Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

Napoléon Bonaparte 3 XXXXXX

Napoléon Bonaparte 3

CHƯƠNG 11

thời kỳ cực thịnh
1

Vừa mới ký xong Hòa Ước Schönbrunn, Napoléon liền rời Vienna và trong những ngày sau đó, cũng như sau trận Ai Cập, Marengo, Austerlitz hoặc Tilsit, Napoléon chiến thắng trở về kinh thành.

Đế quốc rộng lớn mênh mông lại mở mang thêm bờ cõi, các nước chư hầu trung thành đã được khen thưởng hậu hĩ, và một vài nước ương ngạnh đã bị trừng phạt tàn nhẫn, Giáo Hoàng bị tước đoạt đất đai, nghĩa quân Tyrol bị đánh tan tành, quân du kích của thiếu tá Sin bị hội đồng quân sự Phổ xử bắn theo lệnh của Napoléon; tin từ Anh bay đến: Các thương nhân và nhà công nghiệp suy sụp, tự sát và phá sản, dân chúng bất mãn. Vậy là cuộc phong tỏa lục địa dường như đang biện hộ cho những ai đã đặt niềm hy vọng vào nó. Cái đế quốc bao gồm cả thiên hạ ấy cơ đồ đang đứng trên đỉnh cao nhất của sự rạng rỡ, uy lực, phú cường và quang vinh. Napoléon biết rằng mình đã khuất phục được Châu Âu chỉ bằng bạo lực và giữ được nó chỉ bằng cách làm cho nó sợ hãi. Nhưng nước Anh không chịu đầu hàng; Nga Hoàng thì rõ rệt là xảo quyệt, đã không giúp đỡ gì Napoléon trong cuộc chiến tranh vừa mới kết thúc đó và chỉ giả vờ gây chiến với Áo; nhân dân Tây Ban Nha, mặc dù bị thảm sát, giết chóc, vẫn không ngừng kháng cự và chiến đấu với lòng quả cảm bất khuất, và nếu như trước đây, thắng lợi Wagram, cũng như bất cứ một thắng lợi nào khác của Napoléon, đều đã không có chút ảnh hưởng gì đến họ, thì nay uy danh mỗi ngày mỗi cao lớn của kẻ chiến thắng cả thiên hạ ấy cũng chẳng làm cho họ sờn lòng. Xung quanh Napoléon có những Thống Chế tận tụy như Junot, những kẻ tham lam tài trí như Bernadotte, những kẻ phản bội thông minh, xuất thân từ giai cấp quý tộc, như Talleyrand, những kẻ phục tùng mù quáng như Savary; chỉ cần Napoléon khẽ ra hiệu là chúng sẵn sàng bắn chết ngay bố đẻ của chúng; những quan cai trị, bọn vương hầu sắt đá và hà khắc như Davout, bọn họ có thể đốt thành Paris không chút do dự nếu việc đó cần thiết cho công việc của họ; còn có cả một bầy tham lam, ngông nghênh, bất lực, gây gổ, đó là số anh chị, em của Napoléon đã được phong vương, trách phận, cấu xé lẫn nhau, và bọn họ chỉ là một mối lo âu, bực dọc thường xuyên cho ông Hoàng Đế.

Napoléon cũng như mọi người ở Pháp đều tin rằng kỷ nguyên chinh chiến còn lâu mới chấm dứt, nhưng viên đạn dành để giết Napoléon thì đã được đúc sẵn rồi. Napoléon phân định rõ được rằng ông đã làm những gì ở nước Pháp và làm những gì cho nước Pháp, đã làm gì cho những “quận cũ”[35]. Với tư cách là Hoàng Đế Phương Tây, là vua nước Ý, là người bảo vệ Liên Bang Sông Rhine. v. v... Napoléon cho rằng phần thứ nhất sự nghiệp của mình có thể vững bền được trong nhiều thế kỷ, còn phần thứ hai thì chỉ đứng vững chừng nào ông ta còn sống.

Cần phải có một triều thống, cần phải có một người kế nghiệp mà ắt hẳn Joséphine sẽ không có cho Napoléon; Napoléon cần một người vợ khác. Giờ đây, vết thương ở Ratisbonne và con dao của anh sinh viên Staps lúc nào cũng nhắc nhở Napoléon rằng tất cả những cái mà ông ta đã xây đắp hiện đang như ngàn cân treo sợi tóc, cho nên vấn đề triều thống đã trở thành chủ yếu đối với Napoléon. Những nhà viết sử người Pháp đã dành hàng trăm cuốn sách cho Joséphine, nói về cuộc đời và những chuyện tình sử, về hôn nhân, về cơn ngất của Joséphine khi lần đầu tiên Napoléon đột ngột nói rằng phải ly dị Joséphine để lấy một người khác hợp với quan niệm của Napoléon. Đối với chúng ta, mẩu chuyện này chỉ như một mắt xích trong cả chuỗi sự kiện chính trị xảy ra sau trận Wagram, và chính lý do ấy mà chúng ta sẽ chỉ kể vắn tắt.

 

Mặc dầu Joséphine hơn Napoléon sáu tuổi, nhưng trong những năm đầu ăn ở với nhau, Napoléon đã say đắm Joséphine hơn bất cứ một người đàn bà nào khác. Napoléon đã không bao giờ yêu ai như thế nữa, ngay cả đối với nữ công tước Waleska, không nói đến những phụ nữ khác mà Napoléon đã có quan hệ trong thời gian lâu dài hay ngắn ngủi. Những kể từ những năm đi chiến dịch nước Ý, 1796 và 1797, những năm mà Napoléon viết cho Joséphine những bức thư nồng cháy và đầy khát vọng say đắm, đến nay thời gian đã trôi đi nhiều. Khi được tin Joséphine bị tình dục lôi cuốn trong lúc ông vắng mặt, Napoléon đã không lìa bỏ Joséphine và dù mối tình không còn đằm thắm như xưa, Napoléon vẫn yêu Joséphine. Năm năm tháng tháng qua đi, Joséphine sống trong cảnh kính sợ chồng. Napoléon đã cấm cả Joséphine cầu cạnh ông che chở cho bất cứ một người nào, và trong khi đuổi khéo con người được Joséphine che chở, Napoléon không quên nói thêm: “Nếu Hoàng Hậu mà đã can thiệp giúp hắn thì rõ ràng hắn là kẻ chẳng làm nổi trò gì”. Napoléon ghét cả các hình thức can thiệp yếu ớt đó của nữ vào công việc của Nhà Nước và trong các công việc nói chung.

Dù cho Joséphine là con người cực kỳ phù phiếm, không thể nghĩ đến gì hơn là áo quần, kim cương, khiêu vũ và các trò du hí khác. Napoléon cũng không thấy có gì đáng chê trách. Lúc bấy giờ, trong giới thượng lưu, người ta nói rằng nếu Napoléon đã ngược đãi nữ sĩ Stael bằng đủ cách thì không phải vì những tư tưởng tự do và tinh thần chống đối của bà - lẽ ra Napoléon đã có thể tha thứ cho điều đó - mà vì bà là người thông minh và học thức, mà Napoléon lại không thể tha thứ những đức tính khó coi đó trong một người phụ nữ. Theo quan điểm ấy thì Joséphine không có điều gì làm cho Napoléon nổi giận được. Những tài liệu và những nhà viết tiểu sử đã nói đúng khi họ đồng thanh quả quyết rằng Napoléon đã quyết định ly dị với tâm trạng không vui.

“Chính trị không có tình cảm mà chỉ có lý trí”, Napoléon nói với Joséphine như vậy, vào tháng 11 năm 1809, khi việc ly dị đang tiến hành. Napoléon vẫn tiếp tục yêu Joséphine và cả hai vẫn sống chung đụng. Ngày 15 tháng 12 năm 1809, giấy ly dị được ký kết trước mặt đông đủ văn võ bá quan của đế chế và hoàng gia. Bấy giờ hai người xa nhau, nhưng những ngày sau đó, Napoléon vẫn viết cho Joséphine những lá thư trìu mến nhất gửi về Malmaison, nơi Joséphine lui về ở đó, trong toà lâu đài của Napoléon ban cho.

Giáo Hoàng được mời đến để thay mặt nhà thờ Thiên Chúa phê chuẩn việc ly dị. Đối với những loại công việc như thế, nhà thờ thường tỏ ra rất lề mề và ngang ngạnh. Nhưng những chức sắc của Toà Thánh đã đứng ra làm việc đó thay Pius VII với một tinh thần hết sức khẩn trương bởi vì kẻ thỉnh cầu là kẻ đầy quyền lực.

Hội Đồng Tư Vấn các triều thần được triệu tập cấp tốc; sau khi nghiên cứu vấn đề, Hội Đồng đã quyết định cầu xin Hoàng Đế hãy vì quyền lợi của đế chế mà lấy một người vợ khác. Số đông hoàn toàn tán thành ý kiến của Napoléon. Bởi một mặt họ mong muốn cái của cải vật chất gắn chặt với đế chế của bọn họ tồn tại vĩnh viễn dưới vương quyền của dòng họ Bonaparte, chả là họ sợ dòng họ Bourbon phục hưng và họ thấy rằng “nước Pháp mới” chỉ vững bền khi có một người trực tiếp kế thừa ngôi báu ra đời. Mặt khác, tất cả mọi người, cho đến cả kẻ phản bội Talleyrand trước kia bị ruồng bỏ, ai nấy đều mơ tưởng một sự hòa hợp mật thiết, không những về chính trị mà còn về cả triều thống của Napoléon, với một trong hai nước lớn là Áo hoặc Nga. Bọn họ coi đó là biện pháp để tạm ngừng các cuộc chiến tranh liên miên và các nỗi nguy nan không tái diễn. Một số kẻ (do Fouché đứng đầu) muốn Napoléon lấy công chúa Anna Pavlovna, em gái Hoàng Đế Aleksandr; một số kẻ khác lại ưng ý con gái Hoàng Đế Francis là công chúa Marie Louise.

Vừa ly dị xong, Napoléon đã chú ý chọn một vị hôn thê.Trong tình thế này, Napoléon đã tỏ ra có trí phán đoán nhanh chóng và tính minh bạch khác thường: Napoléon không phải phí thời gian để điểm xem công chúa nào có thể lấy làm vợ và thực tế cũng không cần phải tìm kiếm lâu la gì. Ngoài đại đế quốc Pháp ra, trên thế giới này chỉ còn có ba cường quốc xứng đáng với danh đó: Anh, Nga và Áo. Nhưng Pháp lại đang tiến hành một cuộc chiến tranh sống còn với Anh. Còn lại Nga và Áo, rõ ràng là nước Nga mạnh gấp bội nước Áo, vì Áo vừa mới bị Napoléon giáng cho một trận thua khủng khiếp trong cuộc chiến tranh chống Pháp lần thứ tư trong 13 năm trời. Vậy thì trước hết cần phải ngỏ ý với nước Nga và cầu hôn với một trong hai công chúa em gái Hoàng Đế Aleksandr. Chọn ai là chuyện rất phụ, vả lại Napoléon cũng chưa bao giờ được trông thấy mặt hai người. Nhưng triều đình Nga tức tốc gả vội Catherine Pavlovna cho George ở Đại Công Quốc Oldenburg. Đại sứ Pháp ở Peterburg lãnh trách nhiệm thăm dò Nga Hoàng về Anna, nàng công chúa còn lại.

Vào tháng 12 năm 1809 và tháng 1 năm 1810, triều đình Nga xôn xao đến cực độ. Ở Peterburg, Aleksandr đệ nhất luôn luôn nói với Caulaincourt bằng những lời phỉnh phờ rằng ông ta rất mong muốn gả Anna cho Napoléon, nhưng theo ý kiến của Hoàng Thái Hậu (Maria Feodorovna) thì Anna hãy còn trẻ quá, công chúa mới có 16 tuổi.v.v. Ở Pavlovsk, Maria Feodorovna cực lực phản đối việc kết hôn đó và một bộ phận đáng kể của triều đình Nga đã ủng hộ Maria. Năm này qua năm khác, khi cuộc phong toả lục địa ngày càng ngặt nghèo bao nhiêu thì mối căm hờn của toàn bộ giai cấp quý tộc và đặc biệt là của bọn quý tộc đại địa chủ đối với Napoléon cũng tăng lên bấy nhiêu.

Ngày 28 tháng 1 năm 1810, Napoléon triệu tập một cuộc họp trọng thể các triều thần, tại cung điện Tuileries, để thảo luận vấn đề ly dị và kết hôn mới của ông ta. Một số người trong đám triều thần - đứng đầu là quan chưởng ấn Cambacérès, vua xứ Naples Murat và Bộ Trưởng Bộ Công An Fouché - tỏ ý tán thành công chúa Anna Pavlovna, một số người khác tán thành công chúa Marie Louise, con gái Hoàng Đế Francis đệ nhất. Còn như Napoléon, tất nhiên là bực tức về thái độ lững lờ của triều đình Nga, đã tỏ rõ cho mọi người thấy là mình thiên về nàng công chúa nước Áo. Hội Đồng không đi đến một quyết nghị dứt khoát.

Chín ngày sau, người ta nhận được tin từ Peterburg gửi đến nói rằng Hoàng Thái Hậu muốn được hoãn cuộc hôn lễ của con gái với Napoléon lại ít lâu, vì lẽ Anna còn quá trẻ tuổi. Cũng cùng ngày hôm ấy, đại sứ Áo ở Paris là Metternich được mời đến để thăm dò xem liệu Hoàng Đế nước Áo có ưng thuận cho Napoléon kết hôn với con gái Hoàng Đế không. Ngay lập tức và không một chút do dự (bởi người ta đã dự kiến được hết mọi vấn đề trong khi Napoléon đang thăm dò việc hôn nhân với quận chúa Nga), Metternich tuyên bố rằng nước Áo sẵn sàng gả nàng công chúa trẻ tuổi cho Napoléon, mặc dầu từ trước đến nay chưa bao giờ người ta chính thức dạm hỏi về vấn đề ấy (vả lại, cũng không thể đặt vấn đề ấy ra được). Một cuộc hội nghị khác được nhóm họp ngay ở cung điện Tuileries, vào cùng ngày hôm đó, tức là chiều ngày 6 tháng 2 và nhất trí tán thành cuộc hôn nhân với cô công chúa Áo.

Ngày hôm sau, mồng 7 tháng 2 năm 1810, giấy giá thú đã làm xong. Công việc này không đòi hỏi gì nhiều công phu: Người ta chỉ còn việc lấy hồ sơ lưu trữ ra và sao chép lại giấy giá thú của ông vua đã trị vì nước Pháp trước Napoléon là vua Louis XVI kết hôn với Marie Antoinette cũng là công chúa nước Áo; Marie Antoinette không phải ai xa lạ chính là cô của Marie Louise, vị hôn thê của Napoléon. Giấy giá thú lập tức được gửi đến Hoàng Đế nước Áo và Hoàng Đế nước Áo phê chuẩn ngay, việc này được thông báo ở Paris vào ngày 21 tháng 2 và đến ngày 22, Thống Chế Berthier, tổng tham mưu trưởng, đã đi Vienna để đảm nhận một nhiệm vụ kỳ quặc là thay mặt chú rể, tức là thay mặt Napoléon, trong buổi hôn lễ sẽ cử hành ở thủ đô nước Áo.

Ở Vienna, người ta phấn khởi đón chào cái tin về sự quyết định bất thình lình của Napoléon. Sau những thất bại khủng khiếp và những thiệt hại nặng nề vào năm 1809, nước Áo coi cuộc kết hôn ấy có khác gì người chết đuối vớ được cọc. Ở thủ đô Áo, vài ba chuyện rắc rối nhỏ nhặt, không đẹp, làm vẩn đục quang cảnh những ngày hoan hỉ ấy đã được người ta lờ đi một cách dễ dàng. Cũng như thế, đúng giữa lúc diễn ra những cuộc vui vầy trước khi tiến hành hôn lễ, Napoléon cho mang người thủ lĩnh nghĩa quân vùng Tyrol, đã bị bắt, đi xử bắn. Trước khi Hope ngã dưới làn đạn (ông bị bắn ở Mantua), ông đã có thì giờ để hô lớn: “Đức Hoàng Đế Francis anh minh muôn năm!”. Nhưng vị Hoàng Đế Francis anh minh, người mà Hope đã hy sinh cả đời mình, vì ông ta, lại cấm mọi người không được nhắc đến tên người nông dân tầm thường ấy ở vùng Tyrol, bởi vì rất có thể lòng trung thành quá mức và lòng yêu nước chưa đúng của Hope sẽ gây cho Napoléon tức giận tất cả nước Áo.

Ngày 11 tháng 3 năm 1810, trong nhà thờ Vienna, xung quanh đầy người xem, hôn lễ của cô công chúa Marie Louise 18 tuổi và Napoléon đã được cử hành trước mặt toàn thể hoàng gia nước Áo, triều đình và đông đủ các đoàn ngoại giao, quan lại cao cấp và các tướng lĩnh quân đội. Cô dâu chưa bao giờ được gặp mặt chú rể, ngay cả đến ngày cưới cũng không được trông thấy mặt, vì như chúng tôi đã nói, Napoléon cho rằng bận tâm và thân chinh đến tận Vienna là một sự thừa ngay cả trong trường hợp hết sức đặc biệt là hôm làm lễ cưới mình, nhưng rồi Vienna cũng lại thích nghi cả với cách xử sự ấy. Thống Chế Berthier và Đại Công Tước Charles, cả hai, với thái độ trang nghiêm hoàn hảo, đã chấp hành đầy đủ mọi thủ tục lễ nghi mà một chú rể phải làm. Độc giả chắc hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi rằng: Làm thế nào mà hai nhân vật đó có thể thay thế được chú rể vắng mặt? Thì đó cũng chính là một câu chuyện lạ lùng đối với cả những người đương thời ít biết đến những chi tiết về các cuộc cưới xin của hoàng gia. Berthier được Napoléon phái đi thay mặt chính bản thân Hoàng Đế và chính thức cầu hôn với Marie Louise, còn như Đại Công Tước Charles, theo yêu cầu và lệnh mới của Napoléon, phải có mặt ở nhà thờ để Berthier giao Marie Louise cho và lúc này ông Đại Công Tước ấy thay mặt Napoléon - cũng như Berthier đã làm từ trước cho đến lúc này - dẫn Marie Louise đến bàn thờ, đứng đó cạnh Marie Louise trong khi làm phép cưới, sau đó bà Hoàng Hậu mới của nước Pháp đã được đưa về Pháp bằng các nghi thức và với đoàn hộ giá theo cương vị của mình. Khi đi qua các nước chư hầu, trong đó có xứ Bavaria, đến đâu Hoàng Hậu cũng được đón tiếp xứng đáng với tư cách là vợ của con người đã chiến thắng Châu Âu. Napoléon đi đón Marie Louise không xa là mấy, trên đường đi Compiègne. Lúc ấy hai vợ chồng mới nhìn thấy nhau, lần đầu tiên trong đời họ. Việc này gây ra ở Châu Âu một ảnh hưởng rộng lớn và được giải thích bằng nhiều cách. “Thế là từ này trở đi chiến tranh chấm dứt, Châu Âu đã ở vào thế ổn định, kỷ nguyên hạnh phúc đã mở ra”, đó là lời các thương gia trong các thành phố đồng minh thương nghiệp miền Tây Bắc nước Đức, họ tin chắc rằng nước Anh, không có nước Áo làm chỗ dựa ở trên lục địa nữa, sẽ phải đi đến thoả hiệp. Sau cuộc thăm dò lần đầu tiên ý kiến các quan lại cao cấp người Pháp, các nhà ngoại giao đã phát biểu rằng: “Chỉ vài năm nữa là Napoléon sẽ gây chiến với một trong số hai nước cường quốc nào mà sau này không tức khắc gả vợ cho ông ta”.

Vì tình hình thế giới không ổn định, nên rõ ràng là mỗi việc tăng cường cho sự liên minh giữa Napoléon và nước Nga thêm chặt chẽ đều là một mối đe dọa đến chính sự tồn tại của nền quân chủ Áo và mọi sự xích lại gần nhau giữa Napoléon và nước Áo đều đặc biệt giúp cho Napoléon được rảnh tay đối với nước Nga. Một vài nhà quý tộc người Áo, như ông hoàng thân Metternich, bố đẻ viên đại sứ Áo ở Paris trước đây, đã mừng rỡ trong bụng khi nhận được tin về cuộc hôn nhân sắp tới giữa Napoléon; con trai ông ta là Klemens Metternich, lúc đó đã là người có tiếng tăm, cũng vui lộ ra mặt, ở Schönbrunn, người ta nhắc đi nhắc lại: “Nước Áo đã thoát nạn”. Thành phố Peterburg hoang mang và chấn động. Maria Feodorovna hoan hỉ khi thấy không phải là con gái mình mà là con gái của Hoàng Đế nước Áo đã bị mang nộp cho “con quỷ nửa người nửa bò”[36]. Nhưng Aleksandr đệ nhất, Rumyantsev, Kuryakin và cả những địch thủ hăng hái nhất của Khối Liên Minh Pháp đều tỏ ra lo ngại. Họ thấy hình như Áo đã hoàn toàn đi theo đường lối của Napoléon và hình như trên lục địa chỉ còn lại nước Nga là nước đương đầu với kẻ xâm lược đáng ghét của cả Châu Âu.

2

Ngay khi vừa cưới xong, Napoléon đã tích cực gấp bội trong việc thực hiện triệt để chính sách kinh tế của ông.

Nếu không hiểu bản chất đường lối kinh tế của Napoléon thì không thể nào thấu hiểu được rằng nền đế chế của Napoléon dựa vào cái gì và cũng không thể nào lý giải một cách đúng đắn và thoả đáng những nguyên nhân đã làm cho chế độ Napoléon sụp đổ.

Cuộc phong toả lục địa chỉ là một bộ phận tổ thành nền pháp chế kinh tế do Napoléon ban bố. Chính sách của Napoléon trong lĩnh vực này hoàn toàn phù hợp với đường lối chủ trương chung của Napoléon. Từ chỗ là Hoàng Đế của nước Pháp, Napoléon đã hy vọng trở thành Hoàng Đế của cả Phương Tây bằng một loạt các cuộc chiến tranh xâm lược và còn nhằm mở rộng lãnh thổ của mình sang tận Syria, Ai Cập và Ấn Độ, nên khi đã là ông chúa tuyệt đối, trong chính sách kinh tế, Napoléon kiên quyết bắt “các quận mới” phải lệ thuộc vào quyền lợi của “các quận cũ”, nói cách khác là lệ thuộc vào nước Pháp mà Napoléon đã chiếm được vào ngày 18 Tháng Sương Mù. Vậy giữa các “quận cũ” và các “quận mới” của đế quốc khổng lồ ấy có gì khác nhau? Khác nhau rất xa, Napoléon đã cố tình xác lập dần dà cho các “quận cũ” vị trí của những lực lượng đi bóc lột, còn các “quận mới” thì vị trí của chúng là vị trí của những khu vực bị bóc lột, và vì lẽ đó mà phải dùng vũ lực để ngăn cản sự phát triển kinh tế của các nước bị chiếm.

Ngay từ năm đầu tiên lên nắm chính quyền, Napoléon đã có một thứ học thuyết riêng hoàn chỉnh và nó cứ tồn tại đúng như vậy không có gì thay đổi đến hết triều đại của ông ta: Có cái gọi là quyền “dân tộc” và ngoài dân tộc ra là phần còn lại của nhân loại, phần ấy cũng có những quyền lợi của nó gọi là quyền lợi của nhân loại, quyền lợi của nhân loại không những phải phụ thuộc mà còn phải hy sinh cho quyền lợi của dân tộc. Nhưng biên giới của “dân tộc” đó là đâu? Phía Bắc giáp nước Bỉ; phía Đông không phải là sông Rhine, mà là đường biên giới ngăn cách nước Pháp cũ với nước Đức bên tả ngạn sông Rhine; phía Tây giáp biển Manche và Đại Tây Dương, phía Nam dãy núi Pyrenées, Napoléon càng nhằm mở rộng phạm vi thế lực của mình lại càng tìm cách thu hẹp khái niệm quyền lợi “dân tộc”, hạn chế diện tích địa lý cũng như quyền lợi kinh tế của cái nước đầy đặc quyền đặc lợi ấy, tức là “nước Pháp cũ”. Điều này hoàn toàn có thể hiểu được: Khuynh hướng đó đều có mối liên hệ mật thiết với nhau trong tư tưởng của giai cấp đại tư sản kỹ nghệ và tư sản thương mại mà Napoléon đã lấy quyền lợi của chúng làm nền tảng cho đường lối chính trị ăn cướp của mình đối với các nước khác, đó chính là những quyền lợi mà Napoléon gọi là “quyền lợi dân tộc”. Chính bản thân nước Bỉ và vùng tả ngạn sông Rhine, tuy bị chiếm đoạt một cách vĩnh viễn, bị trực tiếp sáp nhập và bị phân chia ra làm nhiều quận, cũng không được coi là “dân tộc”, mà chỉ đơn giản là những kẻ đối địch với giai cấp tư sản Pháp mà người ta có thể và cần phải tiêu diệt để biến đất nước ấy thành môi trường hoạt động của tư bản Pháp: Đó là chưa kể đến xứ Piedmont, đến nước Hà Lan, đến các thành phố đồng minh thương nghiệp ở miền Tây Bắc nước Đức, đến những tỉnh vùng Illyria bị sáp nhập sau này. Tất cả những đất đai bị đế chế xâm chiếm đều nằm trong phạm vi đế quốc bởi vì có như thế người ta mới có thể bắt lính, đánh thuế, bắt cung phụng quân đội...v.v., nhưng mặt khác vẫn là ngoại quốc, bởi vì có như thế người ta mới có thể ngăn cấm được các xí nghiệp luyện kim và tơ sợi, các nhà sản xuất rượu mạnh người Bỉ, người Đức, người Hà Lan không được cạnh tranh với người Pháp ở trong nước Pháp cũ cũng như ở ngay trên đất nước của họ, tức là tổ quốc của họ mà Napoléon đã chinh phục.

Rất tự nhiên rằng đối với các nước bị chinh phục như: Nước Ý mà Napoléon đã xưng vương, nước Thụy Sĩ mà ông ta là “người đứng giữa hòa giải”, Liên Bang Sông Rhine (gồm Bavaria, Saxony, Württemberg, Baden...v.v.) mà ông ta là “người bảo hộ”, vương quốc Westphalia - tức là một khối các quốc gia thuộc miền Trung và miền Bắc nước Đức - mà ông ta đã phong cho em là Jérôme làm vua, nước Ba Lan với vua xứ Saxony mà ông ta đã lập làm chư hầu của mình...v.v. thì trong đầu óc Napoléon vẫn tồn tại cái ảo tưởng muốn cho tình trạng của những nước ấy phân biệt hẳn với nước Pháp - tất cả phải là thị trường tiêu thụ hoặc là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp Pháp. Người ta bỏ tù những ai định lén lút đưa vào nước Ý bất cứ phương pháp cải tiến kỹ thuật nào cần thiết cho công nghiệp nước Ý, đó là điều mà Napoléon, “vua nước Ý", đã nghiêm cấm để bảo vệ quyền lợi cho các nhà công nghiệp Pháp được Hoàng Đế Pháp Napoléon che chở. Napoléon chú trọng trực tiếp chỉ đạo việc chấp hành nghiêm ngặt đường lối chính sách của mình: Napoléon cấm nhập vào Pháp, Hà Lan, Ý loại dao Solingen, cấm nhập vải, len xứ Saxony vào vương quốc Westphalia; Napoléon ra luật cấm xuất cảng tơ sống của Ý và của Tây Ban Nha, vì còn phải bảo đảm việc cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế tạo ở Lyon, ông ta định ra thuế xuất quan, thuế đặc biệt đối với hàng hoá xuất cảng của Illyria, nếu như hàng hoá ấy không chuyển qua các nước dưới quyền đô hộ trực tiếp của ông ta, mà lại vận chuyển qua các nước chư hầu. Về vấn đề này, văn phòng của ông Hoàng Đế hằng ngày đã tung đi khắp Châu Âu hàng đống đạo luật, quy chế, chỉ thị hoặc những lời khiển trách. Chính sách này đã làm giàu và củng cố giai cấp đại tư sản Pháp, nó cũng đã củng cố cả quyền hành của Napoléon ở Pháp, nhưng dĩ nhiên, nó gây phẫn nộ, nó phá hoại và đàn áp giai cấp tư sản công nghiệp và thương nghiệp và số đông người tiêu thụ khắp cả vùng của đế quốc rộng lớn, trừ các “quận cũ”. Về quan điểm kinh tế, Napoléon, người sáng lập ra đế quốc Phương Tây, chỉ là một ông vua người Pháp nặng đầu óc dân tộc hẹp hòi, chỉ là người tiếp tục sự nghiệp của vua Louis XIV và Louis XV, là người thực hiện vô số tư tưởng của Conberg. Vì lợi ích của giai cấp tư sản công nghiệp Pháp mà Napoléon đã mở mang trong nhiều năm trời toà lâu đài đồ sộ của nền quân chủ hoàn cầu của ông ta. Thật rõ ràng là trong khi bóp chết các lực lượng sản xuất của các nước bị nô dịch thì toà lâu đài ấy chỉ đi đến sụp đổ, dù cho không có cuộc khởi nghĩa của dân tộc Tây Ban Nha, không có cuộc cháy thành Moscow, không có sự phản bội của Marmont dưới chân thành Paris, không có sự chậm trễ của Grusy ở Waterloo, nói tóm lại, dù cho bức tranh chính trị và chiến lược của cuộc chiến đấu khổng lồ mà Napoléon đã đeo đuổi được phác họa khác hẳn với thực tế đã diễn ra trong những năm cuối cùng của triều đại ông ta.

Cũng sẽ không đúng, nếu ta nghĩ rằng Napoléon chỉ là kẻ chấp hành ngoan ngoãn ý nguyện của giai cấp đại tư sản, cái giai cấp đã đưa Napoléon lên nắm chính quyền và cuối cùng đã giao nền chuyên chính cho Napoléon. Đúng là Napoléon không những đã lấy quyền lợi của giai cấp đại tư sản làm nền tảng cho chính sách đối nội và đối ngoại của mình, nhưng phải thấy rằng đồng thời Napoléon còn nhằm buộc giai cấp tư sản khuất phục ý muốn của ông ta, bức giai cấp tư sản phải phục vụ cho cái Nhà Nước mà Napoléon coi là có “mục đích tư thân” và sự nô dịch Châu Âu về mặt kinh tế mà chúng ta vừa nói tới thì Napoléon lại đặt nó nằm trong quyền lợi của Nhà Nước tư sản Pháp là chính người ta rất hiểu rằng một vài tầng lớp của giai cấp tư sản không thể chấp nhận được điều đó và ngấm ngầm tiến hành một cuộc chiến tranh thực sự chống lại tình hình ấy bằng cách vi phạm những mệnh lệnh phiền nhiễu đối với họ và bằng tất cả mọi các kinh doanh bất hợp pháp như tích trữ đầu cơ, lũng đoạn giá cả, v. v.

Đến đây, ta cũng không quên được lời nhận xét tinh tế và sâu sắc của Marx trong cuốn Gia Đình Thần Thánh, vì nếu không dựa vào đó thì việc phân tích các nguyên nhân gây nên sự sụp đổ của cái đại đế quốc Napoléon sẽ không được rõ ràng: “Không phải là phong trào cách mạng ngày 18 Tháng Sương Mù nói chung trở thành miếng mồi của Napoléon... - Marx viết - miếng mồi đó là giai cấp tư sản tự do...”[37]. “Vả lại, đã phân biệt được thực chất của Nhà Nước hiện đại; Napoléon hiểu rằng cái Nhà Nước ấy lấy sự tự do phát triển của xã hội tư sản, lấy sự tự do hoạt động của các lợi ích riêng...v.v. làm nền tảng. Napoléon đã nhất quyết thừa nhận nền tảng đó và đặt nó dưới sự bảo vệ của mình. Như vậy Napoléon không phải là một tay khủng bố không tưởng. Nhưng đồng thời Napoléon tiếp tục coi Nhà Nước là một mục đích tự thân “và giai cấp tư sản” chỉ là tên thủ quỹ và là kẻ dưới quyền ông ta, không được có ý chỉ riêng của nó. Ông ta đã hoàn thành chủ nghĩa khủng bố bằng cách thay thế cuộc cách mạng thường trực bằng cuộc chiến tranh thường trực. Napoléon lấy làm mãn nguyện đã nhồi được lòng ích kỷ dân tộc Pháp vào chủ nghĩa khủng bố ấy, nhưng đồng thời cũng lại yêu sách giai cấp tư sản phải hy sinh sự nghiệp, ý muốn của cải...v.v. mỗi khi Napoléon cần đến để thực hiện những mục đích chính trị xâm lược của ông ta. Bàn tay độc đoán của Napoléon đã bóp nghẹt chủ nghĩa tự do của xã hội tư sản - chủ nghĩa duy tâm chính trị trong đời sống hàng ngày của nó - và Napoléon cũng không hề dung thứ cả những lợi ích vật chất quan hệ nhất đến sự sống còn của xã hội tư bản, chẳng hạn nền thương nghiệp và công nghiệp, mặc dầu chúng chẳng xung đột gì mấy với những lợi ích chính trị của Napoléon. Việc Napoléon khinh miệt những kẻ “kinh doanh” chỉ là một sự bổ sung vào việc ông ta khinh miệt “những nhà tư tưởng”. Và ở trong nước, Napoléon đấu tranh tư bản như là chống kẻ thù của Nhà Nước mà chính con người ông ta là hiện thân và cái Nhà Nước ấy được coi như một mục đích tự thân tuyệt đối. Vì vậy nên, thí dụ như Napoléon đã tuyên bố ở Hội Đồng Chính Phủ rằng ông ta sẽ không dung thứ cho những địa chủ những vùng đất đai rộng lớn muốn trồng trọt hay không là tuỳ họ. Kế hoạch của Napoléon nhằm đặt nền thương nghiệp dưới sự kiểm soát của Nhà Nước bằng cách Nhà Nước nắm trong tay sự vận tải bằng xe ngựa cũng có ý nghĩa như vậy. Các thương nhân Pháp đã chuẩn bị sự biến lần đầu tiên làm rung chuyển thế lực của Napoléon. Bằng cách gây nên một nạn đói giả tạo, bọn tích trữ đầu cơ thành Paris đã buộc Napoléon phải hoãn chiến dịch nước Nga lại hai tháng sau, vậy là đã hoãn lại đến một thời kỳ quá muộn[38]. Đó là sự phân tích nhân vật Napoléon - trong vô số nhận định của Marx về mặt xã hội và chính trị đã được trình bày trong cuốn Gia Đình Thần Thánh. Như vậy Marx đã vạch ra một cách rất tài tình rằng trong khi phân tích cơ sở xã hội của một đường lối chính trị nào đó thì nhà sử học không được coi thường vai trò cá nhân của những con người mà trong thực tế có trách nhiệm thực hiện đường lối chính trị đó, không được coi thường tính chất cũng như những cá tính của họ. Khi Marx nói “giai cấp tư sản tự do” trở thành “con mồi” của Napoléon, Marx đã quan tâm đến việc Napoléon xoá bỏ các nguyên tắc chính trị của cái bộ phận giai cấp tư sản đã nhìn thấy chính phủ lý tưởng của nó trong nền quân chủ lập hiến, thấy rõ việc tập trung quyền hành tuyệt đối vào trong tay nhà độc tài Napoléon, thấy rõ việc thủ tiêu các “quyền tự do” về mọi phương diện mà cuộc cách mạng tư sản năm 1789 đã nhân danh để khởi đầu. Marx nhấn mạnh rằng chủ nghĩa tự do tư sản, thể hiện trong hiến pháp 1791, đã bị đè bẹp ngay từ buổi đầu trong cuộc đấu tranh cách mạng do nền chuyên chính khủng bố của Hội Đồng Cứu Quốc tiến hành, rằng cái mưu đồ định làm sống lại và làm mạnh thêm thứ chủ nghĩa tự do đó dưới thời Viện Đốc Chính đã bị cuộc đảo chính của Bonaparte ngày 18 Tháng Sương Mù bóp chết một cách không kém phần tàn khốc. Trong trường hợp trên cũng như trong trường hợp dưới, mọi điều kiện cần thiết đã được thực hành để bảo đảm cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, và giai cấp tư sản đã tạm thời ủng hộ nền chuyên chính Jacobin lúc ấy là cần thiết để hoàn thành việc xóa bỏ hẳn chế độ phong kiến, và đã ủng hộ nền chuyên chính Napoléon như một hình thức chính quyền có khả năng bảo đảm sự thống trị của tư bản và thích ứng nhạy bén với việc tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược. Thực tế, Napoléon đã điều khiển công việc của Nhà Nước theo như quyền lợi của giai cấp đại tư sản đòi hỏi, tuy rằng Napoléon chẳng ưa thích gì giai cấp ấy, và đã gọi chính quyền của bọn cự phú là “chính quyền quý tộc dơ dáy nhất”. Napoléon thường luôn luôn nhắc đến một trong số câu nói của ông: “Trong thời đại chúng ta, giàu có là kết quả của sự ăn cắp và cướp đoạt”.

Nền chuyên chính Napoléon, phục vụ lợi ích của Nhà Nước tư bản nói chung nhưng trong khi nhằm bành trướng thế lực bằng xâm chiếm các nước láng giềng thường đi trái với những nguyện vọng và nhu cầu của một vài tầng xã hội tư bản. Nền chuyên chính ấy coi giai cấp tư sản như một kho tàng vô tận phải phục vụ cho những mục đích chính trị phù hợp với những quyền lợi riêng của nó. Bộ phận lạc hậu về mặt chính trị của giai cấp tư sản Pháp, cái bộ phận chỉ biết có nhìn vào túi tiền, đã nhiều lần đối kháng với Napoléon. Marx đã nhận xét rằng đặc biệt là trước khi mở chiến dịch đánh nước Nga, một sự bất đồng ý kiến trầm trọng đã xảy ra, hay nói cho đúng hơn, sự bất đồng ấy đã giải thích chỗ rạn nứt sau này làm sụp đổ không những đế chế Napoléon, mà cả toàn bộ nền kinh tế tư bản xây dựng dưới sự bảo hộ của Napoléon. Vì vậy khi nói đến những nguyên nhân sụp đổ của đế chế Napoléon cần phải nhắc lại những tình trạng ấy.

3

Trước khi hồi cuối cùng của tấn bi kịch lịch sử đó mở màn, lúc mà mọi người đều đang run sợ và câm lặng trước mặt vị chúa tể uy quyền tuyệt đối, mà các vua chúa phải cúi rạp đầu xuống đất, phủ phục dưới chân, và ở trên lục địa chỉ có những người nông dân và thợ thủ công rách rưới người Tây Ban Nha là theo đuổi cuộc chiến đấu chống lại, thì trận gió đầu tiên của cơn giông tố sắp tới đã nổi trên đất đai của đế chế: Một cuộc khủng hoảng kinh tế đã bùng nổ. Đó là vào năm 1811, và con người, lúc ấy tựa hề như nằm ở trung tâm của các biến cố trên thế giới, đã không đủ sức để nắm được thực chất nội dung của cơn bão táp đó. Cuộc khủng hoảng diễn ra vào giai đoạn thứ hai của cuộc phong tỏa lục địa, một giai đoạn quyết liệt mà ít ra chúng ta cũng cần phải nói đến một vài lời.

Vào các năm 1810 - 1811, cuộc phong tỏa không còn như hồi năm 1806, tức là thời kỳ mà bản đạo luật đầu tiên ở Berlin đặt ra việc phong toả, và con người sáng lập ra nó cũng không còn hoàn toàn là con người đã ký bản đạo luật ngày 21 tháng 11 năm 1806 ở cung điện Potsdam.

Từ nửa cuối năm 1809, sau trận Wagram và Hòa Ước Schönbrunn, trong tư tưởng Napoléon lúc nào cũng in sâu hai niềm tin tưởng được phát ra từ trận Austerlitz và được hình thành rõ nét từ sau trận Jena và sau cuộc hạ thành Berlin. Cả hai niềm tin tưởng này đã quyết định mọi đường lối chính sách của Napoléon sau trận Friedland và Tilsit. Niềm tin thứ nhất là: Ông ta chỉ có thể bắt nước Anh quỳ xuống duy nhất bằng cách tàn phá nước Anh bằng cuộc phong tỏa lục địa. Niềm tin tưởng thứ hai được diễn đạt bằng câu: “Tôi có thể làm được tất cả” và như vậy thì cái tư tưởng sau đây sẽ bổ sung một cách logic cho câu ấy: “Vì vậy, tôi cũng có thể thực hiện được cuộc phong tỏa lục địa, dù có phải sáp nhập toàn bộ lục địa vào đế chế Pháp để làm việc đó”. Kẻ chiến thắng muốn sao thì làm vậy. Ở thế kỷ thứ V, Attila[39] cưỡng bức đưa vào hậu cung của y con gái của bất cứ ai trong vô số các tiểu vương ở các bộ lạc còn nửa dã man của xứ German, và ngày nay Napoléon chỉ mới vừa ngỏ ý ra là người ta gửi đến Paris cô con gái ông Hoàng Đế nước Áo, một nàng công chúa của triều đại kiêu kỳ và cao ngạo nhất trong thời xưa của nó và mọi người đều coi việc đó là một hạnh phúc lớn cho cái nước được ghép nên bởi những mảnh đất nát vụn mà Napoléon đã làm tiêu giảm uy quyền của dòng họ Habsburg.

Lục địa đã tỏ ra quy phục một cách hèn hạ như vậy thì hình như hoàn toàn có thể thanh toán nốt kẻ thù duy nhất còn lại: nước Anh. Còn những kẻ thù khác thì ngay cái việc kể đến cũng chẳng cần, “cái đám rách rưới cùng khổ” - như Napoléon thường gọi những người Tây Ban Nha - liệt vào hạng không đáng kể đến và Napoléon không muốn cho họ cái vinh dự được xếp vào hàng địch thủ. Sau khi lại đánh tan tành người Tây Ban Nha vào năm 1809 - 1810, Napoléon không muốn cả tiến hành chiến tranh với họ nữa và chỉ hạ lệnh bắt họ và xử bắn. Tuy nhiên Napoléon không thể tự đắm chìm quá lâu trong ảo tưởng đó được: Chiến tranh của những người du kích, du kích chiến tranh vẫn cứ diễn hoài, nhưng cũng lại ở đây, ông Hoàng Đế đã nhìn thấy nguyên nhân đầu tiên của chuyện chẳng hay vẫn là ở người Anh, bởi vì không những họ chỉ gửi vũ khí giúp cho Tây Ban Nha mà thôi, họ còn đổ bộ lên đất Tây Ban Nha những quân đoàn đầy đủ.

Nước Anh, và độc nhất chỉ có nước Anh đương đầu với Napoléon. Cuộc chiến đấu sống mái này giữa Napoléon và nước Anh chỉ có thể kết thúc bằng sự thất bại của một trong hai địch thủ. Trong khi ấy, Napoléon đã uổng công trong việc cố biến cuộc chiến đấu tay đôi thành một cuộc chiến đấu toàn lục địa chống lại nước Anh. Cuộc phong tỏa càng kéo dài bao nhiêu càng làm hại nghiêm trọng bấy nhiêu cho một bên là nước Anh và một bên là lục địa. Napoléon biết thế, điều đó không phải chỉ làm cho ông ta băn khoăn như trước khi ký Hòa Ước Tilsit, mà lại làm cho ông ta tức giận đến cùng cực. Suốt trong những năm ấy, cơn thịnh nộ của Napoléon đã chĩa vào những kẻ bí mật vi phạm việc phong tỏa lục địa, mà trên toàn cõi lục địa Châu Âu thì còn có sự không tuân lệnh nào công khai và hiển nhiên bằng việc một chính phủ khởi nghĩa đã được thành lập ở phía cực Nam bán đảo Tây Ban Nha. Đại khái việc trấn áp: Những kẻ buôn bán lậu bị xử bắn, những hàng hóa Anh tịch thu được đều bị thiêu hủy và Napoléon truất khỏi ngai vàng tất cả những nhà vua chúa nào mắc tội thông đồng với bọn buôn lậu.

