Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

Napoléon Bonaparte 2 XXXXXX

Napoléon Bonaparte 2

CHƯƠNG 6

trận marengo
sự củng cố nền độc tài
pháp chế của tổng tài thứ nhất
1

Napoléon không có thói quen định trước và định tỉ mỉ các kế hoạch chiến dịch. Ông chỉ chú ý đến những “đối tượng” chủ yếu, những mục đích cụ thể chính, quy trình thời gian (dĩ nhiên là phỏng đoán) và những đường tiến quân. Napoléon chỉ thật sự bận tâm lo nghĩ đến chiến tranh khi chính chiến dịch đương diễn ra; trong chiến dịch, không những ông chú ý đến những mục đích cần phải đạt, còn chú ý đến những tình huống, và đặc biệt là những tin tức, động tĩnh của đối phương mà ông thường xuyên nhận được, từ đó ông luôn thay đổi kế hoạch bố trí của mình, thay đổi từng ngày và có khi từng giờ. Napoléon tự đặt cho mình một quy tắc bất di bất dịch là chừng nào thực tế chưa chứng tỏ cho mình rõ là đối phương ngu ngốc hơn thực tế và nên đặt giả thuyết: Đối phương sẽ hành động có lý lẽ không kém gì bản thân mình trong trường hợp ấy.

Napoléon phải chống với một đạo quân Áo rất mạnh và được trang bị rất đặc biệt đang chiếm đóng miền Bắc nước Ý, nơi mà Suvorov năm trước đã quét sạch quân Pháp. Nhưng Suvorov không còn ở với người Áo nữa, điều đó đã làm Napoléon quan tâm nhiều nhất. Napoléon biết nước Nga đã rút khỏi Khối Liên Minh, mặc dầu ông còn chưa thể biết được rằng cũng vào tháng 5 năm 1800 ấy, trong khi ông cùng quân đội của mình tiến vào nước Ý để triệt tiêu những chiến quả của Suvorov thì Suvorov đã được mai táng trong Tu Viện Alexander Nevsky ở Peterburg. Không phải Suvorov đối đầu với Bonaparte, mà chỉ là tướng Melas, một tay chiến thuật cừ, một sĩ quan tham mưu, một trong số những tướng lĩnh giỏi mà trước cũng như sau năm 1800, Napoléon đã và đang giáng cho nhiều trận thua vô cùng khủng khiếp và bọn họ đã không ngớt chứng minh một cách chua chát rằng Napoléon đã không hành động theo nguyên tắc nào cả. Trung thành với nguyên lý của mình, Napoléon đánh Melas như thể Melas là Napoléon, và Melas đánh Napoléon như thể Napoléon là Melas.

 

Quân Áo tập trung lực lượng về phía Nam chiến trường theo hướng đi Genoa. Melas không phán đoán nổi rằng Bonaparte đã chọn con đường đi khó khăn nhất, qua nước Thuỵ Sĩ và đèo Bernard, do đó, Melas sơ hở không tăng cường lực lượng để giữ sườn phía ấy. Vị Tổng Tài thứ nhất lại chọn đúng con đường ấy. Cái lạnh khủng khiếp của những ngọn núi tuyết phủ, những vực sâu thẳm dưới chân, những trận mưa băng, những cơn bão tuyết, những cuộc trú quân ngoài trời trong tuyết, binh sĩ của Bonaparte đã chịu tất cả những thử thách đó vào năm 1800, cũng như binh sĩ của Suvorov đã từng nếm trải vào năm 1799 và cũng như những chiến binh của Hannibal đã từng nếm trải cách đây 2.000 năm trước Suvorov và Bonaparte. Có khác là không phải những con voi bị chìm sâu trong vực thẳm như thời Hannibal, mà là những khẩu pháo, những bệ pháo, những hòm đạn. Tướng Lannes đi tiên phong và đằng sau là toàn bộ quân đội của Bonaparte kéo thành một đường dài vô tận giữa một bên là vách đá, một bên là bờ vực cheo leo. Cuộc vượt qua núi Apls bắt đầu ngày 16 tháng 5 đến ngày 21, Bonaparte cùng với quân chủ lực đã tới đèo Saint Bernard, trong khi ấy, đằng trước họ, ở sườn núi bên nước Ý đã bắt đầu có những cuộc chiến đấu của đội tiên phong với lực lượng tiền đạo nhỏ yếu bảo vệ sườn núi của quân Áo. Quân Áo bị đánh lui, quân Pháp càng tiến gấp xuống phía Nam và toàn bộ lực lượng của Bonaparte thình lình tràn ra. Hết sư đoàn này đến sư đoàn khác, từ những khe núi miền Nam rặng Apls xuất kích, triển khai sau lưng quân Áo.

Không bỏ phí một giờ, Bonaparte tiến thẳng đến Milan và, ngày 2 tháng 6 năm 1800, đã vào thủ phủ xứ Lombardia; Bonaparte chiếm tiếp Pavia, Cremona, Piacenza, Brescia và nhiều thành phố khác và đến đâu cũng làm quân Áo thất điên bát đảo; họ không hề ngờ rằng hướng tiến công chính lại từ phía ấy. Quân đội của Melas đang còn ở xung quanh Genoa và đáng lẽ vài ngày sau nữa thì chiếm lại được Genoa từ tay quân Pháp. Nhưng sự xuất hiện của Bonaparte ở Lombardia đã làm tiêu tan thắng lợi ấy của quân Áo.

Cũng bất ngờ như vậy, Melas hộc tốc kéo quân đi chạm trán với quân Pháp từ phía Bắc kéo xuống - Làng Marengo nhỏ bé nằm giữa cánh đồng trải rộng Alexandria và Torino.

Ngay từ đầu mùa đông năm 1800, trong cung điện ở Paris, ngón tay chỉ vào cái địa phương ấy trên một tấm bản đồ chi tiết về miền Bắc nước Ý, Bonaparte đã nói với các tướng lĩnh rằng: “Đây, chúng ta phải đánh bại quân Áo ở đây”. Cuộc giao chiến lớn của cả đôi bên đã xảy ra ngày 14 tháng 6 năm 1800, đúng ở chỗ đó.

Nói chung, trận này đã có ảnh hưởng to lớn trên trường chính trị quốc tế, cũng như đối với sự nghiệp lịch sử của Napoléon nói riêng. Một bầu không khí lo âu bao trùm lấy Paris và khắp nước Pháp. Ngày ngày, bọn Bảo Hoàng mong chờ tin báo Bonaparte chết trong vực thẳm núi Apls; người ta cũng biết quân đội Áo rất mạnh và pháo binh của họ còn mạnh hơn pháo binh của quân Pháp. Có tin đồn quân Anh sẽ đổ bộ ở Vendée. Cadoudal và bạn hữu của y, những thủ lĩnh Bảo Hoàng, nhận định sự phục hưng của dòng họ Bourbon nếu chưa phải là sự việc đã thành thì trong một ngày rất gần đây tất cũng sẽ thành. Họ chỉ đợi hiệu báo: Tin Bonaparte chết hoặc quân đội Pháp bại trận. Ở Châu Âu, ngay trong các nước trung lập người ta lo âu theo dõi quá trình của các biến cố. Ở những nơi đó người ta cũng chỉ đợi chờ sự chiến thắng của quân Áo để gia nhập Khối Liên Minh chống lại nước Pháp. Bọn Bourbon chuẩn bị để lên đường về Paris.

Napoléon, các tướng lĩnh, sĩ quan và binh lính của ông đều thấy rất rõ tầm quan trọng của trận đánh và những khả năng dẫn tới bại trận: Lần này quân Áo trội hơn hẳn về số lượng; họ được nghỉ ngơi thoải mái, được yên ổn đóng quân trong các thành phố và các làng mạc Ý, trong khi ấy binh lính của Napoléon phải gian khổ vượt đèo Saint Bernard, Bonaparte có cả thảy 20.000 quân và chỉ điều động bộ phận pháo loại tồi nhất cùng vượt đèo Grand Saint Bernard với ông hồi tháng 5, còn pháo binh chủ lực đã hành quân đến chậm vì bị mắc vây và đánh chiếm một cứ điểm mạnh trong núi che chở cho quân Áo. Trong khi Melas chỉ huy một đạo quân 30.000 người và 100 cỗ pháo có đầy đủ đạn dược thì Bonaparte lại còn phải giao cho tướng Desaix một phần trong số pháo tồi của mình. Thế là Bonaparte chỉ có 15 khẩu pháo để chống với 100 khẩu của quân Áo.

Trận đánh khởi đầu vào buổi sớm ngày 14 tháng 6 năm 1800 ở gần Marengo, và đã phát hiện ngay được lực lượng quân Áo. Quân Pháp vừa đánh vừa lùi và giáng cho quân địch những đòn đích đáng, nhưng bản thân cũng bị thiệt hại nặng. Đến hai giờ chiều, trận đánh xem chừng thất bại, không thể cứu vãn được. Quá ba giờ, Melas ca khúc khải hoàn, cử người về Vienna báo tin quân Áo toàn thắng, thu nhiều chiến lợi phẩm và tù binh, tướng vô địch Bonaparte đã thất bại. Tình trạng hỗn độn đã bao trùm lên tổng hành dinh quân đội Pháp. Bonaparte giữ thái độ bình tĩnh, vừa nhắc nhở cần phải cầm cự, vì trận đánh chưa kết thúc. Và đến ba giờ chiều, tình thế đột nhiên thay đổi một cách bất ngờ, bởi sư đoàn Desaix được phái xuống phía Nam để cắt đường rút lui của quân địch đang từ Genoa cấp tốc hành quân quay trở lại, đã công kích ồ ạt vào quân Áo đúng giờ phút quyết định chiến trường.

Quân Áo hết sức tin tưởng vào sự toàn thắng của họ đến nỗi lúc ấy có nhiều đơn vị quân đội Áo chuẩn bị nghỉ ngơi và ăn chiều. Bị sư đoàn tinh nhuệ của Desaix ập đánh và tiếp đó là tất cả các đơn vị của Bonaparte cũng đánh vào, quân đội Áo hoàn toàn bị đánh bại. Năm giờ chiều, quân Áo bỏ chạy, bị kỵ binh Pháp truy kích. Tướng Desaix hy sinh ngay từ phút đầu của trận đánh, và khi trận ấy - một trong những chiến thắng lớn nhất của đời mình sắp kết thúc, Napoléon nghẹn ngào nói: “... Nhưng Desaix!... Chao ôi, ngày hôm nay ắt là đã đẹp lắm nếu tối nay tôi được ôm hôn Desaix ở trên chiến trường! Tại sao không cho phép tôi được khóc?...”, đó là những lời nói mà trước đây vài tiếng đồng hồ, lúc cuộc chiến đấu đang gay go quyết liệt nhất, Napoléon đã phải thốt ra khi được tin Desaix vừa mới từ trên mình ngựa ngã xuống.

Những bạn chiến đấu của Napoléon chỉ thấy có hai lần mắt ông ta đẫm lệ sau khi giao chiến. Lần thứ hai vào vài năm sau, khi Napoléon nhìn Thống Chế Lannes chết ở trong tay mình, hai chân bị đạn đại bác tiện đứt.

Trong lúc triều đình Vienna đang hoan hỉ đến cực điểm về những tin tức đầu tiên tốt lành của Melas đưa về thì một người thứ hai đến báo tin thất bại thảm hại vừa mới xảy ra. Nước Ý lại bị mất, với quân Áo thì dường như là mất vĩnh viễn. Kẻ thù đáng sợ của họ lại một lần nữa chiến thắng. Những tin tức đầu tiên về một trận đánh lớn ở Ý bay về đến chính phủ Paris vào ngày 20 tháng 6 (ngày đầu Tháng Gặt), sáu ngày sau trận đánh. Nhưng mới chỉ là những tin đồn đại mập mờ. Trong thành phố, người ta lo âu chờ đợi tin tức. Người ta kể chuyện lại rằng: Theo một vài nguồn tin thì trận đánh đã thất bại và Bonaparte đã chết. Bỗng nhiên, vào buổi trưa, một phát đại bác nổ vang, phát thứ hai, rồi thứ ba; một người đưa thư về, mang những tin chính thức như sau: Quân đội Áo bị đánh tan hoàn toàn, bị tước một nửa số pháo và hàng nghìn quân Áo bị bắt làm tù binh hoặc bị chém; nước Ý lại sa vào tay Bonaparte.

Lần này, nỗi vui mừng hoan hỉ không phải chỉ có trong những khu tư sản mà còn cả trong những khu thợ thuyền: Đã từ lâu người ta chưa thấy vùng ngoại ô Saint Antoine có quang cảnh tấp nập như vây. Thợ thuyền đã không thể thấy trước được rằng người chủ mới sắp hoàn thành việc đàn áp họ bằng bàn tay sắt, sắp ban hành “tiểu bạ công nhân” để họ phụ thuộc hoàn toàn vào bọn chủ, rằng chính thể mới vĩnh viễn bóp chết cách mạng và sẽ mở đầu cho thời đại của sự củng cố vững vàng và nền nếp một trật tự xã hội dựa trên sự bóc lột sức lao động một cách hợp pháp và dễ dàng của tư sản.

Ở Paris, ở lân cận các thị trường chứng khoán, các nhà ngân hàng, trong đám cưới người sang trọng ở các khu phố lớn, nỗi vui mừng hoan hỉ lại càng lớn chính là vì cái người chiến thắng, chàng Bonaparte kia, đã bóp chết cách mạng vào ngày 18 và 19 Tháng Sương Mù và vừa đổi mới ổn định được địa vị của mình ở các chiến trường bằng trăm nghìn thủ đoạn, một mặt giơ bàn tay thép đè bẹp “sự vô chính phủ”, phá tan mọi âm mưu chống các nhà hữu sản và quyền tư hữu, mặt khác không quay trở lại chế độ quân chủ quý tộc và phong kiến. Một vài người Jacobin bất mãn thì trùm chăn, bọn Bảo Hoàng thì đau khổ.

Nhưng bọn họ, ai nấy đều bị làn sóng vui mừng lớn đang tràn dâng ở Paris và ở các tỉnh gạt ra một bên. Trong không khí ấy còn lẫn lộn cả sự say sưa kiêu ngạo của tinh thần “ái quốc quân sự” cuồng nhiệt bốc lên như một cơn sốt, kể cả những người đến tận bây giờ vẫn còn tỉnh táo nhất. Khi vị Tổng Tài thứ nhất về Paris thì những mối hân hoan cuồng nhiệt ấy trào lên đến cực điểm. Trong quần chúng đi đón, một biểu hiện, dù là rất nhỏ, tỏ ra lạnh nhạt đối với Bonaparte đều bị coi là bằng chứng thân Bảo Hoàng. Người ta la ó: “Đây là nhà của bọn quý tộc! Sao cái nhà này không trưng đèn lên!” Và tức thì người ta đập phá cửa kính của căn nhà khả nghi đó. Suốt ngày, một khối người đông nghịt vây quanh cung Tuileries, hoan hô mời Bonaparte ra mắt. Nhưng Bonaparte không ló mặt ra ban công.

2

Sau trận Marengo, trước hết Bonaparte phải ký hòa ước với quân Áo. Sau đó, ông ta muốn thương lượng với nước Anh, với Châu Âu Liên Minh nói chung, và cuối cùng là tiếp tục hoàn thành việc xây dựng pháp chế đã bắt đầu từ sau cuộc đảo chính Tháng Sương Mù, nhưng bị gián đoạn vì đi đánh nước Ý.

Nhưng một nỗi lo âu khác làm Bonaparte phải quan tâm tới và buộc ông ta phải chuyển hướng những nhiệm vụ cơ bản của mình trong suốt cả thời kỳ của chế độ Tổng Tài: Cuộc đấu tranh chống những người Jacobin và Bảo Hoàng. Fouché cho rằng trước mắt là bọn Bảo Hoàng đang gây mối uy hiếp nghiêm trọng nhất, nhưng Bonaparte đã không còn tin Fouché nữa, cho rằng vì sợ sự phục hưng của bọn Bảo Hoàng mà Fouché đã không thấy cái tai họa có bạn cũ của y sẽ gây ra và không muốn truy tố họ, cho là họ ít có cơ hội trở lại nắm chính quyền. Nhưng sau trận Marengo, riêng vị Tổng Tài thứ nhất đã thấy rằng những người Jacobin là kẻ thù đáng sợ nhất. Ngay từ những ngày đầu chuyên chính, Napoléon đã phải tính đến những kẻ thù “phái tả” và “phái hữu” của ông, đó là những người Jacobin và bọn Bảo Hoàng, đối với hai loại kẻ thù này, Napoléon đối phó và cư xử không giống nhau.

Thỏa hiệp với bọn Bảo Hoàng, Napoléon tỏ ra sẵn sàng công khai tiến hành đàm phán hòa bình với bọn chúng. Chính quyền Tổng Tài sẵn sàng nhận những kẻ Bảo Hoàng đã được xác nhận là Bảo Hoàng vào làm việc, bằng cách biểu dương chính cái thực tế là họ ưng thuận phục vụ Bonaparte bọn họ đáng được khoan hồng. Hơn nữa, Bonaparte đã tỏ ra là mình sẵn sàng tha thứ và quên hết mọi việc bằng cách ân xá cho một vài tên Bảo Hoàng.

Nhưng đối với những người Jacobin thì sự tình hoàn toàn khác. Sự thật là Bonaparte căm thù và khủng bố họ. Có bao giờ Napoléon là một người cách mạng đâu; tình thân mật nhất thời với người em trai của Robespierre và những người Jacobin chẳng qua chỉ là chủ nghĩa cơ hội. Bản chất chuyên chế, lại độc tài đến tận chân tơ kẽ tóc, sau ngày 18 Tháng Sương Mù, Napoléon đã khao khát thiết lập dưới hình thức này hoặc dưới hình thức khác nền quân chủ mà bọn đại tư sản mong mỏi. Napoléon không thể đánh giá đúng quá khứ của những người Jacobin, cái đã tạo nên công lao to lớn của họ về mặt lịch sử, và công lao đó chính là ở chỗ họ đã cứu được cách mạng trọng giờ phút hiểm nghèo nhất. Hơn nữa, vì câu kết với giai cấp đại tư sản, bênh vực quyền lợi của chúng mà Napoléon đã đồng hoá với cách nhìn của chúng: Chỉ nhìn thấy tính chất đàn áp dữ dội của nền chuyên chính Jacobin mà thôi, đồng thời cố tình lờ đi những nguyên nhân tất yếu của hiện tượng ấy và những kết quả của sự cứu vãn nước Pháp cách mạng. Vào năm 1812, không tìm ra được cách nào hơn nữa để lăng nhục Rostopchin, người mà ông ta cho là đã đốt thành Moscow, Napoléon bèn gọi Rostopchin là “Marat Nga”, vậy là đã so sánh một người đã hiến dâng cả đời mình cho cách mạng với tên chúa đất Moscow, với tên chủ nô; đối với Rostopchin, việc cứu nước Nga đồng nhất với việc duy trì chế độ nô lệ và việc Rostopchin tham gia bảo vệ tổ quốc bằng “Những tờ cáo thị” chỉ có giá trị như một tên hề và một tên pha trò ở hội chợ. Rostopchin vô cớ thọc gậy vào bánh xe của Kutuzov và tố cáo Kutuzov với Nga Hoàng. Về mặt chính trị thì cũng có lợi cho Napoléon, vì như vậy trong tư tưởng của thế hệ trẻ, nền chuyên chính Jacobin đã không gợi ấn tượng gì khác ngoài những sông máu, núi xương và muôn hình muôn vẻ tàn khốc.

Tuy nhiên, khối óc minh mẫn rất mực của Napoléon không thể hoàn toàn phủ nhận mọi thành tích của nền chuyên chính ấy được. Napoléon căm thù những người Jacobin, nhưng có lần, vào năm 1793 - 1794, khi nói về nền chuyên chính Jacobin, Napoléon đã tuyên bố thẳng ra rằng Hội Nghị Quốc Ước đã cứu vãn nước Pháp. Mặt khác, Napoléon vô cùng khinh bỉ Louis XVI, như ông ta đã khinh bỉ những kẻ tâm hồn yếu đuối, “Báo cho bà ấy biết rằng tôi không phải là Louis XVI”, Napoléon đã nói như vậy khi được biết bà Stael đã nói quá nhiều ở trong phòng khách của bà ta. Và khi biết đích xác rằng những kẻ thù bất khuất nhất và không đội trời chung nhất là ở trong số những người Jacobin còn lại thì dù còn chưa tìm thấy họ, Napoléon vẫn hành hạ tàn nhẫn những người Jacobin.

Việc hành hạ những người Jacobin bắt đầu từ sau ngày 18 Tháng Sương Mù và trong thực tế, đến tận mãi cuối thời kỳ đế chế vẫn chưa chấm dứt, không kể một đôi lúc tạm ngừng. Những vụ bắt bớ người Jacobin hoặc những người coi như có quan hệ mật thiết với họ diễn ra ở thủ đô và hơn nữa còn ở cả các tỉnh. Giai cấp quý tộc địa phương không bị xâm phạm, bọn lưu vong thì được ân xá trở về, giai cấp tư sản sống đàng hoàng thoải mái, và ở nông thôn, tầng lớp nông dân hữu sản mới, tất cả đều nhẵn mặt những người lãnh đạo cũ của cái tổ chức Jacobin địa phương, những viên chức cũ của thời Robespierre; bây giờ họ thanh toán mối thù cũ của họ với đối phương một cách thậm tệ, khốc liệt gấp trăm lần. Nhờ hành động khiêu khích điên cuồng của bọn cảnh binh chính trị, người ta đã đưa vội ra được cái gọi là “âm mưu” ngày 10 tháng 10 năm 1800, nghĩa là người ta bắt được ở Nhà Hát Lớn bốn người đàn ông mang dao găm, tìm cách lọt vào buồng xem hát riêng của vị Tổng Tài thứ nhất. Đem giết cả bốn người ấy vẫn chưa vừa lòng nên người ta còn tiến hành bắt bớ trong khắp nước Pháp hàng loạt những “người Jacobin”. Phần lớn những người này không bao giờ được trở về tổ quốc nữa, hoặc có thì chỉ khi nào đã bị tàn phế sau nhiều năm cấm cố tù đày. Một số chết ở trong nhà giam (lúc bấy giờ nạn “tự tử” của các tù nhân chính trị rất phổ biến), một số khác chết ở Cayenne, một thuộc địa của nước Pháp chuyên dùng để đày ải. Sau vụ “âm mưu” ấy một tháng, (ngày 18 tháng 11 năm 1800), cảnh binh của Fouché bắt được một người Jacbin chính cống là Sovalie đang chế tạo một quả bom. Một làn sóng bắt bớ và tù đày mới lại tràn ngập khắp nước. Người ta bắt bớ lung tung, bắt cả những người “đáng ngại” tuy họ chẳng biết tí gì về cái ông Sovalie ấy cũng như âm mưu của ông ta. Hơn nữa, vào tháng 12 năm ấy, lại xảy ra vụ âm mưu ghê gớm nhằm hạ sát vị Tổng Tài thứ nhất; thực tế, những người Jacobin chẳng hề dính líu gì vào mụ này, nhưng Napoléon đã vin vào cớ đó để dùng những biện pháp mới khốc liệt hơn chống những người Jacobin.

Ai muốn tìm hiểu sâu bản chất của Napoléon và muốn tìm hiểu những động cơ thực của ông ta thì không nên để mình bị cám dỗ bởi những manh ý khéo léo đầy rẫy trong vô số cuốn sách viết về ông ta; những cuốn sách ấy đều miêu tả Napoléon cụ thể như một người “nửa cách mạng”; trước hết là bọn thù địch của Napoléon thường gọi như vậy, rồi vào nửa đầu thế kỷ thứ XIX thì bọn xu nịnh gọi ông ta là “một Robespierre cưỡi ngựa”.

Nhưng không bao giờ ông ta là thế cả. Bản chất chuyên chế, bẩm sinh độc tài, nhưng biết tính đến hoàn cảnh, nên trong những ngày đầu, Napoléon thấy cần thiết phải để cho một vài dấu vết thuần tuý hình thức ấy của nền Cộng Hòa tư sản được tồn tại. Nhưng ngay sau khi đã có thể làm được thì Napoléon quét sạch tất cả những gì của nền Cộng Hòa để lại và kiên quyết dốc hết tâm trí vào việc biến nước Pháp thành một quốc gia quân phiệt và chuyên chính, biến Châu Âu thành một cụm vương quốc chư hầu, thuộc địa và nửa thuộc địa hoàn toàn lệ thuộc và cái chế độ quân phiệt hà khắc ấy. Dưới nền quân chủ Napoléon không có chỗ đứng cho người Jacobin và tư tưởng Jacobin với những ước vọng như: Thành lập “những nước Cộng Hòa anh em”, thực hiện bình đẳng và tự do. Napoléon ghét cay ghét độc những điều ấy. Engels đã chú ý đặc biệt đúng mức đến cái ngày có tính chất lịch sử (ngày “thành hôn của nước Áo “), vì sau ngày ấy, nền đế chế mới của Napoléon bắt đầu nhanh chóng mang tất cả những đặc điểm bề ngoài của nền quân chủ cổ truyền. Rất tự nhiên rằng hình thức tàn bạo cũ hay mới đều không thể nào dung hòa được với truyền thống anh hùng Jacobin, cũng không thể dung hòa được với ngay cả những hồi ức hết sức yếu ớt và thậm chí giản đơn nữa về nền Cộng Hòa tư sản đã qua. Cuộc đàn áp man rợ và hoàn toàn độc đoán chống người Jacobin, trừ những hình thức “hợp pháp” đã đặt ra, là một trong số những đặc điểm rõ nhất của triều đại Napoléon. Không đếm xỉa gì đến ý kiến của chủ mình, ngay sau ngày 18 Tháng Sương Mù - như trên đã nói - Fouché cho rằng những người Jacobin hiện không nguy hiểm như bọn Bảo Hoàng, những kẻ tán thành việc phục hưng dòng họ Bourbon.

Đúng là trong hoàn cảnh ấy, Fouché đã tỏ ra hơn người chủ của y nhiều về trí sáng suốt của một tên mật thám. Sự thật là bá tước xứ Provence, kẻ nhấp nhổm muốn lên ngôi vua nước Pháp. Chales, em trai y và hầu hết những kẻ thủ lĩnh xuất dương đều tin rằng sau Tháng Sương Mù thì bản thân sự thắng lợi của cuộc đảo chính cùng việc thiết lập nền chuyên chính đã vạch ra rằng thời cơ phục hưng nền quân chủ đã chín muồi. Nếu đã như vậy thì hẳn là bây giờ nước Pháp muốn một nền quân chủ lịch sử cố hữu hơn là muốn khuất phục một tay mạo hiểm người Corsica? Sau 10 năm sôi sục, ngày 18 và 19 Tháng Sương Mù, cách mạng đã bị giết tươi. Từ nay trở đi, cái bàn tay đã bóp chết Viện Đốc Chính hồi tháng 11 năm 1799 ở Saint Cloud và đã đánh bại quân Áo ở Marengo hồi tháng 6 năm 1800, chỉ còn có việc đặt ông vua rất ngoan đạo là Louis XVIII, trong một thời gian nữa vẫn còn là bá tước xứ Provence lên ngai của tổ tiên. Người ta không rõ ông bá tước Provence có tự mình quyết định lấy cuộc vận động lạ lùng ấy không (trước trận Marengo, sau cuộc đảo chính Tháng Sương Mù ba tháng rưỡi), hay là do sự bày mưu vẽ mẹo của người em, con người mà tạo hoá đã quá hà tiện khi ban phát trí thông minh; chỉ biết rằng Louis đã gửi từ Mitaux, nơi Louis cư trú lúc đó, một bức thư lên Tổng Tài thứ nhất, trong đó yêu cầu Bonaparte phục hưng triều đại của dòng họ Bourbon. Bonaparte chỉ còn việc đòi hỏi cho mình và cho bạn hữu mọi sự đền bù mà Bonaparte muốn tức khắc được ngay! Hơn nữa, Bonaparte sẽ được “đời sau mang ơn”! Bonaparte không trả lời. Thế là người ta lại cấp tốc gửi cho Bonaparte cũng như Joséphine những thông điệp mới, những đề nghị mới, những thư từ mới.

Mùa hạ năm 1800, sau trận Marengo, Louis lại thỉnh cầu lần nữa lên Tổng Tài thứ nhất khi thấy hiển nhiên Napoléon có thể quyết định vận mệnh nước Pháp theo ý muốn. Lần đầu và cũng là lần cuối cùng, Bonaparte trả lời cho kẻ nhòm ngó ngôi vua: “Thưa ngài, tôi đã nhận được thư ngài. Xin cảm ơn ngài đã nói với tôi những điều thật thà trong thư. Ngài không nên hy vọng quay trở về nước Pháp; ngài sẽ phải bước lên hàng chục vạn xác chết. Ngài hãy hy sinh quyền lợi của ngài cho an ninh và hạnh phúc của nước Pháp, lịch sử sẽ nhớ tới ngài”.

Khi bọn lưu vong biết Bonaparte không phải là hạng người để người ta trị, mà đúng là kẻ đi trị vì nước khác, và đứng trước sự chối từ dứt khoát của Bonaparte người ta quyết định giết ông ta. Ý định trên nảy ra dường như cũng cùng một lúc trong phái Jacobin. Nhưng đối với những người Jacobin, sự việc đã kết thúc bằng một cuộc khiêu khích thắng lợi của Fouché. Khi bọn tay chân báo cho biết có một âm mưu đang được chuẩn bị và biết đích xác sẽ xảy ra, ở nhà hát vào buổi diễn tối ngày 10 tháng 10, Fouché cho bắt những người chủ mưu (Ceracsi, Arena, Demercin, Topino Lebrun) ngay khi bọn người vũ trang ấy đang lần tới chỗ ngồi của Tổng Tài thứ nhất. Về sau, người ta đã quả quyết rằng vũ khí ấy là do chính Fouché cung cấp cho họ. Những người chủ mưu bị hành hình và ảnh hưởng của Fouché được củng cố. Bọn khiêu khích của Fouché hoạt động ráo riết, tìm cách thâm nhập khắp nơi, từ những phòng chơi của giới thượng lưu cho đến những quán ăn tồi tàn nhất.

Ngày 3 Tháng Tuyết (tức là ngày 25-12-1800), khi Tổng Tài thứ nhất qua phố Saint Nicaise đến nhà hát thì có một tiếng nổ khủng khiếp. Xe của Bonaparte đi qua cạnh quả bom ấy đúng 10 giây thì có tiếng nổ. Hè phố ngổn ngang người chết và bị thương, còn chiếc xe bị hư hỏng phần nửa phía sau, vun vút đưa Bonaparte bình yên vô sự đến nhà hát. Ông ta vào chỗ ngồi, vẻ ngoài rất thản nhiên, đến nỗi một lát sau công chúng ngồi đầy trong rạp mới biết tin sự biến xảy ra. Cuộc điều tra ngay tại chỗ lúc đầu không đem lại kết quả gì, ở nơi xảy ra vụ mưu sát không có ai bị bắt. Bonaparte tin chắc rằng cuộc mưu sát lần này do người Jacobin bố trí. Trong khi buộc tội Fouché là đã quá quan tâm đến bọn Bảo Hoàng và không chú ý đầy đủ đến người Jacobin, Bonaparte quyết định thanh toán gọn cánh tả. Lệnh ban ra lập một bản danh sách 130 tên gồm những thủ lĩnh Jacobin hoặc những người liệt vào loại như vậy; họ bị bắt và phần lớn bị đày ra Guyana và Seychelles. Có mấy ai ở đó đã được trở về. Ở các tỉnh, bọn Quận Trưởng bám riết hết thảy những ai trong thời kỳ cách mạng đã tỏ ra bằng hành động hoặc bằng lời nói, hưởng ứng cuộc đấu tranh kiên quyết chống bọn phản động. Bọn phản động vừa thoát khỏi cơn bão táp bây giờ quay lại tính sổ với người Jacobin. Một vài người có tên trong bản danh sách đầu tiên của Fouché không bị đi đày nhưng lại bị cùm chặt ở trong các nhà tù của Nhà Nước, không được xét xử và ngay cả khi đã tìm ra sự thật, họ cũng không được ra khỏi nhà lao. Kẻ tìm ra sự thật không ai khác ngoài Fouché, và hầu như hắn đã tìm ra sự thật đồng thời với lúc hắn đưa những người Jacobin đi đày hoặc tống họ vào nhà tù. Thật ra Fouché là kẻ đầu tiên biết rằng người Jacobin không dính líu gì đến vụ mưu sát và hắn đày họ đi chẳng qua chỉ để lấy lòng Napoléon trong cơn thịnh nộ.

Đúng hai tuần lễ sau cuộc mưu sát, trong lúc cuộc khủng bố chống người Jacobin đang ở đỉnh cao, người ta bắt một tên François Carbon nào đó, rồi đến lượt Bourmont và vài chục tên Bảo Hoàng trú ngụ ở Paris một cách hợp pháp hay không hợp pháp. François Carbon và Saint Réjeant, những tên thủ phạm trực tiếp của vụ mưu sát, đã thú tội. Âm mưu hoàn toàn do bọn Bảo Hoàng tổ chức nhằm giết Bonaparte và dẫn đến sự phục hưng dòng họ Bourbon. Điều đó không làm cản trở sự thi hành những biện pháp chống người Jacobin, mà đồng thời còn làm cho Bonaparte quyết tâm thẳng tay chống bọn Bảo Hoàng. Đứng về mặt chính trị mà nói, như vậy là Bonaparte đã quyết định hành động nhất cử lưỡng tiện.

Sau này, khi người ta nói với Bonaparte rằng Fouché thừa nhận những người Jacobin bị mang đi đày là hoàn toàn vô tội, Bonaparte trả lời: “Úi chà... Fouché, bao giờ hắn cũng như vậy! Mà bây giờ việc ấy đối với tôi không thành vấn đề lắm, tôi giũ được của nợ ấy đi rồi” (tức là những người Jacobin). Theo bước những người Jacobin, những kẻ Bảo Hoàng chính phạm bị đưa lên máy chém, còn những kẻ khác thì một số lớn bị đưa đi đầy.

Tuy nhiên, cơn thịnh nộ của Bonaparte với bọn Bảo Hoàng lúc đó không mãnh liệt như người ta tưởng. Để phán đoán điều đó, phải căn cứ vào sự đàn áp đã giáng xuống những người Jacobin là những người hoàn toàn vô tội trong “vụ bom nổ”. Nhưng những người thân cận của Napoléon nhận xét rằng, Napoléon đã trút hết giận dữ lên đầu những người Jacobin trong những ngày mới xảy ra vụ mưu sát, vậy thì ông ta còn đâu giận dữ nữa để mà trút lên đầu bọn Bảo Hoàng. Chỉ căn cứ vào trình tự tâm lý như vậy thì tìm sao được chân lý. Napoléon biết rất rõ phải hung bạo khi xét ra cần thiết, đồng thời ông ta vẫn giữ được hoàn toàn bình tĩnh. Vấn đề không phải là ở chỗ đó, mà ở chỗ Napoléon nhằm mục đích tách những phần tử Bảo Hoàng thực tâm muốn hòa hợp với nền trật tự mới ở nước Pháp ra khỏi dòng họ Bourbon. Nói một cách khác, kẻ Bảo Hoàng nào thừa nhận quyền hành của Napoléon là hợp pháp và với riêng ông ta, kẻ nào chịu khuất phục không một lời phàn nàn thì ông ta sẵn sàng thu nạp và tha cho những tội lỗi trước, nhưng với những kẻ ngoan cố, với những kẻ nào chỉ nghĩ đến việc phục hưng dòng họ Bourbon thì Napoléon kiên quyết chống đến cùng.

Ngay trước khi xảy ra trận Marengo, Tổng Tài thứ nhất đã chỉ thị cho Fouché lập danh sách bọn xuất dương có thể cho phép quay trở về nước Pháp và mặc dầu có “vụ bom nổ”, những danh sách ấy vẫn được tiếp tục lập. Những bản danh sách đầu tiên gồm khoảng 10.000 người, trong đó có chừng 52.000 người đã được trở về theo một nghị định ngày mồng 1 Tháng Hái Nho (20 tháng 10 năm 1800). Trong những bản danh sách mới, đặc biệt số người tăng lên gấp một lần rưỡi số dự định. Trong số 145.000 người xuất dương, có chừng 141.000 người được phép trở về Pháp dưới sự giám sát của cảnh binh. Chỉ có 3.373 người không được hưởng sự ân xá đó. Nhưng Bonaparte không dừng lại đây: Theo nghị quyết của Thượng Nghị Viện ban hành vào tháng 5 năm 1802, tất cả những người xuất dương nào tuyên thệ trung thành với chế độ mới đều được quyền trở về Pháp. Rất đông người xuất dương, kéo lê cuộc đời khốn khổ ở nước ngoài, đã nhận biện pháp ấy để trở về nước Pháp.

Trong một thời gian, những vụ mưu hại không xảy ra. Với tinh thần kiên quyết gấp bội, Bonaparte dành hết tâm trí vào việc ngoại giao. Trước và sau thời kỳ này, chưa bao giờ Bonaparte lại tha thiết muốn tăng cường sự đoàn kết với các nước đến như vậy. Ông ta cần đến nó để ổn định nền tài chính và cũng còn vì đa số nhân dân Pháp tỏ rõ ra là khao khát hòa bình; cuối cùng, Bonaparte hy vọng đó sẽ là một cuộc tạm ngừng chiến để ông ta có thời gian hoàn thành những cải cách đã tiến hành và thực hiện những cải cách mà ông ta đang ôm ấp, trù tính.

3

Trong lĩnh vực cảnh sát chính trị, Bonaparte đã chọn được một tên trùm về thuật khiêu khích và nghề mật thám như Fouché, thì trong lĩnh vực ngoại giao, Bonaparte cũng may tay chọn được một trợ thủ, bởi vì hoàng thân Talleyrand đã tỏ ra là một tay kỳ tài về nghệ thuật ngoại giao. Nhưng thái độ của Tổng Tài thứ nhất đối với hai còn người này có khác nhau: Napoléon sử dụng Fouché và bộ hạ của y, nhưng vẫn coi và gọi chúng là lũ côn đồ; nghi ngờ Fouché, Napoléon còn có tổ chức riêng của mình để giám sát Fouché, dẫu rằng trong loại tranh chấp này, đương nhiên là Napoléon khó mà thắng được viên Bộ Trưởng của mình. Về mặt này thì, dù là Napoléon hay Alexander đại đế cũng chẳng hơn được Fouché. Trong nháy mắt, Fouché đã vạch mặt được nhưng người do Napoléon bố trí theo dõi y. Trong phạm vi cảnh sát Napoléon cần tới Fouché và những tài ba đặc biệt của y, vì trong vấn đề này Bonaparte còn bám gót viên Bộ Trưởng của ông ta và còn phải nhờ cậy vào Fouché. Trái lại, trong nghệ thuật ngoại giao, Napoléon không chịu nhường Talleyrand một ly, mà còn trội hơn về một số điểm. Mặc dầu Talleyrand là một viên Bộ Trưởng Ngoại Giao vô cùng tài năng, nhưng chính Napoléon đã chỉ giáo cho Talleyrand, và chính Napoléon đã chỉ đạo những cuộc đàm phán hòa bình quan trọng; vai trò của Talleyrand thu hẹp lại trong phạm vi góp ý kiến, thảo các văn kiện ngoại giao và thực hiện đường lối đã định để đạt mục đích.

Không chút nghi ngờ gì về một trong những thắng lợi to lớn của Napoléon là ông ta đã làm cho đường lối chính trị của nước Nga thay đổi hoàn toàn. Napoléon báo cho Hoàng Đế Pavel, người đang chính thức tiến hành chiến tranh với nước Pháp, biết rằng ông ta muốn giao trả ngay tức khắc về Nga tất cả những tù binh người Nga đang bị người Pháp giữ sau cuộc thất bại của đạo quân Korsakov vào mùa thu năm 1799, không yêu sách một sự trao đổi nào hết (thật ra lúc đó hầu như không có tù binh Pháp ở Nga). Chỉ một cách ấy mà đã làm cho Pavel bị mê hoặc, quyến rũ, và để kết thúc công việc, Pavel phái tướng Sprengporten đến Paris.

Sprengporten tới thủ đô Pháp vào giữa tháng 12 năm 1800. Ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên, Bonaparte đã vừa biểu lộ mối thiện cảm đằm thắm nhất và lòng quý mến nhất đối với Hoàng Đế Pavel, vừa nhấn mạnh lòng độ lượng và tâm hồn cao cả của Pavel mà theo ông ta chính là những cái đó đã làm cho Nga Hoàng nổi bật lên. Hơn nữa, vị Tổng Tài thứ nhất không những chỉ ra lệnh giao trả tất cả tù binh Nga (khoảng 6.000 người), mà còn chỉ thị phải trang bị mới hoàn toàn cho tù binh, do ngân sách nước Pháp chịu, những bộ đồng phục thích hợp với quân đội của họ, cấp giày mới và trả lại vũ khí cho họ. Kèm theo cái biện pháp hữu nghị có một không hai ấy giữa những người đứng đầu các quốc gia đang chiến tranh với nhau còn có một bức thư riêng của Bonaparte viết gửi Hoàng Đế Pavel; trong thư, Tổng Tài thứ nhất nói bằng những lời lẽ thân thiết nhất rằng hòa bình giữa nước Pháp và nước Nga có thể thực hiện được trong vòng 24 tiếng đồng hồ nếu Pavel cử đến Paris một người mà Pavel hoàn toàn tin cẩn. Pavel bị bức thư ấy mua chuộc. Từ kẻ thù không đội trời chung của nước Pháp, đột nhiên Pavel trở thành người bạn của nước Pháp và tức khắc gửi thư trả lời Bonaparte. Trong thư, Pavel chấp thuận hòa bình trước hết, vừa tỏ ý mong muốn chung sức với vị Tổng Tài thứ nhất trả lại cho Châu Âu “sự an ninh và sự bình yên”. Khi tiếp tướng Sprengporten, phái viên của Pavel, Napoléon đã nói với hắn rằng chủ hắn và ông ta là những người “có sứ mệnh làm thay đổi bộ mặt của thế giới”.

Sau thắng lợi đầu tiên ấy, Napoléon quyết định không những ký hòa ước với nước Nga, mà còn ký một hiệp ước liên minh quân sự, ý định liên minh xuất phát từ hai lý do: Trước hết là xoá bỏ sự xung đột quyền lợi giữa hai cường quốc và thứ hai là cái viễn cảnh sau này tập trung hết thảy lực lượng uy hiếp nền đô hộ của Anh ở Ấn Độ, bằng đường miền Nam nước Nga và Trung Á. Kể từ cuộc viễn chinh sang Ai Cập cho đến tận những năm cuối cùng triều đại của ông ta, đất nước Ấn Độ luôn luôn ám ảnh tư tưởng Napoléon. Ý nghĩ căn cốt ấy cứ cắm sừng sững trong đầu óc ông ta, mặc dầu lúc ấy cũng như về sau này chẳng bao giờ nó được biểu hiện thành một kế hoạch dứt khoát. Năm 1798, ý nghĩ ấy đến với ông ta lúc ông ta ở Ai Cập; năm 1801, ý nghĩ ấy nảy ra cùng với mối tình giao hảo bất ngờ với Nga Hoàng, và đến năm 1812, lại diễn lại trong giai đoạn đầu của chiến dịch Moscow. Trong cả ba trường hợp, ý nguyện hướng về mục đích xa xôi đó đều không bao giờ thực hiện được, nhưng, như sau đây chúng ta đã rõ, dẫu sau, về bề ngoài, công việc cũng mang hình thức một cuộc thăm dò.

Sự tiến triển tình cảm nhanh chóng đến ngạc nhiên của Hoàng Đế Pavel đối với Bonaparte đi song song và liên hệ chặt chẽ cũng hoàn toàn bất ngờ với việc Pavel căm hờn sôi sục nước Anh, người bạn liên minh khi trước của Pavel trong cuộc chiến đấu chống nước Pháp. Vào lúc này, Napoléon đã trù tính, trên những nét lớn, một cuộc phối hợp lực lượng dựa trên việc phái một đạo quân viễn chinh Pháp đặt dưới quyền chỉ huy của ông ta sang miền Nam nước Nga, nơi ông ta sẽ cùng hội sư với quân đội Nga, xong, ông ta sẽ dẫn cả hai đội quân qua Trung Á và Ấn Độ. Không những Pavel chộp vội lấy ý định đánh người Anh ở đất Ấn Độ mà còn đi trước cả Bonaparte trong những bước đầu nhằm thực hiện kế hoạch đó. Thủ lĩnh Cossacks Matvei Ivanovich Platov, bị giam cầm theo lệnh của Nga Hoàng vì lý do gì không rõ ở pháo đài Petro Pavlov từ sáu tháng nay, bỗng được lôi ra khỏi hầm giam và dẫn thẳng đến phòng làm việc của Hoàng Đế. Bất cần mào đầu, Hoàng Đế hỏi ngay Platov một câu bất ngờ sau đây: Có biết đường sang Ấn Độ không? Platov chẳng hiểu ất giáp gì cả, nhưng biết rằng nếu trả lời không biết thì chắc chắn sẽ phải trở lại ngồi tù trong pháo đài, nên đã vội vã trả lời có biết. Tức khắc Platov được chỉ định làm chỉ huy một trong bốn quân đoàn của Quân Đoàn Sông Đông và được lệnh đem hầu hết toàn bộ lực lượng tiến sang Ấn Độ, với số quân là 22.500 người. Bốn quân đoàn đó rời Sông Đông ngày 27 tháng 2 năm 1801, nhưng cuộc hành quân của họ chẳng được bao lâu thì... Châu Âu theo dõi với một mối lo âu ngày càng tăng sự thắt chặt tình hữu nghị giữa người thủ lĩnh của nước Pháp và Hoàng Đế Nga. Nếu sự liên minh giữa hai cường quốc này được củng cố thì sẽ chỉ có hai cường quốc ấy chỉ huy lục địa: Ý kiến ấy không những là của Napoléon và của Pavel mà còn là dư luận của tất cả những nhà ngoại giao ở Châu Âu hồi ấy. Một tình trạng báo động khẩn cấp thật sự trùm lên nước Anh. Đúng là hạm đội Pháp yếu hơn hạm đội Anh, và thủy quân Nga thì không đáng kể đến, nhưng những ý đồ của Bonaparte về Ấn Độ, việc phái quân Nga bất ngờ tiến về hướng đó làm William Pitt Thủ Tướng nước Anh, bực dọc lo nghĩ, người ta run sợ chờ đợi mùa xuân năm 1801 vì trong mùa này, hai nước lớn rồi đây sẽ là đồng minh với nhau có thể quyết định hành động. Nhưng ngày đầu tiên của mùa xuân, ngày 11 tháng 3, đã mang lại một sự tình khác hẳn: Napoléon nổi điên nổi khùng khi tin Hoàng Đế Pavel đệ nhất bị ám sát thình lình bay về Paris. Mọi công việc mà Napoléon đã tiến hành tốt đẹp trong vòng vài tháng một cách tài tình và hiệu quả với nước Nga nay đều sụp đổ hết. Napoléon kêu lên: “Bọn Anh đã thua tôi ở Paris ngày 3 Tháng Tuyết (vụ mưu sát ở phố Saint Nicaise - lời tác giả), nhưng chúng đã không thua tôi ở Peterburg!”. Theo Napoléon, vụ ám sát Pavel đúng là do người Anh âm mưu. Cuộc liên mình với nước Nga sụp đổ vào đêm tháng 3, lúc những kẻ mưu sát bước vào buồng ngủ của Hoàng Đế Pavel.

Vị Tổng Tài thứ nhất phải thay đổi tức khắc và thay đổi căn bản tất cả mưu chước ngoại giao của mình. Mà về những hoạt động mưu chước này thì Napoléon là người có tài sử dụng nhanh nhạy và khéo léo cũng như khi sử dụng những khẩu đại bác.

4

Từ nay trở đi, tình thế buộc phải tính nước khác: Không phải tiếp tục chiến tranh mà phải ký hòa ước với người Anh. Còn đối với nước Áo, các cuộc đàm phán đã được bắt đầu từ lâu: Ngày 9 tháng 2 năm 1801, đại diện toàn quyền người Áo là Cobenzl đã ký Hòa Ước Luneville. Các cuộc đàm phán đều do Joseph Bonaparte, anh của vị Tổng Tài thứ nhất, và do Talleyrand Bộ Trưởng Ngoại Giao chỉ đạo. Nhưng cả hai chỉ làm theo chỉ thị của Napoléon, mà Napoléon thì đã khéo léo lợi dụng tình hữu nghị bất ngờ của ông ta với Pavel.

Lâm vào hoàn cảnh bị xâm lăng cả phía Đông và phía Tây, nước Áo phải hoàn toàn nhượng bộ về mọi mặt. Sau trận Marengo và một trận chiến thắng khác của quân Pháp ở Alsace, nới Moreau đã đánh bại được quân Áo ở Hohenlinden, nước Áo quả khó mà chống cự lại được. Với Hòa Ước Luneville, Napoléon đã thu được tất cả những gì mà ông ta muốn thu về ở nước Áo: Toàn nước Bỉ bị vĩnh viễn tách khỏi nước Áo, nhượng lại đất Luxembourg, tất cả những đất đai của Đức ở tả ngạn sông Rhine, công nhận nước Cộng Hòa Batavia (nước Hà Lan), nước Cộng Hòa Helvetica (nước Thuỵ Sỹ), các nước Cộng Hòa Xidanpi và Liguria (tức là xứ Genoa và Lombardia); thật ra những đất nước ấy có gì khác hơn là thuộc địa của Pháp. Còn Piedmont thì vẫn hoàn toàn do quân đội Pháp chiếm đóng. Trong một bức thư gửi cho thủ lĩnh của mình là Coroledo, Cobenzl buồn bã nói: “Đây, đây là cái bản hiệp ước khốn nạn mà tôi đã phải ký vì cần thiết. Nội dung và hình thức của nó thật đáng ghê sợ”. Cobenzl lại càng có quyền bất bình khi biết rằng trong lúc đàm phán với triều đình Vienna, Talleyrand đã thu được nhiều lễ vật, cố nhiên là lén lút mà hắn lại chẳng làm lợi gì cho người Áo, bởi vì từ dòng đầu đến dòng cuối hiệp ước đều do Napoléon đọc cho mà viết.

Thế là từ đây, người ta không phải bận tâm về nước Áo. Rõ ràng, sau những tổn thất nặng nề kinh khủng như thế, đế quốc Áo chỉ chờ đợi thời cơ thuận lợi để khôi phục sự nghiệp. Kinh thành Vienna nhẫn nhục trông ngóng thời cơ.

Như vậy là sau khi Pavel chết đi, trong số các cường quốc chỉ còn nước Anh là đang chiến tranh với Pháp. Sau biến cố ấy, đột nhiên Napoléon thay đổi trận thế nhằm mục đích ký hòa ước với Anh càng sớm càng hay.

