quyền hành và hưởng thụ là Barras xông đến. Nhưng khác với Talleyrand, thí dụ Barras đã biết liều mạng như hắn đã liều tổ chức cuộc tiến công chống lại Robespierre trước ngày 9 Tháng Nóng, Barras biết đánh thẳng ngay vào kẻ địch, như hắn đã đánh vào bọn Bảo Hoàng hồi Tháng Hái Nho, hoặc hai năm sau hồi Tháng Quả. Trong thời Robespierre. Barras không che giấu tư tưởng của mình để trốn tránh như Sieyès, cái kẻ mà khi bị người ta hỏi từng làm gì trong thời kỳ khủng bố đã trả lời “Tôi đã từng trải việc đời”. Barras thì lại đã tính nước liều từ lâu, Barras biết bọn Bảo Hoàng và phái Jacobin căm thù mình như thế nào, và Barras đã không tha gì cả những người Jacobin lẫn bọn bảo hoảng, vì Barras hiểu rằng nếu những người đó chiến thắng, họ cũng sẽ chẳng tha gì Barras. Nhân khi chẳng may Bonaparte từ Ai Cập trở về bình yên vô sự, Barras đã không thấy ghê tởm gì khi hắn tính đến chuyện giúp đỡ Bonaparte. Barras cũng đã thân hành đến gặp Bonaparte. Trong những ngày căng thẳng trước vụ Tháng Sương Mù, Barras đã cử đại diện đến Bonaparte để thương lượng với Bonaparte, luôn luôn xin dành cho mình một chút địa vị trong chế độ sắp tới, càng cao và càng vững vàng càng hay.

Nhưng Bonaparte lại liệt ngay Barras vào hạng người không thể dùng được. Không phải tại Barras vô dụng: Khó mà có được nhiều nhà chính trị thông minh, táo bạo, tinh tế, nhìn xa hiểu rộng, nhất là lại có địa vị cao như vậy; nếu bỏ đi thì thật rất đáng tiếc, nhưng phẩm cách cá nhân của Barras đã làm cho hắn thành con người không thể dùng được. Con người này không những đã làm cho người ta ghét mà còn làm cho người ta khinh. Những vụ ăn cắp trắng trợn, những hành động xấu xa phơi ra trước mắt mọi người; những việc làm ám muội của Barras với những tên nhà thầu và những tên đầu cơ, những trò dâm đãng miên man của hắn không ngừng diễn ra trước mắt đông đảo quần chúng đang đói khổ khủng khiếp, tất cả những điều đó đã làm cho cái tên Barras trở thành tượng trưng cho sự thối nát, sự xấu xa, sự tan rã của chế độ đốc chính.

Trái lại, Bonaparte đã chú ý nhiều đến Sieyès ngay từ buổi đầu. Thanh danh Sieyès tốt hơn, và với danh nghĩa là một vị đốc chính thì khi đứng về phái Bonaparte, Sieyès có thể khoác lên cho toàn bộ công việc một cái có thể gọi là “hình thức hợp pháp”. Napoléon tạm thời giữ gìn để Sieyès khỏi hiểu lầm, với Barras cũng vậy, và lại càng vui lòng đối đãi tử tế với Sieyès hơn vì sau khi đảo chính rồi hắn cũng còn có tác dụng trong một thời gian nào đó nữa.

Vào hồi ấy, có hai người đến yết kiến Napoléon mà người đời sau phải gắn liền tên tuổi của họ vào sự nghiệp của Napoléon: đó là Talleyrand và Fouché. Bonaparte biết Talleyrand từ lâu và coi là một tên ăn cắp, một viên chức không làm tròn nhiệm vụ, một tên cơ hội trơ tráo nhưng rất thông minh, ắt hẳn Talleyrand sẽ bán tất cả những gì mà hắn có thể bán được với điều kiện duy nhất là có người mua, Bonaparte không nghi ngờ gì điều đó cả; và Bonaparte thấy rõ hiện nay Talleyrand không bán Bonaparte cho các vị đốc chính, mà trái lại, Talleyrand sẽ bán Viện Đốc Chính cho Bonaparte, mặc dù vừa mới đây xong hắn còn là Bộ Trưởng ngoại giao của Viện Đốc Chính. Talleyrand cung cấp cho Bonaparte rất nhiều tài liệu quý báu và xúc tiến mạnh mẽ công việc. Tướng Bonaparte rất tin tưởng vào tài trí minh mẫn của nhà chính trị này, coi như một triệu chứng tốt khi Talleyrand ngỏ ý quyết tâm giúp mình. Lần này, Talleyrand thật thà và công khai làm việc cho Bonaparte.

Fouché cũng đã làm như vậy. Là Bộ Trưởng công an dưới thời Viện Đốc Chính, Fouché định tâm vẫn giữ chức đó dưới thời Bonaparte. Như Bonaparte đã biết, Fouché có một điểm rất quý là hắn rất lo cho tính mệnh hắn nếu dòng họ Bourbon trở lại. Nguyên là người phái Jacobin chủ trương khủng bố và đã biểu quyết hành hình Louis XVI, nên hình như Fouché có đủ bảo đảm không đem bán chủ mới của hắn cho bọn Bourbon. Những công việc của Fouché đã được chấp nhận. Bọn tài chủ lớn và bọn nhà thầu công khai cấp tiền cho Napoléon. Colo, chủ nhà băng, đã mang đến một lúc 500.000 francs và hình như người chủ tương lai của nước Pháp thấy rằng lúc này việc đó không có gì đáng chê trách nên ông ta đã rất vui lòng lấy số tiền ấy, vì nó sẽ rất có ích trong một công việc nguy hiểm như thế này.

Trong không khí rạo rực hầm hập của ba tuần lễ rưỡi đã trôi đi, kể từ lúc về tới Paris đến cuộc đảo chính, Bonaparte tiếp rất nhiều người và lúc này, qua câu chuyện của họ, Bonaparte đã rút ra được những nhận xét quý báu cho sau này. Hình như hầu hết mọi người (trừ Talleyrand) đều cho rằng cái anh lính thâm niên ấy, gã quân nhân xuất sắc nhưng thô bạo ấy, mới 30 tuổi đã thắng nhiều trận, đã hạ được nhiều thành quách, đã làm lu mờ tất cả các vị tướng khác, song lại chẳng am hiểu gì mấy về chính trị, về dân sự và họ đều cho rằng điều khiển Bonaparte cũng chẳng khó khăn gì. Đến lúc kết thúc màn kịch, những người hay kháo chuyện và những người giúp việc của Bonaparte đã thấy ở Bonaparte một con người khác hẳn. Vả lại. Bonaparte đã làm tất cả những gì có thể làm được nhằm làm cho người ta hiểu lầm ông ta trong những tuần lễ nguy hiểm đó. Con sư tử chẳng thèm nhe nanh, thò vuốt quá sớm. Sự giả đò nhẹ dạ, thật thà, bộp chộp, ngây ngô, thậm chí kém thông minh nữa mà Bonaparte đã tạo thành một thứ chiến thuật đang được thử thách ấy đã được sử dụng một cách rộng rãi suốt trong nửa đầu Tháng Sương Mù năm 1799 và đã thu được kết quả mĩ mãn.

Những tên nô lệ ngày mai coi người chủ tương lai của chúng như một công cụ tốt tình cờ mà có. Bọn chúng cũng chẳng giấu giếm điều đó. Còn Bonaparte thì lại biết rằng những ngày cuối cùng đang trôi qua và trong những ngày này những kẻ ấy vẫn còn có thể nói chuyện ngang hàng với mình; Bonaparte cũng còn biết rằng cứ để cho chúng tin như vậy là một điều quan trọng đến mức nào. Nhưng, cũng như bất cứ bao giờ, trong việc này, Bonaparte vẫn là người chỉ huy trưởng, đưa ra những huấn lệnh để chỉ đạo cái kế hoạch đã được tiến hành.

Trong những tuần lễ chuẩn bị đó, Bonaparte xử sự khôn khéo, tài tình đến nỗi không những quân đội, mà cả thợ thuyền vùng ngoại ô lúc đầu cũng tưởng rằng cái việc đã rồi đó là một cuộc đảo chính của phe tả cứu nền Cộng Hòa khỏi tay bọn Bảo Hoàng. “Đó là vị tướng của Tháng Hái Nho, người đã trở về để cứu nền Cộng Hòa!”. Người ta đồn đại như vậy (và đó cũng là cái chuyện mà Bonaparte tìm cách đặt ra) trước và sau cuộc đảo chính.

Cuộc đảo chính này đã mang lại cho Bonaparte uy quyền tuyệt đối và thường được gọi tắt là ngày 18 Tháng Sương Mù (ngày 9 tháng 11) mặc dù nó chỉ mới bắt đầu từ ngày 18 và hành động quyết định lại xảy ra ngày hôm sau, tức là ngày 10 tháng 11 năm 1799.

Công việc tiến hành cực kỳ thuận lợi không những chỉ vì có hai viên đốc chính (Sieyès và Roger Ducos) và vị thứ tư (Moulin) đã bị Fouché - con người vô cùng gian ngoan và xảo quyệt, định tâm nhân cuộc đảo chính này giành lấy ghế Bộ Trưởng công an - lừa phỉnh và gạt gẫm (có lẽ việc này không có). Chỉ còn lại Barras, tự đắc cho rằng người ta sẽ chẳng làm được việc gì nếu không có mình và giữ thái độ chờ đợi. Ở Hạ Nghị Viện và Thượng Nghị Viện, nhiều nghị sĩ có thế lực đã đánh hơi thấy âm mưu này và cũng có thể một vài người đã biết rõ; nhiều người khác chỉ biết lơ mơ, nhưng có thiện cảm, vì họ cho rằng rốt cuộc đây chẳng qua chỉ là một sự thay đổi nhân vật mà thôi.