Năm 1806, Napoléon đã phong cho em là Louis làm vua ở Hà Lan. Ông vua mới ấy biết rõ rằng việc cắt đứt hoàn toàn quan hệ buôn bán với nước Anh đang dẫn đến sự phá sản hoàn toàn của giai cấp tư sản thương mại, nền nông nghiệp, ngành thương nghiệp hàng hải Hà Lan và thảm họa kinh tế ấy sẽ giáng xuống nước Hà Lan nhanh chóng hơn các nước khác, bởi vì kể từ khi người Anh tước đoạt hết thuộc địa của Hà Lan (ngay sau khi người Pháp đặt ách thống trị trên đất nước Hà Lan) thì nền thương nghiệp của Hà Lan sống nhờ vào việc xuất cảng sang Anh rượu mạnh, phomát, vải nõn và vào việc nhập khẩu các sản phẩm của thuộc địa từ nước Anh tới. Những lý do ấy đã buộc Louis Bonaparte phải nhắm mắt làm ngơ trước việc buôn bán hàng lậu giữa biển Hà Lan với người Anh. Sau vài lần cảnh cáo em, cuối cùng Napoléon đã truất ngôi vua của em, tuyên bố vương quốc Hà Lan không còn tồn tại nữa, và với một sắc lệnh đặc biệt, đã sáp nhập lãnh thổ Hà Lan vào đế quốc Pháp, đem phân chia thành từng quận do các Quận Trưởng của ông ta cai trị.

Căn cứ vào những báo cáo trình rằng những thành phố đồng minh thương nghiệp ở miền Tây Bắc nước Đức như Hamburg, Bremen, Lübeck đã không trấn áp mạnh mẽ việc buôn lậu và người đại diện của Napoléon ở Hamburg là Bourrienne đã để bị mua chuộc, Napoléon liền lập tức cách chức Bourrienne và sáp nhập luôn cả những thành phố ấy vào đế quốc của ông. Napoléon đã truất ngôi cả những vua chúa nhỏ của các quốc gia Đức ở ven biển, không phải vì họ đã phạm phải một lỗi nào đó, mà vì Napoléon chỉ còn tin cậy có bản thân mình. Napoléon đuổi công tước xứ Oldenburg và tuyên bố hợp nhất công quốc ấy vào đế quốc, mặc dầu hành động đó đã làm cho Aleksandr - có họ hàng với công tước Oldenburg - hết sức bất bình.

Cuộc phong tỏa lục địa đã tác hại dữ dội đến đông đảo quần chúng tiêu thụ ở khắp các nước Trung Âu, nó làm cho giai cấp tư sản thương mại và các hãng thuyền vận tải ở các thành phố đồng minh thương nghiệp ở miền Tây Bắc cũng như ở miền ven biển nước Đức sẽ hoàn toàn phá sản. Ngay trong báo chí ở các nước bị chinh phục, chết dí dưới chế độ kiểm duyệt gay gắt, đôi khi người ta cũng thấy lộ ra những ý tứ trách móc cuộc phong tỏa lục địa, giấu trong những lời lẽ kín đáo. Những tài liệu chính trị in ở Đức bao giờ cũng buộc chính phủ Pháp phải chú ý tới[40], trong một bản báo cáo gửi lên Bộ Trưởng Bộ Công An vào năm 1810, người ta đã viết đại ý như vậy. Người ta nói thêm rằng người Đức thích tranh luận về chính trị, họ ngốn ngấu đọc rất nhiều báo chí của họ, những tạp chí hàng tháng, những cuốn lịch hàng năm, đó là chưa nói đến các cuốn sách, các vở kịch và các cuốn tiểu thuyết mà trong đó tác giả xảo quyệt đã khéo biết giới thiệu Liên Bang Sông Rhine như một kẻ tôi đòi, sự hợp tác giữa nước Pháp và nước Áo như kết quả của sự làm suy yếu lẫn nhau, nước Anh như một nước vô địch và nước Nga như những kẻ kế thừa chế độ quân chủ hoàn cầu. Ở Hà Lan, một nước bị cuộc phong tỏa lục địa tàn phá hoàn toàn, tình hình kiểm duyệt cũng chẳng hơn gì, vì Hà Lan là nước sống chủ yếu bằng sự buôn bán đường biển. Người ta nhận xét thấy ở Hà Lan cũng chung khuyết điểm như ở miền Bắc nước Đức: “Ở đó có nhiều báo chí quá”[41], đó là những câu mà chúng ta được đọc trong một bản báo cáo khác của công an. Đối với Napoléon, không có gì dễ dàng bằng việc trấn áp báo chí, Napoléon chẳng bao giờ lúng túng về vấn đề đó cả. Nhưng bảo đảm cho cuộc phong tỏa có đầy đủ hiệu lực là một nhiệm vụ phức tạp hơn nhiều.

Những khó khăn trong sự nghiệp của Napoléon đang bao vây ông ta tứ phía: Tìm được hàng vạn lính đoan, sen đầm, cảnh binh và viên chức đủ các loại, các cấp - làm tròn nghĩa vụ một cách lương thiện, với một tinh thần sốt sắng liêm khiết - để bao vây được toàn bộ dải bờ biển mênh mông của Châu Âu là một việc khó khăn hơn cả việc trừng phạt các vua chúa thông đồng với bọn buôn lậu, hoặc một viên quan toàn quyền hay xoay xoả, gian manh. Muốn có cafe, cacao, hồ tiêu, đồ gia vị, quần chúng tiêu thụ ở Châu Âu đã phải mua bằng giá đắt gấp năm, tám hay mười hai lần trước khi có cuộc phong toả, mà họ cũng chỉ mua được rất ít. Những nhà sản xuất sợi bông và những người Pháp, người Saxony, người Bỉ, người Tiệp, người Rumania dệt vải in hoa kiểu Ấn Độ đã phải mua chàm và bông bằng giá đắt hơn trước gấp năm, gấp mười lần, đã như vậy mà họ cũng chỉ mua được một số lượng rất ít so với trước đây, bởi nếu không có những nguyên liệu đó, nhà máy của họ sẽ phải đình chỉ sản xuất. Vậy thì những món lãi kếch xù giả tạo đó chạy đi đâu? Trước hết tiền đó chạy vào túi của bọn chủ thuyền và bọn buôn lậu người Anh, và thứ nữa là chạy vào túi bọn lính đoan và sen đầm Pháp. Khi người ta trả cho bọn lính tuần tiễu hoặc một người thu thuế một số tiền tương đương bằng tiền lương trong năm năm của họ để họ vui lòng ngủ một đêm yên tĩnh, hoặc khi người ta cho một gã sen đầm một tấm len hảo hạng trị giá 500 francs vàng và một số đường kính cũng bằng số tiền ấy chỉ với một điều kiện duy nhất là hãy đi chơi ở một chỗ cách xa một địa điểm nào đó trên bờ biển trong ba tiếng đồng hồ thì sức cám dỗ quả là quá mạnh! Napoléon biết điều đó và thấy rằng, trên mặt trận này, sự chiến thắng ắt sẽ khó khăn hơn ở Austerlitz, Jena hoặc Wagram. Napoléon đã bổ nhiệm và cử các thanh tra viên kiểm soát bình thường hay đặc biệt đến tận nơi, nhưng đều vô ích, vì bọn họ cũng đều bị người ta mua chuộc hết. Napoléon đã cách chức và giao bọn ấy sang tòa án, nhưng những kẻ thay thế họ lại đi theo con đường của những viên chức bị cách chức và bị kết tội, bọn họ chỉ cố gắng sao cho khôn ngoan hơn. Ông Hoàng Đế liền nghĩ ra một biện pháp khác: Một loạt các cuộc kiểm soát được nhất tề tiến hành, không những trong các thành phố và các làng ven biển, mà còn đi xa nữa, tận trung tâm Châu Âu, trong các cửa hàng, các kho hàng, các công sở. Hết thảy hàng hoá”xuất xứ từ nước Anh” đều bị tịch thu, còn việc chứng minh đó có phải hàng hóa của Anh hay không thì là trách nhiệm của những người sở hữu. Bị thiệt hại và hốt hoảng, các nhà có sản phẩm thuộc địa khả nghi nhất trong trường hợp này đều ra sức chứng minh rằng đó là những sản phẩm của Mỹ, chứ không phải của Anh. Và thực tế người Mỹ đã hốt của bằng cách dùng tàu có trương cờ của nước họ và tiêu thụ nhanh chóng hàng hóa của Anh chở đến bằng tàu của họ.

Bằng bảng giá qui định Trianon ban hành năm 1810, Napoléon đã làm cho việc buôn bán hợp pháp các sản phẩm thuộc địa, bất cứ do nước nào sản xuất, không thể nào tiến hành được. Các lò thiêu hàng bốc cháy trên toàn cõi Châu Âu: Vì không tin vào bọn công chức nhà đoan, cảnh binh, sen đầm, các nhà chức trách từ cao đến thấp, từ các vì vua chúa và các viên toàn quyền, những người gác đêm và lính kỵ tuần tra, nên Napoléon đã ra lệnh công khai thiêu hủy tất cả hàng hóa bị tịch thu. Theo lời của những người đã được chứng kiến thì từng đám đông quần chúng rầu rĩ và trầm lặng đứng nhìn người ta chất đống như núi những hàng vải hoa, vải len hảo hạng, hàng dệt Kashmir, những thùng đường, cafe, cacao, những hòm chè, những kiện bông và sợi, những két chàm, hồ tiêu, quế, rồi người ta tưới lên đó chất cháy và số hàng đã biến thành khói bụi ngay trước mắt họ[42]. “Anh chàng Caesar đã mất trí rồi”, báo chí Anh viết như vậy sau khi đã phải chịu đựng những cảnh tượng đó, hoặc ít ra thì là sau khi đã nghe tin đồn tới. Napoléon đã xác định rằng chỉ có hủy hoại cụ thể tất cả những hàng hóa nhập cảng quý giá đó mới có thể gây thiệt hại thiết thân đến bọn buôn lậu và gieo rắc nguy hiểm không những cho những kẻ lợi dụng đêm hôm tối trời để đổ bộ hàng lậu lên một nơi hẻo lánh ở quãng bờ biển dốc dựng cheo leo, hưu quạnh, mà còn nguy hiểm cả cho những phú thương ở Leipzig, Hamburg, Straßburg, Paris, Antwerp, Amsterdam, Genoa, Munchen, Warszawa, Milan, Triest, Venezia, v.v. là bọn ngồi tĩnh tọa trong cửa hàng mua lại số hàng lậu đã qua tay hàng hai, ba chặng.

Một vài tầng lớp của giai cấp tư sản, ở trong đế quốc Pháp cũng như trong các nước chư hầu, đã thu được những món lợi kếch xù và ngay cả trong những điều kiện như vậy, họ tiếp tục tán dương cuộc phong tỏa lục địa nói chung và tán thành tất cả những biện pháp của Hoàng Đế chống lại việc nhập cảng lậu các hàng hóa Anh. Đặc biệt, những nhà luyện kim rất lấy làm mãn nguyện, còn như những nhà sản xuất vải, sợi thì họ vừa tán dương vừa kêu ca phàn nàn. Dẫu sao người ta cũng không thể dệt được vải nếu không có bông, cũng không thể nhuộm được vải nếu không có chàm.

Đối với giai cấp tư sản thương mại và thợ thủ công chuyên sản xuất hàng xa xỉ thì sự phản ứng càng kịch liệt hơn: Họ đau đớn nhớ lại rằng trong mấy tháng đầu của những năm 1802 - 1803, ngay sau khi vừa ký xong Hòa Ước Amiens, có hàng nghìn những tay triệu phú người Anh nườm nượp đổ sang Paris vơ vét sạch - có thể nói như vậy được - đồ trang sức bày ở thủ đô, tất cả nhung, vải, lụa trong các kho hàng của thành phố Lyon. Họ than phiền rằng các cuộc chiến tranh liên miên đã làm cho các khách hàng cũ của họ ở Châu Âu bị phá sản. Đông đảo quần chúng tiêu thụ lại càng phẫn nộ hơn vì họ phải mua với giá cắt cổ. Cafe và đường cũng như các sản phẩm khác không bị hàng của Anh cạnh tranh, nhưng do đó bị đắt lên.

Cuộc khủng hoảng thương nghiệp và công nghiệp năm 1811 đã nổ ra trong những điều kiện như vậy.

4

Ngay từ cuối mùa thu năm 1811, người ta đã bắt đầu nhận thấy hàng hoá Pháp bán ra chậm dần, và hiện tượng đó phát triển nhanh chóng, lan ra khắp đế quốc, và đặc biệt là ở các “quận cũ” hay nói cách khác là ở ngay trên đất nước Pháp chính cống. Các nhà công nghiệp và thương nghiệp thỉnh cầu một cách lễ phép nhất rằng cuộc phong tỏa không những chỉ đánh vào túi tiền của người Anh mà đã bắt đầu tác hại đến cả bản thân họ, rằng họ thiếu nguyên liệu làm, rằng trong khi bóc lột các dân tộc bị thua trận (những người làm đơn thỉnh cầu đã phải dùng những câu ẩn ý vô cùng trang nhã và tế nhị) thì Hoàng Đế Bệ Hạ đã làm giảm sút sức mua của người tiêu thụ trên toàn lục địa Châu Âu, và do những cuộc tịch thu độc đoán các hàng hóa tồn trữ trong kho, cũng như trong khi để cho những hành động bất hợp pháp tự do phát triển và để cho bọn đương chức nhà binh và nhân viên hải quan lộng hành (dĩ nhiên họ không nói như thế, mà họ nói bằng những lời lẽ nhẹ nhàng hơn nhiều), Hoàng Đế sẽ làm phương hại đến sự thu nhập bình thường của ngân hàng, mà không có ngân hàng thì cả công nghiệp và thương nghiệp đều không thể tiếp tục tồn tại được.

Mỗi ngày cuộc khủng hoảng mỗi trở nên trầm trọng thêm. Nhiều xí nghiệp dệt và kéo sợi, thí dụ xí nghiệp sản xuất vải in hoa Risalenur, trước cuộc khủng hoảng có tới 3.600 thợ kéo sợi nam nữ, 8.822 thợ dệt, 400 thợ in hoa, tổng cộng hơn 12.000 người, mà đến nay, nếu như Napoléon đã không trợ cấp đặc biệt cho xí nghiệp đó một triệu rưỡi francs vàng thì hẳn là số người không còn đến 1/5. Nhưng vẫn cứ hết xí nghiệp này đến xí nghiệp khác đăng ký vỡ nợ. Tháng 3 năm 1811, Napoléon chỉ thị trợ cấp một triệu cho các nhà sản xuất ở Amiens và cho thu mua hàng đống sản phẩm của các nhà sản xuất ở Ruane, Saint Quentin và Ganges số hàng trị giá hai triệu francs. Ngoài ra còn có nhiều khoản trợ cấp khổng lồ cho các nhà sản xuất ở Lyon. Nhưng đó chỉ là một giọt nước trong biển cả.

Trong số những tư liệu mà tác giả cuốn sách này đã tìm kiếm được ở Sở Lưu Trữ Quốc Gia Pháp và những tư liệu nêu bật được mức độ đặc biệt của cuộc khủng hoảng thì chỉ có những tư liệu trong bảng tổng kê là đáng chú ý nhất. Ngày 19 tháng 4 năm 1811, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ báo cáo lên cho Napoléon biết rằng thợ thuyền ở rất nhiều xí nghiệp khiếu nại là không có việc làm; ông ta còn quả quyết rằng thợ thuyền bỏ đi ra ngoài nước rất nhiều. Ở Ruane, nạn thất nghiệp khủng khiếp và sự thiệt hại của các nhà sản xuất rõ ràng đến nỗi Napoléon buộc phải trích 15 triệu để trợ cấp cho các xí nghiệp đang đứng trên bờ vực thẳm. Các quan chức cao cấp đã mạnh dạn hơn lên. Ngày 7 tháng 5 năm 1811, viên giám đốc Ngân Hàng Pháp đã báo cáo thẳng lên Hoàng Đế rằng nền kinh tế của các nước bị chinh phục đã quá kiệt quệ và trước khi Pháp xâm chiếm các nước đó thì, trên thị trường các nước đó, hàng hoá Pháp lại chiếm địa vị quan trọng hơn nhiều, rằng ở Paris thợ thủ công chuyên làm hàng xa xỉ đang bị chết đói; rằng sức tiêu thụ ở trong nước cũng như ngoài nước bị giảm sút đáng kể... Napoléon ông lại trợ cấp, nhưng không hề từ bỏ cuộc phong toả. Hàng hóa Anh (người ta coi như thế tất cả những sản phẩm của các nước thuộc địa) vẫn bị tịch thu như trước đây. Mùa hạ năm 1811, hội chợ Bocker đã bị cảnh binh bất thình lình ập đến giải tán và tịch thu được cả một phố đầy ắp những kho đường, đồ gia vị, chàm...v.v.

Ngoài hàng triệu đồng ứng trước và trợ cấp cho các nhà sản xuất, năm 1811 Napoléon còn lấy tiền của ngân khố ra chi cho các đơn đặt hàng đồ sộ: Napoléon tiến hành đặt mua một số lớn vải len cần dùng cho quân đội, đặt nhiều đơn rất lớn mua lụa và nhung của Lyon cho cung điện và còn chỉ thị cho các triều đình chư hầu cũng phải mua hàng của Lyon; nên, tháng 6 năm 1811, công nghiệp lụa Lyon chỉ có tất cả 5.630 máy dệt hoạt động mà đến tháng 11 đã lên tới 8.000 máy. Đến mùa đông, tình cảnh lại càng khó khăn. Trong suốt thời gian đó, không khí sôi sục ầm ầm diễn ra trong khu vực thợ thuyền ở ngoại ô Paris cũng như ở những khu trung tâm công nghiệp khác. Đúng là bọn mật thám không nghe được hết, bọn khiêu khích không phải lúc nào cũng làm cho thợ thuyền nói thật những điều họ nghĩ, và dù sao, tình trạng tư tưởng của giới thợ thuyền vào năm 1811 cũng hoàn toàn không thuận lợi như các nhà viết sử thời bấy giờ và hiện nay cố gắng mô tả. Napoléon thường nói rằng chỉ có “cuộc cách mạng của những người bụng lép” là cuộc cách mạng nguy hiểm nhất. Bộ Trưởng Chaptal viết trong tập hồi ký của ông ta: “Napoléon đã nhiều lần nói với tôi rằng thợ thuyền thiếu việc làm. Lúc đó thì họ sẽ hoàn toàn đi theo bọn quá khích. Tôi sợ những cuộc khởi nghĩa bắt nguồn từ sự thiếu bánh mỳ ấy. Tôi còn sợ hơn là một cuộc chiến đấu chống 200.000 người”.

Tuy nhiên sự việc không đi đến chỗ nổ ra những vụ rối loạn nghiêm trọng trong quần chúng thợ thuyền ở thủ đô và ở các tỉnh, mặc dù đã có những dấu hiệu giận dữ, bất mãn, chán nản và đôi khi tuyệt vọng nữa mà đám cảnh binh và bọn điều tra mật đã ghi được.

Nếu có thể rút ra được một bài học về cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1811 thì về phần ông ta, Napoléon đã vội vã giải thích nó một các dứt khoát: Chừng nào cuộc phong tỏa lục địa còn chưa đánh gục được nước Anh, chừng nào hàng hóa Pháp còn bị bế quan tỏa cảng thì tình hình thương mại và công nghiệp Pháp vẫn còn bị bấp bênh và một cuộc khủng hoảng mới vẫn luôn có thể xảy ra. Vậy nên cần phải làm cho xong dứt cuộc phong toả, và nếu như có vì thế mà người ta phải chiếm Moscow thì cũng cứ phải chiếm.

Napoléon nhớ rất rõ rằng những nhà sản xuất lụa Lyon đã quy nguyên nhân nạn khủng hoảng một phần là vì nước Nga đã “bất thình lình” đình chỉ các đơn đặt hàng do việc Hoàng Đế Aleksandr đã ban hành bằng thuế quan mới vào tháng 12 năm 1810 đánh thuế nặng vào các hàng xa xỉ như lụa, nhung, rượu nho hảo hạng - tức là tất cả các hàng hóa từ Pháp nhập vào nước Nga. Napoléon cũng đã không quên ghi việc ấy vào cuốn sổ nợ của Aleksandr mỗi ngày một dài thêm ra kể từ trận Erfurt. Và suốt trong năm 1811, Hoàng Đế Pháp đã tâm tâm niệm niệm là cần phải thanh toán các món nợ ấy và chỉ có thể thanh toán tại Moscow.

Vậy Napoléon đối phó bằng cách nào với các triệu chứng nguy ngập biểu lộ tính chất không bình thường của tình trạng kinh tế trong đế chế? Cuộc khủng hoảng đã báo hiệu từ lâu và Napoléon đã nhận thấy nó đang đến gần. Từ trước lúc ấy, Napoléon đã phải đối phó với những giai đoạn nguy cấp cho nền tài chính Nhà Nước, với sự chớm nở của nạn “lạm phát”, với việc phải phát hành tiền giấy không có vàng bảo đảm, và sau hết là với mưu mô của bọn tài chủ kếch xù đang tìm cách đánh xoáy công quỹ bằng cách thỏa thuận cho Napoléon vay những món tiền ám muội với điều kiện lãi nặng. Napoléon đã phải chịu đựng như vậy ngay từ những năm đầu lên nắm chính quyền (1799 - 1800), vào năm 1805 và đầu năm 1806. Nhưng Napoléon đã từng giải quyết được những khó khăn đó, hoặc bằng cách mang về hàng triệu đồng tiền vàng chiến phí, hoặc vin cớ này, cớ nọ đánh thuế nặng vào nhân dân các nước bị thua trận - ngoài những khoản cống vật mà chính phủ các nước này đã phải nộp cho Napoléon - hoặc cuối cùng, bằng cách bắt bọn tài chủ phải nhả ra một phần lớn số tiền mà bọn chúng đã xoáy được, như năm 1806 chẳng hạn. Sau chiến dịch Austerlitz, vào cuối tháng 1 năm 1806, ngay khi vừa về tới Paris, Napoléon đã yêu cầu người ta báo cáo tình hình tài chính và nhận thấy tay triệu phú nổi tiếng và tham tàn Uvera cùng công ty tài chính do hắn điều khiển, mang cái tên “Hội Liên Hiệp Thương Gia”, đã biển thủ công quỹ bằng một loạt thủ đoạn rất xảo quyệt dựa vào những biện pháp pháp lý cũng rất tinh vi và đã gây cho Napoléon nhiều tổn thất nặng nề. Napoléon lập tức cho đòi Uvera và ban giám đốc của cái “Hội Liên Hiệp Thương Gia” đến cung điện Tuileries, tuyên bố trắng ra rằng ông hạ lệnh ngay cho họ phải hoàn lại tất cả những món tiền mà bọn họ đã ăn cắp được trong những năm sau cùng, Uvera đã cố nhử Napoléon bằng cách đề nghị với Napoléon những biện pháp mới “có lợi cho công quỹ”, và chắc “Đức Hoàng Thượng” ngài sẽ chấp nhận, nhưng “Đức Hoàng Thượng” đã chẳng giấu giếm gì ý kiến của mình, cho rằng biện pháp có lợi nhất cho công quỹ là bắt giam ngay tức khắc Uvera và đồng loã của hắn vào lâu đài Vincennes rồi truy tố bọn chúng trước tòa án hình sự. “Hội Liên Hiệp Thương Gia” đã đặc biệt chú ý đến ý kiến đó của Hoàng Đế, và hoàn toàn biết rõ tính chất của người đang nói chuyện với chúng nên chúng đã thừa nhận những bằng chứng xác thực, không thể chối cãi được của Napoléon: Trong những ngày sau đó, bọn chúng đã nộp cho ngân khố 87 triệu francs vàng, và trong khi giũ cho xong cái chuyện đau đớn ấy, bọn chúng đã không đòi hỏi phải có một trát lệnh rõ ràng nào của ngành tài chính hoặc của tòa án. “Tôi đã móc họng cả một ổ bọn ăn cắp”, Napoléon đã nói như vậy về sự việc ấy trong một bức thư gửi cho anh là Joseph, lúc đó là vua xứ Naples.

Tiền tệ đã vững giá, trong ngân khố của Nhà Nước đã có kha khá vàng, hệ thống bóc lột tài chính và kinh tế ở tất cả những nước bị đế chế xâm chiếm cũng như ở cả Châu Âu chư hầu để phục vụ lợi ích của các “quận cũ”, tức là lợi ích của nước Pháp chính cống, hình như đã chịu đựng nổi những cuộc thử thách hàng mấy năm trời. Bất thình lình một cơn chấn động ghê gớm đã làm rung chuyển toàn bộ tòa lâu đài đồ sộ ấy: Bài học năm 1811 đã dạy cho Napoléon thấy rằng đấu tranh chống cuộc tổng khủng hoảng kinh tế sẽ gay go hơn việc giải quyết các khó khăn tài chính tạm thời đến mức độ nào và việc lấp lỗ hổng ngân quỹ dễ dàng hơn đến mức độ nào so với việc khám phá và nhất là tiêu diệt nạn nhũng lạm đang đục khoét toàn bộ hệ thống kinh tế và tổ chức đời sống vật chất của cái đế quốc khổng lồ.

Cho dù có thu được thuế má, có móc họng được bọn tài chủ cú vọ lấy được hàng triệu đồng, có chế độ kế toán mẫu mực và có cả một bộ máy thư lại hoàn chỉnh do Napoléon sáng lập chăng nữa thì cũng không thể cứu vãn được một con bệnh như thế. Cuộc khủng hoảng năm 1811, trước hết (nhưng không phải là độc nhất vì còn nhiều cuộc khác) là một cuộc khủng hoảng thị trường tiêu thụ sản phẩm thương nghiệp và công nghiệp, những thứ đã mang lại sự giàu có đầu tiên cho nước Pháp. Những sản phẩm nổi tiếng của những nhà kim hoàn ở Paris bán cho ai? Những đồ dùng trong nhà quý giá mà gần ba phần tư nhân dân ngoại ô Saint Antoine làm ra bán cho ai? Hoặc những đồ da thượng hạng đã nuôi sống ngoại ô Saint Marceau và cả toàn khu Molfetta rộng lớn bán cho ai? Hoặc cả những bộ quần áo rực rỡ của phụ nữ và lịch sự của nam giới mà một số lớn các xưởng may mặc và thợ may ở cái thủ đô của thế giới làm ra ấy sẽ tiêu thụ đi đâu? Làm thế nào để giữ vững được giá lụa và nhung Lyon, vải len thượng hạng Sedan, quần áo vải nõn của Lille, Amiens, Rubelles, hàng thêu của Valenciennes? Tất cả các loại hàng xa xỉ ấy của Pháp sản xuất không phải chỉ để cung cấp cho thị trường nội địa mà còn để cung cấp cho toàn thế giới, nhưng thị trường tiêu thụ hàng Pháp trên thế giới ngày càng co hẹp lại nhiều: Nước Anh đã không tiêu thụ nữa, Bắc Mỹ và Nam Mỹ cũng thôi, các nhà trồng trọt giàu có ở Antilles và ở Macarena cũng vậy. Nói chung, những khách hàng giàu có nhất và đông đảo nhất đã bỏ đi mất hàng mảng, nghĩa là những khách hàng ở tất cả các nước bị “nước mặn” ngăn cách với lục địa, bởi vì trên “nước mặn” người Anh đang nắm quyền bá chủ. Nhưng tình hình ở ngay trên lục địa Châu Âu cũng chẳng thuận lợi gì. Những nước bị Napoléon chiếm cứ đã hoàn toàn kiệt quệ và những nước thua trận, mặc dù không bị người ta gọi cho đúng là những nước bị chiếm cứ, đều thấy mình bị buộc phải theo cuộc phong tỏa lục địa đang làm cho tiền tệ của họ bị phá giá dữ dội. Từ khi bọn đại địa chủ Nga không tiêu thụ được nông phẩm sang nước Anh thì tiền vàng của Anh mà bọn họ dùng để mua hàng của Paris cũng không có nữa: Sau trận Tilsit; đồng rúp sụt giá, chỉ còn 26 kopeck. Sự rủi ro đó cũng đến với bọn quý tộc Ba Lan, Áo và Ý. Trong các quốc gia ở miền Tây, miền Nam, miền Trung và cuối cùng là miền Bắc nước Đức, quá trình bần cùng hóa của giai cấp địa chủ phong kiến cũng diễn biến nhanh chóng và đúng như vậy, nhưng nguyên nhân không phải duy nhất là cuộc phong tỏa lục địa, mà còn là kết quả của sự tan rã và sự thủ tiêu chế độ nông nô ở nhiều nơi.

Vấn đề không phải là chỉ có sự bần cùng hóa của tầng lớp chúa đất phong kiến làm giàu trên chế độ nông nô. Giai cấp tư sản mới, đã phát sinh cùng với sự phát triển của tư bản công nghiệp, đang tiếp tục sự nghiệp của họ, đang lớn lên và đang được củng cố ở trong các nước bị Napoléon chiếm cứ và ở các nước trên toàn bộ lục địa Châu Âu bị phụ thuộc hay nửa phụ thuộc và Napoléon; và không một biện pháp nào có thể bóp chết được sự phát triển công nghiệp ở miền Tây và ở một phần miền Trung nước Đức, ở Bohème, ở Bỉ, ở một phần xứ Silesia là những miền công nghiệp hóa cao nhất ở Châu Âu hồi đó. Sự cạnh tranh ấy (không nói đến việc tích cực buôn hàng lậu của Anh) đã loại trừ hàng hóa Pháp đến cả các thứ hàng chẳng có gì đáng gọi là xa xỉ phẩm cả. Đối với vải len và vải sợi thông dụng, đối với hàng kim loại, đối với sự tiêu thụ các sản phẩm tiêu dùng thông thường thì, trong một chừng mực nào đó, chỉ trông vào thị trường nội địa của các “quận cũ”, nơi mà Hoàng Đế đã không cho một kẻ nào khác lọt vào, người Bỉ - không, người Đức - không, những người sản xuất tơ tằm Ý - cũng không, nói chung là không một ai cả. Tuy nhiên, vẫn có một ngành sản xuất quan trọng và được hưởng sự bảo hộ của Napoléon từ lâu, không những chỉ bị tình trạng thị trường thu hẹp tác động (không lớn lắm) mà còn phải chịu đựng giá cả nguyên liệu vọt lên cao một cách kinh khủng: Chúng tôi muốn nói đến ngành công nghiệp bông sợi.

Do bản quy định ngăn cấm nhập cảng các sản phẩm thuộc địa mà bông đã lên giá đắt như vàng. Tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu đã xảy ra gay gắt, và trong năm 1811, đã bức các nhà chế tạo phải hạn chế rất nhiều sức sản xuất. Đứng trước nạn khủng hoảng, trước sự đe dọa ngày càng tăng của nạn thất nghiệp và đói kém trong các khu phố thợ thuyền ở thủ đô, ở Lyon, ở Ruane, trước sự điêu tàn của các quận trồng nho, Napoléon đã thừa nhận một vài điều ngược với những điều luật của cuộc phong toả. Ông ta cho phép phát hành (rất hạn chế) những giấy phép đặc biệt hoặc những bài chỉ cho phép nhập cảng vào nước Pháp một trị giá nhất định nào đó “hàng cấm” với điều kiện là người được cấp bài chỉ phải bán ra ngoại quốc những hàng hóa Pháp trị giá tương đương với trị giá hàng hóa nhập cảng. Giá những giấy phép đặc biệt ấy đắt một các lạ lùng vì tình trạng tham nhũng của cơ quan công an phụ trách việc cấp phát, nhưng người được cấp giấy phép vẫn coi là một món lợi béo bở. Việc nhân nhượng đó chứng tỏ cuộc khủng hoảng 1810 - 1811 đã làm cho Napoléon phải lo nghĩ đến thế nào. Đúng là những giấy phép đặc biệt của Pháp chẳng mang lại cho người Anh những quyền lợi vật chất gì lớn, song đó là một sự vi phạm rất rõ ràng về nguyên tắc. Với tư cách là biện pháp đấu tranh chống khủng hoảng, các bài chỉ đó chỉ có thể góp phần yếu ớt vào việc mở rộng thị trường. Cái ý muốn của Napoléon là trông thấy quần thần trong triều và các viên chức cao cấp của mình vận những bộ quần áo lịch sự nhất và sang trọng nhất, năng thay đổi phục trang đến mức tối đa...v.v. lại càng ít tác dụng hơn nữa.

Những yêu cầu ấy của Hoàng Đế không thể đem lại thị trường tiêu thụ rộng lớn cho một nền công nghiệp quan trọng như nền công nghiệp xa xỉ phẩm, mặc dù dưới thời Napoléon, đời sống ở trong triều đình, kể cả trước năm 1811, đã đặc biệt xa xỉ phóng túng, nhưng sau khi Hoàng Đế đề ra những biện pháp ấy thì việc lãng phí những món tiền quá lớn để mua đồ trang sức Paris, hàng lụa Lyon, để mở những bữa tiệc hàng trăm suất mà rượu Champagne, rượu vang thượng hạng chảy thành suối, để thay đổi đồ dùng trong nhà lấy những bộ đồ quý giá hơn và đắt tiền hơn, để trang trí không những quần áo của họ mà còn cả quần áo của gia nhân bằng những ren quý, để đặt mua những chiếc xe sang trọng...v.v. đã trở thành một kiểu cách sống. Năm 1811, chính bản thân Napoléon đã đặt các nhà công nghiệp và thợ thủ công ở Lyon một loạt đơn mua hàng rất lớn và rất đắt tiền để trang bị cho các cung điện và các lâu đài khác của Nhà Nước.

Năm 1811, cũng như trước kia vào năm 1806, tình trạng sa sút đã bớt gay gắt và bớt kéo dài nên Napoléon bám chặt lấy cái nguyên tắc do ông ta đề ra từ lâu: Ông ta không nhằm mục đích cứu vãn sự vỡ nợ của các nhà kinh doanh, vì nền tài chính của Nhà Nước không đủ chi vào việc đó, mà nhằm cứu vãn sự đóng cửa của một xí nghiệp này hay xí nghiệp nọ. Và khi Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ chuẩn chi một khoản trợ cấp nào thì Napoléon yêu cầu ông ta phải đảm bảo cho sự chi tiêu ấy bằng cách vạch rõ ra rằng Bộ đã ứng tiền cho một xí nghiệp để sử dụng một số công nhân là bao nhiêu đó và nếu xí nghiệp không làm như vậy thì sẽ phải đóng cửa. Bước vào mùa đông năm 1811 - 1812, cuộc khủng hoảng bắt đầu dịu dần, tuy vậy Napoléon biết rõ rằng chưa có một nguyên nhân nào của cuộc khủng hoảng bị loại trừ cả và cuộc khủng hoảng đang tiếp diễn dưới một hình thức âm ỉ. Napoléon cũng hiểu rằng cuộc chiến tranh với nước Anh và cuộc phong tỏa lục địa, có liên quan với cuộc chiến tranh, chính là những nguyên nhân cản trở việc cải thiện một cách căn bản tình hình kinh tế của đế chế. Trước khi chấm dứt cuộc phong toả, trước hết cần phải buộc nước Anh hạ khí giới đã. Hơn bao giờ hết, Napoléon coi việc gấp rút chiến thắng nước Anh là phương sách tất yếu để củng cố nền đế chính ở bên trong cũng như ở bên ngoài. Và cũng hơn lúc nào hết, Napoléon tin rằng người Anh đã khoét được một lỗ hổng lớn trong bức thành phong toả, rằng Aleksandr đã giở ngón và lừa bịp mình, rằng hàng hóa Anh là từ nước Nga, đi qua biên giới phía Tây rộng lớn của nước Nga, qua Phổ, qua Ba Lan, qua Áo, hàng nghìn kẽ hở khác nữa mà chui vào Châu Âu, điều đó làm cho cuộc phong tỏa lục địa mất hết hiệu quả, và do đó cũng hết cả hy vọng duy nhất là “bắt nước Anh quỳ xuống”. Napoléon được biết và được khắp nơi báo cho biết trước là hàng lậu của Anh không những lọt vào các nước Châu Âu đã bị quy phục mà còn lọt vào tận nước Pháp, vào các “quận cũ” của đế quốc rộng lớn của Napoléon, và các hàng lậu đó đi từ những “bờ biển phía Bắc” của lục địa Châu Âu vào[43].

Trong suốt đời mình, cặp mắt của Napoléon đã thường xuyên chao đảo, khi thì hướng về rặng núi Apls, khi về Vienna hoặc Berlin, hoặc Madrid, nhưng cho đến cuộc ngừng chiến đầu tiên của những cuộc chiến tranh ở Châu Âu thì cặp mắt ấy đã chẳng nhìn ngó sang London; lúc này đây, cặp mắt chằng chằng hướng về London ấy đã bắt đầu rời bỏ London để nhìn sang phía cái kinh thành xa xăm nhất của Châu Âu. “Những bờ biển phía Bắc” kia đặt dưới quyền của tên Hy Lạp xảo quyệt của cái đế quốc La Mã suy tàn kia, tức là Nga Hoàng. Nên từ bỏ chiến tranh với nước Anh, từ bỏ thắng lợi đã gần tới nơi, từ bỏ việc tiêu diệt quyền lực kinh tế của nước Anh hay nên tóm cổ Aleksandr và buộc hắn phải nhớ lại những điều đã cam kết ở Tilsit? Đó là vấn đề mà Napoléon đã bắt đầu đặt ra từ năm 1810 (Thật ra, ngay từ năm 1810, Napoléon đã ra lệnh sưu tầm những tác phẩm trong đó có tài liệu về lịch sử và những đặc điểm của nước Nga). Căn cứ vào những lời của Napoléon thỉnh thoảng nói lộ ra và qua những tin tức sơ sài của đám cận thần của ông ta, thì ngay từ mùa thu năm 1810, Napoléon đã bắt đầu tập làm quen với cái ý nghĩ là chỉ có ở Moscow mới có thể giáng một đòn quyết định và sấm sét vào đầu người Anh, một địch thủ ghê gớm, bất trị và dai dẳng, một địch thủ mà Napoléon đã không thể thắng nổi họ ở Cairo, Milan, Vienna, Berlin hay Madrid. Tháng này qua tháng khác, ý định đó ngày càng ăn sâu trong đầu óc Napoléon.

 

Đại quân tiến vào Moscow, đó sẽ là sự đầu hàng của Aleksandr, đó sẽ là sự thi hành toàn bộ và đúng đắn cuộc phong tỏa lục địa, và như vậy là chiến thắng nước Anh, là chấm dứt chiến tranh, là chấm dứt khủng hoảng, là chấm dứt nạn thất nghiệp, là củng cố nền đế chính hoàn cầu cả ở trong cũng như ở ngoài. Cuộc khủng hoảng năm 1811 đã xác định dứt khoát cho ông Hoàng Đế đi theo hướng đó. Về sau này, ở Vitebsk, khi bắt đầu tiến quân sang Moscow, bá tước Davout đã thẳng thắn tuyên bố với Napoléon rằng quân đội, đến cả số lớn cận thần của Hoàng Đế, không ai hiểu được mục đích của cái chiến dịch gian khổ đánh nước Nga này, bởi vì nếu chỉ do nguyên nhân hàng hóa Anh mà gây chiến với Aleksandr thì lợi không bù hại. Nhưng đầu óc Napoléon không thể nào tiếp thu luận điểm ấy được. Napoléon tìm thấy ở trong việc bóp nghẹt nền kinh tế của nước Anh, mà Napoléon đã quyết tâm theo đuổi, một phương sách duy nhất để bảo đảm sự vững bền của nền đại quân chủ mà ông ta đã xây dựng nên. Đồng thời Napoléon cũng còn thấy rõ ràng cuộc liên minh với nước Nga bị tan vỡ không phải chỉ vì sự bất đồng ý kiến xung quanh vấn đề Ba Lan, không phải chỉ vì Aleksandr giận dữ và lo ngại về việc Napoléon chiếm đóng một phần các quốc gia Phổ và xâm chiếm miền Bắc nước Đức, mà trước hết vì nước Nga rất tin cậy vào nước Anh trong tương lai, cũng hệt như nước Anh đã đặt hết lòng tin của mình vào nước Nga. Nhưng Napoléon không thể với thẳng đến nước Anh được: Vậy phải đánh nước Nga.

Quái tượng đẫm máu của một cuộc xung đột vũ trang mới và khổng lồ đang vạch vẽ ở chân trời thế giới.

[35] Napoléon sát nhập một số nước vào nước Pháp và chia các nước ấy thành từng quận, coi như những vùng chính thức của nước Pháp.

[36] Theo truyện thần thoại Hy Lạp, Minotaur là một con quái vật (mình người, đầu bò), chuyên ăn thịt người, hằng năm thành Athen phải mang người đến cống cho Minotaur.

[37] K. Marx và Fr. Engels. Toàn tập, bản tiếng Nga, t.3. tr.152.

[38] K. Marx và Fr. Engels, toàn tập, bản tiếng Nga T.3, tr. 152.

[39] Attila, vua dân tộc Hung Nô vào năm 445, đã chiến thắng các Hoàng Đế Phương Đông và Phương Tây.

[40] Sở lưu trữ Quốc gia F7 3458. Paris, ngày 29-8-1810.

[41] Sở lưu trữ Quốc gia F7 3458. Báo cáo về báo chí Hà Lan.

[42] Sự thật là biện pháp ấy chẳng bao lâu đã phải thu hẹp lại trong phạm vi các sản phẩm công nghiệp mà thôi, còn các sản phẩm thuộc địa thì chỉ bị tịch thu và sung vào quỹ ngân khố.

[43] Sở lưu trữ Quốc gia năm thứ IV, 1318, số 62. Báo cáo của Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, ngày 7 tháng 5 năm 1810.

CHƯƠNG 12

tuyệt giao với nước nga
1

Sau trận Erfurt, Aleksandr trở về Peterburg với ý định ủng hộ sự liên minh Pháp - Nga và không đi trệch đường lối của Napoléon, ít ra thì cũng là trong những ngày gần đây nhất. Rồi đây, khi một cuốn sử khoa học và tỉ mỉ nói về kinh tế xã hội và chính trị của nước Nga hồi đầu thế kỷ thứ XIX được viết ra thì chắc chắn những nhà nghiên cứu của những thời đại sau này sẽ chú ý và dành nhiều trang giấy để viết về những năm lạ lùng ấy, kể từ trận Erfurt cho đến cuộc xâm lược của Napoléon vào năm 1812. Trong bốn năm ấy, đã diễn ra một cuộc đấu tranh cực kỳ phức tạp giữa những lực lượng và trào lưu xã hội đối địch nhau, do đó nhân vật Speransky xuất hiện rồi sụp đổ đã là một tất yếu lịch sử.

Lúc ấy, vấn đề cải cách bộ máy cai trị của đế quốc Nga đã rõ rệt là một vấn đề khẩn cấp. Austerlitz, Friedland, Tilsit: Ngần ấy vấp váp cũng đủ làm cho người ta có ý thức rằng cần thiết phải có một sự cải cách. Nhưng mặt khác, những thất bại khủng khiếp mà nước Nga chịu đựng trong hai cuộc chiến tranh lớn, do chính nước Nga tiến hành chống Napoléon vào những năm 1805 - 1807, đã kết thúc bằng một cuộc liên minh tương đối có lợi (mặc dầu người ta vẫn có thể nói đến cái nhục Tilsit) với kẻ đi chinh phục thế giới và sau đó ít lâu lại được hưởng đất đai rộng lớn của nước Phần Lan thì rất tự nhiên rằng Nga Hoàng không nhìn thấy những lý do phải tiến hành những cuộc cải cách sâu sắc và căn bản tối thiểu, cũng không thấy được phải tiến hành những cuộc cải cách giống như ở nước Phổ sau thảm họa Jena. Chính khi ấy Speransky đã xuất hiện rất đúng lúc. Người bình dân thông minh, khôn khéo và thận trọng ấy là người ở trong đoàn hộ giá Aleksandr từ Erfurt trở về, và ông ta rất khâm phục Napoléon. Speransky không đụng chạm mảy may gì đến chế độ nông nô dù chỉ là bề ngoài, trái lại đã cố sức chứng minh rằng nó không giống gì với chế độ nô lệ Speransky cũng không đụng chạm chút gì đến nhà thờ Thiên Chúa Giáo chính thống mà Speransky thường hết lời ca tụng. Vậy thì còn phải nói gì đến việc Speransky không bao giờ muốn đặt ra một sự hạn chế nào đó đối với giai cấp quý tộc, và trái lại, Speransky còn thấy nền chuyên chế của Nga Hoàng là động lực chính của những cuộc cải cách do ông ta tiến hành. Những cải cách ấy vừa đúng để nhằm biến một chế độ quân chủ chuyên chế, không còn sinh sắc, nửa Phương Đông, và trở thành vật đặc hữu của dòng họ Holstein Gottorp - một dòng họ đã chiếm đoạt danh hiệu của dòng họ quý tộc Romanov đã tàn tạ - thành một quốc gia Châu Âu hiện đại, có một bộ máy hành chính đầy hiệu lực, có những hình thức pháp chế, có tổ chức kiểm soát về tài chính và cai trị, có những viên chức thành thạo và có năng lực, có những nhà cai trị không phải là những tên chúa tể chuyên quyền, dâm đãng mà là những Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng, tóm lại, Speransky muốn nhập vào nước Nga cái tổ chức xã hội mà theo ý Speransky đã làm cho nước Pháp trở thành nước đứng đầu thế giới. Bản thân chương trình ấy tuyệt không hề trái ngược gì với ý nghĩa, tình cảm ước vọng của Aleksandr, và Nga Hoàng đã ủng hộ viên cận thần của mình trong nhiều năm ròng. Nhưng Aleksandr và Speransky đã tính lầm. Bọn quý tộc thâm căn cố đế và bọn quý tộc hạng trung lớn lên trong nghề nghiệp của chúng đã đánh hơi thấy kẻ địch, mặc dầu địch thủ khoác bên ngoài tấm áo ôn hòa với những thái độ đầy thiện chí. Bọn chúng đã ngửi thấy một cách bản năng rằng Speransky nhằm biến cái quốc gia chuyên chế và phong kiến thành một quốc gia chuyên chế tư sản và đặt ra những thể thức mâu thuẫn về căn bản với chế độ phong kiến đang dựa trên chế độ nông nô hiện tồn tại ở nước Nga, cũng như mâu thuẫn về căn bản với cơ cấu đầy tính chất quý tộc trong đời sống chính trị và xã hội Nga thời ấy.