Nước Anh đang trong những giờ phút khó khăn. Đứng trên quan điểm thuần túy kinh tế mà nói, lúc đó trên lục địa Châu Âu, nền thương nghiệp và giai cấp tư sản thương nghiệp Anh không gặp nhiều địch thủ. Cuộc cách mạng công nghiệp và kỹ thuật vào những năm cuối cùng của thế kỷ thứ XVIII đã xác lập cho nước Anh vị trí hàng đầu trong số các cường quốc trong lĩnh vực kinh tế, và một trong những nguyên nhân làm giai cấp tư sản Pháp bực tức chống lại đường lối chính trị của chế độ cũ là hiệp ước thương mại Anh - Pháp ký năm 1786, hậu quả của hiệp ước này là thị trường nội địa của Pháp bị nền công nghiệp kéo sợi và luyện kim của Anh xâm nhập. Những nhà công nghệ Pháp đã nhiệt liệt đón nhận tất cả những biện pháp chống lại nền thương nghiệp Anh của Hội Nghị Quốc Ước và của Viện Đốc Chính, và ở Anh cũng như ở Pháp, toàn bộ cuộc chiến tranh giữa Anh và Pháp trong thời kỳ Cách Mạng đã được coi là cuộc chiến tranh của thương gia và kỹ nghệ gia Anh chống lại thương gia và kỹ nghệ gia Pháp.

Đứng đầu tất cả những công việc chính trị, tất cả những cuộc liên minh Châu Âu chống lại Pháp, là William Pitt, Thủ Tướng chính phủ Anh. Trong thời của mình, William Pitt đã viện trợ một cách hào hiệp cho nước Phổ, nước Áo, nước Piedmont, nước Nga rồi lại nước Áo và Naples, vì đứng trên quan điểm quyền lợi kinh tế và chính trị của người Anh mà nói, William Pitt đã nhìn thấy rõ sự bành trướng thế lực của nước Pháp ở trên lục địa có một ý nghĩa như thế nào.

Nhưng, những sự viện trợ cho các nước trong Khối Liên Minh Châu Âu, cũng như sự viện trợ một cách tích cực bằng hạm đội, tiền bạc, vũ khí và đạn dược cho bọn phản cách mạng ở Vendée đã không mang lại kết quả gì và vào năm 1801, ở Anh, dư luận đã bắt đầu lan tràn rộng rãi cho rằng tốt nhất là tìm cách thoả thuận với người thủ lĩnh mới của Pháp, dư luận đó không được các nhà kỹ nghệ và giới thương mại Anh tán thành một chút nào, đúng là thế, vì quyền lợi của họ đã trực tiếp gắn liền vào việc bóc lột các thuộc địa của Pháp và của Hà Lan chiếm được trong cả một cuộc chiến tranh trường kỳ. Nhưng tầng lớp thương nhân gắn chặt với nền thương nghiệp của Châu Âu lại mong muốn hòa bình; trong giai cấp thợ thuyền, phẫn nộ trào lên dữ dội chống sự bóc lột và nạn đói đang hành hạ họ lúc bấy giờ, và sự bực tức của thợ thuyền không những chỉ biểu hiện bằng những vụ phá hoại máy móc mà đôi khi còn bằng cả những hành động tiêu cực công khai.

Nói tóm lại, khi Bonaparte đã ký với nước Áo một hòa ước đặc biệt có lợi, đem lại thêm cho ông ta những vùng đất đai rộng lớn ở Đức và ở Ý, và sau cái chết của Pavel, khi ông ta ký hòa ước với người kế nghiệp của Pavel là Aleksandr, đồng thời đề nghị ký với nước Anh, thì các giới lãnh đạo Anh, nhất thời thất vọng vì không còn mong gì đánh đổ được nước Pháp, bèn quyết định đàm phán với Pháp. Đúng vào trước lúc Pavel bị ám sát. William Pitt từ chức và những người lên thay thế ông ta đều là những tay đại diện cho khuynh hướng thoả hiệp. Addington đứng đầu chính phủ và ngài Hawkesbury, Bộ Trưởng Ngoại Giao mới, đã làm cho người ta hiểu rằng nước Anh không phản đối việc ký hòa ước.

Các cuộc đàm phán hòa bình tiến hành ở Amiens, nơi mà ngày 26 tháng 3 năm 1802, hiệp ước hòa bình với Anh đã được ký kết. Nước Anh hoàn lại cho Pháp và các nước chư hầu của Pháp (Hà Lan và Tây Ban Nha) tất cả những thuộc địa mà Anh đã chiếm được của họ trong suốt chín năm chiến tranh trừ Sri Lanka và Tenerife. Đảo Malta phải trả lại cho Dòng Họ Kỵ Sĩ. Nước Anh cam kết rút quân khỏi các căn cứ đã chiếm đóng được trong cuộc chiến tranh ở biển Adriatic và Địa Trung Hải. Nước Pháp cam kết rút quân đội ra khỏi Ai Cập, rút quân khỏi La Mã để giao lại cho Giáo Hoàng cũng như tất cả những đất đai khác thuộc toà thánh. Đó là những quy định chủ yếu. Nhưng đó chưa phải là điều quan trọng nhất. Có phải vì cái đó mà giai cấp quý tộc, giai cấp tư sản Anh đã tiêu tốn hàng triệu đồng trong chín năm trời cho quân đội của họ và cho quân đội của các nước khác cũng như đưa hạm đội của họ đi rạch nát mặt nước tất cả các đại dương không? Điều làm cho các giới lãnh đạo Anh khó chịu nhất là không làm thế nào tước từ móng vuốt của Bonaparte được một trong những mảnh đất Châu Âu, mà Bonaparte đã chiếm. Nước Bỉ và Hà Lan, nước Ý, tả ngạn sông Rhine và xứ Piedmont còn là những đất đai trực thuộc Bonaparte, toàn miền Tây Đức từ nay trở đi là miếng mồi ngon của ông ta. Tất cả những nước phụ thuộc hoặc nước nửa phụ thuộc ấy, mà quyền lực của Bonaparte trùm lên trực tiếp hoặc gián tiếp, đều đã không còn là thị trường của Anh để nhập cảng sản phẩm công nghiệp Anh cũng như nhập cảng sản phẩm thuộc địa Anh. Mọi cố gắng của các viên đại diện toàn quyền Anh ở Amiens nhằm đặt cơ sở cho một hiệp ước thương mại, dù chỉ có lợi chút đỉnh cho Anh, đều toi công. Lại càng không phải là vấn đề mở cửa thị trường nội địa béo bở của Pháp, chắc chắn như vậy, Vì thị trường ấy vẫn bị phong toả chặt chẽ y như trước thời Bonaparte. Và ngoài ra, riêng về mặt quân sự và chính trị mà nói, nền an ninh của nước Anh thật như trứng để đầu đẳng trước những cuộc tiến công của nước Pháp. Giờ phút nào còn là chủ nước Bỉ, Hà Lan thì Bonaparte còn luôn nhắc lại câu: “Antwerp là một khẩu súng đã lên đạn chĩa vào tim nước Anh”.

Hòa Ước Amiens không thể tồn tại lâu dài được, vì nước Anh đã cảm thấy không thể chịu thất bại đến mức độ ấy được. Nhưng ở Paris và ở các tỉnh, khi được tin ký hiệp ước Amiens, mọi người tỏ ra rất hài lòng. Họ cho rằng kẻ thù đáng sợ nhất, giàu có nhất, hăng nhất và không đội trời chung nhất đã cam chịu thất bại, nó đã phải công nhận tất cả các nước mà Bonaparte đã chiếm. Cuộc chiến tranh trường kỳ và gian khổ với Châu Âu đã chấm dứt bằng một thắng lợi hoàn toàn trên mọi mặt trận.

5

Dưới thời Napoléon, nước Pháp và Châu Âu không được hưởng hòa bình lâu dài. Nhưng trong hai năm, từ mùa xuân năm 1801, ngày giải quyết hòa bình với nước Áo đến mùa xuân năm 1803, sau khi Hòa Ước Amiens thực hiện được một thời gian ngắn, chiến tranh lại xảy ra với nước Anh - Napoléon đã tích cực và khẩn trương giải quyết được rất nhiều công việc về tổ chức đất nước và pháp chế. Từ đó trở đi, Bonaparte có thể chuyên tâm dốc sức vào việc xây dựng pháp chế mà từ trước đến nay Bonaparte dù muốn hay không đã buộc lòng phải đình lại; đúng là từ sau trận Marengo, Bonaparte đã bắt đầu chú ý đến việc ấy, nhưng ông ta không thể đặt loại việc ấy lên hàng đầu được khi còn chưa ký kết xong hòa ước với Áo, với Anh và khi mà những mối quan hệ của Bonaparte với Hoàng Đế Pavel đang còn hướng tư tưởng của ông ta về những cuộc xung đột chiến tranh khó khăn mới và những cuộc xâm lược xa xôi khác.

Thời cơ đã đến để Bonaparte có thể đặt ra, nghiên cứu và giải quyết một loạt các vấn đề nội chính, tài chính, kinh tế hoặc các vấn đề có liên quan đến việc hộ và việc hình. Khi giải quyết các công việc chính sự mà Bonaparte không biết thì cách làm của Bonaparte như sau: Ông ta chủ toạ các phiên họp của các Hội Đồng Chính Phủ do ông ta tạo nên và, sau khi nghe xong các bản báo cáo của các Bộ Trưởng, Bonaparte ra lệnh triệu tập những người đã trực tiếp tham gia khởi thảo các bản báo cáo đó và hỏi tỉ mỉ họ tất cả những điểm còn lờ mờ.

Bonaparte thích hơn hết là được nói chuyện với các chuyên gia và được học ở họ. Bonaparte khuyên con riêng của vợ là Eugène Beauharnais - sau này là phó vương nước Ý - rằng khi đến một thành phố lạ, đừng để mất thì giờ vô ích mà phải nghiên cứu thành phố ấy, vì biết đâu sau này chẳng có ngày phải chiếm nó. Tất cả con người Napoléon là ở những lời nói này: Tích luỹ kiến thức để sử dụng chúng trong thực tiễn. Napoléon đã làm cho những người thuyền trưởng Anh ngạc nhiên khi nói với họ về những chi tiết thiết bị của tàu Pháp cũng như của tàu Anh, sự khác nhau giữa dây cáp Anh và dây cáp Pháp.

Napoléon vô cùng quan tâm đến Khoa Kinh Tế (vì đang ở thời kỳ của những vấn đề về sự phát triển nền sản xuất tư bản chủ nghĩa), và nắm chính quyền chưa được vài năm mà Napoléon đã rất am hiểu những vấn đề về sản xuất và tiêu thụ, giá cả và thuế quan, cước phí đường thủy và đường bộ, ông am hiểu tường tận cả nguyên nhân tại sao giá nhung Lyon hạ hoặc cao, y như những tay buôn ở Lyon vậy, có thể vạch trần thủ đoạn lừa bịp và tính chất của một nhà thầu khoán làm một con đường ở nơi hẻo lánh trong đế quốc rộng lớn của ông ta, đến mức có khả năng giải quyết tài tình một cuộc tranh chấp biên giới, hoặc chấm dứt một vụ nhập nhằng lấn đất làm cho lãnh thổ của các quốc gia và của các vương hầu ở Đức bị cắt vụn ra; không những thế, ông còn có khả năng trình bày quyết định của mình bằng cách căn cứ vào lịch sử của cuộc tranh chấp ấy và những vụ lấn đất đương sự.

Napoléon lắng nghe tất cả những người nào mà Napoléon hy vọng có được một điều chỉ dẫn bổ ích, nhưng tự quyết định lấy. Napoléon thường nói: “Người thắng một trận nào đó không phải là người cho một lời khuyên tốt, mà là người nhận lấy trách nhiệm thi hành lời khuyên ấy". Trong vô số ý kiến mà người chỉ huy thu lượm được thì thường có thể tìm thấy một ý kiến đúng, nhưng phải biết gạn lọc và thực hành ý kiến đó. Cả trong việc cải cách pháp chế và trong sự chỉ đạo nội chính cũng đúng như vậy. Nhưng không phải khi ban ra một mệnh lệnh là đã xong công việc, đó mới chỉ là sự bắt đầu mà thôi. Napoléon cho rằng trong công tác hành chính của Nhà Nước, sự đôn đốc việc thi hành pháp lệnh cũng thiết yếu như việc ban bố pháp lệnh và khi pháp lệnh không được thi hành nghiêm chỉnh và đúng đắn thì Napoléon cho rằng nhiệm vụ bức thiết của một người Bộ Trưởng là phải điều tra rồi xác định một cách rõ ràng nhất xem trách nhiệm cá nhân thuộc về ai. Dưới thời Napoléon, công tác trong ngạch hành chính là một cái nghề vô cùng vất vả, nặng nhọc. “Phải thức khuya, dậy sớm", các công chức cũ đã nói lại như vậy. Theo ý Napoléon, chính quyền phải biết rút tỉa ở mỗi con người tất cả những cái mà họ có thể cống hiến được và nếu họ không sống lâu được với chế độ này thì chính quyền cũng không có gì quan trọng.

Vấn đề ấy, Napoléon cũng đã phát biểu một cách độc đáo rằng: “Đừng để cho người ta già đi!", theo ý Napoléon thì đó là nghệ thuật cao của chính quyền. Napoléon cố gắng bảo đảm cho viên chức chính quyền được lương cao, nhưng ông ta rút tỉa của mọi người tất cả những gì có thể rút tỉa được để bù lại. Bản thân Napoléon làm việc suốt ngày đêm, chỉ dành vài tiếng đồng hồ để ngủ, 15 phút để ăn trưa và ít hơn nữa để ăn sáng. Napoléon cho rằng không cần thiết phải đối xử độ lượng với mọi người hơn với bản thân mình. Vì vậy, mà cũng đúng như đối với binh sĩ và sĩ quan của mình, không phải Napoléon chỉ trông nhờ vào uy lực của các toà án, của các hình phạt, của việc cách chức để buộc các công chức của ông làm việc tận tuỵ. Ông già Toromocho đã từng bao năm kéo lê cái xích nặng nề của công tác hành chính dưới thời Napoléon với tư cách là viên chức của Bộ Tư Pháp, rồi dự thẩm. Viên tham chính nói rằng: Napoléon có tài đốt cháy ở trong lòng mọi người ngọn lửa hăng say làm việc bằng tình thân mật; do đó hễ có dịp là Napoléon biết đối xử với những người tầm thường nhất như người ngang hàng mình và cái tài đó đã thổi cháy được nhiệt tình trong công chức hệt như trong binh sĩ của ông. Người ta kiệt sức vì làm việc như những người khác chết trên chiến trường. Dù làm công tác hành chính hay quân sự, những người phụng sự Napoléon đều luôn luôn sẵn sàng để được thưởng huy chương hoặc để được nhận một nụ cười ân cần của chủ.

Theo cuộc phổ thông đầu phiếu, được vội vã tổ chức sau Hòa Ước Amiens, và theo cái nghị quyết thể theo “nguyện vọng quần chúng” của Thượng Nghị Viện ngày 2 tháng 8 năm 1802, Napoléon Bonaparte được bổ nhiệm là “Tổng Tài vĩnh viễn” của nước Cộng Hòa Pháp với 3.568.885 phiếu thuận và 8.374 phiếu chống. Việc này bộc lộ rõ nước Pháp đã biến thành một nước quân chủ độc đoán và chẳng bao lâu vị Tổng Tài thứ nhất sẽ xưng vương hoặc xưng đế. Và hệt như ông ta đã làm cho nền chuyên chính “Cộng Hòa” của ông ta, Napoléon muốn đặt ngai vàng sắp đến của mình trên nền móng vững bền của giai cấp đại tư sản thành thị và nông thôn và những giai cấp hữu sản khác: Thương gia, kỹ nghệ gia, quý tộc địa chủ, nông dân hữu sản. Quyền sở hữu tài sản vô hạn độ phải là nền tảng trật tự mới của Napoléon. Một mặt, mọi dấu vết của những luật lệ phong kiến cổ xưa của bọn chúa đất mà tổ tiên chúng trước kia đã chiếm hữu đều bị thủ tiêu vĩnh viễn, nhưng mặt khác, quyền sở hữu tài sản lại được công nhận một cách tuyệt đối và bất di bất dịch đối với những người chủ tài sản đã mua được trong thời kỳ cách mạng, đối với những chủ tài sản tịch thu của bọn lưu vong, của nhà thờ và của nhà tu và bất kể người sở hữu hiện nay là ai. Với thương nghiệp và công nghiệp, chủ các hãng thương mại và kỹ nghệ, một mặt họ hoàn toàn có quyền không bị hạn chế một chút nào, lập giao kèo với nhân viên thợ thuyền trên cơ sở “tự do thoả thuận giao ước” (nghĩa là không hạn chế tí gì quyền tự do bóc lột sức lao động của chủ tư bản); còn thợ thuyền thì mất hết mọi quyền và mọi khả năng đấu tranh tập thể chống bọn bóc lột họ; và mặt khác, các nhà buôn và nhà kỹ nghệ Pháp được bảo đảm rằng chính phủ Napoléon muốn và sẽ bảo vệ một cách thắng lợi thị trường nội địa của nước Pháp chống lại sự cạnh tranh của nước ngoài, biến một phần Châu Âu và có thể là cả Châu Âu, thành một công cụ bóc lột của tư bản thương nghiệp và công nghiệp Pháp. Napoléon tin chắc chế độ do ông xây dựng và củng cố, cũng như đường lối đối ngoại và đối nội của ông, sẽ đưa giai cấp tư sản thương mại và kỹ nghệ, cả tầng lớp nông dân hữu sản đến chỗ phải hoàn toàn tha thứ mọi bạo lực, từ chối mọi sự tham gia tích cực vào hoạt động chính trị, hành chính và pháp luật, khuất phục bất cứ hình thức chuyên chế độc đoán nào, kể cả những hình thức mà người ta chưa bao giờ thấy dưới thời Louis XIV, tán thành những sự hy sinh và những trưng dụng nhân lực, đó là những cái mà người ta chưa bao giờ làm quen, kể cả trong những thời đen tối nhất của chế độ cũ.

6

Quyết tâm thanh toán tất cả những gì đã gây trở ngại đến ưu thế và quan hệ tư bản chủ nghĩa và đến việc củng cố quyền lực riêng của mình, Napoléon không những bằng lòng xá tội cho bọn xuất dương, mà còn hoàn lại cho bọn chúng một phần của cải bọn chúng trước đây chưa bán được, ông ta còn chính thức dàn xếp việc hòa giải giữa chính phủ Pháp với nhà thờ Thiên Chúa. Ngay sau ngày 18 Tháng Sương Mù, việc thờ phụng đã được tự do.

Sau đó, Napoléon đã cho làm phép hành lễ ngày chủ nhật, cho về rất nhiều cha cố bị đưa đi đày và thả một số lớn khác ra khỏi nhà giam. Rồi Napoléon bắt đầu những cuộc đàm phán với Giáo Hoàng trên cơ sở những điều kiện: Tổng Tài thứ nhất sẽ ưng thuận thừa nhận Thiên Chúa Giáo là “tôn giáo của đại đa số nhân dân Pháp” và đặt Thiên Chúa Giáo dưới sự bảo hộ của chính phủ.

Những cuộc đàm phán trên kết thúc bằng việc ký kết một điều ước hòa giải nổi tiếng, mệnh danh là “kiệt tác của lý trí Nhà Nước”, ít ra thì những nhà viết sử tư sản cũng đã khẳng định như vậy.

Thật ra, bản điều ước hòa giải chỉ là sự tuyên bố gạt bỏ phần lớn những thắng lợi về quyền tự do tư tưởng của cách mạng đã đạt được đối với nhà thờ. Khi cách mạng cấm không cho bọn thầy tu công khai gây ảnh hưởng đến nhân dân Pháp, thì Napoléon lại để cho bọn chúng có khả năng làm việc đó. Vậy những lý do của Napoléon là gì? Câu trả lời đã rõ và không còn nghi ngờ gì nữa.

Chắc chắn Napoléon không phải là một người vô thần[25] vững vàng, nhưng dù sao người ta cũng có thể nói rằng Napoléon là người theo cái thuyết “tự nhiên thần luận”[26] rất nhạt nhẽo và mơ hồ. Trong đời ông, tổng cộng lại thì ông đã dành thời gian vô cùng ít ỏi để bàn những vấn đề tôn giáo. Napoléon không bao giờ nghĩ đến chuyện dựa vào cái nhân vật tối cao mà các nhà thần học đã đặt ra ấy và cũng không bao giờ tỏ ra có ý theo Học Thuyết Thần Bí[27]. Vả lại dù thế nào đi nữa, với tên quý tộc người Ý này - bá tước Chiaramonti mà năm 1799 đã trở thành Giáo Hoàng Pius VII - Napoléon vẫn không coi là người kế tục của sứ đồ Pie, cũng không là người đại diện của Chúa Trời ở trên trái đất, mà là một lão già người Ý xảo quyết, con người mà chắc chắn là sẽ sẵn sàng âm mưu phục hưng dòng họ Bourbon để thu hồi lại của cải của giáo hội bị niêm phong quản lý trong thời ký Cách Mạng. Nhưng hắn lại sợ Bonaparte vì hầu hết nước Ý đang bị người Pháp chiếm đóng, và sau trận Marengo, Roma và Giáo Hoàng hoàn toàn đang ở trong tay vị Tổng Tài thứ nhất.

Pius VII sợ Napoléon đến thất đảm và coi Napoléon như một tên côn đồ, một tướng cướp. Còn Napoléon, ông ta không tin một lời nào từ miệng Pius VII thốt ra, coi hắn là một tên gian giảo và dối trá. Đó là quan niệm của mỗi người ấy đối với nhau từ trước cũng như sau khi đàm phán xong với nhau, và cả về sau nữa, hình như cho đến khi chết hai người cũng không hề hoài nghi gì về sự đánh giá lẫn nhau như vậy và có căn cứ vững vàng hay không. Nhưng vấn đề không phải là cá nhân Giáo Hoàng. Theo quan điểm của Napoléon, tổ chức giáo hội Thiên Chúa Giáo là một lực lượng không thể coi thường được, không những vì nó có thể gây nên nhiều thiệt hại nếu nó đứng về phía kẻ thù, mà hơn nữa, nó còn có thể có rất nhiều tác dụng nếu lôi kéo được nó về phía mình. “Bọn thầy tu có nhiều tác dụng hơn bọn Cagliostro, bọn theo thuyết Kant và tất cả những nhà ảo tưởng của các nước Đức”, Napoléon đã nói như vậy, vừa liệt gã bịp bợm Cagliostro vào cùng một giuộc với nhà triết học Kant, và Napoléon nói thêm rằng những người sinh ra như vậy, họ muốn tin vào sự huyền bí thì để họ đi nhà thờ và học giáo lý lại tốt hơn là để họ triết lý quá nhiều. Napoléon biện luận: Người ta tiêm chủng cho mọi người để tránh cho họ bệnh đậu mùa. Nói một cách khác, thoả thuận với cái lão bá tước Chiaramonti bợm già ấy là hay nhất vì hắn tự xưng là Giáo Hoàng Pius VII, và khi bản chất người đó còn đủ ngu ngốc để tin vào vị đại diện của Đức Thượng Đế ở trên trái đất, thì tuyển mộ vô số bọn mật thám “áo đen" của Giáo Hoàng Pius VII vào làm việc bên cạnh bọn sen đầm và cảnh binh của Fouché sẽ hay hơn là để cho kẻ thù của mình, bọn Bourbon sử dụng đội quân thầy dòng, thầy cả đông như kiến ấy, sẽ hay hơn là ném thần dân của mình vào tay bọn ảo tưởng và những nhà triết học không thể tóm cổ lại được, và sẽ hay hơn là khuyến khích tự do tư tưởng. Hơn nữa, Napoléon hoàn toàn hiểu rằng cái đội quân “áo đen" ấy là những kẻ có ích nhất để hoàn thành việc bóp nghẹt hệ tư tưởng vô cùng ghê gớm của Thế Kỷ Ánh Sáng và của Cách Mạng.

Bản quy ước giữa Giáo Hoàng và Napoléon, mệnh danh là Concordat, ký vào tháng 7 năm 1801, và ngày 15 tháng 4 năm 1802, bản sắc lệnh, mà căn cứ vào đó Napoléon thi hành và quy định tổ chức mới của giáo hội Thiên Chúa ở nước Pháp, được chính thức công bố. Đây là những điểm cơ bản của bản sắc lệnh đó.

Napoléon thừa nhận Thiên Chúa Giáo là “tôn giáo của đại đa số công dân Pháp”, nhưng không phải là tôn giáo của Nhà Nước, cũng như trước thời Cách Mạng. Napoléon cho phép tự do tín ngưỡng trong cả nước. Đáp lại, Giáo Hoàng cam kết không bao giờ yêu sách đòi lại đất đai của giáo hội đã bị tịch thu trong thời kỳ Cách Mạng. Napoléon tuỳ ý chỉ định các giám mục và giáo chủ theo ý mình, sau đó họ nhận chiếu phong chức của Giáo Hoàng; cả các linh mục do các giáo mục chỉ định cũng chỉ có thể nhận chức sau khi việc lựa chọn đó đã được chính phủ phê chuẩn. Việc công bố các huấn lệnh, trọng sắc và đoản sắc của Giáo Hoàng chỉ được thừa nhận ở nước Pháp khi nào chính phủ ưng chuẩn trong những trường hợp đặc biệt. Đó là những điểm chính của cái “Concordat” tồn tại hơn 100 năm sau thời Napoléon. Napoléon đã không tính lầm. Ngay sau ngày ký Concordat (dưới đế chế), tầng lớp thầy dòng liền đưa vào khắp các trường học của nước Pháp một chương trình giáo lý bắt buộc học sinh phải học thuộc lòng và phải đọc nguyên văn như sau:

“Chúa Trời đã cho Người (Napoléon) là thừa hành uy quyền của Chúa Trời và là hình ảnh của Chúa Trời ở trên trái đất. Kẻ nào thiếu bổn phận của mình đối với Napoléon là cưỡng lại lệnh của Chúa Trời và đáng có tội đời đời”.

Giáo lý đã dạy bảo rất nhiều “sự thật khác” thuộc loại đó. Ngày hội, trên toà giảng, người ta trình giảng rằng “Chúa Thánh Thần” đã quyết định tạm thời hiện thân vào con người Napoléon để thủ tiêu sự hỗn loạn và tính vô đạo của Cách Mạng, rằng những thắng lợi liên tiếp của vị Tổng Tài thứ nhất (rồi của Hoàng Đế) đối với tất cả những kẻ thù của bên ngoài đều được giải thích bằng sự can thiệp trực tiếp của “Chúa Thánh Thần” trong lĩnh vực chiến lược. Trong những tháng tính từ thời gian ký bản hiệp ước tạm thời giữa Giáo Hoàng với Napoléon đến thời gian hợp pháp hóa bản điều ước Concordat, Napoléon ban hành sắc lệnh khen thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh, một loại huân chương còn tồn tại đến tận ngày nay ở nước Pháp. Ngay từ đầu năm 1801, Napoléon đã có ý đồ ban hành một loại huân chương để khen thưởng cho ngành quân sự và hành chính. Sự khen thưởng bao gồm nhiều mức và phải do người có quyền lực tối cao phong tặng.

Dưới thời Napoléon, nền tảng hệ thống giáo dục đã được đặt ra và còn tồn tại đến tận ngày nay hầu như không có gì thay đổi. Đúng là hệ thống này bao gồm các trường sơ học, nhưng trong phạm vi đại học và trung học thì không có một sự sửa đổi căn bản nào. Cao nhất là trường đại học đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ Trưởng Giáo Dục. Trường đại học dưới thời Napoléon quản lý bậc đại học và những trường trung học (bậc chuyên khoa). Chỉ những trường chuyên nghiệp cao đẳng, thành lập dưới thời Napoléon, mới có nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo kỹ thuật viên, kỹ sư, quản lý văn khế, các chánh án, các viên chức ngạch hành chính và tài chính, v.v. Kỷ luật của các trường nghiêm khắc như kỷ luật quân sự, thi cử rất ngặt. Còn đối với các trường trung học thì mục đích chính là đào tạo sĩ quan. Ra trường, học sinh qua một thời kỳ thi bổ sung để vào các trường quân sự chuyên nghiệp. Học sinh cũ của các trường trung học có thể vào thẳng các cơ quan hành chính để làm việc, nhưng dĩ nhiên không được hưởng những đặc quyền đặc lợi và cũng không có tiền đồ sáng sủa bằng những học sinh, sau khi ở trường trung học ra, đã qua trường cao đẳng này hoặc cao đẳng khác.

Napoléon thích là người đỡ đầu cho ngành khoa học. Napoléon dành rất nhiều sự ưu đãi đối với những nhà toán học, hóa học, thiên văn học, vật lý học và tỏ ra đặc biệt chú ý đến các nhà khảo cứu về Ai Cập vì ngành khảo cứu về Ai Cập trở thành một ngành khoa học bắt đầu từ cuộc viễn chinh của ông ở bờ sông Nile.

Nhưng Napoléon yêu cầu ngành khoa học có những kết quả thực tế và chỉ hoàn toàn qua giá trị thực dụng mà đánh giá những kết quả đó. Trước hết, Napoléon muốn khoa học phải góp phần vào “sự vinh quang của đế quốc” (như Napoléon đã phát biểu trong một bức thư gửi cho Laplace, viết từ Vitebsk vào năm 1812). Trong những điều kiện ấy thì ngay cả những ngành khoa học trừu tượng như thiên văn học cũng có thể giúp ích nhiều.

Nhưng Napoléon không thích những ngành khoa học lịch sử và đối xử với những ngành này bằng thái độ nghi ngờ. Chẳng hạn, Napoléon không thể nào ca tụng được Tacite[28], vì Tacite đã tỏ ra khinh mạn các vị Hoàng Đế La Mã. Triết học, đặc biệt triết học của Thế Kỷ Ánh Sáng, đối với Napoléon chỉ là “một thứ tư tưởng” đáng ghét; trong kinh tế chính trị học (và đặc biệt là trong chủ nghĩa trọng nông), Napoléon chỉ nhìn thấy sự bịp bợm. Dưới thời Napoléon, nền giáo dục ở trường đại học và trung học có khuynh hướng đặc sệt thực dụng và thuần túy kỹ thuật.

Trước hết, Napoléon có ý thức tự đặt mục đích xóa bỏ không những kỷ niệm của thời kỳ Cách Mạng vừa mới qua đi và xóa bỏ cái “hệ tư tưởng" cách mạng mà ông ta rất ghét ấy, lại còn xóa bỏ cả những thực tế lịch sử, những sự kiện của những năm ấy. Napoléon cấm viết về đề tài cách mạng, cấm cả ghi chép về cách mạng cũng như những con người của thời đại đó. Trên đời không có Robespierre nào đã sống cả, Marat, không, Babeuf, không, và chính Mirabeau cũng không hề có. Năm 1807, Viện Hàn Lâm Paris, khi có một người hoàn toàn không dụng ý gì buột miệng nói đến Mirabeau thì Napoléon nổi khùng, viết thư cho Bộ Trưởng Công An nói rằng công việc của chủ tịch Hội Những Nhà Bác Học không phải là nói về Mirabeau. Ngay cả danh từ “cách mạng” cũng bị trục xuất khỏi báo chí.

Vừa lên ngôi trị vì, như chúng ta đã biết, Napoléon đã bắt đầu thực hiện quan niệm chắc nịch của ông ta là muốn điều khiển được báo chí phải có một cái roi và đôi giày thúc ngựa..Được đúng hơn hai tháng sau ngày 18 Tháng Sương Mù, bằng một nghị định ký ngày 27 Tháng Tuyết, Napoléon đã đóng cửa thẳng tay 60 tờ báo, chỉ để 13 tờ sống sót. Nhưng rồi chẳng lâu la gì, 13 tờ đó sụt xuống còn bốn. Bốn tờ báo hàng ngày “lá cải” đó, vì khổ báo quá nhỏ nên người Anh gọi là “khăn tay bỏ túi”, đã đăng toàn những chuyện vô nghĩa đến nỗi hầu như không có độc giả. Napoléon cũng không muốn cho báo chí của ông ta đả kích những nguyên tắc cách mạng, ông ta chỉ muốn rất đơn giản là độc giả không thể nào nhớ lại được rằng xưa kia những nguyên tắc ấy đã được công bố. Chẳng hạn, Napoléon đã cấm lưu hành trong nước Pháp và các chư hầu mấy tờ báo Đức, chỉ vì những tờ báo ấy hướng dẫn một cuộc đấu tranh quyết liệt chống tư tưởng cách mạng và đã tâng bốc Napoléon, người đã dập tắt được cách mạng. Napoléon cấm không cho những tờ báo ấy vào nước Pháp vì: Chính bằng cái kiểu ấy mà những tờ báo đó nhắc nhở đến cách mạng, ông ta không muốn thế. Napoléon cũng đã cấm một cách rất ngặt nghèo những cuốn sách chỉ Nam và những cuốn sách miêu tả địa hình mà trong có ghi chú những sự kiện cách mạng, và những cuốn sách xuất bản trước thời ông ta đã bị lôi ra khỏi các nhà in do những cuộc khám xét liên tiếp. Trong các sách giáo khoa không được nhắc lại rằng “xưa kia” nền Cộng Hòa đã có ở Hà Lan và ở Thụy Sĩ, mặc dù đến năm 1806, Napoléon mới thủ tiêu nền Cộng Hòa ở Hà Lan.

Năm 1810, một gã Brian Bove nào đó có ý định viết một quyển sách nhan đề là “Những hành động của những nhà triết học và của những người Cộng Hòa”. Sau khi phun ra những lời hằn học bỉ ổi chống những người cách mạng và trong khi xu phụ Napoléon một cách trơ tráo nhất, Bove đã tự hào là việc xuất bản quyển sách của y sẽ không gặp khó khăn gì. Nhưng chính vì vậy mà y lầm: Sách bị cấm và bị tịch thu... vì trong cuốn tài liệu công khai đó, Bove đã khuấy động những kỷ niệm đau thương. “Chủ nghĩa Jacobin bí mật” là cái tội mà chính phủ Napoléon không bao giờ tha thứ cho những người cầm bút. Và thứ “chủ nghĩa Jacobin bí mật” ấy đã được biểu hiện bằng những hình tích tinh tế rất bất ngờ, thí dụ: Tác giả tán dương đạo đức trong sạch của Aristotle hoặc đức liêm khiết của Caton, lập tức anh ta bị tình nghi ngay: Có phải tác giả muốn tán tụng những chính phủ Cộng Hòa không? Vì Athen và Roma đều là những nước Cộng Hòa.

Napoléon khống chế việc xuất bản báo chí, sách vở của các dân tộc bị khuất phục cũng bằng một cái ách nghẹt thở như vậy. Chỉ hơi đả động bóng gió đến sự nô dịch của tổ quốc là không những toà báo bị đe dọa đóng cửa, bị tịch thu sách, mà còn nguy hiểm đến cả con người của tác giả. Người hàng sách Panmar đã bị bắn ở Nuremberg, theo yêu cầu của Napoléon, chỉ vì Panmar đã từ chối việc phát giác tên tác giả một cuốn sách mà Napoléon không thích. Cái gương đó đã chỉ rõ điều gì đang chờ đợi những nhà văn và những nhà xuất bản ở những nước bị chinh phục nếu họ thoáng có ý gì than vãn cho số phận của tổ quốc bị áp bức.

Bằng những biện pháp khắc nghiệt nhất để xoá bỏ mọi kỷ niệm về các sự kiện và về các nguyên lý cách mạng ở Pháp, và theo dõi không kém phần khắc nghiệt mọi bài báo ám chỉ sự giải phóng dân tộc và quyền dân tộc tự quyết của Châu Âu bị chinh phục, đó là những tư tưởng chỉ đạo toàn bộ đường lối chính sách của Napoléon trong lĩnh vực xuất bản.

7

Hai tháng sau trận Marego và vài tuần lễ sau khi ở Ý về, bằng nghị định ngày 12 tháng 8 năm 1800, vị Tổng Tài thứ nhất lập một uỷ ban phụ trách chuẩn bị dự thảo “dân luật”, tạo thành một bộ luật làm nền tảng cho toàn bộ đời sống pháp lý ở nước Pháp và ở các nước bị chinh phục. Vì công việc này vấp phải nhiều khó khăn quá lớn nên Napoléon đã phải hạn chế số uỷ viên của uỷ ban này trong số bốn người. Ông không chịu được những uỷ ban lớn, những bài diễn văn dài, những cuộc họp liên miên lu bù. Nhưng tất cả bốn uỷ viên đều là những nhà làm luật lỗi lạc.

Sau này, bộ luật ấy mang tên là “luật Napoléon”, được phê chuẩn bằng một sắc lệnh ký năm 1852, và cái tên đó vẫn còn chưa được chính thức đổi, mặc dù người ta cũng còn gọi nó là “dân luật”.

Ý đồ của nhà làm luật là bộ dân luật của Napoléon phải là sự thừa nhận về mặt pháp lý và là sự củng cố những thắng lợi của giai cấp tư sản đối với chế độ phong kiến, và phải bảo đảm một cách vững chắc địa vị của quyền tư hữu trong xã hội mới, bằng cách bảo đảm nguyên tắc sở hữu tư sản vô hạn độ, chống mọi cuộc tiến công bất cứ ở đâu đến: Của chế độ phong kiến còn ngắc ngoải, hoặc của thợ thuyền muốn vùng lên phá xiềng chặt xích.

Napoléon cho rằng cách mạng đã xảy ra ở nước Pháp, không phải vì nước Pháp muốn tự do mà là vì nước Pháp muốn bình đẳng. Vậy là, Napoléon hiểu bình đẳng theo nghĩa bình đẳng về điều kiện xã hội và kinh tế trong cuộc sống của những người công dân. Và Napoléon đã quyết định bảo đảm cho sự bình đẳng về quyền công dân đó một cách vững chắc bằng bộ luật của mình. Nói về cách mạng, Napoléon nói: “Tự do chẳng qua chỉ là một cái cớ”. Và sau khi đã hủy bỏ quyền tự do chính trị, Napoléon đã bảo đảm và luật lệ hoá “quyền bình đẳng”, theo như ông ta hiểu.

Đứng về mặt sáng sủa, về mặt tinh thần mạch lạc chặt chẽ và về mặt logic được vận dụng vào việc bảo vệ Nhà Nước tư sản, có lẽ Bộ Luật Napoléon đáng để cho những nhà làm luật ở các nước tư bản đã khen ngợi và tiếp tục khen ngợi. Tuy vậy nhà bình luận thiên vị nhất cũng không thể nào chối cãi được rằng so với nền pháp chế của cuộc cách mạng tư sản Pháp thì bộ luật đó đánh dấu một bước lùi, mặc dầu nó có tiến bộ so với những luật lệ hiện hành ở các nước khác trên lục địa Châu Âu. Ngoài ra, nó chẳng có gì hơn là sự phế bỏ vô vàn thắng lợi của cách mạng.

Napoléon đặt người phụ nữ tuỳ thuộc vào người chồng và hơn nữa ở vào địa vị thấp kém và bất lợi đối với những anh em trai về quyền thừa tự. Luật cách mạng, đặt một cách nhân đạo “con hoang” và “con đẻ” đều bình đẳng trước pháp luật, đã hoàn toàn bị thủ tiêu. “Tội tước quyền công dân”, cũng như những hình phạt nhục hình khác đối với những người bị kết án khổ sai đã được khôi phục, mặc dù cách mạng đã thủ tiêu cái hình phạt ác nghiệt đó của toà án. Để xây dựng xã hội mới, Napoléon đã tính đến tất cả những điều bức thiết nhằm bảo đảm tự do đầy đủ nhất và rộng rãi nhất cho hoạt động kinh tế của gia cấp đại tư sản và quét sạch tất cả những cái gì là biểu hiện nguyện vọng dân chủ của giai cấp tiểu tư sản.

Người ta có thể tự hỏi rằng trong khi hoàn thành sự nghiệp to lớn đó, mà kết quả là việc tạo nên bộ dân luật, có xuất hiện sự kháng nghị nào không? Có xuất hiện những ý đồ bảo tồn tính chất rộng rãi của những quan điểm cách mạng trong pháp chế mới không? Quả nhiên là đã có. Khi bộ luật đưa thông qua theo thủ tục “pháp chế” thì cũng có một vài người ở Ủy Hội Pháp Chế dám lên tiếng rụt rè chỉ trích vài điều, nhưng sự phản đối yếu ớt đó không có tiếng vang nào cả. Những điều chỉ trích mà ta vừa nói đến đã bị gạt đi một cách dễ dàng nhất trên đời: Bonaparte thanh trừ Ủy Hội Pháp Chế đến nỗi chỉ còn lại 50 uỷ viên câm như hến và ông ta quy định số uỷ viên của cái hội đồng đó từ nay trở đi không được quá số ấy. Việc cải cách hiến pháp đó một khi đã bất thình lình thành sự thật thì mọi việc đều trôi chảy. Tháng 3 năm 1803, Bộ Luật Napoléon sau khi đã được Hội Đồng Chính Phủ bàn cãi, được đưa lên Hội Đồng Lập Pháp thông qua, hội đồng này cũng không có quyền tranh luận, đã lặng lẽ thông qua từng điều một. Tháng 3 năm 1804, bộ luật có mang chữ ký của Napoléon trở thành nền tảng pháp luật của khoa pháp luật học nước Pháp. Giai cấp đại tư sản Pháp đã toại nguyện: Cách mạng tư sản đã đẻ ra cái kết quả di phúc của nó (đẻ ra sau khi chết - N.D.) và bởi vậy mà rõ ràng là sau ngày 18 Tháng Sương Mù không còn có khả năng nói đến việc tiếp tục cách mạng ở nước Pháp nữa. Nhưng không một nhà viết sử nào được phép quên yếu tố tiến bộ to lớn của bộ luật đó đối với những nước Châu Âu bị Napoléon chinh phục.

Sau này còn có nhiều luật lệ khác phụ thêm vào bộ luật đó, nhờ vậy mà Napoléon mới áp chế được giai cấp thợ thuyền một cách chắc chắn hơn bao giờ hết. Không những luật Le Chapelier[29] năm 1791 được thi hành - theo luật này những vụ bãi công hòa bình nhất và ngay cả lãn công cũng là tội phải đưa ra toà án - người ta còn lập ra “tiểu bạ” nằm ở trong tay người chủ và không có tiểu bạ đó người thợ không thể tìm đâu được việc làm. Trong tiểu bạ, người chủ cũ ghi sự chứng thực của mình về người thợ đã thôi việc và lý do người chủ cũ đã thải người thợ. Người ta lấy làm dễ chịu biết mấy khi những người chủ lạm dụng được “thứ tự do vô hạn độ đó” để tước đoạt tiền công và mẩu bánh mì của người thợ.

Theo lệnh của Napoléon, cũng vào thời kỳ đó, luật thương mại được thảo ra đã bổ sung vào toàn bộ nền pháp chế dân sự bằng một loạt điều khoản quy định và bảo đảm về mặt pháp lý quyền thông thương, sự hoạt động của thị trường chứng khoán và của ngân hàng, luật hối đoái và quyền quản lý văn khế, nghĩa là những hoạt động có liên quan đến việc buôn bán. Cuối cùng, Napoléon hoàn thành về căn bản sự nghiệp pháp chế của ông ta bằng việc lập bộ hình luật. Napoléon duy trì tội tử hình, khôi phục hình phạt đánh roi đã bị cách mạng thủ tiêu, khôi phục hình phạt đóng dấu sắt nung đỏ đối với một vài tội, và đặt ra nhiều hình phạt hà khắc đối với tất cả những âm mưu chống lại quyền tư hữu. Nền pháp chế hình sự của Napoléon là thoái bộ so với luật lệ của thời kỳ cách mạng, điều đó không cần bàn cãi.

Sự nghiệp pháp chế to lớn đó vẫn còn chưa hoàn thành vì tháng 3 năm 1803, chiến tranh với Anh lại bắt đầu. Napoléon lại tuốt gươm ra cho mãi tới khi kết thúc thiên anh hùng ca dài và đẫm máu mới lại tra gươm vào vỏ.

[25] Người vô thần (athée), người phủ nhận tôn giáo, phủ nhận sự tin tưởng vào những phép lạ, vào đời sống bên kia thế giới sau khi chết.

[26] Tự nhiên thần luận (désime), học thuyết này thừa nhận sự tồn tại của Thượng Đế, chỉ về phương diện Thượng Đế là nguyên nhân có trước, nguyên nhân không có nhân cách của thế giới, còn ngoài ra thì vũ trụ bị những quy luật tự nhiên chi phối.

[27] Thuyết thần bí (mýticisme), hình thức của thế giới quan tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm. Chủ nghĩa thần bí công nhận khả năng liên hệ giữ người và thần linh, khả năng đi sâu vào những “bí mật” của sự vật bằng “sự truyền bảo” của thần linh v.v...

[28] Tacite, nhà sử học La tinh sống ở La Mã (khoảng năm 55-120) là nhà sử học thiên vị và đã bóp méo lịch sử theo quan điểm của mình.

[29] Le Chapelier, đạo luật cấm các tổ chức công nhân và quy định phạt tiền và tống giam những người cầm đầu hoặc tích cực đấu tranh trong các cuộc đình công.

CHƯƠNG 7

giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh chống nước anh
lễ đăng quang hoàng đế
1

Sau một thời gian ngừng lại ngắn ngủi, cuộc đại chiến tiếp diễn và cả hai bên đều hình dung rõ được những khó khăn. Đối địch Napoléon người chủ của nước Pháp, của phần lớn nước Ý, của một số thành phố và đất đai thuộc miền Tây Đức, của nước Bỉ, của nước Hà Lan là những lực lượng không kém phần to lớn và đáng sợ cả về sức mạnh cũng như về tính nhiều dạng nhiều vẻ của những lực lượng đó. Napoléon đã suốt đời vật lộn chống lại Khối Liên Minh của các nước quân chủ lạc hậu và nửa phong kiến, nhưng đứng đầu cuộc liên minh đó lại là một cường quốc có nền kinh tế tiên tiến đứng đầu thế giới tư bản vào lúc bấy giờ. Khi nhằm bắt những xã hội phong kiến và chuyên chế già nua với những hình thức kinh tế lạc hậu phụ thuộc vào quyền lợi của mình, những cuộc chiến tranh dưới thời Napoléon không phải chỉ đáp ứng những nguyện vọng của Nhà Nước tư sản Pháp. Những cuộc chiến tranh không chấm dứt đó đồng thời còn là cuộc đọ sức giữa nước Pháp vừa mới bước vào con đường phát triển công nghiệp và tư bản chủ nghĩa, với nước Anh đã đi vào con đường đó từ lâu và về mặt này, nước Anh đã đạt được những thành quả hơn hẳn.

Ở đây nên nói một vài lời về những cuộc chiến tranh của Napoléon: Ngay từ đầu chúng đã khác biệt hẳn với các cuộc chiến tranh của cách mạng Pháp. Về vấn đề này, Lenin đã nhận xét: “Một cuộc chiến tranh dân tộc có thể chuyển thành cuộc chiến tranh đế quốc và ngược lại. Thí dụ, những cuộc chiến tranh của cuộc Đại Cách Mạng Pháp bắt đầu như những cuộc chiến tranh dân tộc. Đó là những cuộc chiến tranh cách mạng: Chúng bảo vệ cuộc Đại Cách Mạng chống cuộc liên minh của các nước quân chủ phản cách mạng. Nhưng khi Napoléon đã lập lại được đế quốc Pháp bằng sự nô dịch nhiều quốc gia dân tộc lớn ở Châu Âu đã hình thành từ lâu và còn tồn tại, thì những cuộc chiến tranh dân tộc Pháp biến chất thành chiến tranh đế quốc, và đến lượt mình, chiến tranh đế quốc đẻ ra chiến tranh giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc Napoléon”. Lenin hiểu chủ nghĩa đế quốc ở đây là sự cướp bóc các nước khác nói chung và chiến tranh đế quốc là “một cuộc chiến tranh giữa bọn diều hâu để chia nhau một miếng mồi nào đó”. Người đã giải thích như vậy ở một chỗ khác, vẫn khi nói về thời đại Napoléon, nhưng vấn đề được nhìn nhận trên một khía cạnh khác.

Trong cuộc đấu tranh ác liệt và không nhân nhượng chống địch thủ của mình là chủ nghĩa tư bản Pháp mà lực lượng bành trướng quá nhanh, giai cấp tư sản Anh có về phía mình một nền kỹ thuật cao, những nguồn lợi tài chính vô cùng dồi dào, nhiều thuộc địa béo bở và quan hệ thương mại của họ toả khắp mặt địa cầu. Trong cuộc vật lộn này, nước Anh đã sử dụng lâu dài và tuyệt khéo những sự giúp đỡ và viện trợ cho các nước quân chủ nửa phong kiến, lạc hậu về mặt kinh tế, và đã xuất tiền trang bị vũ khí cho quân đội của các nước ấy. Khi con của William Pitt tung ra hàng triệu đồng, với danh nghĩa viện trợ cho Nga, Áo hoặc Phổ, để đặt họ đối địch với cách mạng Pháp hoặc Napoléon, là hắn đang làm đúng như bố hắn đã làm 40 năm trước đây: Viện trợ cho người Iraq và những bộ lạc Ấn Độ khác để lôi họ vào cuộc đấu tranh chống lại cũng những người Pháp ấy ở Canada. Dĩ nhiên, quy mô của các hoạt động nói trên và đối tượng tranh giành nhau có khác.

Tại sao hòa bình do nước Anh quyết định ở Amiens vào tháng 3 năm 1802, chỉ là một cuộc ngừng chiến một năm? Bởi vì khi niềm vui do chấm dứt được một cuộc chiến tranh gian khổ đã tan biến đi thì nhiều phần tử trong giai cấp tư sản và quý tộc địa chủ nhìn thấy rõ rằng chúng đã thua thiệt trong cuộc chiến tranh này và Bonaparte đã thắng. Không những Bonaparte không cho phép hàng hoá Anh nhập vào những thị trường rộng lớn đặt dưới quyền của ông ta, mà còn vì nắm được nước Bỉ và Hà lan trong tay thì bất cứ lúc nào Bonaparte cũng có thể uy hiếp trực tiếp bờ biển nước Anh; và nhất là từ năm 1802, Bonaparte đã không gặp khó khăn gì trong việc bắt ép nhiều quốc gia coi như “độc lập” phải liên minh với mình bằng cách trực tiếp uy hiếp các nước đó.

Khi ký được Hòa Ước Amiens, Bonaparte còn đáng sợ và nguy hiểm hơn cả Louis XIV vào thời kỳ cực thịnh, vì lẽ tất cả những cuộc thôn tính của Louis XIV trên tả ngạn sông Rhine chỉ là một trò chơi trẻ con so với việc Bonaparte đã làm chủ phần đất đai đó của nước Đức. Sự củng cố nền bá chủ của chế độ chuyên chính quân phiệt Pháp trên lục địa Châu Âu có thể dùng làm tiền đề cho cuộc xâm lược nước Anh.

Nên nói rằng Napoléon đã rất khéo lợi dung hòa ước ngắn ngủi Amiens để dẹp cuộc khởi nghĩa của những người da đen ở Saint Domingue, nơi mà dưới thời Viện Đốc Chính, người thủ lĩnh nổi tiếng của nhân dân da đen là Toussaint Louverture đã xây dựng thành căn cứ vững chắc. Người thủ lĩnh này vừa công nhận về danh nghĩa nền đô hộ của Pháp ở trên đảo lại vừa xử sự như ông vua độc lập.