3

Mãi đến hôm trước ngày 18 Tháng Sương Mù mới dứt khoát phân công cụ thể. Sáu giờ sáng hôm đó, trong nhà Bonaparte và ở các phố xung quanh đấy, các tướng lĩnh và sĩ quan bắt đầu đến chật ních. Lúc đó quân bảo vệ Paris có 7.000 người, Bonaparte hoàn toàn tin cậy vào đội quân đó, và chừng 1.500 binh lính chịu trách nhiệm bảo vệ Viện Đốc Chính và hai viện lập pháp là Hạ Nghị Viện và Thượng Nghị Viện. Không cần đặt ra giả thuyết rằng đội quân đó sẽ cầm vũ khí chống lại Bonaparte. Tuy vậy, điều tối quan trọng là ngay từ lúc đầu đã cần phải che giấu thực chất của việc này, và không để cánh “Jacobin”, tức là cánh tả của Hạ Nghị Viện đến phút quyết định có thể kêu gọi binh lính đứng lên “bảo vệ nền Cộng Hòa”. Như vậy là mọi việc đều đã được bố trí đến nỗi tưởng như chính hai viện lập pháp đã mời Bonaparte lên nắm chính quyền. Tảng sáng ngày 18 Tháng Sương Mù, sau khi tập hợp quanh mình các tướng lĩnh đặc biệt tin cẩn (Murat và Leclerc, cả hai đều là em rể của Bonaparte, Bernadotte, MacDonald và vài người khác) và một số sĩ quan được Bonaparte mời đến, Bonaparte đã báo cho họ biết là đã đến ngày cần phải “cứu lấy nền Cộng Hòa”. Các tướng lĩnh và sĩ quan đều cam đoan chịu trách nhiệm hoàn toàn về quân lính của họ. Xung quanh nhà Bonaparte, quân lính của họ đã xếp thành hàng ngũ chỉnh tề. Bonaparte đợi cái đạo luật mà bạn bè và một số tay chân của Bonaparte vừa bức Thượng Nghị Viện, được cấp tốc triệu tập từ sáng, phải biểu quyết.

Trong phiên họp của Thượng Nghị Viện, bao gồm phần lớn những đại biểu của tầng lớp trung và đại tư sản, một tên Corné nào đó, một kẻ hết lòng sùng bái Bonaparte, đã công bố sự phát hiện được “một âm mưu ghê gớm của bọn khủng bố”: “Nền Cộng Hòa và bộ xương của nó sẽ rơi vào tay lũ cú vọ và chúng sẽ tranh giành xâu xé những chân tay trơ xương”, những câu ấy, lờ mờ, trống rỗng và huênh hoang, không phát hiện được điểm gì cụ thể, không chỉ tên ai, đã đưa đến việc đề nghị Thượng Nghị Viện ra ngay một đạo luật quyết định Thượng Nghị Viện cũng như Hạ Nghị Viện (mà người ta cũng không cần hỏi ý kiến) phải di chuyển đến Saint Cloud, và nhiệm vụ trấn áp cái “âm mưu ghê gớm” đó được giao cho tướng Bonaparte, tổng chỉ huy tất cả các lực lượng vũ trang của thủ đô và các vùng lân cận.

Đạo luật ấy được những người biết rõ mục đích của nó cũng như những người đến lúc ấy mới biết, biểu quyết một cách vội vã. Không một ai dám chống lại. Đạo luật được tức khắc chuyển đến tay Bonaparte. Tại sao Bonaparte lại cần phải chuyển hai viện lập pháp đến Saint Cloud trước rồi mới bóp chết chúng sau? Trong trường hợp này, phải kể đến những ký ức và những ấn tượng, di sản những năm cách mạng vĩ đại. Trong trí tưởng tưởng của lớp người ấy, những phút kinh khủng, tuy nay đã xa song vẫn còn rõ nét, những phút mà đông đảo quần chúng nhân dân ngoại ô, dù đứng trước bất cứ một bạo lực nào cũng đều chống lại ngay; những phút mà từ miệng các nghị sĩ bị đe dọa giải tán còn ngân vang câu nói sau đây: “Về bảo với chúa của ông rằng bọn tôi ở đây là tuân theo ý chí của nhân dân và bọn tôi sẽ chỉ ra khỏi nơi đây bằng sức mạnh của lưỡi lê”[21]. Ngày 23-6-1789, vua Pháp Louis XVI đối phó quyết liệt: Y triệu tập hội nghị, hăm dọa và tuyên bố hủy bỏ tất cả những quyết nghị của Quốc Hội, rồi ra lệnh cho các đại biểu họp riêng theo đẳng cấp. Tăng lữ và quý tộc theo lệnh Đẳng Cấp Thứ Ba vẫn ngồi yên tại chỗ. Một viên quan đến nhắc lại lệnh nhà vua. Đại biểu của giai cấp tư sản bấy giờ là Mirabeau đã thét lên câu nói nổi tiếng kể trên. Một đại biểu khác là Sieyès đề nghị: “Vào chương trình nghị sự đi thôi”. Thế là Quốc Hội lại tiếp tục làm việc, trước sự bất lực của nhà vua. Ông chúa đã không dám dùng tới lưỡi lê, và chính những lưỡi lê ấy đã quay lại phá ngục Bastille. Người ta cũng còn nhớ nhân dân đã làm thế nào để kết liễu một chính thể quân chủ già cỗi 1.500 năm, để đè bẹp bọn Girondin, và lần cuối cùng, vào Tháng Đồng Cỏ năm 1795, nhân dân đã làm như thế nào khi bêu đầu một uỷ viên Hội Nghị Quốc Ước Tháng Nóng trên một ngọn giáo và giơ lên cho những kẻ còn lại trong Hội Nghị Quốc Ước xem, khiến người họ lạnh toát đi vì khiếp sợ.

Dù có tự tin đến đâu, Bonaparte cũng thấy rằng làm ở Paris những điều mà Bonaparte định làm ắt sẽ nguy hiểm, chứ không như làm ở một thị trấn nhỏ, nơi chỉ có cái biệt thự ngoại ô của vua chúa Pháp là trụ sở duy nhất quan trọng. Công việc đã được tiến hành đúng như ý Bonaparte mong muốn: Cái mã ngoài hợp pháp được tôn trọng, và chiểu theo đạo luật, Bonaparte tuyên bố cho quân đội biết là từ nay trở đi họ thuộc quyền chỉ huy của ông ta và họ phải “hộ tống” hai viện đi đến Saint Cloud.

Trước hết, Bonaparte đưa quân đội đến Tuileries, nơi Thượng Nghị Viện đương họp, cho bao vây xung quanh rồi vào phòng họp cùng với một số sĩ quan hầu cận. Trước đây cũng như về sau này, không bao giờ Bonaparte có tài nói trước công chúng, trừ trước binh lính, nên Bonaparte đã tuyên bố vài câu rời rạc như sau: “Chúng ta muốn có một nền Cộng Hòa xây dựng trên tự do, bình đẳng, trên những nguyên tắc thiêng liêng của quốc dân đại biểu. Chúng ta sẽ có, tôi xin cam đoan như vậy!”. Nhưng, bây giờ cũng chẳng cần đến tác dụng của tài hùng biện nữa. Tài hùng biện trong chốn nghị trường trước kia đã từng giữ một vai trò to lớn trong nước Pháp cách mạng từ nay sẽ vĩnh viễn im hơi lặng tiếng.

Sau đó ra phố, Bonaparte đã thấy quân tiền vệ của ông ta, và họ hoan hô ầm ĩ. Lúc này một chuyện bất ngờ đã xảy ra. Một gã botto nào đó do Barras phái đi đang tiến đến gần Napoléon, lúc này Barras rất lo lắng vì chưa thấy Napoléon cho gọi mình. Vừa chợt thấy botto, Bonaparte đã la mắng tới tấp, nhưng thực ra là để mắng Viện Đốc Chính: “Các người đã làm được gì cho cái nước Pháp vô cùng huy hoàng mà ta đã để lại cho các người, ta để lại cho các người hòa bình, thì nay ta gặp lại chiến tranh! Ta để lại cho các người chiến thắng, thì nay ta gặp phải những cảnh rủi ro! Ta để lại cho các người hàng triệu francs vàng của nước Ý thì nay đâu đâu ta cũng gặp lại những luật lệ cưỡng đoạt và sự cùng khổ! Các người đã làm gì cho hàng chục vạn quân Pháp mà ta từng biết rõ họ, họ là những bạn chiến thắng của ta? Họ đã chết cả rồi!”. Sau đó, Bonaparte nhắc lại là ông ta muốn nền Cộng Hòa được xây dựng trên những cơ sở của “quyền bình đẳng, đạo đức, quyền tự do công dân và quyền tự do chính trị”.

Viện Đốc Chính, cơ quan chấp chính tối cao của nền Cộng Hòa, đã bị thủ tiêu không một chút khó khăn, và cũng chẳng cần phải bắn giết hay bắt bớ một ai: Sieyès và Roger Ducos thì đã nằm trong âm mưu, Gohier và Moulin, thấy tất cả đều tan vỡ, đã đi theo binh lính đến Saint Cloud. Còn lại Barras “để thuyết phục” y làm ngay đơn xin từ chức. Biết rằng Bonaparte quyết định không dùng mình. Barras đã làm ngay điều người ta yêu cầu. Vừa ngỏ ý muốn rút lui đời hoạt động chính trị để trở về quê hương sống ẩn dật và bình thản ở nơi thôn dã, lập tức Barras được kỵ binh cận vệ hộ tống về nơi ở mới. Thế là con người trước đây từng lừa dối mọi người, nay đột nhiên đến lượt mình bị lừa dối, đã vĩnh viễn biến khỏi vũ đài chính trị. Như vậy là Viện Đốc Chính đã hoàn toàn bị thủ tiêu. Chiều ngày 18 Tháng Sương Mù, các uỷ viên phụ trách quản trị hành chính của hai viện đều có mặt ở Saint Cloud. Bây giờ còn phải thanh toán nốt hai viện này. Mặc dù hai viện đã bị pháo binh, kỵ binh cận vệ của Bonaparte bao vây chặt chẽ, đã hoàn toàn trong tay Bonaparte, nhưng Bonaparte vẫn muốn làm thế nào để bản thân hai viện tự nhận thấy mình bất lực, tuyên bố tự giải tán và giao lại quyền hành cho Bonaparte. Ý muốn thực hiện những kế hoạch của mình dưới những hình thức ít nhiều có tính chất hợp pháp, nói chung không phải là đặc điểm của Napoléon. Nhưng lần đó, nếu như ngay từ đầu mà Napoléon công bố thẳng với binh lính cái kế hoạch thủ tiêu hiến pháp bằng bạo lực thì làm sao có thể bảo đảm tuyệt đối được rằng trong binh lính không có những người hoang mang, do dự. Vậy thì, cũng là để công việc tiến hành thuận lợi và nhanh chóng hơn, không nên dùng bạo lực để giải quyết vấn đề. Nhưng nếu làm như thế không được thì chỉ khi đó mới dùng đến lưỡi lê. 30.000 quân trong số những bạn chiến đấu của Bonaparte hiện còn đang ở Ai Cập, bận làm nhiệm vụ chiếm đóng đất nước ấy. Binh lính trước kia đã tham dự chiến dịch nước Ý chưa có đủ mặt. Cũng cần phải đếm xỉa đến số người chưa hề biết còn người Bonaparte và Bonaparte cũng chẳng hề biết họ.