Tất cả đám ấy đồng tình nhất trí phản đối Speransky. Dưới con mắt bọn này, sự nghiệp của Speransky liên hệ một cách hữu cơ, chứ không phải ngẫu nhiên với lòng thích thú cuộc liên minh Pháp - Nga và với tình bạn của vị thượng thư đang nắm chính quyền đối với nhà độc tài nước Pháp và Châu Âu là hữu cơ, chứ không phải ngẫu nhiên mà trong tư tưởng bọn đại lãnh chúa Nga, hình ảnh đứa con ấy của giáo sĩ - kẻ đã đặt ra những kỳ thi cho viên chức và muốn đuổi giới quý tộc ra khỏi bộ máy Nhà Nước để giao cho những người bình dân, những người của nhà thờ và các thương nhân - được gắn liền với cái anh người Pháp đi ăn cướp đang làm phá sản cùng cái giai cấp quý tộc Nga ấy bằng cuộc phong tỏa lục địa, và trước mặt con người ấy, Nga Hoàng cùng với bầy cận thần đã phải đến chào mừng ở Erfurt, giống như những Nga Hoàng thời xưa đối với vua chúa Tatar. Đó là đường lối có tính chất cương lĩnh của phe đối lập ở trong triều và trong giai cấp quý tộc ở Petersburg và ở Moscow, mà bọn họ đã triệt để đeo đuổi suốt những năm 1808 - 1812, và sự đối lập ấy đã được biểu lộ mãnh liệt trong việc chống lại chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Nga Hoàng và của thượng thư Speransky. Chỉ riêng tình hình ấy cũng đã đủ làm cho sự liên minh Pháp - Nga mất hết cơ sở vững bền.

Trong những phòng khách của bọn quý tộc, người ta chỉ trích sự sáp nhập đất Phần Lan cướp của Thụy Điển, vì việc ấy đã làm theo ý muốn của Napoléon, và người ta cũng không muốn nhận xứ Galicia, nếu đó là sự đền bù cho Nga trong việc Nga đã giúp đỡ gã Bonaparte khả ố chống nước Áo năm 1809. Người ta tìm mọi cách để tỏ sự lạnh nhạt của mình đối với viên đại sứ Pháp Caulaincourt, và Nga Hoàng càng tỏ rõ hòa hảo và ân cần với viên đại sứ bao nhiêu thì giới quý tộc của Petersburg “mới” và đặc biệt là giới quý tộc ở Moscow cũ lại càng tỏ thái độ hằn học rõ rệt với viên đại sứ ấy bấy nhiêu.

Nhưng vào cuối năm 1810, Aleksandr thôi không chống lại cái trào lưu đang thắng thế ấy nữa. Trước hết vì Aleksandr đã tỉnh ngộ khám phá ra rằng những lời nói của Napoléon về sự bành trướng ảnh hưởng của Nga ở Phương Đông, ở Thổ Nhĩ Kỳ cuối cùng chỉ là những lời nói suông; hai là vì Napoléon vẫn không rút quân ra khỏi nước Phổ và nhất là đang cùng với Ba Lan tiến hành một âm mưu nào đó, không từ bỏ ý định phục hưng nước Ba Lan, điều đó đe dọa sự toàn vẹn biên giới của nước Nga đang lo ngại rằng mình có thể bị cướp đoạt mất đất Litva; thứ ba là đối với những thiếu sót của Nga trong khi thi hành cuộc phong tỏa lục địa thì những sự phản kháng và bất bình của Napoléon đã diễn ra dưới hình thức nhục mạ thậm tệ, xúc phạm Aleksandr; thứ tư là sát nhập những lãnh thổ của các nước khác mà Napoléon tuỳ ý thực hiện trong những năm 1810 - 1811 bằng cách hạ tay ký một chữ là xong đã làm cho Aleksandr lo lắng và tức giận. Uy quyền không hạn độ của Napoléon tự bản thân nó luôn luôn là một sự uy hiếp treo trên đầu các nước chư hầu, trong số đó, kể từ sau trận Tilsit, đương nhiên là có Aleksandr (Nga Hoàng biết điều đó).

Người ta nói mỉa mai đến những ân huệ nhỏ nhặt mà Napoléon đã ban cho Aleksandr năm 1807, bằng cách tặng Nga Hoàng thành phố Białystok của Phổ và năm 1809, một mẩu đất của Áo ở biên thùy xứ Galicia. Người ta nói Napoléon đã đối xử với Aleksandr cũng như trước đây các Nga Hoàng đối xử với các triều thần trung thành của mình, khi có công lao thì ban thưởng cho một số “thần dân”.

Khi dự kiến kết hôn của Napoléon với quận chúa Anna Pavlovna không thành thì lần đầu tiên ở khắp Châu Âu người ta nói đến sự bất hòa nghiêm trọng sắp tới giữa hai vị Hoàng Đế. Sự kết hôn của Napoléon với con gái vua Francis nước Áo được hiểu như sự thay thế cho cuộc liên minh Pháp - Nga bằng cuộc liên minh Pháp - Áo. Những bằng cớ chính xác cho phép xác định rằng Napoléon không những bắt đầu nói thẳng đến cuộc chiến tranh với Nga, mà còn nghiên cứu vấn đề ấy một cách nghiêm chỉnh ngay từ tháng Giêng năm 1811, khi Napoléon được biết tin về biểu thuế quan mới của nước Nga. Biểu thuế quan mới này nâng lên khá cao mức thuế nhập khẩu đánh vào rượu vang, tơ lụa, nhung và những hàng xa xỉ khác, tức là những mặt hàng chủ yếu từ Pháp xuất khẩu sang Nga. Napoléon đã phản đối. Người ta đã trả lời Napoléon rằng tình hình trầm trọng của nền tài chính nước Nga đã buộc phải làm như vậy. Và biểu thuế ấy vẫn được thi hành. Ngày càng nhiều những sự khiếu nại về việc nước Nga cho nhập khẩu một cách quá dễ dàng các sản phẩm thuộc địa chở trên các tàu kéo cờ trung lập nhưng thực tế của nước Anh. Napoléon tin chắc chắn rằng nước Nga bí mật nhập cảng hàng hóa của Anh rồi bán tràn sang Đức, Áo, Ba Lan, vì vậy mà cuộc phong tỏa chẳng còn hiệu lực gì hết.

Chính Aleksandr cũng nghĩ rằng chiến tranh không sao tránh khỏi, cho nên đã đi tìm đồng minh và thương lượng với Bernadotte, một Thống Chế của Napoléon nay đã là hoàng tử kế nghiệp ở Thụy Điển và trở thành kẻ thù của chủ cũ. Ngày 15 tháng 8 năm 1811, trong buổi chiêu đãi trọng thể đoàn ngoại giao đến chúc mừng Napoléon nhân dịp kỷ niệm ngày sinh Napoléon, Napoléon dừng lại trước mặt đại sứ Nga là hoàng thân Kuryakin, thốt ra những lời lẽ giận dữ, đầy hăm dọa. Hoàng Đế buộc tội Aleksandr đã bội ước liên minh và có những hành động cừu địch, “chúa của ông muốn gì?” Napoléon hỏi bằng giọng nạt nộ. Sau đó Napoléon đề nghị với Kuryakin ký kết một bản thỏa hiệp nhằm làm tiêu tan mọi sự hiểu lầm giữa nước Nga và đế quốc Pháp. Bối rối và lúng túng, Kuryakin trả lời là không có đủ thẩm quyền. Napoléon thét lên: “Không có đủ thẩm quyền à? Thế thì thỉnh thị đi!... Tôi không muốn chiến tranh, tôi không muốn phục hưng nước Ba Lan, nhưng các ông, các ông muốn buộc chặt công quốc Warszawa và Danzig vào nước Nga.. Chừng nào những ý đồ bí mật của triều đình ông còn chưa được sáng tỏ, tôi còn chưa ngừng tăng cường quân đội đóng ở nước Đức!” Rồi không thèm nghe những lời biện bạch và thanh minh của Kuryakin, Hoàng Đế tiếp tục phát biểu ý kiến của mình bằng đủ mọi cách và bác bỏ tất cả những lời tố cáo của Kuryakin.

Sau màn kịch ấy, ở Châu Âu không ai còn nghi ngờ gì về việc phải dự phòng một cuộc chiến tranh sắp tới. Napoléon biến dần dần toàn bộ nước Đức chư hầu thành một căn cứ quân sự xâm lược to lớn. Đồng thời, Napoléon cũng quyết định bắt buộc nước Áo và nước Phổ, hai nước này duy nhất trên lục địa còn được coi là độc lập, tuy rằng về mặt chính trị nước Phổ đã hoàn toàn lệ thuộc vào Napoléon, phải liên minh với mình. Cuộc liên minh quân sự này phải được thực hiện ngay trước khi xâm lược nước Nga.

2

Nước Phổ đã trải qua những thời kỳ vô cùng gay go dưới ách thống trị của Napoléon. Tuy nhiên, cho đến cả thời kỳ tiếp theo ngay sau khi ký hòa ước, vào năm 1807 - 1808, người ta cũng chưa bao giờ thấy nước ấy chìm đắm trong cơn bệnh hốt hoảng mãn tính đến như thời kỳ sau trận Wagram và sau khi Napoléon cưới công chúa Áo. Trong những năm đầu, dưới ảnh hưởng của Stein và của “đảng cải cách”, nếu chế độ nông nô chưa hoàn toàn bị xoá bỏ ở Phổ thì tất cả những cơ sở pháp chế của nó cũng đã bị phá hoại nặng nề. Ngoài ra, người ta còn tiến hành một số cải cách khác nữa.

Nhưng Stein, con người yêu nước nồng nàn ấy, vì đã bộc lộ quá rõ rệt nhiệt tình của mình đối với cuộc khởi nghĩa của Tây Ban Nha nên đã làm cho cảnh sát của Napoléon chú ý: Một bức thư của Stein đã bị chặn giữ lại, và dưới con mắt của Hoàng Đế, bức thư ấy bao hàm ác ý, nên Hoàng Đế đã ra lệnh cho Frederick Wilhelm đệ tam tức khắc đuổi Stein ra khỏi lãnh thổ Phổ. Để tỏ lòng sốt sắng không những vua Wilhelm lập tức chấp hành lệnh ấy, mà còn thêm vào đó việc tịch thu tài sản của nhà chính trị bất hạnh này.

Tuy vậy, công cuộc cải cách ở nước Phổ chỉ chậm lại chứ không gián đoạn hẳn. Scharnhorst, thượng thư Bộ Chiến Tranh, Gneisenau và những người giúp việc tìm hết cách để tổ chức lại quân đội. Theo đúng điều kiện của Napoléon thì nước Phổ không được duy trì một đạo quân quá 4 vạn 2 nghìn người, nhưng chính phủ Phổ đã khéo xoay xỏa bằng mọi phương kế khác nhau để có thể rút rất ngắn thời hạn nghĩa vụ binh dịch nhằm huấn luyện quân sự cho một số đông người. Như vậy, trong khi chịu khuất phục trước ý chí của Napoléon, trong khi chịu luồn cúi, bợ đỡ, tự hạ, nước Phổ đã lặng lẽ chuẩn bị cho những thời gian tới, và tin tưởng sẽ thoát khỏi tình thế tuyệt vọng, không thể chịu đựng được ấy, cái tình thế do sự thất bại khủng khiếp năm 1806 và Hòa Ước Tilsit năm 1807 đẻ ra.

Năm 1809, khi chiến tranh giữa Napoléon và nước Áo bùng nổ thì về phía nước Phổ, đã nảy sinh ra một mưu đồ cá nhân, một thứ quằn quại tuyệt vọng, để lật đổ ách thống trị của kẻ thù: Thiếu tá Sin, cùng một bộ phận thuộc trung đoàn quân khinh kỵ do ông chỉ huy, đã bắt đầu một cuộc chiến tranh du kích. Ông đã bị đánh bại và bị giết, những bạn chiến đấu của ông bị tòa án quân sự Phổ kết tội và xử bắn theo lệnh của Napoléon. Vừa sợ hãi, vừa tức giận Sin, nhà vua như người điên cuồng mất trí, nhưng Napoléon lúc này lại lấy làm bằng lòng về những cuộc hành hình ấy và những lời cam kết quỵ lụy của Frederick Vinhem. Sau trận thất bại mới của nước Áo và Wagram, sau Hòa Ước Schönbrunn và sau khi Napoléon kết hôn với Marie Louise, nước Phổ thấy những hy vọng phục quốc cuối cùng của mình đã bị tan: Nước Áo hình như đã hoàn toàn và dứt khoát đi theo đường lối chính trị của Napoléon. Trông cậy ai giúp đỡ bây giờ và căn cứ vào đâu mà đặt hy vọng? Vào sự bất hòa đang chớm nở giữa Napoléon và nước Nga chăng? Nhưng nó tiến triển quá chậm và từ sau trận Austerlitz và Friedland người ta đã không còn tin tưởng vào lực lượng của nước Nga như ngày trước nữa.

Ngay từ những ngày đầu của năm 1810, đã bắt đầu có tin đồn dữ; người ta gán cho Napoléon có ý định đơn giản bằng một bản sắc lệnh hoặc đem chia cắt nước Phổ cho đế quốc Pháp, cho vương quốc Westphalia của Jérôme Bonaparte và cho các xứ Saxony, chư hầu của Napoléon, hoặc là bằng cách bỏ triều đại Hohenzollern, đưa một người họ hàng hay một Thống Chế nào đó của triều đại ấy lên thay thế. Ngày 9 tháng 6 năm 1810, sau khi Napoléon ra sắc lệnh sáp nhập nước Hà Lan để làm thành chín quận mới của đế quốc Pháp, sau khi các thành phố Hamburg, Bremen, Lubeck, các công quốc Lauenburg, Oldenburg, Dandans, Arenberg và nhiều quốc gia khác cũng bị sáp nhập một cách nhẹ nhàng như vậy, và sau khi đã chiếm xong toàn bộ bờ biển miền Bắc nước Đức từ Hà Lan đến Honstein, thì Thống Chế Davout, trong một bản bố cáo nhằm an ủi nhân dân các nước bị sáp nhập có tuyên bố rằng nền độc lập của họ chỉ là một sự tưởng tượng thì vua Phổ lúc đó nghĩ rằng ngày cuối cùng của triều đại mình đã đến. Sự độc lập của nhà vua cũng chỉ là “tưởng tượng” và nhà vua biết rằng tại Tilsit, Napoléon đã tuyên bố rõ ràng là sở dĩ ông ta không gạch tên nước Phổ trên tấm bản đồ Châu Âu thì duy nhất chỉ vì nể ông Nga Hoàng của nước Nga. Nhưng đến năm 1810 - 1811; quan hệ giữa Napoléon và Nga Hoàng đã tan vỡ một cách nhanh chóng và không còn vấn đề “vì nể” gì nữa. Đến cuối năm 1810, bất chấp tất cả, Napoléon đã đuổi công tước Oldenburg ra khỏi đất nước và sáp nhập xứ ấy vào đế quốc Pháp, mặc dầu con trai và là người kế nghiệp của vị công tước ấy đã kết hôn với Yekaterina, em gái Aleksandr.

Trong những năm 1810 - 1811, nước Phổ dường như đang đứng trên bờ diệt vong; không phải chỉ riêng nhà vua Frederick Wilhelm đệ tam - con người không bao giờ nổi tiếng về lòng can đảm - sợ hãi điều đó, mà cả những hội tự do và yêu nước như hội Tugendbund, một hội phản ánh những nguyện vọng của một bộ phận thanh niên tư sản Đức thời ấy muốn thoát khỏi ách nô dịch của nước ngoài và muốn xây dựng một nước Đức mới và “tự do” cũng nằm im ắng như ngủ say. Hội Tugendbund không phải là tổ chức duy nhất, nhưng nó là tổ chức đáng kể nhất trong các hội bất hợp pháp, chính nó cũng đã thôi không lên tiếng nữa và ôm mối thất vọng trong năm 1810, nhất là vào năm 1811 và đầu năm 1812, khi tình thế hầu như tuyệt không còn chút hy vọng gì. Thượng thư Hardenberg, trước đây thuộc phái chủ trương kháng chiến, và vì lý do ấy mà bị đưa ra khỏi triều đình Phổ theo yêu sách của Napoléon, cũng đã bị biểu thị một cách rõ rệt sự ăn năn hối hận của mình và đã viết thư báo cho sứ thần Pháp Saint Marshall biết như vậy. Về việc mình cho tướng Scharnhorst: “Vận mệnh của chúng ta là tùy thuộc vào Napoléon”. Tháng 5 năm 1810, chính Hardenberg đã viết cho viên quan ngoại giao Pháp lá đơn với lời lẽ van lơn như sau: “Cúi mong Hoàng Đế Bệ Hạ rủ lòng xét đến khả năng của tôi có thể tham gia công việc chung. Việc ấy sẽ làm cho nhà vua của tôi thấy rõ là tôi lại được Hoàng Đế tin cậy và ban ơn”. Napoléon xá tội và cho phép Frederick Wilhelm bổ nhiệm Hardenbergn làm Đại Thần Tư Pháp. Việc này đã diễn ra ngày 5 tháng 6 năm 1810 và đến ngày 7 tháng 6 năm 1810, vị đại thần mới của nước Phổ viết cho Napoléon: “Tin tưởng một cách sâu sắc rằng nước Phổ chỉ có thể phục hưng cũng như bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và hạnh phúc tương lai của mình bằng cách thật thà đi theo chính thể của Hoàng Đế. Tâu Bệ Hạ, hạ thần cho rằng không có gì quang vinh cho hạ thần hơn là được lòng ái mộ và tin cậy của Bệ Hạ, với niềm tôn kính sâu sắc nhất, hạ thần nguyện làm kẻ tôi tớ ngoan ngoãn và tận tụy nhất của Bệ Hạ - Nam tước Hardenberg đại thần triều đình Vương quốc Phổ”.

Các thứ thuế đảm phụ được nộp đúng kỳ hạn, cuộc phong tỏa chấp hành nghiêm ngặt, nhà vua run sợ và cúi rạp trước Napoléon, Hardenberg nịnh nọt và tự hạ mình, nhưng Napoléon vẫn không rút quân khỏi các pháo đài Phổ và cũng không hứa hẹn chắc chắn một điều gì, Sau tất cả những sự việc ấy thì người ta không lấy gì làm lạ khi thấy Napoléon: Để chuẩn bị chiến tranh với nước Nga, đã đột nhiên buộc nước Phổ phải đưa quân tham chiến; nước Phổ đã tuân lệnh, song không phải nó không có nhiều bề do dự, vả lại chính vì vậy mà Hoàng Đế đã phải cho chấm dứt ngay tức khắc những sự do dự ấy: Ngày 14 tháng 11 năm 1811, Napoléon chỉ thị cho Thống Chế Davout phải sẵn sàng để khi có lệnh là tiến ngay vào nước Phổ và đặt toàn nước Phổ dưới sự chiếm đóng của quân đội Pháp.

Ngày 24 tháng 2 năm 1812, một hiệp định đã được ký kết ở Paris, theo hiệp định ấy nước Phổ cam kết đứng về phía Napoléon để tham chiến trong bất kỳ một cuộc chiến tranh nào mà Napoléon tiến hành.

Ngay sau đó, Napoléon hướng về phía nước Áo. Công việc này được giải quyết chẳng khó khăn gì lắm. Sau trận Wagram và Hòa Ước Schönbrunn, chính phủ Áo đã khiếp đảm; sau khi Napoléon kết hôn với Marie Louise, Metternich và các chính khách khác có tiếng tăm của Áo đã cho rằng đi theo đường lối của Napoléon là có lợi, ngỡ là có thể xin xỏ kẻ chiến thắng được chút gì để bù vào chỗ mất mát một số tỉnh. Napoléon có thể đánh nước Áo từ mặt phía Tây và phía Bắc qua xứ Bavaria và xứ Saxony, từ mặt trận phía Nam, từ các tỉnh Illyria, nghĩa là từ Carnion và Carinthia và từ vương quốc Ý đánh vào. Napoléon có thể tràn tới từ phía Đông Bắc, từ Ba Lan (qua xứ Phalixia). Đế quốc và các chư hầu của Napoléon bao vây và thiết chặt nước Áo bốn bề.

Nỗi lo sợ bị xâm chiếm và những niềm hy vọng đặt vào lượng bao dung của anh chàng rể uy quyền vô thượng của mình đã làm cho Hoàng Đế Francis trở thành một tên đày tớ dễ bảo của Napoléon chẳng kém gì Frederick Wilhelm đệ tam đang kinh sợ khiếp đảm. Ở Vienna cũng vậy, trong mấy năm nay Napoléon chỉ nghe thấy dội đến tai những lời xu nịnh hèn hạ. Năm 1811, khi Hoàng Hậu Marie Louise sinh được một đứa con trai, kẻ kế nghiệp đế chế Napoléon, thì ở Vienna, để tỏ lòng sùng ái sâu sắc nhất đối với triều đình, người ta cho xuất bản một bức tranh vẽ Đức Mẹ Đồng trinh với những đặc điểm của Marie Louise ôm trong lòng một chú bé Jesus mà gương mặt là ông “vua La Mã” trẻ tuổi và ở trên những nhân vật ấy là vị Thượng Đế của quân đội, được người nghệ sĩ vẽ giống nét mặt của Napoléon, đang bay lượn trong mây mù Sabaoth[44]. Tóm lại, người ta không từ một sự tầm thường nào, dù có vụng về và không hợp đi nữa, để nhắc lại những tình cảm khâm phục hèn hạ, lòng sùng bái và mối hoan hỉ điên loạn của mình đối với kẻ độc tài của Paris. Bản năng và lý trí nói với những người thông minh và nhạy cảm nhất về chính trị, như Metternich chẳng hạn, rằng đế quốc của Napoléon chỉ là một hiện tượng nhất thời. Nhưng mặt khác, vào những năm 1810 - 1812 chính bản thân những người hoài nghi nhất cũng bắt đầu làm quen với cái nhận định cho rằng ngay trước mắt thì nhất thiết không thể đấu tranh thắng lợi được với Napoléon.

Nước Anh, với nhiều thuộc địa và biển cả, vẫn tiếp tục đương đầu, nhưng những tin tức về sự vỡ nợ, phá sản, nạn thất nghiệp về cuộc cách mạng đang đe dọa bùng nổ ở Anh chứng tỏ rằng quần đảo Anh đã bắt đầu thấy nghẹt thở trong vòng vây siết chặt của cuộc phong tỏa lục địa. Khi thấy các đội quân Pháp kéo đến, những người chăn cừu cùng khổ ở Tây Ban Nha trốn vào khe núi, vào rừng rậm để tiếp tục chiến đấu. Nhưng nước Áo không thể và cũng không muốn tiến hành một cuộc chiến đấu như vậy. Còn nước Nga? Hiển nhiên là yếu hơn Napoléon; bị thất bại nhục nhã ở Austerlitz trong mưu đồ cứu nước Áo nhưng không thành công nên Nga đã phản bội Phổ ở Tilsit. Dù cho hậu quả thế nào chăng nữa bây giờ cũng phải đi với Napoléon. Vì vậy, khi Napoléon yêu cầu ký một hiệp ước đồng minh chống lại nước Nga, giống như hiệp ước mà nước Phổ đã buộc phải ký với Napoléon vào tháng 2 năm 1812, thì triều đình Vienna không chút do dự gì trước những ý muốn của Hoàng Đế Pháp, cũng không mặc cả gì nhiều về sự đền bù sau này.

Ngày 14 tháng 3 năm 1812, một Hiệp Ước Pháp - Áo được ký tại Paris, theo hiệp ước này, nước Áo cam kết cung cấp cho Napoléon 3 vạn quân. Hoàng Đế bảo đảm là xứ Moldavia và xứ Walasia hiện đang bị quân đội của Nga Hoàng chiếm đóng sẽ được tước khỏi nước Nga.

Ngoài ra, sau này có thể sẽ đền bù cho Áo xứ Galicia hoặc một vùng đất đai khác nào đó tương đương và quyền sở hữu đất đai ấy của Áo được bảo đảm. Napoléon cần đến “hai cuộc liên minh” ấy với nước Phổ và nước Áo để tăng thêm lực lượng cho đại quân thì ít mà chính là để thu hút một phần lực lượng quân Nga về phía Bắc và về phía Nam chứ không cho dồn cả vào con đường thẳng từ Kovno đi Vilna, Vitebsk, Smolensk, Moscow là trung tâm tiến công sau này của Napoléon. Đối với cuộc chiến tranh sắp xảy ra này, nước Phổ phải cam kết cung cấp cho Napoléon 2 vạn quân và nước Áo 3 vạn. Ngoài ra, với danh nghĩa là những khoản đảm phụ còn đọng lại chưa trả được, nước Phổ phải cung cấp cho quân đội Napoléon 2 vạn tấn lúa mạch, 4 vạn tấn lúa mì, hơn 4 vạn con bò và 70 triệu chai rượu mạnh.

Vào đầu mùa xuân, sự chuẩn bị về mặt ngoại giao của cuộc chiến tranh đã xong xuôi. Vụ mùa năm 1811 bị thất bát nặng, trong thời gian từ cuối mùa đông năm ấy và những tháng đầu năm 1812, một số vùng ở Pháp lâm vào cảnh đói kém, do đó, ở thôn quê, có nơi bị rối loạn và tình hình ấy đe dọa lan ra những nơi khác. Tình thế ấy đã làm cho Napoléon phải lùi chiến dịch chậm lại mất một tháng rưỡi hay hai tháng. Những hoạt động của bọn lũng đoạn và đầu cơ đã làm tăng thêm tình hình nhộn nhạo và mối căm phẫn ở nông thôn, và sự rối loạn ấy cũng là lý do làm chậm việc mở chiến dịch của Napoléon. Trong cuốn Gia Đình Thần Thánh, Marx đã nêu sự kiện này và kết luận đúng đắn rằng những hoạt động của bọn đầu cơ lũng đoạn đã góp phần vào sự thất bại của chiến dịch nước Nga và sự lung lay đầu tiên của đế quốc Pháp. Cũng cần phải chú ý một điểm nữa là việc trưng binh, tiến hành rất ì ạch từ sáu năm nay (kể từ sau trận Austerlitz) lần này đã dẫn đến kết quả là vào năm 1811 và đầu năm 1812 số người trốn binh dịch tăng lên nhiều một cách đặc biệt, những người bị gọi ra tòng quân bỏ trốn vào rừng ẩn náu, chui vào hang nấp kín. Những khó khăn về mặt kinh tế, hậu quả của những cuộc chiến tranh liên miên và của nạn thuế má nặng nề (đặc biệt là cuộc chiến tranh trường kỳ ở Tây Bạn Nha) đã làm cho đông đảo quần chúng nông dân bất bình, điều này được thể hiện ở sự trốn tránh nghĩa vụ binh dịch ngày càng phát triển. Trong khi kêu ca là do nạn trưng binh mà mất nguồn nhân công nông nghiệp rẻ tiền, bọn địa chủ cũng đã bắt đầu tỏ thái độ bất bình. Napoléon buộc phải dùng những đội quân lưu động đi càn bắt những người trốn tránh trong rừng để cưỡng ép họ tòng quân.

Nhờ những biện pháp áp bức như vậy, nên dù sao việc chiêu binh trước khi bước vào cuộc chiến tranh năm 1812 cũng đạt được gần đủ số quân mà Napoléon mong muốn.

Vào cuối mùa xuân năm 1812, toàn bộ sự chuẩn bị về quân sự và ngoại giao của chiến dịch đã xong xuôi và đã có những phần được sắp đặt xong cả về chi tiết. Toàn thể Châu Âu chư hầu sẵn sàng ngoan ngoãn đi đánh nước Nga. Ông Hoàng Đế đã quyết định chia cắt nước Tây Ban Nha: Năm 1811 ông đã tách ra khỏi lãnh thổ của anh ông ta là Joseph Bonaparte, người đã được ông ta phong làm vua nước Tây Ban Nha, tỉnh Catalonia, một tỉnh giàu có và có nền công nghiệp phát triển nhất của Tây Ban Nha, để sáp nhập tỉnh đó vào nước Pháp và chia làm bốn quận. Việc ấy, đã làm giầu cho nền thương nghiệp Pháp, được Napoléon coi là có tính chất trừng phạt dân Tây Ban Nha “phiến loạn”. Nhưng cuộc “phiến loạn” ấy kéo dài cả ở những quận Catalonia mới của nước Pháp chiếm đóng của Tây Ban Nha, mặc dầu về danh nghĩa thì đất đai là “độc lập”, thuộc quyền cai trị của vua Joseph Bonaparte. Các Thống Chế Soult, Marmont, Suchet được để lại ở Tây Ban Nha chỉ huy các lực lượng quan trọng và hoàn chỉnh. Chủ ý của Napoléon là dùng những lực lượng ấy để chống lại sự ức chế của quân Anh đang chiến đấu trên bán đảo Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của Wellington và chống lại nghĩa quân Tây Ban Nha, những “quân du kích” đang tiếp tục cuộc chiến đấu một mất một còn của họ đã từ hơn bốn năm nay.

Nước Anh lúc nào cũng đứng rình sau lưng Napoléon, nhưng về mặt này xem chừng không có một nguy cơ trước mắt nào đáng sợ cả, đó là không kể đến tình thế nguy ngập trong nội tại nước Anh không kể đến sự tàn phá do cuộc phong tỏa lục địa này gây nên, đến nạn thất nghiệp, đến phong trào công nhân chống lại mạnh mẽ việc cơ khí hóa (và đến sự phá hoại máy móc ở những vùng công nghiệp); chính sách khôn khéo của Napoléon dành cho người Mỹ một số đặc quyền về thương mại và chấp thuận cho họ nhiều khoản ngoại lệ cũng đã góp phần làm nổ ra cuộc chiến tranh giữa Anh và Mỹ. Cuộc chiến tranh ấy do tổng thống Mỹ tuyên bố ngày 15 tháng 6 năm 1812, chín ngày trước khi Napoléon đặt chân lên đất Nga. Cuộc xung đột vũ trang với Châu Mỹ làm cho nước Anh suy yếu trong cuộc vật lộn với đế quốc Pháp.

Hậu phương được an toàn, đường đi thênh thang, Napoléon điều động một số lực lượng vũ trang đông gấp bội lần so với những lực lượng mà Napoléon đã từng chỉ huy trong các cuộc chiến tranh trước; trước mặt Napoléon là một kẻ thù đã từng bị ông ta đánh bại nhiều lần.

Các nhà ngoại giao đoán trước một thảm họa. Nhưng tuyệt đại đa số trong bọn họ, kể từ những người thông minh nhất như Metternich, những người thận trọng nhất như Hardenberg, những người sôi sục căm thù Napoléon nhất như Joseph Meterger đều cho rằng thảm họa ấy sẽ vô cùng khủng khiếp đối với nước Nga, sẽ là một cơn giông tố chưa từng thấy trong lịch sử nước này, kể từ thời bị quân Mông Cổ xâm lược, đang sắp tràn vào.

Số quân cần thiết cho chiến dịch của Napoléon lúc ấy ước chừng nửa triệu người, không kể số 5 vạn quân mà nước Áo và nước Phổ phải cung cấp cho Napoléon. Trong số quân này, có hơn 20 vạn là do các nước chư hầu khác cung cấp như Ý, Illyria, vương quốc Westphalia xứ Bavaria, Württemberg, Baden, Saxony, tất cả các vương quốc Đức khác trong Liên Bang Sông Rhine, Đại Công Quốc Warszawa có 9 vạn người Ba Lan phục vụ trong quân đội Napoléon. Nước Bỉ, nước Hà Lan, các thành phố đồng minh thương nghiệp ở miền Tây Bắc nước Đức không được coi là các nước chư hầu, mà là một thành viên của đế quốc Pháp.

Sau khi nghe ngóng tất cả những lời dự đoán ấy, tướng De Voorde, người xứ Bavaria đã đánh bạo hỏi một cách rụt rè rằng: “Dù sao, tránh một cuộc chiến tranh với nước Nga có phải vẫn lợi hơn không?”. Ông Hoàng Đế trả lời: “Trong ba năm nữa, ta sẽ làm chủ thế giới”.

3

Hồi sáu giờ sáng ngày 9 tháng 5 năm 1812, Napoléon cùng Hoàng Hậu Marie Louise rời lâu đài Saint Cloud để bắt theo đại quân đã đang đi qua nước Đức bằng nhiều đường khác nhau tiến về phía Ba Lan và dần dần tập trung ở bên sông Vistula và Niemen. Ngày 16 tháng 5, Hoàng Đế vào Dresden, đi bên cạnh có vua xứ Saxony đã ra đón Hoàng Đế từ ngày hôm trước. Các vua chúa và đại công tước các nước chư hầu đều đã tụ họp ở thủ đô xứ Saxony để chào mừng vị chúa tể của họ, và trong số đó có cả vua nước Phổ Frederick Vinhem đệ tam. Hoàng Đế Áo Francis cũng đã tới, cùng với Hoàng Hậu. Napoléon lưu lại Dresden mười lăm ngày ở giữa đám triều đình tôi đòi ấy. Tất cả các vị vua chúa ấy, kể cả bố vợ Napoléon là Hoàng Đế nước Áo, đều bỏ mũ khi gặp Napoléon, và chỉ có Napoléon là vẫn đội chiếc mũ nhỏ nổi tiếng của mình. Nói chung, Napoléon tỏ thái độ tốt với họ, thỉnh thoảng lại ban cho họ một cái véo tai mà lúc ấy họ cũng không còn cảm thấy vui thích nữa; Napoléon trêu ghẹo họ một cách thú vị, thưởng cho những người xứng đáng nhất một cái phát vào lưng, hoặc khiển trách tàn tệ một số ở giữa đám đông, nhưng ở Dresden ít người bị khiển trách như vậy. Sự xu nịnh lần này thật là quá quắt, không có gì kìm giữ, không bờ bến, không hạn độ, đến nỗi trong những ngày phù hoa tráng lệ ấy lên đến độ cao nhất, có một kẻ nào đó đã đi đến chỗ công nhiên nêu lên giả thuyết rằng con người đi chinh phục thế giới ấy bản chất là thần thánh, hoặc có thiếu thì cũng chỉ chút đỉnh thôi. Tất cả những kẻ ấy dù là vua chúa hay không, tất cả những kẻ bợ đỡ ấy, dù là người Đức hay không, Napoléon đều coi họ như những nô lệ, nông nô đầy khiếp sợ mình. Họ đều tin tưởng vào thắng lợi của Napoléon trong cuộc chiến tranh chống nước Nga. Lúc bấy giờ đâu đâu người ta cũng cầm chắc là như thế; ở Châu Âu, ở Châu Mỹ, trong các triều đình, trong văn phòng các nhà doanh nghiệp lớn, trong các hãng buôn. Chỉ riêng nước Anh vẫn tiếp tục đợi phút diệt vong của Napoléon và không chú ý đến sự gì cả, không đếm xỉa đến số 60 vạn quân của Napoléon và không muốn thừa nhận ông Hoàng Đế ấy; những người nông dân và những “kẻ hạ tiện” ở thành thị Tây Ban Nha vẫn chiến đấu quyết liệt như trước, họ đã nhổ vào mặt các sĩ quan của Napoléon khi họ bị trói giật cánh khuỷu để đem đi xử bắn. Chỉ có nước Anh và Tây Ban Nha là không có đại biểu trong các cuộc vui vầy huy hoàng ở Dresden ở các cuộc duyệt binh, ở các cuộc chiêu đãi, ở cuộc “triển lãm” quái gở về sự hèn hạ của con người, về sự xiểm nịnh và sự sợ hãi bỉ ổi nhất ấy.

Niềm tin tưởng phổ biến đó vào thắng lợi của Napoléon hình như hoàn toàn có căn cứ. Đánh nước Nga là vô số các trung đoàn của một quân đội có tổ chức cao hơn hẳn; chỉ huy các đạo quân ấy là một danh tướng mà tài dụng binh đã được thừa nhận là trội hơn cả Alexander Đại Đế, hơn cả Hannibal, Caesar; tính đến năm 1812, viên danh tướng ấy đã thắng những trận lớn nhỏ nhiều hơn của cả ba vị danh tướng trên cộng lại “Cuộc liên minh” của Napoléon với nước Áo và nước Phổ, quyền bá chủ Châu Âu đã làm tăng thêm quân số và bảo vệ cho hậu phương của ông ta. Địch thủ của Napoléon là nước Nga chỉ có một đội quân ít hơn ba lần để chống cự lại và các tướng lĩnh chỉ huy thì đã từng bị Napoléon và các Thống Chế của ông ta đánh bại nhiều lần. Chính Napoléon nhận định rằng nước Nga chẳng có một tướng tài nào ngoài hoàng thân Bagration; và đó cũng là dư luận của tất cả Châu Âu. Lúc bấy giờ niềm tin của Napoléon thật là vô hạn. Nhưng cũng nên chú ý là trong năm 1812, ý kiến của Napoléon đã thay đổi nhanh chóng.

Ở Smolensk, khi ngắm cửa sổ điện Kremlin, Napoléon đã nói thế này nhưng khi nhìn Moscow bốc cháy thì Napoléon lại nói thế khác và trong khi rút lui lại nói khác nữa. Ấy vậy mà khi vừa mới vào giai đoạn đầu của chiến dịch, tức là khi đi từ Dresden rồi vượt sông Niemen thì rõ ràng là Napoléon đã nghĩ đến cái mục tiêu thích thú nhất trong mơ ước: đó là Phương Đông, là sự chiếm lấy Ấn Độ, nghĩa là nghĩ đến cái kế hoạch mà Napoléon đã phải từ bỏ ngày 20 tháng 5 năm 1789, khi ông ta ra lệnh không vây hãm thành Acre nữa và dời quân khỏi Syria để trở về Ai Cập. Nếu Hoàng Đế Alexander đại đế cũng đã xuất phát từ một cứ điểm xa xôi như Moscow mà đã đến được sông Hằng thì tại sao ông ta, Napoléon lại sẽ không làm được như thế? Napoléon đã lý giải như vậy với Narbonne một trong những người tin cẩn đôi khi được Napoléon thật thà bàn bạc. Một khi mà Moscow đã bị thất thủ, nước Nga đã đánh bại, Nga Hoàng sẽ phải ký hòa ước hoặc sẽ bị chết trong cơn tai biến của triều đình thì lúc ấy ai sẽ ngăn cản được quân đội Pháp và các nước chư hầu tiến đến tận sông Hằng? Và chỉ cần lưỡi gươm của nước Pháp đâm vào con sông ấy là toàn bộ cái lâu đài thương mại phồn vinh kia của nước Anh sẽ sụp đổ. Đem đối chiếu những cuốn hồi ký với những tài liệu xác thực, ta có thể tin được vào sự dẫn chứng trên. Hoạt động ngoại giao của Napoléon ở Thổ, ở Ba Tư, ở Ai Cập, không bao giờ lại sôi nổi như năm 1811 - 1812. Chính vào những năm ấy, việc lãnh sự Pháp Nercia đã chạy theo những chỉ thị mật của Napoléon: Phải tiến hành việc điều tra cần thiết về những miền ấy để chuẩn bị cho chiến dịch sau này của quân đội Pháp. Ai Cập và Syria phải làm điểm xuất phát của một đường tiến quân phụ vào Ấn Độ, đã bị bỏ dở năm 1799 ở dưới chân thành Acre. Cũng nên nhắc đến một việc là Napoléon đã cử bá tước Narbonne, vẫn con người đã được Napoléon tâm sự về những dự kiến viễn chinh Ấn Độ sau cuộc chiến thắng “tiêu non”[45] nước Nga “từ Moscow đến sông Hằng”, từ Dresden đến gặp Aleksandr lúc ấy ở Vilna để làm như cố cứu vãn hòa bình một lần cuối cùng nữa. Thực ra, Narbonne đã hoàn toàn biết rõ mệnh lệnh của Napoléon là phải làm chậm lại cuộc tiến công bất thần của quân Nga vào Warszawa bằng cuộc thương lượng vô ích. Sứ mệnh của Narbonne không mang lại kết quả, đó là điều tất nhiên. Trong tâm trí Napoléon, chiến tranh đã được định đoạt, không gì làm thay đổi được nữa. Đội quân 40 vạn người của Napoléon đã hành quân qua nước Phổ tiến về phía sông Niemen, và chỉ đợi lệnh là tiến vào đất Nga.

Napoléon đã từ Dresden đến Poznan và ở lại đó vài ngày. Giai cấp quý tộc Ba Lan đã đón tiếp Napoléon nồng nhiệt hơn cả năm 1807, trước hết vì lần này người Ba Lan có thể hy vọng thật sự khôi phục được nước Ba Lan theo như biên giới cũ, hoặc ít ra cũng chiếm được của Nga đất Litva và Bạch Nga. Vì vậy nhiệt tình của quý tộc Ba Lan đối với Napoléon có thể tự do cởi mở không chút ngại ngùng.

Nhưng tính tình nôn nóng, dễ nổi giận, lại đang tập trung tất cả tâm trí vào những vấn đề chiến tranh nên ông Hoàng Đế không hài lòng lắm khi thấy bọn tiểu quý tộc Ba Lan ăn mặc chải chuốt, tóc sấy điểm tô son phấn, đến tỏ lòng trung thành sùng bái đối với mình. Napoléon nói cho họ biết rằng ông ta muốn thấy họ đi ủng kỵ mã, đeo kiếm bên sườn, noi gương tổ tiên họ khi quân Tatar và Cossacks tiến vào đất nước, vì mọi người đang sống trong thời buổi đòi hỏi phải vũ trang từ đầu đến chân và bàn tay sẵn sàng đặt trên đốc kiếm. Napoléon đã nói như vậy với bọn quý tộc tiếp đón ông ta ở Poznan, vào ngày 28 tháng 5 năm 1812 do Gordievsky, tổng giám mục địa phận, chủ trì. Bọn quý tộc Ba Lan vội vã hiểu lời phát biểu ấy như một lời chúc tụng. Napoléon không bao giờ tỏ ra sắc sảo về mặt xã giao đặc biệt là khi đang đi chiến dịch.

Từ Poznan, Napoléon đi đến Toner rồi từ Toner đi Danzig lưu lại đây bốn ngày để điều động thêm nhiều đơn vị bộ đội mới, từ Danzig, Napoléon đi Königsberg, ở lại đó năm hôm (từ 12 đến 17 tháng 6) và dùng toàn bộ thời gian ấy để giải quyết việc quản lý bộ đội và việc tổ chức tiếp tế, ngày 20 tháng 6 Napoléon đến Gumbinnen ông đã hạ nhật lệnh cho toàn quân.