Về vấn đề thuộc địa, Napoléon hoàn toàn tán thành những quan điểm của các điền chủ Pháp, bọn này dứt khoát không thừa nhận luật giải phóng nô lệ đã được ban bố trong thời kỳ Hội Nghị Quốc Ước cách mạng. Napoléon đã thu hồi, theo Hòa Ước Amiens, những thuộc địa Pháp bị nước Anh chiếm đóng (Saint Domingue, quần đảo Antilles, Mascarene, Guyana). Napoléon không dám phục hồi lại chế độ nô lệ ở những nơi nào mà chế độ đó bị thủ tiêu, nhưng ông ta công nhận nó ở tất cả những nơi nào mà nó còn tồn tại sau cuộc chiếm đóng tạm thời của Anh. Để đàn áp cuộc khởi nghĩa của Toussaint Louverture, năm 1802, Napoléon chuẩn bị một hạm đội và một đội quân 10.000 người. Bị gian kế của Pháp dụ vào trận địa Pháp, Toussaint Louverture bị bắt ngày 7-6-1802 và bị đưa sang Pháp. Louverture vừa tới Pháp, Napoléon đã hạ lệnh tống giam người anh hùng đấu tranh giải phóng cho dân tộc da đen vào hầm tối trong xà lim thánh Giu. Khí hậu gay gắt của vùng sơn cước ẩm ướt đó và sự giam cầm khắc nghiệt: Không cho phép gặp thân nhân, không được đi dạo, sự hành hạ vô nhân đạo trong 10 tháng trời đó đã giết chết mất Toussaint Louverture.

Napoléon đã có những chương trình nhằm tổ chức và bóc lột các thuộc địa. Nhưng việc tiếp diễn cuộc chiến tranh chống nước Anh vào mùa xuân năm 1803 đã buộc Napoléon phải từ bỏ đường lối chính sách lớn về thuộc địa. Vì không có khả năng giữ được những khoảng đất xa xôi trên triền sông Mississippi, do đường giao thông trên mặt biển đã bị gián đoạn hoàn toàn, nên Napoléon cũng đã phải bán lại cho Mỹ (3-4-1802) phần đất đai thuộc Pháp ở xứ Louisiana.

Bộ phận (quan trọng nhất) của giai cấp tư sản Anh, vào mùa xuân năm 1803, khi lớn tiếng đòi hủy bỏ Hòa Ước Amiens thì một trong vô số lý do của họ còn là: Phải ngăn cản không cho Napoléon giữ những thuộc địa cũ của Pháp và chiếm thêm những thuộc địa mới.

Nhưng Hòa Ước Amiens không phải chỉ bị phá từ London mà còn từ Paris nữa. Napoléon tin rằng khi ký Hòa Ước Amiens là người Anh đã thực tế không can thiệp vào những công việc của Châu Âu và cam chịu đứng nhìn Napoléon xác lập bá quyền của mình trên lục địa, bây giờ đột nhiên sự việc xảy ra không phải như vậy, và nước Anh không chịu khoanh tay đứng nhìn việc làm của Bonaparte ở Châu Âu.

Các cuộc đàm phán ngoại giao rất phức tạp bắt đầu. Cả hai bên đều không muốn và không thể nhân nhượng lẫn nhau, và đôi bên đều cùng hiểu rất rõ như vậy. Ngay từ đầu năm 1803, các cuộc đàm phán ấy đã đi vào một bước ngoặt đợi chờ sự tan vỡ. Ở London cũng như ở Paris, người ta do dự. Các Bộ Trưởng Anh không nhất trí được với nhau rằng đất nước đang sắp lao vào một cuộc đấu tranh đầy nguy hiểm, và ít ra thì cũng là trong những ngày đầu nước Anh đơn độc, không có đồng minh, vì lúc đó Pháp đang sống hòa bình với tất cả các cường quốc. Về phần Bonaparte, ông hiểu giới tư sản thương mại Paris và Lyon, cũng như các nhà công nghiệp sản xuất xa xỉ phẩm đã bị những đề nghị và những đơn đặt hàng đầy sức hấp dẫn của người Anh lôi cuốn đến mức độ nào; Bonaparte hiểu trong những tháng đầu sau khi ký Hòa Ước Amiens, việc 15.000 khách du lịch giàu có người Anh đến thăm đã làm nền thương nghiệp Pháp phấn chấn đến mức nào; Bonaparte cũng biết rằng tuy có khả năng không cho nhập hàng hoá Anh vào Pháp, kể cả trong thời bình, nhưng làm như vậy về phương diện lợi ích của các nhà công nghiệp Pháp mà nói thì cuộc chiến tranh với nước Anh trước mắt chẳng mang lại một cái gì mới. Thực ra, nếu chiến tranh bùng nổ, người ta có thể áp dụng gay gắt phương pháp cấm vận củng cố và phát triển phương pháp ấy sang các nước khác, và Napoléon đặt hy vọng lớn vào điều đó.

Màn kịch thịnh nộ nổi tiếng mà Napoléon đóng ở điện Tuileries trong cuộc tiếp kiến viên đại sứ Anh đã đẩy thẳng hai cường quốc vào cuộc chiến tranh, trong đầu óc Napoléon là một thử thách cuối cùng, một âm mưu thị uy tối hậu.

Nhân chuyện ấy, cũng nên nói một chút về cái đặc điểm riêng biệt ấy của Napoléon đã luôn luôn làm cho những nhà quan sát ngạc nhiên. Rõ ràng rằng cái bản chất hống hách, lầm lì, dễ nổi nóng và khinh thị hầu hết mọi người ấy thường hay đưa đến những cơn điên dại kinh khủng. Nhưng cũng nên nhận xét thêm rằng: Nói chung Napoléon tự chủ được một cách đặc biệt. Napoléon đã nêu cho nghệ sĩ nổi tiếng là Tanma những sự giả tạo trong diễn xuất của diễn viên bi kịch khi họ muốn diễn đạt những tình cảm lớn; ở gần Tanma, Napoléon đã học hỏi được nhiều và vì thế mà Napoléon đối xử với Tanma rất tốt. Vị Hoàng Đế ấy đã giúp cho Tanma thấy rằng đôi khi Hoàng Đế đến triều đình, Hoàng Đế thấy ở đó có những nàng công chúa mất tình nhân, những bậc đế vương mất nước, những vị vua chúa bị truất ngôi do chiến tranh, những tướng lĩnh cầu mong được khen thưởng hoặc đang khẩn khoản xin khen thưởng. Ông ta có thể quan sát thấy quanh mình sự lạm dụng lòng tự ái, một cảnh tranh giành ác liệt, các tai biến, mối ưu sầu, giấu kín trong tâm can, nỗi đau đớn để lộ ra ngoài. Ông Hoàng Đế nói thêm rằng: Triều đình của ông ta đầy rẫy những tấn bi kịch và bản thân ông ta là nhân vật bi thảm nhất của thời đại. Thế nhưng - Napoléon hỏi - Napoléon và những diễn viên khác của những tấn bi kịch đó có giơ tay lên trời không? Họ có nghiên cứu động tác của họ không? Họ có lấy tư thế, thái độ oai phong lẫm liệt không? Họ có kêu la không? Không dứt khoát là họ nói một cách tự nhiên như tất cả nhưng con người bị quyền lợi hoặc dục vọng khích động. Tất cả những người xuất hiện trên sân khấu lớn của thế gian đã làm như vậy và đã đóng một tấn bi kịch ở trên ngai vàng. Và Hoàng Đế khuyên nghệ sĩ hãy nghiền ngẫm những thí dụ ấy.

Hầu như lúc nào Napoléon cũng tự chủ được. Nỗi bực bõ duy nhất của ông là những cơn giận dữ mà ông không biết làm thế nào để chế ngự được. Những cơn thịnh nộ đó rất dữ dội và làm xung quanh hoảng sợ. Vào những lúc đó, ông ta làm cho những người vững vàng nhất, can đảm nhất cũng phải sợ. Nhưng cũng có lúc, trong trường hợp đã tính trước và vì những lý do đã suy nghĩ chín chắn (và những trường hợp, lý do ấy không liên quan đến bản chất hay nổi nóng của ông ta) thì Napoléon đã đóng những màn kịch thịnh nộ tuyệt hay, với một nghệ thuật giả vờ điêu luyện và đặc sắc đến nỗi chỉ những người thấu hiểu Napoléon mới có thể ngờ rằng ông ta đóng kịch, nhưng không phải lúc nào cũng dám ngờ, vì ngay bản thân họ cũng thường hay bị nhầm.

Uychoco, đại sứ mới của Anh ở Pháp, ngay từ buổi đầu đã không bao giờ tin rằng có thể sống hòa bình với Bonaparte được, không phải chỉ vì nước Pháp có lợi nhiều trong Hòa Ước Amiens, mà còn vì sau đó vị Tổng Tài thứ nhất đã hoạt động trên phần đất đai Châu Âu ở sát biên giới nước Pháp như thể đất ấy đã thuộc quyền ông ta. Chẳng hạn, mùa thu năm 1802, Napoléon đã báo cho nước Thụy Sĩ biết rằng ông ta muốn lập hiến pháp mới ở Thụy Sĩ và đưa một chính phủ “bạn của nước Pháp” lên cầm quyền. Viện lý rằng nước Pháp và nước Ý chư hầu của Pháp ở bên cạnh Thụy Sĩ, rằng trên bản đồ Thụy Sĩ nằm giữa Pháp và Ý, và dựa vào những lý do địa lý ấy, Napoléon đã tập trung ở biên giới Thụy Sĩ một quân đoàn 30.000 người do tướng Ney chỉ huy. Thụy Sĩ quy phục và sau đó tỏ ra ngoan ngoãn tuyệt đối. Suýt soát cùng lúc ấy Napoléon tuyên bố hợp nhất hẳn vương quốc Piedmont vào nước Pháp. Những quốc gia nhỏ và những tiểu vương Đức, mà sau Hòa Ước Luneville năm 1801, không thể hy vọng vào sự giúp đỡ của nước Áo được nữa, run sợ trước Napoléon và cư xử với Napoléon như những kẻ tôi đòi, theo đúng nghĩa của danh từ ấy. Rồi cuối cùng là Hà Lan nắm chắc chắn trong tay Napoléon; rõ ràng là Hà Lan sẽ không thể thoát và không thể tự giải thoát được.

Nước Anh không thể và không muốn như vậy. Ngày 18-2-1803, trong buổi hội kiến long trọng đầu tiên, bằng cách giả vờ nổi giận và phun ra những lời dọa nạt, Napoléon đã la lối om sòm. Ông ta phô trương sự hùng cường của mình và tuyên bố rằng nếu Anh dám gây chiến thì đó sẽ là “một cuộc chiến tranh tiêu diệt”, rằng Anh đứng hòng phỉnh phờ các nước liên minh, rằng nước Áo “đã thôi không tồn tại” là một cường quốc lớn nữa. Napoléon nói bằng một giọng như vậy và hét to đến nỗi Uychoco viết thư về cho cấp trên của y, ngài Bộ Trưởng ngoại giao Hawkesbury rằng: “Tôi tưởng như đang đứng nghe một viên đại uý kỵ binh nói chứ không phải người đứng đầu một trong những quốc gia mạnh nhất ở Châu Âu”.

Napoléon một mực tin rằng có thể nạt nộ được Anh và như vậy vừa giữ được hòa bình, vẫn vừa làm chủ được Châu Âu. Nhưng ông ta đã gặp phải đối phương mạnh. Tuy có những bất đồng nghiêm trọng đã làm cho giai cấp tư sản và quý tộc Anh lúc đó không thống nhất với nhau trên nhiều quan điểm, nhưng bọn họ lại nhất trí về một điểm là không để nhà độc tài Napoléon chinh phục Châu Âu. Với sự dọa nạt của Napoléon về việc tập trung một đội quân nửa triệu người, chính phủ Anh đối lại bằng cách tăng cường hạm đội của họ và dùng nhiều biện pháp quân sự quan trọng.

Ngày 13 tháng 3, trong khi đóng một màn kịch mới và màn kịch cuối cùng, Napoléon đã tuyên bố rằng: “Các ông nhất định chiến tranh hả? Các ông còn muốn đánh nhau trong 15 năm nữa và các ông buộc tôi sẽ phải tham chiến”. Ông ta đòi lại đảo Malta mà Anh đã chiếm từ trước Hòa Ước Amiens và đã cam kết giao trả cho Dòng Họ Kỵ Sĩ, nhưng Anh trì hoãn việc thực hiện bằng cách tố cáo những hành động trái với hòa ước của Bonaparte, Napoléon lớn tiếng tuyên bố rằng: “Người Anh muốn chiến tranh, nhưng nếu họ là những người đầu tiên rút kiếm ra thì tôi sẽ là người sau cùng tra gươm vào vỏ... Các ông muốn chuẩn bị vũ khí, tôi cũng sẽ chuẩn bị vũ khí. Có lẽ các ông có thể giết chết được nước Pháp, nhưng đừng hòng dọa dẫm nó. Tai họa sẽ đến với những kẻ không tôn trọng hiệp ước! Nếu họ thích giữ đảo Malta thì chiến tranh là cần thiết”, Napoléon giận dữ thốt ra như vậy và bỏ phòng họp giữa cuộc tiếp kiến các đại sứ và các quan đại thần.

Uychoco rời Paris vào những ngày đầu tháng 5 năm 1803; như vậy là cuộc chiến tranh giữa Napoléon và nước Anh bắt đầu và nó chỉ kết thúc khi triều đại Napoléon kết thúc.

2

Ở Anh, người ta biết rằng cuộc chiến tranh này sẽ khó khăn và nguy hiểm. Hầu như ngay từ buổi đầu, người ta đã thấy thực tế là William Pitt, người đã thôi việc từ năm 1801, trở lại cầm đầu chính phủ, William Pitt đã rút lui từ ngày mà giai cấp lãnh đạo Anh, giai cấp tư sản và quý tộc cho rằng có khả năng và cần thiết thương lượng hòa bình với Bonaparte.

Bây giờ đây, vào năm 1803, William Pitt lại hoạt động. Con người này đã đánh cách mạng Pháp trong chín năm trời và từ nay lại gánh trách nhiệm theo đuổi một cuộc chiến tranh vô cùng khủng khiếp hơn chống Napoléon. Tuy nhiên, nếu William Pitt nghĩ rằng đánh nhau với Napoléon sẽ khó khăn hơn là đánh nhau với những chính phủ cách mạng vừa qua thì William Pitt cũng nhận thấy rằng cuộc chiến tranh mới này không gây nhiều nỗi lo lắng về mặt chính trị ở trong nước như cuộc chiến tranh trước đây với cách mạng Pháp. Đúng là vào năm 1803, nước Pháp đã mở rộng đất đai của mình một cách đáng kể làm cho Pháp trở nên giàu có hơn và có một quân đội được tổ chức khá hơn trước; đứng đầu nước Pháp là một nhà tổ chức thiên tài và một người chỉ huy lỗi lạc. Nhưng mặt khác, cái “nọc độc cách mạng” kia đã tan biến đi rồi, cái nọc đã bắt đầu phá hoại rõ rệt hạm đội của Hoàng Gia Anh, chưa nói đến nhân dân thợ thuyền ở các khu trung tâm kỹ nghệ và ở các vùng mỏ than. Pitt nhớ rất rõ đến các cuộc nổi loạn của của thủy thủ vào năm 1797, bây giờ, trị vì nước Pháp là một tay độc tài đã từng đàn áp man rợ những người Jacobin và thủ tiêu mọi dấu tích của quyền tự do chính trị. Tất cả những cái đó đều là sự thật. Tuy vậy, trong 18 tháng đầu của cuộc xung đột ấy, giữa nước Anh bị cô lập với nước Pháp của Napoléon, có chỗ rất đáng lo ngại.

Sau khi đã phấn khởi đón chào Hòa Ước Amiens, trong vài ba tháng, giai cấp tư sản thương nghiệp và công nghiệp Anh tin chắc rằng - như trên đã nói - Bonaparte không muốn ký kết, bằng bất kỳ giá nào, một hiệp ước thương mại với nước Anh và sẽ không cho hàng hoá Anh nhập vào Pháp, cũng như vào các nước Châu Âu thuộc quyền Bonaparte. Còn như bọn quý tộc, chúng mong muốn chiến tranh một cách có ý thức đầy đủ, vì nếu không có chiến tranh thì chúng phải ưng thuận một cuộc cải cách tuyển cử đến tận gốc, có lợi cho giai cấp tư sản, hoặc phải đương đầu với một cuộc đấu tranh ở trong nước kéo dài và cực kỳ nguy hiểm. Đó là một thực tế hiển nhiên, không thể chối cãi được. Vả lại, cái ám ảnh kinh khủng của phong trào thợ thuyền cũng làm cho giai cấp đang sắp sửa lao vào cuộc tử chiến ấy phải lo sợ. William Pitt dốc tất cả tâm lực vào việc ngăn cuộc đổ bộ của Napoléon lên bờ biển nước Anh.

Trước hết, Napoléon đã đánh chiếm Hanover, một quốc gia lớn ở Đức và là đất đai của riêng vua Anh, đồng thời ở đấy, vua Anh có quyền tuyển cử Hoàng Đế Đức. Sau đó, Napoléon đã hạ lệnh chiếm đóng một số căn cứ khác nhau ở miền Nam nước Ý, những nơi mà trước đây quân đội Pháp còn chưa tới. Napoléon chỉ thị cho Hà Lan và Tây Ban Nha phải để hạm đội và quân đội của họ cho Pháp điều động. Đồng thời có lệnh tịch thu hàng hoá của Anh trong tất cả các nước chư hầu; bắt tất cả những người Anh ở Pháp và giam giữ cho đến khi nào ký hòa ước với Anh. Rồi Napoléon đã tiến hành xây dựng một trại lính lớn ở Boulogne, đối diện với bờ biển nước Anh, nơi tập trung lực lượng rất lớn nhằm đổ bộ sang Anh. Napoléon chỉ cần ba ngày sương mù là làm chủ được London, trụ sở Quốc Hội và nhà Ngân Hàng Anh, Napoléon đã nói như vậy vào tháng 6 năm 1803, tức là một tháng sau khi chiến tranh bùng nổ. Công việc chuẩn bị xây dựng trại lính Boulogne được xúc tiến hết sức khẩn trương vào năm 1803, và sang năm 1804 càng khẩn trương hơn nữa.

Không khí hoạt động căng thẳng trùm khắp các hải cảng và các xưởng đóng tàu biển của Pháp. “Ba ngày sương mù” có thể cho phép hạm đội Pháp thoát được hạm đội Anh và đổ bộ lên đất Anh. Và lúc bấy giờ, chọc thủng mọi phòng tuyến, Napoléon sẽ tiến thẳng về London và đột nhập thủ đô. Napoléon và rất nhiều người ở Anh đã nghĩ như vậy.

Nhiều người Anh, đã sống trong thời kỳ đó, về sau này nói rằng trong những tháng đầu chiến tranh, người ta muốn chế giễu chương trình đổ bộ của Bonaparte. Nhưng vào cuối năm 1803 và nhất là vào năm 1804, người Anh không còn cười được nữa. Kể từ ngày nước Anh chờ đợi sự xuất hiện của chiến thuyền Tây Ban Nha vào năm 1588 đến nay, chưa bao giờ nước Anh lâm vào tình trạng náo động khẩn cấp đến như thế. Trong lúc đi thăm các hải cảng và các thành phố trên bờ biển Tây Bắc nước Pháp, Napoléon đốc thúc công việc và trong các bản tuyên bố, Napoléon đã làm loé rực trong ánh mắt của dân chúng các khu trung tâm buôn bán cái viễn ảnh rạng rỡ của sự chiến thắng kẻ địch muôn đời. Chính phủ Anh nhận được nhiều tin tức rất đáng lo ngại về quy mô chuẩn bị lớn lao của Napoléon.

Nhiều biện pháp nghiêm ngặt nhất được ban ra. Con người mà vào năm 1789, với một hạm đội và một đội quân hùng mạnh đã có thể thoát khỏi cuộc đuổi bắt của hạm đội Anh trên khắp Địa Trung Hải và đổ bộ lên Ai Cập không gặp khó khăn gì, chiếm đảo Malta khi đi qua, một con người như vậy hoàn toàn có thể lợi dụng sương mù rất hiếm ở Địa Trung Hải, nhưng thường luôn luôn có ở biển Manche. Và thời gian cần cho Napoléon để thực hiện tốt sự nghiệp lần này không phải là một chuyện hàng tháng, mà chỉ là hàng giờ hoặc nhiều nhất là vài ngày.

Vậy làm thế nào? Có hai giải pháp đề ra. Thứ nhất là vung vãi thật nhiều vàng ra để thành lập gấp một Khối Liên Minh Châu Âu, khối ấy sẽ tiến công Napoléon về phía Đông và như vậy sẽ ngăn chặn được Napoléon xâm lược nước Anh. Nhưng nước Áo đã bị Bonaparte đánh bại và đã bị thua thiệt nặng vì Hòa Ước Luneville, vẫn chưa hoàn toàn hồi phục. Áo muốn chiến tranh nhưng không tự quyết định được. Phổ lưỡng lự, Nga cân nhắc. Các cuộc thương nghị đang tiến hành. Pitt không thất vọng về việc thành lập Khối Liên Minh, song, phương kế đó tuy có chắc nhưng lại chậm chạp: Không phải tức thời thành lập ngay được.

Còn lại một thủ đoạn khác. Từ lâu, William Pitt và Hawkesbury đều đã biết rằng George Cadoudal, gã Bảo Hoàng đến tận xương tủy đang ở London và ở đấy hắn liên hệ với bá tước d’Artois; ngoài ra họ còn biết đại khái rằng bọn người Pháp xuất dương đang mưu mô gì đó. Thế là tức thì chính phủ Anh biết được những nét lớn về công việc của bọn Bảo Hoàng trốn ở London đang chuẩn bị. Tin chắc rằng cuộc bạo động ở Vendée đã hoàn toàn bị đè bẹp và không có khả năng lật đổ Bonaparte bằng vũ lực nên bọn chúng lặp lại cái mưu mô đã ngẫu nhiên bị thất bại hồi vụ bom nổ năm 1800.

Những viễn cảnh bất ngờ hiện ra trước mắt William Pitt. Chính phủ Anh muốn thực hiện công việc này một cách rất khéo léo. Tốt nhất là làm như đã làm vào năm 1801 đối với Pavel đệ nhất, trong lúc Pavel đang tiến hành chinh phục Ấn Độ, nghĩa là chơi lối ném đá giấu tay, vừa giữ được nghi thức lại vừa giành được cho mình khả năng bày tỏ những lời thăm viếng chia buồn một cách đàng hoàng đứng đắn nhất, như xưa kia, nhân dịp Nga Hoàng bị “trúng phong” ở trong buồng ngủ, lúc đại sứ Nga Vorozov chính thức báo tin cho người Anh biết về cái tai nạn đáng phàn nàn về mặt y học đó. Nhưng tổ chức vào năm 1804 ở cung Tuileries một “cơn trúng phong” là việc khó khăn và rất phức tạp hơn lúc ở cung điện Miseen ở Peterburg. Bên cạnh Napoléon không thấy có bọn sĩ quan cận vệ công phẫn, không có một bá tước Pahlen, một tên Bennigsen, một tên Platon Dubov, một trong số những người đã trực tiếp gây ra “cơn trúng phong” của Pavel. Mà giải quyết công việc này cũng không phải bằng một bà kiều diễm trên đời như kiểu Olga Alexandrovna Derepseva, chị Platon Dubov, mà Uychoco, đại sứ Anh ở Peterburg lúc bấy giờ đã dùng làm trung gian để biểu thị lòng ân cần của mình đối với sức khoẻ của Hoàng Đế Pavel; bây giờ lại phải bàn bạc với một tên thộn người xứ Bretagne chẳng hiểu những lời bóng gió tế nhị, những câu hiểu ngầm, và chỉ có cái việc “triệt” vị Tổng Tài thứ nhất đi mà hắn chịu không hiểu phải làm thế nào. Tóm lại, Cadoudal không hiểu thật rõ rằng phải làm thế nào để có thể “triệt” được người đứng đầu chính phủ ở ngay trong kinh thành của ông ta. Những kiểu nói tinh tế như vậy hoàn toàn xa lạ đối với Cadoudal và hai chân to quá khổ của hắn xỏ trong đôi ủng săn to tướng chưa đủ khéo léo để tiến bước trên sàn ván bóng như gương của các phòng khách và văn phòng ngoại giao ở London. Trong các cuộc bàn luận đó, câu nói “triệt Bonaparte” cũng có ý nghĩa thú vị như câu nói “mời Hoàng Đế Pavel thoái vị” trong những cuộc bàn bạc bí mật giữa bá tước Pahlen và Aleksandr và đêm 12 tháng 3 năm 1801. “Lời nói có làm chết người đâu”, đó là câu tục ngữ xã giao nhất trong số những câu châm ngôn Nga, William Pitt con, đã suốt đời tuân theo ý nghĩa giáo huấn của câu đó mặc dầu hắn không biết tiếng Nga.

Âm mưu đó nảy sinh và được trù tính ở London. George Cadoudal phải trừ được vị Tổng Tài thứ nhất, nghĩa là phải cùng với một vài người có vũ khí bất thần xông vào giết vị Tổng Tài thứ nhất lúc ông ta cưỡi ngựa dạo chơi, chả là ông có thói quen hay đi dạo một mình quanh khu Malmaison, nơi ông ở.

Cadoudal là một tên Bảo Hoàng cuồng tín, theo đúng nghĩa của danh từ. Hắn đã nhiều lần liều mình ở Vendée và đã trải qua nhiều chuyện mạo hiểm kỳ quặc nhất. Không ngần ngại, không sợ hãi, bây giờ Cadoudal sẵn sàng giết Bonaparte vì hắn thấy Bonaparte là hiện thân của sự thắng lợi của cách mạng mà hắn căm hờn, là kẻ đã chiếm đoạt ngai vàng của ông vua chính thống là Louis của dọng họ Bourbon.

Vào một đêm tối trời tháng 8 năm 1803, Cadoudal và đồ đảng của hắn được một tàu Anh cho đổ bộ lên bờ biển Normandie và bọn chúng tức khắc đến Paris. Bọn mưu sát có nhiều người, có nhiều tiền, có những mối liên lạc ở thủ đô, có những địa chỉ và nơi hẹn hò bí mật, có nơi ẩn trốn chắc chắn. Nhưng ngoài ra còn phải bắt liên lạc với nhân vật sẽ lên nắm chính quyền và triệu hồi bọn Bourbon về ngai vàng của tổ tiên họ ngay sau khi vừa thủ tiêu được Bonaparte. Bọn Bảo Hoàng tin tưởng sẽ tìm được nhân vật đó ở tướng Moreau, ở Pichegru - một viên tướng khác sẽ làm trung gian giữa Cadoudal và Moreau. Pichegru là kẻ bị đày ra Guyana sau ngày 18 Tháng Quả, đã vượt ngục trở về năm 1803 và sống bí mật ở Paris. Bị buộc tội là phản bội, lại là một tên tù vượt ngục thì thực tế Pichegru có thiệt gì khi hành động. Nhưng tướng Moreau lại là người có cái cốt cách khác hẳn và ở vào một hoàn cảnh khác hẳn. Moreau là một trong những tướng tài nhất của quân đội Pháp, một kẻ tham lam, nhưng một kẻ tham lam do dự. Đã từ lâu, Moreau căm ghét Bonaparte, vẫn cầu hại cho Bonaparte vì Bonaparte đã dám làm cuộc đảo chính ngày 18 Tháng Sương Mù, điều mà bản thân y không dám làm, và từ đó Moreau ở vào tình trạng đối lập ngấm ngầm với Bonaparte.

Một số người Jacobin tưởng Moreau là một tay Cộng Hòa kiên định, và bọn Bảo Hoàng biết rõ chân tướng Moreau thì đinh ninh rằng chỉ nội chuyện căm ghét Bonaparte cũng đã đủ để Moreau sẵn sàng giúp bọn chúng một tay.

Thực ra, mối căm ghét đối với Bonaparte là thiên kiến chủ yếu của Moreau, nhưng không thể vì thế mà cho rằng Moreau muốn đặt lại bọn Bourbon lên ngai vàng. Nhưng cái việc “đã biết rõ âm mưu mà lại không phát giác” sau này đã làm cho Moreau bị khốn đốn. Pichegru, thường xuyên liên hệ với bọn gián điệp của chính phủ Anh, bảo đảm với người Anh và bọn Bảo Hoàng rằng Moreau đã bằng lòng cộng tác. Nhưng Moreau từ chối, không nói chuyện với Cadoudal và tuyên bố thẳng với Pichegru rằng y sẵn sàng hành động chống Bonaparte nhưng không muốn phụng sự bọn Bourbon. Trong khi các cuộc hội đàm và bàn bạc bí mật đó đang tiến hành thì cảnh sát của Napoléon rình mò và hàng ngày báo cáo lên vị Tổng Tài thứ nhất tất cả những điều đã khám phá được.

Ngày 15 tháng 2 năm 1804, tướng Moreau bị bắt tại nhà riêng và tám ngày sau thì Pichegru bị tóm cổ vào ban đêm: Chả là Pichegru trốn trong nhà người bạn thân nhất của hắn, người này đã báo cho cảnh binh để lấy 300.000 francs. Những cuộc thẩm vấn diễn ra liên tục, nhưng Pichegru không chịu khai một điều gì. Nhân danh Bonaparte, người ta hứa với Pichegru rằng sẽ trả lại tự do và khoan hồng nếu Pichegru nhận đã gặp gỡ bàn bạc với Cadoudal.

Pichegru từ chối. 40 ngày sau khi bị bắt, người ta thấy Pichegru chết treo trong nhà giam bằng chiếc cravát của hắn. Thế là tiếng đồn không ngớt truyền đi rằng không phải Pichegru tự sát mà bị ám sát theo lệnh cấp trên. Sau này, Napoléon cải chính một cách khinh bỉ những tin đồn đó rằng: “Tôi có toà án để xét xử hắn và có lính để bắn hắn. Trong đời tôi, không bao giờ tôi làm một việc vô ích”. Song những tin đồn đó có đất tốt để phát triển, vì trước cái chết bí mật của Pichegru vài ngày, một sự cố hoàn toàn bất ngờ đã làm rung động các tầng lớp trên ở Pháp và ở Châu Âu: Công tước Enghien, một người thuộc dòng họ Bourbon, bị hành hình.

Từ ngày Moreau, Pichegru và tiếp luôn là nhiều người khác dính líu đến âm mưu đó bị bắt, có thể nói rằng Napoléon không lúc nào nguôi giận. Trong việc này, Napoléon thấy rất rõ vai trò chủ đạo của bọn Bourbon cũng như bàn tay của người Anh. Napoléon biết rằng người Anh đã đưa Cadoudal đổ bộ lên đất Pháp từ cuối mùa hạ năm 1803, mang theo tiền bạc của người Anh và những lời chỉ giáo của bá tước d’Artois, biết rằng Cadoudal hiện ở Paris và có thể bất cứ lúc nào gây ra một vụ mưu sát do một mình hắn hoặc cùng bọn tâm phúc của hắn tiến hành. Trong cơn giận dữ, có lần Bonaparte nói rằng bọn Bourbon đã lầm tưởng Bonaparte không có đủ tư cách để bắt chính bọn chúng phải đền tội về những vụ mưu sát ấy. Khi nghe câu la lối ấy, để lấy lòng Bonaparte và đồng thời để trả thù bọn Bảo Hoàng đang căm ghét mình mà không gặp nguy hiểm gì, Talleyrand liền nhận xét chêm vào: “Thật vậy, bọn Bourbon cho rằng máu của ngài không quý bằng máu của bọn chúng”. Lời nhận xét này đã làm cho Napoléon phát điên khùng. Chính vì thế mà lần đầu tiên khi nghe người ta nói đến công tước Enghien. Giận dữ đến cực điểm, Napoléon tức tốc họp hội đồng tư vấn (có Fouché và Talleyrand tham dự), quyết định bắt công tước Enghien. Có hai khó khăn: Trước hết là công tước không sống ở Pháp mà ở đất Baden, hai là công tước không dính líu gì đến cái âm mưu đã bị bại lộ kia. Nhưng trở ngại thứ nhất đối với Napoléon thì không thành vấn đề vì lúc bấy giờ Napoléon đã hành động ở Tây Đức và Nam Đức như ở trên đất nước mình rồi. Trở ngại thứ hai cũng chẳng đáng kể vì người ta đã quyết định từ trước là sẽ đưa công tước ra trước hội đồng quân sự, mà đặc biệt hội đồng này không đòi hỏi gì nhiều chứng cớ cho lắm. Lệnh bắt được truyền đi ngay.

Công tước Enghien, sống ở Ettenheim, một thành phố nhỏ trên đất Baden, có ngờ đâu đến cái nguy cơ khủng khiếp đang treo trên đầu. Đêm 14 rạng ngày 15 tháng 3 năm 1804, một phân đội hiến binh đi ngựa, xâm phạm đất Baden bắt công tước Enghien và đưa ngay về Pháp. Rõ ràng là các vị thượng thư xứ Baden tỏ vẻ hài lòng vì người ta đã có ý không bắt họ cùng với công tước, và suốt trong thời gian công tước bị bắt, các nhà chức trách xứ Baden đi biệt tăm biệt tích đâu không biết. Ngày 20 tháng 3, công tước bị giải tới Paris, đưa về lâu đài Valence. Chiều ngày 20 tháng 3, hội đồng quân sự họp ở đấy để xét xử công tước Enghien đã can tội ăn tiền của nước Anh chống lại nước Pháp. Ba giờ kém mười phút sáng, Enghien bị kết án tử hình. Enghien viết một lá thư và yêu cầu gửi đến tận Napoléon. Chủ tịch Hội Đồng Quân Sự Hulin (một trong số những người anh hùng phá ngục Bastille) muốn nhân danh toà án gửi lên Napoléon đơn xin giảm tội cho Enghien, nhưng tướng Xavarin đặc phái viên của điện Tuileries, giằng bút ở tay Hulin và nói: “Bây giờ là việc của tôi”. Ba giờ sáng, công tước Enghien bị đưa xuống hào của lâu đài và bị xử bắn.

Khi xem thư của công tước Enghien, Napoléon nói rằng nếu nhận được sớm hơn thì đã xá tội cho Enghien. Suốt ngày hôm đó, Napoléon vô cùng ủ dột và tư lự, không một ai dám nói gì với ông ta cả. Sau này, Napoléon quả quyết rằng mình hoàn toàn đúng khi cho hành hình công tước: Quyền lợi của Nhà Nước đòi hỏi làm như vậy và cần phải làm cho bọn Bourbon khiếp sợ rụng rời.

Vài ngay trước khi xử tội công tước Enghien, cuối cùng Cadoudal cũng đã bị bắt. Khi người ta tóm được hắn ở ngoài phố, hắn chống cự lại một cách tuyệt vọng, làm chết và bị thương nhiều cảnh binh. Cadoudal và bọn tâm phúc của hắn đều bị lên máy chém. Tướng Moreau bị phát vãng ra khỏi nước Pháp.

3

Vào tháng 3, sau vụ hành hình công tước Enghien và trong khi người ta đang chuẩn bị bản án của Cadoudal thì ở Paris và ở các tỉnh có tin đồn rằng chính công tước đã được Cadoudal và đồ đảng của hắn định đưa lên ngôi vua sau khi đã thanh toán được Bonaparte. Đó là tin đồn nhảm nhưng cũng đã giúp ích được nhiều cho Bonaparte. Pháp Đình, Hội Đồng Lập Pháp, Nghị Viện được coi như đại diện cho nhân dân nhưng gồm toàn những kẻ mù quáng và tay sai của vị Tổng Tài thứ nhất, bắt đầu nói công khai và nói toạc ra rằng đã đến lúc cần thiết phải chấm dứt cái tình trạng mà trong đó sự an ninh và quyền lợi của Quốc Gia tuỳ thuộc và sinh mạng của riêng một người và người ấy đang gây cho mọi kẻ thù của nước Pháp nuôi hy vọng bằng những vụ mưu sát. Kết luận rõ ràng là: Cần phải thay chế độ “Tổng Tài trọn đời” bằng chế độ quân chủ thế tập.

Vì thế, sau triều đại Mérovingiens trị vì từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VIII; sau triều đại Carolingiens, kế tục triều đại Mérovingiens, trị vì thứ thế kỷ VIII đến thế kỷ X; sau triều đại Capetien (gồm hai chi họ Valois và Bourbon) thống trị từ cuối thế kỷ thứ X đến năm 1792 năm mà Louis XVI (tức là “Louis áo choàng”, trong thời cách mạng người ta gọi Louis XVI như vậy) bị lật đổ thì phải có “triều đại thứ tư” trị vì nước Pháp, đó là triều đại Bonaparte.

Chế độ Cộng Hòa, tồn tại từ ngày 10 tháng 8 năm 1792, đến nay lại phải nhường chỗ cho chế độ quân chủ. Tuy vậy, triều đại mới Bonaparte không thể mang tên hiệu của các triều đại trước được.

Ông chúa mới muốn mang cái danh Hoàng Đế mà Charlemagne, khi làm lễ đăng quang, đã tự phong cho mình vào năm 800. 1.000 năm sau, vào năm 1804, Napoléon tuyên bố công khai rằng noi gương Charlemagne, Napoléon sẽ trở thành Hoàng Đế Phương Tây, rằng ông không tự cho mình là người thừa kế của các vua chúa thời xưa của nước Pháp, mà là người thừa kế của Hoàng Đế Charlemagne.

Đế quốc Charlemagne có gì khác hơn là một âm mưu làm sống lại và mở rộng một đế quốc khác còn rộng lớn gấp bội đế quốc La Mã. Napoléon cũng tự cho là kẻ thừa kế của đế quốc ấy, là kẻ thống nhất những nước có nền văn minh Phương Tây. Sau này, Napoléon đã thành công trong việc quy phục các nước chư hầu dưới ách thống trị trực tiếp hay gián tiếp của mình gồm một khoảng đất đai rộng lớn gấp bội khoảng đất đai mà Charlemagne chưa hề trị vì: Trước chiến dịch nước Nga năm 1812, quyền lực ghê gớm của Napoléon bao trùm lên trên các lãnh thổ rộng lớn, trù phú và dân cư đông đúc gấp bội đế quốc La Mã, đó là mới chỉ nói ở Châu Âu, chưa nói đến những đất đai thuộc La Mã ở Bắc Phi và ở Tiểu Á. Nhưng khi lần đầu tiên Châu Âu được nghe nói đến kế hoạch Napoléon làm sống lại đế quốc Charlemagne thì nhiều người cho rằng dự án đó xuất phát tự một sự kiêu ngạo điên rồ và coi nó như một sự thách thức táo bạo của một kẻ xâm lược ngang tàng với thế giới văn minh.

Đại sứ của tất cả các cường quốc lo âu chú ý theo dõi sự biến chuyển bất ngờ, đột ngột và nhanh chóng sang chế độ quân chủ đã quá hiển nhiên ở Pháp sau khi khám phá âm mưu của Cadoudal và sau vụ hành hình công tước Enghien. Tính chất Bảo Hoàng được xác minh đầy đủ của âm mưu đó đã buộc mọi người phải chú ý. Tuần tự theo dõi các sự việc được công bố trong quá trình điều tra và các cuộc tranh tụng trong khi xét xử, dần dần người ta nhận ra rằng, ở ngay giữa lòng bọn đại tư sản, trong số những kẻ chiếm hữu tài sản của Nhà Nước, có ước vọng củng cố chính quyền và chế độ Napoléon lập nên nhằm bảo đảm một cách có hiệu lực tính mạng và tài sản của họ chống lại những mưu đồ của bọn tư sản cũ, bọn quý tộc. Ngày 18 tháng 4 năm 1804, Nghị Viện ra một nghị quyết. Theo nghị quyết ấy thì Napoléon Bonaparte được phong làm Hoàng Đế nước Pháp theo chế độ thế tập. Thể thức trưng cầu dân ý lần này còn dễ dàng hơn năm 1799, sau Tháng Sương Mù.

Tư tưởng ai nấy đều hoang mang cao độ, mặc dù ai nấy đều đã trông đợi sự kiện ấy từ năm 1802 và giai cấp đại tư sản, ủng hộ triệt để chính sách của Bonaparte, đã cho rằng chế độ quân chủ quay trở lại là một việc nhất định không thể tránh được. Đương nhiên là những người Cộng Hòa kiên định không thể cam chịu tình hình mới đó. Những ngày cách mạng, những ước mơ tự do và bình đẳng, những lời đả kích kịch liệt bọn độc tài còn khắc sâu trong tâm trí. Một số người nghĩ rằng Bonaparte đã làm giảm vinh quang của ông ta khi muốn thêm một chức vị vào cái tên đã lừng lẫy khắp nơi của ông ta. Pavel Louis Courier lúc đó kêu lên rằng: “Đã là Bonaparte mà còn làm Hoàng Đế! Hắn muốn xuống dốc!”. Beethoven vì quá hâm mộ nên tặng Napoléon cái tên “bản giao hưởng hùng tráng” nhưng Beethoven đã thu lại lời tặng ấy khi thấy anh công dân Bonaparte đã biến chất thành Hoàng Đế. Khi một bầy văn võ bá quan phẩm phục rực rỡ, một bầy phu nhân trong triều, áo quần lộng lẫy, lần đầu tiên đến chúc tụng vị Hoàng Đế mới trong cung Tuileries thì chỉ có một vài người hiểu trong thâm tâm rằng người chúa mới chưa coi lễ lên ngôi của ông ta đến đây là kết thúc và không phải vô cớ mà ông ta nhắc tới Charlemagne. Napoléon muốn Giáo Hoàng đích thân đến dự lễ lên ngôi của ông. Như 1.000 năm trước đây, năm 800, vị tiền bối xa xôi của Giáo Hoàng đã làm đối với Charlemagne. Nhưng Napoléon định tâm đem lại cho lễ lên ngôi một sự thay đổi có ý nghĩa. Charlemagne đến với Giáo Hoàng ở La Mã để làm lễ đăng quang, còn Napoléon thì muốn Giáo Hoàng phải đích thân đến với Napoléon ở Paris.

Pius VII hoảng sợ và căm tức khi được biết ý muốn của Hoàng Đế Napoléon. Các cận thần của Giáo Hoàng cố gắng an ủi Giáo Hoàng bằng cách dẫn giải các thí dụ lịch sử xưa kia. Họ đã nhắc lại một trong vô vàn kỷ niệm về đức Giáo Hoàng Leon thứ nhất rằng giữa thế kỷ thứ V, khi tình hình chẳng ra sao, đã đành chịu nhẫn nhục đến gặp Attila, mà người thủ lĩnh ấy của dân tộc Hung thì không thể nào bì được với vị Hoàng Đế mới của nước Pháp về phương diện học vấn, lễ độ và lịch thiệp. Vả lại, cũng không thể đặt vấn đề từ chối được. La Mã nằm trong vòng uy hiếp của quân đội Pháp ở miền Bắc và miền trung nước Ý.

Nghĩ đã chín, Giáo Hoàng nhanh chóng quyết định đành làm theo những yêu sách của Napoléon, nhưng không phải không cố đòi cho được một sự đền bù tối thiểu bằng một số mảnh đất nhỏ ở miền Bắc Đất Thánh mà trước đây Napoléon đã chiếm đoạt. Nhưng Pius VII, Hồng Y giáo chủ Consalvi và Viện Mật Tuyển của Giáo Hoàng không đủ sức chọi với nhà ngoại giao tài giỏi là Napoléon. Tuy Giáo Hoàng đã dùng những mẹo vặt đã kêu rên cay đắng, rồi lại dùng đến những mẹo vặt những lời kêu rên, nhưng việc mặc cả của ông ta cũng chẳng ăn thua. Sau khi được Napoléon khích lệ Giáo Hoàng đã đi Paris với hy vọng đến đó sẽ được một chút gì. Nhưng đến Paris, Giáo Hoàng cũng chẳng được gì hơn. Trước cũng như trong khi làm lễ đăng quang, Napoléon đã tỏ ra thái độ hai mặt rất kỳ khôi. Napoléon cần đến Giáo Hoàng vì trong thời ấy hàng triệu người dân trên mặt đất và đặc biệt đa số nhân dân Pháp đều sùng Giáo Hoàng. Vậy thì Giáo Hoàng là một cái đồ phụ tùng cần thiết cho lễ đăng quang của ông, nhất là khi cần phải làm sống lại quyền hành và ý nguyện của Charlemagne. Nhưng mặt khác, Napoléon coi cá nhân Giáo Hoàng như một gã phù thủy, như những kẻ lợi dụng một cách có ý thức sự ngu xuẩn của loài người bằng những lời thần chú và những thủ pháp mê tín ở trong cũng như ở ngoài nhà thờ. Khi mời Giáo Hoàng, Napoléon hứa với các vị Hồng Y giáo chủ là sẽ đi đón Giáo Hoàng. Napoléon đã đi đón nhưng lại vận đồ đi săn, có thợ săn, lính tiền trạm và chó vây quanh, và đã gặp Giáo Hoàng ở rừng Fontainebleau, cách lâu đài Fontainebleau ở vùng lân cận Paris vài bước, nơi Napoléon đang ở. Đoàn của Giáo Hoàng dừng lại, Giáo Hoàng được mời xuống xe và qua đường cái để lên xe của Hoàng Đế, nhưng Napoléon thì không xuống xe tiếp đón. Napoléon đã xử với Giáo Hoàng như vậy trong suốt thời gian ông này ở Paris.

Ngày 2 tháng 12 năm 1804, lễ đăng quang của Napoléon được cử hành ở nhà thờ Đức Bà Paris. Mọi người đổ xô ra xem khi đoàn xe lộng lẫy kéo thành một hàng dài vô tận đưa toàn bộ triều đình, tướng tá, đại thần, Giáo Hoàng và các Hồng Y giáo chủ từ cung điện đến nhà thờ. Ngoài ra, ngày hôm đó người ta còn nhắc lại một câu trong truyền thuyết để gán cho nhiều nhân vật khác nhau và có lẽ câu đó đã do một người lính Cộng Hòa cũ nói để trả lời Napoléon khi Napoléon hỏi người ấy có thấy thích thú về sự long trọng này không: “Tâu Bệ Hạ, rất thích thú, nhưng thật đáng tiếc bao nhiêu vì ngày hôm nay vắng mất 300.000 người đã chết để làm cho những buổi lễ giống như thế này không thể có được”. Câu truyền thuyết đó đôi khi được người ta cho là đã được nói vào dịp ký bản hiệp nghị giữa Giáo Hoàng và Napoléon, nhưng dù ở trong trường hợp nào đi nữa, câu nói đó vẫn rất có ý nghĩa.

Bất ngờ đối với Giáo Hoàng và trái với thủ tục đã định trước, Napoléon sửa đổi một cách hết sức đặc biệt phần chủ yếu của buổi lễ: Vào lúc long trọng nhất, khi Pius VII sắp làm nhiệm vụ đặt mũ miện lên đầu Hoàng Đế như 10 thế kỷ trước vị tiền bối của Giáo Hoàng đã làm đối với Charlemagne ở Tòa Thánh Pie, thì bất chợt Napoléon giằng lấy mũ triều thiên ở tay Giáo Hoàng và tự đặt lên đầu mình; rồi đến lượt vợ Napoléon, Joséphine, quỳ trước mặt Hoàng Đế để Hoàng Đế đặt lên đầu một mũ khác nhỏ hơn. Hành động này mang một ý nghĩa tượng trưng: Napoléon không muốn để cho sự “làm phép” của Giáo Hoàng có một tầm quan trọng quá quyết định trong buổi lễ. Napoléon không muốn nhận ở tay người cầm đầu cái tổ chức tôn giáo mà Napoléon thấy cần phải đếm xỉa tới nhưng thực tâm không ưa và cũng chẳng trân trọng.

 

Hội hè kéo dài nhiều ngày liền ở trong triều đình, ở kinh thành, ở các tỉnh, người ta dăng đèn, bắn súng cối, kéo chuông, tấu nhạc liên tục. Ngay giữa lúc thú vui không ngừng không dứt ấy, Napoléon đã nhìn thấy mối nguy mới đang uy hiếp đế quốc Pháp. Trước ngày làm lễ đăng quang. Napoléon đã nhận được những tin tức không cho phép mình hoài nghi rằng sau vụ Cadoudal bị bại lộ, William Pitt đã tăng cường công tác ngoại giao để thành lập một Khối Liên Minh khác chống lại nước Pháp. Ngay từ buổi đầu của các cuộc chiến tranh cách mạng đến nay thì Khối Liên Minh thứ ba và thực tế, Khối Liên Minh ấy đã được thành lập.

CHƯƠNG 8

thất bại của khối liên minh quân sự thứ ba
1

Cuộc liên minh quân sự lớn đầu tiên của các cường quốc Châu Âu tiến công vào nước Pháp năm 1792, trước Napoléon, đã bị đánh bại và bị thủ tiêu năm 1797 với Hòa Ước Campo Formio ký giữa tướng Bonaparte và những đại diện toàn quyền nước Áo. Cuộc liên minh thứ hai tiến công nước Pháp bị Bonaparte đánh bại lúc Bonaparte quay trở về Pháp và cũng bị tan rã sau sự phản bội của Pavel đệ nhất và khi nước Áo buộc phải chấp nhận Hòa Ước Luneville năm 1801. Năm 1805, Napoléon lại phải đối phó với cuộc tiến công thứ ba của các đại cường quốc Châu Âu. Một cuộc đọ sức mới và lớn lao đang được chuẩn bị.

Vào những năm 1804 - 1805, Napoléon nghĩ đến “một cuộc chiến tranh đế quốc” trên đất Anh, nghĩ đến “chiếm London và Ngân Hàng nước Anh”, nhưng Napoléon đã phải tiến hành cuộc chiến tranh ấy vào năm 1805 và chấm dứt nó không phải trước cửa thành London mà trước thành Vienna, tuy rằng đối phương của ông ta vẫn chỉ là một.

Vung tiền bừa bãi, William Pitt đang thực hiện nhiệm vụ thành lập Khối Liên Minh mới. Một sự hốt hoảng thật sự đã đè lên nước Anh kiêu ngạo. Vào cuối năm 1804 và đầu năm 1805, trại lính Boulogne do Napoléon lập nên đã trở thành một lực lượng quân sự đáng sợ. Một đội quân rất lớn, được trang bị hết sức đầy đủ, chỉ còn đợi lệnh đổ bộ khi sương mù bắt đầu phủ lên biển Manche. Ở Anh, người ta đang cố tổ chức một thứ tổng động viên. Như vậy là người Anh chỉ còn biết đặt hy vọng vào Khối Liên Minh. Nước Áo nhìn tình thế bất trắc một cách hài lòng. Những sự hy sinh mà nước Áo phải chịu đựng sau Hòa Ước Luneville, và nhất là từ khi Napoléon thi hành chính sách thống trị ở những nước nhỏ ở miền Tây và Nam nước Đức nặng nề đến mức độ mà nước Áo chỉ còn hy vọng duy nhất là trông chờ một cuộc chiến tranh để khỏi bị tụt xuống địa vị cường quốc loại hai. Và thời cơ tiến hành cuộc chiến tranh đó đã đến với số tiền của nước Anh. Gần như đồng thời với việc tiến hành thương lượng với Áo, Pitt cũng bắt liên lạc với nước Nga.

Napoléon biết rằng Anh rất trông mong vào một cuộc xung đột vũ trang mà Áo và Nga sẽ chiến đấu ở lục địa cho Anh. Napoléon cũng biết rằng nước Áo vừa tức giận vừa sợ hãi trước những cuộc thôn tính miền Tây nước Đức của Napoléon sau Hòa Ước Luneville, nên Áo sẵn sàng nghe theo những lời đường mật của chính phủ Anh. Và ngay từ năm 1803, qua một vài lời nói của Napoléon, người ta hiểu rằng Napoléon chưa dám bảo đảm chắc chắn là sẽ chiến thắng Anh, chừng nào bạn đồng minh bất trắc của Anh trên lục địa - “bọn đánh thuê”, như Napoléon đã gọi một cách khinh mỉa - chưa bị đánh bại. Napoléon tuyên bố với Talleyrand: “Nếu Áo nhảy vào cuộc thì điều đó sẽ có nghĩa là chính Anh buộc Pháp phải xâm chiếm Châu Âu...”.