Lệnh phân tán quân đội đóng rải từ Paris đến Saint Cloud của Bonaparte được truyền ra và chấp hành ngay từ sáng sớm. Dân Paris tò mò theo dõi sự di chuyển của các tiểu đoàn, đoàn xe và đoàn người đi bộ dài dằng dặc từ thủ đô đến Saint Cloud. Về thái độ của thợ thuyền ở các vùng ngoại ô thì người ta kể lại rằng: Họ vẫn làm việc như thường lệ và người ta không nhận thấy một dấu hiệu xao xuyến gì cả. Trong những khu trung tâm, thỉnh thoảng vang lên tiếng hô: “Bonaparte muôn năm”, nhưng dân chúng nói chung giữ thái độ chờ đợi. Ngày 18, rất nhiều nghị sĩ chưa có mặt ở Saint Cloud, số đông đã để đến ngày 19 mới tới, ngày quy định cho phiên họp thứ nhất.

Sáng sớm ngày thứ hai và là ngày cuối cùng của cuộc đảo chính, tướng Bonaparte có khá nhiều mối lo âu quan trọng. Đúng chiều ngày 18 Tháng Sương Mù, hai trong ba cơ quan tối cao của chế độ Cộng Hòa đã bị thủ tiêu; Viện Đốc Chính không còn nữa. Thượng Nghị Viện đã chịu khuất phục và sẵn sàng xin tự giải tán. Nhưng còn phải thủ tiêu nốt viện dân biểu, tức Hạ Nghị Viện. Và trong Hạ Nghị Viện có chừng 200 ghế thuộc phái Jacobin, hội viên của “Hội Những Người Bạn Của Tự Do Và Bình Đẳng” đã bị Sieyès giải tán. Thật ra, có một số hội viên đã sẵn sàng bán mình vì quyền lợi hoặc sẵn sàng đầu hàng vì sợ hãi, nhưng ở đó cũng còn có nhiều người tỏ ra có phẩm chất khác, đó là những người sống sót sau những trận bão táp lớn của cách mạng, những người đã coi việc chiếm ngục Bastille, việc lật đổ chế độ quân chủ, việc đấu tranh chống bọn phản bội, khẩu hiệu “tự do, bình đẳng hay là chết” không phải là những danh từ vô nghĩa. Có những người coi thường tính mạng mình cũng như tính mạng của người khác và họ nói rằng nếu có thể được, cần phải giết bọn bạo chúa bằng máy chém, nếu không thì cũng bằng lưỡi dao găm của Brutus[22].

Suốt ngày 18 Tháng Sương Mù, có nhiều cuộc hội họp bí mật của cánh tả (phái Jacobin) nhưng họ không biết phải làm gì. Lũ tay sai của Bonaparte, cũng có cả những tên mật thám, đã chui được vào trong hàng ngũ của phái này, luôn luôn làm cho họ bị lạc hướng, chúng quả quyết rằng đó không phải chỉ là những phương pháp nhằm đánh tan nguy cơ Bảo Hoàng. Những người Jacobin đã nghe chúng và chỉ còn biết tin lời chúng là thật. Sáng ngày 19 Tháng Sương Mù, khi họ đến họp ở lâu đài Saint Cloud thì hàng ngũ của họ rối loạn. Nhưng có một số người đã mỗi lúc một phẫn nộ sôi sục thêm.

Sáng hôm ấy, Bonaparte trên xe bỏ mui từ Paris đến Saint Cloud cùng với những người thân cận, có kỵ binh hộ vệ. Vừa tới nơi, Bonaparte đã biết là trong Hạ Nghị Viện có nhiều người công phẫn ra mặt khi thấy binh lính tập trung vây quanh lâu đài, và họ giận dữ phản đối, coi việc di chuyển hai viện tới cái “làng” Saint Cloud này là phi lý và họ không thể hiểu được, họ nói thẳng ra rằng bây giờ họ đã biết rõ ý đồ của Bonaparte. Người ta kể lại rằng, họ cho Bonaparte là kẻ gian hùng, chuyên quyền và thường thường họ gọi là tên ăn cướp. Lúc đầu Bonaparte hơi nao núng, nhưng sau khi đi duyệt đội ngũ thì ông ta lấy làm mãn nguyện.

Vào hồi một giờ chiều, hai viện khai hội ở hai phòng khác nhau. Bonaparte và các bạn của ông ta ngồi ở phòng bên chờ đợi hai viện biểu quyết đạo luật giao cho tướng Bonaparte thảo bản hiến pháp mới, sau đó hai viện mới giải tán. Nhưng hàng giờ đã trôi qua, bản thân Hạ Nghị Viện vẫn không quyết định được gì, và trong tình trạng bối rối, viện cũng đã biểu lộ ý muốn - tuy rằng chậm chễ và e dè - chống lại những mưu toan bất hợp pháp ấy.

Bóng chiều tháng 11 đã đổ xuống. Bonaparte phải quyết định hành động ngay tức khắc, nếu không công cuộc sẽ bị thất bại. Lúc bốn giờ chiều, Bonaparte thình lình vào phòng họp của Hạ Nghị Viện. Trong không khí im lặng như chết, Bonaparte diễn thuyết, ý tứ lời lẽ còn rối rắm và rời rạc hơn cả ngày hôm trước. Đại để Bonaparte yêu cầu Hạ Nghị Viện phải có những quyết định mau lẹ, và ông ta đến đây để giúp Hạ Nghị Viện thoát khỏi những nguy cơ đang treo trên đầu họ, rồi Bonaparte nói thêm: “Người ta đã vu khống tôi quá nhiều, người ta nói đến Caesar, người ta nói đến Cromwell[23]”, trong khi ấy thì trái lại, Bonaparte muốn cứu vãn tự do, trong lúc đã không còn chính phủ nữa. “Tôi đâu phải là một tên quỷ quyệt; các ngài đã biết tôi... Nếu tôi là một tên gian hùng thì xin mời tất cả các ngài hãy là Brutus”. Rồi Bonaparte mời các đại biểu cứ cầm dao găm đâm chết ông ta nếu ông ta mưu hại đến nền Cộng Hòa. Người ta trả lời Bonaparte bằng những tiếng la ó ầm ĩ. Và sau khi phun ra những lời dọa nạt, sực nhớ ra mình có lực lượng vũ trang, Bonaparte bèn ra khỏi phòng họp của Hạ Nghị Viện, không thu được điều mong muốn, tức là đạo luật trao quyền hành cho ông ta. Tình hình công việc có vẻ xấu và có thể trở nên rất xấu: Bonaparte phải làm cho ra chuyện với Hạ Nghị Viện, và ắt hẳn là trong cánh tả Jacobin sẽ xuất hiện một tay thực sự cùng cỡ với Brutus.

Bonaparte đem theo một nhóm lính cận vệ. Nhưng số lính này ít quá, không thể đẩy lùi được số đông người nhất tề xông vào đánh Bonaparte, điều này rất có thể xảy ra lắm. Trong số những người khác nữa, Bonaparte mang theo cả tướng Augereau là người dưới quyền chỉ huy của ông ta trong thời gian xâm chiếm nước Ý. Khi đi đến phòng họp, Bonaparte ngoảnh về phía Augereau nói rằng: “Augereau, hãy nhớ đến trận Arcole”. Bonaparte nhớ đến phút kinh khủng đó, phút mà Bonaparte lao mình dưới làn mưa đạn của quân Áo để chiếm cầu.

Và thực ra, một phút tương tự như thế đang tiến gần. Bonaparte mở cửa và bước lên ngưỡng. Những tiếng la hét dữ dội, điên giận nổi lên ầm ầm để tiếp Bonaparte: “Đả đảo tên tướng cướp! Đả đảo tên bạo ngược! Cho ra ngoài pháp luật! Cho ra ngoài pháp luật ngay lập tức!”.

Một nhóm đại biểu sấn sổ tới Bonaparte, nhiều bàn tay vung tới Bonaparte, người nắm cổ áo, người tìm cách túm lấy cổ Bonaparte. Một đại biểu lấy hết sức giáng một quả đấm vào vai Bonaparte. Bonaparte chẳng hề trội hơn ai về mặt thể lực, vóc người gầy gò bé nhỏ, dễ bị kích động, thỉnh thoảng lại như bị ngất, bị các vị dân biểu đang thịnh nộ làm cho gần như tắc thở. Vài người lính cận vệ cố xông được đến bao xung quanh mình Bonaparte, nhưng lúc ấy ông ta đã bị tơi bời; họ đưa được ông ta ra khỏi phòng họp. Các đại biểu căm phẫn trở về chỗ, vừa la hét giận dữ đòi biểu quyết kiến nghị đưa tướng Bonaparte ra ngoài pháp luật.

 

Hôm đó, Hạ Nghị Viện do Lucien Bonaparte, em Napoléon, chủ toạ và Lucien Bonaparte cũng là kẻ tham gia âm mưu. Hoàn cảnh đó đã giúp một cách đắc lực cho công việc của Bonaparte thắng lợi. Lấy lại tinh thần và sau khi màn kịch kinh khủng đó xảy ra, Bonaparte dứt khoát quyết định quét sạch Hạ Nghị Viện bằng vũ lực, nhưng trước hết phải đưa bằng được Lucien ra khỏi phòng họp. Napoléon đã làm việc này chẳng khó khăn gì lắm.

Khi Lucien đến được với Napoléon, Napoléon bảo Lucien đi hô hào quân sĩ, tuyên bố với họ rằng tính mạng chủ soái của họ đang nguy khốn và kêu gọi họ hãy giải phóng cho tuyệt đại đa số hạ nghị sĩ “khỏi tay một nhóm cuồng dại”. Thế là, nếu trong binh sĩ còn có chút nghi ngờ cuối cùng gì về tính chất bất hợp pháp của việc thủ tiêu Quốc Hội bằng vũ lực thì nay đã hết. Một hồi trống vang lên, và lính cận vệ, do Murat chỉ huy, xông vào chiếm lấy cung điện.

Theo lời những người được chứng kiến thì trong khi tiếng trống trận liên hồi thúc giục xung phong người ta nghe thấy trong số nghị sĩ có tiếng gọi kháng cự và chết tại chỗ. Cửa mở, lính cận vệ, lưỡi lê chĩa thẳng, ùa vào phòng, nhanh chóng tản ra khắp chỗ, quét sạch trong nháy mắt. Trống vẫn đổ liên hồi át tất cả mọi thứ tiếng. Các vị đại biểu bỏ trốn hết, người chạy qua cửa, người thì mở hoặc phá cửa để nhảy ra sân. Tấn kịch diễn ra chỉ từ ba đến năm phút. Lệnh truyền ra là không được giết hoặc bắt các vị đại biểu. Khi đã chạy thoát ra ngoài, các đại biểu của Hạ Nghị Viện thấy mình đứng ở giữa quân đội đang vây quanh bốn bề cung điện, át cả tiếng trống, tiếng hét ầm ầm như sấm của Murat truyền xuống cho đội cận vệ: “Tống cổ tất cả bọn này ra ngoài kia”. Những tiếng ấy đã vang đến tai các đại biểu. Qua những cuốn “Ký ức” của họ, chúng ta được biết rằng một số lớn trong các vị đại biểu đã suốt đời không thể quên được câu nói đó.