“Hỡi các binh sĩ! Cuộc chiến tranh Ba Lan lần thứ hai đã bắt đầu. Cuộc chiến tranh thứ nhất đã kết thúc ở Friedland và ở Tilsit; ở Tilsit, nước Nga đã thề liên minh mãi mãi với nước Pháp và sẽ chiến tranh với nước Anh. Ngày nay họ bội ước; họ không muốn giải thích chút gì về hành động kỳ quặc của họ, họ muốn quốc huy của đế quốc Pháp không vượt qua sông Rhine để họ tùy ý muốn làm gì những bạn đồng minh của chúng ta ở đó thì làm. Nước Nga đã bị số mệnh lôi cuốn và định mệnh của họ sẽ đến với họ. Họ tưởng chúng ta bạc nhược rồi chăng? Chúng ta không còn là những binh sĩ Austerlitz nữa chăng? Nước Nga đặt chúng ta vào thế hoặc chịu ô nhục thanh danh hoặc phải chiến tranh: Con đường chúng ta chọn đã rõ ràng. Chúng ta hãy tiến lên, hãy vượt qua sông Niemen và tiến hành chiến tranh ngay trên đất nước họ. Cuộc chiến tranh Ba Lan thứ hai này sẽ đem lại vinh quang cho quân đội Pháp.

Những hòa ước mà chúng ta sẽ ký sẽ mang trong bản thân chúng sự bảo đảm; chúng ta sẽ chấm dứt cái ảnh hưởng bi thảm mà nước Nga dội vào trong công việc của Châu Âu từ mười năm nay”.

Lời tuyên bố của Napoléon được coi là lời tuyên chiến chính thức.

Hai ngày sau, trong đêm 24 tháng 6 năm 1812 (12 tháng 6 theo lịch cũ) Napoléon ra lệnh vượt sông Niemen và 300 kỵ binh thuộc trung đoàn Ba Lan thứ 13 là những kẻ đầu tiên vượt sông. Ngày hôm ấy và trong những ngày tiếp theo, toàn bộ cận vệ cũ và mới, rồi đến quân kỵ binh của Murat và đằng sau là các Thống Chế dẫn đầu các quân đoàn của họ đã nối đuôi nhau vô cùng vô tận sang bờ phía sông Niemen. Quân Pháp không còn trông thấy một bóng người. “Trước mặt chúng tôi là sa mạc, đất màu nâu và vàng nhạt, cây cỏ úa cằn và những cánh rừng xa xôi tít tận chân trời”. Một trong số những người còn sống sót sau chiến dịch đã kể lại như vậy và quang cảnh đã như một điềm chẳng lành. Napoléon không nhận thấy một dấu hiệu gì như thế cả. Bao giờ cũng vậy, khi đi chinh chiến Napoléon hoạt bát, nhanh nhẹn hơn thường ngày rất nhiều. Chiến dịch vĩ đại nhất của Napoléon từ trước đến giờ bắt đầu, và cứ theo cách chuẩn bị của Napoléon, ta có thể cho rằng Napoléon hiểu rất rõ điều đó. Có thể đây là chiến dịch cuối cùng ở Châu Âu và là chiến dịch đầu tiên ở Châu Á của Napoléon; cũng có thể là năm nay Napoléon buộc phải kết thúc chiến dịch ở Smolensk và để lại đến năm sau mới tiến hành nốt (Moscow và Peterburg) Napoléon nói đến xứ Ấn Độ và sông Hằng, với các Thống Chế thì Napoléon nói đến việc đóng bản doanh nghỉ quân ở Smolensk.

Xung quanh có các tướng tá và một đoàn tùy tùng đông nườm nượp, đi trước là đội kỵ binh của Murat, Napoléon thẳng tiến đến sông Vilna, không gặp một sức kháng cự nào.

[44] Sabaoth: Danh hiệu mà dân tộc Do Thái đặt cho Đức Chúa Trời và có nghĩa là quân đội.

[45] Ý nói: Chưa chiến thắng đã tính chuyện, cũng như chưa có tiền trong tay đã tiêu trước.

CHƯƠNG 13

cuộc xâm lược nước nga
1

Khi bắt đầu bất cứ một trận nào trong những cuộc chiến tranh liên miên của mình, Napoléon cũng luôn luôn chú ý tới hai vấn đề chính yếu: Một là con người của viên tướng Tổng Tư Lệnh đối phương và hai là tình hình chung bộ máy chỉ huy của đối phương. Viên tướng Tổng Tư Lệnh ấy có mạnh không? Có được hành động tự do tuyệt đối không? Trước hết Napoléon quan tâm đến hai vấn đề có tầm quan trọng cơ bản ấy.

Trong trường hợp đặc biệt, hình như Napoléon có thể trả lời hai vấn đề ấy một cách đầy đủ nhất. Người Nga chỉ có một viên tướng giỏi, xứng đáng, là Bagration nhưng Bagration lại bị đặt vào địa vị thứ yếu. Còn Bennigsen thì kém xa Bagration, bị Napoléon gọi là “một kẻ bất lực” đã bị đánh bại tan tành ở Friedland nhưng Bennigsen không phải là con người kém ngoan cường và quả quyết, và đã tỏ ra cương nghị, không phải bằng việc bóp chết Hoàng Đế Pavel năm xưa, mà bằng sự chống cự phi thường của ông ta suốt trong một ngày huyết chiến ở Eylau, nhưng Bennigsen cũng chỉ ở vào địa vị thứ yếu. Còn Kutuzov? Tuy Napoléon đã đánh bại được Kutuzov ở Austerlitz, song chưa bao giờ ông dám khinh Kutuzov, mà trái lại, còn nhận định Kutuzov là viên tướng mưu trí và khôn ngoan. Nhưng Kutuzov không cầm quân nữa. Còn đối với Barclay de Tolly, Tổng Tư Lệnh kiêm thượng thư Bộ Chiến Tranh, thì Napoléon thiếu tài liệu để đánh giá, nhưng cũng có thiên hướng đánh giá viên tướng này không vượt trình độ thông thường của các tướng lĩnh Nga là mấy, mà theo Napoléon thì trình độ ấy chẳng cao gì lắm. Về vấn đề thứ hai thì có thể có một câu trả lời còn lạc quan hơn: Sự thống nhất chỉ huy trong quân đội Nga hoàn toàn không có, và tổ chức bộ máy chỉ huy thì không đáng bình luận đến. Thật ra cũng không thể khác thế được, vì Aleksandr ở trong quân đội và đã can thiệp vào mọi ý định tổ chức của Barclay. Trên đường hành quân đến sông Vilna, Napoléon đã biết đầy đủ tình hình trên, cho nên ngay ở Vilna Napoléon đã mỉa mai lưu ý Balashov, tướng hậu cần mà Aleksandr cử đến lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng để đề nghị ký hòa ước với Napoléon, rằng: “Tất cả bọn họ làm gì chứ? Trong khi Phull đề nghị thì Arfen phản đối, Bennigsen nghiên cứu thì Barclay là người có trách nhiệm quyết định lại không biết nên quyết định thế nào và thời gian trôi đi chẳng làm được gì cả!”.

Đoạn tường thuật ấy của Balashov về cuộc hội đàm với Napoléon đáng cho ta tin cậy hoàn toàn vì có nhiều bằng chứng khác xác minh thêm, nói chung, bản báo cáo của tướng Balashov, thượng thư Bộ Công An Nga, người mà Aleksandr đã phái đến để đề nghị ký hòa ước với Napoléon ngay khi vừa được tin quân Pháp vượt qua sông Niemen - bản báo cáo đã được Thiers sao lục trong bản thảo tập XIV cuốn Lịch Sử Chế Độ Tổng Tài Và Đế Chế gần như nguyên văn trong một chương hay nổi tiếng của cuốn Chiến Tranh Và Hòa Bình - không đáng tin cậy lắm, đặc biệt là những đoạn viết về Balashov đã dám nói xa xôi đến Tây Ban Nha và dám nhắc đến thành phố Poltava trong khi nói chuyện với Napoléon. Thượng Thư Bộ Công An Nga chưa bao giờ đặc biệt nổi tiếng vì đức chân thật, và rất có thể về sau này vị thượng thư ấy đã ghi thêm chuyện đó vào. Người viết sử phải luôn luôn chú ý đến những sự thêm thắt như vậy. Hesles đã viết cả một cuốn sách nhan đề là Mưu Mẹo Rẻ Tiền Trong Lịch Sử, dành riêng cho những “bí mật lịch sử” và những chước thuật thuộc loại ấy, cũng rất tài trí nhưng được “sáng tạo” quá chậm và chẳng bao giờ được nói ra, bởi vì thật ra chúng chỉ nảy ra trong đầu óc của người sáng tạo ra chúng khi hắn ta đã từ biệt đối phương, và lúc ra “cầu thang” mới nghĩ ra rằng giá như vừa rồi mà nói thêm như thế này hay như thế nọ thì thật tuyệt. Dầu sao Napoléon - con người đã đến Vilna bốn ngày sau khi vượt sông Niemen không gặp một sức kháng cự nào và đã được bọn quý tộc Ba Lan địa phương đón tiếp với những biểu hiện của lòng trung thành đầy tôn kính, và biết rằng lực lượng mình hơn hẳn - đã dứt khoát từ chối đề nghị ký hòa ước của Balashov, đương nhiên là với một giọng gay gắt và xúc phạm. Napoléon đã ở lại Vilna 18 ngày trọn, đó là điều mà sau này các nhà viết sử quân sự cho là một trong những sai lầm tai hại của Napoléon. Nhưng thật ra ở Vilna, cũng như ở Dresden, Napoléon đợi các quân đoàn mới hành quân tới hội sư với ông. Trong số 68 vạn 5 nghìn quân dùng để đánh nước Nga thì hiện Napoléon đã phải để lại 23 vạn 5 nghìn đóng ở Pháp và ở nước Đức chư hầu; chỉ còn 42 vạn nhận lệnh vượt biên giới. Nhưng số 42 vạn quân ấy cũng chỉ kéo dần đến Vilna và tiến dần dần vào nước Nga. Tại Vilna, Napoléon đã nhận được tin đầu tiên bất lợi cho chiến dịch: Ngựa thiếu cỏ chết hàng đàn. Tình hình đáng tiếc khác: Người Ba Lan ở xứ Litva và ở Bạch Nga đã không điều động đủ lực lượng. Khi đến Vilna, những đặc điểm và những khó khăn của công cuộc mà Napoléon hiểu sâu hơn khi chưa vượt qua biên giới lại càng hiểu sâu hơn nữa so với khi ở Dresden. Sự kiện ấy tác động tức khắc đến đường lối của Napoléon: Ông không hợp nhất xứ Litva vào Ba Lan (lúc ấy người ta gọi cả Bạch Nga là Litva) mà đặt nó ở dưới một chế độ cai trị riêng, tạm thời; việc ấy làm cho người Ba Lan thất vọng lớn. Điều đó có nghĩa là Napoléon chưa muốn làm việc gì phương hại đến việc giảng hòa với Aleksandr. Ngay từ lúc đó, tính chất hai mặt đã bắt đầu biểu hiện trong cách xử lý và trong những kế hoạch có quan hệ đến con đường kết thúc của chiến dịch mà Napoléon vừa mới tiến hành. Tất nhiên Napoléon cho kết thúc bằng sự đầu hàng hoàn toàn của Aleksandr và như vậy nước biến thành một chư hầu ngoan ngoãn mà Napoléon cần như vậy để tiếp tục cuộc chiến tranh với nước Anh ở Châu Âu và có thể cả ở Châu Á nữa. Nhưng tình hình càng phát triển thì Napoléon càng có khuynh hướng cho rằng chiến dịch này chỉ là một cuộc “Chiến tranh chính trị” - ít lâu sau khi nói về chiến dịch nước Nga, Napoléon nói như vậy - một cuộc chiến tranh ở văn phòng, như người ta thường nói vào hồi thế kỷ thứ XVIII, nghĩa là một thứ tranh cãi về mặt ngoại giao tiến hành bằng một vài “hành động quân sự”, và sau đó, cuối cùng là đi đến một thỏa thuận chung. Nguyên nhân sâu xa của những sai lầm ấy chính là do sự dốt nát và không am hiểu một chút gì về dân tộc Nga của Napoléon. Không phải chỉ riêng Napoléon, mà cả ở Châu Âu cũng tuyệt nhiên không có một ai có thể dự đoán trước được mức độ anh dũng của dân tộc Nga khi phải đứng lên bảo vệ Tổ Quốc chống lại cuộc xâm lăng hỗn xược và hoàn toàn không có duyên cớ. Không một ai đoán trước được nông dân Nga sẽ biến tất cả những trung tâm của đất nước họ thành một xa mạc mênh mông trơ trụi bể lửa và không chịu khuất phục kẻ xâm lược bằng bất cứ một giá nào. Napoléon biết những điều đó quá chậm.

Những khó khăn của chiến dịch này ngày càng bộc lộ rõ thì quan niệm trước đây của Napoléon về cuộc chiến tranh này ngày càng mờ nhạt trong tư tưởng ông ta và được mau chóng thay thế bằng một quan niệm khác. Mặc dầu Napoléon có dưới trướng 42 vạn quân, mà nước Nga chỉ không có đến 22 vạn rưỡi quân, nhưng ông ta biết rằng chất lượng quân sĩ của mình không đồng đều. Ông biết mình chỉ có thể trông cậy vào các đơn vị lính Pháp (lúc ấy đại quân có tất cả 35 vạn 5 nghìn người thuộc đế quốc Pháp, nhưng rất nhiều người không phải người Pháp) mà cũng không thể hoàn toàn trông cậy vào được vì, số tân binh không thể nào so sánh được với số cựu binh đã từng tham gia nhiều chiến dịch của Napoléon. Còn đối với những người xứ Westphalia, Saxony, Bavaria, Renaldi, những người sinh trưởng ở các thành phố đồng minh thương nghiệp ở miền Tây Bắc nước Đức, người Ý, người Bỉ, người Hà Lan, thì cố nhiên là không thể trông mong nhiều vào tinh thần chiến đấu hăng hái đặc biệt của họ được, chưa nói đến những “bạn đồng minh” bắt buộc là người Áo và người Phổ mà Napoléon đã đem theo và đưa họ đi chết trên đất Nga không biết vì mục đích gì và phần lớn họ không căm thù người Nga, mà lại căm ghét Napoléon. Hiểu biết tường tận về lịch sử chiến tranh, Napoléon nhớ lại rằng vô số những người con của các dân tộc bị các vua chúa Ba Tư chinh phục, mà Xerxes I đã tuyển mộ vào quân ngũ, đã chiến đấu không hăng hái lắm với quân Hy Lạp. Napoléon trông cậy hơn đôi chút vào quân Ba Lan vì họ đấu tranh cho chính lợi ích của họ. Nhưng lại ở đây nữa, như trên đã nói, Napoléon đang chờ đợi một sự giúp đỡ đáng kể hơn (về phương diện quân số đơn thuần).

Napoléon biết rõ tình trạng rối loạn ở trong bộ tham mưu Nga, và khi đó ở Vilna, Napoléon nhận được tin báo rằng kế hoạch đầu tiên của Nga định chống cự trên sông Dvina, yếu điểm Dryssa đã phải bỏ, vì Barclay sợ bị bao vây và sẽ không thể tránh khỏi phải đầu hàng, và cũng được tin rằng quân đội Nga chia làm hai cánh rút sâu vào trong nội địa. Cánh quân Barclay rút theo hướng Vitebsk, đi nhanh hơn cánh quân của Bagration rút về Minsk. Napoléon đem đại bộ phận binh lực tiến đánh Barclay. Nhưng Barclay đã tăng tốc độ hành quân và ra lệnh cho tướng chỉ huy quân hậu vệ, Osterman Tolstoy, ít ra cũng phải làm cho cuộc tiến quân của quân Pháp bị chậm lại. Osterman chấp hành lệnh đó bằng cách giao chiến ngày 25 và 26 tháng 7 ở Ostrovno. Khi tiến vào Vitebsk, Napoléon không thấy Barclay nữa vì ông này đã cấp tốc đến Smolensk. Trong khi đó, Thống Chế Davout tiến từ Vilna đến Minsk với nhiệm vụ chặn đường rút lui và tiêu diệt cánh quân của Bagration trước khi hội sư được với Barclay. Nhưng may mắn cho Bagration là Jérôme Bonaparte - em út Napoléon, người chẳng có tài cán gì về quân sự (cũng như về mọi mặt khác) nhận lệnh đuổi theo Bagration trên đường Grodno đi Minsk, đã không thi hành được một nhiệm vụ nào cả; cuộc hành quân của Jérôme chậm trễ nên ngày 23 tháng 7, khi cuộc chiến đấu giữa Davout và Bagration bắt đầu ở về phía Nam Mohilev, thì sau nhiều lần đánh bật được các đợt xung phong của đối phương, Bagration lại tiếp tục rút lui theo hướng Smolensk và từ đó hầu như không còn bị đối phương ngăn cản gì nữa.

Nhận được tin về trận chiến đấu ở Mohilev và được báo rằng Bagration đã qua sông Dnepr ở gần Bolkhov, Barclay quyết định sẽ gặp cánh quân Bagration ở chân thành Smolensk và đã hành quân qua Zunya đi Smolensk. Đã chuẩn bị đầy đủ để đánh một trận lớn ở Vitebsk mà Napoléon dự định tiêu diệt Barclay, thì ngày 28 tháng 7, trong khi đi kiểm tra những nơi bố trí, đột nhiên Napoléon nhận thấy rằng quân Nga đã rút rất xa về Phương Đông. Điều đó làm ông Hoàng Đế thất vọng lớn. Đáng lẽ một trận Austerlitz mới tại chân thành Vitebsk sẽ có thể kết thúc gọn cuộc chiến tranh và khiến Aleksandr phải cầu xin hòa bình. Binh lính mệt nhọc vì những cuộc hành quân vất vả dưới ánh nắng gay gắt kinh khủng đến nỗi các cựu binh chẳng còn có cách gì động viên tân binh hơn là nói rằng ở Ai Cập còn nóng hơn thế. Cỏ, rơm cho ngựa ăn thiếu. Ngay từ ở Vilna, một số đơn vị kỵ mã đã mất quá nửa số ngựa. Những biểu hiện tan rã như ăn cắp vặt, phát triển nhanh chóng khác thường.

2

Càng ngày càng phải tiến vào sâu hơn để đuổi theo Barclay và Bagration đang đi về phía Smolensk bằng nhiều ngả đường khác nhau. Hoàng Đế phải thúc hai quân đoàn, đi đầu cánh trái (cánh Bắc) của đại quân đang tiến về Smolensk, tiến đến sông Dvina, theo hướng Peterburg, nơi mà quân đoàn của Wittgenstein đang hoạt động. Napoléon cũng phải tách ra một số sư đoàn của cánh phải (cánh Nam) để đánh lui các lực lượng Nga được cấp tốc triệu từ Thổ về do hòa ước giữa Thổ và Nga vừa mới ký kết một cách bất ngờ đã giải phóng cho họ. Tuy nhiên, trước trận Smolensk, lực lượng của Napoléon vẫn còn đông gấp bội so với quân Nga. Sau trận giao chiến ở Krasnoyarsk (ngày 14 tháng 8) với sư đoàn của Neverovski, người đã chống cự vô cùng kiên quyết trong cuộc chạm trán với những lực lượng trội hơn hẳn của Ney và của Murat và vì vậy đã mất một phần ba quân số, thì Napoléon đã đến chân thành Smolensk. Bagration giao cho tướng Rayevsky nhiệm vụ kiềm chế quân Pháp, và trong các trận chiến đấu sau đó, quân đoàn của Rayevsky đã chiến đấu quyết liệt đến nỗi Ney suýt bị bắt làm tù binh. Bagration khẩn khoản đề nghị không bỏ Smolensk nếu không giao chiến một trận lớn. Song “trận đánh lớn” đó lại không diễn ra. Quân chủ lực Nga, sau khi nhanh chóng vận động qua Smolensk, đã rút lui về phía Đông.

Nhưng dẫu sao Barclay cũng không thể quyết định bỏ thành phố cho quân địch mà không đánh một trận nào, mặc dầu ông ta cho là vô ích. Hồi sáu giờ sáng ngày 16 tháng 8, Napoléon hạ lệnh bắt đầu ào ạt pháo kích và xung phong vào Smolensk, nhiều trận chiến đấu ác liệt đã nổ ra và kéo dài đến sáu giờ tối. Quân Pháp đã chiếm được nhữnh vùng ngoại ô Smolensk, nhưng không làm chủ được khu trung tâm. Quân đoàn của Dokhturov, cùng giữ thành phố với sư đoàn của Konovnitsyn, và của hoàng thân Württemberg đã chiến đấu với tinh thần dũng cảm và ngoan cường đến nỗi quân Pháp phải ngạc nhiên. Đến tối, Napoléon cho triệu Thống Chế Davout đến và cương quyết hạ lệnh ngày mai nhất thiết phải chiếm bằng được Smolensk. Vì biết rằng cuối cùng Barclay và Bagration đã hội sư được với nhau và như vậy là coi như toàn bộ quân đội Nga sẽ tham chiến, nên lúc ấy Napoléon tin tưởng chắc chắn rằng trận Smolensk ngày mai sẽ là trận quyết định, vì cho đến tận bây giờ quân Nga vẫn không chịu tiếp chiến, cứ nộp cho Napoléon những vùng đất đai rộng lớn của đế quốc họ mà không hề chống cự. Ngày 17 tháng 8, cuộc chiến đấu lại tiếp diễn. Quân Nga đánh lại rất anh dũng. Binh lính không muốn thi hành lệnh rút lui, nên người ta phải dùng đến những lời khẩn khoản và đe dọa để buộc họ rút lui[46]. Qua ngày đẫm máu ấy, đêm đến, theo đúng lệnh của Napoléon, cuộc pháo kích thành phố vẫn tiếp tục. Đột nhiên, vang dội liên tiếp giữa bóng tối đặc sệt những tiếng nổ khủng khiếp làm rung chuyển mặt đất; lửa nhen lên rồi tràn khắp thành phố. Quân Nga đã đốt phá kho súng đạn và thiêu hủy thành phố; Barclay ra lệnh rút lui. Đến mờ sáng, các trinh sát viên báo cáo là thành phố hoang trống, và Thống Chế Davout đã yên ổn vào Smolensk.

Phố xá ngổn ngang xác người ngựa. Một góc thành phố vẫn còn bốc cháy và khắp nơi đều vang tiếng rên rỉ kêu la của hàng nghìn người bị thương nằm đợi chết. Napoléon cùng với đoàn hộ giá thong thả đi trên khắp phố phường Smolensk, vừa quan sát những cảnh tượng đang diễn ra ở xung quanh, vừa ra lệnh dập tắt các đám cháy, thu nhặt các xác chết đang bắt đầu thối nát và những người bị thương, kiểm kê lương thực thu nhặt được ở trong thành phố. Những người đã được chứng kiến kể lại rằng lúc ấy Napoléon phiền muộn và không trò chuyện với một ai trong đám tuỳ tùng. Sau cuộc cưỡi ngựa đi dạo quanh ấy, bước vào một ngôi nhà sửa soạn gấp gáp cho mình tạm trú, ông Hoàng Đế ném thanh gươm lên một chiếc bàn và nói: “Chiến dịch 1812 thế là đã kết thúc”. Nhưng cái ý định mà đến lúc ấy ông vẫn còn giữ là: Dừng lại ở Smolensk, củng cố vững chãi những vùng hậu phương ở Ba Lan, Litva, Bạch Nga để đến mùa xuân 1813 lại tiếp tục tiến quân vào Moscow hay Peterburg thì ông đã phải từ bỏ nó cũng ngay ở Smolensk này. Lại một lần nữa quân Nga đã lẩn tránh được. Napoléon không được tin gì về những khó khăn ngày càng lớn lên mà Barclay đã phải đương đầu mỗi khi Barclay hạ lệnh rút lui: Những tiếng la ó ầm ầm nổi lên buộc tội viên Tổng Tư Lệnh Nga là phản bội, là bạc nhược và làm rối loạn triều đình. Napoléon chỉ thấy có một điều: Vì đã không có cách gì để đánh một trận tổng công kích thì phải tiến sâu hơn nữa vào phía Đông, vào phía Moscow. Và Napoléon càng tiến sâu vào phía Đông càng khó kết thúc cuộc chiến tranh này bằng một hòa ước, bằng một hiệp định ngoại giao dễ dàng. Ở Smolensk, Napoléon không còn nghĩ đến sự chiến thắng hoàn toàn, đè bẹp hẳn nước Nga nữa rồi. Từ lúc này trở đi, vô số sự việc hiện ra trước mắt Napoléon khác hẳn với trước đây ba tháng, khi Napoléon vượt dòng sông Niemen.

Không phải chỉ là vấn đề quân số bị giảm mất một nửa vì phải bảo đảm một hệ thống giao thông bao la và canh gác các kho tàng, vì những trận chiến đấu cục bộ và ít quan trọng nhưng lại ác liệt và đẫm máu, vì cái nóng kinh khủng, vì mệt nhọc và bệnh tật, Napoléon còn nhìn thấy vấn đề khác: Binh sĩ Nga chiến đấu tuyệt nhiên không còn tồi như ở trận Eylau nữa. Các tướng lĩnh Nga, không nói đến Bagration nữa, rốt cuộc cũng không đến nỗi vô dụng như Napoléon đã từng nghĩ khi nói chuyện với Balashov ở Vilna. Thường thường Napoléon đánh giá năng lực của người khác rất đúng, nhất là khi đánh giá năng lực quân sự của họ. Và ông đã phải thừa nhận rằng các tướng lĩnh Nga, thí dụ như Rayevsky, Dokhturov, Tuskov, Konovnitsyn, Neverovski, Platov, đã hoàn thành những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn của họ mà các Thống Chế ưu tú nhất của Napoléon cũng chỉ làm được đến thế. Tóm lại, tính chất chung của cuộc chiến tranh đã bắt đầu làm cho Napoléon và đám cận thần của ông lo lắng.

Trong khi rút lui một cách có kế hoạch, quân đội Nga đã chỉ để lại đằng sau họ một đám hoang tàn. Ở Smolensk, không phải người Nga chỉ thiêu hủy những làng mạc và những thị trấn, mà còn cả một thành phố, một trung tâm lớn về thương mại và hành chính, điều đó vạch rõ quyết tâm chiến đấu đến cùng chống kẻ xâm lược. Napoléon nhớ lại rằng trong các cuộc chiến tranh trước đây, Hoàng Đế nước Áo, khi bỏ thành Vienna chạy trốn, đã ra lệnh cho các nhà chức trách thành phố phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh của quân Pháp, và vua Phổ, khi bỏ kinh thành trốn đi như Hoàng Đế Áo, cũng bày tỏ trong một bức thư riêng niềm hy vọng rằng Hoàng Đế sẽ có được đầy đủ tiện nghi trong thời gian lưu lại ở lâu đài Potsdam.

Ở Nga, nông dân rời bỏ nơi quê quán thân thuộc của họ, họ đốt nhà và lương thực; người ta đốt cháy cả một thành phố; tất cả đều chỉ rõ rằng đông đảo quần chúng cũng như thượng thư Bộ Chiến Tranh Barclay, cũng như hoàng thân Bagration và trên họ là Aleksandr, ai nấy đều thấy cuộc chiến tranh này là một cuộc chiến đấu sống mái. Trong suốt thời gian ở Smolensk, Napoléon chìm đắm trong những sự suy tưởng dài dặc và thầm lặng. Không điều động ngay tất cả các lực lượng hiện đang nghỉ ngơi ở Smolensk, Hoàng Đế phái Murat cùng với các quân đoàn kỵ binh của Murat truy kích Barclay vừa mới lên nắm quyền Tổng Tư Lệnh quân đội Nga (sau khi hai cánh quân hội sư được với nhau, Bagration làm phụ tá) hiện đang rút lui theo đường đi Moscow. Rồi đến Ney và Davout cùng lên đường hành quân. Đến ngày 18 và 19 tháng 8, đã diễn ra những trận giao chiến ở Valutina Gora và ở Lubino; do Junot bất tài khi thực hiện hành động nghi binh để xông đến sườn của quân đội Barclay nên sau những trận ấy, Barclay vẫn tiếp tục rút lui về phía Đông; những cuộc giao chiến ấy đã làm Barclay thiệt 7 nghìn người, ít hơn quân Pháp.

Trong đêm 24 tháng 8, Napoléon rời Smolensk cùng với đội cận vệ tiến lên Dorogobuzh. Nhưng Barclay lại đã di chuyển về phía Đông, và khi rút khỏi Dorogobuzh, Barclay cũng không bố trí quân cản hậu vì địa hình rất bất lợi. Ông ta rút theo đường Vyazma, Gzhatsk, Czarevo Zaimisze và bị Napoléon cùng với toàn bộ lực lượng của ông ta đuổi bám sát gót trên con đường đã bị quân Nga phá hoại.

Mỗi lần quân Nga dừng lại, dù rằng chỉ chốc lát, là Napoléon lại hy vọng có một trận tổng công kích. Ở Dorogobuzh, ở Vyazma, ở Gzhatsk cũng vậy. Ở đại bản doanh của Bagration tại Petersburg, người ta viết một cách độc ác rằng: “Ông thượng thư (Barclay) dẫn vị khách của mình thẳng đến Moscow”.

Mối sợ hãi, một mối sợ hãi không thể xua đuổi đi được và ngày càng tăng, đã xâm chiếm dần dần tâm hồn của một số giới thượng lưu của xã hội Nga. Thế là hoàn toàn thất bại rồi chăng? Cứ thế này nộp nước Nga cho kẻ xâm lược, không kháng cự gì chăng? Tại sao ở Smolensk người ta không chiến đấu đến cùng? Tại sao người ta đánh rút lui? Có phải tên Barclay người Đức kia phản bội không? Chính bản thân Aleksandr đã cố hết sức phá hoại uy tín của Barclay với vẻ khoái trá lộ rõ, đã nhại lại cho tướng Wilson, phái viên của chính phủ Anh, nghe lời của Platov - thủ lĩnh dân tộc Cossacks - nói với Barclay sau khi rút lui khỏi Smolensk: “Ông xem, tôi đang mặc quần áo thường dân rồi đây. Và sau một sự nhục nhã như vậy, tôi sẽ chẳng mặc lại binh phục Nga nữa đâu”[47]. Aleksandr sống những ngày khổ sở nhất trong đời ông ta. Triều thần hốt hoảng. Sự khiếp sợ ngày càng tăng. Đủ mọi thứ chuyện đồn đại về Nga Hoàng và Napoléon lưu hành trong giai cấp tiểu tư sản và nông dân. Từ lâu, người ta không hiểu Napoléon là người thế nào. Cho đến tháng 6 năm 1807, trên tòa giảng, người ta đã bài xích Napoléon là tiền thân của Ma Vương phản Chúa; hơn thế nữa, trong khi trò chuyện với nhau, người ta đã thừa nhận Napoléon là hiện thân của Ma Vương phản Chúa, là kẻ diệt trừ đức tin, nhưng từ cái tháng nọ, Ma Vương phản Chúa lại bỗng nhiên trở thành người bạn và người đồng minh của Nga Hoàng mà chẳng có một thời kỳ biến chuyển, cũng chẳng có sự giải thích nào cả. Bây giờ thì lại là kẻ phản chúa rồi, hắn chẳng phải đánh chác gì mà đã chiếm được nửa nước Nga. Smolensk thất thủ đã làm cho người ta ngã lòng. “Nga Hoàng và em là Constantine đã làm con người hay nổi nóng ấy phát cáu lên rồi”, trong dân gian người ta nói như vậy suốt mấy tháng đầu của cuộc chiến tranh. Nhưng thật ra thì con người hay nổi nóng ấy muốn gì, đó còn là một điều bí mật. Tuy vậy, ngay từ những ngày đầu, lòng căm thù, sự phẫn nộ, sự nhục nhã, khát vọng trả thù, ý muốn sôi sục bắt kẻ xâm lược phải trả nợ những hành động bạo ngược và xâm đoạt của y đã mỗi ngày một nung nấu tâm can nhân dân Nga. Những tình cảm ngày càng mạnh lên ấy đã là nguồn gốc của cuộc kháng chiến khủng khiếp và làm tan rã đại quân Pháp. Những mối lo sợ của bọn quý tộc còn có ý thức rõ rệt và mạnh mẽ hơn nhiều so với “những người bình dân”. Dưới con mắt của bọn chúng, mối đe dọa do thắng lợi của Napoléon gây ra không những chỉ là sự tiếp tục và tăng cường việc phong tỏa lục địa mà còn là sự lung lay của chế độ nông nô. Thế nhưng, thật ra Napoléon đã không hề nghĩ đến việc xóa bỏ chế độ nông nô trong các tỉnh bị chiếm đóng và hơn nữa lại đã dùng vũ lực để đàn áp mọi mưu đồ tự phát của nông dân nhằm tự mình giải phóng khỏi ách bọn chúa đất. Nhưng dù sao chăng nữa, Nga Hoàng và bọn quý tộc cũng cho rằng không thể nào nộp Moscow cho địch mà không chiến đấu, và hơn nữa, binh lính không biết cuộc rút lui đó là gì cả. Ngày 29 tháng 8, sau khi đã rút khỏi Gzhatsk, quân đội Nga kéo về đến Czarevo Zaimisze thì họ đã có một vị Tổng Tư Lệnh mới. Aleksandr đã thay thế Barclay bằng Kutuzov, một vị tướng mà từ lâu Aleksandr không tài nào chịu đựng nổi, nhưng hiềm vì không tìm được ai xứng đáng hơn. Bagration còn không được Aleksandr tin cậy bằng, vì cũng hệt như Barclay, cái tên của Bagration không phải là tên Nga.

Đương nhiên là Kutuzov biết rằng Barclay đã hành động đúng, biết rằng nếu cái gì đó làm cho Napoléon thất bại thì chính là cái việc Napoléon xa rời căn xứ địa; chính là sự không thể tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài hàng năm trời hoặc chỉ hàng tháng thôi trên một chiến trường cách xa nước Pháp hàng bao nhiêu nghìn km, trên một đất nước khô cằn, hoang vu; chính là sự thiếu lương thực; chính là sự không hợp khí hậu.

Nhưng Kutuzov còn biết rõ hơn Barclay rằng mặc dầu ông là người Nga với cái tên Nga nhưng người ta cũng chẳng cho phép ông bỏ Moscow mà không có một trận tổng công kích. Và Kutuzov đã quyết tâm đánh trận ấy, một trận đánh mà Kutuzov tin tưởng một cách sâu sắc là vô ích, cũng như trước kia Kutuzov đã bắt buộc phải đánh trận Austerlitz trái với ý định của mình. Về phương diện chiến lược thì là thừa, nhưng về phương diện chính trị và tinh thần mà nói thì không sao tránh khỏi trận đánh này. Đối với Napoléon việc thay thế Barclay mà Napoléon được tức khắc biết tin do tình báo là dấu hiệu chứng tỏ rằng cuối cùng quân Nga đã sẵn sàng đánh trận tổng công kích ấy.

Sáng sớm ngày 4 tháng 9, Napoléon ra lệnh cho Murat và Ney tiến từ Gzhatsk đến Grosvenor. Quân Nga đã rút lui chậm dần rồi dừng lại, đội hậu vệ dựa vào các công sự. Công sự lẻ loi nhất, đối diện với quân Pháp đang tiến đến là cái đồn lẻ do quân Nga xây dựng ở làng Shevardino nhỏ bé. Napoléon đến Grosvenor cùng với đội cận vệ, bắt tay ngay vào việc trinh sát cánh đồng trải dài trước mặt họ, nơi quân Nga đã cắm quân lại. Người ta báo cáo với Napoléon rằng cứ điểm lẻ Shevardino do những lực lượng lớn phòng giữ. Nhìn qua ống nhòm, người ta thấy những vị trí của quân đội Nga ở tít xa bên kia lòng suối khô cạn của con suối nhỏ Kolocha. Tối ngày 4 tháng 9, trinh sát báo cáo về đại bản doanh của Hoàng Đế rằng quân Nga đã cắm đồn từ hai ngày nay và ở gần một làng nhỏ xa xôi, quân Nga cũng đã đào đắp công sự. Khi người ta hỏi tên làng ấy, họ trả lời đó là làng Borodino.

3

Đã bao nhiêu lần, trận Borodino từng hấp dẫn sự chú ý của các nhà viết sử, các chuyên gia và nghệ thuật quân sự, các nhà đại văn hào và các nhà danh họa. Song, số phận đế quốc Napoléon không phải đã được quyết định trên cánh đồng Borodino mà là trong suốt cả quá trình chiến dịch nước Nga này: Borodino chẳng qua chỉ là một cảnh của tấn bi kịch, chưa phải là cả tấn bi kịch. Ngay cả bản thân chiến dịch nước Nga cũng chưa phải là đoạn chót, mới chỉ là phần mở đầu của đoạn chót còn rất lâu mới hạ màn. Song, tâm tưởng của những người đương thời và của đời sau vẫn cứ bị mê say bởi những cánh đồng Borodino ngổn ngang hàng ngàn xác chết bỏ trơ hàng tháng trời.

Giờ phút chờ đợi, mong mỏi bồn chồn đã đến, giờ phút mà Napoléon không ngừng mơ tưởng từ khi còn ở Dresden, thoạt tiên là ở trên sông Niemen rồi ở Vilna, ở Vitebsk, ở Smolensk, ở Vyazma, ở Gzhatsk. Khi tiến gần đến những nơi đã dành sẵn làm vũ đài cho một trong những cuộc chém giết kinh khủng nhất từ xa xưa đến nay chưa từng thấy trong lịch sử, Napoléon chỉ còn chừng một phần ba số quân so với khi mới đặt chân lên đất Nga.

Bệnh tật và những nỗi gian truân của chiến dịch; nạn đào ngũ; nạn trộm cắp; sự bức thiết phải tăng cường các cánh sườn và các hậu phương xa xôi hướng về Riga và Peterburg, và về phía Nam để nhằm chống lại các lực lượng từ Thổ Nhĩ Kỳ sang; sự bức thiết phải có quân bảo vệ ngày càng nghiêm ngặt hệ thống giao thông rộng lớn từ sông Niemen đến Shevardino đã là những yếu tố làm cho quân số của đại quân sụt hẳn đi rất nhiều. Khi tiếp cận cứ điểm Shevardino, Napoléon có 13 vạn rưỡi quân và 587 khẩu pháo. Lực lượng Nga có 10 vạn 3 nghìn quân chính quy và 640 khẩu pháo, cộng thêm 7 nghìn quân Cossacks và khoảng 1 vạn dân quân tổng động viên. Chất lượng pháo binh Nga không thua kém gì pháo binh của quân Pháp, và số lượng thì trội hơn. Quân đội của Napoléon bị chết rất nhiều ngựa, nên đã không thể kéo hết được số pháo ở Mohilev, ở Vitebsk và ở Smolensk lên đường về Moscow.

 

Trong suốt trận Borodino, Napoléon đã đóng đại bản doanh ở làng Valuyevo. Napoléon tin chắc sẽ thắng và giai đoạn đầu của trận đánh đã làm cho ông vững thêm lòng tin. Ngày 5 tháng 9, Napoléon hạ lệnh công kích cứ điểm Shevardino. Sau khi Murat đã đánh lùi được một bộ phận kỵ binh Nga và sau đợt pháo hỏa chuẩn bị thì tướng Compans dẫn đầu năm trung đoàn bộ binh xung phong vào và đã chiếm được cứ điểm sau một trận cường tập bằng lưỡi lê. Khuya đêm ấy, quân Pháp kể chuyện rằng họ rất ngạc nhiên khi họ đột nhập vị trí, các pháo thủ Nga đã chiến đấu rất quyết liệt và dù có bị chém chết tại chỗ cũng cam lòng chứ quyết không bỏ chạy trốn, mặc dầu họ có thể chạy trốn được. Tảng sáng ngày 6 tháng 9, Napoléon lên ngựa và hầu như suốt cả ngày không bước chân xuống đấy. Ông ta sợ rằng quân Nga đang chiếm lĩnh cách Niemen vài km sẽ đánh để rút lui sau khi bị mất cứ điểm. Nhưng những điều lo lắng ấy đã là vô ích: Kutuzov vẫn không nhúc nhích. Napoléon rất lo rằng quân Nga lại lẩn tránh một trận tổng công kích nữa; chỉ vì lý do ấy mà Napoléon đã bác ý kiến Davout đề nghị dùng những lực lượng lớn đánh vu hồi vào sườn trái quân địch (về phía Utiza), bởi hành động ấy sẽ làm cho Kutuzov hoảng sợ và thôi thúc Kutuzov trốn tránh.

Sau trận Smolensk, nơi mà Napoléon đã hạ quyết tâm là không kéo dài chiến tranh đến hai năm và nội trong năm ấy cần kết thúc, thì mục đích cốt yếu và trước mặt của Napoléon là tiến vào Moscow và ở đó sẽ đề nghị giảng hòa với Nga Hoàng. Tuy rất mong mỏi chiếm được Moscow nhưng Napoléon lại hoàn toàn không muốn chiếm được Moscow mà không phải đánh nhau: Phải diệt trừ quân đội Nga, nghĩa là phải có một trận tổng công kích Moscow, đó là mục tiêu phải đạt kỳ được, bằng bất cứ giá nào chứ không phải là đuổi theo sau Kutuzov nếu Kutuzov quyết định chạy khỏi Moscow, theo hướng Vladimir, hoặc Ryazan, hoặc xa hơn nữa. Cũng lại chính vì lý do đó mà cả Barclay lẫn Kutuzov đều không muốn đánh trận ấy, trận Napoléon vô cùng mong mỏi. Song, giờ đây thì Barclay hơi lặng tiếng, hoàn toàn phụ thuộc vào Kutuzov kể từ khi còn Zaimisze; Kutuzov cũng im hơi lặng tiếng vì không thể tránh trách nhiệm ghê sợ ấy và không thể rút lui không chiến đấu, không thể bỏ mặc cho Moscow thất thủ, nhưng như vậy lại cứu vãn được quân đội.

Suốt cả ngày 6 tháng 9, sau ngày chiếm được Shevardino, Napoléon không động binh. Sau khi ra lệnh cho binh lính nghỉ ngơi và cho ăn gấp đôi, Napoléon đặt kế hoạch hành động tỉ mỉ cho ngày hôm sau, định rõ nhiệm vụ cho các Thống Chế và các tướng lĩnh tụ tập theo Napoléon đi hết chỗ này chỗ nọ. Cũng như Hoàng Đế và các Thống Chế, những người binh nhì luôn luôn nhìn về phía quân Nga đóng ở tận xa và tất cả đều đặt ra câu hỏi: Kutuzov nhổ trại rồi chăng? Nhưng không hề động tĩnh: Quân Nga vẫn ở nguyên vị trí. Dù bị cảm lạnh trong suốt cả cái ngày tất bật ấy, Napoléon vẫn tỏ ra không có vẻ gì mệt nhọc.

Đêm xuống. Binh lính đi ngủ sớm, vì biết rằng ngày mai trận đánh sẽ bắt đầu vào lúc tảng sáng. Napoléon hầu như không ngủ được, mặc dầu suốt ngày hôm ấy tinh thần và thể xác căng thẳng. Ông ta đã khéo che giấu sự bối rối nhưng không đạt kết quả lắm, ít ra thì cũng là lần này các sĩ quan hầu cận đã thấy rõ ràng ông ta không nghe thấy gì khi họ nói với ông ta. Chốc chốc, Napoléon lại chạy ra khỏi lều để nhìn xem lửa có còn bốc cháy bên trận quân Nga không. Mặt trời vừa hé, Napoléon đã hạ lệnh công kích, và theo đúng kế hoạch bố trí của Hoàng Đế, phó vương nước Ý là Eugène Beauharnais dẫn đầu quân đoàn của mình xung phong vào làng Borodino, bên cánh trái. Davout, Ney, Murat cũng lần lượt động binh để đánh chiếm các tháp canh do Bagration xây dựng ở trung tâm làng Semenovskoe. Từ cả hai phía, pháo binh bắn như sấm, không ngừng không dứt, đinh tai nhức óc, ngay cả những người đã từng ở Eylau và ở Wagram cũng chưa bao giờ nghe thấy như vậy.