Ngay sau khi lên ngôi, Hoàng Đế Nga Aleksandr đã chấm dứt cuộc đàm phán để kết bạn đồng minh với Napoléon do cha mình tiến hành. Aleksandr hiểu hơn ai hết “cơn trúng phong” đã làm Pavel đệ nhất chết, vì một lẽ dễ hiểu là chính Aleksandr đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị sự cố đó.

Vị Nga Hoàng trẻ tuổi cũng biết bọn quý tộc đã dốc sang Anh những nông phẩm chủ yếu và lúa mì trong lãnh địa của họ, quan tâm đến tình hữu nghị với Anh tới mức nào. Ngoài những lý do này, còn một lý do khác nữa rất quan trọng. Vào mùa xuân năm 1804, người ta đã có thể thấy hy vọng được rằng Khối Liên Minh mới sẽ gồm có Anh, Áo, vương quốc Naples (ít ra người ta đã nghĩ thế lúc bấy giờ), nước Phổ đang sợ hãi trước những hoạt động của Napoléon trên sông Rhine. Liệu nước Nga còn đợi dịp nào tốt hơn nữa để gây chiến với nhà độc tài Pháp? Napoléon sẽ không có những phương tiện và lực lượng cần thiết để đương đầu với cả một bè bối thù địch này. Việc Napoléon hành hình công tước Enghien đã làm bùng ra ở khắp Châu Âu quân chủ, lúc ấy đang sẵn sàng hành động, một cuộc vận động mãnh liệt rất hiệu nghiệm phản đối “con yêu tinh đảo Corsica” đã làm đổ máu một hoàng tử của dòng họ Bourbon. Người ta quyết định triệt để lợi dụng biến cố xảy ra rất hợp thời ấy. Ai nấy đều vội vã khuyên Đại Công Tước xứ Baden phản đối việc vi phạm trắng trợn lãnh thổ xứ Baden khi người ta bắt công tước Enghien, nhưng vị vương công xứ Baden ấy, sợ gần chết, lặng thinh, còn hối hả tìm cách hỏi ngầm giới thân cận của Napoléon xem Napoléon có được hài lòng trong cách xử sự của những nhà chức trách xứ Baden trong việc ấy không, và các nhà chức trách đó có thi hành nghiêm chỉnh những yêu sách của hiến binh Pháp không. Bọn vua chúa khác cũng chỉ dám bộc lộ kín đáo sự tức giận của họ với những người thân thiết và lòng dũng cảm của họ nhiều hay ít là do biên giới đất nước họ cách biên giới đất nước Napoléon xa hay gần quyết định. Chính điều đó cắt nghĩa tại sao Hoàng Đế Nga lại là người lên giọng kiên quyết nhất. Bằng một bức công hàm đặc biệt, Aleksandr đã dứt khoát phản đối việc vi phạm lãnh thổ xứ Baden, Aleksandr nhấn mạnh tính nghiêm trọng của việc vi phạm về phương diện luật quốc tế.

Napoléon đã đọc cho Bộ Trưởng Ngoại Giao của mình viết bức thư trả lời nổi tiếng mà Aleksandr không bao giờ quên và cũng không bao giờ tha thứ được, vì suốt đời Aleksandr chưa bị ai làm nhục một cách tàn tệ như vậy. Đại ý bức thư nói rằng: Công tước Enghien bị bắt vì đã tham dự vào một âm mưu chống Napoléon; nay thí dụ Hoàng Đế Aleksandr biết được rằng bọn thủ phạm giết người cha quá cố của mình là Pavel đệ nhất, hiện đang ở nước ngoài, nhưng chỉ có một cách cụ thể để có thể bắt bọn chúng, và nếu Aleksandr đã cho bắt bọn chúng thật thì Napoléon đâu dám phản đối việc vi phạm lãnh thổ của một nước ngoài do Aleksandr làm. Thật không còn có cách nào buộc tội Aleksandr rõ ràng, công khai và chính thức hơn nữa về tội giết cha. Toàn Châu Âu đều biết bọn mưu sát Hoàng Đế Pavel đã được sự đồng tình của thái tử Aleksandr và gã Nga Hoàng trẻ tuổi ấy, sau khi lên ngôi, không dám đụng đến lông chân của bá tước Palem, của tướng Bennigsen, của Dubov, của Talidin cũng như của bất cứ một kẻ nào khác, mặc dầu bọn này không sống ở “nước ngoài” mà sống đàng hoàng ở Peterburg và được tiếp đón vào cung điện Mùa Đông.

Mối căm thù nung nấu của Aleksandr đối với cái người đã làm cho Aleksandr nhục nhã ê chề đã có tiếng vang mạnh mẽ trong bọn quý tộc và triều thần mà chúng đã biết tâm trạng. Để mở rộng cơ sở giai cấp trong các hành động quân sự của mình và gây thiện cảm trong các giới yêu chuộng tự do, Aleksandr sẵn sàng gia nhập Khối Liên Minh thứ ba, đã công khai phát biểu bằng giấy tờ nỗi thất vọng của ông ta do những âm mưu thống trị thế giới của Napoléon gây nên và những mối tưởng nhớ, luyến tiếc mà ông ta cảm thấy về sự tiêu vong của nền Cộng Hòa Pháp. Đó là một sự giả nhân giả nghĩa vụng về: Thật ra, có bao giờ Aleksandr quan tâm đến số phận của nền Cộng Hòa Pháp, nhưng Aleksandr lại có mắt tinh và đúng để hiểu rằng việc Napoléon biến nước Pháp thành một đế quốc chuyên chế, chính là một thời cơ để phá uy tín của Napoléon đối với một bộ phận nào đó trong xã hội ở Pháp và ở Châu Âu, đối với những người còn tưởng nhớ đến cách mạng. Lời chỉ trích đượm mùi tự do đó, phê phán Napoléon là một tên chuyên quyền độc đoán, từ miệng một thủ lĩnh độc tài của một đế quốc xây dựng trên chế độ nô lệ thốt ra, là một trong những giai thoại kỳ lạ nhất của thời kỳ trước khi chuẩn bị xong cuộc tiến công mới của Khối Liên Minh thứ ba chống đế quốc Pháp mới.

Không do dự gì, William Pitt bằng lòng cấp tiền cho Nga, ngoài ra còn tỏ ý sẽ cấp tiền cho cả Áo, vương quốc Naples, Phổ và tất cả những nước nào muốn chống Napoléon.

Trong khi ấy, Hoàng Đế Pháp đã làm gì? Lẽ dĩ nhiên là Napoléon đã biết thừa thủ đoạn ngoại giao của các đối phương, nhưng vì cuộc liên minh đang hình thành chậm chạp mặc dầu Pitt đã cố gắng nhiều, và vì đến mùa thu năm 1805, Napoléon vẫn thấy rằng Áo chưa sẵn sàng tham chiến được, nên một mặt Napoléon vẫn tiếp tục chuẩn bị đổ bộ lên đất nước Anh và, mặt khác, vẫn hoạt động như thể ở Châu Âu chẳng có ai ngoài ông ta. Ông ta thấy cần thiết phải sát nhập Piedmont, thì ông ta sát nhập; thấy cần phải thôn tính Genoa và Luke thì đã thôn tính; thấy cần phải xưng là vua nước Ý và phải làm lễ đăng quang ở Milan thì đã làm như thế (vào ngày 28 tháng 5 năm 1805); thấy cần phải đem một lô các quốc gia Đức nhỏ bé như hạt bụi làm tặng vật cho đồng minh của mình, hay đúng hơn là cho các chư hầu Đức của mình, như Bavaria chẳng hạn, ông ta đã làm.

Những vua chúa Đức có đất đai ở Tây Á, nơi mà nước Áo đã hoàn toàn bị loại trừ ra sau Hòa Ước Luneville, chỉ còn trông mong vào Napoléon cứu thoát. Bọn họ lũ lượt kéo đến Paris, khúm núm và đê tiện, chen chúc xô đẩy nhau trong phòng đợi của các cung điện và của các bộ, cam kết trung thành, xin xỏ một vài mảnh đất láng giềng, tố cáo lẫn nhau, mưu mô làm hại lẫn nhau, luồn lọt đám quần thần của Napoléon, chồng chất lên Talleyrand những lời cầu cạnh và của đút. Thoạt đầu, quần thần của Napoléon ngạc nhiên, nhưng ngay sau đó họ chẳng lấy làm lạ nữa, ở cung Tuileries, họ chú ý thấy một người trong đám tiểu vương Đức ấy đứng sau ghế Napoléon, còn Napoléon thì đang đánh bài, thỉnh thoảng hắn lại cúi gập lưng xuống hôn vội vào tay ông Hoàng Đế, nhưng ông ta chẳng hề để ý.

2

Mùa thu năm 1805, Napoléon tuyên bố với các đô đốc của mình rằng ông không cần đến ba, mà chỉ cần hai, thậm chí chỉ một thôi, một ngày yên tĩnh trên biển Manche với sự bảo đảm kiềm chế được hoạt động của hải quân Anh là có thể đổ bộ lên đất Anh. Mùa sương mù sắp đến. Từ lâu, Napoléon đã hạ lệnh cho đô đốc Villeneuve rời Địa Trung Hải đến Đại Tây Dương để bắt liên lạc với hạm đội biển Manche, sau đó Villeneuve có nhiệm vụ yểm hộ cuộc vượt eo biển và đổ bộ lên đất Anh. Nhưng, bất thình lình, gần như trong cùng một ngày, hai tin cực kỳ quan trọng đến với Napoléon lúc này đang ở Boulogne với quân sĩ: Tin thứ nhất là Villeneuve không thể thi hành mệnh lệnh của Napoléon ngay được, tin thứ hai là quân Nga đã lên đường đi gặp quân Áo đang sẵn sàng tiến công Napoléon và các bạn liên minh Đức của ông ta và các lực lượng đối phương đang tiến về phía Tây.

Tức khắc, không chút do dự, Napoléon thay đổi quyết định. Thấy rõ ràng là dẫu sao William Pitt cũng đã cứu được người Anh và vấn đề không phải là đổ bộ nữa, Napoléon bèn gọi ngay tướng thân cận là Daru và giao cho chuyển đến tư lệnh các quân đoàn những kế hoạch đã chuẩn bị sẵn: Tiến hành một cuộc chiến tranh mới với nước Áo và nước Nga chứ không phải với nước Anh nữa. Việc xảy ra ngày 27 tháng 8.

Thế là trại lính Boulogne, một công trình đã phải mất hai năm ròng để tổ chức, chấm hết, hết cả những mộng chiến thắng một kẻ thù dai dẳng và khó đánh tới vì được biển cả che chở! “Nếu 15 ngày nữa ta không ở London thì đầu tháng 11 ta sẽ đến Vienna”, Hoàng Đế Napoléon đã nói như vậy trước khi nhận được những tin tức đã làm thay đổi căn bản ý định trước mắt của ông ta. London thoát, nhưng Vienna phải trả nợ thay. Trong nhiều giờ liên tiếp, Napoléon truyền đạt kế hoạch chiến dịch mới. Mệnh lệnh bay đi tứ phía để lấy tân binh bổ sung cho các đội dự bị và để tổ chức việc tiếp tế cho quân đội hành quân tiến qua nước Pháp và xứ Bavaria đến giao chiến với quân địch. Những đội thông tin liên lạc hỏa tốc đến Berlin, Madrid, Dresden, Amsterdam, mang tới những chỉ thị ngoại giao đầy uy vũ và mệnh lệnh, đầy điều kiện và tặng phẩm quý báu hấp dẫn. Không phải Paris không hoang mang, nhốn nháo, người ta báo cáo Napoléon rằng các nhà buôn, những người gửi tiền nhà băng, các nhà kỹ nghệ đều phàn nàn thầm về khát vọng xâm lược và đường lối ngoại giao của Napoléon là đã không tính đến khó khăn và cho rằng cá nhân Napoléon phải chịu trách nhiệm về cuộc nổi dậy mới và đáng sợ này của toàn thể Châu Âu chống lại nước Pháp. Người ta phản đối ngầm, dè dặt, nhưng người ta vẫn phản đối.

Nhờ vào sự tổ chức quân sự tài tình của mình, Napoléon chỉ mất có mấy ngày là đã nhổ được trại lính Boulogne khổng lồ, tổ chức hành quân và bổ sung cho quân đội đã tập trung ở đó, rồi từ bờ biển Manche qua nước Pháp, tới đất Bavaria, đất bạn đồng minh của ông. Napoléon cấp tốc hành quân, đi vòng lên phía Bắc quân Áo đóng trên bờ sông Danube và có vị trí Ulm kiên cố án ngữ sườn bên trái.

Nếu Khối Liên Minh quân sự thứ ba, đã thành hình trong tư tưởng của các hội viên chính thức từ giữa năm 1804, mà mãi một năm rưỡi sau, vào mùa thu năm 1805, mới xuất trận thì một trong những lý do chính là để chuẩn bị lần này cho thật chu đáo và để bảo đảm thắng lợi. Chưa bao giờ quân đội Áo lại được trang bị và tổ chức tốt như lần này. Đội quân của Mack có nhiệm vụ đương đầu cuộc chạm trán đầu tiên với quân tiền vệ của Napoléon, và người ta đặt rất nhiều hy vọng lớn lao vào quân đội ấy. Cuộc chạm trán đầu tiên này quyết định nhiều vấn đề ở Áo, Anh, Nga và trên toàn cõi Châu Âu, người ta mong chờ thắng lợi của Mack và cầm chắc thắng lợi vì không những các sư đoàn của Mack đã được chuẩn bị chu đáo và hoàn chỉnh về mọi mặt, mà còn vì các thủ lĩnh Khối Liên Minh cho là Napoléon sẽ không một lúc xuất toàn bộ quân ở trại Boulogne và Napoléon cũng sẽ không thúc toàn bộ lực lượng tiến gấp từ Boulogne về phía Đông Nam; cho rằng dù Napoléon có làm như vậy chăng nữa - người ta nghĩ - thì ông ta cũng sẽ không có cách gì điều động và tập trung quân kịp đến nơi đã định được.

Khi tiến vào Bavaria, Mack biết chắc chắn sẽ phải chạm trán với Hoàng Đế Pháp ở đó.

Trước cũng như sau Napoléon, sự trung lập của các nước thứ yếu đều chỉ có trên giấy tờ. Luôn luôn lâm vào tình trạng sợ hãi, vương hầu xứ Bavaria dao động trước sự đe dọa của Khối Liên Minh mạnh mẽ Áo, Nga, do Anh cầm đầu, đang bắt vương hầu nhập khối và sự đe dọa của Napoléon, người cũng đang tìm cách biến vương hầu thành nước đồng minh của mình. Thoạt tiên, vương hầu Bavaria ký một mật ước với quân Liên Minh, hứa hẹn giúp đỡ cho nước Áo trong cuộc chiến tranh vừa mới bùng nổ, nhưng vài ngày sau, khi đã suy nghĩ kỹ, vương hầu cùng với gia đình và các thượng thư của mình trốn đến thành Würzburg, nơi mà một binh đoàn Pháp do tướng Bernadotte chỉ huy đang tiến đến theo lệnh Napoléon, rồi ông ta cuốn gói sang hàng ngũ Napoléon.

Vương hầu xứ Württemberg và Đại Công Tước xứ Baden cũng trở mặt nhanh chóng như vậy. “Ngậm miệng lại, họ tạm thời bắt trái tim Đức của họ phải im hơi lặng tiếng”, đó là những điều tủi nhục được nói lên ở trong các sách giáo khoa Đức in gần đây dùng trong các trường trung học. Để khen thưởng tinh thần kháng cự dũng cảm của trái tim Đức trước những yêu sách của Khối Liên Minh, các vương hầu xứ Bavaria và Württemberg được Napoléon phong vương, cái danh hiệu mà con cháu họ còn hưởng mãi đến khi nổ ra cuộc cách mạng tháng 11 năm 1918; cũng hệt như hai vị vua mới mẻ kia, Đại Công Tước xứ Baden được mở rộng bờ cõi trên lãnh thổ nước Áo. Bọn họ còn xin tiền nhưng Napoléon đã từ chối.

Đường vào xứ Bavaria bỏ ngỏ. Các Thống Chế nhận được lệnh hành quân cấp tốc hơn, và thế là từ khắp các ngả, đi không dừng không nghỉ, họ cùng tiến về phía sông Danube. Theo lời một quan sát viên quân sự Phổ thì Bernadotte, Davout, Soult, Lannes, Ney, Marmont, Augereau cùng với các quân đoàn trực thuộc, cũng như Murat với đội kỵ binh của mình đã chấp hành những chỉ thị rành mạch của Hoàng Đế với mức độ chính xác như bộ máy đồng hồ. Chưa đầy ba tuần lễ, không đến 20 ngày, một đoàn quân to lớn đối với thời bấy giờ đã hành quân di chuyển từ biển Manche đến sông Danube mà hầu như không có bệnh binh và người đi rớt lại sau. Trong nhiều định nghĩa của Napoléon về nghệ thuật chiến tranh, có lần Napoléon đã nói phải làm thế nào để quân đội “khi sinh hoạt thì phân tán và khi đánh thì tập trung”. Các Thống Chế đã hành quân theo nhiều đường khác nhau do Hoàng Đế chỉ định từ trước, điều đó làm cho việc tiếp tế được thuận lợi, không bị ùn tắc lại ở dọc đường, và khi đến nơi, họ đã tập trung cả ở xung quanh thành Ulm, và tướng Mack cùng với phần lớn quân đội Áo như bị nhốt trong một cái túi.

Napoléon rời Paris ngày 24 tháng 9, đến Straßburg ngày 26, và đội quân của ông cũng đã tức khắc vượt sông Rhine lúc bắt đầu cuộc chiến tranh; khi qua Straßburg, Napoléon đã tiến hành tổ chức biên chế quân đội lần cuối cùng, và tiện đây xin nói một chút.

Bộ đội tiến đánh nước Áo được chính thức gọi là đại quân để phân biệt với các bộ đội dùng vào việc thành lập các đơn vị đồn trú hoặc các quân đoàn đóng giữ ở những vùng xa mặt trận. Đại quân gồm bảy quân đoàn đặt dưới sự chỉ huy của các tướng xuất sắc nhất, được cất nhắc lên hàng Thống Chế sau khi Napoléon làm lễ thụ phong Hoàng Đế.

Tổng quân số của bảy quân đoàn này lên tới 186.000 người. Mỗi quân đoàn đều có bộ binh, kỵ binh, pháo binh và tất cả các ngành hậu cần cần có trong một quân đội. Napoléon coi mỗi quân đoàn này như một tổ chức quân đội riêng biệt. Chủ lực quân của kỵ binh và pháo binh không phụ thuộc vào một Thống Chế nào và cũng không nằm trong biên chế một quân đoàn nào, mà tổ chức thành những đơn vị riêng biệt đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hoàng Đế: Thí dụ như Thống Chế Murat được Napoléon bổ nhiệm làm tổng chỉ huy kỵ binh gồm tới 44.000 người, nhưng cũng chỉ như người giúp việc, như phái viên liên lạc và chấp hành mệnh lệnh của Napoléon. Lúc cần thiết, Napoléon có thể tự ý dốc toàn bộ pháo binh và kỵ binh của mình đến ứng cứu cho một trong bảy quân đoàn.

Ngoài các quân đoàn và các đội dự bị của pháo binh và kỵ binh ra, còn có đội cận vệ của Hoàng Đế gồm 7.000 lính ưu tú (đây chỉ mới nói về năm 1805, sau này còn nhiều hơn nữa). Cận vệ binh gồm có các trung đoàn lính cận vệ và khinh kỵ binh hoặc khinh bộ binh, hai liên đội cảnh binh đi ngựa, một liên đội “Mamelukes” tuyển mộ ở Ai Cập và sau hết là một “tiểu đoàn Ý” vì Napoléon không những là Hoàng Đế nước Pháp mà còn là vua vùng Bắc và Trung Ý đã bị Napoléon chinh phục. Thực ra trong “tiểu đoàn Ý” ấy có nhiều người Pháp hơn là người Ý. Người ta chỉ tuyển vào đội cận vệ ngự lâm những người xuất sắc đặc biệt. Họ được trả lương cao, được nuôi dưỡng đặc biệt, trang phục đẹp, đội mũ cao có lông và đóng sát ngay tổng hành dinh của Hoàng Đế. Bản thân Napoléon biết rõ đời sống và quá trình công tác của một số đông trong đội quân ấy.

Napoléon rất quan tâm đến việc sắp xếp cán bộ chỉ huy, ông không ngần ngại gì mà không cấp “bằng” tướng cho những người chưa đầy 40 tuổi. Cũng có một số mới 34 tuổi đã được phong Thống Chế. Dưới thời Napoléon, tuổi trẻ là một thuận lợi cho sự thăng cấp chứ không phải là một trở ngại như hết thảy mọi quân đội thời ấy, bất kể quân đội nước nào. Kỷ luật do Napoléon đặt ra có một tính chất đặc biệt. Napoléon không cho dùng nhục hình trong quân đội. Toà án quân sự kết án tử hình hoặc đưa đi đày đối với những tội nặng, còn tội nhẹ chỉ kết án tù ở những nhà tù của quân đội.

Ngoài ra, còn có một tổ chức khác có quyền hành lớn, đó là toà án danh dự; tuy hội đồng này không được một luật lệ nào phê chuẩn nhưng với sự thừa nhận ngầm của Napoléon, nó cứ hoạt động trong toàn quân. Đây là chứng cớ về vấn đề ấy: Có hai người lính, mà tất cả đại đội đều không thấy họ có mặt trên chiến trường; nhưng sau đó, hai người này lại xuất hiện và trình bày lý do vắng mặt của họ. Cả đại đội cho rằng họ đã lẩn trốn vì hèn nhát và đã chọn trong binh lính lấy ngay ba người làm quan tòa. Cái tòa án ấy nghe tội phạm trình bày, kết họ án tử hình và xử bắn ngay lập tức. Các cấp chỉ huy đều biết cả nhưng không can thiệp và việc ấy đến đó cũng là xong. Không một sĩ quan nào được tham dự cuộc xét xử và cũng không được biết (ít ra thì cũng là không được chính thức biết) đến án tử hình đó.

Cái ông vua chuyên chế, đã tự phong cho mình chức Hoàng Đế cha truyền con nối và bắt Giáo Hoàng phải làm lễ thụ phong cho mình, qua việc cưới xin đã liên minh được từ năm 1810 với dòng họ đang trị vì nước Áo, đã biết gây cho binh lính lòng tin rằng, trước đây cũng như bây giờ, họ là những người bảo vệ tổ quốc chống lại bọn Bourbon, chống lại sự can thiệp của nước ngoài và chính bản thân Napoléon cũng chỉ là người lính số 1 của nước Pháp... Thực ra, dưới mắt Napoléon, binh lính chỉ là những cái “mồi cho đại bác”, Napoléon thường nói như vậy, nhưng binh lính tin tưởng và phục tùng mù quáng Napoléon thì lại vẫn gán cho Napoléon những biệt hiệu suồng sã, bạn bè và thân thiết. Đối với họ, bạo chúa Caesar, người mà Châu Âu run sợ và các vị vua chúa cúi rạp mình xuống, chỉ là một người lính. Trong bọn họ với nhau, họ gọi Napoléon là “Chú cai nhỏ”, “Chú bé đầu trọc”. Họ cũng tin vào câu nói của Napoléon: “Trong bao đạn của mỗi người lính đều có một chiếc gậy Thống Chế”. Đấy không phải là một câu nói vô ích. Họ thích thú nhớ lại võ nghiệp của Murat, Bernadotte, Lefebvre đã bắt đầu bằng những cấp bậc nào, cũng như vô số những danh tướng quyền cao chức trọng khác hiện đang ở bên cạnh Hoàng Đế.

Napoléon hoàn toàn tin vào sĩ quan và binh lính của mình; nhưng đối với các tướng lĩnh và Thống Chế, không phải người nào cũng được Napoléon tin, có tin cũng không khỏi không có phần dè dặt. Về vai trò quân sự của các Thống Chế thì vấn đề là như thế này: Napoléon tập hợp quanh mình một loạt nhân vật xuất sắc về nghệ thuật chiến tranh, những người này đều chỉ có một điểm giống nhau, tuy trình độ khác nhau: Ai cũng đều có nhận thức nhanh, nắm tình hình và hạ quyết tâm nhanh chóng, tài phán đoán nhạy bén của người lính tìm ra trong nháy mắt phương sách thoát khỏi một tình huống bế tắc, tinh thần ngoan cường chiến đấu khi cần thiết, và nhất là Napoléon tập cho họ đoán được ý định của mình khi chỉ nói nửa lời và sau đó tự họ thực hiện lấy. Tài chiến lược của Napoléon đã tạo cho các Thống Chế thành những người chấp hành hết sức chính xác ý định của mình mà không làm mất tính năng động độc lập của họ trên chiến trường. Một tay kiếm mù chữ và thật thà như Lefebvre, người quý phái lạnh lùng và nghiêm khắc như Davout, người kỵ binh hăng hái như Murat, nhà đồ bản và sĩ quan tham mưu thiên tài như Berthier, tất cả đều là những nhà binh pháp xuất chúng và đầy sáng tạo. Những nhân vật như Ney hay Lannes, về phương diện ấy, cũng không thua kém gì Bernadotte quỷ quyết và lo xa, Masséna làm việc có phương pháp, hoặc Marmont khô khan và thận trọng. Thật vậy, đối với họ, lòng dũng cảm cá nhân được coi là tuyệt đối cần thiết vì bản thân họ phải làm gương. Họ đã nêu tấm gương dũng cảm chiến đấu hết sức đặc biệt. Một lần, khi được người ta khen ngợi mình vì đã bao phen dũng cảm dẫn đầu kỵ binh làm nhiệm vụ, Lannes đã thốt lên một cách buồn bực: “Một người kỵ binh mà 30 tuổi chưa chết thì chưa phải là một người kỵ binh”. Lúc đó Lannes 34 tuổi, và bốn năm sau, Lannes bị đạn đại bác giết chết ở chiến trường. Lannes không những là một người kỵ binh quả cảm mà còn là một tướng tài. Những người phù tá đã được Napoléon tuyển lựa và cất nhắc lên hàng đầu là những người như vậy.

Năm 1805, khi mở màn cuộc chiến tranh chống lại Khối Liên Minh quân sự thứ ba, họ hãy còn gần đủ mặt. Chỉ thiếu Desaix đã tử trận ở Marengo. Một người nữa vắng mặt, người mà Napoléon coi trọng như những người khác: Đó là Moreau bị phát vãng, đang sống ở Châu Mỹ. Napoléon, với thiên tài rực rỡ của mình, đã đứng đầu một quân đội như vậy, và được giúp việc bởi những trợ thủ như vậy đó.

Quân đoàn của Soult và của Lannes, cũng như kỵ binh của Murat đã vượt qua sông Danube và bất ngờ đột kích vào sau lưng quân của Mack. Thấy tình hình nguy khốn, một bộ phận quân Áo chạy thoát được về phía Đông, nhưng đại bộ phận bị Ney dồn vào Ulm.

Xung quanh Mack, vòng vây càng ngày càng siết chặt. Còn một khả năng là chạy trốn, nhưng viên tướng Áo đã bị bọn gián điệp khôn khéo của Napoléon đánh lừa, nhất là Shumaster, kẻ lợi hại nhất bọn, quả quyết xin Mack cố thủ và chẳng bao lâu nữa Napoléon sẽ phải bỏ vây vì ở Paris đã nổ ra một cuộc nổi dậy chống lại Napoléon. Mack nghe với mối nghi ngờ, tên gián điệp liền báo cho quân Pháp biết; người ta bèn cho in một số báo đặc biệt nói về cuộc nổi loạn bịa đặt ở Paris. Shumaster mang tờ báo đó cho Mack, Mack đọc và yên tâm.

Ngày 15 tháng 10, Thống Chế Ney và Lannes chiếm được các điểm cao xung quanh Ulm. Tình thế của Mack trở nên tuyệt vọng. Napoléon cho người đến thương lượng đòi Mack phải đầu hàng, bằng cách đe dọa sẽ không tha một ai nếu Napoléon buộc phải đánh vào. Ngày 20 tháng 10 năm 1805, Mack giao vị trí Ulm cho Napoléon và bộ đội của Mack còn nguyên vẹn đã đầu hàng với tất cả vũ khí, quân dụng, pháo binh và cả quân kỳ. Napoléon thả cho Mack về, còn tù binh thì đưa về Pháp dùng vào việc khác nhau.

Ít lâu sau Napoléon nhận được báo cáo là Murat đã chặn đánh và bắt làm tù binh được hơn 8.000 người trong số những người đã may mắn rời bỏ Ulm trước khi đầu hàng.

 

Sau cuộc thất bại kinh khủng và nhục nhã ở Ulm, cuộc chiến tranh của Khối Liên Minh quân sự thứ ba thế là đã thất bại, nhưng trong các bộ tham mưu Áo và Nga chỉ có một vài người hiểu ngay được điều đó. Không nán lâu ở Ulm, Napoléon và các Thống Chế của ông tiến thẳng đến Vienna, theo hữu ngạn sông Danube. Trong lúc truy kích, quân Pháp còn bắt được thêm rất nhiều tù binh. Số tù binh bắt được trong các trận trước khi thành Ulm thất thủ lên tới 29.000 người. Cộng với số 32.000 bị bắt ở Ulm, số tổn thất của quân Áo lên tới 61.000 người, chưa kể số bị chết, bị thương nặng không sa vào tay địch và số mất tích.

Trong bản thông báo những kết quả đầu tiên của chiến dịch này cho binh lính, Napoléon đã nói: “200 khẩu pháo cùng với tất cả các kho tàng đạn dược, khí tài kỹ thuật, 90 lá cờ, toàn bộ tướng lĩnh của quân thù đã nằm trong tay chúng ta. Cả cái đội quân ấy không thoát nổi 15.000 tên”.

Quân Pháp tiến rất nhanh đến Vienna. Nhưng ngày 11 tháng 11, bộ đội của Kutuzov cũng đột kích vào quân đoàn của Mortier gần Durnstein, bên bờ tả ngạn sông Danube và đã giáng cho Mortier một trận liểng xiểng. Ngày 13 tháng 11, có kỵ binh của Murat đi trước dẫn đường và cận vệ hộ tống, Napoléon tiến vào Vienna và chọn hoàng cung Schönbrunn làm bản doanh. Trước khi vội vã bỏ chạy khỏi thủ đô, Hoàng Đế Francis nước Áo đã gửi cho Napoléon đề nghị đình chiến, nhưng Napoléon không chấp nhận.

Tất cả hy vọng của Khối Liên Minh từ nay chỉ còn trông vào quân đội Nga và Nga Hoàng, nhưng chính bản thân Nga Hoàng thì lại đặt hy vọng của mình vào sự gia nhập liên minh của nước Phổ. Không bao lâu nữa, tất cả những hy vọng này sẽ tan như mây khói.

3

Vào những ngày tháng 10 năm 1805, trong lúc Mack đang bị hãm ở trong thành phố Ulm sắp sửa đầu hàng, rồi cuối cùng đã phải chịu đầu hàng thì Aleksandr đệ nhất đã có mặt ở Berlin và thúc giục Frederick Wilhelm đệ tam, vua nước Phổ, tuyên chiến với Napoléon. Frederick cũng ở trong tình trạng hoảng sợ và lưỡng lự như những vương hầu miền Nam nước Đức. Ông ta sợ cả Aleksandr lẫn Napoléon. Trong những lời đe dọa xa xôi, Aleksandr cũng đã đi đến chỗ để lộ ra rằng quân đội Nga sẽ có thể dùng vũ lực để đi qua nước Phổ, nhưng khi vua Phổ chống lại với một thái độ kiên quyết bất ngờ và chuẩn bị đối phó lại thì Aleksandr lại ưa đấu dịu. Vả lại, lúc ấy có tin rất hợp với ý đồ của Aleksandr là Napoléon đã ra lệnh cho Thống Chế Bernadotte, trên đường sang Áo, đi qua biên trấn Anspact, một thuộc địa của Phổ ở miền Nam, như vậy là đã vi phạm trắng trợn sự trung lập của nước Phổ; Frederick, một mặt bị hành động độc tài của Napoléon xúc phạm, mặt khác không ngờ tới thắng lợi của đại quân Napoléon (lúc này, Ulm chưa bị thất thủ) nên bắt đầu muốn tham gia chiến tranh với Khối Liên Minh thứ ba. Theo một mật ước cuối cùng được ký giữa Frederick và Aleksandr, nước Phổ hứa sẽ gửi tối hậu thư cho Napoléon. Xung quanh việc này, một màn kịch hết sức lố lăng đã diễn ra: Frederick Wilhelm, Hoàng Hậu Louise và Aleksandr tới lăng huyệt của Frederick đệ nhị cùng nhau thề thốt tình hữu hảo đời đời.

Cái vô nghĩa của màn kịch ấy, thuộc loại tình cảm mà thời đó người ta ưa thích, là ở chỗ trước đây nước Nga đã gây ra cũng với chính gã Frederick đệ nhị đó một cuộc chiến tranh bảy năm trời[30]. Trong bảy năm đó, lúc thì Frederick thắng quân Nga, lúc thì quân Nga giáng cho Frederick những trận thất bại đau đớn; quân Nga cũng đã chiếm được Berlin và gần như dồn Frederick vào con đường tự sát. Sau tấn hài kịch lạ lùng ấy và sau khi đã nhiệt liệt bày tỏ mối tình hữu hảo đời đời giữa người Đức và người Nga, Aleksandr rời Berlin để đi thẳng đến chiến trường Áo.

Ở Anh và ở Áo, người ta mừng quýnh. Nếu toàn bộ quân đội Phổ vượt qua rặng “núi Kim Khi” (Ore Mountains) và tham chiến thì Napoléon sẽ phải thua. Báo chí đều đã nói như vậy sau khi hứng thú thuật lại lời thề thốt mối tình hữu nghị Nga - Phổ trước linh cữu Frederick đại đế.

Dù thế nào chăng nữa, Napoléon cũng buộc phải kết thúc vấn đề trước khi nước Phổ nhảy vào Khối Liên Minh. Ngay sau khi vừa hạ xong thành Vienna, quân Pháp không mất một viên đạn đã chiếm được chiếc cầu lớn nối giữa Vienna với tả ngạn sông Danube, chiếc cầu độc nhất mà quân Áo không phá hoại. Việc chiếm được chiếc cầu này đã đẻ ra nhiều giai thoại, trong đó có một câu chuyện (không chính xác lắm và được tô điểm thêm) mà người Nga nào đã đọc phần hai cuốn Chiến Tranh Và Hòa Bình đều biết rõ. Thực tế, sự việc đã xảy ra như sau: Sau khi đã khôn khéo cho một tiểu đoàn cận vệ mai phục trong bụi rậm, Murat, Lannes, Bertrand và đại tá công binh Dode công nhiên tiến về phía đầu cầu có chiến luỹ và quân Áo phòng ngự, nhưng quân Áo đã nhận được lệnh hễ quân địch xuất hiện thì phải phá cầu; các tướng Pháp liền tuyên bố rằng hiệp định đình chiến vừa được ký kết; và thế là sau khi vượt qua cầu chẳng gặp khó khăn gì, họ cho gọi viên thiếu tướng, bá tước Auersperg đến và nhắc lại lời bịa đặt vừa rồi, và trước cả khi Auersperg có đủ thời gian trả lời, theo hiệu lệnh đã định sẵn, quân Pháp bất thần từ trong bụi xông ra, lao vào quân lính Áo và các khẩu pháo đã bố trí sẵn trên cầu. Chỉ trong nháy mặt, chiếc cầu đã bị chiếm. Tuy quân Áo cố chống cự lại nhưng bị đè bẹp ngay.

Sau khi chiếm được cầu, Murat mừng rỡ báo cáo sự việc kỳ quặc này cho Napoléon. Napoléon bèn lập tức ra lệnh cho bộ đội vượt qua cầu và xông thẳng vào quân Nga.

Quân Nga lúc này phải trải qua nhiều phen điêu đứng. Napoléon vượt qua sông Danube ở Vienna cùng với đại bộ phận binh lực với ý định chặn đường rút lui của quân Nga đang hối hả rút về phía Bắc. Kutuzov, tổng chỉ huy quân đội liên minh, đã thấy rõ muốn thoát chết chỉ còn cách rút ngay từ Corem về vị trí Osane ở phía Nam Olmutz; lúc đầu Kutuzov có 45.000 quân và Napoléon có gần 100.000 quân. Đối với quân đội Nga, câu chuyện chiếm cầu Vienna là một câu chuyện thật khó hiểu và người ta đã nói thẳng ra rằng đó là sự phản bội; người ta cho rằng quân Áo đã bí mật thông đồng với Napoléon, vì việc mất chiếc cầu đó thật là vô lý và không thể tin được. Và việc này đã giúp cho Napoléon làm chủ ngay được tả ngạn sông Danube không bị chút tổn thất nào; đã đưa toàn bộ quân Nga đến chỗ thất bại không thể tránh được. Sau những trận đánh gay go của đội hậu vệ mà Kutuzov đã phải điều đến và cầm chắc sẽ bị hy sinh để yểm hộ cho chủ lực có đủ thời gian rút lui Kutuzov đã mất chừng 12.000 người trong số ngót 45.000 người, nhưng Kutuzov đã cùng với đội quân kiệt sức của mình tránh được sự đầu hàng nhục nhã và thoát khỏi sự truy kích sát gót của Napoléon, cuối cùng đã đưa được tàn quân về đến Olmutz, nơi Aleksandr và Francis đã có mặt ở đó.

Tình hình như sau: Kể cả đội quân cận vệ và các viện binh khác từ Nga mới điều đến cộng với số quân mà Kutuzov vừa dẫn đến Olmutz và các vùng lân cận thì tổng số quân Nga lên tới 75.000 người. Quân Áo cũng còn từ 15.000 đến 18.000 người. Song, chúng ta cũng không quên một binh đoàn lớn của quân Áo đã bị Napoléon tiêu diệt trước khi thành Vienna thất thủ, và một binh đoàn khác đông hơn và được trang bị tốt hơn đang chiến đấu ở Venice với quân của Masséna, người ta đã nhận được chỉ thị của Napoléon phải quét sạch phía Đông miền Bắc Ý.

 

Như vậy là quân Liên Minh ở quanh Olmutz có chừng 90.000 người là nhiều. Tuy vậy, trong số 75.000 lính Nga có tên trên giấy, có nhiều người không có mặt trong chiến đấu, điều này Kutuzov biết rõ hơn ai hết. Từ sau cuộc vượt sông Danube bất ngờ của Napoléon, Kutuzov sợ giao chiến, cho rằng cần phải tiếp tục cuộc rút lui, rút lui xa hơn nữa về phía Đông và kéo dài chiến tranh để có đủ thời gian cho quân Phổ quyết định dứt khoát tham chiến chống quân Pháp. Nhưng Kutuzov vấp phải một trở lực rất lớn: Nga Hoàng Aleksandr muốn mở ngay một trận tổng công kích.

Không hiểu gì về chiến tranh, nhưng lại không kém hám danh và còn tin rằng nhất định sẽ đánh thắng, tin rằng nước Phổ sẽ tham chiến ngay “sau cuộc thề thốt nổi tiếng trước linh cữu Frederick”, Aleksandr chỉ mơ tưởng đến tổng công kích. Nga Hoàng nghĩ rằng sau khi mình đã điều động đến đây những đội quân tinh nhuệ như đội cận vệ và rồi điều những lực lượng mạnh mẽ ấy đi tránh đòn của đối phương trong cái đất miền núi khốn kiếp này hàng tháng ròng, lẩn trốn trước Napoléon, đó là một quyết định đáng xấu hổ và vô tích sự.

Hoàng thân Dondukov, cận thần của Nga Hoàng, người phụ tá trẻ tuổi được nhà vua mến chuộng chỉ vì hoàng thân cũng như hầu hết các sĩ quan của đội cận vệ đã thống nhất quan niệm với nhà vua. Kutuzov biết rằng Nga Hoàng, Dondukov và tất cả bè lũ đều hoàn toàn không hiểu gì về quân sự, cho dù một vài kẻ trong bọn chúng cũng có chút hiểu biết nào đó về những mặt khác. Nhưng Kutuzov tin chắc rằng quân đội Nga đang tiến tới một tai họa và thấy rằng phải nhanh chóng tránh những đòn của Napoléon, phải đứng ngoài tầm tiến công của Napoléon, bằng cách tránh một cuộc giao chiến quyết định. Biết thế, nhưng Kutuzov cũng không còn có cách nào cưỡng lại sự nông nổi tai hại của Nga Hoàng vì y là thủ lĩnh tuyệt đối. Kutuzov là nhà quân sự xứng đáng duy nhất trong hàng ngũ Áo - Nga, là viên tướng thao lược độc nhất (trong số những người mà tiếng nói có phần nào được tin nghe) nên người ta cũng nghe Kutuzov đôi chút. Nhưng ở đây, Kutuzov đã vấp phải cái lực lượng mà Kutuzov không chống lại được, mặc dầu bản thân ông đã đoán được ngón của Napoléon.

Đang truy kích quân Nga, Napoléon dừng ngay lại khi thấy quân Nga không rút lui nữa và đóng bản doanh ở Brunn, không xa Olmutz là mấy. Điều duy nhất làm cho Bonaparte thật sự lo sợ lúc ấy là thấy quân Nga lẩn tránh và kéo dài chiến tranh. Vì ở xa nước Pháp và biết rằng Hauvite đang trên đường đi đến để gửi tối hậu thư của nước Phổ cho mình, Napoléon khao khát mở một trận tổng công kích càng sớm càng hay vì ông tin chắc rằng thắng lợi của trận tổng công kích có thể sẽ kết thúc gọn được ngay chiến tranh. Tài ngoại giao và đóng kịch của Napoléon lúc đó lại hiện ra một cách rất rực rỡ: Ông ta đã phán đoán được tất cả những diễn biến ở bản doanh quân Nga và hành động phù hợp với ý định của Aleksandr đang chống lại những cố gắng yếu ớt cuối cùng của Kutuzov muốn cứu quân đội Nga bằng một cuộc rút lui vội vã. Napoléon chủ động đóng vai một người sợ hãi, nhu nhược và nhất là sợ phải giao chiến. Napoléon thấy cần phải gợi cho đối phương thấy đây là thời cơ có một không hai để dễ dàng đánh bại quân Pháp, nhằm khích động quân Nga tiến công ngay. Để thực hiện mưu ấy, thoạt tiên Napoléon ra lệnh cho các đơn vị tiền tuyến bắt đầu rút lui, rồi cử Savary, tướng thân cận của mình, đến gặp Aleksandr đưa đề nghị đình chiến và hòa bình, và cuối cùng Napoléon còn chỉ thị cho Savary nhân danh Napoléon yêu cầu Aleksandr cho gặp riêng; trường hợp bị khước từ thì Savary phải yêu cầu Aleksandr phái người tin cẩn đến gặp Napoléon để mở cuộc đàm phán. Về phía quân Nga, người ta vui mừng, đắc chí: Bonaparte đã hoảng sợ! Bonaparte đã kiệt sức, đã bị thua! Trước hết, đừng để Bonaparte chạy thoát.

Tất cả những thủ đoạn đó của Napoléon chẳng giống tính tình của Napoléon chút nào, thật là xa lạ và nhục nhã đối với Napoléon, đến nỗi người ta tưởng rằng vị Hoàng Đế kiêu hãnh, người tướng bậc nhất của thế giới không bao giờ lại nghĩ và làm như vậy, trừ phi bị hoàn cảnh thật cấp thiết, khốn khó bắt buộc. Kutuzov và những mối lo âu của ông ta bị mất tín nhiệm và bị bác bỏ hoàn toàn. Aleksandr từ chối hội kiến với Napoléon và phái hoàng thân Dondukov đến gặp Napoléon. Sau này, Napoléon còn lấy mãi câu chuyện của người tướng trẻ trong triều đó làm trò đùa, mà trong báo chí công khai Napoléon gọi là “anh phổi bò”, Dondukov nói với Hoàng Đế Pháp bằng một giọng kẻ cả và trịch thượng cứng rắn “như nói với một tên Boyard[31] mà người ta định đem đi đày ở Siberia”, mỗi khi nhắc đến cuộc gặp gỡ ấy, Napoléon lại nói bằng giọng châm biếm như vậy.

Trong khi say sưa đóng tiếp tấn hài kịch đó, Napoléon vẫn thủ vai một người bối rối, sợ sệt, nhưng đồng thời Napoléon cũng biết rằng không nên quá cường điệu vai trò ấy và trên đời này cái gì cũng có giới hạn ngay cả sự ngu xuẩn của anh hoàng thân Dondukov. Napoléon đã chấm dứt cuộc hội kiến bằng cách tuyên bố không thể chấp nhận được những điều kiện do Dondukov đưa ra (Dondukov yêu cầu Napoléon từ bỏ nước Ý và các nước khác đã bị chinh phục). Nhưng việc từ chối ấy cũng đã được diễn đạt dưới hình thức làm cho người ta không những không giảm bớt mà còn tăng thêm ấn tượng cho rằng Napoléon do dự và sợ hãi.

Sau báo cáo đầy khích lệ do Dondukov nhận định theo ý chủ quan của y, phe Liên Minh không ngả nghiêng, do dự nữa; người ta liền hạ quyết tâm tiến công Napoléon hiện đang rút lui, suy yếu, bối rối và phải giải quyết cho xong với hắn.

Ngày 2 tháng 12 năm 1805, một năm đúng sau khi Napoléon xưng đế, ở trên cao nguyên Pratzen phía Tây làng Austerlitz, cách Vienna về phía Bắc 120km, một trận huyết chiến đã xảy ra, một trong những trận lớn nhất lịch sử về tầm quan trọng của nó và là một trong những trận phi thường nhất của thiên anh hùng ca Napoléon.

Napoléon đích thân ra chỉ huy từ đầu đến cuối: Hầu hết các Thống Chế của Napoléon đều có mặt đông đủ. Sự thất bại của quân Nga và quân Áo đã được quyết định ngay từ những giờ đầu buổi sáng, nhưng nếu các tướng lĩnh Nga không mắc phải cạm bẫy của Napoléon thì quân Nga cũng chưa gặp phải một tai họa khủng khiếp như vậy: Tính trước quân Nga và Áo sẽ tìm cách đánh chặn đường đến Vienna và đến Danube để rồi bao vây hoặc đuổi mình lên phía Bắc, dồn vào núi, nên Napoléon đã giả vờ để ngỏ, không phòng giữ mặt này và cố ý giấu kín sườn trái của mình. Khi quân Nga từ phía đó tiến lại, Napoléon đã đè bẹp được đối phương bằng những lực lượng tập trung lớn của mình đã chiếm lĩnh cao nguyên Pratzen từ trước và đánh dồn kẻ địch vào một dải hồ nửa đóng băng. Hàng trung đoàn bị chết đuối hoặc bị đạn đại bác của quân Pháp tiêu diệt và một số khác thì đầu hàng.

Đội kỵ binh cận vệ Nga hầu như bị tiêu diệt ngay từ lúc trận chiến đấu ở vào giai đoạn quyết liệt, sau một trận giao chiến ác liệt với đội kỵ binh cận vệ của Napoléon. Khâm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm của binh lính Nga, nhưng các tướng soái của Napoléon không khỏi không lấy làm ngạc nhiên về sự cực kỳ ngu muội của các cuộc hành binh, về sự dốt nát hoàn toàn về các vấn đề chiến tranh, về tinh thần thiếu bình tĩnh và sự bất tài của các tướng lĩnh người Nga, trừ Kutuzov. Đặc biệt họ lấy làm lạ rằng Buxhoevden, chỉ huy cánh trái của quân Nga, trong tay có 29 tiểu đoàn và 22 liên đội, đáng lẽ chạy sang ứng cứu cho quân chủ lực đang bị khốn đốn thì lại dành hầu hết thời gian công kích một cứ điểm không quan trọng mà ở đó quân Pháp chỉ cần một lực lượng nhỏ không đáng kể cũng đủ phòng giữ được hàng giờ. Và cuối cùng, khi đã thấy được phải vừa đánh vừa rút lui thì Buxhoevden lại tiến hành không khẩn trương và thiếu nghệ thuật, đến nỗi hàng nghìn binh lính thuộc quân đoàn của y bị đuổi dồn đến vùng hồ để rồi bị chết chìm ở đó, vì sau khi nắm được cuộc điều quân ấy của Buxhoevden, Napoléon đã ra lệnh nã đại bác lên mặt nước đóng băng. Số sống sót đều bị bắt làm tù binh.

Hai vị Hoàng Đế Francis và Aleksandr đã trốn thoát khỏi chiến trường trước khi cơn tai biến kết thúc. Bọn tuỳ tùng cũng chạy tán loạn và dọc đường đã bỏ rơi hai vị đế vương mà chẳng bao lâu nữa, hai vị cũng phải xa lìa nhau trên mình ngựa mỗi người mỗi ngả.

Ngày mùa đông ngắn ngủi ấy kết thúc. Mặt trời rực chiếu từ buổi sớm đã lặn và nhờ có bóng tối của hoàng hôn, Aleksandr và Francis đã thoát, không bị bắt. Aleksandr hoàn toàn mất tự chủ, run cầm cập như sắp lên cơn sốt và khóc lóc. Mấy ngày sau còn phải chạy trốn cực nhọc, khốn đốn hơn nữa. Kutuzov bị thương, phải vất vả lắm mới thoát khỏi tay quân địch.

Đêm đến thì mọi việc đã xong xuôi. Tất cả các sĩ quan tuỳ tùng, các Thống Chế, các tướng lĩnh của đội cận vệ, các sĩ quan hầu cận vây quanh Napoléon và binh lính từ tứ phía chạy vội về hướng Hoàng Đế, hoan hô nhiệt liệt chào mừng Napoléon ngồi trên mình ngựa, vượt qua cánh đồng rộng bát ngát và mỗi bước vó ngựa va phải biết bao nhiêu xác người và vật nằm rải rác khắp cánh đồng. Chừng 15.000 quân Áo và Nga bị giết, 20.000 bị bắt cầm tù, hầu hết pháo của đối phương bị tước và nhất là đội quân Nga - Áo đã bị tiêu diệt thật sự, số tàn quân bỏ chạy tán loạn đi tứ phía, bỏ lại rất nhiều kho tàng, tất cả quân dụng, vô số lương thực. Đó là những nét lớn về kết quả của cuộc chiến thắng đó. Quân Pháp bị thiệt mất ngót 9.000 người so với con số 80.000 bên liên minh.

Ngày hôm sau, trong tất cả các quân đoàn, người ta đọc bản nhật lệnh của Napoléon: “Hỡi các binh sĩ! Ta rất lấy làm hài lòng về các người, các người đã chứng minh lòng son dạ sắt của các người trong trận Austerlitz! Các người đã tô điểm cho lá quốc kỳ của các người bằng một vinh quang bất diệt! Một đội quân do các Hoàng Đế Nga và Áo chỉ huy đã bị tiêu diệt hoặc tan tác chưa đầy bốn tiếng đồng hồ. Những kẻ thoát được viên đạn của các người thì bị chìm dưới đáy hồ...” Hoàng Đế Francis lập tức tuyên bố với Aleksandr chỉ có điên rồ mới tiếp tục chiến đấu. Aleksandr đồng ý ngay. Hoàng Đế Áo đề nghị Napoléon cho hội kiến và Napoléon đã tiếp Francis ở ngay nơi lộ doanh của mình, thuộc vùng lân cận Austerlitz. Napoléon nhã nhặn đón tiếp Francis nhưng trước hết ông đòi tàn quân Nga phải rút ngay ra khỏi nước Áo và tự mình quy định các chặng đường và tuyên bố là chỉ thương lượng hòa bình với nước Áo. Francis đồng ý tất cả.