Một ý kiến, có lẽ do Lucien gợi, đã đến trong óc Bonaparte. Binh lính bỗng nhiên nhận được lệnh tóm bắt lấy ít người trong số các đại biểu đang chạy trốn khắp tứ phía và dẫn họ về cung điện; sau đó Bonaparte quyết định cùng với các đại biểu bị bắt mở một “phiên họp của Hạ Nghị Viện”, Bonaparte ra lệnh cho họ phải biểu quyết thông qua đạo luật thành lập chế độ Tổng Tài. Một số trong bọn họ, được thu nhặt ở trên đường hoặc ở các hàng quán và được đưa về cung điện, run cầm cập vì sợ, vì mưa, vì rét, đã làm ngay tất cả những gì mà người ta yêu sách. Cuối cùng người ta thả họ ra, sau khi họ đã biểu quyết tự giải tán.

Buổi tối, tại một căn buồng lờ mờ trong điện Saint Cloud, Thượng Nghị Viện, không cần bàn cãi, đã ra một đạo luật trao quyền tối cao của nền Cộng Hòa cho ba người, gọi là các Tổng Tài. Bonaparte, Sieyès và Roger Ducos được chỉ định vào những chức vụ đó, vì Bonaparte nhận thấy rằng: Vào lúc này mà đã giành ngay chức chủ tể duy nhất là không hợp thời, nhưng Bonaparte đã quyết định trước là sẽ biến chức Tổng Tài của mình thành một nền chuyên chính thật đúng với nghĩa của nó. Bonaparte cũng biết hai viên đồng sự của mình sẽ không đóng vai trò gì đáng kể và sự khác nhau duy nhất giữa hai người đó là Ducos, con người kém tế nhị, ngay bây giờ cũng biết rõ là như vậy, còn Sieyès, con người sâu sắc, kín đáo, hiện còn chưa biết gì về điều đó, nhưng chẳng bao lâu rồi cũng sẽ nhận ra được. Nước Pháp đã nằm dưới chân Bonaparte. Hai giờ sáng, ba vị Tổng Tài làm lễ tuyên thệ trung thành với nền Cộng Hòa. Đêm khuya, Bonaparte lên xe rời Saint Cloud, có Bourrienne đi cùng. Bonaparte trầm lặng và về đến tận Paris mới nói một vài lời.

[20] Đẳng Cấp Thứ Ba (Tiers État), trước cách mạng Pháp, bọn tăng lữ và bọn quý tộc là hai đẳng cấp có nhiều đặc quyền đặc lợi và có thế lực nhất trong xã hội Pháp. Đứng đầu xã hội là bọn tăng lữ, thứ đến quý tộc, thứ nữa đến Đẳng Cấp Thứ Ba. Tuyệt đại đa số trong Đẳng Cấp Thứ Ba là nông dân, ngoài ra tư sản cũng thuộc Đẳng Cấp Thứ Ba và chiếm địa vị cao nhất trong đẳng cấp này.

[21] Câu nói của Mirabeau. Ngày 17-6-1789, các đại biểu Đẳng Cấp Thứ Ba tự tuyên bố họp thành Quốc Hội, vì lẽ đẳng cấp này bao gồm 90% dân số Pháp. Với đường lối cách mạng, họ tự tuyên bố là có quyền lực tối cao.

[22] Marcus Brutus, cháu của Lucius Brutus, một trong những người đã thiết lập nước Cộng Hòa La Mã cổ đại, Marcus Brutus được Julius Caesar - danh tướng và nhà chính trị nổi danh của La Mã cổ đại nhận làm con và luôn được Caesar che chở. Nhưng Marcus đã ám sát Caesar ở giữa Thượng Nghị Viện. Từ đó, tên tuổi Marcus Brutus được dùng để chỉ những người chống đối mưu sát.

[23] Olivier Cromwell, thuộc tầng lớp địa chủ nhỏ ở Anh, một nghị sĩ kiên quyết chống lại nhà vua và Giáo Hội trong cuộc cách mạng tư sản Anh hồi thế kỷ XVIII. Sau khi nền Cộng Hòa được thành lập (tháng 1 năm 1649), Olivier Cromwell phản lại quần chúng và trở thành tên độc tài, y tự mình chỉ huy quân đội, đem quân sang đàn áp rất dã man cuộc khởi nghĩa của Ireland. Trong lúc quân đội của Olivier Cromwell bận đàn áp và cướp phá ở Ireland thì ở Anh, bọn quý tộc chuẩn bị khôi phục nền quân chủ. Vì vậy khi nói đến nền Cộng Hòa Anh, Mác có viết: “Dưới thời Olivier Cromwell, nền Cộng Hòa Anh đã bị tan vỡ trong cuộc đàn áp Ireland”.

CHƯƠNG 5

những bước đầu của nhà độc tài
1

Kể từ chiều ngày 19 Tháng Sương Mù, ở Saint Cloud, khi Murat báo cáo lên Napoléon rằng phòng họp của Hạ Nghị Viện đã được quét sạch và công việc tiến hành tốt đẹp, thì tướng Bonaparte đã trở thành vị chúa tể độc tôn của nhân dân Pháp trong suốt 15 năm trời.

Dù trong năm năm đầu, Napoléon tự xưng là đệ nhất Tổng Tài, và 10 năm sau là Hoàng Đế, dù nước Pháp thoạt tiên gọi là một nước Cộng Hòa và về sau là một đế quốc thì nước Pháp cũng không thay đổi gì về thực chất, kể cả về nền tảng xã hội của chế độ mới cũng như về bản chất của nền chuyên chính quân phiệt Napoléon. Nền chuyên chính của giai cấp tư sản phản cách mạng đã được thiết lập như vậy đó, nền chuyên chính của cái gia cấp trong khi đi tìm lợi nhuận, đã dẫn nước Pháp đến bờ vực thẳm và biết rằng mình mất trí, “mất tin tưởng vào năng lực chính trị của mình”, đã đi đến kết luận duy nhất là: Chỉ có bóp nghẹt được nền dân chủ cách mạng, chỉ có núp dưới sự bảo hộ của một chính quyền mạnh mẽ và vững vàng, dẫu rằng chuyên chế, dẫu rằng phải hiện thân ở người võ quan tàn ác, ngông ngạo là Bonaparte, thì xã hội tư sản mới có thể tự do phát triển được và mới bảo đảm được cho tư bản tư nhân tha hồ hoạt động.

Bonaparte hoàn toàn thấm nhuần những nguyên tắc cơ bản đó của Nhà Nước mới. Ông ta đã mang tất cả sức mạnh thiên tài của mình để củng cố những nguyên tắc đó, và trước hết, lợi dụng triệt để cả những điều kiện khách quan thuận lợi cho ông ta trở thành người thủ lĩnh độc nhất và tuyệt đối của cái Nhà Nước mới đó. Trong khi Bonaparte hủy bỏ, thành lập và thay đổi những cơ quan của Nhà Nước thì làm thế nào mà ý nghĩa và mục đích của chúng lại có thể hoàn toàn không thay đổi được: Chúng phải làm cho bộ máy Nhà Nước biến thành công cụ phục vụ cho quyền lực tối cao của Bonaparte.

Nhưng nếu trong mọi công cuộc của mình, Napoléon đều nhằm mục đích cuối cùng là xây dựng và củng cố quyền hành tuyệt đối của mình, thì để đạt được Napoléon đã dùng đến nhiều biện pháp rất khác nhau, trong số đó, phải kể đến tài ngoại giao, đến nghệ thuật ký kết các tạm ước, các cuộc ngừng chiến, nghệ thuật biết chờ thời và kiên nhẫn. Sau này, Napoléon bắt đầu mất những tài năng đó, những tài năng mà ông ta có rất dồi dào trong những năm đầu nắm chính quyền. Napoléon đã nói về bản thân mình rằng lúc thì đóng vai con cáo, lúc lại đóng vai sư tử: Theo ông ta, bí quyết để thống trị chỉ là biết lúc nào phải làm cáo và lúc nào phải làm sư tử.

Và chính là trong thời kỳ chế độ Tổng Tài, Napoléon đã xây dựng được bộ máy chính quyền tập trung (hoàn toàn thích ứng với nền quân chủ chuyên chế), bộ máy mà không một chính phủ nào ở Pháp, sau Napoléon cho đến ngày nay, muốn từ bỏ hay muốn sửa đổi, trừ Công Xã Paris.

Những cải cách về hành chính của Tổng Tài thứ nhất không phải là biện pháp duy nhất của ông ta đã từng luôn luôn kích động và hiện đang tiếp tục kích động tình cảm của những nhà tư tưởng tư sản ở trong và ngoài nước Pháp, họ còn tán dương vị Tổng Tài thư nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc yên ổn làm giàu trong thương nghiệp và công nghiệp; nói tóm lại, Napoléon quy kết thành một hệ thống sáng sủa và có hiệu lực tất cả những cái đã thúc đẩy giai cấp đại tư sản đánh đổ và triệt tiêu những thắng lợi của năm 1789 và của những năm sau. Với tư cách là “người sáng tạo” ra những hình thức biểu hiện của tình trạng và quyền thống trị kinh tế của giai cấp tư sản, vai trò xây dựng của Napoléon đã bộc lộ một cách đặc biệt rõ rệt trong suốt thời kỳ Tổng Tài, điều đó đã làm cho Napoléon rất nổi tiếng, không phải chỉ trong những năm đầu ông ta nắm chính quyền, mà còn cả dưới con mắt những nhà viết sử tư sản hiện đại, phản ánh những quan điểm của giai cấp thắng thế.

Như vậy là viên tướng 30 tuổi ấy, từ trước đến nay chẳng làm gì khác hơn là chiến đấu, người đã chinh phục nước Ý, đã chinh phục Ai Cập, người đã thủ tiêu chính phủ hợp pháp của nền Cộng Hòa trong phút chốc, buổi tối ngày 19 Tháng Sương Mù đã trở thành người cầm đầu một trong những nước lớn nhất ở Châu Âu. Nhưng thực tế, lúc ấy ông ta không biết điều đó và cũng chưa có cơ hội để biết. Chỉ tính từ thời Clovis[24], đất nước ấy đã có 15 thế kỷ lịch sử, rồi cách mạng đã phá hủy cái vương quốc già nua 1.500 tuổi ấy, quật đổ cùng một lúc cả chế độ phong kiến lẫn nền quân chủ gắn liền với nó; nền Cộng Hòa đã được thiết lập và giờ đây, một người quý tộc đảo Corsica làm tướng của chính cái nước Cộng Hòa đó, đã lật đổ chế Cộng Hòa và trở thành ông chúa đất nước.