Theo lời những người được chứng kiến thì suốt ngày tháng 9 dài dặc còn ấm áp ấy, trong tâm hồn Napoléon đã lần lượt diễn ra hai trạng thái. Lúc bình mình, khi mặt trời chỉ mới bắt đầu ló ra khỏi chân trời, Napoléon đã vui vẻ nói: “Đó là mặt trời Austerlitz”. Và tâm trạng này đã kéo dài trong cả buổi sáng. Hình như quân đội của Napoléon bắt đầu đánh bật dần dần và đánh bật hẳn quân Nga ra khỏi các vị trí. Nhưng ngay trong đợt xung phong đầu tiên và mạnh mẽ ấy của quân Pháp vào Shevardino, nhiều báo cáo khá nguy cấp xen kẽ với những tin thắng lợi đáng mừng đã bắt đầu bay tới đại bản doanh, nơi mà Hoàng Đế đang quan sát cuộc chiến đấu. Và những giờ đầu buổi sáng, Hoàng Đế được tin một trong số những viên tướng giỏi nhất của mình là Plozon, chỉ huy trung đoàn tác chiến thứ 106, đã vào được Borodino và đánh bật được quân Nga ra, nhưng sau đó đã bị quân Nga tiêu diệt một phần trung đoàn, giết chết Plozon và một số lớn sĩ quan. Tiếp viện được điều đến ngay và quân Pháp vẫn làm chủ được Borodino. Nhưng những hoàn cảnh đưa đến cái chết của Plozon đã chứng tỏ tinh thần chiến đấu quyết liệt của quân Nga ngày đó. Rồi một sĩ quan hầu cận chạy tới báo cáo là cuộc tiến công của Thống Chế Davout đang tiến triển thuận lợi, nhưng sau đó một sĩ quan khác bất chợt đến báo cáo rằng sư đoàn Compans, đơn vị khá nhất của quân đoàn Davout đang bị một làn hỏa pháo ác liệt bao vây, Compans bị thương, các sĩ quan bị chết, Thống Chế Davout đến tiếp viện cướp được các khẩu pháo của quân Nga đã bắn vào Compans, và cũng như hai ngày trước đây ở Shevardino, các pháo thủ Nga đã chiến đấu đến phút cuối cùng tới khi bị chém chết ngay bên khẩu pháo của mình, ngựa của Davout đang cưỡi đã bị một viên đạn Nga giết chết, và Thống Chế bị trọng thương bất tỉnh.

 

Hoàng Đế chưa kịp nghe hết báo cáo và cũng chưa kịp ra lệnh mới thì người ta lại báo cáo tin Thống Chế Ney, dẫn đầu ba sư đoàn, đã chiếm và giữ vững được các tháp canh của Bagration do quân đánh lựu đạn Nga cố thủ, nhưng đối phương không ngớt phản kích một cách dữ dội. Một sĩ quan hầu cận khác mang đến tin: Sư đoàn của Neverovski vừa mới đánh bật được quân của Ney ra khỏi những vị trí ấy. Mãi sau, Ney mới làm chủ lại được tình thế, nhưng hoàng thân Bagration vẫn tiếp tục chiến đấu sống mái ở cứ điểm đó. Một trong số những công sự quan trọng nhất vừa mới bị quân Pháp (của tướng Rodou) chiếm được thì một cuộc xung phong mãnh liệt bằng lưỡi lê của quân Nga lại bị đánh bật ra và làm cho bị tổn thất nặng nề. Cuối cùng Murat đã lấy lại được nhiều công sự nhưng binh lính cũng đã bị thương vong rất nhiều.

Từ khắp nơi, người ta đều báo cáo với Napoléon rằng tuy bị thiệt hại nhiều hơn so với quân Pháp nhưng quân Nga không chịu đầu hàng và trong những cuộc phản kích, họ quyết hy sinh đến người cuối cùng để tìm cách khôi phục tình thế. Muốn kỵ binh được tự do hoạt động, cần phải nỗ lực ghê gớm để đánh chiếm một số điểm cao nhỏ và địa hình mấp mô chạy cắt đôi bãi chiến trường mênh mông, và những chướng ngại vật thiên nhiên ấy đã bắt quân Pháp phải hy sinh quá nhiều. Quân đoàn Rayevsky tuy cũng bị tiêu hao nhưng đã giáng cho bộ đội của Ney và Murat những đòn nặng nề đến nỗi hai viên Thống Chế này đã phải tung ra tất cả số quân có trong tay. Con suối Semenovskoe và cái làng nằm quanh con suối ấy bị giành đi giật lại nhiều lần. Cuối cùng, hai Thống Chế xin Napoléon tiếp viện, họ cam kết là trận đánh sẽ thắng lợi nếu kịp thời chiếm được con suối và cái làng kia từ tay Bagration.

Napoléon không tăng viện cho họ quá một sư đoàn. Qua tình thế đặc biệt ác liệt của trận đánh, Napoléon thấy rằng Ney và Murat đều sai lầm, rằng các quân đoàn của Nga mà Ney và Murat cho là đang chuẩn bị rút khỏi cuộc chiến sẽ không rút lui, rằng các lực lượng dự bị của Pháp có thể sẽ bị kiệt sức vào giờ phút tiến công quyết định. Và giờ phút ấy vẫn còn chưa đến. Trong ngày hôm ấy, sư đoàn Morand đã xung phong chiếm được trận địa pháo của Rayevsky, ở giữa Borodino và Semenovskoe, nhưng một cuộc phản kích bằng lưỡi lê đã đánh bật quân Pháp, và quân Nga đã chiếm lại được trận địa pháo. Với những tổn thất nặng nề, quân Nga đã cướp lại trận địa trong tay Morand và viên tướng ấy đã chết tại trận.

 

Tin quân Nga chiếm lại được trận địa trọng pháo đến với Napoléon cùng lúc với một tin khác: Bagration đang dốc hết sức lực cuối cùng để đuổi Ney và Murat ra khỏi ba công sự mà Ney và Murat đã phải khó khăn lắm mới chiếm được. Một trận chiến đấu ác liệt với Bagration để giành lấy các công sự Semenovskoe đã diễn ra. Chỉ trong vài giờ, những cứ điểm ấy đã bị cướp đi giành lại nhiều lần. Trong khu vực này, hơn 700 khẩu pháo gầm thét, Pháp có 400 và Nga hơn 300. Nhiều lần quân Nga và quân Pháp đã đánh giáp lá cà và pháo binh không phân biệt rõ nên đôi khi đã nã cả vào quân mình đang lẫn lộn với quân địch.

Cho đến lúc cuối đời họ, các Thống Chế đã dự trận ngày hôm ấy vẫn còn khâm phục tinh thần chiến đấu của binh sĩ Nga ở công sự Semenovskoe. Quân Pháp cũng không kém phần anh dũng. Chính ở đấy đã vang lên tiếng “Khá lắm! Khá lắm!” do Bagration thốt ra trước khi chết để khen ngợi bộ binh Pháp đang xung phong chiến đấu bằng lưỡi lê, không nổ một tiếng súng dưới làn mưa đạn. Vài phút sau, hoàng thân Bagration, mà Napoléon cho là người tướng giỏi nhất của quân Nga, bị tử thương và được đưa ra khỏi chiến trường Borodino qua những làn đạn dày đặc. Lúc ấy đang giữa trưa. Tâm thần Napoléon bỗng có sự thay đổi nhanh chóng và quyết định. Sự thay đổi ấy không phải do cảm lạnh như các nhà chép tiểu sử Napoléon đã từng nhắc đi nhắc lại, mà thực tế là do: Đứng trước việc Ney và Murat khẩn khoản xin viện binh, xin cho đội cận vệ đi cứu ứng, thì Napoléon thấy không thể làm như vậy được, không phải chỉ vì Napoléon không muốn làm cho đội cận vệ của mình hao tổn ở nơi cách xa nước Pháp hàng ngàn km, như lúc ấy Napoléon đã nói, mà còn vì một nguyên nhân khác nữa trực tiếp hơn nhiều: Kỵ binh Nga, trong số đó có quân Cossacks của Uvarov và của Platov, đã thình lình tập kích vào những phân đội vận tải và sư đoàn vừa tham gia trận đánh chiếm Borodino. Cuộc tập kích bị đánh lui, nhưng hành động ấy đã quyết định việc không thể đưa tất cả đội cận vệ tham chiến, bởi vì quân Pháp thấy rằng ngay ở hậu phương rất xa của họ, họ cũng không còn được an toàn nữa. Vào ba giờ chiều, Napoléon hạ lệnh mở một cuộc tiến công mới vào trận địa pháo của Rayevsky. Cứ điểm ấy đã bị chiếm sau nhiều đợt xung phong ác liệt.

Napoléon tài giỏi hơn các Thống Chế của ông trong việc cân nhắc và đánh giá những tổn thất ghê gớm ở khắp các nơi báo cáo về. Khi trời sắp tối thì Hoàng Đế nhận được nhiều tin quan trọng: Bagration bị tử thương, cả hai anh em Tuchkov đều bị chết, quân đoàn Rayevsky bị tiêu diệt gần hết, cuối cùng quân Nga vừa rút khỏi Semenovskoe vừa tiếp tục kháng cự một cách vô vọng. Napoléon tiến về hướng Semenovskoe. Bất cứ ai lúc đó đã đến gần và nói chuyện với Napoléon đều nhất trí rằng họ không còn nhận ra Hoàng Đế nữa: Napoléon im lặng nhìn xác người, ngựa chất thành núi, không buồn trả lời những câu hỏi cấp thiết mà ngoài Napoléon ra không còn ai có thể trả lời được. Lần đầu tiên người ta thấy Napoléon chìm đắm trong một thứ lạnh lùng rầu rĩ và hình như đang do dự.

Trời đã tối hẳn, 300 khẩu pháo của quân Pháp bắn vào quân Nga đang rút lui từ từ và trật tự. Nhưng cuộc pháo kích ấy không gây được kết quả như người ta mong muốn: Binh lính có ngã xuống nhưng không một ai chạy trốn. Trước tình hình ấy, Napoléon đã phải hạ lệnh tăng cường hỏa lực: “Chúng nó còn n muốn nữa thì cho chúng nó nữa đi!”. Quân Nga vừa rút lui vừa bắn trả lại. Đó là tình hình hai bên khi đêm đến.

Suốt đêm ấy, khi Kutuzov đã nghe những báo cáo đầu tiên và thấy rằng riêng trong ngày 7 tháng 9 ấy, quân Nga đã bị tiêu diệt mất một nửa thì ông liền hạ quyết định dứt khoát là cứu lấy nửa số quân còn lại và bỏ Moscow, không giao chiến nữa. Điều ấy không ngăn cản gì việc Kutuzov tuyên bố rằng trận Borodino thắng lợi, mặc dầu trong đáy lòng, Kutuzov rất phiền muộn. Tuy nhiên đó vẫn là một thắng lợi tinh thần không thể chối cãi được. Dưới ánh sáng của những sự kiện sau này xảy ra, người ta có thể khẳng định rằng ngay cả về phương diện chiến lược, thắng lợi cũng thuộc về phía quân Nga hơn là về phía quân Pháp.

Cũng đêm hôm đó, khi người ta báo cho Napoléon biết rằng 49 vị tướng lĩnh của ông đã bị chết hoặc bị thương nặng, hàng vạn binh sĩ bị chết hoặc bị thương nằm phơi trên bãi chiến trường, và khi chính mắt Napoléon nhận ra được rằng chưa có một trận đánh lớn nào từ trước đến nay lại quyết liệt và đẫm máu như trận Borodino (mặc dầu ông cũng tự cho mình là thắng trận) thì Napoléon, con người đã từng giành được trong đời mình biết bao thắng lợi đích đáng và không ai chối cãi được, cũng không thể không hiểu rằng nếu như trận Lodi, Rivoli, Kim Tự Tháp, trận tiêu diệt quân đội Thổ ở Abu Qir, trận Marengo, Austerlitz, Jena, Friedland hoặc Wagram đã có thể gọi là những chiến thắng thì đối với Borodino phải tìm ra một định nghĩa khác. Napoléon chờ đợi Kutuzov sẽ tiếp chiến nữa ở Moscow nhưng quyết tâm của Kutuzov đã không thể lay chuyển. Napoléon không được nghe nói đến cuộc họp hội đồng quân sự ở Fili, nhưng có nhiều triệu chứng chắc chắn cho phép Napoléon thấy rằng, hai ngày sau trận Borodino người ta đã quyết định bỏ rơi thành phố không chiến đấu.

Kỵ binh của Murat bám sát cuộc rút lui của Kutuzov. Ngày 9 tháng 9, Napoléon tiến vào Mozhaysk; ngày hôm sau, hoàng thân Eugène, phó vương nước Ý, tiến vào Ruda.

Buổi sáng ngày 13 tháng 9, nắng đẹp, Napoléon cùng với tuỳ tùng tới Poklonnaya Gora, và cũng như những người xung quanh, ông ta đã không thể nén được nỗi ngạc nhiên trước vẻ đẹp của cảnh vật. Trước mắt Napoléon, cái thành phố bát ngát đang rực rỡ dưới ánh mặt trời kia là nơi mà cuối cùng ông sẽ cho quân đội nghỉ ngơi, phục hồi sức lực, và trước hết sẽ là vật bảo đảm không thể thiếu được để buộc Aleksandr xin giảng hòa.

Những cảnh tượng khủng khiếp của Borodino đã bị phong cảnh đẹp đẽ và những viễn cảnh kia xóa nhòa.

4

Trong ngày 14 tháng 9, quân đội Nga cuồn cuộn kéo qua Moscow không ngớt để tràn về các ngả đường đi Kolomna và Ryazan và vẫn luôn bị kỵ binh của vua xứ Naples bám sát. Miloradovich, chỉ huy đội tiền vệ, đã tranh thủ được Murat hứa rằng sẽ để cho quân Nga yên ổn qua thành phố. Quân hậu vệ có Rayevsky chỉ huy, tối đến đã dừng lại ở làng Viazovka, cách cổng thành Kolomna sáu Vexta[48]. Cũng trong thời gian ấy, kỵ binh Pháp, sau khi vượt qua thành phố đi theo đường Arbat, đã đẩy xa dần tiền đồn đến tận làng Karasarova.

Ngày 16 tháng 9, quân của Kutuzov bỏ lại Moscow đằng sau để tiếp tục hành quân theo đường Ryazan, và sau khi hạ trại nghỉ đêm ở gần làng Kulakovaia, thì sáng hôm sau đã đổi hướng, tiến về phía bên phải mà Napoléon không biết. Quân của Kutuzov, đi ngược dòng sông Pakhra, đã đến chiếm lĩnh trận địa ở bên tả ngạn con sông này tại Krasnaya Pakhra, trên con đường cũ đi Kaluga. Đường giao thông độc nhất của Napoléon với Smolensk đã bị kỵ binh Nga chặn giữ.

Vừa đến cổng thành Dorogomilovo, nhiều tin đồn khác thường do đội cận vệ nghe được và bàn tán đã bay đến Napoléon: Moscow hoang vắng, hầu hết dân chúng ở đó đã tản cư, sẽ chẳng có một phái đoàn nào ra mở cửa thành phố cho Hoàng Đế như ông mong đợi. Những tin đồn ấy đã là những tin xác thực.

 

Ngày 15 tháng 9, Napoléon tiến vào điện Kremlin. Những ngọn lửa đầu tiên đã bốc lên từ đêm hôm trước, nhưng dù chỉ là phỏng đoán, cũng vẫn chưa thể dự kiến được quy mô và ý nghĩa của cái biến cố đang bắt đầu ấy. Sáng ngày 16 tháng 9, các đám cháy tăng dần. Ban ngày người ta nhận thấy còn nhỏ. Nhưng đến đêm 16 rạng ngày 17, một cơn gió mạnh nổi lên và thổi không ngớt trong hơn 24 tiếng đồng hồ. Một bể lửa thiêu hủy khu trung tâm thành phố ở xung quanh điện Kremlin, ở các khu phố Zamoskvorechye, Solyanka; các khu vực ấy của thành phố ở cách nhau xa nhất đều bốc cháy gần như cùng một lúc.

Khi người ta báo tin những đám cháy đầu tiên, Napoléon không chú ý lắm nhưng đến sáng ngày 17 tháng 9, khi đi dạo quanh điện Kremlin, trông qua cửa sổ thấy đâu đâu cũng là một bể lửa đang bốc cháy ngùn ngụt. Theo lời của Xerghie và của bác sĩ Metivier và nhiều người khác nữa, Hoàng Đế đã thất sắc, và sau khi đã lặng lẽ ngắm cảnh cháy ấy rất lâu, ông ta nói: “Cảnh tượng kinh khủng quá! Chính họ đã tự... Quyết định kỳ quặc thật! Những con người đến lạ! Chúng là những kẻ Scythes[49]”. Giữa lúc này, ngọn lửa không phải chỉ uy hiếp điện Kremlin, mà đã thiêu hủy một bộ phận tường thành (ngọn tháp Chúa Ba Ngôi), một số cửa đã không ra vào được nữa vì bị gió thổi tạt lửa tới. Các Thống Chế khẩn khoản đề nghị Hoàng Đế của họ dời ngay đến lâu đài Petrovsky ở cửa thành phố. Lúc đầu Napoléon không bằng lòng đi và vì vậy mà suýt nữa bị mất mạng. Cuối cùng khi ông ta rời khỏi điện Kremlin cùng với đoàn tuỳ tùng thì những tàn lửa như mưa đã tới tấp vây lấy họ trong một bầu không khí ngột ngạt. Một kẻ đi cùng với Napoléon đã kể: “Chúng tôi đi trên mặt đất lửa, dưới bầu trời lửa, giữa hai bức tường lửa”.

 

Đám cháy khủng khiếp ấy vẫn dữ dội ngút trời suốt trong những ngày 17 và 18 tháng 9, nhưng đến tối 18 thì đã bắt đầu yếu dần. Gió đã lặng, trời đổ mưa. Trong những ngày sau nữa, ngọn lửa vẫn còn bốc nhưng đã không thể nào so sánh được với cơn bão lửa khổng lồ chỉ từ ngày 15 đến ngày 17 mà đã đốt trụi một phần lớn thành phố.

Napoléon không nghi ngờ gì về nguyên nhân của cái tai biến hoàn toàn bất ngờ ấy: Người Nga đốt cháy thành phố để khỏi rơi vào tay kẻ chiến thắng. Những sự việc như Rostopchin đã mang đi tất cả bơm nước và các dụng cụ cứu hỏa khác; các đám cháy xuất hiện cùng một lúc ở nhiều điểm, những lời khai của một số người bị bắt vì tình nghi gây ra hỏa hoạn; và những lời khai của binh sĩ chứng thực rằng đã trông thấy những người cầm đuốc đốt nhà, tất cả những điều ấy là những dẫn chứng xác thực. Về sau này, như người ta đã biết, Rostopchin lúc thì khoe khoang thành tích đã đốt cháy thành Moscow, lúc thì chối rồi lại khoe khoang bằng cách phố trương tinh thần yêu nước hung hăng của hắn, sau đó lại chối cãi nữa (trong cuốn sách mỏng viết riêng về việc này hắn cũng đã làm như vậy). Do tính chất của việc đốt thành (về vấn đề này cũng đã có rất nhiều phán đoán và giả thuyết) mà chính là những tác động của nó đến tinh thần của Napoléon và đến hàng loạt biến cố xảy ra sau này.

Theo những chứng cớ giống nhau trong suốt thời gian ở Petrovsky rồi lại trở lại điện Kremlin, khi các đám cháy đã bắt đầu dịu dần thì cũng là khi Napoléon lo âu sầu khổ. Thỉnh thoảng ông ta lại nổi cơn điên giận, và đó là điều bất hạnh cho đám người xung quanh; có lúc lại nín thít trong suốt mấy giờ liền. Nhưng Napoléon vẫn giữ được nghị lực; từ Moscow, ông vẫn tiếp tục cai trị cái đế quốc mênh mông của mình và ký đạo luật, sắc lệnh, quyết định bổ nhiệm, thuyên chuyển, khen thưởng, cách chức những viên chức lớn và nhỏ ở Moscow, cũng như từ trước đến nay, Napoléon muốn rõ hết thảy, ông để tâm đến những việc quan trọng nhất cũng như những việc thứ yếu hoặc những việc hoàn toàn phụ. Xin nhắc lại một chuyện nhỏ kỳ lạ là bản điều lệ tỉ mỉ quy định việc thành lập đoàn kịch nước Pháp, đến tận bây giờ vẫn không có gì thay đổi đã do Napoléon ký ở điện Kremlin và đến nay vẫn gọi là “sắc lệnh Moscow”.

Một mối lo lớn, đáng sợ đang ám ảnh ông Hoàng Đế. Làm gì nữa đây? Trận cháy chưa thiêu đốt hết các kho lương thực hiện có ở Moscow, có những kho tàng thoát tay thần lửa. Nhưng những phân đội được cử ra ngoài thành phố kiếm cỏ cho ngựa đều trở về tay không; binh lính lén đi ăn cắp vặt và biến mất, rõ ràng là kỷ luật đã trở lên lỏng lẻo. Chắc chắn là có thể đặt bản doanh nghỉ quân ở Moscow như một số lớn Thống Chế và tướng lĩnh đã khuyên Napoléon, nhưng bản năng rất đúng đắn của Napoléon báo trước cho ông ta rằng đế quốc rộng lớn của ông ta không vững chắc gì lắm và lòng trung thành của “các bạn đồng minh” không đủ bảo đảm cho ông ta có thể phó mặc cả Châu Âu trong thời gian dài và đi biệt tăm mãi vào băng tuyết trên đất nước Nga. Tiến đánh Kutuzov đã vô tăm tích cùng với quân đội của ông ta chăng? Nhưng Kutuzov có thể rút lui về đến tận Syberia, thậm chí còn có thể xa hơn nữa. Ngựa sẽ không chết hàng nghìn con nữa, mà là hàng vạn hoặc cũng chẳng kém mấy. Hệ thống giao thông rộng mênh mông cũng chẳng vững chãi gì mặc dầu Napoléon đã phải đóng vô số đồn bốt để bảo vệ, do đó mà lực lượng của đại quân bị giảm sút và nhất là trận cháy ở Moscow, kết thúc của hàng loạt đám cháy liên miên mà các thành phố làng mạc Nga đã dùng để đón tiếp kẻ xâm lược đang truy kích Bagration và Barclay từ Niemen đến Smolensk và từ Smolensk đến Borodino; cuộc tản cư khó hiểu, bí mật của hầu hết nhân dân ở chốn kinh thành xưa cũ; quang cảnh trận Borodino, trận khủng khiếp nhất mà Napoléon đã mục kích (Napoléon đã thừa nhận như vào thời kỳ cuối đời mình); tất cả những điều ấy nói lên rằng lần này đối phương đã kiên quyết tiếp tục cuộc chiến đấu một mất một còn.

Chỉ còn có một việc để làm: Đánh tiếng cho Aleksandr biết rằng Napoléon sẵn sàng ký hòa ước một cách dễ dàng nhất, thoả đáng nhất, tôn kính và tốt đẹp cực kỳ. Từ này trở đi không còn hy vọng gì hơn là ký hòa ước với tư thế của kẻ chiến thắng khi còn ở Moscow và rút khỏi nước Nga một cách an toàn cùng với bộ đội của mình. Napoléon sẵn sàng thuận theo ý kiến và hứa hẹn của Aleksandr, sẵn sàng nhượng bộ. Không còn có thể đặt vấn đề Aleksandr bị lệ thuộc hay là chư hầu được nữa. Nhưng làm thế nào để Aleksandr biết được như vậy, vì từ sau trận Vilna và sau sự chối từ đầy xúc phạm của Napoléon do tướng Balashov chuyển đạt lên Nga Hoàng thì Napoléon đã không còn và không thể có quan hệ gì với Aleksandr nữa. Đã ba lần Napoléon tìm cách làm cho Nga Hoàng biết những ý kiến hòa bình của mình.

Tại Moscow, trung tướng Ivan Tutolmin, giám đốc “Viện Cô Nhi” đã xin các nhà đương cục quân sự Pháp bảo đảm an toàn cho viện và trẻ con hiện đang ở kinh thành. Napoléon liền cho gọi Tutolmin đến và đã nói chuyện với viên trung tướng ấy khá lâu; tỏ ra phẫn nộ về đám cháy quái gở ở Moscow, về sự dã man đầy tội lỗi của Rostopchin, Napoléon bảo đảm là kinh thành và dân chúng không bao giờ phải lo sợ vì Hoàng Đế cả. Tutolmin xin phép Napoléon cho được báo cáo với Hoàng Thái hậu Maria về tình hình Viện Cô Nhi (vì viện này do hoàng thái hậu đỡ đầu - lời người dịch bản tiếng Pháp). Napoléon không những chỉ cho phép việc đó mà còn bất chợt nói thêm: “Tôi yêu cầu ông khi làm việc ấy, viết trình lên vua Aleksandr, người mà trước sau tôi vẫn tôn kính, rằng tôi mong muốn hòa bình”. Cùng ngày hôm ấy, ngày 18 tháng 9, Napoléon ra lệnh cho phép một nhân viên của Viện mang báo cáo của Tutolmin được đi qua các tiền đồn quân Pháp.

Napoléon đã không nhận được thư trả lời, và cũng không đợi trả lời, Napoléon quyết định thử lần thứ hai. Do một trường hợp còn ngẫu nhiên hơn trường hợp của Tutolmin nhiều; một chúa đất Nga giàu có, tên là Yakovlev, bố Aleksandr Herzen, đã buộc lòng phải ở lại Moscow. Y tìm đến các nhà chức trách Pháp để xin được giúp đỡ và che chở, yêu cầu của y được chuyển đến Thống Chế Mortier là người xưa kia đã quen biết Yakovlev ở Paris, Thống Chế lập tức tâu việc đó lên Hoàng Đế. Napoléon ra lệnh dẫn Yakovlev đến trình diện. Trong tập “Nhớ Lại Và Suy Nghĩ”, Herzen có kể lại câu chuyện giữa Napoléon và cha y: “Napoléon tức giận Rostopchin là kẻ mà ông ta buộc cho tội đã gây ra vụ cháy thành làm hủy hoại các công trình lịch sử, và cũng như bất cứ bao giờ, Napoléon vừa bào chữa cho lòng yêu chuộng hòa bình của mình vừa giải thích rằng ông ta tiến hành chiến tranh là đánh nước Anh, chứ không phải đánh nước Nga, ông ta khoe khoang là đã cho bảo vệ Viện nuôi trẻ làm phúc, và nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời, ông ta phàn nàn rằng: “Aleksandr có một bọn cận thần xấu và Nga Hoàng không hay biết gì đến những hành động hòa bình của ông”. Sau đó, Napoléon ngừng lại suy nghĩ một lát và bất chợt hỏi: “Viết thư thì ông có chuyển giúp tôi không và liệu tôi có thể tin chắc được là bức thư sẽ đến tay Aleksandr không? Nếu ông chuyển được, tôi sẽ cấp giấy thông hành cho ông và bộ hạ”. “Hạ thần xin sẵn sàng lĩnh ý của Bệ Hạ, nhưng trả lời câu hỏi của Bệ Hạ thật là khó khăn cho hạ thần”.

Napoléon viết một bức thư cho Aleksandr đề nghị giảng hòa và giao cho Yakovlev. Yakovlev đã hứa với Napoléon là sẽ cố gắng hết sức để chuyển tới tận tay Aleksandr. Trong bức thư hỏa tốc đầy những lời lẽ hòa giải nhất người ta nhận thấy một câu khá kỳ quặc sau đây của Napoléon: “Tiến hành chiến tranh với Ngài nhưng không có hằn thù gì với Ngài”. Mặc dầu trước đây đã xảy ra bao nhiêu chuyện nhưng hình như Napoléon vẫn dứt khoát cho rằng không ai có thể nguyền rủa được ông và chỉ riêng ông là người có quyền nổi nóng! Cả bức thư ấy cũng không được trả lời, Napoléon liền cố gắng một lần thứ ba nữa, và cũng là lần cuối cùng để giành lấy hòa bình.

Ngày 4 tháng 10, Napoléon cử hầu tước Lauriston, nguyên đại sứ ở Nga trước chiến tranh, đến bản doanh của Kutuzov ở Tarutino. Lẽ ra Napoléon định giao nhiệm vụ ấy cho tướng Caulaincourt, công tước xứ Vicenza, nhưng Caulaincourt đã khẩn khoản can ngăn Napoléon đừng làm chuyện đó vì như vậy sẽ chỉ cho quân Nga biết rõ tình thế bấp bênh của quân đội Pháp. Như mọi lần, Napoléon lại đã nổi khùng mỗi khi cảm thấy lập luận của người phản đối mình là đúng đắn: Ông ta đã mất cái thói quen thích bị người ta cãi lại. Vì Lauriston dựa vào những lý lẽ của Caulaincourt nên Hoàng Đế đã cắt đứt câu chuyện và dứt khoát hạ lệnh: “Ta muốn hòa bình, ta cần hòa bình, ta tuyệt đối muốn hòa bình; ngươi hãy bảo vệ lấy danh dự”. Và Napoléon hạ lệnh cho Lauriston phải tức khắc tới doanh trại của quân Nga.

Việc Lauriston đến vị trí tiền tiêu của quân Nga đã thật sự làm náo động đại bản doanh của Kutuzov. Đã có nhiều người yêu nước Nga hăng hái hơn cả bản thân Kutuzov và họ lấy làm khổ não hơn Kutuzov nhiều về việc mất thành Moscow. Những nhân vật đó, chẳng phải ai khác, là Wilson, phái viên của chính phủ Anh ở bên cạnh quân đội Nga, là hoàng thân Wintzingerode, kẻ bội phản Liên Bang Sông Rhine, là công tước Württemberg, là công tước Oldenburg và nhiều người ngoại quốc khác nữa; họ bám riết lấy Kutuzov. Bennigsen, kẻ căm ghét Kutuzov và trước đây đã kịp thời báo lên Nga Hoàng rằng bỏ Moscow mà không đánh thêm một trận nào nữa là tuyệt đối không cần thiết, cũng đã về bè với bọn người trên. Nhân danh nhân dân Nga và quân đội Nga (trong hoàn cảnh ấy thì bọn chúng là đại diện), Wilson đến trước mặt Kutuzov và tuyên bố bằng những lời lẽ quyết liệt với Tổng Tư Lệnh rằng quân đội sẽ không phục tùng Kutuzov, nếu Kutuzov ra vị trí tiền tiêu để hội đàm riêng với Lauriston. Sau khi nghe Wilson nói, Kutuzov thay đổi ý định, ông tiếp Lauriston ở đại bản doanh, nhưng từ chối không thảo luận với Lauriston về vấn đề đình chiến hoặc ký hòa ước mà chỉ hứa chuyển lời đề nghị của Napoléon lên cho Hoàng Đế Aleksandr biết. Nga Hoàng không trả lời. Về phần Napoléon, hãy còn một biện pháp khác nữa: Cuộc cách mạng nông dân ở Nga. Nhưng Napoléon không thể nào đi đến quyết định đó được. Vả lại không thể nào cho rằng Napoléon, sau khi đã dùng lực lượng của quân đội Pháp để đàn áp thẳng tay không những mọi mưu đồ khởi nghĩa mà còn bất kỳ một dấu hiệu không phục tùng nào của nông dân đối với bọn chúa đất ở Litva, nay bỗng nhiên lại có thể xưng mình là người giải phóng cho nông dân Nga được.

Sau khi Moscow thất thủ, giai cấp đại quý tộc Nga lâm vào cảnh hốt hoảng khủng khiếp, và người ta báo cáo với Aleksandr rằng không những chỉ nghe thấy nông dân bàn tán về việc giải phóng, mà ngay trong binh lính người ta cũng nói rằng hẳn là Aleksandr đã bí mật yêu cầu Napoléon tiến vào nước Nga để giải phóng cho nông dân, vì rõ ràng chính Nga Hoàng cũng sợ bọn lãnh chúa. Và ở Peterburg, người ta đã đồn (một gã Sebalin nào đó đã bị mang ra tòa xét xử về tội nói như vậy) rằng Napoléon là con Catherine đệ nhị và Napoléon đến đoạt ngôi vua toàn nước Nga của Aleksandr vì Napoléon là người kế thừa chính thức, sau đó ắt Napoléon sẽ giải phóng cho nông dân. Những nguồn tin chắc chắn cho biết rằng có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại bọn quý tộc địa chủ đã nổ ra trong năm 1812, có những cuộc rất quyết liệt.

Rõ rệt là Napoléon do dự trong ít lâu, lúc thì bất thần ra lệnh cho tìm kiếm ở Sở Lưu trữ Moscow những tài liệu nói về Pugachev (nhưng không thấy) - (khởi nghĩa nông dân dưới thời Ekaterina- R.HA), lúc sai cận thần biên thư cho Eugène Beauharnais nói rằng nên kêu gọi nông dân khởi nghĩa, lúc hỏi mụ chủ hiệu người Pháp ở Moscow là Obenshain xem mụ ấy nghĩ sao về việc giải phóng nông nô, lúc lại hoàn toàn bỏ qua vấn đề ấy để đặt ra những câu hỏi về vấn đề dân tộc Tatar và Cossacks. Tuy nhiên, Napoléon đã ra lệnh phải cho ông ta biết về lịch sử phong trào Pugachev, điều đó chứng tỏ Napoléon đã hình dung một cách cụ thể đến tác dụng của sự can thiệp vào việc giải phóng nông dân Nga. Còn bọn quý tộc Nga, nếu như có một vấn đề nào đó thật sự đang làm “ruột gan” bọn chúng bồn chồn hoảng sợ thì đó chưa phải là cuộc phong tỏa lục địa, mà đương nhiên đó là việc nhìn thấy nền móng của chế độ nông nô đang bị lung lay một khi Napoléon chiến thắng, nghĩa là cái tai biến mà bọn chúng có thể mường tượng được do bài học của Sten và Hardenberg ở Phổ (sau trận đại bại ở Jena của dòng vua Hohenzollern) đã gợi ra cho chúng, tức là dưới hình thái của một cuộc cải cách “từ trên xuống” sau khi đã ký hòa ước; đó là điều mà bọn quý tộc Nga hoàn toàn không thể chấp nhận được; hoặc dưới hình thái một cuộc khởi nghĩa mới và kinh khủng kiểu Pugachev do Napoléon gây nên trong lúc đang chinh chiến, hình thái một cuộc tổng khởi nghĩa của giai cấp nông dân nhằm thủ tiêu chế độ nông nô bằng bạo lực và bằng con đường cách mạng.

Napoléon cũng đã không muốn bắt tay vào việc thực hiện kế hoạch cuối cùng ấy. Ông Hoàng Đế của giai cấp tư sản Châu Âu không thể nào chấp nhận được cuộc cách mạng nông dân dẫu là để chống lại nền quân chủ chuyên chế và phong kiến; và ngay lúc ấy thì duy chỉ có cuộc cách mạng như vậy mới đưa ông ta đến chiến thắng.

Ở điện Kremlin, có lúc Napoléon cũng lại đã nghĩ đến một cuộc khởi nghĩa ở Ukraine, một phong trào bất thần nổ ra trong số những người Tatar. Tất cả những kế hoạch đó cũng lại bị vứt bỏ. Thật là có ý nghĩa phi thường khi những nhà viết sử hiện đại người Pháp tán dương lòng trung thành không gì lay chuyển nổi đối với những nguyên tắc bảo thủ của Napoléon ở ngay giữa đống tro tàn của Moscow.

Edouard Driault, tác giả tám cuốn sách dày, mới xuất bản, nghiên cứu về đường lối ngoại giao của Napoléon, có nhận xét về vấn đề đó rằng Napoléon đã nghĩ đến việc xúi giục dân Tatar ở Cadence nổi dậy; đã ra lệnh nghiên cứu cuộc khởi nghĩa của dân Cossacks do Pugachev lãnh đạo, rằng không phải Napoléon không am hiểu đời sống của xứ Ukraine...

Napoléon nghĩ đến Madespa... nhưng dưới con mắt Napoléon, phát động cuộc cách mạng ở Nga là một việc vô cùng trọng đại. Khi nghiên cứu sự bí mật đáng sợ của những cánh đồng hoang vu của đất nước Nga, Napoléon không khỏi lo ngại. Ông ta không phải là người sáng lập ra cách mạng, mà là người đàn áp cách mạng. Đó là một con người đầy đầu óc mệnh lệnh: Chưa thấy ai có cái ý thức hầu như là bản năng về quyền hành của Hoàng Đế đến mức độ như vậy. Napoléon gớm ghét các phong trào quần chúng nhân dân và chính vì vậy mà Napoléon đã khư khư giữ địa vị Hoàng Đế, không muốn hạ mình xuống địa vị một kẻ chịu thỏa hiệp[50]. Trong cái ngày tháng 10 đó ở cung điện Petrovsky, ngày mà Napoléon cân nhắc xem có nên ban hành một sắc lệnh giải phóng nông nô hay không, một cuộc đấu tranh nội tại mãnh liệt đã diễn ra trong con người Napoléon. Đối với viên tướng 25 tuổi, người bạn của Augustin Robespierre, đối với người cùng đảng của Maximilien, và cho đến cả về sau này nữa, đối với tác giả của Bộ Luật Napoléon, vấn đề có nên để nông dân rơi vào tay bọn chúa đất tàn bạo Saltykova[51] nam hoặc nữ hay không đã được quyết định không một chút do dự. Napoléon hoàn toàn biết rõ rằng chế độ nông nô Nga giống chế độ nô lệ của người da đen nhiều hơn là chế độ nông nô trong bất cứ một nước chuyên chế và phong kiến nào ở Châu Âu đã bị Napoléon đánh đổ, vì Napoléon đã nuôi dưỡng ở đất nước Nga một đàn nhung nhúc những gián điệp nên đã có toàn bộ tin tức đầy đủ và khác nhau về nước Nga. Nhưng từ lâu, viên tướng của cách mạng đã là Đức Bệ Hạ Napoléon mang ơn Đức Chúa Trời mà trở thành Hoàng Đế của người Pháp thành vua nước Ý, thành tên chúa đất thực thụ và thủ lĩnh của toàn lục địa Châu Âu, thành con rể của Hoàng Đế nước Áo, thành kẻ đã đưa lên máy chém hoặc đã giết hại trong các ngục tối hoặc đưa đi đày biết bao nhiêu người, những người mà chỉ khi còn thời vận cũng đã là bạn bè của anh em Maximilien và đã có can đảm trung thành với lòng tin của họ.

Việc giải phóng nông dân bằng một sắc lệnh của Napoléon được thi hành trong tất cả các địa phương của quân đội Napoléon chiếm đóng, và nếu tin này mà được lan rộng trong khắp quân đội Nga, gồm những nông nô bị chỉ huy bằng roi vọt, thì, theo như một số người thân cận của Napoléon nghĩ, sẽ có thể làm rung chuyển khối quần chúng nông dân khổng lồ, sẽ phá hoại kỷ luật trong quân đội của Nga Hoàng và trước hết là khởi động một cuộc khởi nghĩa như của Pugachev. Sự thật là 35 hay 36 năm trước khi bị Napoléon xâm lược, nước Nga là nước duy nhất đã nổ ra một cuộc chiến tranh nông dân quyết liệt, kéo dài rất lâu, lúc thì thắng lợi, lúc thì thất bại; trong quá trình chiến tranh, có lúc nghĩa quân có lực lượng pháo binh thiện chiến hơn của quân đội Nga Hoàng, đã đánh chiếm được nhiều thành phố quan trọng, và tiến quân thắng lợi trên cả một vùng đất đai rộng lớn, làm cho toàn bộ lâu đài của đế chế Nga bị rung chuyển trong mấy tháng liền. Napoléon chỉ có thể biết phong trào khởi nghĩa của nông dân Đức qua các tài liệu viết cách đây đã 300 năm, còn như về cuộc dấy lên của Pugachev thì ông ta lại có thể thu lượm bằng cách nghe chính những nhân chứng, và những người này cũng chưa cao tuổi lắm. Hơn nữa, đời sống của những nông nô Nga cũng chưa hề có chút gì thay đổi về căn bản cũng như về chi tiết. Sau chế độ ngược đãi nông nô kiểu “Saltychikha" với những lò than hồng để thiêu đốt những nông dân nô lệ, lại đến lượt những Ismailov và những Kamensky với những phòng tra tấn và những hầm kín của bọn chúng, và với những chợ mua bán nô lệ vẫn còn tồn tại từ thời Catherine ở Nizhny Novgorod về phía Bắc và ở Kremenchuk về phía Nam, từ khắp nước Nga, người ta kéo đế nơi đây mua buôn, mua lẻ nông nô, cướp con cướp cái trên tay những người cha người mẹ. Cái khác duy nhất là quân đội Pháp đóng ngay giữa trái tim của đất nước Nga, có thể làm chỗ dựa cho cuộc khởi nghĩa của nông dân.

Ngày nay người ta biết một cách rõ ràng là, vào năm 1812, viễn cảnh của một cuộc khởi nghĩa như vậy đã làm bọn quý tộc Nga hãi hùng. Ta vừa mới nhắc đến những tin đồn truyền lan ở nông thôn, đến những vụ bạo động nổ ra ở đó đây, đến sự cảm thấy mình bất lực của các nhà đương cục đứng giữa cơn giông tố đang cuồn cuộn dâng lên. Ta biết rằng đông đảo quần chúng đã tiếp đón Aleksandr bằng sự im lặng ghê rợn như thế nào khi Aleksandr, nhợt nhạt như kẻ đã chết, đi đến nhà thờ Cadence, lúc Peterburg được tin về trận tàn sát đẫm máu ở Borodino và tin Napoléon đã vào Moscow.

Cái gì đã chặn bàn tay của Napoléon lại? Tại sao Napoléon đã không quả quyết tìm cách lôi kéo đông đảo quần chúng nông dân ngả về phía mình. Hà tất phải vắt óc xuy nghĩ khi chính bản thân Napoléon đã tự cắt nghĩa điều đó cho mình. Sau này, Napoléon có tuyên bố rằng ông ta không muốn “nổi trận cuồng phong của nhân dân khởi loạn”, không muốn tạo nên cái hoàn cảnh để rồi sau này không biết “tìm ai” ra mà ký kết hòa ước.

Tóm lại, dẫu sao ông Hoàng Đế của nền quân chủ tư sản mới cũng cảm thấy mình gần gũi với người chủ của cái quốc gia nửa phong kiến và xây dựng trên chế độ nông nô của dòng họ Romanov hơn là gần gũi các lực lượng cơ bản của cuộc khởi nghĩa nông dân. Napoléon có thể thỏa thuận rất nhanh chóng với kẻ thứ nhất (tức Aleksandr - N.D) nếu không ngay tức khắc thì cũng chỉ sau một thời gian ngắn mà thôi, như kinh nghiệm Tilsit đã chỉ cho Napoléon thấy rõ; còn với kẻ thứ hai (tức là nông dân - N.D) thì ngay cả việc đàm phán, Napoléon cũng đã không muốn rồi. Nếu như trong suốt những ngày hè và đầu thu năm 1789, những nhà cách mạng tư sản Pháp đã sợ hãi cuộc dấy nghĩa của nông dân ở trên đất nước Pháp và lấy làm khiếp đảm khi thấy cuộc dấy nghĩa ấy ngày càng mạnh mẽ thì có gì đáng lấy làm lạ khi vào năm 1812 ông Hoàng Đế của giai cấp tư sản không quyết định lôi lên từ dưới đáy mồ cái bóng hình Pugachev?

5

Sau khi đã vứt bỏ ý nghĩ khởi động một phong trào nông dân ở trên nước Nga, đồng thời cũng từ bỏ ý định đóng bản doanh nghỉ quân ở Moscow, Napoléon phải lập tức định hướng sẽ rời bỏ Moscow. Thế là đã hoàn toàn rõ ràng rằng Aleksandr đã từ chối mọi cuộc đàm phán, vì Nga Hoàng đã làm thinh phản đối những lời đề nghị do Tutolmin làm trung gian đầu tiên rồi đến Yakovlev và cuối cùng là Lauriston. Tiến về Peterburg chăng? Đó là ý nghĩ đầu tiên của Napoléon. Sau khi Moscow bị thất thủ, cả thành phố Peterburg hốt hoảng, dân chúng đã bắt đầu thu xếp của nả và bỏ trốn. Maria Feodorovna, mẹ Aleksandr, mặc dầu rất căm Napoléon, đã là người hối hả và hốt hoảng nhất và muốn người ta ký hòa ước càng sớm càng hay. Constantine cũng sợ hãi, cũng rất mong muốn như vậy. Đương nhiên là cuộc tiến quân của Napoléon về Peterburg sẽ có thể làm tăng thêm sự hoảng hốt đó, nhưng cuộc hành quân này đã không thể tiến hành được. Đúng là binh lính có được nghỉ ngơi chút ít và được lại sức ở Moscow, nhưng thiếu ngựa, thiếu đến mức mà một vài vị Thống Chế đã phải khuyên Napoléon bỏ lại một số pháo.