Cuộc liên minh quân sự thứ ba kết thúc.

4

Suốt trong 15 ngày cuối tháng 11 và những ngày đầu của tháng 12, Pitt lo âu chờ đợi tin tức một cuộc tổng công kích. Người đứng đầu chính phủ Anh, người sáng lập và linh hồn của cuộc liên minh chống Napoléon biết rằng từ nay trở đi nước Anh vĩnh viễn tránh được một cuộc xâm lược, vì ngày 21 tháng 10 năm 1805, trong trận Trafalgar, đô đốc Nelson đã công kích và tiêu diệt được hạm đội phối hợp của Pháp và Tây Ban Nha; bản thân đô đốc Nelson đã hy sinh trong trận chiến đấu. Napoléon không còn hạm đội nữa.

Nhưng William Pitt còn có những nỗi lo sợ khác. Cùng với giai cấp tư sản thương mại và kỹ nghệ Anh, Pitt biết rằng chưa phải mọi việc đã kết thúc, vì Napoléon đang nhằm loại trừ hoàn toàn các thương gia Anh ra khỏi các thị trường buôn bán của các nước Châu Âu mà trước sau tất sẽ rơi vào tay Napoléon một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Vả lại, nhờ cậy vào những quốc gia trù phú trên lục địa cùng với những hải cảng và những xưởng đóng tàu của những quốc gia đó, Napoléon hoàn toàn có khả năng xây dựng một hạm đội khác và lập lại trại lính Boulogne.

Sự thất bại đau đớn của Mack ở Ulm, việc Napoléon đã tiến vào thành Vienna, việc rút lui như cuộc chạy trốn của Kutuzov bị quân của Napoléon truy kích, tất cả những cái đó đã làm cho Pitt lo lắng buồn bã. Tuy vậy, việc gia nhập thực sự vào Khối Liên Minh của nước Phổ đã làm sống lại những hy vọng của Pitt. Ở vùng Olmutz, thuộc xứ Moravia xa xăm, câu hỏi lớn sau đây phải được giải quyết: Nền chuyên chính của Napoléon trên một nửa Châu Âu sẽ bị lật đổ hay là cả nửa lục địa kia sẽ rơi vào quyền lực của Napoléon.

Rồi những tờ báo đầu tiên (Hà Lan) bay đến London báo cái tin khủng khiếp: Khối Liên Minh thứ ba đã bị dìm trong biển máu và trong nhục nhã ở chiến trường Austerlitz. Ở nghị trường, người ta lớn tiếng quở trách Pitt về những ảo tưởng tai hại của Pitt, phe đối lập đòi Pitt rút lui, nêu ra sự nhục nhã mà nước Anh cũng sẽ phải chịu, tiền của nước Anh đổ đi hàng triệu đồng để cấu tạo nên một Khối Liên Minh dâng mình cho thất bại vì bọn tướng lĩnh bất lực vô tài. Pitt, đầu óc căng thẳng, không chịu được sự thử thách đó, đã lăn ra ốm liệt giường; vài tuần sau, vào ngày 23 tháng 1 năm 1806, Pitt chết. Trận Austerlitz, như người ta nói lúc bấy giờ, đã giết chết được kẻ thù dai dẳng nhất và giỏi nhất trong số kẻ thù của Napoléon. Chính phủ Anh, do James Fox đứng đầu, quyết định thương lượng hòa bình với Napoléon.

Thắng lợi của Napoléon thật không thiếu một thứ gì. Napoléon buộc người ta nhận những điều kiện của mình, và cũng như những kẻ chiến bại, những kẻ còn đứng ngoài vòng chiến cũng cúi mình trước Napoléon. Napoléon đã khuếch trương thắng lợi rực rỡ của mình bằng một sự khôn khéo phi thường. Nhà ngoại giao Phổ Hauvite, sau một cuộc đi dài đằng đẵng, đến Vienna với bức tối hậu thư của Frederick Wilhelm, nhưng điều đầu tiên mà Hauvite làm là vội quên ngay sứ mệnh ấy của mình. Đến trước Napoléon, với một nụ cười khôn khéo trên môi, Hauvite cúi rạp người xuống đất chúc tụng Hoàng Đế về việc ông ta đã giáng cho cả cái bè lũ ấy một thất bại nhục nhã. Hauvite sợ đến chết đi được, giống như đức vua của ông ta khi thấy sắp đến lúc phải chịu hậu quả ác nghiệt của lời thề thốt trước mộ Frederick và của những lời chửi bới bậy bạ mới đây. Hauvite bắt đầu: “Hạ thần xin mừng Bệ Hạ về thắng lợi của Bệ Hạ”. Napoléon ngắt lời: “Số phận đã làm thay đổi người nhận những lời chúc mừng của ngài”.

Thoạt tiên, Napoléon thét lên, nói rằng ông ta đã khám phá mọi âm mưu xảo quyệt của nước Phổ, nhưng sẽ bằng lòng quên đi và tha thứ cho, miễn là nước Phổ liên kết với Napoléon, với điều kiện: Phổ sẽ nhường lại hạt Anzpac cho Bavaria, nước Phổ sẽ nhường lại các nước vương hầu Neuchâtel và Clèves cùng với thành phố Veden cho nước Pháp; để đền bù lại, Napoléon cho nước Phổ đất Hanover bị quân Pháp chiếm giữ từ năm 1803 và đang thuộc quyền vua nước Anh; với tư cách một nước liên minh với Pháp, Phổ sẽ tuyên chiến với Anh, Hauvite chấp nhận tất cả những điều kiện ấy, và nhà vua của ông ta phê chuẩn ngay, và lấy làm sung sướng về nỗi đã giũ được cái nợ ấy bằng giá rẻ đến thế. Xứ Bavaria, đồng minh của Pháp nhận xứ Tyrol của nước Áo và hạt Anzpac của nước Phổ nhưng nhường lại cho Napoléon khu vực kỹ nghệ giàu có Berger. Cuối cùng nước Áo còn phải nhượng lại cho Napoléon vua nước Ý toàn bộ miền Venice và những đất đai do Venice chiếm ở Florence, Ixtori và Denmark. Nước Áo bị mất 1/6 dân số (4 triệu dân trong số 24 triệu dân), 1/7 số lợi tức của Nhà Nước, một vùng đất đai rộng lớn và còn phải nộp 40 triệu florin[32] vàng tiền chiến phí cho người thắng trận.

Hòa ước được ký kết ngày 26 tháng 12 năm 1805 ở Pressburg. Trước đó vài ngày, một cuộc hợp tác chặt chẽ về mặt tiến công và phòng ngự đã được ký kết giữa Napoléon, Bavaria, Württemberg và Baden. Những đoàn vận chuyển vô tận chuyên chở chiến lợi phẩm lấy được ở Áo lên đường về Pháp và sang Ý. Đặc biệt là trong số chiến lợi phẩm ấy có 2.000 cỗ đại bác và 100.000 khẩu súng trường lấy được ở trong các kho quân giới hoặc thu được ở chiến trường. Nhưng Napoléon chưa rời khỏi nước Áo đã bị quỵ phục trước khi làm xong một công việc khác. Tháng 10 năm 1805, sau trận Trafalgar, vua xứ Naples là Ferdinand và Hoàng Hậu Caroline chìm đắm trong cái ảo tưởng thú vị rằng thế nào rồi Napoléon cũng thua nên đã liên kết với nước Anh và nước Nga. Triều đại Bourbon ở Naples đã phải tủi nhục chịu đựng mãi cái ách của Napoléon mà nó căm ghét. Hoàng Hậu xứ Naples, Marie Caroline, là em gái Marie Antoinette, từ lâu đã tỏ ra có thái độ thù ghét nước Pháp cũng như Napoléon, và ngay trước mặt viên đại diện Pháp Ankier, Caroline cũng đã nói thẳng ra rằng mụ có ước vọng được thấy vương quốc Naples trở thành que diêm đốt bùng lên đám cháy lớn. Phái viên của Napoléon đã nói cho Caroline biết rằng nếu có trường hợp như vậy thì trước hết cái que diêm sẽ bị cháy, dù kết quả đám cháy có đến thế nào đi nữa. Thật ra, sau trận Austerlitz, que diêm đã bị đốt cháy trong khoảnh khắc: Triều đình Naples đã phải chịu đựng ác quả của sai lầm đó một cách khủng khiếp. “Bọn Bourbon đã hết thời trị vì ở Naples”, Napoléon tuyên bố như vậy và ra lệnh ngay cho quân đội Pháp đến chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ vương quốc ấy. Bọn Bourbon chạy trốn ra Sicily dưới sự bảo trợ của hạm đội Anh và Napoléon bèn đưa anh là Joseph lên làm vua xứ Naples. Rồi sau khi đã ban thưởng bằng tiền bạc, huân chương, đề bạt các tướng lĩnh, sĩ quan và binh lính có công trong chiến dịch, trong đó có một số được đề bạt vượt hai hoặc ba cấp. Napoléon từ Vienna trở về Paris, đến ngày 26 tháng Giêng, được đông đảo quần chúng hoan hỉ đón tiếp. Sau đó, Napoléon được tin kẻ thù không đội trời chung của mình đã chết (tức là Pitt-N.D) trước khi Napoléon về tới Paris ba ngày và nước Anh muốn hòa bình. Từ nay trở đi, Napoléon có thể tự coi mình thực sự là Charlemagne, vị Hoàng Đế của Phương Tây.

5

Trước khi William Pitt chết, Napoléon không còn có thể trông mong một sự thay đổi đường lối chính sách của chính phủ Anh. Nhưng từ khi James Fox, kẻ kình địch muôn đời của Pitt trong lĩnh vực đối ngoại, nên nắm chính quyền thì ở Châu Âu người ta đã bắt đầu nói đến một nền hòa bình sắp tới giữa nước Pháp và nước Anh. Thực ra, các cuộc đàm phán đã bắt đầu và James Fox đã cử ngài nghị sĩ Yarmouth đến Paris để tiến hành thương lượng. Napoléon không hề tin những hy vọng hòa bình có thể thành sự thật được, nên tháng 2 năm 1806, đã bức Phổ cắt đứt quan hệ với Anh; hơn nữa, Napoléon còn tìm cách tách Phổ không những ra khỏi nước Anh mà ra khỏi cả Nga nữa để giáng cho Phổ một đòn quyết định.

Ngay từ đầu năm 1806, vua Phổ đã bắt đầu thấy mình bị lừa vào tình thế nguy khốn đến chừng mực nào. Đúng là Napoléon đã “tha thứ” cho Phổ và cũng đã ngỏ ý muốn Phổ hợp tác với Pháp và hứa đem Hanover cho Phổ. Nhưng khi Anh trả lời Phổ bằng các tuyên chiến với Phổ thì Napoléon đã vì thế khước từ việc nhượng lại Hanover, và duy trì quân đội ở lại đó. Cùng lúc ấy, Frederick Wilhelm bất ngờ biết nhiệm vụ của ngài nghị sĩ Yarmouth ở Paris. Wilhelm còn biết thêm là Napoléon đã thoả thuận với Yarmouth rằng nếu Anh tiến hành hòa bình với điều kiện có lợi cho Napoléon, Hanover sẽ được hoàn lại cho vua Anh. Triều đình và chính phủ Phổ đã nhìn thấy người ta lừa bịp mình đến thế nào. Lòng công phẫn lên cao nhất và đặc biệt là ở các giới mà suốt trong năm 1805 đã xin Frederick Wilhelm gia nhập liên minh thứ ba nhưng không được chấp thuận. Họ nói chắc rằng nếu gia nhập Khối Liên Minh, thì đã có thể tránh được trận Austerlitz cứu được nước Phổ thoát ra khỏi cảnh cô lập như hiện nay nó đương đứng trước Napoléon.

Vào thời kỳ này, Napoléon quyết định hợp pháp hóa và củng cố quyền hành vô hạn độ của mình trên miền Tây và một phần ở miền trung nước Đức, bằng cách thành lập Liên Bang Sông Rhine. Giữa năm 1806, Liên Bang ấy được chính thức thành lập và sắc lệnh thành lập đã được tất cả các quốc gia Đức ký vào ngày 12 tháng 7, do Napoléon hạ lệnh, gồm có: xứ Bavaria, Württemberg, địa hạt chủ giáo Ratisbonne, Đại Công Quốc Nassau và tám hầu quốc Đức khác. Liên Bang đã “tuyển cử” Hoàng Đế Napoléon với tư cách là người bảo hộ, và để tỏ lòng biết ơn, Napoléon đã vui lòng nhận chức vụ tối cao ấy, Liên Bang đã cam kết giao 63.000 người cho Napoléon tùy ý sử dụng trong trường hợp có chiến tranh xảy ra. Một loạt các nước tiểu vương quốc độc lập trước kia chỉ công nhận dòng họ Habsburg là chúa vương kế tục, thì từ nay phải phụ thuộc vào các quốc gia Liên Bang Sông Rhine và phải sát nhập đất đai của mình vào các quốc gia đó. Cái “Đế quốc thần thánh La Mã German” - như người ta vẫn gọi để chỉ bá quyền của Hoàng Đế Áo trên nước Đức bị cắt vụn và chỉ các vị hoàng tử có thực quyền độc lập trong miền họ cát cứ - như vậy là trong thực tế đã không còn nữa. Năm 1806, theo yêu cầu khẩn cấp của Napoléon, Hoàng Đế Francis đã phải bỏ cái danh hiệu “Hoàng Đế của Đế Quốc Thần Thánh” lưu truyền đúng 1.000 năm.

Công cuộc chiếm đoạt mới đó đã mang lại cho Napoléon rất nhiều lãnh thổ mới, nên đã làm cho triều đình và chính phủ Phổ xôn xao và tức giận đến cực độ. Quả là cái Liên Bang Sông Rhine đã đặt Napoléon vào giữa lòng nước Đức và gây nên mối uy hiếp trực tiếp cho sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Phổ. Mối nguy hiểm càng tăng lên vì trong khi chuẩn bị thành lập Liên Bang Sông Rhine, Napoléon đã tiến hành bổ nhiệm một số chức vị mà thực ra chỉ là một sự bành trướng trá hình của đế quốc Pháp, gây tổn hại cho các quốc gia mới.

Ngày 15 tháng 3 năm 1806, Murat được bổ nhiệm làm Đại Công Tước xứ Clèves và Berger được phong làm vua xứ Naples và Thống Chế Berthier làm công tước vùng Neuchâtel; ngày 5 tháng 6, một người em khác của Napoléon, Louis Bonaparte, được phong vương ở Hà Lan, Bộ Trưởng Ngoại Giao Talleyrand làm hoàng tử xứ Bénévent, và Thống Chế Bernadotte làm hoàng tử xứ Pontecorvo ở miền Nam nước Ý. Tất cả các vua chúa và hoàng tử ấy đều không phải là chư hầu mà chỉ là các phó vương hoặc là quan toàn quyền của Napoléon và cả Châu Âu đều hiểu là thế.

Giữa lúc đó, Napoléon vẫn lại chuẩn bị chiến tranh. Tháng 6, sau khi tạo nên cái Liên Bang Sông Rhine, Napoléon tuyên bố với Hội Đồng Lập Pháp là ông có một đội quân 450.000 người và những phương tiện đủ nuôi dưỡng nó mà không phải vay mượn cũng không bị thiếu hụt. Napoléon bắt đầu vào việc tập trung 200.000 quân ở hai bên bờ sông Rhine thuộc vùng Alsace, Lorraine và các quốc gia Liên Bang Sông Rhine. Có những tin dữ đồn rằng Hoàng Đế Pháp đang chuẩn bị những cuộc thôn tính mới.

Ngày 6 tháng 7, nhà ngoại giao Nga Oubril, do Aleksandr cử đi Paris, lấy cớ là đến để thương lượng riêng về vấn đề cửa biển Cattaro, nhưng thực ra là để tìm hiểu và xác minh xem có thật có khả năng hòa bình giữa Anh và Pháp không; nhưng chừng hai tuần lễ sau khi Oubril đến, Talleyrand, bằng những quỷ kế, đã thành công trong việc ký hòa ước sơ bộ với Nga. Thế là từ nay trở đi, mọi việc đều tuỳ thuộc vào kết quả của các cuộc thương nghị giữa Talleyrand và ngài Yarmouth, vì Aleksandr chỉ phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hòa ước sơ bộ do Oubril ký ở Paris khi nào mình đã nắm vững tình hình thương nghị giữa Talleyrand và Yarmouth.

Nhưng không thể có hòa bình với nước Anh được. Quyền lợi chính trị và kinh tế của các giai cấp lãnh đạo Anh không thể nào phù hợp với nền chuyên chính của Napoléon trên một nửa lục địa. Trong khi đang thương nghị, Napoléon không những không đả động gì đến việc nhượng bộ, mà còn không ngừng đưa ra những yêu sách mới; ông ta nói đến Ai Cập, Syria...

Bỗng một hôm (ngày 13 tháng 9), tin Bộ Trưởng Ngoại Giao Anh là James Fox từ trần bay đi khắp Châu Âu, mà James Fox lại là người độc nhất chủ trương hòa bình với nước Pháp mà nước Anh tin cậy.

Ở Phổ, phái kiên quyết phản đối những cuộc xâm lấn của Napoléon lại ngóc đầu dậy: Từ nay trở đi rõ ràng là nước Anh hay nước Nga đều không thể thực hiện hòa bình được với Napoléon. Đầu tháng 9, Frederick Wilhelm đang từ giận dữ chuyển sang sợ hãi, lúng túng, không biết nên giải quyết thế nào thì nay lại lấy làm sung sướng vô cùng sẽ được thấy một cuộc liên minh mới tái sinh. Cũng ngày James Fox chết, ngay khi chưa nhận được tin bệnh tình của James Fox đã kết thúc một cách rủi ro, vua Phổ đã quyết định cho quân đội tiến vào đất Saxony. Ba tuần sau, người ta được tin Tây Ban Nha hoàn toàn sẵn sàng gia nhập Khối Liên Minh tương lai nếu thắng lợi được bảo đảm chắc chắn và những cuộc điều đình bí mật đã được xúc tiến giữa triều đình Tây Ban Nha và Frederick Wilhelm.

Nỗi phẫn uất và bực dọc sôi lên giữa giai cấp quý tộc và một bộ phận của giai cấp tư sản Phổ. Người ta buộc tội nhà vua nhu nhược, Hauvite tội phản bội. Bọn quý tộc căm thù Napoléon, cho rằng cá nhân Napoléon phải chịu trách nhiệm về việc đã tiêu diệt chế độ phong kiến cổ xưa xây dựng trên chế độ nông nô; giai cấp tư sản thì hốt hoảng cuống cuồng khi thấy hàng rào thuế và những hàng rào khác mà Napoléon đã rất tích cực dựng lên để ngăn nước Phổ với các nước chư hầu của ông ta, họ hốt hoảng cuống cuồng khi thấy cái công trình nghiệt ngã mà Napoléon đương thực hiện chỉ để có lợi cho nền kỹ nghệ Pháp và gây thiệt hại cho bất cứ nước nào khác. Trong hàng ngũ sĩ quan, trong số các tướng lĩnh xuất hiện một không khí táo bạo và lòng mong muốn trả thù những sự xúc phạm, những sự bội phản và thái độ khinh thị mà Napoléon luôn luôn biểu thị trắng ra trong bất cứ trường hợp nào đối với nước Phổ. Hoàng Hậu Louise là người cầm đầu bọn quý tộc và võ quan đó. Từ nước Anh và Nga, lúc ấy còn đàm phán một cách vô hiệu với Napoléon, tới tấp bay về Phổ đủ các kiểu khích lệ nhân tâm và tăng cường lòng tin tưởng. Nhận định căn bản khiến nhà vua phải quyết định ngay thái độ: Dù thế nào Napoléon cũng sẽ gây chiến, dầu người ta có nhượng bộ Napoléon - Người ta quyết định gửi cho Napoléon một kiến nghị về những ý đồ của Napoléon đối với Phổ. Vị Hoàng Đế ấy không trả lời.

Quân đội Phổ di chuyển. Các trung đoàn lên đường về phía Tây, nối đuôi nhau tiến qua Berlin về Magdeburg hát những bài ca ái quốc và Hoàng Hậu Louise đến gặp binh lính, biến các cuộc gặp gỡ ấy thành trung tâm của các cuộc biểu tình. Vua Frederick Wilhelm lên đường đi chinh chiến cùng với quân đội lúc đó đang tập trung ở xung quanh và ở phía Tây Magdeburg. Frederick gửi bức kiến nghị thứ hai cho Napoléon đòi quân đội Pháp rút khỏi lãnh thổ nước Phổ. Để đáp lại, Napoléon dẫn đầu quân đội của mình vượt biên giới xứ Saxony, nơi mà quân đội Phổ đã tiến vào từ trước.

[30] Chiến tranh bảy năm, cuộc chiến tranh xảy ra dưới thời Louis XV, từ năm 1758 đến năm 1763 giữa một bên là Pháp, Áo, Nga và một bên là Anh, Phổ. Cuộc chiến tranh này làm cho nước Pháp hồi đó mất một số thuộc địa giàu có và mang lại miền Silesia cho vua nước Phổ Frederick đệ nhị.

[31] Boyard: Tên gọi bọn cựu quý tộc ở miền Đông Âu.

[32] Florin: Đơn vị tiền tệ lưu hành ở nhiều nước Châu Âu hồi ấy, giá trị tuỳ theo từng nước quy định.

CHƯƠNG 9

nước phổ bại trận
nước đức bị khuất phục hẳn
1

Ngày 8 tháng 10 năm 1806, Napoléon hạ lệnh chiếm xứ Saxony, đồng minh của nước Phổ từ khi ký Hòa Ước Pressburg, và đại quân tập trung ở Bavaria lập tức vượt qua biên giới bằng ba mũi. Đi đầu mũi giữa là kỵ binh của Murat, theo sau là Napoléon cùng với quân chủ lực. Quân số của đại quân lúc đó chừng 195.000 người, tức là già nửa tổng số lực lượng vũ trang của Napoléon, vì Napoléon còn phải để lại 70.000 người ở Ý và số còn lại gần bằng ngần ấy rải rác khắp trên các nước bị chiếm đóng. Thật ra, số 195.000 người ấy đã phải bổ sung bằng những tân binh được huấn luyện cấp tốc trong các trại ở hậu phương. Nước Phổ chống lại Napoléon bằng những lực lượng ít hơn từ 175.000 đến 180.000 người.

Muốn hiểu được tổn thất khủng khiếp cũng như không thể cứu vãn được đã làm nước Phổ tan tành chỉ sau vài ngày ngắn ngủi, đương nhiên không thể chỉ chú ý đến quân số chênh lệch không đáng kể giữa đại quân Pháp với quân đội Phổ, cũng không nên chỉ nhắc đến thiên tài của vị tướng tổng chỉ huy Pháp hoặc tài năng xuất sắc của các danh tướng bên cạnh Napoléon. Lúc đó, người ta được chứng kiến cuộc xung đột của hai hệ thống xã hội và kinh tế, của hai chế độ chính trị, của hai chiến thuật và tổ chức vũ trang thuộc những điều kiện của xã hội khác nhau. Một chế độ có tính chất phong kiến và chuyên chế điển hình, lạc hậu về mặt công nghiệp và chỉ có một nền kỹ thuật rất thô sơ xung đột với một quốc gia đã căn bản biến đổi sau cuộc các mạng tư sản thủ tiêu chế độ phong kiến và nông nô.

Chúng ta đã nói về tổ chức quân đội của Napoléon. Quân đội Phổ phản ánh trung thực tất cả cơ cấu tổ chức của một quốc gia xây dựng trên chế độ nông nô. Binh lính là những người nông nô, đã còng lưng vì roi vọt của chúa đất nay lại chịu đựng ngọn roi và súng gươm của bọn sĩ quan, họ là những người nô lệ của Nhà Nước, chịu đựng những cái tát và những mũi giày của bất cứ kẻ nào là cấp trên của họ, kể từ tên đội nhất trở đi và họ phải phục tùng mù quáng bọn chỉ huy, họ hoàn toàn hiểu rằng dù có chiến đấu dũng cảm và tận tâm đến đâu đi nữa, số phận của họ cũng chẳng được cải thiện tí nào. Điều kiện duy nhất để trở thành sĩ quan là phải thuộc dòng dõi quý tộc và một số trong bọn chúng thường tự phụ về sự khắc nghiệt đối với binh lính, vì bọn chúng coi đó là cơ sở chân chính của kỷ luật. Mặt khác, một sĩ quan chỉ lên tới cấp tướng khi nào đã gần về già, nếu không thì phải có sự nâng đỡ hoặc phải dựa vào tiếng tăm dòng dõi của mình.

Đến tận giữa thế kỷ XVIII, những tập quán của chế độ cũ tồn tại không những trong quân đội Phổ mà còn cả ở trong quân đội của mọi nước khác. Trong chiến tranh bảy năm, vua Frederick đệ nhị đã có thể chiến thắng quân Pháp, Nga, Áo, nhưng không phải ông ta không có lúc thất bại ghê gớm. Frederick đệ nhị biết rõ rằng chỉ có một thứ kỷ luật man rợ mới đẩy được những binh lính bị áp bức và lòng đầy căm hờn đi chiến đấu. Có lần, Frederick đệ nhị đã nói với một viên tướng thân cận nhất của mình: “Đối với trẫm, điều huyền bí nhất là tại sao chúng ta lại có thể hưởng sự an toàn ở ngay giữa đám binh lính của chúng ta”. 40 năm đã qua, nhưng nước Phổ vẫn là nước Phổ ngày xưa. Chỉ có điểm này thay đổi: Frederick không còn nữa, và thay thế ông ta là công tước Brunswick bất lực và bọn tướng lĩnh khác được phong tước nổi tiếng chỉ vì ngu xuẩn.

Vậy, khoảng cuối mùa hạ và đầu mùa thu năm 1806, trong giới cầm quyền Phổ cái gì đã xảy đến vào thời kỳ ấy, thời kỳ ứng nghiệm những điều mà định mệnh đã vạch sẵn cho họ? Frederick Wilhelm đệ tam, người mà một năm trước đây đã quá run sợ khi phải tham chiến chống vị Hoàng Đế đáng sợ, tuy đã liên minh với nước Anh, nước Áo và nước Nga, tại sao bây giờ lại dám cả gan làm việc đó? Trước hết, phải cho rằng do tuyệt vọng mà sinh ra dũng cảm, Wilhelm đệ tam tin chắc là dù có đầu hàng cũng không hòng thoát khỏi nạn, vì dẫu sao đi nữa Napoléon cũng sẽ tiến công. Nhưng bọn sĩ quan, bọn tướng lĩnh, tất thảy bọn quý tộc thượng lưu thì mừng quýnh và tự phụ huyênh hoang tướng lên rằng chúng sẽ cho tay phiêu lưu người Corsica kia, kẻ thủ phạm sát hại công tước Enghien, tên thủ lĩnh của bọn quần cộc một bài học. Bọn chúng hỏi: “Cho tới nay, Napoléon đã chiến thắng được những ai? Quân Áo ư? Chẳng qua đó là một bầy hèn nhát đủ các chủng tộc. Hay bọn mọi rợ dã man như quân Thổ và bọn Mamelukes ở Ai Cập? Hay quân Ý hèn yếu? Hay quân Nga cũng mọi rợ chẳng kém gì quân Thổ và bọn Mamelukes ở Ai Cập? Dễ thường cái vinh quang của Napoléon sẽ không bị tan thành mây khói trong trận chạm trán với quân đội của Frederick đệ nhị hay sao?”.

Triều đình, tướng tá, bộ chỉ huy tối cao, giới thượng lưu, Hoàng Hậu Louise với bọn cận thần, thật ra tất cả bọn ấy đều đã bại trận trước khi xuất trận vì sự nông nổi, tính hão huyền, tính hợm hĩnh quái gở của họ. Bọn họ không chịu đếm xỉa đến việc Napoléon tìm nguồn bổ sung không phải chỉ từ nước Pháp, mà còn từ nhiều nước lớn và giàu có khác đã quy phục. Bọn chúng còn tin là rồi đây, ngay sau khi quân đội Phổ đánh bại được Napoléon bằng một đòn táo bạo thì bọn Bảo Hoàng sẽ nổi dậy ở hậu phương Napoléon và sẽ nhân danh dòng họ Bourbon mà lật đổ Napoléon. Công tước Brunswick, tổng chỉ huy của họ là viên tướng đã từng chỉ huy cuộc can thiệp vũ trang chống lại nước Pháp vào năm 1792, và trái với chủ tâm của hắn, hắn đã làm cho dòng họ Bourbon chóng sụp đổ bằng những lời tuyên bố ngu xuẩn đầy nạt nộ của hắn, hắn có mối căm thù của một tên chúa đất trong chế độ cũ đối với nhân dân Pháp, với những người khởi nghĩa cách mạng gan góc. Nhưng Brunswick lại sợ tướng vô địch Bonaparte và không tán thành chút nào cái không khí hội hè và chiến thắng đang trùm lên đình thần tả hữu của Hoàng Hậu và hoàng tử Louis.

Trong các nhà thờ ở Berlin và ở các tỉnh, các mục sư nhận trách nhiệm cầu xin sự che chở đầy thần uy của “Đấng Tối Cao” mà xưa kia, xưa lắm, người ta hiểu rằng chính “Người” đã rủ lòng ban ơn cho triều đại Hohenzollern. Người ta nóng lòng sốt ruột chờ đợi tin tức diễn biến của chiến sự. Không ai biết là bên nào sẽ vượt biên giới trước.

Ba đạo quân của Napoléon đều tiến về phía sông Elbe (chi lưu Saale - HA), vượt qua rừng Franconian, tràn vào hậu phương quân Phổ để cắt đứt các đường giao thông của Phổ.

Trận giao chiến đầu tiên xảy ra ở gần Schleiz, vào ngày 9 tháng 10, một ngày sau khi Napoléon đã đột nhập vào xứ Saxony. Quân tiền vệ Pháp, Murat và Bernadotte gặp một quân đoàn Phổ và được lệnh của Napoléon cho tiến công. Quân Phổ bị đánh tan ngay trong trận giao chiến không quan trọng này, bị thiệt mất 700 người, trong đó 300 người chết. Ngày 10 tháng 10, một trận thứ hai, ác liệt hơn. Hoàng tử Louis, thủ lĩnh phái chủ chiến có thế lực trong triều, cùng với một đội quân 9.000 người chiếm lĩnh Gefell, bị Thống Chế Lannes tiến công sau khi đã tiến được vào sát vùng lân cận Gefell, và cuối cùng, thắng lợi cũng về phía quân Pháp. Sau một cuộc chống cự kịch liệt, quân Phổ bỏ chạy, để lại trên chiến trường chừng 1.500 người bị giết hoặc bị bắt. Cuối cùng trận đánh, hoàng tử Louis bị một nhát lê đâm chết.

Tàn binh bỏ Gefell chạy về nhập với quân chủ lực quân Phổ đang tập trung ở gần Jena dưới quyền chỉ huy của hoàng tử Hohenlohe. Một quân đoàn chủ yếu khác của quân Phổ, do đích thân công tước Brunswick chỉ huy, rút lên phía Bắc, theo hướng Naumburg, nhưng rồi cũng không tới được Naumburg.

Khi liên tiếp nhận được những tin chiến sự ở Schleiz, ở Gefell và tin cái chết của hoàng tử Louis, tất cả mọi người đều hoang mang dao động. Thật cũng đáng lạ rằng kết quả của hai trận chiến đấu khốn khổ và cũng không đáng kể ấy lại có thể làm thay đổi được tình hình chung đến tận gốc như thế. Cái hợm hĩnh hống hách vô độ lúc đầu đã nhanh chóng biến thành rối loạn và sợ hãi. Chỉ có Hoàng Hậu Louise là chưa thất vọng. Hoàng Hậu vừa tán dương với cận thần tinh thần hy sinh anh dũng của hoàng tử Louis, vừa quả quyết rằng trận đánh lớn sắp tới sẽ lập tức làm thay đổi tình thế.

Napoléon cho rằng chủ lực quân Phổ tập trung ở vùng lân cận Weimar để tiếp tục rút về Berlin, và dự đoán rằng trận chiến đấu quyết định sẽ diễn ra ở gần Weimar vào ngày 15 tháng 10. Napoléon ra lệnh cho Davout tiến theo hướng Naumburg và thọc sâu hơn nữa vào hậu phương quân địch. Bernadotte nhận lệnh hợp vây cùng Davout, nhưng không thực hiện được. Napoléon cùng với Soult, Ney và Murat tiến về Jena. Tối 13 tháng 10, Napoléon vào được trong thành phố đó, và khi quan sát những điểm cao bao quanh thành phố, Napoléon thấy có nhiều lực lượng lớn đang rút theo đường Weimar. Hoàng tử Hohenlohe biết quân Pháp đã chiếm được Jena nhưng tuyệt nhiên không ngờ chính cả Napoléon cũng đã có mặt ở Jena cùng với nhiều quân đoàn. Đêm 13 rạng ngày 14, Hohenlohe đình chỉ việc rút lui và hạ quyết tâm nghênh chiến, điều mà Napoléon không ngờ tới.

Trước khi ánh mặt trời buổi sáng toả chiếu, Napoléon cưỡi ngựa đi duyệt đội ngũ, Napoléon đã nói với binh sĩ rằng, trận đánh này sẽ nộp toàn bộ nước Phổ cho quân đội Pháp, rằng Hoàng Đế tin tưởng vào truyền thống dũng cảm của binh sĩ, và cũng theo như thường lệ, Hoàng Đế giải thích cho binh sĩ nghe đại cương kế hoạch tác chiến của mình.

Rồi bình minh của ngày 14 tháng 10 năm 1806 bắt đầu, ngày quyết định số phận nước Phổ. Trận chiến đấu đã xảy ra ngay sau khi mặt trời mọc: Trận đánh kéo dài và ác liệt, nhưng ngay từ lúc đầu, quân Pháp đã chiếm được lợi thế, đến nỗi quân Phổ dù có cố gắng đến đâu đi nữa cũng không tránh khỏi thất bại. Lúc đầu quân Phổ và quân Saxony vừa rút lui từ từ vừa ngoan cường chống cự, nhưng vì biết tập hợp và biết chỉ huy khéo léo các quân đoàn tinh nhuệ của Soult, của Lannes, của Augereau, của Ney và kỵ binh của Murat nên Hoàng Đế đã thực hiện được kế hoạch của mình từng điểm một. Khi quân Phổ quỵ và bắt đầu chạy trốn thì liền bị truy kích ngay và đối với kẻ bị bại trận, cuộc truy kích này còn khủng khiếp hơn cả trận Austerlitz. Tàn quân vội vã chạy về hướng Weimar và bị kỵ binh của Murat bám riết vào tận trong thành phố. Đến đây thì quân Phổ phải chịu những tổn thất nặng nề nhất. Kỵ binh Pháp đang hăng, chém sạch cả những người xin hàng. Quân Phổ hoàn toàn bị đánh bại. Một bộ phận nhỏ chạy thoát còn giữ được cái mã nhà binh, còn bao nhiêu bị đánh tan tành, bị bắt cầm tù hoặc mất tích (phần này chiếm số lớn nhất).

Hohenlohe, lẩn tránh trong đám tàn quân, đã tìm cách chạy về Naumburg vì ông ta cho rằng ở đó, binh đoàn chủ lực - lực lượng duy nhất mà từ nay trở đi người ta có thể trông cậy, do công tước Brunswick chỉ huy - được an toàn cùng với nhà vua. Nhưng, chợt gần tối, một số binh lính khác hốt hoảng chạy đến trà trộn vào đám bại quân từ Jena trốn về và loan báo rằng có một tai họa mới vừa giáng xuống nước Phổ. Số là, trước khi tới Naumburg, công tước Brunswick đã dừng lại ở Auerstedt, còn cách Jena chưa đầy 25km, thì đã chạm ngay phải quân Pháp của Davout, và điều này đã giải thích cho binh lính hiểu rõ tại sao có tiếng súng đại bác từ phía đó vọng tới tai họ trong suốt trận đánh. Mặc dầu số lượng quân Pháp ít hơn, vì trong tay Davout chỉ có binh đoàn của mình, còn Bernadotte chưa tới chi viện kịp, nhưng đại bộ phận lực lượng của quân Phổ cũng đã bị đánh bại tan tành. Công tước Brunswick bị tử thương vào lúc gay go nhất. Thế là quân bại trận ở Auerstedt lẫn với bại quân của Hohenlohe ùn ùn từ Jena và Weimar kéo đi như thác.

 

Như vậy là trong ngày 14 tháng 10, quân đội Phổ hầu như không còn gì nữa, sau khi đã bị Napoléon và Thống Chế Davout đánh cho thua luôn hai trận trong cùng một ngày. Ở Châu Âu, ngay trong số những kẻ địch tồi nhất của nước Phổ, chẳng ai ngờ được rằng sự việc lại kết thúc nhanh chóng đến thế, chỉ sáu ngày sau khi Napoléon bước vào chiến đấu.

Khi bên bại trận truyền cho nhau biết cái tin là đã bị mất hết và quân đội không còn, thì sự kinh khủng đến cực độ và chưa từng có xâm chiếm lấy họ.

2

Tàn quân Phổ tiếp tục trốn chạy hỗn độn. Quân Pháp truy kích và vơ vét được rất nhiều lương thực, xe cộ, lừa ngựa, pháo còn tốt nguyên và tất cả những thứ tàn quân vứt bỏ lại trên đường tháo chạy. Napoléon thẳng đường tiến về Berlin. Dọc đường, Napoléon ra lệnh chiếm đóng công quốc Hassenhausen, tuyên bố phế bỏ triều vua đó, xâm chiếm Brunswick, Weimar và Erfurt, Naumburg, Halle và Württemberg. Hoàng tử Hohenlohe rút về phía trước theo hướng Bắc, cùng với chừng 20.000 quân mà hoàng tử đã tập hợp được, hầu như không có vũ khí, tinh thần bạc nhược và không phục tùng chỉ huy nữa. Nhưng, trong cuộc chạy trốn lên phía Bắc của hoàng tử, đám tàn quân đó luôn luôn bị kỵ binh của Murat tập kích nên càng ngày càng tan rã. Sau khi vượt qua được Prenzlau, trên đường đi Stettin, Hohenlohe đã bị bao vây tứ phía và phải đầu hàng. Trước đó ít hôm, ngay sau khi Thống Chế Lannes vừa mới kêu gọi đầu hàng, vị trí kiên cố Spandau đã hạ khí giới đầu hàng không kháng cự, cùng với những kho tàng đầy ắp dụng cụ chiến tranh.

Và sau khi Hohenlohe đầu hàng, tướng Lasalle liền dẫn đầu đội kỵ binh tiến đến chân pháo đài kiên cố Stettin, trong đó có hơn 6.000 quân phòng giữ cùng với lực lượng pháo binh hùng hậu, lương thực và đạn dược dồi dào; tướng Lasalle kỵ binh Pháp vừa mới kêu gọi hàng, pháo đài này đã hàng ngay, không một phát súng chống cự trong khi đối phương không có lấy một khẩu pháo. Mối kinh sợ đen tối nhất đã đè lên tướng lĩnh, sĩ quan, binh lính của đám quân Phổ đã sẵn sàng dâng mình cho thất bại. Không còn chút vết tích gì về cái kỷ luật mà xưa nay họ vẫn từng khoe khoang. Hàng nghìn binh lính Phổ ra hàng quân Pháp.

Sự sụp đổ tinh thần của bọn chỉ huy Phổ làm cho ngay cả những kẻ chiến thắng cũng lấy làm lạ. Người ta không nhận ra được những người mà cách đây nhiều lắm là hai tuần còn dương dương tự đắc và tin chắc sẽ trừ khử được Napoléon.

Ngày 27 tháng 10 năm 1806, 19 ngày sau khi chiến tranh bùng nổ, và 13 ngày sau trận Jena và Auerstedt, Napoléon hát khúc khải hoàn tiến vào Berlin cùng với bốn Thống Chế và đội kỵ binh cận vệ tuỳ tùng. Viên thị trưởng giao nộp thủ đô cho Napoléon và yêu cầu đừng bắn phá thành phố. Napoléon hạ lệnh cho các cửa hàng mở cửa và duy trì sinh hoạt bình thường của thành phố. Dân chúng rối rít chúc tụng, đón tiếp Hoàng Đế một cách sợ hãi, biểu lộ sự quy phục hoàn toàn.

Đóng lại ở Berlin, Napoléon đã chú ý trước nhất đến việc tiêu diệt tàn quân Phổ tan tác ở khắp nơi. Rốt cuộc chỉ còn lại có đội quân của tướng Blücher, viên tướng Phổ kiên quyết nhất đã tập hợp được chừng 20.000 vừa sĩ quan và binh lính của các đơn vị tan rã, rồi cùng chạy lên phía Bắc và bị quân của các Thống Chế Bernadotte, Soult và Murat đuổi đánh.

Đến Lubeck, trước mặt Blücher là biên giới Đan Mạch nhưng nước Đan Mạch vì quá sợ Napoléon nên đã kiên quyết cấm quân Phổ không được đặt chân lên lãnh thổ của họ. Như vậy là Blücher không còn đường thoát vì quân Pháp đang đuổi ngay ở phía sau. Ngày 7 tháng 11, quân Pháp vào tới Lubeck và tiến công quân đoàn của Blücher ở ngay trong thành phố. Một cuộc giao chiến liều mạng bắt đầu và trong trận ấy chứng 6.000 quân Phổ bị quân Pháp giết hoặc bắt làm tù binh. Blücher dẫn đầu 14.000 quân trốn thoát khỏi thành phố, nhưng đến tối bị quân Pháp đuổi kịp và bao vây ở cánh đồng Lubeck. Blücher đầu hàng cùng với tất cả số còn lại trong số 14.000 binh lính, sĩ quan và tướng lĩnh, toàn bộ số pháo và đạn dược của mình. Cùng trong lúc đó, quân Pháp lại đã xuất hiện ở Kusterin trên Ode. Quân Pháp đã biết lợi dụng tình trạng mất tinh thần lạ lùng và không thể tưởng tượng được đang lan tràn khắp nước Phổ sau trận Jena, đến nỗi chỉ có bốn đại đội bộ binh, không có pháo, hiện ra dưới chân thành Kusterin, rồi viên chỉ huy đội quân bé nhỏ ấy đòi thành Kusterin phải đầu hàng cũng chẳng cần phải dùng đến hành động nghi binh vây thành. Vừa mới gọi hàng, thành Kusterin đã hạ khí giới cùng với 4.000 quân trang bị đầy đủ, một số lớn pháo binh và những kho lương thực to lớn. Hàng loạt các pháo đài kiên cố ấy đầu hàng, không chút kháng cự, một điều chưa từng thấy có trong lịch sử chiến tranh.

Điển hình nhất là pháo đài Magdeburg, là một giai thoại kỳ lạ mà Napoléon thoạt nghe báo cáo cũng sửng sốt, chưa dám tin. Magdeburg, pháo đài duy nhất chưa đầu hàng, là pháo đài kiên cố vào bậc nhất và đồng thời cũng là một trung tâm buôn bán lớn, trù phú. Ở đó, tập trung nhiều kho lương thực và đạn dược lớn, trong thành có lực lượng đồn trú quan trọng: 22.000 người trang bị đầy đủ, đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Kleist. Sau khi Blücher đầu hàng, 22.000 người ấy và pháo đài Magdeburg là vị trí độc nhất còn sót lại của lực lượng vũ trang Phổ. Thống Chế Ney đã tới chân thành. Trong lúc cấp bách và tin chắc là sẽ thu được thắng lợi nên Ney cũng không tính đến việc mang theo pháo để công thành mà chỉ mang theo ba, bốn khẩu súng cối dã chiến. Ney kêu gọi Kleist nên đầu hàng ngay. Thấy đối phương từ chối, Ney hạ lệnh phát hoả; mấy khẩu pháo nhẹ đem theo đã không gây ra và cũng không thể gây hư hại gì cho pháo đài được, nhưng thế là đủ: Ngày 8 tháng 11, Kleist đầu hàng cùng với toàn bộ thành quách. Ney tiến vào thành phố và thấy ở đó rất nhiều kho quân nhu và kho hàng hóa đồ sộ. Sau này, Kleist giải thích về hành động ấy của mình rằng: Bởi dân chúng khiếp đảm vì súng cối của quân Pháp, đã cầu xin Kleist, với tư cách là người chỉ huy thành, cần phải sớm đầu hàng. Thể theo ý muốn đó mà Kleist đã đầu hàng.

Khi được tin Magdeburg đầu hàng, Napoléon, nước Pháp và toàn thể Châu Âu đều thấy rõ rằng số phận nước Phổ như thế là hết. Quân Phổ bị tiêu diệt hay bị bắt, tất cả các thành quách còn nguyên vẹn cùng với một số lớn kho quân trang, quân dụng, quân giới, tất cả đều đã rơi vào tay quân Pháp, thủ đô và hầu khắp các thành phố (trừ Danzig) đều do nhà cầm quyền Pháp cai trị và nhân dân ở đâu cũng tỏ ra thần phục hoàn toàn.

Sau khi đi lang thang khốn khổ hết từ thành phố này để sang thành phố khác, vua Phổ, Hoàng Hậu Louise, con cái và quần thần (còn lại rất ít) cuối cùng trú lại ở Memel, biên giới của vương quốc Phổ. Tất cả những hy vọng đình chiến và hòa bình mà Frederick Wilhelm ôm ấp đều đã tiêu tan hết, vì Napoléon đã đề ra những điều kiện rất nghiệt ngã. Napoléon cho đăng trên báo Pháp những bài mỉa mai châm chọc tàn nhẫn, độc ác đối với Hoàng Hậu Louise, chỉ đích danh Hoàng Hậu là người chịu trách nhiệm chính về những tai họa đã trút xuống nước Phổ. Nhưng, những sự lăng mạ ác độc của kẻ chiến thắng đã không cản trở việc Frederick Wilhelm đệ tam viết cho Napoléon một bức thư lời lẽ cung kính, tỏ ý mong mỏi đức Hoàng Đế Napoléon sẽ được hài lòng về những tiện nghi trong hoàng cung ở Potsdam hoàn toàn còn tốt nguyên. Napoléon không thèm trả lời.

Trên con đường võ nghiệp dài dằng dẵng và đầy chiến thắng của mình, trước kia cũng như sau này, chưa bao giờ quyền lực của Napoléon lại đạt đến đỉnh cao như mùa thu năm 1806, và về sau không bao giờ còn thấy lại nữa. Trong một tháng, từ lúc bắt đầu chiến tranh (8 tháng 10) đến ngày Magdeburg đầu hàng (8 tháng 11), Napoléon đã hoàn toàn đánh bại một trong bốn cường quốc lớn ở Châu Âu vào thời bấy giờ mà xưa nay Napoléon không dám khinh thường. Chiến thắng của Napoléon thật là hoàn mãn và hào hùng chưa từng thấy. Đây là lần đầu tiên Napoléon được thấy sự hỗn loạn, sự hoảng hốt của chính phủ và của các tướng lĩnh Phổ, đầu hàng ngay sau những phát súng đầu tiên, sự thuần phục nhanh chóng và hoàn toàn tin cậy được của dân chúng và của các nhà cầm quyền Phổ. Quân Mamelukes ở Ai Cập đã kháng cự, quân Áo đã kháng cự, quân Ý đã kháng cự, quân Nga đã bại trận nhưng dũng cảm tuyệt vời, và ở trận Austerlitz, Napoléon đã phải ca ngợi tinh thần quyết chiến của một số đơn vị Nga. Trong khi đó, một quân đội tự hào về những truyền thống của Frederick đệ nhị, một nước thừa hưởng một tổ chức cai trị hoàn hảo nhất và nhân dân có trình độ văn hóa không thua một nước nào ở Châu Âu hồi ấy, bỗng nhiên biến thành một khối cứng đờ bất động. Toàn Châu Âu sững sờ kinh ngạc và sợ hãi, cố nhiên là không nói đến những quốc gia Đức, nước nào nước nấy vội vã đệ lên Napoléon, ở cung điện Potsdam những lời cam kết hoàn toàn thần phục.

Rất tự nhiên là trong những ngày tháng 10 và tháng 11 ấy. Napoléon sống trong một màn sương xán lạn, giữa những tin tức hàng ngày tới tấp bay về Berlin và Potsdam báo tin đầu hàng của các pháo đài và các đám tàn quân cuối cùng của Phổ; giữa những sự quy phục van xin tha tội và che chở, những sự khúm núm cam kết trung thành của các vương hầu, công hầu, vua chúa, thì rất tự nhiên là Napoléon quyết định giáng cho kẻ thù chính của mình, là nước Anh, một đòn sấm sét, và đòn ấy có thể thực hiện được sau khi đã chiến thắng nước Phổ. Chưa đầy hai tuần sau khi Magdeburg đầu hàng Thống Chế Ney, ngày 21 tháng 11 năm 1806, Hoàng Đế ký Đạo Luật Berlin nổi tiếng, ban bố việc phong tỏa lục địa.

3

Cuộc phong tỏa lục địa đóng một vai trò rất to lớn trong lịch sử của đế quốc Napoléon, trong lịch sử của toàn Châu Âu cũng như Châu Mỹ, nó trở thành cơ sở của toàn bộ cuộc đấu tranh về kinh tế và như vậy là cả về chính trị nữa, trong suốt thời gian của thiên anh hùng ca đế chế.

Những điểm chủ yếu của đạo luật Berlin gồm những gì? Việc cấm thông thương với nước Anh có từ hồi cách mạng và sau đó đã được sắc lệnh ngày 10 Tháng Sương Mù năm thứ V (1796) quy định và bổ sung cho rõ hơn. Dưới thời Napoléon, sắc lệnh đó không những đã được thừa nhận, mà ngày 22 tháng 2 cùng năm 1806 ấy, trong lúc cấm nhập khẩu các hàng dệt và sợi bông bất cứ từ đâu đưa tới, một lần nữa Hoàng Đế đã xác định lại quan điểm bảo hộ mậu dịch chặt chẽ của mình để bảo vệ nền kỹ nghệ của nước Pháp. Bằng Đạo Luật Berlin ngày 21 tháng 11 năm 1806, không phải Napoléon chỉ tiếp tục và củng cố độc quyền nội thương của đế quốc, mà còn đánh ác liệt vào toàn bộ nền kinh tế Anh; chủ ý của Napoléon là đưa nó đến chỗ chết ngạt, đến chỗ Nhà Nước phá sản, đến chỗ đói kém và đầu hàng. Lần này, điều chủ yếu là không phải chỉ tống cổ Anh ra khỏi đế quốc Pháp mà còn muốn tống cổ Anh ra khỏi lục địa Châu Âu, giết chết Anh về mặt kinh tế, tước đoạt các thị trường Châu Âu trong tay Anh. Điều 1 của đạo luật viết: “Nước Anh bị coi là ở trong tình trạng bị phong tỏa” và điều 2 nói: “Tất cả việc buôn bán và giao thiệp với nước Anh đều bị cấm”. Tất cả việc giao thiệp bằng bưu điện hoặc bằng cách khác đều bị cấm, lệnh ban ra là phải bắt ngay tất cả những người Anh trú ở khắp mọi nơi, phải tịch thu hàng hóa và tài sản của họ nói chung.