Trước mắt Napoléon ngổn ngang những đống đổ nát khổng lồ của chế độ cũ cũng như cả một khối lớn vật liệu mới do cách mạng đẻ ra. Napoléon đứng trước bao nhiêu việc đã làm và chưa làm xong, bao nhiệu việc đã khởi công và bỏ dở, bao nhiêu việc đã bắt đầu và bắt đầu lại; tất cả đều ở trong tình trạng hỗn độn và cấp bách.

Về mặt đối ngoại, vị Tổng Tài thứ nhất cũng phải đối phó với một tình thế khó khăn và nguy hiểm đến cực độ. Trong khi ông ta đi chinh phục Ai Cập, cuộc Liên Minh Châu Âu thứ hai đã cướp mất của Pháp nước Ý. Chiến dịch của Suvorov đã tiêu hủy mọi chiến quả mà Bonaparte thu được vào những năm 1796 - 1797. Sự thật là sau khi vượt qua núi Apls, Suvorov thiếu lực lượng và phương tiện cần thiết để xâm chiếm nước Pháp, nhưng Khối Liên Minh không hạ khí giới và chắc rằng sang xuân người ta có thể thấy kẻ thù ở biên giới nước Pháp. Ngân quỹ sạch trơn; nhiều quân đoàn không nhận được tiền để chi ăn từ mấy tháng nay.

Với thái độ chăm chú và giễu cợt, những nhà chính khách lão luyện đang chờ xem trước những hoàn cảnh phức tạp, rối bời và ngặt nghèo như vậy, chàng thanh niên người Corsica, ngoài nghề lính ra chưa hề làm nghề gì khác và cũng chẳng biết gì hơn, sẽ xoay xở ra sao.

2

Trước hết, Bonaparte xúc tiến việc tổ chức chính quyền mới, nghĩa là việc hợp thức hoá chính quyền chuyên chế của mình. Người ta không thể không có cảm tưởng khôi hài khi quan sát những cuộc gặp gỡ giữa Bonaparte với những nhà chính trị lỗi lạc vào loại Sieyès, kẻ đã cho rằng mình là vai trò chính và tự coi mình là sư phụ và quân sư của chàng thanh niên đó. Napoléon lúc ấy đã coi những nhà chính trị chuyên nghiệp của nước Pháp trong thời kỳ đó như những kẻ ba hoa lỗi thời, không muốn hiểu rằng thời của họ đã qua rồi. Còn đối với những người Jacobin, Bonaparte căm ghét và sợ hãi họ, không bao giờ nói đến anh em Robespierre (mà như chúng ta biết, trước Bonaparte đã có những mối quan hệ cá nhân tốt với Robespierre em), nhưng hiển nhiên là Bonaparte đã hiểu quá rõ giá trị của những kẻ đã ám hại và cướp quyền của Robespierre. Che đậy những hành động ám muội của chúng bằng cái tài hùng biện rỗng tuếch, những tên đầu cơ, những viên chức không tròn nhiệm vụ và những tên tham nhũng trong bọn Tháng Nóng ấy đã gợi ở Bonaparte một cảm giác khinh tởm.

Bonaparte giao cho Sieyès dự thảo một bản hiến pháp mới. Sieyès say sưa làm và đề ra được những chương mục quán triệt, kết hợp khéo léo, nhưng lại quên mất rằng đại bộ phận giai cấp tư sản ở thành thị cũng như ở nông thôn lúc này đang đòi hỏi một nền an ninh tuyệt đối và đòi hỏi xác nhận cho họ những quyền lợi trực tiếp liên quan đến quyền tự do thương nghiệp và công nghiệp, những nông dân hữu sản muốn rằng quyền sở hữu đất đai vừa mới tậu được của họ phải được bảo đảm một cách hoàn toàn và vĩnh viễn. Bonaparte nhận xét bản dự thảo của Sieyès là vô lý, chỉ thị cho Sieyès và tham gia vào việc “sửa chữa”, điều đó khiến Sieyès hết sức ngạc nhiên.

Một tháng sau cuộc đảo chính, bản hiến pháp mới được chuẩn bị xong. Đứng đầu nước Cộng Hòa là ba vị Tổng Tài, Tổng Tài thứ nhất được trao toàn bộ quyền hạn, và hai vị kia chỉ có quyền tư vấn, không có quyền quyết nghị. Các Tổng Tài chỉ định các Thượng Nghị Sĩ, và các thượng nghị sĩ lại lựa chọn các uỷ viên Hội Đồng Lập Pháp và Tư Pháp, lấy trong số hàng nghìn ứng cử viên do nhân dân bầu ra.

Bản hiến pháp mới, như ban đầu người ta đã hứa hẹn, phải được nhân dân biểu quyết. Nhưng, bỗng nhiên Napoléon tuyên bố bản hiến pháp sẽ mang ra thi hành ngay, không đợi trưng cầu ý dân. Bonaparte nghiễm nhiên được “bổ nhiệm” làm Tổng Tài thứ nhất.

Cuộc trưng cầu ý dân tiến hành ngày 4 Tháng Tuyết (25-12-1799), với 3.011.007 phiếu thuận và 1.562 phiếu chống, đã phê chuẩn bản hiến pháp mới và việc chỉ định ba vị Tổng Tài, đứng đầu là Bonaparte. Quân đội cũng bỏ phiếu, và ở một vài nơi, cuộc bầu cử đã tiến hành từng trung đoàn một, bằng cách binh lính đồng thanh trả lời câu hỏi của người chỉ huy của họ. Ở các thành phố và ở các làng, nhân dân đi bỏ phiếu dưới con mắt kiểm soát cẩn mật của các nhà chức trách. Vả lại, số lớn nông dân là những người hữu sản, số lớn trong giai cấp tư sản thành thị và theo lời của những người đương thời, ngay cả một số lớn thợ thuyền ở các thành phố lúc đố đều nhiệt liệt ủng hộ Tổng Tài thứ nhất, họ thấy ở ông ta con người đã cứu vãn nền Cộng Hòa thoát tay bọn Bảo Hoàng ngày 13 Tháng Hái Nho và đã đẩy lùi được sự can thiệp của nước Anh, nước Áo và nước Nga đang đe dọa nước Pháp.

Tất cả quyền hạn đều đã tập trung hết vào tay Bonaparte. Tất cả những cơ quan khác chỉ còn là những cái bóng không hồn, không hề có và thậm chí cũng không mong có chút uy quyền nào. Sieyès tưng hửng và tức tối, nhưng Bonaparte đã ban thưởng cho Sieyès một món kếch xù và vĩnh viễn gạt Sieyès ra khỏi mọi chức việc cụ thể. Bonaparte cần những người phục vụ và thực hiện, chứ không cần cố vấn cũng như những nhà làm luật. Ông ta cũng tức khắc bóp nghẹ công luận. Bằng một nghị định ký ngày 27 Tháng Tuyết, sau việc thi hành hiến pháp Tổng Tài ít lâu, Bonaparte hạ lệnh đóng cửa 60 tờ báo trong số 73 tờ hiện có hồi ấy, và 13 tờ còn lại sống được một thời gian nữa đều phải đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của Bộ Trưởng Công An (chẳng bao lâu chín tờ nữa bị đóng cửa, chỉ còn lại bốn). Tính chất hữu cơ của Napoléon là không thể nào hình dung được một chút tự do báo chí, dẫu chỉ là một chút tự do bề ngoài. Những biện pháp đầu tiên ấy chứng minh rõ ràng quan niệm của Napoléon về quyền lực của mình.

Napoléon cho rằng, ông ta chỉ mang ơn đội quân cận vệ trong những ngày của Tháng Sương Mù, những người đã mang lại quyền lực vô hạn độ cho ông ta. Chẳng chịu ơn ai hết, vạn sự chỉ mang ơn binh sĩ cận vệ của mình, nghĩa là bản thân mình, tất cả đều xây dựng trên quyền chiến thắng, điều đó không phải chỉ là tư tưởng mà còn là tín điều chính trị của Napoléon, nếu có thể nói được như vậy. “Những binh đoàn lớn bao giờ cũng có lý”, đó là một trong những châm ngôn mà Napoléon thích thú nhất. Những binh đoàn đã chiếm được nước Pháp cho Napoléon vào ngày 18 và 19 Tháng Sương Mù, cũng như trước đây, dưới quyền của Napoléon, đã chinh phục được hầu hết Châu Âu, và theo ý Napoléon, không ai có thể bắt ông ta phải báo cáo, cũng như không ai có thể đòi ông ta chia sẻ quyền hành. Sieyès đã hiểu Napoléon rất nhanh và đã tỉnh ngộ. Những kẻ khác cùng trong âm mưu ngày 18 Tháng Sương Mù cũng dần dần hiểu Napoléon và về sau thì tất cả bọn họ đều hiểu.

Những câu nói của Goethe về Napoléon đến nay vẫn đúng: “Đối với Napoléon, chính quyền chẳng khác gì một nhạc cụ ở tay một nhạc sĩ có tài. Vừa nắm được nó xong, Napoléon đã sử dụng được nó ngay". Napoléon đặt nhiệm vụ đầu tiên là chấm dứt cuộc nội chiến ở miền Tây nước Pháp và nạn cướp bóc, câu kết chặt chẽ với cuộc nội chiến đang hoành hành ở khắp miền Nam và miền Bắc nước Pháp. Napoléon tỏ ra rất vội, thật vậy, phải giải quyết trước mùa xuân mọi công việc khẩn cấp cùng loại với hai việc nói trên, vì đến mùa xuân chiến tranh lại sắp tiếp diễn.

3

Vào cuối thời kỳ Viện Đốc Chính, những đám giặc cướp nổi lên, làm cho đường cái lớn ở miền Nam và miền trung nước Pháp không đi lại được, đã mang tính chất một tệ nạn xã hội lớn. Chúng chặn đánh xe chở khách và xe vận tải trên các con đường lớn vào giữa ban ngày, ít khi chúng cướp bóc không, mà thường giết hại hành khách. Bọn chúng dùng vũ lực tiến công các làng mạc và dùng lửa tra khảo hàng giờ liền những người bị chúng bắt để buộc họ phải cung khai nơi cất giấu tiền bạc (vì vậy người ta gọi bọn chúng là bọn “đốt máy”) và thỉnh thoảng còn tiến công cả vào các thành phố. Những đám giặc cướp đó núp dưới danh nghĩa những người Bourbon: Tự xưng là đi rửa thù cho nhà vua và Thượng Đế đã bị lật đổ.