Ở Moscow bị tàn phá, người ta không tìm đâu được cỏ khô, lúa mạch, vì nông dân ở lân cận Moscow đã nổi lên chống cự ác liệt với những đội quân đi kiếm thức ăn cho ngựa. Vả lại tinh thần của toàn thể quân đội Pháp không còn đủ để cho người ta tiến hành một chiến dịch mới, xa xôi ở tận phía Bắc. Một cuộc tiến công bất thần của quân đội Kutuzov đánh vào Murat đang đóng vị trí quan sát ở Chernitsa, trước mặt Tarutino, nơi Kutuzov đóng quân, đã buộc Napoléon phải sớm quyết định. Cuộc tiến công ấy xảy ra ngày 18 tháng 10, đã biến diễn thành một cuộc chiến đấu thật sự, và sau trận ấy, Murat bị đánh bật ra khỏi bên kia làng Spak Kuplya. Thật ra, đó chỉ là một cuộc giao tranh phụ, nhưng nó chứng tỏ rằng Kutuzov đã tăng cường lực lượng sau trận Borodino và người ta đã phải tính đến những cuộc tiến công chủ động khác của Kutuzov. Sự thật là Kutuzov đã không muốn đánh trận Tarutino và Bennigsen đã nổi khùng với một viên tướng tổng chỉ huy vì không muốn điều động cho Bennigsen những lực lượng cần thiết.

Napoléon đã hạ quyết tâm. Quyết tâm này của Napoléon không có gì bất ngờ, mà hình như còn rất tự nhiên kể từ khi Napoléon phải từ bỏ ý định tiến quân về Peterburg. Để Thống Chế Mortier ở lại Moscow cùng với đội quân phòng thủ một vạn người, Napoléon quyết định dùng tất cả số quân còn lại tiến theo con đường cũ đi Kaluga để đánh Kutuzov. Napoléon biết rằng Kutuzov đã nhận được viện binh, nhưng trong lúc đó thì Napoléon cũng nhận được viện binh, như vậy Napoléon có trong tay hơn 10 vạn quân, trong đó có 2 vạn 2 nghìn sĩ quan và binh lính tinh nhuệ của đội cận vệ. Ngày 19 tháng 10, Napoléon hạ lệnh xuất phát, và trừ quân đoàn của Mortier ra, toàn thể quân đội Pháp hành quân theo con đường cũ đi Kaluga.

Rất nhiều xe cộ kiểu cách kỳ quặc và xe ngựa chở lương thực cùng những thứ cướp bóc được của Moscow đi theo quân đội. Kỷ luật lỏng lẻo đến nỗi Thống Chế Davout đã bỏ việc xử bắn những người không phục tùng, cố tìm mọi cớ để chất thêm lên xe những đồ vật quý giá ăn cắp được trong thành phố mặc dầu ngựa cũng còn thiếu để kéo pháo. Bị đoàn xe dài dặc đó làm rối loạn hàng ngũ nên quân lính đã phải kéo đi thành một tuyến dài vô tận. Chỉ cần nhắc lại lời nhận xét thường được kể đến sau đây của những người đã mục kích: Đi trên một con đường rộng như đường Kaluga, tám chiếc xe có thể dễ dàng sóng hàng ngang được, mà sau suốt cả một ngày hành quân liên tục không nghỉ, quân đội và hành lý vẫn chưa ra hết khỏi thành phố.

Với con mắt quân sự của mình, Napoléon nhận ngay ra rằng một đoàn xe cộ như vậy sẽ gây nên rất nhiều nguy hiểm cho quân đội, rất nhiều khó khăn trong việc bảo vệ đoàn quân quá dài đó chống lại những cuộc đột kích của kỵ binh đối phương, nhưng Napoléon đã không quyết tâm hạ những mệnh lệnh cần thiết như ý định ban đầu của mình.

Quân đội bây giờ không còn như trước nữa. Sau khi đã chịu đựng vô vàn gian khổ, và hiểu đầy đủ được tình thế khốn đốn cũng như bao nhiêu gay go khác đang chờ đón mình, thì đoàn quân ấy, sở dĩ còn giữ vững được quả thật đã vì bản năng tự vệ ở một đất nước xa lạ và thù địch hơn là vì kỷ luật. Nếu uy tín cá nhân của Napoléon không giảm sút dưới con mắt của những người lính cựu cận vệ người Pháp thì binh lính của các dân tộc bị chinh phục lại có gan làm những gương xấu; trong họ, chẳng có một tình cảm nào đối với Napoléon để ngăn cản họ làm điều xấu.

Ấn tượng đầu tiên và mạnh mẽ nhất của Napoléon là khi nhìn thấy đoàn quân đó kéo dài vô tận, nhưng cái ấn tượng mạnh mẽ hơn có lẽ là khi Napoléon biết rõ sự lỏng lẻo về kỷ luật. Và đột nhiên Napoléon thay đổi kế hoạch, cái kế hoạch mà Napoléon đã có trước vài tiếng đồng hồ, khi rời bỏ Moscow. Dù cho cuộc tiến công có kết thúc bằng một thắng lợi như Borodino chẳng hạn thì cái trận Borodino mới ấy cũng khó làm thay đổi được ý đồ của Napoléon, hay đúng hơn, lúc ấy đối với ông ta là căn bản: bỏ Moscow. Napoléon đã đoán trước được ảnh hưởng của các cuộc rút lui này đối với Châu Âu và ông rất sợ ảnh hưởng đó. Nhưng, một khi đã quyết tâm tránh giao chiến với Kutuzov, Napoléon liền chuyển ngay sang thực hiện ý đồ khác: Bỏ đường cũ Kaluga, tạt sang bên phải để bắt vào con đường Borovsk và hành quân về phía Đông Nam qua tỉnh lỵ Kaluga còn chưa bị chiến tranh tàn phá, rồi tiến về Smolensk. Napoléon chưa từ bỏ ý định tiếp tục chiến tranh: Đi qua Maloyaroslavets và Kaluga, sau khi đã tới Smolensk không gặp trở ngại gì thì có thể trú quân qua mùa đông ở thành phố Maloyaroslavets hoặc ở Vilna, hoặc còn có thể tiến hành những công việc khác. Nhưng trước nhất cần phải quyết tâm dứt khoát rời khỏi Moscow. Tối ngày 20 tháng 10, từ đại bản doanh đóng ở Troitskoye, Napoléon ra lệnh cho Thống Chế Mortier cùng với toàn bộ quân đoàn lập tức đuổi kịp quân chủ lực sau khi đã phá hủy điện Kremlin.

 

Mệnh lệnh cuối này chỉ thực hiện được một phần. Trong hoàn cảnh hỗn loạn của một cuộc rút lui quá cập rập như vậy, Mortier không có đủ thời gian để chấp hành tốt mệnh lệnh đó. “Không bao giờ tôi làm những điều vô ích”, Napoléon đã có lần nói như vậy để đáp lại lời người ta vu cáo Napoléon là cho thắt cổ Pichegru ở trong nhà tù. Nhưng trong hoàn cảnh này, việc phá hoại điện Kremlin là một hành động man rợ hoàn toàn vô ích. Hành động đó có thể là sự trả lời việc Aleksandr làm thinh phản đối ba lần đề nghị giảng hòa của Napoléon.

Thừa hành mệnh lệnh của Napoléon, đột nhiên quân đội rời bỏ con đường cũ Kaluga để đi theo con đường mới, và ngày 23 tháng 10, chủ lực của Napoléon đã tới Borovsk.

Một bộ phận của sư đoàn Delzons chiếm được Maloyaroslavets. Đoán được kế hoạch của Napoléon, Kutuzov quyết định chặn Napoléon trên con đường mới dẫn đi Kaluga. Tảng sáng ngày 24 tháng 10, tướng Dokhturov rồi đến tướng Rayevsky lần lượt tiến công Maloyaroslavets đã lọt vào tay Delzons từ tối hôm trước. Do lực lượng kéo đến tham chiến mỗi lúc một đông nên cuộc giao chiến có tính chất ác liệt kéo dài đến tối, và trong quá trình giao tranh, Maloyaroslavets đã tám lần chuyển từ tay bên này sang tay bên khác để rồi cuối cùng vẫn thuộc về quân Pháp, nhưng cả hai bên đều bị tổn thất nặng nề. Quân Pháp chết tới 5 nghìn người. Trong cái thành phố đã biến thành tro bụi đó, hàng trăm binh lính Nga và Pháp bị chết trong ngọn lửa; rất nhiều thương binh bị thiêu sống.

Mờ sáng ngày hôm sau, Napoléon với đoàn hộ tống ra khỏi làng Gorodnya để quan sát các vị trí của quân Nga, thì đột nhiên, một toán quân Cossacks lăm lăm giáo mác đã xông vào toán quân kỵ binh đó. Hai Thống Chế (Murat và Bessières) đi theo Hoàng Đế, tướng Rapp và vài sĩ quan liền vây chặt lấy Hoàng Đế và chống lại cuộc tiến công của toán quân Cossacks.

Lính khinh kỵ người Ba Lan và quân kỵ mã xích hầu của đội cận vệ vội phi ngựa đến giải nguy, cứu được Hoàng Đế và những người cùng đi. Nguy cơ bị giết chết hoặc bị bắt cầm tù đe dọa đến nỗi người ta khó mà tin được rằng nụ cười luôn luôn nở trên môi Hoàng Đế trong suốt thời gian diễn ra sự biến bất thần ấy là một nụ cười chân thật. Nhưng, mọi người đã trông thấy nụ cười đó và trong ngày hôm ấy cũng như về sau này nữa, ai nấy đều say sưa nói rằng chính sự nguy hiểm ấy là lý do để Hoàng Đế mỉm cười. Buổi tối, Hoàng Đế hạ lệnh cho bác sĩ Ivan, thầy thuốc hộ giá, pha chế dâng lên Hoàng Đế một ống thuốc độc mạnh, phòng khi chẳng may gặp phải nguy cơ bị bắt.

Sau khi đi kiểm tra các vị trí về, Napoléon họp hội đồng quân sự ở Gorodnya. Hình như trận Maloyaroslavets chứng minh cho thấy rằng nếu Napoléon không muốn một trận Borodino thứ hai thì quân Nga lại muốn, và nếu không có một trận Borodino nữa thì Hoàng Đế sẽ không mở được đường đến Kaluga. Hội Đồng Quân Sự đã hoàn toàn nhất trí với ý kiến ấy, mà cuối cùng chính bản thân Napoléon cũng tán thành. Đã không tính đến một trận tổng công kích nữa thì chỉ còn có việc tiếp tục trở về Smolensk đã hoàn toàn bị tàn phá, và phải hành quân càng nhanh chóng càng hay, trước khi quân Nga chiếm Mozhaysk bỏ ngỏ để chặn đường rút lui của quân Pháp. Sau khi lấy ý kiến của các sĩ quan hầu cận, thoạt tiên Napoléon có ý định tuyên bố với họ rằng hãy hoãn việc quyết định dứt khoát và theo ý của Hoàng Đế thì tốt hơn hết là giao chiến với Kutuzov để mở đường rút lui về Kaluga bằng vũ lực. Sự do dự của Napoléon được chấm dứt vào ngày 26 tháng 10, khi được tin quân Nga đánh bật được đội kỵ binh của Poniatowski ra khỏi Medin. Nhưng Kutuzov không muốn giao chiến, cũng không gây chiến.

Sau trận Maloyaroslavets, Kutuzov kiên quyết để mặc Napoléon rút lui, không hề dồn ép, thúc bách. Khi bọn người ngoại quốc (Đức và Anh), theo lệnh Aleksandr đến tổng hành dinh của Kutuzov để do thám viên tướng tổng chỉ huy, đã quấy rầy quá nhiều vị nguyên soái già bằng cách chê trách ông ta là thiếu nghị lực, thì đột nhiên ông phát khùng và tỏ cho họ thấy rằng ông thừa hiểu thủ đoạn của họ và biết rất rõ lý do tại sao bọn họ lại quá sợ cuộc chiến tranh của nước Nga chống Napoléon sẽ kết thúc “non yểu”.

6

Ngày 27 tháng 10, quân Pháp bắt đầu rút lui từ Borovsk đến Veria, Mozhaysk, Dorogobuzh và cuối cùng đến Smolensk. Họ hành quân một tuyến rất dài, và theo lệnh của Napoléon, đi đến đâu đốt sạch làng mạc, thôn xóm, vườn ấp đến đấy. Từ Mozhaysk trở đi thì hầu như chẳng còn gì để đốt phá nữa vì những nơi này đã bị tàn phá trơ trụi ngay từ trước trận Borodino. Thành phố Mozhaysk hoang vu chỉ còn là một đống tro tàn. Khi đi qua chiến trường Borodino, hàng ngàn xác chết của binh lính Pháp và Nga bị bỏ lại vẫn đang rữa thối, không ai thu nhặt, Napoléon hạ lệnh gấp rút ra khỏi nơi đó càng sớm càng hay: Quang cảnh khủng khiếp ấy làm cho binh lính mất hết tinh thần, nhất là lúc này họ đã nhận thấy rằng họ là những người chiến bại.

Ngày 30 tháng 10, khi đến Gzhatsk thì trời bắt đầu trở lên lạnh, thật là bất ngờ, bởi theo sự điều tra mà Napoléon lượm được vào năm 1811 trước khi tiến quân xâm lược thì ở vùng này của nước Nga đến cuối tháng 12 mới bắt đầu rét dữ dội. Đặc biệt năm 1812, mùa đông đến rất sớm, trời rét kinh khủng. Kutuzov bám sát cuộc rút lui của đối phương. Quân Cossacks liên tiếp tập kích làm cho quân của Napoléon mệt nhoài. Phía trước Vyazma, kỵ binh chính quy của quân Nga tiến công quân Pháp, nhưng rõ ràng Kutuzov tránh một cuộc chiến đấu có thế trận hẳn hoi, mặc dầu những người xung quanh đã không ngừng xúi bẩy ông làm như vậy. Dưới con mắt của người lính già này, tất cả vấn đề là ở chỗ tống cổ Napoléon ra khỏi nước Nga, nhưng đối với Wilson cũng như cả bầy người Đức và bọn lưu vong người Pháp cạnh ông thì cuộc lui quân của Napoléon không phải là sự kết thúc vấn đề mà lại là sự bắt đầu, bọn họ mong muốn được người ta trừ khử Napoléon hộ, ý định ấy sẽ chỉ có thể thực hiện được khi Napoléon hoàn toàn bị bắt hoặc bị giết. Nếu không thì đối với họ, Châu Âu vẫn chưa có gì thay đổi và rồi Napoléon vẫn sẽ tiếp tục trị vì đến tận sông Niemen. Nhưng lần này, Kutuzov đã không nhân nhượng. Nước càng đóng băng và quân Cossacks, quân du kích của Figner, Seslavin, Davydov càng tăng cường tập kích bao nhiêu thì quân đội Pháp lại càng tan rã mau chóng bấy nhiêu. Ngày 6 tháng 11, khi kéo quân về Dorogobuzh, quân đội Pháp chỉ còn được khoảng 5 vạn người đủ sức mang nổi vũ khí.

Trong khi luôn luôn cố gắng tỏ ra gương mẫu để động viên tinh thần binh lính, Napoléon phải chịu đựng tất cả những thử thách của cuộc rút lui. Napoléon đi chân hàng mấy giờ liền trên tuyết, tay chống gậy, miệng chuyện trò với binh lính đi bên cạnh. Ông còn chưa biết được rằng sắp tới có nên trú quân ở Smolensk hay không, cũng chưa biết được rằng sẽ dừng lại ở đó lâu hay chóng. Nhưng ở Dorogobuzh, Napoléon đã nhận được nhiều tin tức từ Pháp gửi tới buộc ông phải nhanh chóng hạ quyết tâm rời khỏi Smolensk thật sớm.

Thật ra, đây là những tin tức hết sức lạ lùng ở Paris chuyển đến Dorogobuzh cho Napoléon. Tướng Malet, một người Cộng Hòa lão thành bị giam trong một nhà lao ở Paris đã vượt ngục từ lâu, rồi vào một trại lính và báo cho binh sĩ của một đại đội rằng Napoléon ắt sẽ chết ở Nga, và đọc cho họ nghe một bản sắc lệnh của Thượng Nghị Viện, do chính tay Malet viết giả mạo, trong đó tuyên bố thiết lập chế độ Cộng Hòa, sau đó Malet cho bắt Bộ Trưởng Bộ Công An Savary và dùng súng lục bắn bị thương Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh. Sự rối loạn kéo dài trong hai tiếng đồng hồ, sau đó Malet bị lộ, bị bắt ra tòa án quân sự và đã bị xử bắn, cùng với 11 tội phạm khác chỉ vì đã tin rằng bản sắc lệnh đó có thật. Malet đã một mình mưu đồ việc ấy ở trong nhà lao.

Tuy cái việc nhỏ nhặt ấy chỉ là một sự manh động điên rồ nhưng đã tác động sâu sắc đến Napoléon. Ông ta cảm nhận thấy sự có mặt của mình ở Paris là cần thiết. Thoạt tiên là ở Dorogobuzh, rồi ngày 9 tháng 11, khi đến Smolensk, Napoléon được biết là Chichagov, cầm đầu đạo quân của miền Nam nước Nga từ Thổ Nhĩ Kỳ về, đang cấp tốc hành quân tiến về Berezina. Napoléon cũng được tin là quân đoàn của hoàng thân Eugène bị tổn thất nặng trong những cuộc giao chiến nhỏ với quân Cossacks, và cuối cùng, được biết rằng Vitebsk đã bị những phân đội của quân đoàn Wittgenstein chiếm đóng. Napoléon không thể tính đến việc dừng lại ở Smolensk nữa: Phải vượt qua Berezina trước khi quân Nga chặn đường, nếu không Napoléon và tàn quân sẽ nguy cơ bị bắt làm tù binh.

Trời ngay càng rét dữ. Ngay khi vừa ra khỏi Smolensk, binh lính đã suy yếu mệt mỏi đến nỗi gục xuống không dậy được nữa và đành chịu chết cóng tại chỗ. Suốt dọc đường, xác chết ngổn ngang. Do một sự sơ suất tai hại, khi rời khỏi Moscow họ đã không trang bị quần áo rét. Họ phải bỏ lại một phần lớn khí tài, xe cộ, một số pháo, có những đội kỵ binh phải đi bộ hoàn toàn vì ngựa chết như ruồi.

Với khí thế anh dũng ngày càng tăng, quân du kích và quân Cossacks lăn xả vào quân hậu vệ và những toán quân Pháp đi rớt lại sau. Khi rút khỏi Moscow, Napoléon có 10 vạn quân nhưng khi rời Smolensk thì chỉ còn lại không đầy 3 vạn 6 nghìn người, chưa kể vài nghìn binh lính đi rớt lại sau dần dần đã bắt kịp. Lúc này, Napoléon phải dùng đến biện pháp mà khi rút khỏi Moscow ông ta không định dùng: Hạ lệnh đốt hết xe cộ và quân trang, quân dụng để kéo pháo. Ngày 16 tháng 11, quân Nga tiến công quân đoàn Eugène Beauharnais ở Krasnoi và gây cho nó những tổn thất nặng nề. Ngày hôm sau, cuộc chiến đấu lại tiếp diễn. Quân Pháp bị đánh lui, hai ngày ấy bị thiệt mất chừng 1 vạn 4 nghìn, trong số đó có 5 nghìn vừa bị chết và bị thương; số còn lại đã hạ khí giới đầu hàng. Nhưng trận Krasnoi không phải đến đó đã kết thúc. Ney, bị cắt đứt khỏi quân chủ lực và bị tổn thất nặng nề (7 nghìn quân nay chỉ còn có hơn 3 nghìn), đã bị quân của Kutuzov đuổi dồn về đến sông Dnieper. Trong đêm tối, Ney đã vượt qua được sông ở về phía Bắc Krasnoi trên một lớp băng mỏng manh, binh lính bị thụt băng và chết đuối. Ney dẫn đầu một dúm quân còn lại, đã về thoát với đại quân ở Orsha.

Napoléon cố hết sức duy trì kỷ luật và tổ chức việc tiếp tế, nhưng không lo liệu trước một cách đầy đủ đến tuyến giao thông của mình về phía Minsk. Ở Dubrovka, Napoléon được tin là quân Ba Lan, mà ngay từ buổi đầu chiến dịch Napoléon đã giao cho phòng giữ Mohilev và Minsk, đã không làm tròn nhiệm vụ: Tướng Dombrowsky, được lệnh tiến công vào Borisov đã không đến chi viện cho tướng Bronikowski, và ngày 16 tháng 11, Minsk đã rơi vào tay Chichagov. Vào thành Minsk, quân Nga chiếm được nhiều kho lương thực lớn do Maret, công tước xứ Bassano, tập trung ở đó theo lệnh của Napoléon, mà Napoléon thì lại trông cậy vào những kho tàng đó. Tuyết đã bắt đầu tan.

Hoàn toàn tuyệt vọng. Các Thống Chế Oudinot và Victor đã bất lực, không cản nổi quân đoàn của Wittgenstein nên quân đoàn này từ phía Bắc đang dọc sông Dvina tiến về Berezina. Chichagov cũng đang từ phía Nam tiến lên Berezina. Ngày 22 tháng 11, sau khi đánh bật được Dombrowsky, Chichagov tiến vào Borisov.

Napoléon tái nhợt khi nhận được tin là quân Cossacks của Platov và quân của Yermolov họp thành đội tiền vệ của Kutuzov, đã hành quân từ hai ngày nay, nếu không thì là một ngày, để đuổi theo quân Pháp, và quân Pháp đang lâm vào tình trạng sẽ bị bao vây và đầu hàng. Napoléon lập tức hạ mệnh lệnh tìm một chỗ khác có thể bắc được cầu.

Borisov được nối liền với bờ bên kia sông bằng một chiếc cầu cố định, và ở tổng hành dinh của Hoàng Đế, khi người ta được tin đã mất chiếc cầu đó thì những người can đảm nhất cũng kinh hoảng. Napoléon trấn tĩnh rất nhanh. Căn cứ vào báo cáo của tướng Corbino, Napoléon quyết định vượt qua sông Berezina, quãng Studianka ở về phía Bắc Borisov, các kỵ binh người Ba Lan đã tìm thấy ở đó một chỗ lội qua được. Ở quãng này, sông Berezina rộng chưa đầy 25 mét, nhưng hai bên bờ sông là hai dải phù sa lầy lội, muốn qua được phải bắc một cái cầu dài gấp ba lần mặt nước con sông. Napoléon đã khôn khéo đánh lừa được Chichagov. Napoléon làm ra vẻ quyết định vượt sông sang Borisov. Ngày 23 tháng 11, Oudinot đánh bật được bá tước Pahlen, người chỉ huy đội tiền vệ của Chichagov phải rút khỏi Borisov vừa mới chiếm được, nhưng Chichagov vẫn ở gần Borisov và Wittgenstein đã từ phía Bắc hành quân cấp tốc tới. Napoléon không muốn và cũng không vượt sông ở nơi đó được. Bằng một loạt hoạt động nghi binh, Napoléon làm cho Chichagov lầm tưởng rằng cuộc vượt sông sẽ diễn ra Borisov hay ở phía dưới thành phố ấy, trong khi đó thì chính Napoléon đã có mặt ở Studianka vào lúc sáng sớm ngày 26 tháng 11. Lính bắc cầu của quân Pháp, lập tức bắt tay vào việc lội nước đến ngang thắt lưng, giữa những mảng băng đang trôi theo dòng, đã bắc được hai chiếc cầu ghép bằng thuyền; và quá trưa một chút thì quân đoàn của Oudinot bắt đầu vượt sông Berezina. Cuộc vượt sông tiến hành trong hai ngày 26 và 27 tháng 11. Quân Nga bố trí ở bên bờ phải, cách quãng sông lội được không xa lắm, toan tiến công vào những toán quân Pháp đã sang qua sông, nhưng quân Nga do tướng Chaplitz chỉ huy đã bị giáp binh của đội cận đánh lui. Wittgenstein tới chiến trường quá chậm. Chichagov thì bị Napoléon đánh lừa và tàn quân Pháp đã thoát không bị bắt. Tướng Apukhtin, một nhà sử học quân sự người Nga, đã nói về vấn đề này: “Không thể không nghiêm khắc chỉ trích những người chỉ huy tồi như Chichagov và Wittgenstein được, họ đã không có gan đương đầu với Napoléon”.

Cuộc vượt sông tiến hành có trật tự và khi hầu hết quân đội Pháp đã sang sông an toàn, thì thình lình một đám quân Pháp hành quân rớt lại sau khoảng 1 vạn 4 nghìn người bị quân Cossacks truy kích và chạy tán loạn về phía cầu. Đám quân đang thất đảm đó vội vã lao xuống cầu vào lúc mà những toán quân cuối cùng của Thống Chế Victor đang hàng ngũ sẵn sàng nhưng còn chưa qua được sông; họ đã phải dùng lưỡi lê đẩy lùi đám quân ấy lại. Được quân Cossacks báo tin cho biết là Napoléon đang vượt sông Berezina ở quãng lội Studianka, Kutuzov lập tức báo cho Chichagov biết. Vào giữa lúc pháo binh qua sông thì cầu gẫy. Lính bắc cầu vội vã chữa lại, nhưng vừa chữa xong cầu lại gãy. Nếu Chichagov khẩn trương hơn nữa thì quân Pháp không tài nào tránh được tai họa. Nhưng không rõ vô tình hay hữu ý, Chichagov đã đến quá chậm, khi đến nơi thì Napoléon đã cùng với tàn quân ở bờ sông bên kia. Đại đa số binh lính Pháp hành quân rơi rớt (khoảng 1 vạn trong số 1 vạn 4 nghìn người), do bị binh lính của Victor đẩy ra xa cầu, đã phải bỏ ở lại bờ sông, phần bị quân Cossacks tàn sát, phần bị bắt làm tù binh. Cuộc vượt sông vừa xong thì thì Napoléon hạ lệnh đốt cầu; và nếu như không có lệnh ấy thì số lính bị rớt lại sau hẳn đã chạy thoát được hết, nhưng vì nhu cầu quân sự đòi hỏi phá hủy phương tiện qua sông của quân Nga nên việc tổn thất 1 vạn quân rơi rớt ấy không ngăn cản được Hoàng Đế. Ông ta coi những người nào giữ vững được hàng ngũ mới là người hữu ích, còn những kẻ đã lạc ngũ thì bất kể lý do gì, dù vì bị ốm đau hay vì chân tay bị tê cóng, đối với Napoléon, họ không còn là những người lính nữa, Hoàng Đế chẳng quan tâm mấy đến số phận của họ. Napoléon chỉ chăm sóc đến thương binh khi nào những sự chăm sóc ấy không gây thiệt thòi cho những binh sĩ còn khả năng chiến đấu. Ở trường hợp này, thấy cần thiết phải đốt cầu một cách nhanh chóng nhất, Napoléon đã đốt không chút do dự.

Chính Hoàng Đế và các Thống Chế của ông ta cũng như nhiều tác giả quân sự xưa và nay đã và đang ca ngợi Napoléon, coi cuộc vượt sông Berezina là một trong những chiến công đẹp đẽ nhất của Napoléon. Một số người khác lại cho đó là một điều may mắn cho những sai lầm và sự thiếu linh hoạt của Chichagov và Wittgenstein mang lại, cũng như do sự bối rối của Aleksandr gây ra: Aleksandr đã bất chấp Kutuzov, từ Peterburg gửi thẳng cho các tướng lính một kế hoạch bao vây Napoléon, kế hoạch mà Kutuzov cho là ngu ngốc. Kharkevich, nhà viết sử quân sự người Nga đã cho xuất bản vào năm 1894 một cuốn khảo cứu đặc biệt nhan đề là Sông Berezina, đến tận bây giờ cuốn sách ấy vẫn được coi là mẫu mực. Qua cuốn sách ấy, người ta thấy rõ là Kutuzov cũng chẳng buồn thực hiện kế hoạch của Aleksandr, và chính vì cố ý mà Kutuzov đã không đi gấp tới sông Berezina, trong khi ông có đầy đủ khả năng tới đó đúng lúc. Việc nghiên cứu kỹ các tài liệu của Chichagov cũng như của Yermolov, của Denis Davydov và ngay cả của chính Kutuzov để lại, đã dẫn đến chỗ phải thừa nhận rằng rất khó bác bỏ được ý kiến của Kharkevich. Giống như Apukhtin, Kharkevich cho rằng sự sợ hãi, một sự sợ hãi đầy kinh hoàng khi đứng trước Napoléon, đã làm Wittgenstein và Chichagov tê liệt đến nỗi họ không làm những điều đáng lẽ ra phải làm. Mặt khác, Kharkevich đánh giá các cuộc hành binh của Napoléon là đúng đắn hợp lý.

Dẫu sao, tàn quân Pháp cũng đã thoát thân; họ tiếp tục hành quân rút về Vilna. Nhưng sau cơn tuyết tan nhất thời đã buộc phải bắc cầu qua sông Berezina, thì đột nhiên cái rét kinh khủng lại kéo đến. Hàn thử biểu hạ xuống 15, rồi 20, 26, 28 độ dưới không độ, và binh lính gục chết hàng chục, hàng trăm người một lúc. Những người còn sống sót phải đi giãn ra để tránh những người chết và những người hấp hối, rồi lại bám chặt lấy nhau và tiếp tục đi trong suốt thời gian rút lui khốn đốn ấy, chưa bao giờ họ phải chịu đựng những cơn rét khủng khiếp như vậy. Đằng sau họ, Kutuzov vẫn bám sát. Tuy được mặc ấm hơn quân Pháp rất nhiều nhưng binh sĩ của Kutuzov cũng đã lao đao vì rét. Chỉ cần nói rằng sau trận Borodino, khi tăng cường quân đội vào tháng 10, thoạt tiên Kutuzov rời Tarutino để đi Maloyaroslavets, rồi sau đó truy kích Napoléon, Kutuzov trên 9 vạn 7 nghìn người mà vào giữa tháng chạp, khi đến Vilna thì ông chỉ còn chưa đầy 2 vạn 7 nghìn 5 trăm người. Khi rời Tarutino, Kutuzov có 662 khẩu pháo nhưng ở dọc đường bị thiệt 425 khẩu, chỉ còn lại khoảng chừng 200 khẩu. Đó là những nỗi khó khăn gian khổ của những cuộc hành quân không ngừng, không nghỉ trong suốt cả một mùa đông rét mướt một cách rất đặc biệt ấy.

Cũng cần phải nói thêm rằng, mối sợ hãi đáng kể duy nhất của Napoléon là sợ bị Kutuzov đưa quân chủ lực ra tiến công ông. Sự thật là, tuy bằng cách đột kích vào các đoàn xe, quấy rối đội hậu vệ, quân Cossacks đã làm cho tình thế của quân đội Pháp đang rút lui trở lên hết sức bối rối, nhưng rất tự nhiên là họ không thể đơn độc chiến đấu với quân Pháp được.

 

Ở Krasnoi, họ đã đóng một vai trò quan trọng, nhưng vẫn là phụ; còn đối với quân du kích thì dẫu sao quân Pháp cũng không sợ như đội quân của Davydov, của Figner, của Dorokhov, Seslavin, Varbonski, Kudashev và hai, ba đội quân khác nữa. Quân Pháp không coi họ như quân chính quy và hầu như không bao giờ giữ họ làm tù binh: Bắt được là đem bắn hết. Vả lại, quân du kích cũng hành động như vậy, họ thích giết đối phương đã sa vào tay họ. Figner nổi tiếng là một tay rất quyết liệt. Trong hàng ngũ của quân du kích có cả sĩ quan, binh sĩ giải ngũ, những người tình nguyện. Những bút ký của người Pháp hầu như không bao giờ nhắc đến họ, trong khi ấy lại nói nhiều đến quân Cossacks và thừa nhận những tổn thất nặng nề do những đội kỵ binh Cossacks rất cơ động và ẩn hiện bất thần đã gây cho quân đội rút lui của Napoléon những trận tập kích liên tiếp và đột ngột, rồi sau đó họ lại lập tức biến đi mất. Quân du kích chỉ công kích vào những đơn vị đã hoàn toàn bị tan rã mà lúc đó họ có thể thanh toán ngay được.

Đây là bức họa chân thật của Denis Davydov, người chỉ huy du kích nổi tiếng, đã ghi lại: “Cuối cùng đội cựu cận vệ xuất hiện và chính đích thân Napoléon đi ở giữa... Nhảy lên mình ngựa, chúng tôi lại chạy ra bố trí ở ven đường cái lớn. Trông thấy những đám người hỗn độn của chúng tôi, quân địch vẫn ngang nhiên tiếp tục hành quân, súng lên đạn sẵn, bước đi đều đặn. Chúng tôi định cố bắt cho kỳ được dù chỉ là một tên trong hàng ngũ chặt chẽ ấy nhưng chúng tôi đã uổng công; như một khối đá hoa cương còn nguyên vẹn, chúng cứ đi với vẻ khinh thường mọi cố gắng của chúng tôi. Không bao giờ tôi quên được quân dung dũng mãnh và oai phong đáng sợ của những người chiến sĩ đã từng coi thường mọi cái chết ấy. Đầu đội mũ lông, quân phục màu xanh với những dây đeo súng màu trắng, gù vai và những chòm lông đỏ trên mũ của họ rực rỡ như những chùm hoa pavos trên cánh đồng trắng tuyết... Mọi cuộc công kích có tính chất Châu Á của chúng tôi đều không có hiệu lực gì đối với cái đội ngũ chặt chẽ của Châu Âu... hàng ngũ của họ vẫn nối tiếp nhau đi tới, vừa gạt đuổi chúng tôi ra bằng những tràng súng vừa cười chúng tôi đã uổng công phi ngựa vây quanh họ. Trong ngày hôm đó, chúng tôi còn bắt được một viên tướng, nhiều xe cộ khí tài và đến 700 tù binh, nhưng đội cận vệ của Napoléon đã đi qua đám quân Cossacks của chúng tôi như một chiến hạm có hàng trăm cỗ pháo băng qua một đoàn thuyền đánh cá nhỏ”.

Chúng ta nên chú ý rằng, ngày hôm ấy quân du kích đã phối hợp với quân Cossacks, điều đó cắt nghĩa tại sao họ lại bắt được 700 tù binh. Tuy vậy họ vẫn là những trinh sát viên tuyệt vời đã thường xuyên cung cấp cho Kutuzov và các tướng lĩnh của ông nhiều tin tức quý báu.

Bây giờ nên nói đến cuộc chiến tranh nhân dân năm 1812. Ở Nga, hình thái cuộc “chiến tranh nhân dân” ít nhiều có khác với ở Tây Ban Nha, mặc dù tính chất ác liệt của Nga đã làm cho Napoléon phải nhớ đến Tây Ban Nha. Ở Nga, cơn phẫn nộ của nhân dân đối với kẻ xâm lược ngày một lên cao. Ngay từ buổi đầu của cuộc chiến tranh, nhân dân Nga đã chỉ nhìn thấy rõ có một điều: Một kẻ địch hung bạo và xảo quyệt đã vào đất Nga, tàn phá xứ sở và cướp bóc dân chúng. Ý thức về nỗi nhục nhã khi tổ quốc bị tan nát, lòng khát khao trả thù cho các thành phố bị tàn phá và các làng mạc bị thiêu hủy, cho Moscow bị hủy hoại và bị phá phách, cho tất cả những sự khủng khiếp của nạn xâm lược, lòng mong muốn bảo vệ nước Nga và trừng phạt kẻ xâm lược hung ác, tất cả những tình cảm đó đã dần dần thấm sâu vào lòng toàn dân. Nông dân tập hợp thành những đội quân nhỏ, bắt và giết không tiếc những lính Pháp đi rớt lại sau. Khi quân Pháp ló mặt đi tìm thóc và cỏ cho ngựa thì thông thường, nông dân vũ trang chống lại rất dữ dội và nếu thấy toán quân Pháp mạnh hơn họ thì họ trốn vào rừng, sau khi đã đốt hết thóc và cỏ. Và đó là điều làm cho kẻ địch ghê sợ nhất.

Ở Nga, có khi nông dân tập hợp thành từng đoàn đột kích vào những đội quân địch, đặc biệt như trường hợp cuộc rút lui của Napoléon, điều mà người ta không thấy diễn ra ở Tây Ban Nha; ở Tây Ban Nha, nông dân không có sự giúp đỡ của quân đội, đã tự mình bao vây và bức từng trung đoàn quân Pháp phải đầu hàng. Nhưng ở Nga, nông dân hăng hái tham gia các đội quân du kích, giúp đỡ quân du kích mọi bề, chỉ lối dẫn đường, cung cấp lương thực và tin tức cho quân đội Nga. Nhưng trước hết dân tộc Nga đã biểu thị ý chí kiên quyết bảo vệ tổ quốc của mình bằng tinh thần chiến đấu kiên cường bất khuất trong những trận đánh sống mái ở Smolensk, ở Krasnoi, ở Borodino, ở Maloyaroslavets, cũng như trong vô vàn cuộc giao chiến nhỏ khác. Nếu như quân Pháp thấy rằng ở Nga họ không phải đối phó với một cuộc chiến tranh nhân dân thật sự như ở Tây Ban Nha thì lý do chủ yếu là vì quân đội Tây Ban Nha đã bị Napoléon tiêu diệt xong, đã từ bao nhiêu tháng ròng rã, nghĩa quân nông dân là những người duy nhất có thể chiến đấu được, song ở nga thì quân đội nga chưa bao giờ bị tiêu diệt. Do đó, lòng căm thù của nhân dân đối với kẻ xâm lược và ý chí tống cổ chúng ra khỏi nước Nga đã được biểu thị một cách có tổ chức hơn, trong hàng ngũ của quân đội chính quy. Qua các tài liệu, chúng ta được biết rằng lúc thời bình việc trưng binh đã bị mọi người coi là bổn phận cực khổ nhất, nhưng năm 1812, nông dân thuộc xứ Tambov nhảy múa vui mừng khi họ được người ta tuyển vào quân đội. Và những con người nhảy múa vui mừng vì được nhập ngũ ấy đã chiến đấu và hy sinh anh dũng trong các cuộc huyết chiến.

Sau cuộc rút bỏ Moscow của quân Pháp, sau trận Maloyaroslavets, sau những ngày rét đầu tiên và cùng với sự tan rã ngày càng tăng của quân đội Pháp luôn luôn bị quân của Kutuzov đuổi sát gót, đã phát sinh hiện tượng mà những người đương thời gọi là “hoạt động du kích” và sau này người ta gọi là “chiến tranh dân tộc”. Những người chỉ huy du kích như Figner, Davydov, Seslavin, Kudashev, Varbonski và nhiều người khác nữa đều là những sĩ quan của quân đội chính quy Nga; họ được phép và có nhiệm vụ thành lập các đội khinh binh, bao gồm binh sĩ và những người tình nguyện, để quấy rối đánh chặn quân Pháp đang rút lui bằng những trận đột kích bất ngờ vào các đoàn xe, các đơn vị đi rớt lại sau, và nói chung, vào những vị trí mà những toán quân nhỏ đó (vài trăm người) có thể tiến công và thu được thắng lợi. Trong các tổ chức du kích ấy có binh sĩ, có quân Cossacks, có dân quân mới tổng động viên và những nông dân tình nguyện. Tất cả những điều đó đã được viết tỉ mỉ trong cuốn sách nhan đề là Cuộc Xâm Lược Nước Nga Của Napoléon.

Sau khi vượt qua sông Berezina, quân số của quân đội Pháp bị giảm sút hơn nữa, không phải chỉ vì những cơn rét khủng khiếp, mà còn vì sư đoàn của Partouneaux bị tiêu diệt. Số là sư đoàn Partouneaux, được lệnh của Napoléon ở lại quanh vùng Borisov để đánh lạc hướng Chichagov, đã bị quân chủ lực của Kutuzov tiến công, bị bao vây bốn phía và sau khi bị thiệt hại mất già nửa số 4 nghìn quân trong hai ngày chiến đấu, đã phải đầu hàng.

Đến Vilna, tàn quân Pháp thấy mình đã sắp thoát khỏi tai nạn bị tiêu diệt đang treo trên đầu. Họ lê tới thành phố kiệt lả đi vì rét và vì mệt nhọc, thảm hại không sao tả xiết. Vài đơn vị còn đang chiến đấu, cách Vilna không xa, Ney và Medon phản pháo mãnh liệt vào quân Nga đang đuổi riết, và cuộc truy kích của quân Nga đã phải dừng lại mất mấy ngày. Việc tiến quân vào Vilna thật vô cùng hỗn độn, binh sĩ các đơn vị ẩu đả nhau vì tranh giành nhà ở và lương thực, họ đổ xô đi cướp phá các kho hàng và các cửa hiệu. Từ ngày 10 đến 12 tháng 12, quân Pháp tiếp tục rút về Kovno và vẫn còn có thể đánh lui được quân Cossacks đang truy kích họ. Kutuzov cùng với quân chủ lực còn cách Vilna vài chặng đường. Không nán lại lâu ở Kovno, đám tàn quân vượt sông Niemen đã đóng băng.

Chiến dịch Moscow khủng khiếp đã chấm dứt. Số 42 vạn quân vượt biên giới hồi tháng 6 năm 1812 và số 15 vạn quân sau này từ Châu Âu liên tiếp kéo tới, đến tháng chạp cùng năm ấy, chỉ còn là những tốp nhỏ, lẻ tẻ như vậy quay về, tan tác vượt sông Niemen lần nữa. Với số quân đó, sau này người ta đã tổ chức lại được ở Phổ và Ba Lan một quân đoàn tổng số khoảng 3 vạn người, chủ yếu gồm các đơn vị ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ sườn trong sáu tháng qua, đã không tham gia cuộc tiến quân vào Moscow. Còn bao nhiêu thì đã chết hoặc đã bị bắt. Theo những sự tính toán lạc quan nhất, số bị bắt làm tù binh không vượt 10 vạn người. Tất cả số còn lại đã chết ở trên các chiến trường, nhất là chết rét, chết đói, chết vì kiệt sức và vì bệnh tật trong khi rút lui.

Một tuần lễ trước khi quân đội rời khỏi biên giới Nga, ngày 6 tháng 12 năm 1812, tại thị trấn nhỏ Smorgonie giao quyền chỉ huy lại cho Murat, Napoléon đã từ giã quân đội, cùng với Caulaincourt, Duroc, Lobau và viên sĩ quan Ba Lan Vonsovic. Khi báo cho các Thống Chế biết việc lên đường của mình, việc mà họ phản đối một cách cung kính, Napoléon đã giải thích cho họ rằng quân đội không còn nguy cơ bị bắt như trước lúc vượt sông Berezina nữa, và Napoléon tin tưởng rằng không có mình, các Thống Chế cũng có thể dẫn quân đội về đến nước Phổ là đất đồng minh, nghĩa là đến sông Niemen. Nhưng sự có mặt của Napoléon ở Paris là cần thiết, vì ngoài Napoléon ra không ai có thể đứng ra tổ chức được một đội quân mới bằng các cuộc trưng binh bất thường, ít ra là 30 vạn người cần thiết để mùa xuân tới đương đầu với mọi kẻ thù bất trắc.

Để can ngăn việc lên đường của Napoléon, các Thống Chế đã bày tỏ nỗi lo sợ của họ là nếu Hoàng Đế vắng mặt thì quân đội sẽ hoàn toàn tan rã, bởi họ đã phải chịu đựng biết bao nhiêu khủng khiếp, và chỉ có sự có mặt của Hoàng Đế mới có thể giữ vững được họ. Napoléon hoàn toàn bình tĩnh khi nói điều đó với các Thống Chế. Các Thống Chế hiểu rõ rằng không phải vì khiếp nhược mà Napoléon từ giã quân đội, hiểu rằng hiện nay tính mệnh Napoléon đã thoát khỏi hiểm nghèo, và chính họ đã biết bao lần được mục kích Napoléon không chút cau mày khi dấn mình vào những nguy hiểm thật sự trước mặt. Không tỏ vẻ xúc động, Napoléon đã nói với các Thống Chế về cuộc chiến tranh khủng khiếp này, cuộc chiến tranh do ông ta tiến hành và làm thất bại, về sự tổn thất của đại quân; đó là một sự việc đáng phàn nàn, hẳn rồi, nhưng trong đó phải thấy một sự không may hơn là một sai lầm: Thời tiết ma quái không lường trước được...v.v. Tuy nhiên, Napoléon cũng đã thú nhận ngay rằng bản thân ông ta đã có những sai lầm, chẳng hạn như đã quá kéo dài thời gian ở lại Moscow. Rốt cuộc, trong cuộc chuyện trò ấy, các bạn chiến đấu của Napoléon đã không khám phá được trong tâm hồn ông ta chút gì bối rối hay ngã lòng nản chí.