Khi phân tích việc phong tỏa lục địa, dù cho có thiếu rất nhiều những điều giải thích cụ thể, chi tiết chăng nữa - Napoléon không bao giờ hà tiện việc giải thích này - thì người ta chỉ cần đọc văn bản Đạo Luật Berlin cũng đủ để nắm được thực chất ý nghĩa lịch sử của nó: Việc phong tỏa kinh tế nước Anh chỉ có thể thu được một vài kết quả cụ thể với điều kiện: Nếu toàn thể Châu Âu không hoàn toàn thuộc quyền Napoléon thì ít ra cũng phải đặt dưới sự kiểm soát ngặt nghèo của Napoléon. Trái lại, chỉ cần một cường quốc không chịu khuất phục và tiếp tục buôn bán với nước Anh thì cũng đủ làm mất hết lực của đạo luật, bởi vì từ cái nước bất trị đó, hàng hóa Anh (với nhãn hiệu khác) sẽ lan tràn dễ dàng và nhanh chóng trên toàn cõi Châu Âu. Kết luận đã rõ ràng: Nếu muốn thắng được nước Anh thì phải được tất cả các cường quốc Châu Âu thực hiện chặt chẽ việc phong tỏa lục địa, phải đặt toàn thể Châu Âu dưới quyền Napoléon và điều trước tiên là phải chiếm tất cả các bờ biển ở Châu Âu để cho lính đoan và cảnh binh Pháp hành động được dễ dàng và tiêu diệt được nạn buôn lậu.

Không cần phải hiểu thấu thâm ý chính trị của Napoléon cũng thấy được những hậu quả tai hại của việc phong tỏa không những đối với nước Anh mà còn với đông đảo khách hàng tiêu thụ ở Châu Âu, vì như vậy họ bị thiếu mất nhiều sản phẩm kỹ nghệ và hàng hóa thuộc địa của Anh, từ bông cho đến cafe và đường. Napoléon cũng thừa hiểu trước rằng, về phần những thương nhân người Anh, việc buôn lậu sẽ đem lại rất nhiều lời, và do đó nó sẽ hoành hành dữ, nó sẽ quyến rũ những thương nhân Pháp vẫn thường bán nguyên liệu cho người Anh đến mức nào. Tất cả những điều đó, Napoléon đều đã có dự kiến đầy đủ và còn một câu trả lời logic như sau: Tiếp tục nốt cuộc chinh phục lục địa Châu Âu, đã bắt đầu một cách rất tốt đẹp, để việc phong tỏa lục địa trở thành hiện thực.

Napoléon đã rất nhanh chóng nhận ra được rằng trong toàn Châu Âu chỉ có một tầng lớp dân chúng - tầng lớp tư sản kỹ nghệ - là sẽ lấy làm hài lòng về việc không phải cạnh tranh với hàng Anh. Sau khi nước Phổ bị bại trận và từ khi xứ Saxony phản lại đồng minh của mình để đi với Napoléon và hứa thực hiện đạo luật Berlin thì những kỹ nghệ gia xứ Saxony lấy làm sung sướng, biểu thị niềm hoan hỉ mãnh liệt, nhưng còn thương nhân, nông dân và quảng đại quần chúng tiêu thụ lại lấy làm lo lắng và thất vọng. Napoléon có thể biết trước được rằng chỉ còn có biện pháp duy nhất là dùng sức mạnh, dọa nạt và cưỡng bức mới buộc được các chính phủ và nhân dân Châu Âu chấp nhận và thực hiện đúng đắn các điều khoản của việc phong tỏa.

Từ ngày 21 tháng 11 năm 1806, ngày ban bố đạo luật, việc xây dựng kiểu “đế quốc Charlemagne”, việc bành trướng và củng cố chế độ đó trở thành cần thiết tuyệt đối và bắt nguồn một cách logic từ phương thức đấu tranh kinh tế của Napoléon chống lại nước Anh.

Thượng thư ngoại giao Talleyrand được Hoàng Đế triệu đến cung điện Potsdam và được lệnh thông báo ngay tức khắc cho các chư hầu nửa chư hầu những ý định của Napoléon về vấn đề phong tỏa. Đồng thời, Hoàng Đế còn ra lệnh cho các Thống Chế chiếm đóng càng nhiều càng hay ven Biển Bắc và ven Biển Baltic. Napoléon biết rất rõ tính chất quái gở của biện pháp mà ông quyết định thực hiện. “Chúng ta đã phải hy sinh nhiều khi tiến hành bảo vệ quyền lợi riêng của chúng ta thoát khỏi cuộc tranh chấp của bọn vua chúa và chúng ta cũng đã phải hy sinh nhiều khi, sau bao nhiêu năm văn minh, chúng ta phải quay trở lại với những nguyên tắc nói lên đặc điểm dã man của thời đại nguyên thủy của các quốc gia; nhưng vì quyền lợi của nhân dân ta và của các đồng minh của chúng ta, chúng ta buộc phải chống lại kẻ thù chung bằng ngay những vũ khí mà kẻ thù đã dùng để đánh chúng ta”. Napoléon viết như vậy trong thông báo chính thức gửi cho Thượng Nghị Viện của đế quốc Pháp để báo tin việc thi hành phong tỏa lục địa. Bức thư đó, viết cùng với Đạo Luật Berlin, 21 tháng 11 năm 1806.

Với thái độ ngoan ngoãn câm lặng và sợ sệt, Châu Âu đón nhận bản công bố phong tỏa lục địa. Sau thảm họa của nước Phổ. Chưa nước nào phục hồi được tinh thần và nhiều nước khiếp sợ tính từng ngày, tin rằng sẽ đến lượt mình mất nước. Nước Anh biết là từ nay trở đi vấn đề là đấu tranh một mất một còn. Nước Anh lại hướng về cái cường quốc mà trước đây Anh đã hai lần ngỏ ý liên minh, vào năm 1798 và vào năm 1805. Aleksandr đệ nhất lại được nước Anh hứa viện trợ tài chính, nếu Aleksandr lại chống Napoléon và có ý định cứu nước Phổ. Chính phủ Anh cũng thăm dò cả Áo, nhưng Áo vẫn chưa hồi phục sau thất bại khủng khiếp ở Austerlitz và Áo lại còn nhìn sự thất bại của Phổ bằng con mắt vui mừng độc ác, vì năm 1806 Áo đã không dám gia nhập Khối Liên Minh thứ ba. Để đáp lại, ở Peterburg, tất cả đều đã sẵn sàng tái chiến. Ở tất cả các nước, tất cả các kinh thành và đặc biệt ở Peterburg, Napoléon tổ chức một bầy gián điệp nhung nhúc và tay sai đủ hạng, đủ cỡ, cao thì có bá tước, hoàng thân và các bà hào hoa quý phái, thấp thì có chủ thuyền, chủ quân, quân hầu, viên chức bưu điện, thầy thuốc, nhân viên chạy thư. Bọn này báo cho Napoléon biết những cuộc thương lượng giữa Anh và Nga, ý định và sự chuẩn bị của Aleksandr, những lời hứa hẹn viện trợ tiền bạc cho Nga Hoàng trong trường hợp Nga tham chiến. Sau khi tạm thời lấy Berlin làm trung tâm cai trị đế quốc rộng lớn của mình, Napoléon chú ý cùng một lúc hai nhiệm vụ khó khăn, không tách rời nhau: Một là đặt ra những biện pháp cần thiết để thực hiện phong tỏa lục địa; hai là chuẩn bị quân đội để nay mai giao chiến với quân Nga tất sẽ ứng cứu cho nước Phổ bại trận.

Napoléon ra lệnh chiếm các thành phố buôn bán cổ ở bờ biển Hamburg, Bremen, Lubeck. Quân Pháp tiến quân theo dọc bờ Biển Bắc và Baltic, vừa chiếm đóng các thành phố và làng mạc ở ven biển, bắt giữ người Anh chẳng may sa vào tay họ, tịch thu hàng hóa Anh, dăng khắp nơi một màng lưới đồn bốt và quân tuần tiễu để ngăn chặn nạn buôn lậu của người Anh. Nước Phổ, xứ Saxony và nhiều nước khác thuộc Đức đến tận lúc đó vẫn phải đài thọ quân đóng trên các nước bị chiếm cứ. Các thành phố đồng minh thương nghiệp từ nay trở đi phải nuôi dưỡng những lính đoan và lính canh phòng bờ biển người Pháp đóng trên bờ Biển Bắc để ngăn ngừa hàng hóa Anh đột nhập. Đồng thời, Napoléon còn tích cực chuẩn bị việc xâm lược Ba Lan, mở một chiến dịch mới chống quân Nga và tập trung nhiều quân ở biên giới Đông Phổ.

4

Lần tham chiến này của Aleksandr được quyết định bởi những lý do chính đáng hơn năm 1805. Thứ nhất là Napoléon uy hiếp khá rõ rệt biên thùy nước Nga: Quân đội Pháp đã từ Berlin hành quân về phía Tây. Thứ hai là nhiều đoàn đại biểu Ba Lan nối nhau đến Potsdam để cầu xin Napoléon khôi phục nền độc lập của Ba Lan, và Napoléon, Hoàng Đế của nước Pháp, vua của nước Ý, người bảo hộ Liên Bang Sông Rhine, không ghét bỏ gì cái việc thêm vào ba danh hiệu ấy một danh hiệu khác có liên quan đến nước Ba Lan. Do đó, nước Nga ở vào tình trạng bị đe dọa sẽ mất Litva, Belarus, có thể cả Ukraine ở hữu ngạn sông Dniepr. Thứ ba là rõ ràng sau khi công bố đạo luật phong tỏa lục địa, Napoléon sẽ chỉ chịu dừng lại khi nào đã bằng cách này hoặc cách khác bức được nước Nga đứng về phía các cường quốc đang thừa hành đạo luật, và cuối cùng là việc ngừng buôn bán với nước Anh gây nên hậu quả tai hại nghiêm trọng cho việc xuất cảng nông sản của Nga sang Anh, cũng như đối với việc ổn định tiền tệ của Nga hiện đã đang rất bấp bênh. Tóm lại, có đủ lý do để chiến tranh với Napoléon, đó là chưa nói đến ý muốn phục thù trận thất bại nhục nhã ở Austerlitz, và người ta chuẩn bị cuộc đấu sức này kỹ càng hơn chiến dịch trước nhiều. Khi người ta kinh ngạc trước sự sụp đổ không ngờ của Phổ thì người ta đã đánh giá được lực lượng của kẻ địch mà người ta phải đương đầu. Và cũng không thể trông cậy và sự giúp đỡ đắc lực của ai cả, vì nước Phổ, vào cuối năm 1806, hầu như không còn là một cường quốc nữa.

Ở Peterburg, người ta quyết định đưa ra tiền tuyến một đạo quân 100.000 người cùng với tổng đội dự bị pháo binh và vài trung đoàn Cossacks để chống Napoléon. Đội cận vệ thì mấy ngày sau mới rời Peterburg.

Napoléon quyết định tiến quân trước quân Nga. Tháng 11, quân Pháp đã vào Ba Lan.

Giai cấp quý tộc Ba Lan và giai cấp tư sản chẳng đông đảo gì, phần lớn bao gồm các thương nhân và các nhà tiểu công nghệ, hoan hỉ đón tiếp quân Pháp, chào mừng Napoléon, người phục hưng nền độc lập của Ba Lan đã bị mất đi từ cuối thế kỷ thứ XVIII sau ba lần đất nước bị phân chia. Nhưng Napoléon có để ý gì đến nền độc lập của Ba Lan. Trong cuộc đấu trọng đại ấy của ông, ông chỉ cần dùng Ba Lan để làm tiền đồn hoặc làm bia đỡ đạn khi xảy ra chiến tranh với Nga và Áo ở miền Đông Châu Âu (với Napoléon, nước Phổ không cần đếm xỉa tới nữa). Nhưng muốn vậy thì trong chính sách đối ngoại, Napoléon phải hành động đúng như là người kế tục truyền thống cách mạng của nước Pháp tư sản. Song Napoléon chẳng bao giờ tự lĩnh lấy nhiệm vụ đó, và lúc đó Napoléon cũng chẳng nghĩ tới việc tiêu diệt đế quốc của bọn Nga Hoàng. Đến một lúc nào đó, nước Ba Lan sẽ là nguồn nhân lực và vật lực để bổ sung, tiếp tế cho quân đội của Napoléon. Napoléon đã đạt được mục đích đầu tiên bằng cách tranh thủ được cảm tình rộng rãi của giới tiểu quý tộc và tư sản ở các thành phố đối với nước Pháp, với tư cách là người bênh vực tự do của các dân tộc. Bằng một loạt những biện pháp trưng thu nghiêm ngặt, Napoléon đã bòn rút được những nguồn lợi khá lớn ở Ba Lan.

Sau Hòa Ước Tilsit, Napoléon phải giải quyết “vấn đề Ba Lan” bằng cách đem phân chia lại nước Ba Lan, và giao cho đồng minh mới của mình là vua xứ Saxony phần đất đai lớn nhất của Ba Lan thuộc Phổ, tên là Đại Công Quốc Warszawa. Công quốc này gồm nửa phần Bắc nước Ba Lan vùng thiểu số, trừ vùng Białystok đã giao cho Aleksandr. Nhưng trước khi ký Hòa Ước Tilsit, tình hình thắng bại vẫn chưa rõ rệt, trong lúc chờ đợi, Napoléon đã thành lập được một phái thân Pháp trong số đại thần người Ba Lan, nhưng bọn này do dự mãi mới dám quyết định vì họ sợ nước Nga có thể trả thù vào những chúa đất lớn là họ hàng thân thích của họ đang ở Litva, ở Belarus và ở Ukraine, bất cứ lúc nào cũng được. Thượng thư bộ chiến tranh của chính phủ lâm thời Ba Lan, hoàng thân Józef Poniatowski, sau này trở thành Thống Chế Pháp, cũng không tuyên bố ngay là thân Napoléon.

Chính sách đối nội của Napoléon ở Ba Lan nhằm đẩy Ba Lan tiến một bước trên chiều hướng biến chuyển thành một quốc gia tư bản. Điều 1 của bản hiếp pháp mà Napoléon đã quy định cho Đại Công Quốc Warszawa có nói: “Thủ tiêu chế độ nô lệ. Tất cả mọi người công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Thực ra, đó chỉ là lời nói suông, vì khi đã bỏ làng ra đi thì “người nông dân tự do” phải nộp lại ruộng đất cho chúa đất. Do chịu ảnh hưởng của những người công dân tự do là binh lính Pháp nên trong số nông nô người Ba Lan thuộc Phổ, đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của phong trào đấu tranh chống chúa đất. Nhưng phong trào đó bị thất bại. Việc “giải phóng” nông dân một cách hình thức ấy không làm bọn chúa đất mất mát một chút quyền lợi nào.

Quân đội Pháp được đón tiếp nồng hậu ở Ba Lan, vì họ đã nhen nhóm ở đó những niềm hy vọng: Nước Ba Lan thoát khỏi ách đô hộ của Phổ, cũng như sau này sẽ thoát khỏi ách thống trị của Áo, và viễn cảnh sẽ “đoàn tụ” lại với Litva, Belarus, Ukraine. Vùng Poznan đã đón tiếp long trọng Thống Chế Davout. Khắp vùng, ngay cả những nơi quân Pháp chưa đi đến, người ta đã cách chức những nhà cầm quyền Phổ và thay bằng những nhà cầm quyền người Ba Lan. Vai trò lãnh đạo trong buổi đầu của cuộc nổi dậy chống lại nước Phổ là do Wibiki, một trong những người đã tham gia cuộc khởi nghĩa do Kościuszko lãnh đạo, ở Pháp trở về.

Phong trào đấu tranh chống nước Phổ ngày càng phát triển rộng rãi. Lúc đầu, trong số những binh đoàn khởi nghĩa đang hình thành, nổi bật là những cuộc nổi dậy do quý tộc tổ chức, nhưng từ cuối tháng Giêng năm 1807, nhiều trung đoàn chính quy thuộc “binh đoàn” của tướng Dombrowsky từ Ý về xuất hiện trên mặt trận và tiến về Danzig. Đến tháng 2 năm 1807 đã có tới 30.000 quân chính quy do các cựu sĩ quan và hạ sĩ quan của các “binh đoàn Ba Lan” chỉ huy, các binh đoàn này do Napoléon thành lập trong chiến dịch đánh nước Ý năm 1796 - 1797.

Nhưng nhìn chung, người ta không bàn đến việc tổng động viên ở trong nước để trợ lực cho quân Pháp, và Thống Chế Lannes từ Ba Lan viết về cho Napoléon lúc này đang ở Berlin rằng không hy vọng gì nhiều ở người Ba Lan vì họ có nhiều khuynh hướng vô chính phủ và đối với họ không thể xây dựng một cái gì lâu bền được.

Cuối tháng 11, Napoléon nhận được tin có nhiều đơn vị đi trước của quân đội Nga đã vào Warszawa, Napoléon ra lệnh cho Murat và Davout tức khắc tiến quân đi Warszawa.

Ngày 28 tháng 11, Murat dẫn đầu đội kỵ binh, chiếm được thành phố mà quân Phổ đã bỏ từ chiều hôm trước để rút sang bên kia bờ sông Vistula và đã đốt cháy cầu. Rồi Napoléon cũng đến Ba Lan, lúc đầu ở Poznan, sau đến ở Warszawa. Bọn quý tộc kéo đến chào mừng, Napoléon tuyên bố là trước hết cần phải làm cho việc phục hưng nước Ba Lan trở thành danh chính ngôn thuận. Lẽ ra Napoléon đã định đưa người anh hùng dân tộc Ba Lan nổi tiếng thời bấy giờ ở Paris về nước, đó là Tadeusz Kościuszko, người cầm đầu phong trào đấu tranh chống chia cắt nước Ba Lan, dưới triều đại Catherine. Nhưng Kościuszko đã đưa ra những điều kiện nhằm bảo đảm nền tự do của Ba Lan khỏi rơi vào tay Napoléon, kẻ mà Kościuszko coi là một tên chuyên chế. Fouché, người tiến hành thương lượng đã thỉnh thị Napoléon xem nên ăn nói thế nào với nhà ái quốc Ba Lan. Hoàng Đế trả lời một cách giản đơn rằng: “Kościuszko là một thằng ngốc”. Napoléon quyết định chỉ dựa vào lực lượng của chính mình, không trông cậy vào cuộc khởi nghĩa chống lại nước Nga ở Litva và ở Belarus nữa.

Chiến tranh với nước Nga mở màn. Rời khỏi Warszawa, Napoléon tiến công quân Nga. Sau một vài trận xô xát nhỏ, ngày 26 tháng 12 năm 1806 đã xảy ra một trận ở Pułtusk, bên sông Narew. Tướng Bennigsen chỉ huy quân Nga; đối với Bennigsen, Aleksandr thấy vừa có ác cảm lại vừa lo ngại, cũng như đối với những người đã ám sát Pavel đệ nhất (thực ra họ chỉ là những tên tòng phạm của Aleksandr mà thôi), như Aleksandr đã phải cử Bennigsen vì không tìm được một viên tướng nào có tài hơn. Thống Chế Lannes chỉ huy quân Pháp.

Trận đánh kết thúc không phân thắng bại, và trong mọi trường hợp như vậy, bao giờ đôi bên cũng đều báo tin rằng mình đã thắng trận lên nhà vua. Lannes báo cáo lên Napoléon là quân Nga đã bị đuổi ra khỏi Pułtusk và bị tổn thất nặng, Bennigsen báo cáo lên Aleksandr là đã đánh bại được đích thân Napoléon, trong khi ấy Napoléon chưa hề bao giờ ở Pułtusk, không ở cả những vùng lân cận Pułtusk.

Nhưng ngay từ trận giáp chiến này, quân Pháp đã hiểu rằng không phải là họ đang đương đầu với quân Phổ bạc nhược mà là với những đơn vị Nga tinh nhuệ và dũng cảm. Napoléon đóng bản doanh trú quân ở Ba Lan và đồng thời điều viện từ Pháp sang. Quân đội Nga cũng nhận được viện binh từ các tỉnh ở trong nước gửi đến.

Napoléon điều đến Ba Lan chừng 105.000 quân, trong số đó thì gần 30.000 đóng ở các thành phố và ở giữa Thorn và Grauzden để phòng mọi cuộc tiến công bất ngờ từ Memel đến, mặc dù Frederick Wilhelm hầu như đã không còn quân đội. Bennigsen có từ 80 đến 90 nghìn quân. Hai bên đang bố trí giao chiến. Trận đó xảy ra ngày 8 tháng 2 năm 1807, ở gần Eylau (hay đúng hơn là ở Preußisch Eylau) thuộc miền Đông Phổ. Napoléon tổng chỉ huy quân đội Pháp. Trận Eylau là một trong những trận quyết chiến ác liệt nhất vào thời ấy và về mặt đó thì nó vượt tất cả mọi trận mà Napoléon đã giao chiến. Trận Eylau kết thúc cũng không phân thắng bại. Bennigsen đã mất một phần ba quân số, Napoléon cũng tổn thất nặng nề. Quân Nga đã điều ra mặt trận một lực lượng pháo binh nhiều gấp bội quân Pháp và các Thống Chế Pháp còn chưa kịp thời có đủ mặt ở trận địa. Quân đoàn của Thống Chế Augereau bị pháo binh Nga tiêu diệt gần hết. Chính bản thân Napoléon cùng với bộ binh ở giữa nghĩa địa Eylau, lúc đó là trung tâm của chiến trường, cũng suýt chết vì đạn đại bác rơi như mưa xung quanh. Cành cây bị tiện đứt và đạn bay vù vù trên đầu Napoléon. Napoléon luôn luôn quan niệm rằng một người chỉ huy trưởng không được liều mạng hy sinh nếu không thực sự cần thiết, nhưng bây giờ đây, ở Eylau, ông lại thấy phải hy sinh như ở Lodi và ở cầu Arcole dạo nọ. Chỉ khác là ở Lodi hoặc Arcole, Napoléon phải xông trước lên cầu để lôi kéo đám cận vệ do dự, còn ở Eylau thì ông lại phải động viên bộ binh kiên trì giữ vững trận địa, không được rối loạn hàng ngũ dưới hoả lực của quân Nga.

Napoléon và cận thần đều thấy rằng chỉ sự có mặt của Hoàng Đế mới có thể giữ vững tinh thần bộ binh trong tình thế khủng khiếp này. Hoàng Đế đứng nguyên ở vị trí chỉ huy, tiếp tục hạ lệnh cho một vài sĩ quan tùy tùng, vừa thoát được nơi tử địa đến chỗ Napoléon đang cùng trú với mấy đại đội bộ binh. Dưới chân Napoléon, xác binh lính và sĩ quan ngổn ngang. Các đại đội tác chiến bị hoả lực quân Nga tiêu hao dần, lính cận vệ và lính mặc áo giáp dần dần đều phải ra thay thế họ. Vừa bình tĩnh ra lệnh, Napoléon vừa đợi thời cơ, và thời cơ đã đến khi toàn bộ kỵ binh Pháp đột kích thắng lợi vào chủ lực quân Nga và cuối cùng đã cứu vãn được tình thế. Rốt cuộc nghĩa địa Eylau vẫn ở trong tay quân Pháp và trung tâm của trận đánh di động thành nhiều điểm trên chiến trường rộng mênh mông.

Khi bóng tối bắt đầu phủ kín chiến trường thì quân Pháp tự coi là kẻ thắng trận, vì Bennigsen đã rút lui. Trong thông báo, Napoléon nói đến thắng lợi, nhưng không phải chỉ có riêng mình Napoléon mới hiểu là quân Pháp không thu được thắng lợi thực sự trong ngày huyết chiến ác liệt đó, vì quân Pháp đã hy sinh rất nhiều. Napoléon cũng hiểu tổn thất của quân Nga còn lớn hơn thế nữa (xong cũng không đến nỗi bị tổn thất mất nửa quân số như quân Pháp đã xác định). Napoléon biết là Bennigsen còn giữ được những lực lượng đáng sợ, có tinh thần chiến đấu cao và không những không thừa nhận bị thất bại, Bennigsen còn loan báo rầm rộ thắng lợi của mình đi khắp nơi.

Suốt trong bốn tháng, quân Pháp không thu được một kết quả nào đối với quân Nga, và Caulaincourt, công tước xứ Vicenza, hơi nản chí, viết rằng có trời biết được bao giờ thì họ sẽ thắng lợi. Trên thị trường chứng khoán Paris, sau trận Eylau, tiền tệ sụt giá đùng đùng. Ở xa nước Pháp, đứng trước quân Nga đã giáng cho quân Pháp một đòn ác liệt không kém gì đòn quân Pháp đánh vào họ, Napoléon phải chuẩn bị một trận quyết định. Bởi vì chỉ một trận thất bại hay chỉ một trận Eylau mới nữa thôi là sẽ đủ để mở đầu cho toàn thể Châu Âu nổi dậy chống lại kẻ xâm lược.

5

Mùa đông buốt lạnh và mù sương, Napoléon phải đóng quân trên đất nước Ba Lan hoang tàn và miền Đông Phổ. Sau trận Eylau các bệnh viện đầy ứ những thương binh nặng.

Trên bãi chiến trường, hàng nghìn xác chết bỏ lại không chôn cất, thối rữa và mùi xú uế xông lên nồng nặc hàng km xung quanh, làm không ai dám đến gần.

Napoléon quyết định đợi sang xuân sẽ lại mở chiến dịch. Với tinh thần không mệt mỏi, Napoléon vừa thân hành đi kiểm tra những vị trí xa xôi nhất, trên một địa bàn rộng lớn, vừa đi thăm các bệnh viện, săn sóc các chuyến xe tiếp tế, vừa bổ sung quân số bằng tân binh đưa ở Pháp sang. Hoàng Đế rất chú ý đến tình hình là quân Nga hầu như ở ngay trên đất nước họ, cách biên thùy đất nước họ có mấy bước chân, còn Napoléon thì cách xa nước Pháp bằng cả một vùng đất đai rộng lớn gồm những nước Châu Âu bại trận và hầu như đã bị khuất phục nhưng căm ghét Napoléon. Những vật phẩm cần thiết đều phải tiếp tế từ xa lại. Nhân dân bị quân đội cướp bóc sạch trơn, họ đói khát đi lang thang cùng vợ con xung quanh các trại lính Pháp để xin ăn.

Napoléon không muốn mình sống đầy đủ qua tiết mùa đông này trong các thành phố bị chiếm đóng, ở Poznan, ở Breslau, hay ở trong lâu đài Warszawa lộng lẫy. Napoléon muốn duy trì tinh thần của binh sĩ trong chiến dịch đầy gian khổ này bằng hành động gương mẫu của mình. Từ bản doanh trú quân, Napoléon viết thư cho anh là Joseph, người mà Napoléon đã phong cho làm vua ở Naples, nói rằng có khi 15 ngày ông không tháo ủng. Napoléon nói thêm: Quân đội Pháp sống trong tuyết đọng và bùn lầy, không rượu vang, không rượu mạnh, không bánh, ăn toàn khoai và thịt, lúc tiến lúc lùi, đời sống căng thẳng, thiếu thốn, lúc nào cũng phải đánh nhau với quân địch. Thương binh được chở trên xe trượt tuyết không mui đưa đến một địa điểm các đấy 50 dặm. Họ đã tiến hành chiến tranh với tất cả sức lực của họ và trong tất cả sự khủng khiếp của chiến tranh.

Mấy tháng buộc phải ngừng chiến đối với Napoléon là cả một giai đoạn làm việc tích cực phi thường. Cứ ba, bốn ngày lại có công văn giấy tờ từ Paris, Amsterdam, Milan, Naples, Berlin gửi tới cùng với báo cáo của các Bộ Trưởng, các Thống Chế và các phó vương, thư tín của các đại sứ. Là một ông vua độc tài cai trị nhiều quốc gia lớn, bao giờ Napoléon cũng giành cho mình quyền tối hậu quyết định tất cả các vấn đề quan trọng. Lúc thì trú trong một kho thóc, như khi ở Osterode, lúc ở trong một túp lều của nông dân, Napoléon xem công văn giấy tờ gửi tới, hạ mệnh lệnh và ra quyết định. Trong cùng một ngày, Napoléon thảo đạo luật tăng cường việc kiểm tra thuế quan; sửa đổi và ký các văn bản điều lệ của một trường học cho con gái các sĩ quan; khiển trách em mình là vua nước Hà Lan hoặc yêu cầu vua xứ Bavaria phải tăng cường việc giám thị vùng Tyrol, Napoléon ra lệnh cho dòng họ Bourbon Tây Ban Nha tăng cường quân số canh phòng bờ biển, ông chú ý đến văn học, đùng đùng giận dữ về những quan điểm văn học của tuần báo Mercury[33] nước Pháp mà ông cho là ngu xuẩn, chỉ thị cho Bộ Trưởng Công An Fouché phải lập tức sửa lại tất cả những ý kiến của tờ báo đó và thậm chí ra lệnh tìm một người chủ bút khác “biết lẽ phải hơn” cho tờ báo đó. Napoléon hỏi cả tình hình kỹ nghệ tơ lụa Lyon và còn muốn biết tại sao người ta lại để các nữ diễn viên sân khấu Pháp người nọ thủ đoạn với người kia, ảnh hưởng đến nghệ thuật của họ; Napoléon ra lệnh trục xuất bà Stael khỏi Paris vì những tư tưởng tự do của bà ta; soát lại các sổ sách và báo cáo của Bộ Tài Chính và đã phát hiện ra được nhiều sự nhầm lẫn, không chính xác. Ông cách chức và bổ nhiệm các công chức ở bên Ý, ra lệnh theo dõi chu đáo tình hình ở Áo và những công việc chuẩn bị về mặt quân sự của nước Áo; ra lệnh kiểm tra các thành phố và làng mạc ở Phổ.

Những loại công việc ấy rất nhiều và rất khác nhau, nhưng Napoléon bao giờ cũng đề ra được những giải pháp rõ ràng, chính xác và không chậm trễ; không hài lòng giải quyết các công việc mà các Bộ Trưởng, các tướng lĩnh và các đại sứ đã đệ lên, chính bản thân Napoléon đề ra những vấn đề mới và yêu cầu mọi người phải báo cáo gấp. Các đội giao thông liên lạc phi ngựa chí tử đi về các phía đã định và các mệnh lệnh cần được thi hành. Napoléon chỉ đạo tất cả những côngviệc đó cùng một lúc với những công việc chính có liên quan đến việc chuẩn bị về mặt ngoại giao và quân sự của chiến dịch mùa xuân sắp tới.

Napoléon thành công rực rỡ trong việc đạt tới mục tiêu mà ông ta đã trù tính từ cuối năm 1806, lôi kéo được vua Thổ đẩy mạnh hơn nữa cuộc chiến tranh chống lại nước Nga mà Napoléon đã tuyên chiến. Tháng 3 năm 1807, Napoléon viết một bức thư, lời lẽ rất khôn khéo, gửi cho vua Thổ khiến vua Thổ hành động kiên quyết hơn, như trước đây Napoléon đã nhen lại mâu thuẫn giữa Selim với nước Anh. Do đó một bộ phận quân Nga phải rút khỏi sông Vistula và Niemen, nơi quyết định số phận của chiến dịch. Napoléon cũng đã tiến hành đàm phán mấy ngày với triều đình nước Phổ đang tị nạn ở Königsberg. Điều kiện của Napoléon đưa ra đối với Frederick Wilhelm đệ tam xem ra quá nặng, Wilhelm đã bỏ dở cuộc điều đình. Ngày 26 tháng 4, Phổ hội kiến riêng với Nga Hoàng ở Bartenstein và sau đó trở thành hoàn toàn bất trị: Chính Wilhelm đệ tam đã đề ra những điều kiện mà Napoléon dù có bị đại bại chăng nữa cũng không bao giờ chấp nhận được.

Napoléon cho rằng trong chiến tranh không có việc gì nhỏ mọn cả; ông cân nhắc hết thảy, dự kiến hết thảy vì biết rẳng kết quả của một trận đánh lúc đang ở vào phút quyết định đôi khi lại phụ thuộc vào những nguyên nhân không thể xác định được. Người, pháo, đạn dược ùn ùn tăng viện về các đồn trại và tự thân Hoàng Đế phân phối các thứ đó cho các quân đoàn. Ông đã ban bố đúng lúc rất nhiều mệnh lệnh và đã ký một loạt các hiệp ước để bổ sung vào quân đội hiện thời của ông thêm nhiều chi đội lính Đức, Ý, Hà Lan.

Châu Âu khiếp đảm đến mức độ mà Napoléon muốn làm gì thì làm, ngay cả đối với cường quốc chưa bao giờ tham chiến với Napoléon hay với một nước nào khác. Cho nên muốn tăng cường quân đội để sau đây giao chiến với quân Nga, Napoléon tính ra rằng có thể yêu sách Tây Ban Nha chừng 15.000 quân, mặc dù không có quyền hoặc một lý do nào cả, và Tây Ban Nha cũng không ở trong tình trạng chiến tranh với Phổ hay Nga. Một bức công hàm khẩn cấp được gửi đến Madrid, trong đó Napoléon lưu ý Thủ Tướng Tây Ban Nha Godoy về việc 15.000 quân đó rằng, bản thân họ thì “hoàn toàn vô dụng”, nhưng trái lại, đối với Napoléon có rất nhiều tác dụng. Thế mà cái lý lẽ tưởng chừng không thể có được ấy - vì chẳng có lý lẽ nào khác - lại đã tỏ ra có sức thuyết phục chính phủ Tây Ban Nha đến nỗi 15.000 quân được đưa ngay đến cho Napoléon, một phần sang Đông Phổ, một phần sang miền Bắc nước Đức. Tháng 5 năm 1807, Napoléon có dưới quyền tám Thống Chế và ngần ấy quân đoàn, với tổng số quân là 228.000 người, không kể độ 170.000 binh lính chiếm đóng nước Phổ và chưa bị gọi đi tham gia chiến dịch sắp mở vào mùa xuân.

Trong mùa xuân ấy, tình hình tiếp tế được cải thiện. Ngày 26 tháng 5, Danzig đầu hàng Thống Chế Lefebvre sau một thời gian cầm cự tương đối dài và người ta thu được ở đó nhiều kho lương thực lớn và quân dụng đủ các loại.

Giai đoạn kết thúc đến gần. Quân đội Nga, sau trận Eylau cũng được tăng cường thêm về quân số, nhưng trang bị lại kém nhiều so với đại quân của Napoléon. Trong quân đội Pháp, tất nhiên cũng có nạn tham ô lũng đoạn: Napoléon đã uổng công trong việc diệt bọn ăn cắp và bọn hối lộ, bọn đầu cơ và bọn môi giới, bọn tài chính bất lương và bọn lũng đoạn. Trong cuộc chiến tranh này, Napoléon đã bị thất bại, và ngay ở Pháp người ta cũng nói rằng tất cả bọn ăn cắp ấy đều chỉ cười khi bọn chúng nghe thấy người ta tán tụng Hoàng Đế là “vô địch”. Người ta còn nói rằng quân Pháp sống cực kỳ gian khổ, vất vưởng suốt cả mùa đông năm 1807 trong một vùng hoang tàn, tuy vậy, quân Nga lại còn sống cực khổ hơn nhiều. Binh lính Nga đói và rét, chết như ruồi.

Aleksandr đệ nhất sợ một trận Austerlitz thứ hai. Từ lâu, trong giới cầm quyền và triều đình, người ta cho rằng cần thiết phải dốc toàn bộ lực lượng tinh thần và vật chất của nhân dân Nga để chuẩn bị cuộc chiến đấu lớn, ý định đó đã mang lại những kết quả rất kỳ lạ. Người ta phổ biến mục đích ấy cho Hội Đồng Tôn Giáo, rồi hội đồng này, hoặc do người ta gợi ý hoặc do ý kiến riêng của hội đồng đã quyết định mở một cuộc vận động lạ lùng, làm kinh ngạc bao nhiêu người hồi đó. Trong bản sắc dụ gửi cho toàn thể giáo dân chính thống do những người chăn dắt linh hồn chuyển đến, Napoléon được miêu tả như là tiền thân của Quỷ Vương phản Chúa, như kẻ thù từ hàng triệu năm nay của đức tin, như người sáng lập ra pháp đình Do Thái, ngoài ra, người ta còn nói Napoléon là người bỏ Đạo Thiên Chúa để theo Đạo Hồi (ám chỉ các chiến dịch ở Ai Cập và ở Syria), Napoléon gây chiến với Nga nhằm mục đích chính là tiêu diệt nhà thờ chính thống. Đó là tóm tắt bản tài liệu lạ lùng đã được đọc trên tòa giảng của tất cả các nhà thờ của nước Nga. Nhưng việc chuẩn bị tư tưởng cho cuộc đấu tranh chống lại các binh đoàn của Quỷ Vương phản Chúa còn chưa phát triển đến mức mong muốn thì giờ quyết định đã điểm.

Đầu tháng 5, theo lệnh của Napoléon, tất cả các đơn vị đóng ở thành phố và làng mạc được điều động đến doanh trại và ngay sau đó, quân đội đã sẵn sàng chiến đấu. Bennigsen, không biết việc ấy, đã quyết định tiến công vào những ngày đầu tháng 6. Aleksandr đệ nhất tới bản doanh, thúc giục tướng Bennigsen ráo riết và càng tin tưởng vào những lời quyết đoán huênh hoang của chính viên tướng này: Tô vẽ thêm những câu chuyện về trận Eylau, Bennigsen đi đến chỗ cho Nga Hoàng tin rằng Napoléon đã bị giáng một đòn khủng khiếp ngày 8 tháng 2, và bây giờ đây, mùa đông đã qua, đường sá đã đi lại được thì đã đến lúc phải hành động ngay.

Quân Nga bước vào chiến dịch ngày 5 tháng 6; tuân theo mệnh lệnh của Bennigsen, Bagration tiến công vào quân đoàn của Ney được phái đi làm nhiệm vụ trắc vệ, còn thủ lĩnh Cossacks là Platov thì vượt qua sông Alle. Ney vừa rút lui vừa chiến đấu chống lại đối phương đông gấp bội (chừng 30.000 người), họ vừa tiến công vừa uy hiếp Ney. Đồng thời, quân Nga tiến công vào nhiều điểm khác.

Napoléon định mở màn chiến dịch vào ngày 10 tháng 6. Hành động bất ngờ của quân Nga đã buộc Napoléon phải thay đổi ngay kế hoạch. Chạy vội ngay ra chiến trường, Napoléon ngạc nhiên thấy quân Nga, vì lẽ gì không biết đã ngừng binh lại, không truy kích quân đoàn của Ney nữa, và sau khi dừng lại tại chỗ gần 24 giờ, lại quay trở lại một cách bất ngờ. Nhanh chóng tập trung thành một khối xung kích gồm sáu quân đoàn cộng thêm đội quân cận vệ, cả thảy hơn 125.000 người, Napoléon ra lệnh cho các Thống Chế phản kích.

Lúc đó, theo một vài con số ước lượng, Bennigsen có chừng 85.000 quân và theo tài liệu khác thì có chừng 100.000 quân chiến đấu. Đến vùng ngoại ô Haileclerc, Bennigsen dừng lại chiếm lĩnh các cứ điểm kiên cố, và trận chiến đấu diễn ra ngày 10 tháng 6 kéo dài vài tiếng đồng hồ. Trong thời gian ấy, đội tiền vệ quân Pháp bị thiệt mất chừng 8.000 người vừa chết vừa bị thương, và quân Nga mất gần 10.000 người. Bennigsen bị thương. Napoléon cho hai quân đoàn tiến quân trên đường đi Königsberg và do đó, Bennigsen phải rút lui về Bartenstein ở phía Đông Bắc. Chủ tâm của Bennigsen là dùng trận Henberg để làm chậm bước tiến của Napoléon, nhưng Napoléon lại đã cho chủ lực của ông tiến thẳng đến Königsberg, qua Eylau. Napoléon đã dự kiến là đối phương có ý cứu thủ đô Đông Phổ. Và, hồi ba giờ sáng ngày 14 tháng 6, Thống Chế Lannes nhận thấy quân Nga đã tiến vào thành phố nhỏ Friedland từ hôm trước, đang chuẩn bị vượt sang hữu ngạn sông Alle để về Königsberg. Lập tức Lannes hạ lệnh nổ súng.

Thế là trận đánh lớn diễn ra vào ngày 14 tháng 6 năm 1807, và cũng là trận chấm dứt chiến tranh. Lannes phái các sĩ quan tuỳ tùng đến báo cáo với Napoléon và lập tức Napoléon chỉ thị cho tất cả các lực lượng phải cấp tốc hành quân và bản thân Napoléon cũng lập tức đến nơi diễn ra chiến sự. Napoléon đã nhận ra sự nhầm lẫn tai hại của Bennigsen, trong lúc vội vã vượt sông, đã để quân đội ùn lại thành một khối lớn ở khuỷu sông Alle. Thống Chế Ney nhận nhiệm vụ nguy hiểm là tiến công thẳng vào chủ lực của quân địch. Quân Nga, đặc biệt là đội kỵ binh cận vệ do Kologrivov chỉ huy, đã chống lại rất ngoan cường, và một bộ phận quân đoàn của Ney trong lúc tiến công vì đội hình quá dày đặc, đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Quân Pháp, sau khi chiến đấu vô cùng gay go mới chiếm được Friedland, đã phá cầu trên sông Alle. Napoléon đích thân chỉ huy trận đánh. Khi một đại bác bay qua đầu, Hoàng Đế trông thấy một chiến sĩ đứng gần mình hoảng sợ rụt đầu lại thì Hoàng Đế bảo người lính: “Nếu viên đạn có dành trước cho anh thì dù anh có nấp dưới 30 thước nó cũng đi tìm anh”. Sai lầm căn bản của Bennigsen đã đưa quân đến chỗ thất bại hoàn toàn, mặc dầu họ chiến đấu rất dũng cảm: Quân Nga phải nhảy xuống sông để tránh pháo binh của Pháp sát thương. Một bộ phận chạy trốn dọc theo bờ sông, một bộ phận khác hàng, nhưng số bị bắt thì ít hơn số bị chết đuối rất nhiều. Hầu hết số pháo của quân Nga rơi vào tay Napoléon. Sau khi bị tổn thất nặng nề (hơn 25.000 chết, bị thương và bị bắt), Bennigsen đã vội vã lui về hướng Preghéna và bị quân Pháp bám sát. Chỉ còn cách chuồn mới có thể tránh bị tiêu diệt hoàn toàn. Ngay sau trên Friedland, Thống Chế Soult vào thành Königsberg và vơ vét được rất nhiều quân cụ, lương thực, quần áo mà quân Anh thì không dự kiến được tai biến sắp xảy ra, vừa mới đưa từ đường biển vào. Năm ngày sau trận Friedland, quân lính của Napoléon đã tiến tới sông Niemen vào ngày 19 tháng 6. Tàn quân Nga vượt sông. Napoléon tiến đến Tilsit, biên giới đế quốc Nga.

6

Buổi chiều, ở vị trí tiền tiêu của một sư đoàn kỵ binh Pháp đóng trên bờ sông Niemen, một sĩ quan quân đoàn Bagration cầm cờ trắng xuất hiện, viên sĩ quan này mang một bức thư của tổng chỉ huy quân Nga và yêu cầu chuyển đến Thống Chế Murat. Bennigsen xin đình chiến. Murat lập tức chuyển bức thư lên Hoàng Đế. Napoléon ưng thuận. Cuộc chiến tranh đẫm máu ấy kết thúc.

Cho đến tận phút cuối cùng, Aleksandr cũng chưa nhìn thấy sự thất bại. Ngày 12 tháng 6, khi những tin tức của trận Henberg bay về Tilsit báo tin trận đánh đã kết thúc với những tổn thất nặng nề và quân Nga đã phải rút lui thì Constantine, em Hoàng Đế Aleksandr, đã dùng những lời lẽ rất mạnh thúc giục Nga Hoàng nên điều đình ngay với Napoléon. Constantine thưa rằng: “Tâu Hoàng Thượng, nếu Hoàng Thượng không muốn giảng hòa với nước Pháp thì Hoàng Thượng hãy phát cho mỗi binh sĩ một khẩu súng ngắn nạp sẵn đạn và ra lệnh cho họ tự bắn vào đầu họ, Hoàng Thượng cũng sẽ thu được kết quả giống như việc Hoàng Thượng muốn đánh một trận cuối cùng khác, trận đó tất nhiên sẽ mở cửa cho quân đội Pháp tràn vào đất đai của Hoàng Thượng”. Aleksandr không muốn nghe gì hết. Ông ta rời Tilsit, đến gặp các lực lượng dự bị của quân Nga vào chiều ngày 14 tháng 6 tức là đúng vào lúc quân Nga bị chết chìm trong sóng nước sông Alle ở Friedland, và sáng ngày 15, những tin tức đầu tiên về cuộc thất bại bắt đầu về tới Tilsit: Người ta được biết rằng một phần ba đội cận vệ của quân Nga đã bị tiêu diệt ở Friedland sau một trận chiến đấu anh dũng, Bennigsen đã mất trí và không biết làm thế nào cả. Tiếp theo những tin đồn đại là tin chính xác hơn: Ở Friedland, quân đội Nga đã bị thất bại khủng khiếp, không kém gì ở Austerlitz năm 1805, Napoléon và đại quân có thể tràn ngay vào nước Nga. Bộ tổng chỉ huy quân Nga hoảng loạn.

 

Denis Davydov, người chiến sĩ du kích nổi tiếng năm 1812, viết về tình trạng quân đội Nga sau trận Friedland như sau: “Ngày 18 tháng 6, tôi đến đại bản doanh thấy nhốn nháo một lũ người tạp nham: Anh, Thụy Điển, Phổ, Bảo Hoàng Pháp, các viên chức hành chính và quân sự Nga, tư sản, những nhân vật không biết gì về công tác quân sự cũng như tất cả các công việc khác, bọn ăn bám, bọn âm mưu, nói tóm lại đó là nơi họp chợ của bọn đầu cơ chính trị và quân sự, chúng giãy giụa trước sự đổ vỡ của bao nhiêu hy vọng bao nhiêu chương trình và bao nhiêu mưu mô của chúng. Tất cả bọn chúng đều nơm nớp lo sợ, dường như chỉ trong nửa giờ nữa là đến ngày tận số của loài người”. Bennigsen đề nghị Aleksandr cho phép một hiệp ước đình chiến. Lần này, Aleksandr đành cam chịu.

Napoléon chấp nhận những đề nghị đó ngay khi vừa tiếp được. Ông ta cũng không còn lý do gì để tiếp tục chiến tranh với Nga, vì muốn tiến hành một cuộc chiến tranh như vậy thì phải mưu tính một cuộc chuẩn bị hoàn toàn khác. Nước Phổ đã bị quy phục và nước Nga có thể chấp thuận thực hiện phong tỏa lục địa và như vậy là Nga sẽ đi theo đường lối chính trị của Napoléon. Lúc này, Napoléon chỉ cần ở Aleksandr có thế mà thôi.

Ngày 22 tháng 6, Aleksandr cử tướng bá tước Lobanov Rostovsky đến gặp Napoléon ở Tilsit, nơi Hoàng Đế Pháp đóng bản doanh sau khi rời Friedland. Napoléon mở cuộc hội đàm với Lobanov; vừa tiến sát đến cái bàn trên trải một tấm bản đồ, và vừa chỉ sông Vistula, Napoléon nói rằng: “Đây là biên giới của hai đế quốc, bên này là Hoàng Đế của ông trị vì, bên kia là tôi”. Nói như vậy là Napoléon đã để lộ ra ý định thủ tiêu nước Phổ và chia cắt nước Ba Lan.

Lúc này, Aleksandr đang ở Shali. Trong những ngày khủng khiếp chờ đợi Lobanov ký hiệp ước đình chiến trở về, Aleksandr đã sống lại những ngày qua sau trận Austerlitz, và còn khốn khổ hơn thế nữa. Vì chỉ trong một tuần rưỡi là Napoléon có thể tới Vinno.

“Chúng ta bị tổn thất ghê gớm về sĩ quan và binh lính: Tất cả các tướng lĩnh của chúng ta, và trước hết là những vị tướng giỏi đều đã bị thương hoặc đau ốm - Aleksandr thú nhận như vậy - tất nhiên, rồi đây nước Phổ sẽ lâm vào cảnh gay go, nhưng có những lúc trước hết ta cần phải suy nghĩ đến việc bảo tồn mình và chỉ nên tuân theo một nguyên tắc duy nhất là: Quyền lợi của quốc gia”. Sự quan tâm “bảo tồn mình”, như Aleksandr đã bày tỏ trong câu chuyện với hoàng thân Kuryakin ở Shali, đã buộc Aleksandr phải thay đổi về căn bản đường lối trong 24 tiếng đồng hồ; sau khi nhận được tin về Friedland phải quyết định đình chiến và nếu cần, còn phải liên kết với Napoléon chuyển hướng bất ngờ ấy của nước Nga mà nước Phổ có vĩnh viễn mất đi hay chỉ còn lại một mảnh thì đó chỉ là vấn đề phụ. Các triều thần tập hợp quanh Nga Hoàng ở Shali, run như cầy sấy, chỉ sợ đội tiền vệ của Napoléon tập kích tới.

Khi được tin Napoléon ưng thuận đình chiến và ký hòa ước, Aleksandr và quần thần lại hoan kỉ cuống cuồng. Aleksandr đệ nhất lập tức ra lệnh báo cho Napoléon hay tin rằng Nga Hoàng khao khát mong muốn có sự liên minh chặt chẽ với Napoléon, và chỉ có sự liên mình Pháp - Nga mới có thể đem lại hạnh phúc và hòa bình cho thế giới. Sau khi phê chuẩn hiệp định đình chiến, Aleksandr ngỏ ý muốn hội kiến riêng với Napoléon.

Aleksandr không thể nào trì hoãn việc giải thích cho Frederick Wilhelm đệ tam, người mà cho đến phút cuối cùng vẫn còn tin vào tình hữu nghị của Aleksandr. Nga Hoàng đã giải thích cặn kẽ và vua Phổ đã xin đình chiến với Napoléon. Vua Phổ định cử thượng thư Hardenberg, người giàu lòng yêu nước, đến đại bản doanh của Napoléon ở Tilsit. Nhưng Napoléon nổi khùng ghê gớm khi người ta đọc đến tên Hardenberg ông ta giậm chân và hét lên đến nỗi người ta không dám nói đến Hardenberg nữa. Người ta báo cho vua Phổ hiểu rõ là nhà vua sẽ bị đối xử một cách không khoan nhượng.

Ngày 25 tháng 6 năm 1807, lần đầu tiên hai vị Hoàng Đế gặp gỡ nhau. Để Aleksandr không phải qua bên bờ sông phía quân Pháp, bởi lẽ quân Pháp đã chiếm được sông Niemen, cũng như Napoléon không phải qua bên bờ phía quân Nga, người ta đã cắm ngay ở giữa lòng sông một cái bè trên dựng hai cái lều lộng lẫy. Tất cả đội cận vệ của Napoléon xếp hàng dọc ở bờ sông bên này, và trên bờ sông bên kia là đội cận vệ của Aleksandr với số lượng ít hơn.