Quả thật, những tên bị cách mạng làm tổn hại trực tiếp đến bản thân đã kéo đến nhập bọn với chúng, người ta đồn rằng: Có một vài tên tướng cướp đã nộp một phần số của cải cướp được cho bọn Bảo Hoàng, điều đó rất có thể có, nhưng chưa được xác nhận. Dẫu sao đi nữa, tình trạng rã rời và hỗn loạn của bộ máy cảnh sát vào cuối thời Viện Đốc Chính đã đưa đến chỗ không thể bắt được bọn cướp và tội lỗi của chúng không bị trừng phạt. Vị Tổng Tài thứ nhất quyết định trước hết phải tiêu diệt bọn này. Đối với Napoléon, cần chừng sáu tháng để diệt trừ nạn trộm cướp, song những toán cướp chính đã bị dẹp tan ngay từ những tháng đầu khi Napoléon lên nắm chính quyền.

Napoléon quy định những điều luật nghiêm ngặt: Không bắt cầm tù, mà bắn ngay tại chỗ những tên cướp bị bắt, trừng trị cả những ai che giấu bọn chúng, mua bán những đồ vật ăn cướp, hoặc nói chung có quan hệ với bọn chúng; đó là những nét lớn về chính sách của Napoléon. Những phân đội đặc biệt đã trấn áp không tiếc tay, không phải chỉ những tên phạm tội trực tiếp và những tên đồng phạm, mà còn trấn áp cả những nhân viên cảnh sát nhu nhược, thông đồng hoặc tiêu cực với bọn chúng.

Trong trường hợp này, một điểm khác của Napoléon đã biểu lộ: Napoléon không dung thứ tội lỗi. Đối với Napoléon, mọi tội lỗi đều đáng trừng trị. Napoléon không thừa nhận và cũng không muốn thừa nhận có những trường hợp giảm tội. Có thể nói được rằng: Trên nguyên tắc, Napoléon phủ nhận lòng nhân hậu, coi đó là một đức tính rất có hại và không thể thừa nhận được ở một nhà cầm quyền. Khi em trai thứ hai của Napoléon là Louis, được phong làm vua Hà Lan năm 1806, có khoe với anh rằng y rất được quý mến ở Hà Lan, thì lập tức ông anh nghiêm nghị ngắt lời ông em trai bằng câu: “Em ơi! Khi người ta bảo vua là một người tốt thì có nghĩa là triều đại ấy đã đi đứt rồi đấy”.

Tháng 4 năm 1811, tờ Nhật Báo Nước Pháp, vì quá sốt sắng, đã ca tụng bằng một giọng cảm kích nhất và nhiệt thành nhất “lòng nhân hậu” của Hoàng Đế khi Hoàng Đế chuẩn hứa lời thỉnh cầu của một người đến xin ban ơn nhân dịp Hoàng Đế vui mừng vì Hoàng Hậu sinh được một người kế nghiệp, Napoléon la mắng ầm ầm và lập tức viết thư cho Bộ Trưởng Công An: “Thưa công tước Da Rovigo, ai là người đã cho phép tờ Nhật Báo Nước Pháp hôm nay được đăng bài rất ngu xuẩn nói về chuyện riêng của tôi?”. Và Napoléon hạ lệnh lập tức cách chức chủ bút tờ báo đó, vì “y đã làm nhiều chuyện ngốc nghếch”... Chắc hẳn Napoléon dễ dàng tha tội cho người nào coi ông ta như một con vật hung dữ hơn là vu khống cho ông ta có lòng tốt. Sau này, tất cả những cái đó đã hiện ra đầy đủ, nhưng trong khi chờ đợi thì việc trấn áp khốc liệt hàng loạt bọn cướp đã chứng tỏ rằng người chủ mới đã không làm trái với câu châm ngôn mà nhiều người đã biết tới: “Thà làm tội oan 10 người con hơn để sót một người có tội".

Vừa thanh trừ bọn giặc cướp, Bonaparte vừa đặc biệt chú ý đến những việc xảy ra ở Vendée. Ở vùng này, bọn quý tộc và bọn tăng lữ vẫn tiếp tục như trước đây (vì tất cả những lý do đặc thù kinh tế riêng biệt của tỉnh này và của một phần phía Nam vùng Normandie sát với Vendée) lôi kéo một số nông dân, tổ chức và trang bị cho họ vũ khí loại tốt mà người Anh đã chuyển đến cho chúng bằng đường biển và lợi dụng rừng núi và đồng lầy, chúng tiến hành một cuộc chiến tranh du kích lâu dài chống lại tất cả các chính phủ cách mạng. Đối với bọn Vendée và bọn Chouan, Bonaparte áp dụng một chiến thuật khác hẳn đối với bọn cướp. Đúng trước khi cuộc đảo chính 18 Tháng Sương Mù xảy ra, bọn Vendée đã thu được một loạt thắng lợi đối với những người Cộng Hòa, chúng đã chiếm thành Nantes và công nhiên nói đến sự phục hưng của dòng họ Bourbon. Một mặt, Bonaparte tăng cường lực lượng quân đội đi dẹp bọn nổi loạn, mặt khác, hứa sẽ ân xá cho những kẻ hạ khí giới đầu hàng ngay và mặt khác nữa, cứ để cho người ta hiểu rằng ông sẽ không ngược đãi Đạo Thiên Chúa. Cuối cùng, Bonaparte tỏ ý muốn gặp riêng và thương lượng với người cầm đầu nổi tiếng của bọn Chouan là Georges Cadoudal và dù cuộc thương lượng đó không đem lại kết quả gì thì Bonaparte cũng sẽ cấp giấy thông hành đặc biệt, bảo đảm an toàn đầy đủ cho cá nhân Cadoudal trong thời gian Cadoudal ở Paris và được hoàn toàn tự do trở về.

Người nông dân cuồng tín xứ Bretagne đó, thân hình đồ sộ và sức khoẻ phi thường, đã hội kiến riêng trong mấy tiếng đồng hồ với Bonaparte hồi bấy giờ còn mảnh khảnh, gầy gò. Vô cùng lo ngại cho tính mệnh của Bonaparte, các sĩ quan hầu cận đã đến đầy các phòng bên cạnh, vì mọi người đều biết rằng Cadoudal sẵn sàng hy sinh bất cứ bằng cách nào cho lý tưởng của mình và từ lâu tự coi như một kẻ đã hiến dâng mình cho cái chết.

Tại sao Cadoudal không giết Bonaparte? Duy nhất chỉ vì Cadoudal còn bị cái ảo mộng sau đây chi phối, chẳng bao lâu ảo mộng ấy đã tan vỡ, nhưng nhờ nó mà ngay từ buổi đầu sự nghiệp của mình, Bonaparte đã lừa phỉnh được bọn Bảo Hoàng. Chúng luôn luôn cho rằng viên tướng trẻ tuổi và nổi danh đó sinh ra để làm nhiệm vụ của George Monck đã làm ở nước Anh năm 1660, tức là giúp dòng họ Stuart đang bị đi đày trở lại ngai vàng và tiêu diệt nền Cộng Hòa. Đúng là Napoléon đã bóp chết nền Cộng Hòa và do tính chất giai cấp của chính quyền Napoléon nên ông ta đã dọn đường mở lối cho nền quân chủ, nhưng nếu cho rằng một con người như Napoléon lại có thể nhường vai trò cầm đầu cho bất kỳ người nào khác và cũng không đặt vấn đề xem Napoléon có thể làm được như vậy không, thì thật không còn gì ngu ngốc hơn.

Cadoudal không bóp chết Bonaparte, nhưng y rời khỏi phòng của Bonaparte với thái độ thù nghịch. Ngoài những đề nghị khác, vị Tổng Tài thứ nhất đề nghị với Cadoudal gia nhập quân đội với hàm cấp tướng và đương nhiên là với điều kiện hạn chế: Cadoudal chỉ được đi đánh kẻ thù bên ngoài. Cadoudal từ chối và quay về Vendée. Một trong những kẻ cầm đầu chính khác của phong trào Chouan và Frotté thì bị bắt làm tù binh và bị bắn chết. Tuy đã bị quân chính phủ đánh bại vào tháng 1 năm 1800, Cadoudal vẫn tiếp tục chiến đấu sau cuộc gặp gỡ với Bonaparte. Nhưng Cadoudal đã phải trốn tránh trong những thời gian dài và chỉ dám tổ chức những cuộc đột kích bất thần vào những đội quân nhỏ hoạt động độc lập của quân đội Cộng Hòa. Lúc này những thắng lợi của quân đội chính phủ, lời hứa ân xá, sự giảm nhẹ chính sách chống giáo hội, những hy vọng mà dòng họ Bourbon và tay chân của chúng đang đặt vào Bonaparte, toàn bộ tình hình đó đã làm sức chiến đấu và tinh thần của bọn Chouan giảm sút rất nhiều. Đội ngũ của Cadoudal thưa thớt. Ở Vendée, tâm lý chung là chờ đợi, thiên về xoa dịu và mua chuộc người thủ lĩnh mới của nền Cộng Hòa Pháp có thái độ khoan nhượng đối với bọn Bảo Hoàng. Lúc bấy giờ, Bonaparte cũng không đòi hỏi gì hơn; trong những tháng đầu ấy, tháng 11, tháng 12 năm 1799 và nửa đầu năm 1800, ông ta phải bằng lòng với những cách giải quyết cấp thiết trước mắt để còn lo cho cuộc chiến tranh sẽ bắt đầu vào mùa xuân. Bonaparte đi từ việc khẩn cấp này đến việc khẩn cấp khác: Từ việc trấn áp bọn giặc cướp đến việc Vendée, từ việc Vendée đến công việc tài chính, bởi vì phải nuôi ăn, may mặc, trang bị cho một đội quân mạnh mẽ mà ông ta sẽ điều động vào mùa xuân, nhưng tiền vàng trong ngân khố đã cạn sạch - Viện Đốc Chính đã xoáy hết quỹ của Nhà Nước. Napoléon cần một chuyên viên, và phải là một chuyên viên giỏi. Napoléon tìm ngay được một người như thế ở Godin, và đã cử Godin làm Bộ Trưởng Tài Chính.

Từ khi Bonaparte lên nắm chính quyền thì đương nhiên những việc trong lĩnh vực tài chính cũng đã được giải quyết theo cùng với những nguyên tắc như trong các lĩnh vực khác: nhà quân phiệt độc tài và Godin, người thừa hành ý chí của ông ta, cả hai đều đã quyết định dùng thuế gián thu hơn là thuế trực thu. Hình thức đánh thuế này, chung quy chỉ đổ vào người tiêu thụ giàu cũng như nhà nghèo, thuận lợi cho Napoléon do tính chất “tự động” của nó, vì thuế gián thu không gây bất hòa giữa người nộp thuế với người thu thuế cũng như với chính phủ, việc mua bán các vật phẩm tiêu dùng hằng ngày tự nó tiến hành bằng mọi cách, không cần đến sự can thiệp của bất cứ một người thu thuế nào.