Napoléon đã nghiêm ngặt yêu cầu các Thống Chế lúc này phải giữ kín việc lên đường của mình, vì cần phải giữ cho tinh thần binh sĩ không bị suy sụp hẳn trong những ngày còn chưa tới được sông Niemen, nhưng điều nay còn cần hơn: Phải để cho Hoàng Đế vượt qua được nước Đức trước khi ở đó người ta biết được sự thật về thất bại của đại quân và biết được là Hoàng Đế đi đường không có hộ giá. Hoàng Đế ra đi để thành lập một đạo quân mới, điều mà Hoàng Đế không thể không làm, phải làm rất nhanh, và Hoàng Đế sẽ còn đẩy các Thống Chế và đạo quân ấy xông pha dưới làn đạn rất nhiều lần nữa: Các Thống Chế không nghi hoặc gì điểm ấy.

Tiễn đưa ông Hoàng Đế ra xe trượt tuyết, các Thống Chế chú ý quan sát ông trong khi ông lên xe ngồi với Caulaincourt: Ông cũng đã tỏ ra phải bình tĩnh như bốn tháng sau, khi cầm đầu nhiều binh đoàn mới rời nước Pháp để đi đàn áp Châu Âu khởi nghĩa. Trong số các Thống Chế, có nhiều người đã tham dự tất cả mọi trận đánh của Napoléon, kể từ trận tiến đánh nước Ý lần đầu tiên cho đến chiến dịch nước Nga, và họ đã nghĩ rằng không bao giờ họ còn có dịp thấy trận nào ác liệt hơn trận Borodino nữa. Họ chưa tính trước được trận Leipzig.

Vun vút chìm biến vào bầu trời đầy tuyết của một buổi tối tháng chạp, chiếc xe chở đi một con người chỉ chịu bỏ mất đất đai của Châu Âu, đất đai mà ông ta đã chiếm được, sau khi đã chiến đấu một mất một còn.

[46] Về cuộc kháng chiến anh hùng của người Nga, tôi đã viết một tác phẩm riêng, nhan đề Cuộc Xâm Lược Nước Nga Của Napoléon M.1938.

[47] Wilson, Những sự kiện trong cuộc xâm lược nước Nga, London, 1860, tr.115.

[48] Một Vexta bằng 1.067 mét.

[49] Dân tộc thuở xưa ở vùng Đông Bắc Châu Âu và Tây Bắc Châu Á, ý nói là những kẻ man rợ.

[50] Edouard Driault. Sự sụp đổ của đế chế, Paris, 1927, tr. 27,28 - La chute de l'Empire.

[51] D. I. Saltykova, một mụ đại địa chủ mà tên tuổi đã trở thành tượng trưng cho sự man rợ, vô nhân đạo của bọn chúa đất đối với nông nô.

CHƯƠNG 14

châu âu chư hầu nổi dậy
trận các quốc gia
đại đế quốc bắt đầu suy vong
1

Thoạt tiên đi bằng xe trượt tuyết, rồi xe ngựa, Napoléon đã vượt qua Ba Lan, Đức và Pháp trong 12 ngày, và sáng 18 tháng 12 năm 1812 thì về đến điện Tuileries. Biết được những sự nguy hiểm có thể xảy tới trong những ngày khốn đốn này, Napoléon đi rất bí mật: Ông không ngộ nhận những tình cảm chân thật của người Đức đối với mình. Caulaincourt, người đi theo Napoléon, có kể lại sự tuyệt đối bình tĩnh, lòng can đảm, nghị lực và ý chí tiếp tục chiến đấu của Napoléon. Khi bàn về cuộc chiến tranh vừa kết thúc, ông Hoàng Đế đã nói với Caulaincourt rằng nếu như ông ta đã phạm sai lầm thì không phải sai lầm về mục đích, cũng như về thời cơ chính trị của cuộc chiến tranh, mà sai lầm về phương pháp chỉ đạo chiến tranh. Napoléon cho rằng nếu cứ ở lại Vitebsk thì bây giờ Aleksandr đã phải quy hàng dưới gối. Tóm lại, trong khi trao đổi, Napoléon đã nói bằng giọng của một nhà quán quân chỉ trích những thiếu sót của mình sau một ván cờ bị thua, trước khi mở đầu một ván khác mà ông ta quyết thắng: Không mảy may ghê sợ dĩ vãng, không hề nghĩ đến sự giảm sút uy tín khuynh đảo cả thiên hạ của bản thân, cũng không hề có dấu hiệu suy sụp tinh thần như người ta đã luôn luôn thấy rất rõ ở Napoléon vào những 1810 - 1811, thời kỳ Napoléon đang có đầy rẫy uy quyền và danh vọng. Về mặt ấy thì chiến tranh là thế giới, là sự sống của Napoléon, chả thế mà khi chuẩn bị hoặc khi tiến hành chiến tranh, lúc nào Napoléon cũng làm cho người ngoài cảm thấy ông là một người tràn trề sức sống, thở đầy lồng ngực, và kể từ khi lên xe ngồi với Caulaincourt, vấn đề duy nhất mà Napoléon quan tâm lo lắng là cuộc chiến tranh là sự chuẩn bị về mặt ngoại giao và quân sự cho cuộc chiến tranh đó. Có phải rằng rồi đây sẽ chỉ chiến đấu với riêng người Nga như vừa qua không? Châu Âu có nổi dậy không và nước nào sẽ giương ngọn cờ khởi nghĩa trước tiên; liệu có thể (và bằng cách nào) ngừa trước được cuộc nổi dậy đó không? Phải mất bao nhiêu tháng mới tổ chức được một đạo quân mới? Dọc đường, Napoléon dừng lại ở Warszawa và cho gọi giáo sĩ Priest, đại sứ Pháp ở triều đình vua xứ Saxony; chính Priest cũng phải sững sờ kinh ngạc trước sự bình tĩnh của Napoléon. Chính trong cuộc gặp gỡ này, Napoléon đã nói những lời nổi tiếng sau đây: “Từ chỗ tuyệt vời đến chỗ lố bịch, chỉ có một bước mà thôi”, và hậu thế sẽ phê phán điều đó. Nhưng Napoléon đã nói thêm rằng, chẳng bao lâu nữa ông sẽ quay lại sông Vistula với một đạo quân 30 vạn người và quân Nga sẽ phải trả thắng lợi của họ bằng một giá đắt, những thắng lợi không phải thuộc về bản thân họ, mà thuộc về thiên nhiên. Ai chẳng có lúc nếm mùi thất bại! Đương nhiên là chưa có ai đã phải chịu đựng những thất bại tương tự. Napoléon thú nhận như vậy, song bao giờ thất bại cũng tương xứng với cảnh ngộ, hơn nữa, rồi đây những thất bại ấy sẽ được đền bù.

Như trên đã nói, Napoléon về đến Paris ngày 18 tháng 12, và ông nhận ngay ra là tinh thần dân chúng sụt xuống rất nhiều. Hai ngày trước khi Napoléon về đến thủ đô, những tin chẳng lành, đồn đại từ lâu, đã được xác nhận bằng bản tin quan trọng số 29 trong đó Hoàng Đế đã nói một cách khá chân thật về chiến dịch nước Nga và sự kết thúc của nó.

Tang tóc gieo xuống hàng chục vạn gia đình đã làm cho không khí cả nước Pháp trở nên đặc biệt nặng nề. Những ngày tiếp theo, Napoléon tiếp kiến các Bộ Trưởng, các uỷ viên Hội Đồng Chính Phủ và Thượng Nghị Viện. Bằng những lời lẽ nghiêm khắc và khinh bỉ, Napoléon phê phán các nhà cầm quyền thiếu nhanh trí trong vụ tướng Malet và yêu cầu họ phải báo cáo về các xử trí của họ, nhưng ông ta chỉ nói phớt qua về chiến dịch nước Nga và cũng chẳng thèm trình bày chi tiết về vấn đề đó.

Các quan đại thần và các đình thần tiếp đón Napoléon bằng thái độ nịnh hót, khúm núm quen thuộc của bọn họ. Với lòng sốt sắng vô hạn, chủ tịch Thượng Nghị Viện Lacépède đề nghị cho phép ông ta được chính thức tiến hành tổ chức lễ đăng quang cho người thừa kế Hoàng Đế lúc đó mới một tuổi rưỡi, để “tượng trưng cho sự kế tục của triều đại”; cả Thượng Nghị Viện khom lưng cúi xuống dưới chân ông Hoàng Đế đang ngồi trên ngai. Trong bài diễn văn đọc trước Thượng Nghị Viện, quan sát cái cách nhắc đến chiến dịch nước Nga của Napoléon, người ta thấy rõ ràng là ông ta lại nuôi các ảo mộng mà dường như ông ta đã hoàn toàn từ bỏ khi ra lệnh cho Thống Chế Mortier phá hoại điện Kremlinn: Ông ta cho rằng bây giờ cũng vẫn còn có khả năng ký hòa ước với Aleksandr bằng cách tuyên bố hai bên bất phân thắng bại.

“Cuộc chiến tranh mà tôi theo đuổi là một cuộc chiến tranh chính trị. Tôi đã tiến hành cuộc chiến tranh đó với lòng căm thù, và tôi đã cố tránh cho nước Nga những tai họa do chính nước Nga tự gây ra. Lẽ ra tôi đã có thể vũ trang cho một bộ phận nhân dân Nga chống lại nước Nga bằng cách tuyên cáo cho nông dân được tự do... Một số lớn làng mạc, thôn xóm đã yêu cầu tôi làm việc đó, nhưng tôi phải từ chối cái biện pháp đưa hàng nghìn gia đình đến chỗ chết ấy...”. Không đếm xỉa đến các nguyên lão Nghị Viện, thật ra Napoléon đã nói với các lãnh chúa Nga và với Hoàng Đế của họ, với kẻ “đứng hàng đầu” trong bọn họ (sau này em Hoàng Đế Aleksandr đệ nhất là Nikolai Pavlovich định nghĩa các Nga Hoàng Nga như vậy). Lúc này Napoléon đòi Nga Hoàng và các lãnh chúa phải biết ơn ông ta về việc đã tha cho bọn họ một cuộc nổi loạn của nông dân chống quý tộc theo kiểu Pugachev, tuồng như chẳng bao giờ Napoléon có ý định dùng đến thủ đoạn ấy cả. Tất cả những sự quỵ lụy ấy của bọn đại thần trong đế chế và của những người cầm quyền, cả tấn hài kịch dối trá hèn hạ đó, mà từ trên ngai vàng ông Hoàng Đế đã đáp lại cũng bằng một sự dối trá ngạo mạn và nóng nảy, chỉ là một thủ đoạn do tình thế bức bách và nhằm đánh lạc hướng chú ý của nước Pháp và của Châu Âu. Hai mục tiêu quan trọng bậc nhất của Napoléon là trước hết phải tổ chức được một đạo quân, sau nữa là phải đảm bảo được một sự viện trợ, bằng không thì cũng phải tranh thủ được sự trung lập của nước Áo và hết sức cố gắng để có thể của cả nước Phổ nữa.

Mục tiêu thứ nhất đã đạt được dễ dàng, mau lẹ. Khi còn ở trên đất nước Nga, Napoléon đã hạ lệnh cho gọi trước kỳ hạn lớp quân dịch năm 1813, và vào mùa xuân cùng năm đó việc huấn luyện tân binh căn bản cũng đã hoàn thành. Người ta phải vất vả lắm mới gọi được 14 vạn tân binh. Ngay từ năm 1812, Napoléon đã chỉ thị cho thành lập “những đoàn quân vệ quốc” để khi cần đến ông ta sẽ sáp nhập tất cả vào quân đội, coi như là làm theo nguyện vọng của họ, tuy rằng nhiệm vụ của đoàn vệ quốc đã được xác định rõ là giữ gìn an ninh trong nội địa của đế chế. Việc ấy cũng đã đem lại cho Napoléon thêm 10 vạn người. Tháng 6 năm 1812, Napoléon để lại ở nước Pháp và nước Đức chư hầu 23 vạn 5 nghìn người, đó là lực lượng mà hiện Napoléon có thể tin cậy được. Cuối cùng, còn lại vài nghìn người (sau này tính đúng thì vào khoảng 3 vạn người) sống sót trong chiến dịch nước Nga; thật ra, những quân đoàn được Napoléon tách ra cho về cánh Bắc (hướng Riga và Peterburg) và cánh Nam (Grodno) bị thương vong ít hơn rất nhiều so với những quân đoàn đã chiến đấu ở Borodino, nhưng sau này, trong hai tháng rút lui Moscow về sông Niemen, chúng đã bị tan rã.

Như vậy, ông Hoàng Đế đã có đủ lý do để hy vọng rằng vào mùa xuân năm 1813 sẽ có một đội quân từ 40 đến 45 vạn người, chứ không phải 30 vạn. Trong khi thừa nhận rằng con tính ấy có thể là quá lạc quan, Napoléon cũng vẫn không hoài nghi gì về khả năng tập hợp một quân đội cực mạnh; trong một thời gian rất ngắn cần phải tích cực xúc tiến việc cung cấp, tu bổ, bổ sung quân dụng, quân nhu, những xưởng công binh, pháo binh, nói tóm lại, tất cả các loại vật chất khí tài. Napoléon đã làm việc suốt ngày để tổ chức trang bị và huấn luyện bộ đội.

Mùa xuân năm 1813, sau khi Aleksandr làm thinh trước những ý kiến ngắn gọn mong muốn hòa bình của Napoléon bộc lộ trong bài diễn văn đọc trước Thượng Nghị Viện, hệt như vào mùa thu năm 1812 đối với những bức thư chuyển qua tay Tutolmin, Yakovlev và Lauriston, thì giờ đây, Napoléon đã hoàn toàn tin chắc rằng ông ta sẽ phải gặp quân Nga ở sông Vistula và sẽ đánh cho nó tan tành. Napoléon biết rõ rằng mùa đông năm 1812 đã làm cho Kutuzov thua thiệt nặng nề, mặc dù ông ta còn chưa biết rằng trong hai tháng trời truy kích từ Tarutino đến Niemen, Kutuzov đã mất hai phần ba số quân có lúc đầu là 10 vạn, và hơn hai phần ba số pháo. Với tình hình đường xá tồi tàn quá đỗi và bằng vào các phương pháp được dùng dưới chế độ nông nô, Napoléon cho rằng Kutuzov không thể nhanh chóng lấp lỗ hổng số quân có khả năng chiến đấu đã bị hao hụt và tổ chức lại pháo binh. Không nhắc lại những sai lầm của cuộc xâm lược, Napoléon yên lặng chờ đợi quân Nga trên sông Vistula và Niemen để đánh bại ở đó.

Song một vấn đề đáng sợ khác đã tự đặt ra: Quân Nga có đơn độc hay không? Từ tháng 12 năm 1812, tướng Phổ Yorck, dưới quyền chỉ huy của Thống Chế MacDonald (nước Phổ lúc này vẫn là “đồng minh” của Napoléon) đã bỗng nhiên chạy sang hàng ngũ quân Nga rồi đó sao. Đúng là Frederick Wilhelm quá khiếp nhược đã vội vàng không thừa nhận Yorck, nhưng Napoléon cũng biết rằng nếu vua Phổ không đứng về phía người Nga thì có thể sẽ bị người Nga lật đổ, vả chăng chỉ nội những lý do chủ quan của mình, Frederick Wilhelm cũng đã lâm vào nguy cơ bị người Nga lật đổ. Napoléon cũng biết rằng sẽ rất ngu xuẩn nếu không tính đến việc nước Phổ bị ông áp bức lại không tìm cách thoát khỏi sự đô hộ của ông ta, một khi quân đội Nga tiến vào nước Phổ.

Kutuzov phản đối việc kéo dài chiến tranh, không phải chỉ vì ông thấy không có lý do gì để máu của người Nga tiếp tục chảy để giải phóng nước Phổ và các quốc gia Đức, mà còn vì một lý do đơn giản và hiển nhiên nữa là Kutuzov đã nhìn thấy trước những khó khăn ghê gớm do cuộc chiến tranh với Napoléon đẻ ra, khi mà quân đội Nga yếu hơn về số quân và đã kiệt sức. Nhưng Aleksandr khăng khăng không hòa giải. Ông ta xuất phát từ nhận định rằng nếu để Napoléon được nghỉ ngơi một thời gian thì cũng như để toàn thể Châu Âu nằm dưới quyền thống trị của Napoléon như trước đây và sẽ làm cho sự uy hiếp sông Niemen trở thành thường xuyên và không thể nào tránh được. Nhưng nếu quân đội Nga, một khi đã ở lãnh thổ Phổ, được tăng viện thêm thì rõ ràng là vua Phổ sẽ bị buộc phải xuất quân đánh Hoàng Đế Pháp.

Hành động của nước Áo cũng chẳng còn làm vừa lòng Napoléon nữa. Nước Áo (với tư cách là “đồng minh” của Napoléon) coi như đã chiến tranh với Nga từ năm 1812, thì nay, bố vợ Napoléon - Hoàng Đế Francis và Metternich[52], người đang lãnh đạo đường lối chính trị ở Áo, đã ký một “hiệp định đình chiến” với nước Nga, và tất nhiên là bất chấp những mối quan hệ thân quyến mới đây, ông Hoàng Đế nước Áo đã coi hoàn cảnh mà chàng rể ông ta đang lâm phải là một đặc ân không mong mà đến của vận mệnh và như một bảo đảm cho sự giải phóng nước Áo thoát khỏi cái ách khủng khiếp đã đè nặng lên mình từ trận Wagram và Hòa Ước Schönbrunn.

Trong những cảnh ngộ khó khăn như vậy, Hoàng Đế Pháp đã nhớ đến cái việc xảy ra năm 1809: Sau khi chiếm được thành Roma, Napoléon đã cho bắt và đưa Giáo Hoàng Đến Xavon và năm 1812, trước khi đi Moscow, Napoléon lại ra lệnh dẫn Giáo Hoàng từ Xavon đến Fontainebleau. Hơn nữa, người ta đã tạo cho mọi người thấy rằng những cảnh binh đi vây quanh chiếc xe của Giáo Hoàng không có gì khác hơn là một đội quân danh dự hộ tống, và trong thời gian Giáo Hoàng ngụ tại hoàng cung ở Fontainebleau thì cũng không có gì để có thể nói được rằng Giáo Hoàng đã bị giam giữ ở đó: Giáo Hoàng là khách của Hoàng Đế. Tuy nhiên, Giáo Hoàng đã không ngớt phản kháng việc người ta cướp mất thành Roma (Napoléon đã giao Roma cho đứa con trai mới đẻ của mình, phong làm “Vua thành Roma”), cũng như phản kháng việc bị bắt giữ. Trước tình hình như vậy, ngày 19 tháng 1 năm 1813, Napoléon đã bất thần đến thăm người tù của mình. Thực tế là cần phải thỏa hiệp bằng cách này hay cách khác với những người Công Giáo là những người đã ngấm ngầm chống lại Hoàng Đế từ năm 1809. Nhưng cuộc trao đổi hữu hảo giữa Napoléon và Giáo Hoàng đã không đem lại kết quả cụ thể gì.

Napoléon ép Pius VII ký một bản điều ước mới, nhưng cũng không vì thế mà giao trả thành Roma cho Giáo Hoàng (về đại thể, bản điều ước mới sao chép lại nội dung bản điều ước năm 1802). Đối với Napoléon, những sự nhượng bộ không có tác dụng gì hết: Napoléon không ưa và cũng không biết nhượng bộ. Những trò dụ dỗ hèn kém của Napoléon đối với Giáo Hoàng vào tháng 1 năm 1813 đã chấm dứt khi Napoléon bất thần cho bắt Hồng Y giáo chủ Pietro và đưa đi khỏi Fontainebleau, Vì Napoléon đã nghe phong thanh thấy Pietro khuyên Giáo Hoàng Pius VII đối địch lại Napoléon. Nói về mưu toan thỏa hiệp không thành đó với Giáo Hoàng, Hoàng Đế đã thốt ra một câu đáng chú ý: “Thực là hiện nay phải bỏ thành Roma..." Điều ước ấy còn phải xếp vào tủ và sẽ chỉ được lôi ra sau khi đã đại thắng ở sông Elbe hay ở sông Vistula. Thật vậy, trong suốt năm 1813 ấy và những năm sau, Napoléon không ngừng tìm cách phá hoại các cuộc thương lượng với đối phương và luôn luôn mong mỏi một chiến thắng lớn. Vận may đã ủng hộ Napoléon quá lâu. So sánh toàn bộ cuộc đời Napoléon dưới ánh sáng của tất cả những sự nghiệp vĩ đại chưa từng có mà Napoléon đã hoàn thành, kể từ việc hạ thành Toulon năm 1793 đến việc sáng lập cái đế quốc rộng lớn ấy và rồi Napoléon đã dắt dẫn các lực lượng của đế quốc đó đến bên kia sông Niemen, thì dẫu sao cuộc chiến tranh năm 1812 cũng chỉ làm một chấm đen trên cả một tấm thảm mênh mông đầy thằng lợi.

Nước Phổ đã sẵn sàng phản lại: Vua Phổ đòi Napoléon rút quân ra khỏi một số vị trí, đòi 94 triệu francs dùng vào việc nuôi dưỡng quân đội Pháp mà ngân khố của Hoàng Đế còn nợ lại, nhưng đã bị từ chối. Nước Anh không thể thừa nhận sự xâm lược nước Tây Ban Nha của người Pháp, và Napoléon, ngày 14 tháng 2, khai mạc khóa họp Hội Đồng Lập Pháp, đã dứt khoát tuyên bố rằng: “Triều đại Pháp đang trị vì và sẽ trị vì Tây Ban Nha”. Vào tháng 3, Metternich đã tỏ ý muốn biết những điều kiện mà Napoléon sẽ ưng thuận để ký một hòa ước chung, nhưng đã không được trả lời một cách rõ ràng. Đối với tất cả các vấn đề này, thái độ của Napoléon cũng giống như đối với Giáo Hoàng: Một trận thắng lớn ở sông Vistula hay ở sông Niemen sẽ quyết định hết thảy. Trong bài diễn văn ngày 14 tháng 2, Napoléon bảo đảm rằng toàn bộ đất đai của đế chế sẽ không thể đụng chạm đến được và Đại Công Quốc Warszawa sẽ vẫn tồn tại trong biên giới hiện nay. Lúc này, Metternich chưa muốn cắt đứt quan hệ với Napoléon nên đã nói với Otto, sứ thần Pháp ở Vienna, rằng với những lời tuyên bố như vậy, Napoléon làm cho hòa bình với nước Nga, cũng như nước Anh và với nước Phổ sẽ không thể nào có được.

Khi những phái viên Áo ở London bên cạnh Castlereagh, ở Kärlich bên cạnh Aleksandr thăm dò dư luận thì ở đâu người ta cũng chỉ trả lời rằng: Nếu Napoléon khăng khăng không chịu nhượng bộ thì chỉ có chiến tranh mới có thể giải quyết được. Cuối cùng vua Phổ đã công nhiên đứng về phía Aleksandr và ký một hiệp ước liên minh với Aleksandr. Napoléon đáp lại bằng cách tuyển thêm tân binh. Xứ Saxony, Bavaria, Württemberg, Baden vẫn còn chịu khuất phục.

2

Ngày 15 tháng 7 năm 1813, Napoléon trở lại với quân đội ở Erfurt và tiến quân đánh nước Nga và nước Phổ. Đội quân mới này được trang bị rất hoàn chỉnh. Trong những tháng đầu năm đó, Napoléon đã miệt mài làm việc để huấn luyện và tổ chức quân đội, dành nhiều đêm để chấn chỉnh lại nền tài chính đến mức quân đội không còn thiếu thốn một thứ gì, và có thể mua tất cả những thứ gì cần thiết cho quân đội bằng tiền vàng thật và đủ cân lượng, vì thật ra điều quan trọng là không nên phá hoại và làm cho nhân dân các quốc gia German bất mãn, chừng nào họ còn là “đồng minh”, ít ra thì cũng còn đang chịu khuất phục.

Napoléon có 20 vạn quân tại ngũ; quân dự bị, cũng tương đương như vậy, đã được tập trung hoặc đang được thành lập. Kutuzov chết đúng vào trước khi chiến dịch mở màn, và khi chiến sự bắt đầu thì quân Nga và quân Phổ đã không có tướng chỉ huy. Ngay lúc đầu, Napoléon đã giành được một số thắng lợi. Quân Nga bị đánh đuổi khỏi Weissenfels, sau đó đã diễn ra những trận đánh vào ngày 1 và ngày 2 tháng 5 ở gần Weissenfels và Lützen. Napoléon đã hoàn toàn chiến thắng. Ở Weissenfels, Thống Chế Bessières, đứng cạnh Hoàng Đế, trước đội cựu cận vệ mấy bước, bị một mảnh đạn đại bác bắn trúng, vỡ ngực chết. “Thần chết đang đến gần chúng ta”, Napoléon nói như vậy vừa nhìn người ta liệm Thống Chế trong tấm áo choàng của Hoàng Đế để đưa ra khỏi chiến trường.

Trận Lützen đã diễn ra giằng đi giật lại và đẫm máu. Cưỡi ngựa từ cánh này sang cánh kia, Napoléon điều khiển mọi hành động tác chiến. Aleksandr và Frederick Wilhelm ở gần chiến trường nhưng không tham gia gì. Quân Nga và quân Phổ bị đánh lùi, mất chừng 2 vạn người, nhưng số thiệt hại của quân Pháp cũng không kém mấy. Vài ngày sau, Napoléon tiến vào Dresden.

Sau trận Lützen, Metternich tìm cách lập lại hòa bình giữa Napoléon và quân Liên Minh bằng cách đảm bảo rằng nước Áo sẽ liên minh với Napoléon theo những điều kiện sau đây: Napoléon sẽ bỏ Đại Công Quốc Warszawa, bỏ nền bảo hộ Liên Bang Sông Rhine, bỏ các thành phố đồng minh thương nghiệp ở miền Tây Bắc nước Đức và Illyria. Còn ngoài ra, Napoléon sẽ giữ lại tất cả; nước Bỉ, toàn bộ nước Ý, nước Hà Lan, vương quốc Westphalia vẫn nằm trong đế quốc của Napoléon. Napoléon từ chối. Ông ta nói với tướng Bubna, sứ thần của triều đình Vienna: “Tôi không cần sự điều đình bằng vũ lực của các ông, các ông muốn đục nước béo cò...”. Bằng một giọng châm biếm, Napoléon còn nói thêm: “Không phải cứ đổ nước hoa ra là chiếm được đất”. Thoạt tiên, người Áo đòi Napoléon trả Illyria, nhưng rồi họ sẽ còn đòi cả Venice, Milan, Toscany, thì ra họ bức Napoléon phải đánh nhau với họ. Chi bằng đánh nhau ngay. Nếu họ muốn lấy lại các tỉnh từ tay Napoléon thì họ cần phải rút gươm ra khỏi vỏ, họ kết luận như vậy. Ông quyết tâm tiếp tục chiến đấu và chiến đấu mãi mãi, không nhượng bộ chút gì cả. Một phong trào chống Napoléon ở Hamburg. Hoàng Đế phái Davout đến đó để trừng phạt những thành phố đồng minh thương nghiệp ở miền Tây Bắc nước Đức về tội chống lại cảnh sát và nhân viên hải quan Pháp đã phá hoại việc buôn bán của họ bằng sự thực hiện nghiêm ngặt cuộc phong tỏa lục địa. Napoléon ra lệnh cho Davout bắn một số nghị sĩ của tỉnh - những người cầm đầu phong trào chống Pháp, một số sĩ quan, bắt 500 công dân có uy tín nhất, có tiếng là có tư tưởng chống đối và tịch thu toàn bộ tài sản của họ.

Sau khi ra những lệnh trên xong, Napoléon rời Dresden, dẫn đầu đội cận vệ, đuổi theo bộ đội đang tiến về phía Đông, theo hướng Bautzen (trên sông Spree). Trên đường từ Dresden đến Breslau, cùng đi với Napoléon có bốn quân đoàn: Của Ney, của Marmont, của Oudinot và của Bertrand. Quân Liên Minh thì đặt dưới quyền chỉ huy của Wittgenstein, Barclay de Tolly, Miloradovich và Blücher. Trận Bautzen bắt đầu ngày 20 đến tối ngày 21 thì kết thúc. Napoléon điều quân đoàn của Ney đánh vòng lên phía Bắc cánh phải của đối phương, nhưng vì Napoléon không chú ý đến những lời chỉ bảo của tham mưu trưởng Jomini nên đến chiến trường quá chậm. Quân Liên Minh đã rút lui có trật tự.

 

Trận đánh cũng đẫm máu như ở Lützen. Cả hai bên đều mất chừng 3 vạn người vừa chết và bị thương. Thắng lợi lại thuộc về phía Napoléon và Napoléon dự định đẩy lùi quân Nga và quân Phổ đang rút lui, tiến thẳng đến Berlin. Quân Liên Minh vừa đánh vừa lùi làm chậm bước cuộc truy kích. Ngày 22 tháng 5, Napoléon đã xông tới và đánh tan đội hậu vệ của quân Liên Minh ở Gneisenau. Tối đến, lúc trận đánh sắp sửa kết thúc, trong khi đối phương đang rút lui thì Duroc tới trao đổi với Napoléon một lát, rồi vừa bỏ đi vừa buồn bã nói với Caulaincourt: “Ông bạn, ông có để ý thấy gì ở Hoàng Đế không? Hoàng Đế vừa mới giành được những thắng lợi sau nhiều trận thất bại và lẽ ra đây phải là lúc áp dụng những bài học rút ra được trong thất bại. Nhưng ông thấy đấy, Hoàng Đế không thay đổi gì cả, vẫn ham chiến. Tất cả những điều ấy sẽ chẳng đưa đến kết quả tốt đẹp gì“. Và giờ chót của Thống Chế Duroc đến. Một mảnh đại bác bắn vào cây gần chỗ Napoléon đứng đã bật vào Duroc. Duroc còn đủ sức chúc ông Hoàng Đế thắng lợi và ký được hòa ước. Napoléon trả lời: “Xin vĩnh biệt bạn, có lẽ mấy chốc mà chúng ta sẽ lại gặp nhau”.

Cái chết của Duroc, một trong số rất hiếm người được Napoléon yêu và tin cậy, đã làm cho Napoléon bị xúc động mạnh. Napoléon bất giác ngồi xuống một gốc cây: Những mảnh trái phá của quân hậu vệ Phổ rơi quanh người, nhưng Napoléon vẫn ngồi đó rất lâu, chìm đắm trong những ý nghĩ riêng. Trong chiến dịch năm 1813 này, Napoléon thường xông pha vào nơi nguy hiểm và nhất là trong những trường hợp không cần thiết một chút nào, điều đó trước đây Napoléon không bao giờ làm và đã phản lại quan niệm của Napoléon về vị trí của một người tướng tổng chỉ huy ở ngoài mặt trận. Những người ở gần Napoléon cũng nghĩ rằng ông thầm tìm cái chết và cố che giấu mọi người. Hầu như suốt trong thời gian quân Pháp truy kích, quân Nga và quân Phổ đã dùng pháo bắn lại rất mãnh liệt để yểm hộ cuộc rút lui của họ, nhưng Napoléon ngang nhiên đi với đội tiền vệ, ở chỗ nguy hiểm nhất, mặc dầu về mặt quân sự ông không cần thiết phải có mặt ở đó.

Sau trận Bautzen và sau vài ngày truy kích, hai bên tham chiến đã chấp nhận đề nghị hòa giải của nước Áo do Metternich đề xướng và, ngày 4 tháng 6 năm 1813, ký hiệp nghị đình chiến Pläswitz.

Mặc dầu, theo đề nghị của Metternich, bên phe Liên Minh cũng như Napoléon đã thỏa thuận cử đại diện toàn quyền của mình đến Prague để đàm phán, nhưng khi ký hiệp định đình chiến, cả hai bên đều không muốn có hòa bình thật sự. Quân Liên Minh biết rằng trước trận Lützen và Bautzen, Napoléon đã không chịu nhượng bộ một chút nào thì bây giờ, sau khi đã chiến thắng hai trận, lại càng không chịu; còn về phía mình, nếu như Aleksandr đã bằng lòng ký hiệp định đình chiến thì đó chỉ vì Barclay de Tolly đã tuyên bố dứt khoát là sau những thất bại, quân đội cần phải được hồi phục, củng cố đội ngũ và tăng viện. Napoléon cũng vậy, ông ta thỏa thuận đình chiến cũng chỉ nhằm tăng cường quân đội của mình để có thể đè bẹp quân Liên Minh một lần cho rồi. Đồng ý hoãn chiến, Napoléon đã phạm một sai lầm tai hại vì sự đình chiến chỉ có lợi cho đối phương, chứ không có lợi cho Napoléon, và vì nó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho nước Áo từ bỏ vai trò trung gian hòa giải để nhảy sang hàng ngũ Liên Minh.

Đáng lấy làm lạ khi người ta nhận thấy rằng quân Liên Minh đã không nhận ra được sai lầm ấy của Napoléon, tuy rằng, sau đó khá nhiều năm, các tướng lĩnh của họ (Nga và Phổ, cũng như thái tử nước Thụy Điển Bernadotte) đều quả quyết nói rằng họ đã rất khéo biết lợi dụng hiệp ước đình chiến ngay từ buổi đầu và họ rất lấy làm hài lòng về hiệp định ấy. Tuy nhiên, chúng ta có chứng cớ không thể chối cãi được sau đây của trung tá Vladimir Ivanovic Lowenstein, người đã có điều kiện quan sát tường tận tình trạng tư tưởng đang diễn ra trong các bộ tham mưu của quân Liên Minh: Ông khẳng định rằng: “Trong quân đội Liên Minh, ở Phổ, trong các quốc gia German, nơi đâu người ta nói tiếng Đức thì nơi đó người ta than thở rằng cái hiệp định đình chiến ấy là một tai họa ghê gớm nhất”. Và, với sự châm biếm đúng đắn, Lowenstein đã thốt lên: “Ôi, trí tuệ của con người!”. Những ghi chép ấy của Lowenstein (Denkwurdigkeiten eines Livlanders), một người Đức, là một trong những tài liệu quý báu và vô tư nhất về lịch sử năm 1813, trong khi ấy thì nhiều tác giả Pháp, Nga, Áo và Thụy Điển, khi ghi chép về nó, đã vô tình hay hữu ý đưa ra nhiều điều dối trá.

Thế là hiệp ước đình chiến đã được ký kết, nhưng Napoléon không tin rằng việc đó đem lại cho ông ta những cơ hội chắc chắn để đi đến một nền hòa bình mà ông ta hằng mong mỏi, và ông ta đã kiên quyết không ký một hiệp ước đình chiến nào khác nữa. Được tất cả hoặc mất hết: Đó là khẩu hiệu của Napoléon khi khởi động cuộc chiến lớn năm 1813, và Napoléon đã theo đuổi cuộc chiến cũng với khẩu hiệu ấy. Ngay khi ở đảo Saint Helena, sau khi đã mất hết, kể cả sự tự do của mình, ông Hoàng Đế cũng không bao giờ tỏ ý mảy may tiếc rằng mình đã phạm phải sai lầm ấy, bởi đối với ông điều đó tuyệt nhiên không phải là một sai lầm. Ông nói một cách mỉa mai rằng mặc dầu ông hoàn toàn thất bại, ông vẫn có thể chiến bại trở về và ngồi vững trên ngai vàng, nếu không phải là chính ông thì là cháu đích tôn ông. Ông còn xác định nhiều lần rằng giữa ông và các vị vua chúa thừa kế tọa hưởng kỳ thành có sự khác nhau rất lớn.

Sau những khủng khiếp của chiến dịch Moscow làm cho hầu hết nhân dân Pháp chìm đắm trong đau khổ, Paris đã đón tiếp Napoléon bằng một sự khuất phục hoàn toàn. Vậy thì một sự đón tiếp như vậy ắt cũng sẽ diễn ra nếu như sau chiến dịch rực rỡ mùa xuân năm 1813, Napoléon trở về vẫn giữ được tất cả những miền đất đai rộng lớn của mình (trừ xứ Illyria vô tác dụng nằm xa lắc xa lơ tít trong vùng Balkan) mà chỉ hy sinh mất có Đại Công Quốc Warszawa và Liên Bang Sông Rhine, nơi Napoléon không trực tiếp trị vì, chỉ thông qua các chư hầu, và các nước ấy cũng chẳng phải là thành viên hợp thành đế quốc của Napoléon. Nhưng Napoléon hiểu rằng những sự nhượng bộ ấy, sự từ bỏ ý đồ hoàn thành việc xây dựng một đế quốc quy mô toàn thế giới sẽ có nghĩa là sự thắng lợi của nước Anh về mặt kinh tế và chính trị. Nhiệm vụ mà Napoléon từ đặt ra sẽ bị bỏ dở, nền thương nghiệp và công nghiệp Pháp sẽ không chống chọi được với thương nghiệp và công nghiệp Anh, cuộc khủng hoảng năm 1811 sẽ trở thành một hiện tượng mãn tính, nạn thất nghiệp cũng vậy, cuộc “cách mạng của những cái bụng rỗng”. Một cuộc cách mạng không sợ gì súng đạn, sẽ “định cư” ở các khu trung tâm thợ thuyền, ở thủ đô và ở các tỉnh; còn đối với giai cấp tư sản mà Napoléon là người cầm đầu đầy thế lực và trung thành trong cuộc đấu tranh kinh tế chống nước Anh thì Napoléon cũng chỉ là con người vô dụng. Vì cái gì mà giai cấp tư sản Pháp cứ phải tiếp tục chịu đựng sự chuyên chế chưa từng thấy của Napoléon? Và trị vì theo kiểu khác thì Napoléon không muốn mà bản chất Napoléon cũng không cho phép. Những cái đó đã thúc đẩy Napoléon phái Davout đến Hamburg, Roma, Lubeck, mang theo những lệnh nghiêm ngặt, để tiến hành những cuộc xử bắn và tịch thu tài sản vào giữa lúc Metternich đang cố hết sức thuyết phục Napoléon từ bỏ những nơi đó. Những cái đó đã làm cho Napoléon không những không nghĩ đến hòa bình và sự quay trở lại Paris, mà lại nghĩ đến một chiến dịch mới trên sông Vistula và Niemen và đã làm cho cuộc thương lượng ở Prague trở thành một màn hài kịch hão huyền. Người ta bàn với Napoléon nhượng lại Hamburg trong khi Napoléon nghĩ đến Niemen, người ta đề nghị với Napoléon bỏ Illyria trong khi Napoléon còn chưa triệu về những gián điệp và trinh sát viên do Napoléon phái đến Thổ, Ba Tư, Syria, Ai Cập trước khi bước vào chiến dịch nước Nga. Sự tranh chấp chỉ có thể giải quyết bằng súng đạn, không thể bằng những thủ đoạn ngoại giao tế nhị.

Thực tế đường lối ngoại giao của nước Áo là không muốn Napoléon chiến thắng hoàn toàn quân Liên Minh và cũng không muốn quân Liên Minh chiến thắng Napoléon, vì như vậy sẽ làm cho Nga Hoàng trở nên bá chủ. Metternich muốn hướng Napoléon vào con đường nhượng bộ, và khi vừa đến Dresden, ngày 28 tháng 6 năm 1813, Metternich đã đến yết kiến Hoàng Đế Pháp lúc ấy đang ngự ở đó.

Napoléon mở đầu bằng dọa nạt, dứt khoát buộc tội nước Áo là viện cớ đứng làm trung gian hòa giải để chuẩn bị bỏ sang hàng ngũ quân Liên Minh. “Các ngài hãy nói cho tôi rõ, có phải các ngài muốn chiến tranh với tôi không? Thì ra con người ta không thể giáo hóa được! Thì ra những bài học đường đời chẳng giúp ích gì họ cả! Bất chấp những kinh nghiệm đau đớn của họ, người Nga và người Phổ phấn khởi say sưa vì những chiến thắng mùa đông năm ngoái, đã cả gan giao chiến với tôi và tôi đã đánh cho thua, thua tơi bời, mặc dầu họ đã nói với các ngài trái hẳn lại. Thế các ngài, các ngài cũng muốn đến lượt các ngài chăng? Được, sẽ đến lượt các ngài. Tôi hẹn gặp các ngài ở Vienna, vào tháng 10”.

Rất lễ phép nhưng rất kiên quyết, Metternich biện bác rằng nước Áo không có những ý định như vậy, mà chỉ muốn có một nền hòa bình lâu dài. Và Metternich đã nêu ra những điều kiện cho hòa bình: Napoléon đồng ý nhường Illyria, Hamburg, Breme và Lubeck, Đại Công Quốc Warszawa và từ bỏ danh nghĩa bảo hộ đối với Liên Bang Sông Rhine, ngoài ra thì Napoléon sẽ giữ lại tất cả những đất đai còn lại. Napoléon đã nổi khùng: “Này, tôi đã rõ điều bí mật của các ngài, tôi biết trong thâm tâm các ngài muốn gì rồi... Người Áo các ngài muốn toàn bộ nước Ý, bạn các ngài là người Nga muốn nước Ba Lan; người Phổ muốn xứ Saxony; người Anh muốn nước Hà Lan và nước Bỉ, và nếu hôm nay tôi nhượng bộ thì ngày mai các ngài sẽ đòi hỏi những thứ mà các ngài thèm khát ấy. Nhưng muốn thế, các ngài hãy chuẩn bị gọi hàng triệu quân, hãy chuẩn bị đổ máu hết thế hệ này đến thế hệ khác và đến thương lượng ở chân đồi Montmartre”. Metternich đáp lại rằng người ta chẳng đòi hỏi Napoléon như vậy, rằng hòa bình mà người ta đề nghị với Napoléon là một nền hòa bình cao cả, vẻ vang. Napoléon bèn viện ra cái lập luận rằng đối với ông ta, nhượng bộ là nhục nhã. “Vua chúa của các ngài ra đời trên ngai vàng nên không thể hiểu được những tình cảm trong người tôi. Họ chiến bại trở về thủ đô, việc đó đối với họ chẳng sao cả. Nhưng tôi, tôi không thể nào trở về với danh dự giảm sút giữa nhân dân tôi được; tôi vẫn phải vĩ đại, quang vinh và được kính phục”.

Metternich đáp lại rằng, nếu như vậy thì chiến tranh sẽ không bao giờ kết thúc mà hiện nay toàn thể Châu Âu cũng như nước Pháp đã bị chiến tranh làm kiệt quệ và cần có hòa bình. “Tâu Hoàng Thượng, tôi vừa đi qua các trung đoàn của Hoàng Thượng,binh lính của Hoàng Thượng là những thiếu niên. Hoàng Thượng đã trưng binh trước tuổi và đã gọi vào quân ngũ một thế hệ vừa mới đến tuổi thành niên; thế hệ này một khi bị cuộc chiến tranh hiện nay hủy hoại đi thì rồi Hoàng Thượng có còn gọi lính trước kỳ hạn được nữa hay không? Liệu Hoàng Thượng có gọi đến thế hệ trẻ hơn họ nữa hay không?” Trong tập ký ức của mình, Metternich kể lại rằng lúc đó Napoléon phát điên phát khùng quẳng mũ xuống đất thét lên: “Ngài không phải một người lính, thưa ngài, ngài không có tâm hồn của một người lính; ngài chưa sống trong trại lính, ngài chưa học cách xem thường tính mạng của người khác và của ngài khi cần đến 20 vạn người làm được cho tôi những gì?”. Đó là những lời trơ tráo nhất mà Napoléon đã thốt ra để lăng nhục đối phương trong một cơn thịnh nộ. “Dẫu sao thì những người Pháp mà máu của họ đang được ngài bảo vệ đã không oán trách tôi lắm đâu. Đúng là tôi đã mất 20 vạn quân ở nước Nga, trong số đó có 10 vạn lính Pháp, những người lính ưu tú; tôi tiếc những người đó... đúng, tôi rất tiếc họ, còn những người khác, họ là người Ý, người Ba Lan, và chủ yếu là người Đức”, Napoléon nói tiếp và kèm vào tiếng cuối cùng ấy một điệu bộ khinh bỉ. “Thì cứ cho là thế" Metternich đáp lại, “nhưng thưa Bệ Hạ, chắc Bệ Hạ cũng đồng ý rằng đây không phải chuyện bênh vực riêng gì một người Đức nào”.