Denis Davydov được chứng kiến sự kiện lịch sử ấy và bài tường thuật của ông đã làm sống lại trong đầu óc chúng ta cái cảm tưởng của những người đã tham dự cuộc hội kiến ở Tilsit và chẳng có sử gia nào có thể viết hơn được. “Chúng ta sắp được mắt thấy vị tướng vĩ đại, nhà chính trị vĩ đại, nhà làm luật, nhà cai trị và người đi chinh phục, người mà sau khi đã đè bẹp những quân đội của toàn Châu Âu và hai lần đè bẹp quân đội Nga. Chúng ta sắp được thấy con người có tài khuất phục tuyệt đối được tất cả những ai mà người ấy cần gặp, và có trí thông minh kỳ lạ...” “... Tới bờ sông, chúng ta thấy Napoléon cưỡi ngựa, tay cương thả lỏng, đi giữa hai hàng rào cận vệ binh của ông ta. Tiếng hoan hô, tiếng reo như sấm quanh ông ta và inh ỏi vang sang bờ bên kia: Quân hộ tống và tùy tùng Napoléon ít nhất cũng tới 400 kỵ binh... Trong giờ phút này, cảnh tượng vĩ đại đã trùm lên mọi tình cảm khác... Mọi con mắt đều quay nhìn và đổ dồn sang bờ bên kia, sang chiếc thuyền chở con người phi thường đó, người tướng mà chưa bao giờ người ta được trông thấy hoặc được nghe nói kể từ thời Alexander đại đế và Julius Caesar đến nay, con người đã trội hơn Alexander đại đế và Julius Caesar biết bao nhiêu về thiên tài nhiều mặt và về vinh quang do tự mình tạo nên bằng cách khuất phục nhiều dân tộc có trình độ văn minh và văn hóa cao nhất”.

Vì lý do kiểm duyệt nên Denis Davydov không thể nhắc lại trong hồi ký những cảm giác không phải chỉ của riêng ông mà là của đa số sĩ quan Nga về Aleksandr trong ngày hôm đó; theo lời Davydov thì Aleksandr “che giấu nỗi xúc động bằng một sự bình tĩnh giả tạo”. Tuy nhiên, chúng ta sẽ hiểu thêm về Aleksandr qua những bằng cớ sau đây.

Trong giới quân sự Nga, người ta luôn luôn coi Hòa Ước Tilsit là sự kiện còn nhục nhã hơn cả những trận thất bại ở Austerlitz hoặc ở Friedland. Và về điểm này, quan niệm của tầng lớp quý tộc tự do trẻ tuổi của thế hệ sau này đều thống nhất với quan niệm của những người đã trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh đó.

Trong một bài thơ của Pushkin (1824), Aleksandr gặp lại Napoléon trong giấc mộng:

“Napoléon xuất hiện

Hệt như khi quét những đạo quân Phương Bắc

Trên chiến trường Austerlitz xa xôi

Lúc người Nga học chạy để giữ lấy sống còn.

Và Napoléon còn xuất hiện

Hệt như kho ở vùng Tilsit

Với bàn tay của người chiến thắng

Napoléon hiến dâng

Hòa bình và hổ nhục

Cho vị Nga Hoàng trẻ tuổi”

Chỉ sau Cách Mạng, người ta mới dám in nguyên văn những câu thơ đó, cho trong hầu hết những lần xuất bản trước người ta đã in ra những câu thơ đã sửa lại cho nhẹ đi (“Hòa bình hay hổ nhục”) và làm sai lạc cả tư tưởng Pushkin.

Dù sao chăng nữa, khát vọng của Aleksandr đã được thực hiện không khó khăn, khổ sở như ông ta đã tưởng. Ngay khi hai vị Hoàng Đế cùng bước xuống mảng, Napoléon ôm choàng lấy Aleksandr và cả hai đều bước vào nhà lều rồi bắt đầu hội đàm ngay với nhau trong gần hai tiếng đồng hồ. Cả hai vị Hoàng Đế không ai kể lại tỉ mỉ cuộc gặp gỡ, nhưng bọn tùy tùng đứng ngoài đã tiết lộ ra một vài câu chuyện và đương nhiên là nội dung chính của cuộc hội đàm này được ghi lại trong bản hòa ước sẽ ký trong mấy ngày sắp tới.

Napoléon hỏi: “Tại sao hai nước chúng ta đánh nhau?" Aleksandr nói: “Thưa ngài, tôi căm ghét người Anh cũng như ngài... Tôi sẽ là trợ thủ của ngài chống lại nước Anh”. “Nếu như vậy thì hòa ước đã ký rồi”, Napoléon đáp.

Suốt trong thời gian hai vị Hoàng Đế hội đàm với nhau trên mảng, vua Phổ trú ở bên bờ sông Niemen phía quân Nga, luôn luôn hy vọng người ta sẽ mời cả mình đến nữa. Mãi đến ngày hôm sau, Napoléon mới để cho vua Phổ vào với cương vị là người thứ ba và đối xử với vua Phổ một cách khinh miệt nhất. Lúc chia tay, Hoàng Đế Pháp mời Hoàng Đế Nga ăn trưa, không mời vua Phổ và bỏ đi sau khi chỉ hơi khẽ gật đầu chào vua Phổ. Ngày 26 tháng 6, theo lời yêu cầu của Napoléon, Aleksandr qua sông sang Tilsit, và từ đó hai người gặp nhau hàng ngày. Lúc đầu, Napoléon không cho một vị Bộ Trưởng nào của mình có mặt trong cuộc hội đàm. Napoléon nói với Aleksandr: “Tôi sẽ là thư ký của ngài và ngài sẽ là thư ký của tôi”. Ngay từ lời phát biểu đầu tiên của Napoléon người ta đã nhìn thấy tình cảnh nước Phổ thật đáng tuyệt vọng biết bao nhiêu. Napoléon đề nghị rất giản đơn việc phân chia như sau: Aleksandr sẽ lấy tất cả phần phía Đông sông Vistula, còn Napoléon lấy tất cả phần phía Tây, Napoléon không thèm nói chuyện cả với vua Frederick Wilhelm và trong những trường hợp hãn hữu mà ông ta cho phép Frederick Wilhelm đến gần, ông ta nói chuyện công việc thì ít nhưng chửi mắng sỉ nhục thì nhiều. “Một ông vua nhơ nhuốc, một quốc gia nhơ nhuốc, một quân đội nhơ nhuốc, một cường quốc lừa dối người và không đáng tồn tại”, đó là lời phát biểu của Napoléon với Aleksandr về bạn của Aleksandr, về con người mà Nga Hoàng có lúc thề thốt kết nghĩa đồng minh và tình hữu hảo đời đời trước di hài của Frederick Wilhelm đệ nhị. Aleksandr chỉ vừa trả lời bằng nụ cười mơn trớn và xã giao vừa yêu cầu Hoàng Đế Pháp rằng, ngoài tất cả những điều mà người Pháp có thể trách Phổ thì cũng nên để lại một cái gì đấy cho nước Phổ.

Vua Phổ khiếp sợ, sẵn sàng làm tất cả mọi việc, thậm chí còn lợi dụng cả đến sắc đẹp của vợ mình: Ông ta cho triệu gấp Hoàng Hậu Louise, vốn đẹp có tiếng, đến Tilsit. Chính Louise là người mà ngay từ thời kỳ đầu cuộc chiến tranh với nước Phổ đã bị Napoléon coi như kẻ thù và đã ra lệnh công kích một cách thô bỉ trên báo chí. Tuy nhiên, trong triều đình Phổ, người ta nuôi hy vọng rằng cuộc hội kiến thân mật với người đàn bà có sắc đẹp quyến rũ đó sẽ có thể làm dịu được trận lôi đình của kẻ chiến thắng tàn nhẫn, và người ta vội vã thì thầm kế hoạch với Hoàng Hậu, nhưng dù sao họ cũng không quá trông cậy vào đó, bởi người ta đã biết Napoléon ít bị đàn bà làm lung lạc, ngay cả đối với những người mà Napoléon say mê. Cuộc hội đàm được bố trí ở lâu đài Tilsit. Hoàng Hậu có nhiệm vụ phải cố gắng thu hồi lại ít nhất là vùng Magdeburg và một vài mẩu đất đai khác cho nước Phổ.

Sau cuộc cưỡi ngựa đi dạo, Napoléon quay trở về lâu đài, bận bộ đồ đi săn, tay cầm roi ngựa, và được Hoàng Hậu, trong bộ triều phục lộng lẫy ra tiếp đón. Cuộc mật đàm kéo dài rất lâu. Sau cùng, khi vua Frederick Wilhelm không thể chịu đựng nổi được nữa tình trạng nhục nhã của mình dưới con mắt của bọn quần thần, đã liều mạng bước vào, cuộc hội đàm thân mật giữa Hoàng Đế và Hoàng Hậu bị cắt đứt lúc Louise chưa kịp thu hồi được gì. Sau này, Napoléon nói đùa với các Thống Chế của mình rằng: “Nếu vua Phổ vào chậm một chút thì chắc ta đã trả lại Magdeburg”.

“Nước Phổ cũ”, xứ Pommern, Brandenburg và Silesia được để lại cho nước quân chủ thuộc dòng Hohenzollern. Số còn lại, về phía Đông cũng như phía Tây, đều bị tước đoạt.

Ngoài ra, Napoléon còn tìm cách giày xéo lên tinh thần tự hào dân tộc của nước Phổ bằng cách ghi trong điều 4 Hòa Ước Tilsit rằng, Napoléon hoàn lại bốn tỉnh đó cho nước Phổ vì “nể lời Hoàng Đế nước Nga”. Tất cả những đất đai Phổ về phía Tây sông Elbe đều bị sáp nhập với vương quốc Westphalia do Napoléon vừa mới thành lập, còn sáp nhập thêm cả Đại Công Quốc Halle. Napoléon phong cho Jérôme làm vua Westphalia.

Những đất đai Ba Lan tước được của Phổ (gồm tỉnh Poznan và Warszawa) nay thành Đại Công Quốc Warszawa, và Napoléon chỉ định vua Saxony làm vua Đại Công Quốc ấy. Aleksandr đệ nhất (do Napoléon yêu cầu) sáp nhập vùng Białystok nhỏ bé vào đất đai của mình. Một hiệp ước liên minh tiến công và phòng thủ, tạm thời giữ bí mật, được ký kết giữa hai Hoàng Đế. Như thế là từ đó nước Nga gia nhập cuộc phong tỏa lục địa.

Ngày 8 tháng 7 năm 1907, Hòa Ước Tilsit được chính thức ký kết, nó là một cái nhục cho nước Phổ và cho toàn nước Đức. Hội hè và duyệt binh diễn ra liên tiếp ở Tilsit cho tới đêm mồng 8 tháng 7. Suốt thời gian này, hai vị Hoàng Đế đều tỏ ra rất quyến luyến nhau, và Napoléon chú ý nhấn mạnh đến mức độ cao cả của mình đối với kẻ thù ngày hôm qua, nay đã trở thành đồng minh. Ngày 9 tháng 7, Napoléon và Aleksandr cùng đi duyệt đội ngũ cận vệ Pháp và Nga, và sau khi hôn từ biệt nhau trước hàng quân và đông đảo quần chúng chen chúc trên bờ sông Niemen, hai ông Hoàng Đế từ giã nhau. Trừ hai vị Hoàng Đế và những triều thần gần gũi nhất của họ ra, chưa một ai có thể biết được rằng trong mấy ngày diễn ra cuộc tiếp xúc ở Tilsit tình hình thế giới đã thay đổi lớn lao.

[33] Tuần báo thành lập năm 1672, đăng tin tức trong triều đình, những bài thơ ngắn truyện ngắn. Bị gián đoạn nhiều lần, nhưng tờ báo tiếp tục sống đến tận năm 1925. Năm 1889 một số nhà văn phái “tượng trưng” lấy tên cũ ấy để ra một tờ báo văn học.

CHƯƠNG 10

từ tilsit đến wagram
1

Trên đường từ Tilsit về Paris, Napoléon được toàn nước Đức đón rước với lòng hâm mộ đầy tính chất nô lệ. Hình như quyền lực của Napoléon đã lên tới mức độ mà chưa một đế vương nổi tiếng nào trong lịch sử đạt được. Là Hoàng Đế chuyên chế của đế quốc Pháp rộng lớn, bao gồm Bỉ, Tây Đức, Piedmont, Genoa; là vua nước Ý là người bảo hộ (thực tế là chúa tể) những đất đai rộng lớn của Liên Bang Sông Rhine, cộng cả xứ Saxony vừa mới sáp nhập; là kẻ thống trị nước Thuỵ Sĩ; Napoléon cũng là đế vương chuyên chế ở nước Hà Lan và ở vương quốc Naples y như trong đế chế của mình, vì Napoléon đã đặt em là Louis và anh là Joseph ngồi lên trên ngai vàng của hai nước ấy; cũng như ở tất cả miền trung và một phần miền Bắc nước Đức, Napoléon đã giao cho người em thứ ba là Jérôme cai trị với danh hiệu là vương quốc Westphalia; cũng là đế vương một bộ phận lớn thuộc những đất đai cũ của dòng họ Habsburg mà Napoléon đã tước của nước Áo và giao cho vua xứ Bavaria là nước chư hầu của mình; cũng là đế vương trên bờ biển miền Bắc Châu Âu, nơi quân đội của Napoléon đang chiếm đóng các thành phố Hamburg, Bremen, Luisenburg, Danzig, Königsberg và ở Ba Lan thì quân đội của nó vừa mới thành lập được đặt dưới quyền chỉ huy của Thống Chế Davout và tuy danh nghĩa là quốc vương xứ Saxony nhưng thực ra chỉ là một chư hầu và một người tôi tớ của Napoléon với danh hiệu là Đại Công Tước.

Ngoài ra, đảo Ionian, thành phố Cattaro và một phần bờ biển Adriatic, dọc theo bán đảo Balkan, cũng thuộc về Napoléon. Nước Phổ bị thu hẹp trong một khu vực nhỏ bé và quân đội bị hạn chế gắt gao, run sợ mỗi khi Napoléon hé miệng, và còng lưng đóng góp đủ các loại thuế má; nước Áo câm lặng và chịu khuất phục; nước Nga đã liên minh chặt chẽ với nước Pháp. Duy chỉ còn nước Anh là tiếp tục đấu tranh.

Về tới Paris, với sự giúp đỡ của Bộ Trưởng Tài Chính Godin và Bộ Trưởng Ngân Khố Mollien, Napoléon đã tiến hành hàng loạt cuộc cải cách quan trọng nhằm tổ chức lại nền tài chính, thuế trực thu và gián thu, v.v., nhờ vậy, số thu nhập trong đất đai của Hoàng Đế (từ 750 đến 770 triệu), cưỡng đoạt được do sự bóc lột tàn nhẫn nhân dân Pháp và các nước tay chân, đủ cho các khoản chi tiêu, kể cả những khoản trù trước để chi vào việc nuôi dưỡng quân đội khi xảy chiến tranh. Đó là một đặc điểm của nền tài chính dưới thời Napoléon: Napoléon coi các khoản chi phí về chiến tranh như “các khoản chi thông thường”, không có chút gì là đặc biệt cả. Ngân sách của Nhà Nước được đảm bảo chắc chắn và Ngân Hàng Pháp thành lập dưới thời Napoléon (còn tồn tại đến bây giờ cùng với những điều lệ đó) chỉ trả 4% lãi cho các tồn khoản, chứ không trả 10% như năm 1804 và 1805 vẫn còn thi hành. Nước Ý, với danh nghĩa là vương quốc “độc lập” của nước Pháp, hàng năm phải nộp cho nước Pháp một khoản đảm phụ 36 triệu francs vàng, và Napoléon nhà vua hào hiệp của nước Ý, lại hào hiệp nộp hết cho Hoàng Đế của người Pháp tức là Napoléon. Còn những khoản chi tiêu về hành chính của nước Ý thì do những khoản thu nhập của bản thân nước Ý trang trải. Đại diện của Napoléon ở Ý là một phó vương, không phải ai xa lạ mà chính là Eugène de Beauharnais, con riêng của vợ Napoléon. Tất nhiên là nước Ý phải chịu mọi khoản phí tổn nuôi dưỡng quân đội Pháp đóng ở trên đất nước. Các nước khác, đặt dưới quyền cai trị trực tiếp hay gián tiếp của Napoléon, đều phải nộp những khoản đảm phụ tương tự như vậy, nhất là những khoản chi phí về nuôi dưỡng quân đội Pháp. Với số vàng bòn rút ở các nước bị trị, với các khoản đảm phụ và các khoản cống nộp khác đã qui định cho các nước ấy, Napoléon đúc tiền một cách đều đặn ở Pháp, và số tiền vàng đó được dùng trong việc lưu thông buôn bán. Việc cải cách tiền tệ do Napoléon khởi thảo từ thời kỳ Tổng Tài, đã hoàn thành vào năm 1807, sau khi ở Tilsit về.

Napoléon cũng định dùng nhiều biện pháp để chấn hưng nền kỹ nghệ Pháp, nhưng về mặt này tình hình phức tạp hơn; những cải cách đã đặt ra ấy phải tiến hành song song và gắn chặt với việc thực hiện có hiệu lực cuộc phong tỏa lục địa. Sau khi ở Tilsit trở về được ít lâu, Napoléon bắt đầu trù tính một quy hoạch chính trị lớn, mà theo Napoléon, nếu không làm như vậy thì sự thực hiện phong tỏa nước Anh sẽ trở thành một trò quái gở. Và cũng chỉ có sau khi lao mình vào cuộc phiêu lưu đó, Napoléon mới dốc hết tâm lực vào lĩnh vực kinh tế. Cho nên, trước khi bước sang phân tích những hậu quả của cuộc phong tỏa lục địa đối với các tầng lớp xã hội khác nhau trong đế chế và đối với toàn bộ đường lối chính sách của Napoléon trước hết chúng ta cần tìm hiểu nguồn gốc của công việc đó, tức là âm mưu đánh chiếm lấy bán đảo Tây Ban Nha.

Nên chú ý rằng từ mùa thu năm 1807 đến mùa đông năm 1808, giữa Hoàng Đế và các Thống Chế, các Bộ Trưởng và các viên chức cao cấp thân cận nhất đã thấy chớm nở sự khác nhau nào đó về quan điểm, nhưng sự khác nhau đó thực ra còn ngấm ngầm và mập mờ.

Triều đình Napoléon chìm ngập trong sự xa hoa: Quý tộc cũ và mới, đại tư sản già và trẻ ganh nhau tiếng tăm bằng những tiệc tùng, yến hội, khiêu vũ; vàng tuôn ra như nước, các hoàng tử nước ngoài, vua chúa các nước chư hầu đến chầu, lưu lại ngày này qua ngày khác ở cái thủ đô của cả thế giới và ném vào đấy bao nhiêu của cải. Một thứ hội hè tráng lệ, linh đình như cảnh thần tiên lạc thú liên tiếp diễn ra ở cung điện Tuileries, Fontainebleau, Saint Cloud, Malmaison. Chế độ cũ chưa bao giờ được thấy cảnh xa hoa lộng lẫy đến như vậy, cũng không bao giờ được thấy một đám đông nườm nượp những nam nữ triều thần. Nhưng, tất cả bọn họ đều biết rằng trong một căn phòng kín đáo của lâu đài mà âm thanh của những cuộc thú vui không lọt tới, người chúa của họ đang cúi đầu xuống tấm bản đồ của bán đảo Tây Ban Nha và rồi, khi lệnh của Hoàng Đế ban ra, một số lớn những người nhởn nhơ vui chơi vô tư lự ấy sẽ phải lập tức vĩnh biệt mọi thứ xa hoa lộng lẫy đang tràn lên cuộc sống của họ, để lại hiến mình cho mũi tên hòn đạn. Nhưng họ chiến đấu vì ai? Ngay sau trận Austerlitz, nhiều bạn chiến đấu của Napoléon ngỡ rằng đã đến lúc phải chấm dứt cuộc chinh chiến, rằng uy thế của nước Pháp đã lên tới mức cao chưa từng thấy và đã vượt quá cả lòng mong ước của nước Pháp. Thật vậy, toàn thể nhân dân của đế chế chịu khuất phục Napoléon, không kêu ca một lời: Người nông dân cho tới nay vẫn phải chịu đựng chế độ trưng binh, giới thương nhân (trừ giai cấp tư sản buôn bán ở các thành phố ven biển) và nhất là kỹ nghệ gia, vui mừng vì thị trường được mở rộng và vì tương lai của công việc làm ăn. Những viên chức cao cấp và các vị Thống Chế, sau trận Tilsit, đã bắt đầu suy nghĩ, họ không lo rằng một cuộc cách mạng bên trong sẽ uy hiếp trật tự của xã hội, họ biết bàn tay sắt của Napoléon đã kẹp chặt được dân thợ thuyền, song họ sợ điểm khác: Họ hãi hùng vì đất đai của Napoléon quá rộng lớn.

Quyền hành độc đoán, không ai kiểm soát và không giới hạn của Napoléon, xây dựng trên một khối hỗn hợp những quốc gia và dân tộc khác nhau, từ Königsberg đến dãy núi Pyrenées (và thực tế đã vượt sang cả bên kia) từ Warszawa và từ Danzig đến Naples và Brandici, từ Antwerp đến rặng núi vùng Tây Bắc Balkan, từ Hamburg đến Corfu, đã bắt đầu làm cho các cận thần của Napoléon lo ngại, Sự hiểu biết nông cạn nhất về lịch sử và tiếng nói của bản năng, dù có bị người ta bóp nghẹt, đã bảo cho họ biết rằng những kiểu đế quốc bao gồm cả hoàn cầu như vậy không tồn tại lâu dài được, chúng chỉ là những sản phẩm ngoại lệ, và hơn nữa là hiện tượng rất nhất thời đã phát triển đến tột độ, là kết quả của sự tác động giữa những lực lượng trong lịch sử. Họ hiểu rằng (và cuối cùng họ nói như vậy) tất cả những việc Napoléon đã làm, kể từ buổi đầu tiên khai nghiệp cho đến trận Tilsit, đều dựa vào sự xuất chúng hơn là vào thực tế lịch sử. Nhiều người trong bọn họ cũng có ý nghĩ như Talleyrand là nếu cứ tiếp tục ghi chép mãi những chiến công phi thường như vậy vào sử sách thì ngày càng gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm.

Napoléon tỏ ra rộng lượng khác thường đối với những người giúp việc chính của mình, dù là quân nhân hay hành chính. Sau trận Tilsit, Napoléon tặng Thống Chế Lannes một triệu francs vàng, ban cho Thống Chế Ney hưởng suốt đời món tiền lợi tức hàng năm chừng 300.000 francs; Berthier được nửa triệu francs vàng và 405.000 francs lợi tức; các vị Thống Chế khác, một loạt các sĩ quan và tướng lĩnh cũng được hưởng phụ cấp hậu hĩ như vậy, Các Bộ Trưởng Godin, Mollien, Talleyrand, Fouché tuy không được ưu đãi như các Thống Chế nhưng Napoléon cũng không hẹp hòi đối với họ. Tất cả các sĩ quan của đội cận vệ và của đại quân đã thực sự tham gia chiến đấu, đều được ban thưởng, rất nhiều người được trợ cấp hậu và thương binh được lĩnh gấp ba so với những người khác.

Vả lại, ngân khố nước Pháp không mất một đồng một chữ để chi cho những sự rộng rãi ấy; ngoài những khoản đảm phụ khổng lồ mà các nước bại trận phải nộp cho nước Pháp thắng trận, Napoléon còn qui định cho các nước đó (có khi cho cả những thành phố và một vài nghiệp đoàn) những khoản cống nộp đặc biệt tổng cộng hàng chục triệu (vương quốc Westphalia 40 triệu; lập nông khố ở Hanover trị giá 20 triệu, lấy của Ba Lan từ 30 đến 35 triệu v.v.). Tất cả những khoản này đều thuộc Napoléon toàn quyền sử dụng. Sau khi đã hậu thưởng cho các cận thần, Napoléon cho chất đống số tiền vàng còn lại vào trong những “hầm nổi tiếng ở cung điện Tuileries”, giữ làm kho tàng cá nhân, và theo lời Napoléon, năm 1812 đã lên tới 300 triệu francs vàng. Số tiền chi lương cho triều thần và số tiền cung phí cho Hoàng Đế (25 triệu) chỉ là một giọt nước trong biển cả so với số tiền nằm đầy ắp trong kho của Napoléon mà Napoléon tự do chi dùng, và số tiền ấy hoàn toàn không dính líu gì đến ngân sách của Nhà Nước. Khốn khổ thay cho những nước bại trận! Napoléon nói rằng:” Chiến tranh phải nuôi chiến tranh”. Nguyên tắc ấy đã được áp dụng triệt để dưới thời Đế Chế Đệ Nhất.

Như vậy số lợi tức đồng niên đặc biệt mà Napoléon bòn rút của các nước bị chiếm lên tới hàng triệu đồng, Napoléon phân phối rất rộng rãi một phần số tiền ấy cho quân đội và viên chức. Nhưng chính những món tiền thưởng hậu hĩ mà Napoléon đã vung ra cho các Thống Chế và tướng lĩnh đã làm nảy nở trong họ lòng ham muốn an hưởng phú quý và danh vọng. Song, cuộc đời họ cứ trôi chảy và chìm đắm mãi trên con đường chinh chiến dài dặc, hầu như không bao giờ chấm dứt.

Ai cũng hiểu rằng, vừa mới ở Tilsit trở về, Napoléon đã chuẩn bị lực lượng cho cuộc viễn chinh sang Bồ Đào Nha, đi qua Tây Ban Nha. Phần đông không hiểu gì về mục đích của chiến dịch đó. Về vấn đề này, cần phải nhắc lại đến cuộc phong tỏa lục địa, vì từ thời kỳ này trở đi, nếu một phút nào đó ta quên cái việc phong tỏa lục địa thì sẽ không thể giải thích nổi bất cứ một hành động nào của Napoléon, dù là những hành động chẳng quan trọng gì lắm.

Trong khi đề ra mục đích phải bóp nghẹt nền kinh tế Anh bằng cuộc phong tỏa lục địa, Napoléon đã đúng là Napoléon: Ông ta không thể tin vào triều đại Bragança ở Bồ Đào Nha cũng như dòng họ Bourbon ở Tây Ban Nha; không thể tin rằng hai dòng họ hoàng gia ấy lại sẽ có thể tự nguyện và tận tình phá hoại tan tành đất nước họ bằng cách ngăn cấm nông dân, tiểu và đại địa chủ bán lông cừu Merinos cho người Anh, đồng thời ngăn cấm không cho sản phẩm kỹ nghệ Anh giá hạ được nhập vào Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Rõ ràng là trong khi họ im lặng chấp thuận Đạo Luật Berlin thì họ cũng sẽ vui lòng nhắm mắt làm ngơ và sẽ tỏ ra dễ dãi ngấm ngầm với việc buôn lậu và sẽ dùng trăm phương nghìn kế khác để vi phạm cuộc phong tỏa lục địa. Với đất đai rộng lớn của bờ biển thuộc bán đảo Tây Ban Nha và khi biết rằng hạm đội Anh hiện đang làm chúa tể Vịnh Bitcasa, cũng như ở khắp Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, khi pháo đài Gibraltar của Anh đang đứng sừng sững ở ngay trên bán đảo thì rõ ràng là: Chừng nào Napoléon còn chưa đặt được ách thống trị trên đất Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha thì chừng đó chưa thể nói đến việc buộc họ phải tôn trọng cuộc phong tỏa lục địa. Một vấn đề thuộc về nguyên tắc đã được giải quyết sâu sắc trong đầu óc Napoléon: Tất cả bờ biển của Châu Âu, ở phía Nam cũng như ở phía Bắc và phía Tây, đều phải trực tiếp đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan thuế quan Pháp. Kẻ nào không ưng thuận điều đó sẽ bị tiễu trừ. Bọn Bourbon Tây Ban Nha khúm núm trước Napoléon và nói dối Napoléon là họ không muốn và không thể đuổi được người Anh, không muốn và không thể thực hành việc ngăn cản sự buôn bán của người Anh.

Ở Bồ Đào Nha, triều đại Bragança cũng hành động như vậy và cũng khúm núm trước Napoléon, họ cũng cố tình nhắm mắt làm ngơ trước những hành động vi phạm cuộc phong tỏa lục địa, chẳng kể gì đến danh dự.

Trong lúc đó, nước Anh sau trận Tilsit, bị cô lập, không còn đồng minh với ai, đã quyết tâm tăng cường chiến đấu. Trong những ngày đầu của tháng 9 năm 1807, một hạm đội Anh đã đến bắn phá Copenhagen, lấy cớ là có tin đồn nước Đan Mạch sắp sửa tham gia phong tỏa lục địa. Khi biết tin, Napoléon nổi khùng, và chính việc ấy đã làm ông ta gấp rút quyết định xâm chiếm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tháng 10 năm 1807, theo lệnh của Napoléon, một đạo quân 27.000 người, dưới quyền chỉ huy của Thống Chế Junot đi qua đất Tây Ban Nha tiến vào Bồ Đào Nha. Một đạo quân khác 24.000 người do tướng Dupont chỉ huy, tiến theo sau. Ngoài ra, Napoléon còn tăng viện thêm cho chiến trường đó một lực lượng chừng 5.000 bạch binh (long kỵ binh, khinh kỵ binh và bộ binh). Hoàng tử nhiếp chính Bồ Đào Nha cầu cứu nước Anh. Hoàng tử sợ người Anh, không kém sợ Napoléon, có thể tàn phá Lisbon bằng đường biển cũng dễ dàng như họ mới tàn phá Copenhagen. Đối với Napoléon, việc đánh Tây Ban Nha sẽ chỉ tiến hành một khi đã thôn tính xong Bồ Đào Nha; lúc đó, việc chinh phục Tây Ban Nha sẽ dễ như trở bàn tay vì sẽ từ hai bàn đạp vững vàng đánh tới, một từ phía Nam nước Pháp, một từ Bồ Đào Nha. Hoàng Đế cũng không thèm thông báo bằng con đường ngoại giao cho Tây Ban Nha biết là quân đội của mình đi qua lãnh thổ Tây Ban Nha. Napoléon chỉ đơn giản ra lệnh cho Junot là khi vượt qua biên giới thì dùng công văn báo cho Madrid biết rõ việc đó; Madrid biết vậy và phục tùng.

Tại triều đình của Napoléon, quan đại thần Cambacérès của đế chế đã dám cả gan kiến nghị phản đối hành động xâm lược đó bằng những lời lẽ vô cùng cung kính. Trái lại, Talleyrand đã xin từ chức. Cái cớ mà Talleyrand vin vào để xin từ chức là Napoléon đã chỉ trích Talleyrand về việc ăn hối lộ và các món tiền bất chính, thực ra đó cũng là chỗ yếu khá rõ của Talleyrand, nhưng phải lấy lý do thực sự của nó là Talleyrand đã nhìn trước thấy hậu quả tai hại của đường lối chính trị trên trường quốc tế của Napoléon, chính vì vậy mà Talleyrand đã quyết định rút lui dần khỏi mọi cương vị hoạt động. Tuy nhiên, Talleyrand vẫn còn giữ đủ các chức vị danh giá ở trong triều. Nhưng bây giờ Talleyrand lại muốn lấy lòng chủ nên tán thành tất cả mọi việc làm của Hoàng Đế, mặc dầu Talleyrand đã biết rằng việc xâm lược Tây Ban Nha là một sự phiêu lưu đầy chông gai nguy hiểm.

Cánh quân của Junot kéo vào Tây Ban Nha, thẳng đường tiến sang Bồ Đào Nha. Binh lính hành quân rất gian khổ, các chặng đường kém tổ chức, đất nước hoang vu, lương thực thiếu thốn. Binh lính cướp bóc nông dân và bị nông dân trả thù lại bất cứ ở nơi nào có thể được, họ giết những binh lính bị rớt lại sau. Sau cuộc hành quân kéo dài hơn sáu tuần lễ, Junot đến Lisbon ngày 29 tháng 11 năm 1807. Hoàng gia Bồ Đào Nha đã trốn khỏi kinh đô hai ngày trước, trên một chiếc tàu Anh.

Và bây giờ đến lượt Tây Ban Nha.

2

Tình hình ở Tây Ban Nha như sau: Vua Charles đệ tứ trị vì trong nước là một người nhu nhược và ngu dốt, hoàn toàn bị vợ và viên cận thần của vợ là Godoy chi phối. Nhà vua, Hoàng Hậu và Godoy là những người không đội trời chung với Ferdinand, người thừa kế ngôi vua, người mà trong những năm 1805, 1806,1807, giai cấp quý tộc và tư sản Tây Ban Nha đã đặt rất nhiều hy vọng lớn lao. Sự hỗn độn về hành chính và tài chính, những sự mất bình thường trong tất cả các lĩnh vực về nội chính làm tổn hại đến thương nghiệp và nông nghiệp, cũng như ngăn cản sự phát triển của nền công nghiệp trước đây rất phồn thịnh mà nay tiêu điều, đã tập hợp được giai cấp tư sản và quý tộc xung quanh quan điểm: Hình như đối với họ, nếu lật đổ được Godoy, viên cận thần thế lực của cái triều đình già cỗi, thì sẽ “cải cách” được nước Tây Ban Nha. Ý định cho Ferdinand, người thừa kế ngôi vua Tây Ban Nha kết hôn với một người họ hàng nào đó của Napoléon trở thành rất phổ biến: Họ nghĩ rằng, nhờ có sự kết giao như thế với vị Hoàng Đế đầy uy vũ thì ít nhất họ cũng sẽ có chỗ dựa và sẽ được giúp đỡ một cách có hiệu quả để tiến hành những việc cải cách, và đồng thời vẫn giữ được nền độc lập, vừa được yên ổn, không bận tâm đến những vấn đề đối ngoại. Ferdinand cầu hôn với một người cháu gái của Napoléon, và được đáp lại bằng sự từ chối.

Thật ra, vị Hoàng Đế đang ôm ấp một ý đồ khác hẳn: Ông muốn lật đổ triều đại đó và đặt lên ngai vàng Tây Ban Nha một người trong số anh em hay trong số các Thống Chế của mình.

Suốt mùa đông và mùa xuân năm 1808, nhiều binh đoàn khác của Napoléon vẫn không ngừng vượt qua Pyrenees và ùn ùn tràn vào Tây Ban Nha. Tháng 3, Napoléon đã tập trung ở Tây Ban Nha được gần 100.000 quân. Tin chắc vào lực lượng của mình, Napoléon quyết định hành động vừa khôn khéo khoét sâu thêm mâu thuẫn trong nội bộ hoàng gia Tây Ban Nha; Thống Chế Murat, chỉ huy một đạo quân 80.000 người tiến thẳng về phía Madrid. Charles đệ tứ, Hoàng Hậu và Godoy lúc đầu quyết định trốn khỏi kinh thành, nhưng nhân dân bị xúi giúc nổi dậy đã bắt giữ họ lại ở Aranjuez. Bọn bạo động đã bắt Godoy, hành hạ cực kỳ tàn nhẫn rồi tống giam, còn nhà vua thì buộc phải thoái vị và nhường ngôi cho Ferdinand VII. Biến cố này xảy ra ngày 17 tháng 3 năm 1808, và sáu ngày sau, ngày 23 tháng 3, Murat vào thủ đô Tây Ban Nha. Nhưng Napoléon không công nhận Ferdinand, đòi cả vua mới và vua cũ cùng tất cả hoàng gia đến gặp Napoléon trên đất Pháp, ở Bayonne. Napoléon tự nhận cái cương vị gọi là trọng tài tối cao để xét xử và chung thẩm xem lẽ phải thuộc về phía nào. Ngày 30 tháng 4 năm 1808, Charles đệ tứ, Hoàng Hậu, vua mới Ferdinand đệ thất và Godoy cùng nhau tới Bayonne, nhưng Napoléon đòi tất cả các vương tôn, công hầu của hoàng gia cũng phải đến trình diện trước Napoléon ở ngay trong thành phố ấy. Madrid bất bình, ý đồ của Napoléon đã rõ ràng: Sau khi xảo quyệt lôi tất cả hoàng gia Tây Ban Nha tới Bayonne, Napoléon sẽ sẵn sàng tuyên bố truất quyền của họ và giam giữ họ lại, rồi sẽ viện cớ này hoặc cớ khác để sáp nhập Tây Ban Nha vào Pháp.

Ngày 2 tháng 5, khởi nghĩa bùng nổ ra ở Madrid chống lại quân Pháp đang chiếm đóng thành phố. Murat dìm cuộc khởi nghĩa trong biển máu, nhưng đó chỉ là những tia lửa đầu tiên của đám cháy khủng khiếp của cuộc chiến tranh dân tộc ở Tây Ban Nha.

Sau khi nhận được tin sự biến ấy, Napoléon tới Bayonne đúng lúc hoàng gia Tây Ban Nha cũng vừa đến, và trước mặt Napoléon, một màn trò lộn xộn đã xảy ra, Charles đệ tứ giơ gậy đánh Ferdinand, bất thần Napoléon nói thẳng ý định của ông ta: Cả Ferdinand và Charles đệ tứ đều phải từ bỏ ngai vàng ở Tây Ban Nha và phải công bố thừa nhận Napoléon được toàn quyền xử lý đất nước Tây Ban Nha. Thế là đã xong: Charles đệ tứ, Ferdinand, Hoàng Hậu, cả ba đều rơi vào tay sen đầm và quân đội Pháp. Sau đó Napoléon còn tuyên bố với họ rằng vì lo lắng đến hạnh phúc và an toàn cá nhân của họ, Napoléon sẽ không để họ trở về Tây Ban Nha mà sẽ đưa Nhà Vua và Hoàng Hậu đến Fontainebleau, quyết định cho Ferdinand và các vương tôn, công hầu khác của dòng họ Bourbon Tây Ban Nha đến ngụ tại lâu đài của hoàng thân Talleyrand ở Valence. Biện pháp đó được thi hành ngay. Vài ngày sau, ngày 10 tháng 5 năm 1808, Napoléon lệnh cho anh là Joseph, vua xứ Naples, chuyển sang Madrid để lên ngôi vua ở Tây Ban Nha, còn Murat, trước đây làm Đại Công Tước xứ Clèves và xứ Berg, nay đến Naples và làm vua Naples từ đấy. Hoàng Đế vô cùng mãn nguyện về thuận lợi và sự khôn khéo đã dẫn công việc đến chỗ thành công tốt đẹp, về sự ngây thơ đã đưa dòng họ Bourbon ở Tây Ban Nha tự sa vào bẫy và về cái cách chiếm được Tây Ban Nha hầu như chẳng chút khó khăn vất vả gì.

Nhưng đột nhiên, xảy đến cái kết quả hoàn toàn bất ngờ không những đối với Napoléon, mà còn đối với toàn thể Châu Âu lúc bấy giờ đang sợ hãi, im lặng chứng kiến những hành động bạo ngược mới của kẻ xâm lược: Ngọn lửa của một cuộc chiến tranh du kích ác liệt và không thể dập tắt được chống lại bọn xâm lăng Pháp bùng cháy ở Tây Ban Nha.

Trên đất nước này, lần đầu tiên Napoléon chạm trán với một kẻ thù thuộc vào loại hoàn toàn đặc biệt mà từ trước tới nay chưa bao giờ gặp phải, hay đúng hơn cũng chỉ có dịp được nếm mùi trong thời gian rất ngắn ngủi ở Syria và ở Ai Cập. Người nông dân vùng Asturias giận dữ, dao trong tay, người chăn cừu quần mê áo mảnh vùng Sierra Morena với khẩu súng gỉ, người thợ thủ công vùng Catalonia với ngọn mác dài bằng sắt và con dao quắm đã đứng dậy chống Napoléon. “Những thằng bần tiện!”, Napoléon khinh bỉ nói như vậy. Napoléon, bá chủ Châu Âu, người đã làm cho quân đội nước Áo, Nga, Phổ phải bỏ chạy dài cùng với pháo binh, kỵ binh, vua chúa, Thống Chế, người chỉ hét lên một tiếng là làm sụp đổ các đế quốc lâu đời để lập nên những đế quốc mới, “bọn vô lại Tây Ban Nha” ấy lại làm cho Napoléon hoảng sợ hay sao? Nhưng ngay cả Napoléon cũng như bất cứ một người nào ở trên đời lúc đó cũng không thể hiểu được rằng, “những thằng bần tiện” ấy lại là những người đầu tiên đào mồ chôn vùi cái “Đại Đế Quốc" của Napoléon vốn sinh ra để mà sụp đổ.

Vào năm 1808, khi nuôi hoài bão rồi thực hiện công cuộc xâm lược Tây Ban Nha, Napoléon luôn luôn ghi trong lòng một kinh nghiệm lịch sử cốt để chứng minh cho tinh thần lạc quan. Đúng 100 năm tròn trước Napoléon, vua Louis XIV, một trong số những tiền bối của Napoléon ở trên ngai vàng nước Pháp, đã đặt lên ngôi vua ở Tây Ban Nha người cháu nội của ông ta là Philip; Philip đã trở thành người sáng lập ra triều đại Bourbon Tây Ban Nha, Nhân dân Tây Ban Nha hồi đó chấp nhận và duy trì ngay ông vua và cái triều đại mới ấy trên ngai vàng, mặc dù một nửa Châu Âu đã đang bắt đầu cuộc chiến tranh chống lại Louis XIV nhằm tống cổ Philip ra khỏi Tây Ban Nha. Vậy đối với Napoléon, vị đế vương hùng cường gấp trăm lần Louis XIV, tại sao lại không thành công trong cái mưu đồ cũng giống như vậy? Tại sao Napoléon lại không thể du nhập vào Tây Ban Nha một triều đại “Bonaparte Tây Ban Nha”? Lại còn, Napoléon không phải đánh nhau với Châu Âu như Louis XIV đã làm: Châu Âu đã bị đánh bại và bị khuất phục, và nước Nga là liên minh của ông ta.

Nhưng Napoléon mắc phải sai lầm là đã bị mê hoặc bởi một sự giống nhau thuần tuý hình thức. Ông ta không muốn hiểu sự khác nhau cơ bản giữa sự suy tôn Philip của dòng họ Bourbon ở Tây Ban Nhà vào năm 1700 và sự suy tôn Joseph Bonaparte vào năm 1808. Những thương gia người Pháp, những chủ thuyền người Pháp, những tay thám hiểm người Pháp thuộc giai cấp quý tộc đã hoan nghênh nhiệt liệt việc Philip lên ngôi Hoàng Đế ở Tây Ban Nha, vì họ, cũng như chính bản thân Louis XIV, đã tính rằng như vậy là toàn bộ thuộc địa rộng lớn của Tây Ban Nha sẽ trở thành đất đai thuộc Pháp. Nhưng họ đã nhầm to: Những chủ đồn điền và thương gia người Tây Ban Nha đều nhất trí chống lại sự thâm nhập của tư bản Pháp vào các thuộc địa Tây Ban Nha. Philip V bị bắt buộc phải từ chối việc nhường quyền lợi của người Tây Ban Nha cho những đồng bào Pháp của ông ta. Nước Tây Ban Nha không trở thành thuộc quốc của Pháp về phương diện kinh tế, và chỉ có như thế Philip V và dòng họ Bourbon Tây Ban Nha mới đã có thể ngồi vững trên ngai vàng. Còn như Joseph Bonaparte, mặc dù khoác tấm áo bào lộng lẫy của các vua chúa Tây Ban Nha, chỉ đơn giản là một viên toàn quyền của Napoléon, có thể gọi là một tên tay sai của Napoléon, chịu trách nhiệm thực hiện cuộc phong tỏa lục địa ở bán đảo Tây Ban Nha và biến hẳn Tây Ban Nha thành thuộc địa để bóc lột về mọi mặt vì lợi ích độc quyền của giai cấp tư sản Pháp. Ở Tây Ban Nha, người ta biết rất rõ rằng từ ngày đảo chính Tháng Sương Mù năm 1799, Napoléon đã bị tiến công bởi những lời khiếu nại và thỉnh cầu của những nhà sản xuất tơ lụa, vải vóc và của những kỹ nghệ gia người Pháp, họ đã vạch ra một chương trình mà Napoléon hoàn toàn tán thành: 1) Phải dành riêng cho sản phẩm Pháp độc quyền trên thị trường Tây Ban Nha. 2) Tây Ban Nha phải cung cấp thứ len quý “Merinos” cho các nhà sản xuất Pháp độc quyền, trên thế giới lúc bấy giờ không có một thứ len nào khác có thể cạnh tranh nổi. 3) Tây Ban Nha (và đặc biệt là miền Andalusia) phải dành vào việc trồng trọt các loại bông khác nhau cần thiết cho kỹ nghệ dệt của Pháp mà Napoléon đã cấm mua của người Anh. Chương trình này có liên quan chặt chẽ với sự bắt buộc Tây Ban Nha phải cắt đứt hoàn toàn quan hệ buôn bán với Anh là nước mua biết bao nhiêu len của Tây Ban Nha với giá rất cao, và ngược lại, Tây Ban Nha mua của nước Anh biết bao nhiêu hàng hóa tiêu dùng với giá rất rẻ. Vì vậy, đối với những người chăn nuôi, những người buôn bán len, những nhà công nghiệp Tây Ban Nha nói chung, toàn thể những người nông dân sinh kế phụ thuộc bằng cách này hay cách khác, gián tiếp hay trực tiếp vào việc sản xuất len và chế tạo vải len ở những nơi trên đất nước Tây Ban Nha mà xã hội phong kiến còn tồn tại và đặc biệt ở những tỉnh mà chế độ đó đã suy yếu; đối với toàn bộ giai cấp quý tộc địa chủ gắn chặt với nước Anh cũng như gắn chặt với chế độ thuộc địa và hệ thống đồn điền thì quy phục Napoléon cũng gần như diệt vong. Điều đó càng rõ hơn nữa ở chỗ: Việc giao thông với các thuộc địa giàu có của Tây Ban Nha ở Châu Mỹ cũng như với các khu vực hải ngoại khác nói chung (thí dụ như với Philippines, ở phía Đông biển Ấn Độ) hiện nay bị gián đoạn vì nước Anh đã tuyên chiến ngay và đã đặt chân lên tất cả các thuộc địa ở bên kia đại dương, dù là thuộc địa của bất cứ nước nào, một khi nước ấy gián tiếp hay trực tiếp lao vào con đường chính trị Napoléon. Tất cả những quyền lợi kinh tế ấy của các giai cấp khác nhau trong nước đã bị cuộc xâm lăng của Napoléon gây thiệt hại trầm trọng, đó là nguồn gốc của ngọn lửa đấu tranh giải phóng dân tộc bùng lên chống lại kẻ xâm lược hùng cường. Nông dân và thợ thủ công Tây Ban Nha nổi lên đã tỏ ra có khả năng theo đuổi một cuộc đấu tranh mà mới thoạt nhìn tưởng như quá sức họ. Nhưng lúc ấy, đối với Napoléon, hình như mọi việc đều diễn biến tốt đẹp. Dòng họ Bourbon Tây Ban Nha bị bắt đang trên đường đi đến Fontainebleau và Valence, nơi đã dành cho họ, dưới sự giám sát của cảnh binh. Joseph Bonaparte đã đi Madrid.

Thật ra, người ta đã báo cho Hoàng Đế biết một vài việc rắc rối nhỏ chẳng tốt đẹp gì đã xảy ra, thí dụ: Ban đêm, từng tốp nhỏ nông dân Tây Ban Nha đã cả gan tiến sát vào trại lính của quân đội Pháp và nổ súng, đến khi họ bị bắt và bị xử bắn, họ chịu chết một cách lặng lẽ hoặc tỏ vẻ khinh bỉ và nguyền rủa người Pháp. Người ta còn báo cáo rằng ngày 2 tháng 5, để đàn áp cuộc khởi nghĩa ở Madrid, Murat đã cho nổ súng vào đám đông, nhưng họ không chịu thực sự giải tán ngay, mà họ tìm cách ẩn vào trong các nhà và núp trong cửa sổ tiếp tục bắn vào quân Pháp. Khi quân Pháp truy kích vào trong nhà thì, sau khi bắn hết đạn, nếu chưa ngã xuống, người Tây Ban Nha còn chiến đấu bằng dao, bằng nắm tay, bằng răng và sau khi họ đã chiến đấu thí mạng thì cuối cùng lính Pháp chỉ có thể lôi được họ ra ngoài bằng cách cả bọn chúng xóc họ lên đầu lưỡi lê khiêng đi. Ngay từ khi đặt những bước chân đầu tiên lên đất nước Tây Ban Nha, quân Pháp hầu như ngày nào cũng đụng phải vô số biểu hiện của lòng căm thù phẫn nộ nhất và kinh khủng nhất đối với kẻ xâm lược. Khi một đội quân Pháp sục sạo vào làng thì thôn xóm đã vắng tanh, nhân dân đã bỏ trốn vào rừng. Quân Pháp tìm thấy lương thực trong một túp lều, ở đó chỉ có một người mẹ và đứa con nhỏ, trước khi cho binh lính ăn, viên sĩ quan đoán là có sự chẳng lành, liền hỏi người đàn bà rằng trong lương thực có thuốc độc hay không. Dẫu người đàn bà có bảo đảm là không chăng nữa, hắn vẫn buộc người đàn bà phải nếm trước thức ăn đó. Người đàn bà thi hành ngay chẳng chút ngần ngại. Song, như vậy vẫn chưa hài lòng, hắn ra lệnh cho người đàn bà phải cho cả đứa bé ăn và người mẹ cũng lại vâng lời ngay. Thế là đám lính bắt đầu ăn và một lát sau, người mẹ và đứa con của bà, cũng như bọn lính ấy, chết trong những cơn giãy giụa khủng khiếp. Cái bẫy đã sập.

Trong thời kỳ đầu, có nhiều câu chuyện tương tự làm cho người Pháp kinh hoàng, nhưng chẳng bao lâu điều đó đã trở thành chuyện thông thường, không ai còn lấy làm lạ suốt trong thời kỳ chiến tranh Tây Ban Nha. Ngay cả Napoléon lúc đó cũng không còn bối rối về những sự việc kỳ lạ ấy nữa. Sau này, phải mất nhiều thời gian lắm Napoléon mới hiểu được tính chất của cuộc chiến tranh đó.

Tuy nhiên, ngay từ giữa mùa hè, đã có một vài nước bại trận bắt đầu nhìn ngọn lửa chiến tranh ở bên kia rặng núi Pyrenées bằng con mắt đầy hy vọng. Có nhiều tin đồn xoay quanh vấn đề vũ trang của nước Áo. Kể từ trận Austerlitz, ba năm trời đã trôi qua: Nước Áo được nghỉ ngơi và đã hồi phục. Trong triều đình Vienna, ngay giữa lòng giai cấp quý tộc và giai cấp thương nhân, hy vọng thoát khỏi ách Napoléon lớn dần. Chúng ta nên chú ý rằng ở Nga, Áo, Hung, Bohème, giai cấp quý tộc lo sợ trước nhất là khi nhìn thấy sự thống trị của Napoléon tồn tại vĩnh viễn, lo rằng nước Áo sẽ bị cưỡng ép, bằng cách này hay cách khác, phải chấp nhận Bộ Luật Napoléon, điều đó có nghĩa là sự sụp đổ của chế độ phong kiến già cỗi.