Giai cấp tư sản thành thị và nông thôn lấy làm mãn nguyện về chính sách tài chính mới đó, họ cũng còn lấy làm hài lòng về một loạt các biện pháp khác đã thực hiện trong lĩnh vực này, như thành lập một cơ quan kiểm tra, định chế độ cho công tác kế toán, trấn áp quyết liệt các vụ ăn cắp và tham nhũng trắng trợn. Những kẻ tham ô nhiều đến nỗi nhà viết sử đôi khi có ý định liệt bọn chúng như một “tầng lớp” đặc biệt trong giai cấp tư sản. Một vài kẻ đầu cơ và vơ vét công quỹ nhanh chóng cảm thấy bàn tay của người thủ lĩnh mới sắp đè nặng lên chúng. Ông ta đã bắt giam Uvra, tên thầu lương thực cho quân đội, nổi tiếng vì ăn cắp, tiến hành truy tố một vài tên khác, quy định rất nghiêm ngặt việc kiểm tra sổ sách, đình chỉ việc thanh toán những khoản chi mà Bonaparte thấy chưa hợp lý. Có lần Bonaparte phải tìm cách bỏ tù một nhà tài chính sau khi biết đích xác hắn đã ăn cắp tiền, dù hắn đã xoá được hay không xoá được vết tích, và giam cho đến khi nào hắn phải bằng lòng nhả mồi ra. Tuy vậy, cũng vẫn chưa tiêu diệt được tệ nạn tham ô.

4

Bonaparte ra sức khẩn trương tổ chức việc hành chính. Ông ta vẫn giữ cách chia nước Pháp thành từng quận, nhưng thủ tiêu mọi vết tích của chế độ địa phương tự trị. Tất cả những nhà chức trách do nhân dân địa phương bầu cử ra và ngay cả những hội đồng đã được bầu ra đều bị bãi bỏ ở các thành phố và các làng.

Từ nay, Bộ Trưởng Nội Vụ phải bổ nhiệm Quận Trưởng cho mỗi quận, Quận Trưởng là thủ lĩnh tối cao, là vua con. Quận Trưởng chỉ định các Hội Đồng Dân Chính, các thị trưởng ở thành phố và xã trưởng ở nông thôn. Những viên chức này chịu trách nhiệm trước Quận Trưởng và có thể bị Quận Trưởng cách chức. Giúp đỡ Quận Trưởng có “Hội Đồng Hàng Quận”, một cơ quan có tính chất tư vấn thuần tuý, hoàn toàn phụ thuộc vào Quận Trưởng và nhiệm vụ duy nhất là báo cáo cho Quận Trưởng biết nhu cầu của quận. Bộ Trưởng Nội Vụ điều khiển mọi sinh hoạt hành chính của nước, và thẩm quyền của Bộ Trưởng Nội Vụ cũng lan rộng sang cả lĩnh vực thương nghiệp, công nghiệp, công chính và nhiều lĩnh vực khác nữa mà sau này Bonaparte dần dần phân phối cho các bộ khác.

Các toà án cũng là đối tượng của sự cải tổ triệt để: Trung tuần tháng 3, Bonaparte ban hành một đạo luật mới quy định việc tổ chức Bộ Tư Pháp. Sau khi đã biến cải xong các toà án, về sau này Bonaparte đã bãi bỏ viện bồi thẩm: Do bản chất của chính quyền độc đoán của Bonaparte mà trong hàng ngũ những người thuộc ngành tư pháp, tiếng nói của tự do, đại diện cho xã hội, không được phép cất lên. Tuy vậy, Bonaparte không bãi bỏ ngay hết cái viên bồi thẩm.

Khi cần phải tiêu diệt các kẻ thù chính trị thì Napoléon không bao giờ bối rối trước những vấn đề thuộc về tính độc lập của quyền tư pháp và sự tôn trọng thủ tục tố tụng. Nhưng trong tất cả những trường hợp khác, chẳng hạn có một người thưa kiện về việc họ hoặc một kẻ nào đó bị xét xử về tội hình, không dính dáng gì đến chính trị, thì Napoléon đòi toà án khi khởi tố phải đặt mọi lý do có tính chất chính trị ra ngoài. Và khi những viên quan toà đầu tiên, do vị Tổng Tài thứ nhất chỉ định, đến trình diện, Napoléon đã căn dặn họ rằng không bao giờ nên bận tâm đến việc tìm hiểu đảng phái của người đã nhờ cậy toà xét xử.

Một điều rất đặc biệt là đối với tất cả những vấn đề liên quan đến việc chống những kẻ thù bên trong để bảo vệ nền Quân Chủ Chuyên Chế do ông ta xây dựng Napoléon đã dành cho một bộ lớn, được thành lập để chuyên làm những công việc ấy; bộ này hoàn toàn độc lập với Bộ Nội Vụ, có sinh hoạt riêng như mọi công an, được Napoléon đưa lên một địa vị rất cao, chưa từng thấy dưới thời Viện Đốc Chính về mặt quyền lực cũng như về mặt tài chính.

Napoléon đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức sở cảnh sát thủ đô. Mặc dù phụ thuộc vào Bộ Công An, viên giám đốc Sở Cảnh sát Paris được hưởng một chế độ riêng, khác hẳn với mọi viên chức khác. Y trực tiếp báo cáo với Tổng Tài thứ nhất, và nói chung, rõ ràng là ngay từ đầu, vị Tổng Tài thứ nhất đã muốn biến viên giám đốc cảnh sát Paris thành một cái có thể gọi là cơ quan kiểm soát và tình báo để giúp Napoléon giám sát những hành động của viên Bộ Trưởng Công An đầy quyền lực. Bonaparte cố ý phân tán đến một chừng mực bộ máy cảnh sát chính trị của ông ta, không phải ông ta chỉ muốn có một, mà muốn có hai, thậm chí có ba cơ quan cảnh sát để giám sát không những dân chúng mà còn để chúng giám sát lẫn nhau. Bonaparte đặt Fouché đứng đầu Bộ Công An, một tên mật thám đầy mánh khoé, mưu mô quỷ quyệt, nói tóm lại, một tên mật thám cỡ lớn. Đồng thời Bonaparte cũng biết rõ rằng, nếu gặp dịp, Fouché sẽ bán hết, không những Bonaparte, mà cả bố đẻ hắn, với một giá phải chăng. Để giữ gìn mặt ấy, vị Tổng Tài thứ nhất đã giao cho bọn tay chân tin cẩn nhiệm vụ bao vây, theo dõi Fouché. Và để đề phòng trường hợp Fouché biết, sẽ tìm cách mua chuộc bọn theo dõi y, Bonaparte tổ chức một đàn mật thám thứ ba có nhiệm vụ theo dõi những tên mật thám theo dõi Fouché. Napoléon luôn luôn cho rằng Fouché là kẻ mặt sắt đen sì và không bao giờ biết ngượng.

Nhiều năm đã trôi qua, Napoléon đã lên ngôi Hoàng Đế từ lâu và Fouché thì đã lộng lẫy trong bộ áo Bộ Trưởng Công An thêu kim tuyến và đầy huân chương. Một hôm, trong một lúc nóng giận, muốn làm nhục Fouché bằng cách vạch ra cho y thấy rằng mình còn nhớ rất rõ tất cả những bước lên voi xuống chó của viên Bộ Trưởng, Napoléon đột nhiên bảo Fouché: “Chính ông đã biểu quyết án tử hình vua Louis XVI!”. Theo lệ thường, Fouché cúi rạp mình trước ông Hoàng Đế: “Hoàn toàn đúng vậy. Đó là công trạng đầu tiên mà hạ thần được dâng lên Bệ Hạ". Thật là một cuộc đối thoại có ý nghĩa nhất: Fouché nhắc lại cho Hoàng Đế hay rằng vận hội của cả hai đều bắt nguồn từ cách mạng, duy chỉ có khác là một người đã bóp chết cách mạng để chiếm lấy ngai vàng bỏ trống của Louis XVI, còn một người đã sốt sắng giúp cho việc đó. Năm 1799 là năm Fouché đặc biệt có ích đối với Bonaparte, chính vì Fouché biết rõ những bạn hữu cũ của y mà y đã phản bội và bán họ cho người chủ mới.

Ngay từ mùa đông thứ nhất lên nắm chính quyền, Bonaparte đã tổ chức được một bộ máy Nhà Nước tập trung, các bộ phận được kết hợp một cách hoàn chỉnh, và do một nhóm viên chức cao cấp chỉ huy từ Paris. Tập trung quyền lực vô hạn độ vào tay Tổng Tài thứ nhất, đó là mục đích của “bản hiến pháp mới”.

Một lần Bonaparte nói rằng: Một bản hiến pháp phải “ngắn và tối nghĩa”. Bonaparte phát biểu nguyên tắc chung của mình như sau: Khi đề cập vấn đề quy định những giới hạn hiến pháp cho quyền lực tối cao thì phải biên soạn vắn tắt và mập mờ đến mức tối đa. Nếu ở trên đời có một kẻ nào đó mà tính chất chuyên chế không thể thích ứng với bất kỳ một sự hạn chế nào về quyền lực - mặc dầu sự hạn chế đó rất tầm thường, nhưng nếu như nó thực sự đụng chạm đến quyền lực tối cao - thì kẻ đó chính là Napoléon.

Ngay từ những ngày đầu sau cuộc đảo chính, sự hiểu lầm ngốc nghếch của những kể ủng hộ Napoléon đã tan như mây khói, đặc biệt là Sieyès, nạn nhân của sự hiểu lầm ấy trong suốt thời gian trước Tháng Sương Mù.

Khi Sieyès trình lên Bonaparte một bản dự án, theo đó, Bonaparte phải tự khuôn mình trong những chức vụ của một viên quan tư pháp tối cao trong nước (giống như tổng thống nước Cộng Hòa sau này), có danh vọng cao nhất và hưởng lương cao bổng hậu, nhưng giao quyền cai trị cho một số người khác, do Bonaparte chỉ định, không phụ thuộc vào Bonaparte, thì ông ta đã tuyên bố: “Tôi không đóng vai trò lố bịch như vậy đâu” và kiên quyết bác bỏ dự án của Sieyès. Tìm cách cố giữ ý kiến và bàn cãi, Sieyès liền được viên Bộ Trưởng Công An Fouché đến thăm, và Fouché đã thân mật tâm sự với Sieyès, khuyên nên chú ý đến cái thực tế là Bonaparte đã tập trung tất cả lực lượng vũ trang của nước Pháp vào trong tay, vì thế nên nếu cứ cố tình tranh cãi mãi với một đối phương như vậy thì sẽ không có lợi chút nào, trái lại sẽ chỉ có hại. Lập luận này hình như đã hoàn toàn thuyết phục được Sieyès, và từ đó Sieyès câm lặng.