Napoléon cảm thấy cần thiết phải biểu dương lực lượng của Khối Liên Minh Pháp - Nga để chống lại bất kỳ hành động bất ngờ nào của Áo, trong khi Napoléon còn đang bận đàn áp “bọn khởi loạn” ở bên kia dãy núi Pyrenées. Trong các báo chí Châu Âu, người ta cung kính viết: “Đức Hoàng Đế đang khẩn trương ra tay tiễu trừ bọn hạ lưu Tây Ban Nha”. Nhiều độc giả của các tờ báo đó ở Phổ, Áo, Hà Lan, Ý trong các thành phố liên minh thương nghiệp ở Tây Bắc nước Đức, ở vương quốc Westphalia, trong các quốc gia của Liên Bang Sông Rhine thì thầm nhỏ to rằng: “Kẻ cắp đã gặp bà già”, và họ vẫn chưa dám tin rằng ước vọng của họ có thể thực hiện được. Đó là tình trạng tư tưởng khi người ta bỗng nhiên được tin rằng hai vị Hoàng Đế Pháp và Nga sẽ gặp nhau ở Erfurt vào mùa thu năm 1808.

3

Từ lâu, Napoléon đã dự tính biểu dương tính chất vững chắc của Khối Liên Minh Pháp - Nga. Nhưng vào trung tuần tháng 7, một sự kiện bất ngờ xảy ra đã buộc Napoléon phải gấp rút hội đàm với Aleksandr. Tướng Dupont, phụ trách chiếm miền Nam Tây Ban Nha, đã vào được Andalusia và sau khi hạ được thành Cordoba, trong khi tiếp tục cho tiến quân thẳng lên phía trước, đã bị hết lương thực, sa vào một vùng đồng bằng bát ngát, nắng như thiêu đốt và bị vô số toán du kích nông dân bao vây tiến công tứ phía. Và ngày 20 tháng 7, ở gần Balerma, Dupont cùng với quân đội của mình đã đầu hàng. Việc đầu hàng này chưa có nghĩa là Tây Ban Nha đã thoát khỏi ách thống trị của Pháp, nhưng nó đã gây ảnh hưởng vô cùng to lớn và sâu sắc trong toàn Châu Âu. Quân đội bách chiến bách thắng của đế quốc Pháp vừa mới bị thua một trận, đương nhiên là cục bộ, nhưng không thể chối cãi được.

Nhận được tin ấy, Napoléon nổi khùng và đưa Dupont ra Hội Đồng Quân Sự. Napoléon đã có một quan niệm riêng thế nào là đạo đức và không đạo đức. Theo ý Napoléon, điều không đạo đức lớn nhất là đảm nhiệm một việc mà mình không có khả năng làm tròn. Và khi một viên tướng bất lực mà dự vào công việc chiến tranh thì sự “không đạo đức” đó chỉ trở thành một tội ác mà thôi. Từ đó, hình ảnh Dupont mất hẳn trong tâm trí Napoléon.

Napoléon hiểu được ngay tính chất nghiêm trọng của những hậu quả chính trị do cuộc thất bại thảm hại ở Balerma đem lại. Trong khi giả đò bình tĩnh và xác định sự thất bại ở Balerma chỉ là chuyện nhỏ mọn so với nguồn lực lượng của đế quốc Pháp, thì Napoléon đã hoàn toàn thấy trước được sự phản ứng do sự kiện ấy gây nên ở Áo, là Áo đang tích cực vũ trang hơn nữa. Áo đã nhìn thấy rằng, đáng lẽ Napoléon chỉ phải chiến đấu trên một mặt trận thì nay bỗng nhiên lâm vào tình trạng bị bức phải chiến đấu trên hai mặt trận, và mặt trận phía Nam mới này, đã gây ra ở Tây Ban Nha, sẽ làm Napoléon yếu đi rất nhiều ở mặt trận Danube. Để ngăn chặn mưu mô gây ra chiến tranh của Áo, cần phải làm cho Áo hiểu rằng Aleksandr đệ nhất sẽ xâm chiếm đất đai của Áo ở phía Đông, còn Napoléon, liên minh của Aleksandr, sẽ tiến quân từ phía Tây đến Vienna. Đó là mục đích chủ yếu của việc biểu dương tình hữu nghị giữa hai ông Hoàng Đế ở Erfurt.

Sau trận Tilsit, Aleksandr đã sống những ngày khổ não. Việc liên minh với Napoléon và những hậu quả không thể tránh được của nó, việc cắt đứt quan hệ với Anh đã làm tổn thương lớn đến quyền lợi kinh tế của giai cấp quý tộc và thương nhân. Friedland và Tilsit không những chỉ được coi là một điều bất hạnh mà còn là một điều nhục nhã. Tin thêm vào lời hứa của Napoléon, Nga Hoàng hy vọng rằng, nhờ có cuộc liên minh Pháp - Nga, khi đã chiếm được một phần đất đai của nước Thổ, Nga Hoàng sẽ làm nguôi dịu sự chống đối của triều định, của đội cận vệ, của toàn bộ giai cấp quý tộc. Nhưng thời gian trôi qua mà không thấy Napoléon hành động gì theo hướng đó cả; hơn nữa, ở Peterburg lại bắt đầu có tin đồn là Napoléon xúi giục quân Thổ đeo đuổi cuộc kháng chiến mà họ đang tiến hành để chống lại Nga. Ở Erfurt, hai bên của Khối Liên Minh Pháp - Nga đều tính đến chuyện giữ miếng cho kín để khỏi lộ lá bài tẩy trên tay trong canh bạc ngoại giao này. Cả hai bên đều lừa bịp lẫn nhau và đều cùng biết như vậy, mặc dù chưa lấy làm chắc chắn lắm, cả hai đều nghi kỵ nhau chẳng chừa một cái gì và trong khi ấy thì vẫn cần đến nhau, Aleksandr nhận xét Napoléon là người cực kỳ thông minh; Napoléon phục cái tinh tế và cái sắc sảo, mánh lới trong ngoại giao của Aleksandr: “Thật là một người Hy Lạp chính cống của đế quốc La Mã suy tàn”, đó là lời Hoàng Đế Pháp nói về Nga Hoàng. Vì vậy mà ngày 27 tháng 9 năm 1808, vừa gặp nhau ở Erfurt, cả hai thân thiết ôm chầm lấy nhau, hôn nhau giữa công chúng và cư xử với nhau như vậy ròng rã liền hai tuần lễ không rời nhau, ngày ngày sóng đôi đi duyệt đội ngũ, đi diễu, nhảy múa, tiệc tùng, xem hát, đi săn và cưỡi ngựa dạo mát. Mục đích chính của những cái hôn và ôm vai bá cổ ấy là để bàn dân thiên hạ phải biết đến chúng, chứ nếu như người Áo mà không biết đến thì dưới con mắt Napoléon, những trò ấy ắt sẽ chẳng còn thú vị gì nữa, và đối với Aleksandr, nếu nhưng người Thổ Nhĩ Kỳ mà không được tin về những trò ấy thì ắt là chúng sẽ trở thành trơ trẽn khó coi.

Suốt trong một năm trời, kể từ Tilsit đến Erfurt, Aleksandr chắc mẩm là Napoléon đã chỉ nghĩ đến việc mê hoặc Aleksandr bằng cách hứa cho Aleksandr “Phương Đông”, còn Napoléon sẽ chiếm “Phương Tây”; rõ ràng là Napoléon không cho Nga Hoàng chinh phục Constantinople. Napoléon cũng sẽ chẳng chịu nhả cho Nga Hoàng xứ Moldavia và xứ Valonta dự định để cho quân Thổ. Mặt khác, Nga Hoàng còn thấy là sau 12 tháng tròn, kể từ sau trận Tilsit, Napoléon còn vẫn chưa cho rút quân ra khỏi phần đất đai của nước Phổ mà Napoléon đã trả lại cho Frederick Wilhelm. Còn về phần Napoléon, chừng nào mà ông ta chưa thanh toán được cuộc chiến tranh du kích đang cháy bùng bùng ở Tây Ban Nha, thì điều cốt tử chỉ là ngăn chặn không cho Áo chiến tranh chống lại Pháp. Và để giúp sức cho Napoléon trong việc đó, Aleksandr phải cam kết hành động tích cực chống lại Áo, nếu như Áo quyết định khai chiến. Nhưng đúng lúc này thì Aleksandr lại không muốn cam kết quá dứt khoát như vậy và cũng không muốn thực hiện lời cam kết đó. Napoléon đã sẵn sàng công nhận trước sự giúp đỡ quân sự của nước Nga bằng cách cho Aleksandr miền đất đai từ Galixine đến dãy núi Karpat. Về sau này, các vị đại biểu xuất sắc của phong trào dân tộc Slavia và của trường Nghiên Cứu Lịch Sử Phong Trào Yêu Nước và dân tộc Nga có chê trách thậm tệ Aleksandr là đã không chấp nhận những đề nghị của Napoléon và đã bỏ lỡ một cơ hội không bao giờ có lại được nữa. Nhưng Aleksandr, sau những sự cố gắng chống lại một cách yếu ớt, đã phải nhượng bộ trước trào lưu mạnh mẽ đang chiếm ưu thế trong giai cấp quý tộc Nga. Và quý tộc Nga thấy rằng việc liên minh với Napoléon, kẻ đã hai lần chiến thắng quân đội Nga (1805 và 1807), không những là sự nhục nhã (điều này có thể bỏ qua được) mà còn là một sự suy vong. Nhiều bức thư nặc danh gửi đến nhắc lại cho Aleksandr cái chết của Hoàng Đế Pavel - bố Aleksandr, người cũng đã kết giao với Napoléon - đã như một bằng cớ hiển nhiên tác động đến Aleksandr.

Tuy vậy, Aleksandr sợ Napoléon và không đời nào muốn cắt đứt quan hệ với Napoléon. Muốn trừng phạt Thụy Điển về việc đã liên minh với Anh, Napoléon xúi giục Aleksandr và Aleksandr đã khai chiến với Thụy Điển từ tháng 2 năm 1808 và cướp của Thụy Điển toàn bộ nước Phần Lan cho đến sông Tornio để sáp nhập vào nước Nga. Aleksandr biết rằng dù làm như vậy cũng vẫn chưa tước bỏ được sự bực tức và nỗi lo lắng của bọn đại địa chủ vì bọn này đặt túi bạc của chúng cao hơn nhiều so với việc bành trướng đất đai của quốc gia trên những miền tuyết phủ hoàng vu ở phía Bắc. Dẫu sao việc thu phục được Phần Lan cũng giúp cho Aleksandr có bằng chứng mới để bênh vực lập luận: Cắt đứt ngay tức khắc quan hệ với Napoléon là nguy hiểm và bất lợi.

Lần đầu tiên Talleyrand phản bội Napoléon ở Erfurt bằng cách bí mật hội kiến khuyên Aleksandr chống lại bá quyền Napoléon. Sau này, để biện bạch cho hành động của mình. Talleyrand rói rằng vì lo nghĩ đến vận mệnh của nước Pháp sau này sẽ ra sao mà phải làm như vậy, nước Pháp sẽ diệt vong vì lòng tham lam vô độ của Napoléon. “Nhân dân Pháp văn minh nhưng ông vua của nhân dân Pháp lại không văn minh. Ông vua của nước Nga là đồng minh của nhân dân Pháp” đó là câu nói xu nịnh mà tay bợm già Talleyrand mở đầu cho cuộc mật đàm với Nga Hoàng.

Người ta nói về Talleyrand rằng, suốt đời hắn, “ai mua hắn, hắn cũng bán”. Trong đời hắn, hắn đã bán Viện Đốc Chính cho Napoléon, và ở Erfurt hắn bán Napoléon cho Aleksandr. Sau này, hắn lại bán Aleksandr cho người Anh. Nếu Talleyrand đã không bán người Anh cho ai cả thì đó là vì người Anh là những người duy nhất không mua Talleyrand, mặc dù Talleyrand tự bán mình bằng giá rất phải chăng. Ở đây, không có điều kiện đi sâu vào những động cơ của Talleyrand (sau này đã nhận tiền của Aleksandr, tuy rằng ít hơn số tiền hắn ta mong muốn) nhưng cần phải nhấn mạnh hai điểm sau đây: Trước hết là từ năm 1808, Talleyrand đã nhìn thấy rõ hơn ai hết cái gì đã làm cho nhiều Thống Chế và nhiều triều thần cao cấp ít nhiều hoang mang, sợ hãi; hai là Aleksandr đã nhận thấy đế quốc của Napoléon không thể vĩnh viễn vững vàng như cái bề ngoài hiện nay của nó. Aleksandr đã phản đối những điều kiện của Napoléon về việc nước Nga hành động quân sự chống lại nước Áo trong trường hợp một cuộc chiến tranh mới xảy ra giữa Áo và Pháp. Trong một cuộc bàn luận về vấn đề ấy, khi Napoléon vứt mũ xuống đất rồi lấy chân xéo lên một cách điên khùng, Aleksandr đã trả lời sự cáu kỉnh ấy của Napoléon: “Ngài là người cường bạo, tôi là người cứng đầu... chúng ta thảo luận, phân tích với nhau, nếu không tôi đi đây”.

Về hình thức thì cuộc liên minh vẫn tồn tại, nhưng từ nay trở đi Napoléon không thể trông cậy vào nó được nữa. Ở Nga, người ta chờ đợi với tâm trạng lo âu ghê gớm xem cuộc hội đàm ở Erfurt có kết thúc thắng lợi không: Liệu Napoléon có bắt giữ Aleksandr như trước đây bốn tháng đã bắt bọn Bourbon Tây Ban Nha ở Bayonne không. Khi Nga Hoàng từ Erfurt quay trở về với nỗi buồn bực thì vị lão tướng người Phổ đã thành thật nói rằng: “Tâu Bệ Hạ không ai còn hy vọng rằng hắn lại để Bệ Hạ trở về”. Bề ngoài mà nói, mọi việc xem ra tốt đẹp hơn: Suốt trong quá trình hội đàm ở Erfurt, vua chúa các nước chư hầu và các vương quốc khác, họp thành đoàn tuỳ tùng của Napoléon, đều say sưa mê mẩn vì cái tình hữu nghị chân thành đã liên kết Hoàng Đế với Nga Hoàng. Nhưng sau khi cáo biệt Aleksandr, Napoléon buồn rầu ủ rũ. Ông ta biết rằng vua chúa các nước chư hầu không tin là cuộc liên minh đó vững bền và cả nước Áo cũng chẳng tin tưởng gì. Do đó, cần phải kết thúc vấn đề Tây Ban Nha càng sớm càng hay.

4

Đã có ở Tây Ban Nha 100.000 quân nhưng Napoléon còn ra lệnh khẩn cấp đưa thêm sang 150.000 quân nữa. Cuộc nổi dậy của nông dân ngày càng chiếm được lợi thế. Những danh từ Tây Ban Nha “du kích”, “cuộc chiến tranh nhỏ” không diễn đạt được hết ý nghĩa của sự việc đã diễn biến. Cuộc chiến tranh chống lại nông dân và thợ thủ công, chống lại những người chăn cừu và chăn lừa ngựa này đã làm cho ông Hoàng Đế Pháp phải lo âu nặng nề hơn các chiến dịch khác. Sau cuộc hàng phục nhục nhã của nước Phổ, cuộc kháng chiến ác liệt của Tây Ban Nha tỏ ra đặc biệt kỳ lạ và bất ngờ, nhưng tuy vậy Napoléon vẫn không phỏng đoán được đám cháy ấy ở Tây Ban Nha. Đối với tướng Bonaparte thì chuyện ấy còn có thể làm cho ông ta tỉnh ngộ ra được, nhưng đối với ông Hoàng Đế Napoléon, kẻ chinh phục cả Châu Âu, thì “cuộc nổi loạn của bọn khố rách áo ôm” đó chẳng thể gây được chút ảnh hưởng gì.

Không tin chắc vào sự giúp đỡ của Aleksandr và hầu như tin rằng nước Áo sẽ chống lại mình, nên cuối cùng mùa thu năm 1808, Napoléon hối hả sang Tây Ban Nha với lòng căm giận sôi sục nghĩa quân Tây Ban Nha, những người “quê kệch” nhớp nhúa, dốt nát và phiến loạn. Trong lúc ấy, quân Anh cũng vừa hoàn thành cuộc đổ bộ và quét sạch quân Pháp khỏi Lisbon. Bồ Đào Nha không còn là căn cứ của Pháp nữa mà là của Anh. Quân Pháp chỉ còn giữ được từ phía Bắc Tây Ban Nha đến sông Ebro, còn các nơi khác thì hầu như không còn quân Pháp. Tây Ban Nha đã có một quân đội trang bị bằng súng của Anh. Napoléon tiến công đội quân đó. Ở Burgos, ngày 10 tháng 11 năm 1808, Napoléon đã giáng cho quân Tây Ban Nha một trận thua khủng khiếp; sau hai trận nữa đánh vào các ngày tiếp theo, quân đội Tây Ban Nha dường như bị tiêu diệt hoàn toàn. Madrid có một lực lượng hùng hậu phòng giữ bị Napoléon tiến công ngày 30 tháng 11. Cũng nên nói thêm rằng, để chinh phục Tây Ban Nha, trong số quân mà Napoléon đưa sang có “đội quân Ba Lan” do Napoléon thành lập năm 1807, sau khi đã chiếm được Ba Lan. Theo lệnh Napoléon, quân Ba Lan điên cuồng chém giết người Tây Ban Nha, họ chẳng nghĩ ngợi gì về cái việc hổ nhục mà họ đương làm, nghĩa là phá hoại phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Tây Ban Nha. Napoléon nói với họ rằng còn cần phải tỏ ra xứng đáng hơn để gợi cho Napoléon cái ý muốn phục hồi nước Ba Lan, và quân Ba Lan đã cố gắng xứng đáng với tổ quốc của họ bằng cách cướp lấy tổ quốc của người Tây Ban Nha. Ngày 4 tháng 12 năm 1808, Napoléon vào Madrid. Kinh thành đón tiếp kẻ xâm lược bằng một sự im lặng như chết. Napoléon lập tức tuyên bố thiết quân luật ở Madrid và trong khắp cả nước, thiết lập các tòa án quân sự. Sau đó, ông ta tiến công quân Anh. Tướng Moore bị bại và bị giết, còn quân Pháp thì truy kích tàn quân Anh. Sự nghiệp của Tây Ban Nha xem chừng lại một lần nữa đổ vỡ. Nhưng hoàn cảnh của nhân dân khởi nghĩa càng nghiêm trọng thì cuộc kháng chiến của họ càng trở nên ác liệt.

Thành phố Zaragoza bị quân Pháp bao vây, đã cố thủ trong nhiều tháng trời. Cuối cùng, sau khi phá được ngoại vi, ngày 27 tháng Giêng năm 1809, Thống Chế Lannes đã vào được trong thành phố. Ở đó, hồi ấy đã diễn ra những chuyện chưa bao giờ thấy trong bất cứ một cuộc vây hãm nào: Mỗi một căn nhà biến thành một pháo đài: Phải gay go lắm mới chiếm được một ngôi nhà chứa xe, một chuồng ngựa, một kho chứa rượu, một kho thóc. Cuộc tàn sát khốc liệt đó đã kéo dài hàng ba tuần lễ liền trong cái thành phố đã bị chiếm nhưng luôn luôn kháng cự. Binh lính của Lannes đã chém giết tất cả, không phân biệt ai, cả đàn bà và trẻ con, nhưng đàn bà và trẻ con cũng giết lại binh lính Pháp mỗi khi thấy chúng sơ hở. Quân Pháp đã tàn sát 20.000 quân đồn trú trong thành phố và hơn 32.000 dân. Thống Chế Lannes, người kỵ binh liều mạng, không biết sợ là gì, kẻ đã tham dự nhiều trận kinh khủng nhất của Napoléon và cũng là kẻ chẳng biết thế nào là “xúc động” đã phải lấy làm kinh ngạc khi trông thấy xác chết của đàn ông, đàn bà, trẻ con ngổn ngang trong nhà, ngoài phố, ngập trong biển máu. “Cuộc chiến tranh gì vậy! Ta buộc phải giết những con người thuần phác như thế, phải giết cả những người điên! Cuộc chiến trận này sẽ chỉ mang lại sự buồn bã!”. Đó là lời của Thống Chế Lannes nói với tùy tùng, khi đi qua những đường phố ngập máu của cái thành phố chết đó.

Cuộc bao vây và hạ thành Zaragoza đã gây được một ảnh hưởng rộng lớn ở Châu Âu và đặc biệt ở nước Áo, nước Phổ và các quốc gia Đức. Sự cảm phục, sự bối rối thẹn thùng, sự hổ nhục đã khuấy động được các tâm hồn trong khi họ so sánh hành động kháng cự của người Tây Ban Nha với sự hàng phục ngoan ngoãn của người Đức. Tuy vậy, những cuộc cướp bóc và xâm lược của nền quân chủ Napoléon chẳng bao lâu đã làm cho giai cấp tư sản ở các nước bị khuất phục phản ứng. Sau khi được Napoléon đánh thức dậy, sau khi thoát khỏi các trở lực của chế độ phong kiến và đi vào con đường tự do phát triển tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản bị khuất phục ở Châu Âu, đến lượt mình, đã buộc phải đi tìm những con đường mới để thoát khỏi gọng kìm kinh tế của chính sách Napoléon. Những con đường ấy ngày càng mở rõ ra cùng với sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc chống Napoléon. Người ta đã nhìn thấy lò lửa đó lẻ tẻ bốc cháy vào những năm 1803, 1809 và 1810, nhưng đến năm 1813 thì một đám cháy dữ dội bắt đầu bùng lên ở khắp các nước đang nằm dưới ách thống trị của Napoléon.

Năm 1806 và ngay cả trước khi người Phổ bị thua trận, Napoléon đã vạch ra cần phải làm như thế nào để trả lời bất kỳ một mưu mô to nhỏ nào định làm sống lại tinh thần quật khởi dân tộc trong nhân dân Đức. Sau Tilsit, Napoléon cho rằng đã có thể hành động hoàn toàn theo ý của mình không những ở Bavaria hoặc ở các quốc gia thuộc Liên Bang Sông Rhine, mà còn cả ở Hamburg, Danzig, Königsberg, Breslau và nói chung ở khắp nước Đức. Napoléon không biết rằng ở Berlin, Fichte đã lồng vào trong các bài giảng nhiều câu ái quốc bóng bẩy, không biết rằng trong các trường đại học Đức, các hội sinh viên được thành lập, tuy rằng ở đó người ta chưa dám công khai nói đến cuộc nổi dậy chống lại tên bạo chúa của hoàn cầu, nhưng đã bí mật gây được một mối căm thù sâu sắc chống lại y.

Napoléon đã không tính đến sự thật là nếu như giai cấp tư sản Đức ở các nước chư hầu hài lòng về việc du nhập Bộ Luật Napoléon vào Đức, về việc phá bỏ chế độ phong kiến, thì họ cũng thấy rằng họ đã phải trả những cái ơn ấy bằng những cái giá quá đắt so với việc họ phải chịu đựng ách chính trị và tài chính của nước Pháp, dính liền với khoản “thuế máu” dưới hình thức những cuộc trưng binh để bổ sung cho đội ngũ đại quân. Đó là những điều mà Napoléon không biết và cũng không muốn biết. Theo lời một nhà quan sát thì ở Erfurt, các vua chúa Đức, các nhà quý tộc người Đức và vợ họ đã có thái độ như những đày tớ con đòi của một tên chúa đất nóng nảy nhưng cũng có thể nới tay nếu người ta biết hôn lên tay hắn đúng lúc. Nhà thi hào bậc nhất của nước Đức, Goethe, đã xin yết kiến và cuối cùng khi tiếp Goethe ở Erfurt, Napoléon quên cả mời nhà văn lão thành ngồi và tỏ ý tán thưởng tập thơ Werther thì Goethe đã rất đỗi vui mừng. Nói tóm lại, hồi ấy các tầng lớp trên người Đức, những tầng lớp duy nhất mà Napoléon có quan hệ gần gũi đã không có một chút phản đối nào. Nhân dân im lặng và phục tùng. Nhưng trái lại, những tin tức ở Áo thì lại càng thêm khẩn cấp.

Ở Áo, người ta cho rằng lần này Napoléon chỉ có thể đánh được bằng một tay, vì tay kia còn phải chống đỡ cái gánh nặng khủng khiếp của cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha. Ở Áo, người ta biết rằng dù thế nào Napoléon cũng sẽ không bỏ Tây Ban Nha, biết rằng như vậy thì không phải chỉ là ý muốn riêng của một kẻ chuyên chế mà trong đó còn có vấn đề khác và biết rằng Napoléon đã bị sa lầy lâu ở đấy. Hơn nữa, người ta còn biết được nguyên nhân của sự việc đó. Vào lúc ấy, cuộc phong tỏa lục địa luôn luôn được tăng cường bằng những đạo luật bổ sung, bằng nhiều biện pháp cảnh sát và bằng nhiều hoạt động chính trị mới của Hoàng Đế Pháp. Từ bỏ bán đảo Tây Ban Nha khi quân Anh vừa mới đặt chân lên, chính là từ bỏ cuộc phong tỏa lục địa, nghĩa là từ bỏ nội dung căn bản của toàn bộ đường lối Napoléon.

5

Sự phản bội, hoặc ít ra là nghi ngờ phản bội của Talleyrand vụ lợi và của tên mật thám Fouché, nghĩa là của hai kẻ ti tiện ấy, theo ý Napoléon, thật ra không làm cho Napoléon bận lòng bằng viễn cảnh của cuộc chiến tranh với nước Áo. Nhưng cũng phải tính đến sự việc đó, và tháng Giêng năm 1809, sau khi giao Tây Ban Nha cho các Thống Chế và đặt Tây Ban Nha dưới quyền anh mình là vua Joseph, Napoléon quay trở lại Paris. Thật ra, không có Napoléon thì khả năng quân sự của các Thống Chế cũng giảm đi mất một nửa, nhưng còn Joseph thì dù có mặt Napoléon hay không, Joseph cũng vẫn chẳng có giá trị gì. Về đến Paris, Napoléon ra lệnh cho triều thần và các Bộ Trưởng họp ở Tuileries và ngày 28 tháng Giêng năm 1809, Napoléon liền gọi Talleyrand đến để xỉ vả. Napoléon mở đầu màn kịch đó, đến nay còn nổi tiếng, bằng cách quát tháo với Talleyrand: “Đồ ăn cắp! Anh là một thằng ăn cắp! Anh là thằng hèn hạ, không ai tin cậy được; anh không tin ở Chúa; suốt đời anh không làm tròn bổn phận; anh đã lừa dối phản bội mọi người; đối với anh không có cái gì thiêng liêng cả; có lẽ anh sẽ bán cả bố anh... Tại sao tôi lại không cho treo cổ anh ở quảng trường Carousel? Nhưng mà còn thời gian chán! Này! Talleyrand, thực chất anh là cục cứt...”. Tất nhiên là Napoléon không biết hết tất cả sự phản bội của Talleyrand (bị cách chức từ năm 1807), mà mới chỉ biết được phần nào nếu không thì Napoléon đã cho xử bắn Talleyrand ngay lúc ấy. Nhưng Napoléon còn nhiều việc khác phải làm hơn là khám phá những âm mưu của con người xấu xa đến tận xương tủy đó. Cuộc chiến tranh với nước Áo đe dọa, ám ảnh Napoléon.

Ở nước Tây Ban Nha vừa mới bị đè bẹp bởi những trận chiến nặng nề ác liệt, ngọn lửa khởi nghĩa ở nông thôn và thành thị lại bùng cháy khắp nơi để không bao giờ tắt nữa. Cả một dân tộc - khi ẩn khi hiện, dai dẳng tưởng như ở trong lòng đất nhô lên để rồi lại biến xuống - tiếp tục giam chân ở Tây Ban Nha một nửa quân số của đại quân, gồm 300.000 người của những binh đoàn tinh nhuệ nhất của Napoléon. Nhưng Hoàng Đế đã vội vã đưa ra chiến trường nửa còn lại để đương đầu với Áo trong một chiến dịch mới và gian khổ. Một cuộc trưng binh trước kỳ hạn ở Pháp đã cung cấp cho Napoléon 100.000 tân binh. Ngoài ra, Napoléon còn hạ lệnh cho các nước chư hầu Đức nộp 100.000 lính, và họ đã lặng lẽ thi hành. Rồi Napoléon tuyển lựa hơn 110.000 cựu binh có thể đặc biệt trông cậy được, và đã gửi sang Ý 70.000, vì cũng phải phòng ngừa quân Áo tiến công mặt này.

Như vậy là vào mùa xuân năm 1809, Napoléon điều động gần 300.000 quân để đối phó với Áo. Nhưng Áo cũng đã tập hợp tất cả lực lượng của mình. Triều đình Vienna, đại quý tộc, trung quý tộc - những kẻ khởi xướng cuộc chiến tranh này đều nhất trí: Lần này, ngay cả quý tộc Hung cũng tỏ lòng hoàn toàn trung thành với “nhà vua”. Thật ra, vấn đề là bênh vực và củng cố quyền lợi thiêng liêng chung: Chế độ nông nô mà diện tích đã bị thu hẹp lại rất nhiều trên bản đồ, và về phương diện chính trị, đã bị ba cuộc chiến tranh thảm hại năm 1796 - 1797, năm 1800 và năm 1805 làm lung lay mạnh, và ba cuộc chiến tranh này đã mang lại cho nước Pháp những vùng đất đai đẹp đẽ nhất của dòng họ Habsburg. Ở Bohème, trừ giai cấp tư sản công nghiệp, có lợi trong cuộc phong tỏa lục địa, là tương đối bàng quan đối với nền quân chủ của nước Áo, còn giai cấp tư sản thương mại và quần chúng tiêu thụ thì bị thiệt hại vì Đạo Luật Berlin. Chính vì lẽ đó mà cuộc chiến tranh do triều đình Áo tiến hành vào năm 1809 có tính chất nhân dân hơn cả ba cuộc chiến tranh trước đây với Napoléon. Ở Áo và Đức, bằng đủ cách người ta nhắc đi nhắc lại: “Rồi thì ánh mặt trời sẽ chiếu về phía Tây Ban Nha”.

Toàn thế giới nín hơi chờ đợi. Napoléon cùng ba Thống Chế xuất sắc nhất là Davout, Masséna và Lannes, đã sẵn sàng chiến đấu. Napoléon đợi nước Áo “tiến công” trước, vì như vậy là Áo sẽ cung cấp thêm cho Napoléon một luận chứng nữa trong cuộc đàm luận quan trọng với Aleksandr đã bắt đầu ở Erfurt nhưng vẫn còn chưa đi đến kết luận: Napoléon vẫn còn hy vọng nước Nga sẽ tiến đánh nước Áo.

Ngày 14 tháng 4 năm 1809, Đại Công Tước Charles, viên tướng xuất sắc nhất của nước Áo, tiến vào Bavaria. Napoléon bắt đầu vào cuộc chiến và tin chắc trong vòng hai tháng sẽ buộc Áo phải hạ khí giới, và lúc đó, nếu thấy cần thiết Napoléon sẽ lại sang Tây Ban Nha. Thật ra Napoléon ít trông cậy vào số 100.000 lính Đức, những người lính bất đắc dĩ, đã chiếm một phần ba quân số của Napoléon. Napoléon biết rằng những đội quân vô cùng tinh nhuệ, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu thì còn đang đóng ở Tây Ban Nha, và số lính lão luyện của quân đội Pháp đã bị thiệt hại ở đó bao nhiêu mà kể. Nhưng không phải chỉ có một mình Napoléon biết điều đó. Lần này quân Áo chiến đấu với tinh thần dũng cảm và kiên cường. Trận đánh lớn đầu tiên xảy ra ở gần Abensberg thuộc xứ Bavaria. Quân Áo bị đánh tan mất hơn 13.000 người. Họ chiến đấu không kém phần dũng cảm, còn dũng cảm hơn cả trận Arcole, Marengo, Austerlitz. Trận thứ hai ở Eckmühl vào ngày 22 tháng 4 cũng kết thúc bằng thắng lợi của Napoléon. Đại Công Tước Charles bị đánh bật khỏi bên kia sông Danube và bị tổn thất nặng nề. Ở đó, Thống Chế Lannes sau khi hoàn thành cuộc hành binh của mình liền xung phong vào Ratisbon. Napoléon chỉ huy vây thành, đã bị thương ở chân trong khi tác chiến. Người ta tháo ủng cho Hoàng Đế, băng vội vết thương, và Hoàng Đế đã lên ngựa ngay, nghiêm cấm không cho ai được nói đến vết thương để binh lính khỏi hoang mang. Khi bước vào thành phố đã chiếm được, Napoléon vẫy chào các đơn vị đang hoan hô đứng đón, vừa mỉm cười để che giấu sự đau đớn kinh khủng của mình. Hai trận Eckmühl và Ratisbon đã làm cho quân Áo bị thiệt mất 50.000 người nữa vừa chết vừa bị thương, bị bắt làm tù binh hoặc mất tích. Trong năm ngày, Napoléon đã thắng được năm trận đẫm máu.

Tiếp tục truy kích quân của Đại Công Tước Charles đang rút chạy bên kia sông Danube, đến Ebersberg, Napoléon đã đuổi kịp, giao chiến và lại đánh bại Charles lần nữa. Napoléon đốt thành phố và một phần nhân dân (người Áo quả quyết là một nửa số dân) trong thành bị thiêu chết. “Chúng tôi đi giữa một vùng đầy mùi thịt người nướng”, đó là lời tướng Savary, công tước vùng Rovigo, khi báo cáo về việc kỵ binh Pháp đi qua Ebersberg hoang tàn. Vó ngựa ngập trong đống lầy nhầy ghê tởm lênh láng khắp đường phố. Đó là vào ngày 3 tháng 5. Ngày 8, Napoléon lại nằm trong hoàng cung Schönbrunn như hồi năm 1805, và đến ngày 13, thị trưởng thành Vienna lại đem nộp kinh thành Áo cho Hoàng Đế. Chiến dịch có vẻ như kết thúc. Nhưng Charles, sau khi bảo toàn được bộ đội của mình, đã có đủ thời gian chuyển quân vượt qua cầu ở Vienna sang tả ngạn sông Danube rồi cho đốt cầu. Lúc ấy Napoléon quyết định phải cố gắng tiến hành một cuộc hành binh khó khăn nhất. Cách bờ phía thành Vienna (hữu ngạn) chừng nửa km có một bãi cát trên sông Danube nối liền với đảo Löbau. Nhận định rằng từ hòn đảo đó, quân đội của mình có thể dễ dàng vượt qua nhánh sông hẹp ngăn cách Löbau với tả ngạn sông Danube (ở phía Bắc), Napoléon quyết định bắc một chiếc cầu bằng thuyền đến bãi cát ấy và cho chủ lực vượt qua, với những đội ngũ thưa thớt, vì đã tổn thất trong chiến đấu và vì phải để lại phòng giữ ở dọc đường. Cuộc vượt sông sang đảo Löbau đã được thực hiện ngày 17 tháng 5. Sau đó Napoléon lại bắc một chiếc cầu bằng thuyền nữa để nối liền đảo với bờ tả. Quân đoàn của Lannes vượt qua cầu đầu tiên, tiếp theo là quân đoàn của Masséna, và hai Thống Chế chiếm lấy hai cái làng nhỏ (Aspern và Essling) ở ven sông. Nhưng tức khắc, hai quân đoàn trên và những đơn vị khác của quân Pháp đi theo sau bị Đại Công Tước Charles đột kích. Một trận chiến đấu ác liệt xảy ra; và trong khi Lannes, cùng với đội kỵ binh của mình xông vào chém giết quân Áo đang rút lui rất trật tự thì chiếc cầu nối bờ hữu ngạn (bên thành Vienna) với đảo bị gãy và đột nhiên quân Pháp không nhận được đạn dược, mới rồi vẫn còn liên tục tiếp tế đến cho họ. Napoléon ra lệnh cho Lannes vừa đánh vừa rút lui ngay lập tức, và đã bị tổn thất nặng nề. Trong khi tác chiến, Lannes bị trúng đạn gãy xương và cụt gần hết hai chân. Lannes chết trong tay Napoléon và trong khoé mắt của ông, người ta thấy lần này là lần thứ hai ướt lệ.

Quân Pháp rút về đảo Löbau, mặc dù Napoléon tự an ủi trong tư tưởng là trận này quân Pháp chỉ mất có 10.000 người cả thảy (thật ra hơn thế nhiều) và Đại Công Tước Charles mất 35.000 (thực tế chỉ chừng 27.000), nhưng sự thất bại và sự rút chạy lần này thật quá rõ ràng. Việc này xảy ra ngày 21 và 22 tháng 5.

Triều đình và chính phủ Áo xiết bao vui mừng, chuẩn bị trở về kinh thành mà họ vừa mới bỏ chạy. Chẳng hề khoe khoang về thắng lợi của mình, Đại Công Tước Charles, viên tướng tài năng và phẩm cách đứng đắn, bực dọc về những sự quá trớn ấy của triều đình. Nhưng dù sao đi nữa, đó cũng không phải cuộc giải vây thành Acre vào năm 1799 và cũng không phải là trận Eylau hồi năm 1807. Cuộc thử thách lần thứ ba của Napoléon còn nặng nề hơn, sự thất bại còn rõ rệt hơn. Napoléon biết rằng ở Đức, viên thiếu tá người Phổ là Sin bỗng nhiên cùng với trung đoàn kỵ binh của mình chống lại quân Pháp bằng một thứ chiến tranh du kích; rằng Andrea Hope, người nông dân vùng Tyrol, cũng tiến hành một cuộc chiến tranh tương tự ở vùng núi Tyrol; rằng tình hình ở Ý chẳng yên ổn chút nào, và ở Tây Ban Nha - mặc dù Napoléon đã để lại chừng 300.000 quân, gồm những binh đoàn tinh nhuệ nhất của đại quân - cuộc chiến tranh khủng khiếp lại bắt đầu ác liệt gấp bội. Tin tức về trận Essling mà Hoàng Đế đã bị bắt và bị giam ở đảo Löbau (ở Châu Âu nhân dân kể chuyện lại như vậy, lấy ý muốn của mình làm hiện thực), đã gây khí thế mới cho những chiến sĩ đang nổi lên ở khắp mọi nơi.

 

Tuy vậy, Napoléon vẫn giữ được bình tĩnh và can đảm. Hình như trong trận thử thách khủng khiếp ấy, nỗi đau xót duy nhất của Napoléon có lẽ cái chết của Thống Chế Lannes, chứ tuyệt nhiên không phải là sự thất bại của cuộc chiến đấu. Napoléon biết rằng quân Áo bị một đòn nặng ở Essling và trong đợt đầu của chiến dịch, trước chiến dịch Vienna, quân Áo mất hơn 50.000 quân, gấp bội quân Pháp và trong khi tăng cường bổ sung quân đội, vạch kế hoạch tác chiến mới và trong khi chăm chú đọc các báo cáo từ khắp nơi trong các nước chư hầu gửi tới hàng ngày, Napoléon đặc biệt chú ý đến tất cả các thành phần binh chủng. Napoléon nghe với vẻ tò mò việc Giáo Hoàng Pius VII và các Hồng Y giáo chủ đã giảng rằng trận Essling là một hình phạt của Chúa Trời giáng xuống kẻ đi áp bức hoàn cầu, kẻ cường bạo, kẻ xúc phạm và ngược đãi Giáo Hội. Mặc dù phải lo lắng nhiều việc, Napoléon cũng không quên việc đó và ghi nhớ hành động ấy của người thay mặt đức Chúa Trời trên trái đất. Suốt mùa hè năm 1809, nhiều tin dữ từ nước Anh bay đến tai Hoàng Đế rằng ở Anh người ta đang chuẩn bị một đội quân viễn chinh nhằm mở một hướng phụ ở phía Bắc nước Bỉ. 40.000 lính và 30.000 thủy binh tham gia cuộc đổ bộ lên đảo Vanreuse.

Quân Anh đã chiếm được Flesinger trong ít lâu, nhưng sự chiếm đóng này cuối cùng bị thất bại và quân Anh đã bị đánh nên thân, buộc phải trương buồm kéo quân về nước. Napoléon chạy đi chạy lại giữa Vienna, Schönbrunn và đảo Löbau. Napoléon liền gây cho binh sĩ niềm tin tưởng vào thắng lợi sắp tới: Vào trung tuần tháng 6, quân đội được nghỉ ngơi và tăng cường, đảo Löbau được xây dựng kiên cố đặc biệt. Hoàng Đế hoàn toàn tin chắc là Đại Công Tước Charles trong suốt thời gian này không hoạt động gì, nay thực sự không còn khả năng chủ động tiến công, và giờ đây việc phát lệnh trận đánh quyết định mọi việc là tuỳ thuộc vào Napoléon.

Sau khi kiểm tra lần cuối cùng các công việc chuẩn bị khẩn cấp về mặt quân sự, Napoléon chỉ còn có mấy ngày để nghỉ ngơi, nhưng trước hết đã dành để lo việc Giáo Hoàng Pius VII sau này phải đền nợ một cách đau đớn về sự minh mẫn, và trước hết, về sự hấp tấp cho rằng kết quả của trận Essling là do sự phán xét của Thượng Đế. Mà cũng vì vậy nên ngày 17 tháng 5 năm 1809, trước trận này, Napoléon đã ra sắc lệnh sáp nhập thành phố Roma và tất cả những vùng đất đai thuộc Tòa Thánh vào đế quốc Pháp. “Ban hành tại bản doanh của Hoàng Đế ở Vienna, Napoléon “. Đó là câu kết thúc cái sắc lệnh tước của Giáo Hoàng những vùng đất đai mà Giáo Hoàng đã chiếm giữ theo cái đạo luật nổi tiếng cũng như theo truyền thuyết thừa hưởng “tặng vật của Chúa Trời ban” do các Giáo Hoàng thời trung cổ đã chế tạo ra và coi như chẳng phải do Hoàng Đế Constantine đã ban tặng cho Giáo Hoàng Sylvester đệ nhất, vào đầu thế kỷ thứ IV.

Ngay sau khi vừa ban hành sắc lệnh đó, quân đội Pháp chiếm đóng hẳn Roma vào ngày 10 tháng 6 và Tòa Thánh bị mất tất cả những cái đã có từ 1.500 năm nay. Pius VII bị áp giải về Xavon, trên bờ biển thuộc vịnh Genoa ở Ý. Vừa giải quyết xong việc Giáo Hoàng, Napoléon liền tiến hành nốt những công việc chuẩn bị cuối cùng về quân sự. Ngày 2, 3 và 4 tháng 7, Hoàng Đế điều đến đảo Löbau nhiều quân đoàn mới với hơn 550 cỗ pháo. Ngày 5 tháng 7, Napoléon ra lệnh bắt đầu vượt sông sang bờ tả ngạn. Quân đoàn MacDonald cũng được điều từ nước Ý tới nhập vào đội quân đã được tăng cường của Napoléon. Trận đánh ngày 5 tháng 7 năm 1809 đã bắt đầu không như Đại Công Tước Charles đã dự kiến và cũng không xảy ra đúng nơi mà ông ta phán đoán. Không bao giờ hành động như kẻ địch dự tính: Napoléon lấy đó làm nguyên tắc hành động tuyệt đối. Quân Pháp có vào khoảng từ 550 đến 560 khẩu pháo, quân Áo có trên 500 khẩu, và pháo binh của cả hai bên đều đầy đủ đạn dược. Cuộc vượt sông Danube tiến hành với một trật tự hoàn hảo. Trong trận chiến đấu này, một trong những trận ác liệt nhất, những phút nguy kịch đối với Napoléon đã xảy ra vào ngày 5 và đặc biệt là ngày 6.

Napoléon ở vào giữa trận đánh: Các Thống Chế Davout, MacDonald, Masséna, tướng Drouot, chỉ huy pháo binh, đã hành động chính xác ít thấy trong những cuộc giáp chiến khổng lồ như vậy. Sau một đợt pháo khủng khiếp, “mũi MacDonald”, gồm 26 tiểu đoàn dàn thành một hình vuông mỗi bề 1.000 mét, phá vỡ được khu trung tâm của quân Áo, mặc dù đã bị thiệt hại rất lớn. Các đội dự bị tiến theo sau. Xa hơn nữa, ở phía Bắc, Davout, nhận chỉ thị của Hoàng Đế lấy làng Wagram nằm ở trên các điểm cao làm mục tiêu, đã cường tập chiếm được Wagram, và thế là quyết định sự thất bại của toàn bộ quân đội Áo. Đến tối ngày 6 tháng 7 năm 1809, tất cả đã kết thúc. Quân Áo bị đánh bật ra khỏi các vị trí của mình, nhưng toàn quân không bị rối loạn, có một bộ phận quân đội đã rút lui một cách trật tự. Sự thất bại của quân Áo ở Wagram không kém phần khủng khiếp, cũng không kém nặng nề hơn trận Austerlitz; ngày thứ hai, quân Áo mất chừng 37.000 người vừa bị chết, bị thương và bị bắt. Mặc dù quân Pháp bị thiệt hại ít hơn bên bại trận, nhưng tổn thất của họ cũng rất lớn. Thắng lợi phải trả bằng giá rất đắt.

Cuộc truy kích quân Áo bại trận kéo dài gần hết tuần lễ sau. Napoléon tung kỵ binh rượt theo tàn quân Áo, và cuối cùng đã đánh họ tan tác từng mảnh. Vào đến thành Znaim, ngày 11 tháng 7, Napoléon được báo là hoàng thân Liechtenstein, hầu cận của Hoàng Đế Francis vừa mới tới xin yết kiến. Hoàng Đế Áo đề nghị đình chiến. Napoléon chấp thuận với những điều kiện nghiệt ngã: Chừng nào hòa ước chưa ký xong thì trên tất cả những nơi thuộc đất Áo, mà lúc ngừng bắn dẫu chỉ có một phân đội nhỏ của quân Pháp đã lọt vào, quân Áo đều phải rút đi hết và giao lại cho quân Pháp để làm tin. Liechtenstein chấp thuận tất cả.

Các cuộc đàm phán bắt đầu tiến hành. Hoàng Đế Francis mất tinh thần, nguyền rủa những kẻ trong suốt một năm rưỡi trời đã xúi Hoàng Đế gây nên cuộc chiến tranh khủng khiếp này, cuộc chiến tranh đẫm máu không hề có ở Áo kể từ cuộc chiến tranh 30 năm[34] đến nay; do đó Francis sẵn sàng chịu đựng những sự hy sinh lớn lao. Người ta sợ hãi nhắc lại cái hình phạt mà Napoléon đã thi hành đối với Giáo Hoàng ngay trước lúc đánh trận Wagram. Vậy thì, sau trận Wagram, Napoléon sẽ làm gì nước Áo? Tham vọng của Napoléon còn nhiều gấp bội so với thời kỳ sau trận Austerlitz. Ông ta đòi nhượng lại nhiều tỉnh khác của nước Áo: Carinthia, Carniola, Istria, Triest và cả vùng Triest, một phần đất đai rộng lớn của nước Áo về phía Tây và Tây Bắc của đế quốc này, vài khoảng đất đai thuộc Tây Galicia, và một khoảng chiến phí là 134 triệu florin vàng. Người Áo đã mặc cả, kêu xin, giở ngón một cách vô ích. Kẻ chiến thắng lòng gang dạ sắt chỉ giảm số tiền chiến phí xuống 85 triệu và nhượng bộ đôi chút đáng kể về điều kiện đất đai.

Trong suốt thời gian đàm phán, Napoléon ngự ở Schönbrunn. Một sự quy phục hoàn toàn bao trùm lên thành Vienna và trên toàn cõi nước Áo bị chiếm đóng. Ngọn lửa hy vọng được khuấy động lên bởi trận Essling đã bị dập tắt ở Áo và ở Đức. Napoléon còn cho ghi vào bản dự thảo hòa ước điều khoản cấm Áo duy trì một đội quân quá 150.000 người. Hoàng Đế Francis cũng phải chấp nhận.

Ngày 12 tháng 10, Napoléon đi duyệt đội cận vệ trước cung điện Schönbrunn. Các cuộc duyệt binh đó thường vẫn thu hút được (và đặc biệt là những ngày hội) số đông công chúng ở rất xa xôi háo hức đến xem con người Napoléon, con người đã gợi ở khắp nơi một sự tò mò khao khát. Ông Hoàng Đế vui lòng cho đám đông ấy đến xem các cuộc phô trương lực lượng: Vả lại, Vienna làm Napoléon vui lòng vì sự quy phục của nó. Cuộc duyệt binh ngày 12 tháng 10 sắp kết thúc thì một thanh niên, quần áo chỉnh tề, đã lẩn được vào giữa đám kỵ mã tuỳ tùng của Hoàng Đế, và tay trái cầm lá đơn thỉnh cầu, tiến sát tới gần Hoàng Đế. Người ta bắt giữ ngay lại trước khi người thanh niên kịp rút trong túi ra một con dao dài nhọn.

Duyệt binh xong, Napoléon ngỏ ý muốn gặp người bị bắt. Đó là một anh Staps nào đó, sinh viên trường đại học Naumburg.

— Tại sao anh muốn giết ta?

— Tôi nghĩ rằng chừng nào Bệ Hạ còn sống thì tổ quốc tôi và cả thế giới sẽ không còn biết thế nào là tự do và hòa bình.

— Ai đã xúi giục anh?

— Không ai cả.

— Trong các trường đại học ở nước Anh, người ta dạy các anh như thế phải không?

— Thưa ngài, không.

— Anh muốn làm Brutus à?

Rõ ràng là người thành niên không đáp, vì sau này Napoléon nói rằng hình như anh ta không rõ lắm Brutus là ai.

— Nếu ngay bây giờ ta trả lại tự do cho anh thì anh sẽ làm gì? Anh có định giết ta nữa không?

Sau một lúc lâu im lặng, Staps đáp:

— Tôi sẽ giết, thưa ngài.

Napoléon im lặng rồi bỏ ra, suy nghĩ rất lung. Ngay tối hôm đó, Hội Đồng Quân Sự họp và ngày hôm sau Staps bị bắn. Napoléon cấm nói đến và cấm tường thuật việc ấy trên báo chí và, hai ngày sau việc ấy, ngày 14 tháng 10 năm 1809, Hoàng Đế Áo Francis đệ nhất, cuối cùng quyết định ký Hòa Ước Schönbrunn, cái hòa ước cắt xén một cách tàn nhẫn đất đai của Áo và tăng cường một cách vô hạn độ uy lực của kẻ độc tài Châu Âu.

Nước Áo đã phải trả giá cái mưu đồ tuyệt vọng và khốn khổ của mình, là quẳng cái ách của Napoléon, bằng hàng chục vạn sinh mệnh, bằng sự tàn phá của đất nước, bằng một khoản chiến phí nặng nề, bằng gần một phần ba số tỉnh giàu đẹp nhất, bằng hàng bao nhiêu triệu dân và bằng sự lệ thuộc vào kẻ chiến thắng một cách chặt chẽ, nghiệt ngã hơn.

[34] Chiến tranh 30 năm còn gọi là cuộc chiến tranh tôn giáo; nổ ra ở Bohème vào năm 1618 và đến năm 1648 thì kết thúc bằng Hòa Ước Westphalia. Trong chiến tranh này, một bên là chư hầu tôn giáo, một bên là Hoàng Đế Đức và liên minh Cựu Giáo. Đa số các nước Châu Âu đều bị lôi cuốn vào chiến tranh khiến nó trở thành cuộc đại chiến lần thứ nhất trên toàn Châu Âu. Hòa Ước Westphalia đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của Hoàng Đế Đức và thắng lợi hoàn toàn của chư hầu.

Yevgeny Viktorovich Tarle

Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nguyễn Thị Lộ và vụ án Lệ Chi Viên Nguyễn Thị Lộ (? [1] - 1442), là vợ thứ của danh thần Nguyễn Trãi và là một nữ quan nhà Lê trong lịch...