“Bản hiến pháp của năm Cộng Hòa thứ 8” (người ta gọi bản hiến pháp được khởi thảo dưới sự bảo hộ của Napoléon như vậy) đã đáp ứng được một cách tuyệt diệu cái nguyên tắc do Napoléon đặt ra. Quyền hành đều tập trung hết vào tay Tổng Tài thứ nhất còn hai vị Tổng Tài khác chỉ có quyền tư vấn. Bonaparte được chỉ định là Tổng Tài thứ nhất trong 10 năm. Tổng Tài thứ nhất chỉ định một Thượng Nghị Viện gồm 80 nghị sĩ. Bằng quyền hành duy nhất của mình, Tổng Tài thứ nhất còn bổ nhiệm các chức vụ hành chính và quân sự, bắt đầu từ chức Bộ Trưởng, và tất cả những người thụ nhiệm chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng Tài thứ nhất. Cũng còn thành lập hai viện để tiêu biểu cho quyền lập pháp:

— Viện Pháp Chế.

— Viện Lập Pháp.

Các ủy viên của cả hai viện này đều do Thượng Nghị Viện chỉ định (nói một cách khác, vẫn do Tổng Tài thứ nhất chỉ định) theo một danh sách vài nghìn ứng cử viên do các công dân “bầu ra” bằng một phương pháp bỏ phiếu hết sức phức tạp.

Giả dụ ngay như trong số vài nghìn ứng cử viên do nhân dân bầu ra thì chỉ được chọn 400 vị về phe với chính phủ, và cũng rất rõ ràng là người ta sẽ chọn trong 400 vị ấy lấy một số để bổ sung vào những chỗ khuyết trong Viện Pháp Chế và Viện Lập Pháp. Không thể đặt ra vấn đề tính độc lập cho các vị đã được tuyển lựa theo kiểu đó được. Nhưng cũng chưa hết, ngoài những tổ chức đó ra, còn thành lập Hội Đồng Chính Phủ do chính phủ của Tổng Tài thứ nhất toàn quyền chỉ định.

Bộ máy lập pháp hoạt động theo phương thức sau đây: Chính phủ đệ trình một bản dự án pháp luật lên Hội Đồng Chính Phủ, Hội Đồng Chính Phủ bổ sung xây dựng và trình lên Viện Pháp Chế. Viện Pháp Chế có quyền phát biểu ý kiến của mình bằng lời về bản dự thảo đó, nhưng không có quyền quyết định. Sau khi đã làm xong nhiệm vụ của mình bằng cách ấy, Viện Pháp Chế gửi bản dự thảo sang Viện Lập Pháp. Viện này không có quyền thảo luận về bản dự thảo, nhưng để bù lại, người ta giao cho nhiệm vụ đặt thành quy chế, sau đó bản dự thảo được Tổng Tài thứ nhất phê chuẩn và trở thành luật. Trong suốt triều đại Napoléon, cái bộ máy “lập pháp” không hợp lý một cách cố tình ấy đã chỉ là kẻ câm điếc thừa hành ý muốn của Napoléon. Vả lại, sau này (năm 1807) Napoléon đã bãi bỏ Viện Pháp Chế vì ông ta cho rằng nó hoàn toàn vô ích.

Đương nhiên là những điều mà hai viện bàn bạc rồi quyết định phải được giữ hết sức bí mật (và đã được làm như vậy). Khi cần xúc tiến công việc khẩn trương hơn, Tổng Tài thứ nhất có thể đưa thẳng ra những đề án của mình lên Thượng Nghị Viện để Nghị Viện thông qua dưới hình thức một “Nghị quyết của Thượng Nghị Viện”, thế là xong. Như vậy, tất cả quyền lực thực tế về lập pháp, cũng như toàn bộ quyền hành chính đều tập trung cả vào tay Bonaparte.

Mùa xuân năm 1800, có thể nói rằng nhà chuyên chế mới đã giải quyết một số công việc khẩn cấp nhất, đã hợp pháp hóa nền trật tự mới của quốc gia, đã diệt trừ nếu không tất cả thì cũng được một số rất lớn các toán giặc cướp đang nhũng loạn đất nước, đã quyết định một cách vội vàng và có tính chất tạm thời một vài biện pháp nhằm làm dịu tình hình ở Vendée, đã tập trung việc cai trị trong nước vào một mối và đã thi hành những biện pháp cần thiết nhất để ngăn chặn những vụ ăn cắp của bọn đầu cơ. Dưới sự chỉ đạo của Fouché, một mang lưới mật thám rộng lớn, bố trí khôn khéo, đã nhanh chóng lan tỏa trên khắp nước.

Joseph Fouché là một tên mật thám bẩm sinh, nếu có thể nói được như vậy. Ở thành La Mã thuở xưa, người ta nói: “làm thi sĩ là do bẩm sinh, làm diễn giả là do tu luyện”. Fouché là kẻ sáng lập ra một hệ thống khiêu khích và do thám mà bọn học trò và bọn bắt chước người Naples như Decoretto, người Nga như Benckendorff và Dupen, người Áo như Disnicky đã uổng công học đòi. Trong công cuộc này, Napoléon để cho Fouché được tự do hoạt động, nhưng biết rõ tài năng nhiều mặt và bản chất lá mặt lá trái, xoay như chong chóng của Fouché. Để đề phòng bất trắc, Napoléon dùng một số mật thám bám sát để giám sát Fouché, và chính ông Bộ Trưởng Công An cũng không biết bọn này. Napoléon biết rất rõ rằng trước khi lên đường mở một chiến dịch xa xôi, vào mùa xuân, phải bảo đảm hậu phương chính trị của mình và trên quan điểm đó thì tất cả “bản hiến pháp mới của năm thứ VIII” tuyệt nhiên chẳng có giá trị gì, trong khi đó thì Bộ Công An có một tầm quan trọng ghê gớm. Vì lẽ ấy, Bonaparte không phải chỉ chi rất nhiều tiền cho bộ máy cảnh sát, không phải chỉ ra sức đưa nhiều người có khả năng và kiên quyết vào bộ máy cai trị do Bonaparte đã xây dựng nên ở Paris, ở các tỉnh, mà còn dùng bàn tay sắt để bịt miệng nốt 13 cơ quan báo chí còn sống sót sau việc đóng cửa một lúc 60 tờ báo trước đây.

Khi lên đường đi chinh chiến, Napoléon giao lại cho các Bộ Trưởng của ông ta bộ máy chuyên chính do ông ta dựng lên và yêu cầu họ duy trì trật tự trong khi ông ta sẽ đọ sức với cả Châu Âu Liên Minh trên chiến trường.

Nhưng một tháng trước khi Napoléon lên đường, vào tháng 4 năm 1800, Fouché đã khám phá được và báo cáo lên vị Tổng Tài thứ nhất một bằng chứng không thể chối cãi được rằng ở Paris có một cơ quan gián điệp Bảo Hoàng Anh, liên lạc trực tiếp với các em của vua: Louis, bá tước xứ Provence và Chales bá tước xứ d’Artois, cả hai đều đã chạy ra nước ngoài. Với sự giúp đỡ của bọn người Anh và của các lực lượng can thiệp khác, bọn Bảo Hoàng nhằm công khai cướp lấy chính quyền. Ngay từ mùa xuân năm 1800, khi vua Anh George III trả lời đề nghị mở hội nghị đàm phán hòa bình của Bonaparte bằng quyết tâm trực tiếp và tích cực đặt lại dòng họ Bourbon lên ngai vàng nước Pháp thì Bonaparte đã biết rất rõ rằng người Anh tin cậy vào bọn Bảo Hoàng Pháp, là bọn sẵn sàng nhượng bộ tất cả những gì có thể được về kinh tế và chính trị có lợi cho tư sản thương nghiệp và công nghiệp Anh chỉ để nhằm mục đích duy nhất là phục hưng dòng họ Bourbon.

Vị Tổng Tài thứ nhất đã dứt khoát khẳng định trong tư tưởng rằng một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất trong cuộc đấu tranh đối nội là việc trấn áp quyết liệt bọn phản bội Bảo Hoàng, còn nhiệm vụ khẩn yếu của cuộc đấu tranh đối ngoại là cuộc chiến tranh chống người Anh. Những mệnh lệnh cần thiết đã giao cho Fouché để đấu tranh chống bọn Bảo Hoàng hiện hành: Napoléon chỉ thị cho Fouché theo dõi mọi hoạt động của bọn chúng, bắt giữ và đưa bọn chúng ra toà. Napoléon luôn luôn nhắc lại câu nói sau đây, phản ánh rõ quan điểm đã được xác lập trong ông ta: “Có hai phương tiện để làm nhân tâm xao động: Sự sợ hãi và mối lợi”. Không nên hiểu “lợi” chỉ là lòng tham tiền, theo nghĩa đen, mà còn là sự thèm muốn, lòng tự ái, lòng tham danh vọng. Nên tác động đến bọn Bảo Hoàng bằng cách nào? Đáng chú ý là đối với loại kẻ thù này, Napoléon sử dụng lúc bằng phương pháp này, lúc bằng phương pháp khác, tuỳ lúc: Khi thì khủng bố, khi lại lôi kéo bọn chúng bằng ơn huệ, tiền bạc và sử dụng vào công việc này nọ.

Mùa xuân năm 1800, vì phải đến với quân đội ngay nên Napoléon đã không có thời gian dùng những biện pháp khác chống bọn phản bội, ngoài biện pháp khủng bố khốc liệt. Nhiệm vụ chủ yếu khác, tức là cuộc chiến tranh với nước Anh, phải được tiến hành như trước đây, không phải trên bờ biển nước Anh, đối diện với hạm đội hùng mạnh của Anh mà là ở trên lục địa Châu Âu, chống với đồng minh của nước Anh và trước hết là chống đế quốc Áo.

Lên đường đi chinh chiến vào ngày 8 tháng 5 năm 1800 và rời Paris lần đầu tiên kể từ khi đảo chính, Bonaparte hoàn toàn hiểu rằng số phận nền chuyên chính của ông ta ở Pháp hoàn toàn tuỳ thuộc vào kết quả của chiến dịch này. Hoặc là Napoléon lại chiếm được miền Bắc nước Ý từ tay người Áo hoặc là quân đội của các nước liên minh lại sẽ xuất hiện ở biên giới nước Pháp.

[24] Clovis, vua đầu tiên trị vì xứ Gaule từ năm 481 đến 511, Gaule là nước Pháp ngày nay.

Yevgeny Viktorovich Tarle

Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nguyễn Thị Lộ và vụ án Lệ Chi Viên Nguyễn Thị Lộ (? [1] - 1442), là vợ thứ của danh thần Nguyễn Trãi và là một nữ quan nhà Lê trong lịch...