Sau những lời tuyên bố như thế, đương nhiên là cuộc gặp gỡ không đưa đến kết quả gì. Napoléon đã soi mói nhận xét rằng nước Áo đã khoác lác về lực lượng quân sự của họ, và khi Metternich yêu cầu Napoléon cho phép tiến hành đứng trung gian điều giải về mặt ngoại giao theo những quy định sẵn thì Napoléon đã nói rằng: “Chà, ngài cố tình, ngài vẫn cứ muốn cưỡng bức tôi. Này, ngài Metternich, nước Anh đã đãi ngài bao nhiêu để gây chiến với tôi. Thôi được! Chiến tranh thì chiến tranh! Nhưng thôi, xin tạm biệt, gặp nhau ở Vienna!”. Trong cơn thịnh nộ, Napoléon còn hỏi Metternich rằng nước Anh đã cho ông ta bao nhiêu để đóng vai trò này với Napoléon.

Khi Metternich cáo từ và đi ra thì Thống Chế Berthier - một người rất khao khát hòa bình và coi những điều kiện mà Metternich đưa ra là những điều hoàn toàn có thể chấp nhận được và rất vẻ vang - đã hỏi Metternich về kết quả cuộc hội đàm. “Tôi cam đoan với ông rằng thủ lĩnh của ông mất trí rồi" - Metternich đáp.

Mặc dầu cảnh kịch ấy đã diễn ra (trong đó, ngoài những lời tuyên bố khác ra, Napoléon còn nói rằng ông ta đã gia ơn cho nước Áo khi kết hôn với Marie Louise, và đó là một “sự điên rồ” của ông ta) nhưng cuối cùng Napoléon cũng đã chấp nhận việc nước Áo đứng trung gian hòa giải, tuy không có sự giao ước chính thức nào. Ngày 12 tháng 7 năm 1813 trong khi các viên đại diện toàn quyền Nga, Phổ và Áo hội họp ở Prague theo lời mời của Metternich và đang đàm phán mất thời gian vô ích thì quân đội của Napoléon được tăng cường, nhưng tình hình chính trị chung thì lại trở nên nghiêm trọng rõ rệt. Giữa lúc ấy, những tin tức về tình hình nguy khốn và thất trận của Pháp ở Tây Ban Nha bay tới. Quân Anh và quân du kích Tây Ban Nha đã đuổi quân Pháp đến tận dãy núi Pyrenées. Wellington đã chiến thắng ở Vittoria.

Biết trước là cuộc đàm phán ở Prague sẽ không đi đến kết quả gì và hơn nữa cũng không muốn đi đến kết quả, nên Napoléon đã cố tình kéo dài sự việc. Các đại diện toàn quyền Nga và Phổ, ngay cả Metternich, đều lấy làm bất bình và nổi giận trước những thủ đoạn đàm phán ấy. Các viên đại diện đó đã ở Prague từ ngày 12 tháng 7, mà người Pháp thì vẫn chưa thấy đến và không ngừng thọc gậy bánh xe.

Sau cuộc hội đàm của Metternich và Napoléon người Áo không còn do dự gì nữa. Metternich nói thẳng với đại diện toàn quyền Pháp là Narbonne rằng nếu Hội Nghị Prague không được nhóm họp trước khi hiệp định đình chiến hết hạn, nghĩa là vào ngày 10 tháng 8 thì nước Áo sẽ gia nhập Liên minh.

Các cuộc đàm phán đó tuyệt nhiên không mang lại kết quả gì. Napoléon đã chỉ thị trước cho bá tước Narbonne:

1. Kéo dài các vấn đề nhằm ngăn cản các hội nghị đi vào bàn bạc.

2. Trong trường hợp không ngăn cản được hội nghị thì không được có một chút nhân nhượng nào, và nắm chắc nguyên tắc ngoại giao biểu thị bằng công thức latin: “Uti possidetis” (ai chiếm được đâu thì ở đó).

Narbonne, Caulaincourt, Fouché, Savary, Berthier và hầu hết các Thống Chế khác đều khẩn khoản xin Hoàng Đế ký hòa ước. Mọi cố gắng của họ đều vô hiệu quả. Savary, Bộ Trưởng Bộ Công An mà Napoléon phong cho làm công tước xứ Rovigo, dám nói với Hoàng Đế rằng nhân dân bị điêu đứng vì gánh nặng của những cuộc chiến tranh liên tục và rất đang lấy làm lo rằng cuối cùng họ sẽ phẫn nộ nổi lên chống lại vị chúa tôn kính của họ. Lập tức viên Bộ Trưởng Bộ Công An nhận được mệnh lệnh phải im lặng và “không được can thiệp vào những vấn đề mà hắn không biết”.

Ngày 10 tháng 8 hiệp định đình chiến kết thúc, và ngày 11, Metternich thông báo tin nước Áo tuyên chiến với Napoléon. Ở London và trong hàng ngũ Nga - Phổ, mọi người đều hân hoan vui mừng. Bắt đầu từ đây, lực lượng của Khối Liên Minh trội hơn hẳn lực lượng của Napoléon.

3

Đoạn kết của chiến dịch năm 1813 đang đến gần. Ở Nga, ở Phổ và ở Áo người ta liên tiếp động viên tân binh. Người ta đưa hết lực lượng dự trữ ra mặt trận, người ta căng hết sức lực. Nước Anh một lần nữa cởi nút túi tiền, không keo kiệt bủn xỉn tiếc đồng vàng lá bạc cần thiết cho việc củng cố Khối Liên Minh, cũng như tăng cường cho Wellington ở Tây Ban Nha. Kể cả những lực lượng dự bị, bây giờ Khối Liên Minh có gần 85 vạn binh lính, và Napoléon kể cả đội dự bị, có gần 55 vạn quân.

Đại nguyên soái Áo Schwarzenberg được bổ nhiệm làm tổng chỉ huy Quân Đội Liên Minh. Napoléon không sợ Schwarzenberg chút nào. Quân Nga không còn Kutuzov và Bagration nữa và bây giờ Hoàng Đế đánh giá số tướng lĩnh còn lại của họ cũng chẳng hơn gì năm 1812. Napoléon đánh giá khá cao một số người đã chiến đấu ở Smolensk và Borodino, song, nói chung Napoléon đánh giá quá thấp Bộ Tham Mưu Nga. Chẳng hạn Napoléon cho rằng phương pháp chỉ đạo các cuộc hành binh suốt trong quá trình rút lui khỏi Moscow là hoàn toàn ngu xuẩn, và Napoléon xác định rằng, như ông đã từng nhắc mãi cho đến khi chết, chỉ có những khoảng không gian vô hạn, việc đốt cháy thành Moscow, mùa đông khủng khiếp và cái sai lầm mà chính bản thân Napoléon mắc phải trong khi chiếm đóng Moscow và lần lữa ở lại đó mới là những nguyên nhân làm cho chiến dịch bị thất bại; còn như các tướng lĩnh, các nhà chiến lược, chiến thuật Nga, theo ý Napoléon đều không có khả năng lợi dụng kịp thời một chút nào những hoàn cảnh và cùng thuận lợi cho họ. Năm 1813, Napoléon đánh giá người lính Nga còn cao hơn năm 1807, sau trận Eylau, trên cả những người lính khác trong Khối Liên Minh. Còn đối với nước Phổ, Napoléon coi cũng chẳng hơn gì nước Áo và nước Nga, ông ta không thấy trong hàng ngũ họ tay địch thủ nào khả dĩ đáng sợ về nghệ thuật chiến tranh.

Nhưng Napoléon biết rằng Bernadotte (người đã trở thành kẻ thù của Napoléon vào năm 1813) với tư cách là thái tử nước Thụy Điển, đã khuyên Aleksandr đệ nhất và các vua chúa các nước Liên Minh cầu cứu tướng Moreau, một tướng tài mà năm 1804 đã bị kết án vì liên quan vào vụ âm mưu George và Pichegru, rồi bị trục xuất khỏi nước Pháp và từ đó sống ở Châu Mỹ. Là kẻ thù không đội trời chung với Napoléon, Moreau đã sang hàng ngũ của Aleksandr đúng vào lúc chiến sự tiếp diễn, sau khi Hội Nghị Prague bị thất bại.”Không nên xông vào những cánh quân nào mà chính Napoléon có mặt ở đó, chỉ nên đánh vào các Thống Chế”, đó là lời khuyên đầu tiên của Moreau với Aleksandr và quân Liên Minh. Nhưng mọi việc đều làm cho người ta thấy lương tâm của kẻ phản bội ấy không để cho hắn yên, mặc dầu hắn đã tự an ủi bằng cách cho rằng hắn không đánh lại nước Pháp mà chỉ đánh lại kẻ áp bức nước Pháp. Tướng Nga, hoàng thân Repnin, được chứng kiến cảnh tượng nổi bật sau đây: Gặp một người lính Pháp già bị bắt làm tù binh, Moreau liền bắt chuyện, nhưng nhận ra được người tướng trước đây đã từng chỉ huy quân đội của nước Pháp, bây giờ lại giúp đỡ kẻ thù của Tổ Quốc mình, người lính già đó lánh xa Moreau mấy bước và hô lên: “Nền Cộng Hòa muôn năm”. Người lính già chỉ còn thấy ở người tướng Cộng Hòa ấy là một kẻ phản bội mà lão chẳng thèm bắt chuyện. Với thái độ mơn trớn, Aleksandr đệ nhất tỏ ra hết sức chăm chút quý mến Moreau, và nhất quyết giao cho Moreau vai trò chính.

Trước hết, Hoàng Đế Nga quý trọng Moreau vì với tài chiến lược của Moreau thì Moreau là người duy nhất xứng đáng gọi là địch thủ của Napoléon, sau nữa là sự có mặt của Moreau ở tổng hành dinh của quân Liên Minh có thể gây ra một sự dao động nào đó trong quân đội Pháp, vì đến tận bây giờ Moreau vẫn giữ được tiếng tăm của một người tướng Cộng Hòa hoàn hảo, bị nghi oan trong vụ Cadoudal và đã bị Napoléon trục xuất. Nhưng trong thời đại ấy, đối với binh lính Pháp, đối với quân đội thì các khái niệm nước Pháp, đế chế, Hoàng Đế, Tổ Quốc chỉ là một; khi họ đứng trước quân thù, trước sự can thiệp của nước ngoài, trước bọn Bảo Hoàng, trước bọn lưu vong thì họ coi tất cả bọn chúng cũng chỉ là một mà thôi, và Nga Hoàng đã tính sai. Về mặt tinh thần, dưới con mắt của binh lính Pháp, người được Nga Hoàng nâng đỡ đã không còn sống nữa ngay từ khi hắn vừa bước sang hàng ngũ quân địch. Lẽ ra Aleksandr định để Moreau đứng đầu chỉ huy Quân Đội Liên Minh thay Schwarzenberg nhưng chính Moreau lại đề nghị tổng chỉ huy quân đội là Aleksandr còn Moreau làm tham mưu trưởng, như vậy có ngược thực tế Moreau nắm quyền chỉ huy tối cao. Nhưng số mệnh lại đã quyết định hoàn toàn khác.

Sau khi chiến sự tiếp diễn, trận đánh lớn đầu tiên là trận Dresden (27 tháng 8 năm 1813). Ở đây, Napoléon đã giành được một trong những chiến công rực rỡ nhất. Trong trận này, quân Liên Minh thiệt hại chừng 2 vạn rưỡi người chết, bị thương và bị bắt, và Napoléon mất gần 1 vạn. Quân Đội Liên Minh rút lui rất trật tự, trừ một vài quân đoàn bỏ chiến trường chạy trốn, bị kỵ binh truy sát gót. Cả hai bên đều sử dụng lực lượng pháo binh mạnh mẽ, và toàn bộ trận đánh đã diễn ra trong cơn sấm sét liên hồi của 1 nghìn 2 trăm khẩu pháo. Vào lúc ác liệt nhất, khi cánh trái của quân Liên Minh đã hoàn toàn bị đánh bại, đích thân Napoléon đứng ở trung tâm chỉ huy pháo binh, trên đồi Rohnischa, thấy bên trận địa quân địch có một toán kỵ binh, Napoléon bèn hạ lệnh cho một khẩu đội ngắm bắn. Ở giữa toán kỵ binh đó là Hoàng Đế Aleksandr, lần đầu tiên làm tròn nhiệm vụ tổng chỉ huy Quân Đội Liên Minh, bên cạnh Aleksandr là Moreau. Những viên đại bác đầu tiên bắn vào dúm người đó, theo lệnh của Napoléon, đã làm gãy hai chân của tướng Moreau và vài hôm sau thì Moreau chết. Trong hàng ngũ quân Pháp cũng như trong hàng ngũ quân Liên Minh người ta thêu dệt ra rằng Moreau bị chết bởi một viên đạn của khẩu pháo do chính tay Napoléon nhắm bắn, sau khi Napoléon nhận ra kẻ “phản bội” qua ống nhòm. Dầu sao thì quân Liên Minh cũng đã hoàn toàn thua ở Dresden và cái chết hết sức đột ngột của Moreau, nhà chiến lược có tài nhất của quân Liên Minh, cũng đã giáng cho họ một đòn ác liệt. Bị đánh bại ở Dresden, quân Liên Minh đã rút bằng nhiều đường về phía núi Kim Khi (Ore Mountains).

 

Trong những ngày sau, các Thống Chế Marmont, Victor, Murat, Saint Cyr, tướng Vandamme, được phái đi truy kích, còn bắt được hàng nghìn tù binh Nga, Phổ và Áo. Nhưng vì Vandamme quá hăng nên đã tách rời khỏi quân chủ lực tiền vệ và đã bị đánh tan ở Kulm vào những ngày 29 và 30 tháng 8; trong trận này, Vandamme bị thương và bị bắt làm tù binh cùng với một phần quân đội. Thắng lợi này lại cổ vũ tinh thần quân Liên Minh đã bị suy sụp từ sau trận Dresden. Đối với Napoléon, phải đương đầu cho vững và không ký hòa ước, dù có bị thua, đó lại là một trong những lời khuyên răn mà Moreau còn kịp nói với quân Liên Minh trước khi Moreau chết. Quân Liên Minh nhận thấy rằng, nếu như trước sau Napoléon vẫn là một thiên tài thì binh lính của ông ta nay không phải là những người như trước. Những đứa trẻ 18 đến 19 tuổi không thể thay thế được những quân đoàn vô địch, những đội quân gang thép mà Napoléon đã cùng với họ chiến đấu ở Ai Cập, ở Syria và đã chinh phục được Châu Âu, cũng không thể thay thế được các đội quân mà Napoléon đã dẫn đến Moscow và đã vung vãi hài cốt của họ trên các chiến trường. Chính Napoléon cũng biết điều đó. Napoléon còn thấy được một khó khăn khác. Cái nguyên tắc mà Napoléon đã xây dựng nên, một thứ nguyên tắc đã trở thành cổ điển sau thời Napoléon và đã được mang ra giảng dạy qua tất cả các giáo trình chiến lược và chiến thuật, nói rằng bí quyết của nghệ thuật chiến tranh là ở chỗ phải tập trung mạnh hơn địch vào thời gian và địa điểm cần thiết, nay đã bị chính Napoléon vi phạm, bởi vì bây giờ mọi vấn đề đều tuỳ thuộc vào cái chiến dịch Saxony này. Davout, người cầm đầu những lực lượng đông đảo, một trong những tướng lĩnh ưu tú nhất của Napoléon, bây giờ ở đâu? Đang bắn giết những thương gia ở Hamburg. Những phân đội bộ binh, kỵ binh và pháo binh quan trọng có thể giúp ích cho Napoléon trong trận quyết định sắp tới, bây giờ ở đâu? Ở Danzig, ở miền Bắc nước Đức, ở miền Nam và miền Trung nước Ý, ở Tây Ban Nha. Gọi họ về thì khác gì tự tay Napoléon làm tan rã cái đại đế quốc chỉ có thể đứng vững được bằng sức mạnh của các đồn ải, không gọi về thì cũng sẽ đi đến kết quả như vậy, bởi vì Napoléon sẽ không thể tránh được thất bại khi quân Liên Minh tiến công; quả là Khối Liên Minh thiếu tướng tài kể từ khi Moreau chết nhưng họ điều ra trận tuyến một số quân gần gấp đôi số quân của Napoléon.

Những mâu thuẫn sâu sắc và bế tắc ám ảnh tâm trí Napoléon. Đường đến Berlin hiện ra đầy gian khổ, khó khăn. Bernadotte với quân lính Thụy Điển và Bülow với một bộ phận của quân đội Phổ đã đánh lui được những sư đoàn Pháp, trong đó có rất nhiều quân của các nước chư hầu của Napoléon như quân Bavaria, Saxony và những nước khác và càng ngày họ càng trở nên không tin cậy được, họ đào ngũ hàng trăm người một và không chịu chiến đấu với lý do duy nhất là không chống lại những người Đức khác để phục vụ những mưu đồ của Napoléon mà họ không biết. Ngày 23 tháng 8, ở Großbeeren, Thống Chế Oudinot bị đánh bật lại trên đường đi tiến công Berlin, Trên đường đi Silesia, MacDonald cũng đã bị thất bại ở Katzbach. Ngày 4 tháng 9, Murat tiến công Blücher làm cho Blücher thua chạy nhưng lại không tiêu diệt được Blücher. Ngày 6 tháng 9, Ney bị thất bại ở Dennewitz. Từ nay trở đi, Napoléon hoàn toàn không còn trông cậy gì được vào lính Đức trong quân đội của mình nữa: Ney đã phải rút lui chỉ vì lính Saxony trong quân đoàn của Ney bỏ chạy từng mảng khi có cơ hội. Napoléon cũng không hài lòng về các Thống Chế của ông ta. “Các tướng lĩnh và sĩ quan mệt mỏi vì chiến tranh, đã không còn có cái hành động đã giúp họ làm nên những việc lớn khi xưa”, ngày 8 tháng 9 năm 1813, Napoléon viết như vậy cho Clarke, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh, khi ông ta ra lệnh cho Clarke củng cố và tiếp tế cho các cứ điểm ở Renania.

Tháng 9 trôi qua, không xảy ra sự kiện quyết định nào, nhưng Napoléon cũng như quân Liên Minh còn muốn đọ sức nhau bằng một trận tổng công kích vào trước mùa đông.

Phong trào giải phóng dân tộc lan rộng trên toàn cõi nước Đức. Những đội du kích của hội sinh viên Đức yêu nước và các hội yêu nước khác đã bắt đầu xuất hiện. Thanh niên tư sản, sinh viên Phổ, Saxony, sinh viên các quốc gia trong Liên Bang Sông Rhine, sinh viên Westphalia, bây giờ ai nấy đều hăng say hoạt động cho công cuộc giải phóng nước Đức thoát khỏi ách ngoại bang.

Napoléon tích cực chuẩn bị chiến dịch mùa thu. Nhưng Napoléon đã thấy trước rằng dù ông ta có thắng trận thì chiến tranh cũng không thể kết thúc ngay được bởi ông ta đã quyết tâm không nhượng bộ một chút nào và hiểu rằng với những lực lượng dự bị hùng hậu, quân Liên Minh cũng không chịu là kẻ bại trận dù rằng họ bị thất bại. Napoléon liền quyết định cho gọi thêm 28 vạn thanh niên mới lớn lên, lẽ ra đến năm 1815 mới đến tuổi đăng lính. Lời tiên đoán của Metternich đã trở thành hiện thực: Cửa các trại lính lại khép lại, bên trong nhốt những chú bé tân binh.

Ngay từ những ngày đầu tháng 10, người ta thấy quân đội đối phương bắt đầu tiến hành những cuộc hành binh phức tạp, cùng với những trận đánh nhỏ, những cuộc tiến công cục bộ, những cuộc rút lui. Trong những ngày đau đớn ấy đối với Napoléon, sự hoạt động của ông để chỉ đạo, kiểm tra và tìm tòi thêm mỗi ngày những mưu chước, thủ đoạn chiến tranh mới thật đáng kinh ngạc.

Quân Nga lúc đó đã tràn vào chiếm vướng quốc Westphalia, và vua Jérôme chạy trốn. Xứ Bavaria phản bội và chạy sang với phe Liên Minh. Napoléon buộc phải gấp rút mở đợt tổng công kích và phải thắng trận. Napoléon đã nói như vậy, và hẳn là ông ta hiểu được ý nghĩa bi thảm của sự kiện; các nước chư hầu đã bắt đầu phản bội ông, họ không cần đợi chờ kết quả của những trận đánh sắp tới.

 

Ngày 16 tháng 10 năm 1813, trên cánh đồng Leipzig đã diễn ra trận đánh lớn nhất trong suốt cuộc đời võ nghiệp của Napoléon: “Trận các quốc gia”, như ở nước Đức lúc bấy giờ người ta thường gọi. Ròng rã ba ngày 16, 18 và 19 tháng 10 ở Leipzig, Napoléon đã chống lại cuộc liên minh của người Nga, người Áo, người Phổ và người Thụy Điển. Ngoài người Pháp ra, trong quân đội của Napoléon còn có người Ba Lan, Saxony, Hà Lan, Ý, Bỉ, người Đức của Liên Bang Sông Rhine. Khi vào cuộc chiến, Napoléon có 15 vạn rưỡi quân và bên Liên Minh có 22 vạn. Khi trời vừa tối, hai bên cầm cự rất găng và chưa phân thắng bại. Trong ngày đầu ấy, Napoléon mất gần 3 vạn quân, số thương vong của quân Liên Minh lên tới gần 4 vạn.

Người ta chờ đợi ngày hôm sau. Suốt đêm, Napoléon và quân Liên Minh đều nhận được tiếp viện. Sáng ngày thứ hai, Napoléon giao chiến với số quân tiếp viện là 1 vạn rưỡi, trong khi đó thì 11 vạn quân của quân đội miền Bắc, dưới quyền chỉ huy của Bernadotte và Bennigsen, đã đến tiếp viện kịp quân Liên Minh. Trời vừa sáng, Napoléon đi thăm bãi chiến trường ngày hôm trước cùng Murat. Murat đã lưu ý Napoléon rằng kể từ trận Borodino đến nay chưa bao giờ người ta thấy cảnh tàn sát như vậy. Buổi sáng ngày 17 tháng 10 đã có lúc Napoléon nghĩ đến việc rút lui, nhưng cuối cùng lại quyết định ở lại. Napoléon sai dẫn tướng Áo Merveldt, bị bắt làm tù binh từ hôm trước đến và đề cập với Merveldt về vấn đề hòa bình với nước Áo. Merveldt nói rằng ông ta biết là nước Áo hiện nay muốn hòa bình và nếu Napoléon “vì hạnh phúc của thế giới và của nước Pháp” đồng ý thì có thể ký kết ngay được.

Cả ngày 17 tháng 10 được dành cho việc chuyển thương binh và chuẩn bị để lại tiếp tục chiến đấu. Sau một hồi lâu do dự, Napoléon quyết định rút về tuyến sông Pleisse, nhưng trước khi Napoléon kịp thực hiện cuộc hành quân ấy thì chiến sự đã nổ ra vào sớm ngày 18 tháng 10. So sánh lực lượng đã biến đổi có lợi cho quân Liên Minh. Ngày 16 tháng 10, sau khi mất khoảng 4 vạn quân thì ngày 17 và trong đêm 18 họ đã nhận số quân tiếp viện hùng hậu: Để tiếp tục chiến đấu ngày hôm đó họ đã điều ra trận địa số quân đông gần gấp đôi của Napoléon. Trận đánh ngày 18 đã diễn ra kinh khủng hơn cả trận đánh ngày 16. Giữa lúc giao chiến, toàn bộ quân đội người Saxony, chiến đấu miễn cưỡng trong hàng ngũ Napoléon, đột nhiên bỏ chạy sang hàng ngũ quân Liên Minh và quay súng bắn vào quân Pháp, những người mà vừa đây họ còn chung mục đích. Tuy vậy, Napoléon vẫn tiếp tục chiến đấu, chiến đấu với một nghị lực tàn bạo, bất chấp tình thế tuyệt vọng. Khi tiếng súng câm lặng cùng với bóng chiều đổ xuống thì hai bên lại mặt đối mặt và chiến sự vẫn chưa kết thúc. Nhưng rồi đoạn chót đã đến vào đêm 18 rạng ngày 19. Sau những tổn thất kinh khủng mà Napoléon lại vừa chịu đựng và sau sự phản bội của binh lính Saxony, Napoléon không thể đương đầu được nữa. Ông quyết định đánh rút lui. Cuộc rút lui bắt đầu vào ban đêm và kéo dài suốt cả ngày 19 tháng 10, trong ngày hôm đó Napoléon đã rút khỏi Leipzig, vừa đánh vừa rút về phía Tây và bị quân Liên Minh đuổi gấp. Trận đánh thật là đẫm máu chưa từng thấy vì ở trong các đường phố và ở các cửa ô, quân rút lui ùn lại đông nghịt. Napoléon đã hạ lệnh phá các cầu đã đi qua, nhưng vì một sự lầm lẫn, công binh đã cho nổ mìn quá sớm, trong khi ấy gần 2 vạn 8 nghìn quân (quân Ba Lan) chưa qua được. Tướng Ba Lan là Thống Chế Poniatowski, chỉ huy quân đoàn Ba Lan, bị thương, đã chết đuối khi thúc ngựa cố vượt sông Elster. Nhưng chẳng mấy chốc, cuộc truy kích cũng ngừng lại. Napoléon cùng với quân đội rút về sông Rhine.

Tổng số thiệt hai của quân Pháp, từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 10 ít nhất là 6 vạn rưỡi người và quân Liên Minh cũng đã mất vào khoảng 6 vạn. Nhiều ngày sau đó ở những vùng lân cận thành phố Leipzig còn vang lên những tiếng kêu ghê rợn của những binh sĩ bị thương nặng, và mùi hôi thối không thể chịu nổi của những xác chết đã rữa xông lên ngột ngạt khắp vùng. Không có người để thu dọn chiến trường, không có nhân viên y tế để cứu chữa các thương binh và những người bị què cụt.

4

Từ Leipzig, Napoléon lui về tận biên giới nước Pháp, về đến tận tuyến sông Rhine, nghĩa là tuyến ngăn đôi nước Pháp và đế quốc Đức trước khi có những cuộc xâm lược của Napoléon. Xung quanh nhân vật Napoléon nền hội họa Pháp đã nhiều lần gợi lại cái giờ phút báo ứng ấy của định mệnh và những biến cố xảy ra đầu năm 1814. Nét bút thiên tài của Meissonier đã nắm được tâm trạng của Napoléon: Ông miêu tả Napoléon ngồi trên mình ngựa đi bước một giữa những người lính già và hướng cặp mắt buồn rượi nhằm vào một vật vô hình đằng trước họ. Vào cuối tháng 10 ấy và trong những ngày đầu tháng 11 năm 1813, tức là vào giữa giai đoạn cuối của chiến dịch Saxony và giai đoạn đầu của chiến dịch Pháp, một cuộc đấu tranh khủng khiếp và chắc chắn là đau xót đã diễn trong tâm can của con người đó, cuộc đấu tranh mà Napoléon không hề nói với một ai trong đám tuỳ tùng đi giữa hàng quân thưa thớt của đội cựu cận vệ kỵ binh nhưng nó đã hiện rõ trên nét mặt nghiêm nghị và cặp mắt ủ dột của ông ta.

Lần đầu tiên, Napoléon buộc phải hiểu rằng đại đế quốc đã sụp đổ: Cái khối những quốc gia và dân tộc không đồng nhất, tạp nham, mà Napoléon đã cố công gắng sức nhào nặn thành một quốc gia độc nhất bằng thép và lửa trong bao nhiêu năm, nay đang rã rời nát vụn. Murat, người Thống Chế, người chỉ huy kỵ binh của ông, người anh hùng của biết bao chiến trận, người được ông phong cho làm vua xứ Naples nay lìa bỏ ông. Murat bỏ đi, và Napoléon biết Murat ra đi là để phản bội ông, biết Murat đã bí mật đứng về phía quân Liên Minh để giữ lấy ngai vàng. Anh Napoléon là Joseph bị quân Anh và nghĩa quân Tây Ban Nha đuổi ra khỏi bán đảo Tây Ban Nha. Em là Jérôme, vua xứ Westphalia đã trốn khỏi Kassel. Davout bị quân Nga và Quân Phổ bao vây ở Hamburg. Nền thống trị của nước Pháp ở Hà Lan đang lung lay nghiêng ngửa. Nước Anh, nước Nga, nước Áo, nước Phổ chưa dồn được nước Pháp trở về biên giới cũ thì còn chưa chịu. Đại đế quốc, sự nghiệp của Napoléon, đã đến giờ chót: Nó đang tan rã ở khắp mọi nơi.

Napoléon hãy còn 10 vạn quân, trong đó 4 vạn sẵn sàng chiến đấu được. Chỉ phải trang bị và tổ chức biên chế số quân còn lại. Ông cũng còn một số quân đóng đồn ở Danzig, Hamburg và rải rác trong các vùng của Châu Âu còn trung thành với đế chế, tổng số khoảng từ 15 đến 18 vạn quân. Những tân binh thuộc lớp năm 1815, đã gọi nhập ngũ năm 1813, đang được huấn luyện cấp tốc ở trong các trại lính.

Napoléon vẫn chưa chịu giảng hòa. Ông ta còn nghĩ đến giai đoạn chiến đấu mới, và khi ông ta nói với các Thống Chế để phá vỡ sự yên lặng não nề của mình thì đó chỉ là để ra các lệnh mới. Hồi này, Napoléon quyết định đưa Giáo Hoàng về La Mã, cho Ferdinand, vua nước Tây Ban Nha, bị cầm tù từ năm năm nay được trở về nước.

Đã phải tổn thất 12 vạn rưỡi người của cả hai bên ở Leipzig và nhất là đã phải có cuộc rút lui sau lần tàn sát rùng rợn như vậy, Napoléon mới hiểu được rằng một trận đánh lớn không thể cứu vãn tất cả những gì đã xảy ra, không thể xoá nhòa hình ảnh Borodino, đám cháy thành Moscow, đại quân bị chôn vùi trong tuyết, sự phản bội của nước Phổ, nước Áo, xứ Saxony, xứ Bavaria, vương quốc Westphalia, không thể thanh toán những hậu quả của trận Leipzig, không thể giải quyết cuộc chiến tranh mà nhân dân Tây Ban Nha đang đương đầu, và đánh bật Wellington cùng quân Anh ra biển. Mãi đến tận tháng 6, tháng 8, tháng của cái năm 1813 khủng khiếp ấy, khi hỏi Metternich đã nhận bao nhiêu tiền của người Anh, Napoléon vẫn còn có thể giậm chân, đùng đùng nạt nộ, lăng mạ Hoàng Đế Áo Francis, khiêu khích nước Áo, phá vỡ các cuộc đàm phán hòa bình, chỉ nghĩ đến phải nhượng lại miền Illyria ở phía Nam hoặc những thành phố đồng minh thương nghiệp ở miền Tây Bắc nước Đức mà đã nổi khùng lên; Napoléon vẫn có thể tiếp tục thiêu đốt hàng hoá Anh bị tịch thu, bắn giết những Thượng Nghị Sĩ của thành phố Hamburg, nói tóm lại là Napoléon vẫn có thể tiếp tục xử sự tuồng như năm 1812 ông ta đã chiến thắng quân Nga trở về, và tuồng như vào năm 1813 vấn đề chỉ là trừng phạt nước Phổ dấy nghĩa.

Nhưng sau trận Leipzig, khi về đến gần biên giới nước Pháp cũ, đằng sau là quân địch đông như kiến cỏ đang bám gót, Napoléon thấy cần phải xét lại tất cả tư tưởng chính trị của mình. Nước Pháp đang bị đe dọa xâm lược, phải bảo vệ lấy lãnh thổ của nó.

Trước khi tới sông Rhine, ngày 30 tháng 10, ở Hanau, Napoléon còn phải dùng vũ khí với người Bavaria và người Áo, trước đây là đồng minh với ông, để mở đường máu, và ngày 2 tháng 11 năm 1813 khi tới Mainz ông Hoàng Đế chỉ còn 4 vạn quân có thể chiến đấu được. Theo sau họ là một bầy người bị tước mất vũ khí, kiệt sức và ốm yếu ùa vào thành phố, họ là những người không đáng kể đến nữa, mặc dầu họ vẫn có tên trong những bản báo cáo thực lực quân số.

Trung tuần tháng 11, Napoléon về tới Paris. Chiến dịch năm 1813 kết thúc, chiến dịch năm 1814 bắt đầu. Liếc nhìn qua sổ tổng kê, có thể nhận thấy ngay được rằng ngoài nửa triệu người mất trong năm 1812 (con số ước lượng), nước Pháp còn mất thêm hàng chục vạn người nữa do cuộc trưng binh cướp đi và bị tiêu diệt trong năm 1813. Nhưng chiến tranh còn tàn phá ác liệt hơn bao giờ hết, và đại bác đã gầm rú ở biên giới nước Pháp. Nước Pháp đang chịu đựng một cuộc khủng hoảng kinh tế mới, giống như cuộc khủng hoảng mà cái đế quốc ấy đã trải qua vào nửa đầu năm 1813. Nhưng lần này, vấn đề không phải là cứu vãn một phần thất nghiệp bằng tiền trợ cấp của Nhà Nước nữa và tuyệt không có hy vọng gì chấm dứt ngay được nó. Năm 1813, trong khi Napoléon đang chiến đấu ở Đức thì cảnh binh Parat đã bắt đầu để ý và ghi vào các bản báo cáo sự tái phát của một hiện tượng mà đúng là người ta đã nói đến một cách rất bí mật vào năm 1811: Thợ thuyền công khai bàn tán, biểu thị sự bất bình và bắt đầu nói những “lời lẽ phá hoại”.

Còng lưng quá lâu dưới bàn tay sắt của nền chuyên chế quân phiệt và trong hơn 18 năm trời (kể từ Tháng Nảy Mầm và Tháng Đồng Cỏ năm 1795) không mưu đồ được một hoạt động có tổ chức nào, dưới sự thôi thúc ngày càng mạnh của túng thiếu và thất nghiệp, các vùng ngoại ô thợ thuyền bắt đầu lên tiếng kêu ca phàn nàn. Nhưng điều đó không thể dẫn đến một cuộc bạo động làm sống lại dù chỉ là một chút các cuộc bạo động Tháng Nảy Mầm và Tháng Đồng Cỏ trước đây, cũng không thể dẫn đến những cuộc biểu tình lớn. Và như vậy, không phải chỉ bởi công tác do thám đã được nâng lên tới mức hoàn thiện nhất dưới thời Fouché, và nay, dưới thới Savary - công tước xứ Rovigo thừa kế - vẫn giữ được nếp cũ; cũng không phải vì bọn cảnh binh đông nhung nhúc và bọn lính tuần tra ngày đêm cưỡi ngựa dạo khắp thành phố, lượn đi lượn lại qua những vùng ngoại ô Saint Antoine, Saint Marceau, qua khu phố Tu Viện Cũ, đường phố Molfetta; càng không phải vì quần chúng thợ thuyền không đắng cay cơ cực và không bừng bừng phẫn nộ chính quyền. Những điều đó đang diễn ra, Napoléon là kẻ sửa đổi cuốn “tiểu bạ công nhân”, tiểu bạ ấy đặt người lao động vào vị trí hoàn toàn lệ thuộc và giao phó hẳn họ cho chủ tha hồ sử dụng; hàng năm trong khi đòi hỏi thuế máu, ban đầu thì Napoléon đã tuyển những tân binh đến tuổi trưởng thành, nhưng giờ đây Napoléon cướp đoạt những đưa trẻ tuổi 18 và đã dùng hàng chục vạn đứa để bón cho những cánh đồng xa xăm của những lò sát sinh rải rác khắp nơi trên thế giới. Napoléon, kẻ đã cướp hết của thợ thuyền mọi phương tiện để chống trả với sự bóc lột của bọn chủ, không có lý gì để trông cậy vào sự ủng hộ của các tầng lớp lao động.

Nhưng bây giờ đây, cũng như vào những ngày đầu của cách mạng, khi quân thù đang tiến đến gần biên giới, và khi những kẻ xâm lược đang rắp tâm khôi phục nền thống trị của bọn quý tộc và đặt lại dòng họ Bourbon lên ngai vàng thì giới thợ thuyền hoang mang và lưỡng lự. Hình ảnh đẫm máu của kẻ chuyên chế tham quyền cố vị bỗng chốc bị xoá nhòa: Họ lại thấy xuất hiện trên sân khấu một bầy Bảo Hoàng gian manh đê tiện cũ - những tên phản bội lưu vong. Lại một lần nữa bè lũ ấy chống lại nước Pháp, chống lại Paris, và đang còn ẩn núp sau lưng quân đội nước ngoài, bọn chúng đã mơ tưởng đến sự phục hưng trật tự xã hội cũ và xoá bỏ tất cả những thành tựu của cách mạng.

Làm gì đây? Nổi dậy ở hậu phương của Napoléon, và như vậy, tạo điều kiện cho quân thù dễ dàng chinh phục nước Pháp và phục hưng lại dòng họ Bourbon chăng? Quần chúng thợ thuyền đã không nổi dậy vào cuối năm 1813 và đầu năm 1814 mặc dầu trong suốt triều đại Napoléon, họ đã đau khổ hơn bao giờ hết.

Tâm trạng của giai cấp tư sản lại hoàn toàn khác. Đa số các nhà công nghiệp vẫn ủng hộ Napoléon. Bọn họ biết rõ hơn ai hết rằng nước Anh đang muốn gì và mong đợi gì, và họ sẽ gặp biết bao nhiêu khó khăn trong việc cạnh tranh với nước Anh ở ngoài nước cũng như ở trong nước nếu Napoléon bị thua. Giới thương mại lớn, giới tài chính, giới buôn bán chứng khoán than phiền từ lâu rằng không thể sống và làm việc trong thời chiến tranh liên miên và dưới chế độ độc tài đã được xây dựng thành một chính thể. Từ lâu, thị trường ngoài nước đã bắt đầu giảm sút ghê gớm; bây giờ thị trường trong nước cũng vừa bị thu hẹp lại không kém. Một hiện tượng đã được nhiều nhà quan sát lưu ý: “Có tiền nhưng không biết nó chạy đi đâu mất”. Bọn người làm giàu bằng chạy môi giới trăm công nghìn việc không hy vọng chiến tranh chấm dứt chừng nào Napoléon còn trị vì; sau thảm họa của đại quân ở nước Nga, nhất là sau Hội Nghị Prague tan vỡ và sau trận Leipzig, họ tin chắc rằng Hoàng Đế không sao tránh khỏi bị thất bại và như vậy là chẳng có sự ổn định tối thiểu nào về tài chính, chẳng có việc mở rộng quan hệ thương mại, việc nhận đơn bán hàng hay đặt đơn quan hệ thương mại, việc nhận đơn bán hàng hay đặt đơn mua hàng quan trọng. Bộ phận rất đáng kể ấy của giai cấp tư sản đã nóng lòng sốt ruột, đắng cay, chán chường, tức giận: Họ nhanh chóng tách khỏi Napoléon.

Tuy Napoléon đã làm cho các làng mạc Pháp bị kiệt quệ vì những đợt trưng binh liên tiếp, không ngừng không dứt, cũng vì những sự bòn rút của cải, nhưng quần chúng nông dân có ruộng đất (trừ nông dân ở Vendée) lại còn sợ những sự thay đổi về chính trị do cuộc xâm lược đem đến hơn. Đối với đông đảo quần chúng trong giai cấp nông dân, dòng họ Bourbon là tượng trưng của sự phục hưng chế độ phong kiến, với quyền lực của bọn lãnh chúa về con người và ruộng đất, là tượng trưng của sự tước đoạt lại những tài sản của Giáo Hội cũng như những đất đai tịch thu của bọn lưu vong đã đem phân tán bán cho tư sản và nông dân trong thời kỳ Cách Mạng. Mối lo sợ bị mất những quyền lợi đã phải khó khăn lắm mới giành được ấy, cũng như quyền sở hữu hoàn toàn những mảnh đất của mình đã buộc người nông dân phải chịu đựng tất cả những hậu quả của đường lối đối ngoại xâm lược và cướp bóc của Napoléon. Nhưng dù sao, Napoléon cũng còn dễ chịu hơn chế độ phong kiến cổ xưa do dòng họ Bourbon phục hồi.

Cuối cùng là tầng lớp quý tộc cũ và mới không đông lắm nhưng có thế lực. Quý tộc cũ và ngay cả số người trong bọn họ đã từng phụng sự Napoléon vẫn thấy gần dòng họ Bourbon hơn chính Napoléon. Không phải tất cả quý tộc mới gồm các Thống Chế, công hầu, bá tử của đế chế, đã được chính tay Hoàng Đế chồng chất cho vàng bạc và ân huệ, đều là chỗ dựa cho Hoàng Đế. Họ thèm khát hưởng thụ những nguồn của cải cải vô tận của họ như bọn quý tộc chính cống: Sống trong danh giá và tiện nghi, xếp những chiến công còn mới tinh của họ vào thế giới ký ức xa xưa. Có lần nổi nóng, Hoàng Đế đã nói: “Thưa các ngài, tôi thấy rõ là các ngài không muốn chiến tranh nữa! Berthier muốn đi săn ở lâu đài Grosbois, Rapp muốn chui vào ngôi biệt thự đẹp đẽ ở Paris”. “Tâu Hoàng Thượng, hạ thần cũng bằng lòng như vậy... thú vui của thủ đô, hạ thần được nếm quá ít”. Rapp đã chua chát đáp lại. Cuộc đời nơi đồn ải, giữa muôn vàn nguy hiểm, dưới làn lửa đạn, canh bạc lớn và thường xuyên với thần chết ấy đã làm mệt mỏi và kiệt sức những người dũng cảm và kiên quyết nhất như MacDonald, Ney, Augereau, Sébastiani, Victor, những người tận tụy nhất như Caulaincourt và Savary, đến nỗi họ bắt đầu lắng nghe những lời bóng gió của Talleyrand và của Fouché, những kẻ đã bí mật mưu mô phản bội từ lâu.

Sau khi thất bại ở Leipzig ngày 16, 19 tháng 10 năm 1813, một chiến dịch mùa xuân khởi đầu rực rỡ là thế nhưng Napoléon trở lại Paris để xây dựng lại lực lượng nhằm đương đầu với cuộc xâm lược đang ào ào tràn vào nước Pháp thì tình hình và tình trạng tư tưởng của các tầng lớp và các giai cấp là như vậy.

5

“Ta đi đánh ông ngoại Francis đi”, chú vua nhỏ thành Roma nói như vậy, nó lặp lại với vẻ nghiêm trang của một đứa bé lên ba những lời của người cha rất yêu con đã dạy cho. Ông Hoàng Đế phá lên cười khi nghe thằng bé nhắc lại như một con vẹt câu nói mà nó không hiểu nghĩa. Giữa khi đó, khi quân đội của mình càng tiến đến gần sông Rhine thì ông ngoại Francis càng tỏ ra do dự, và đó cũng là tâm trạng của Metternich, quân sư của Hoàng Đế Francis. Chắc hẳn sự do dự ấy không phải vì những mối quan hệ họ hàng: Napoléon là con rể của Hoàng Đế Áo, và người kế nghiệp Napoléon là cháu của Francis đệ nhất. Những nguyên nhân khác buộc đường lối ngoại giao của Áo phải tính toán kết quả mong muốn trong cuộc chiến tranh này theo một quan điểm kém dứt khoát hơn nhiều so với người Anh chẳng hạn, hoặc so với Aleksandr đệ nhất, hoặc so với vua Phổ Frederick Wilhelm đệ tam.

Đối với người Anh, Napoléon là kẻ thù không đội trời chung và nguy hiểm nhất của sự bành trướng thế lực Anh, mà họ đã vấp phải sau mười lăm thế kỷ lịch sử. Chừng nào Napoléon còn trị vì thì không thể có hòa bình lâu dài giữa nước Pháp và nước Anh. Aleksandr cần rửa mối nhục cá nhân và nhất là nhìn thấy ở Napoléon, một viên thủ lĩnh duy nhất có khả năng phục hưng nước Ba Lan khi gặp thời cơ. Và Nga Hoàng biết chắc rằng nếu Napoléon còn ở trên ngai thì ắt ông ta sẽ tìm những biện pháp quân sự và ngoại giao để giáng cho các kẻ thù của ông ta những đòn trí mạng.

Frederick Wilhelm đệ tam - bị bức phải chống lại Napoléon vào tháng 3 năm 1813, và từ đó cho tới trận Leipzig vẫn còn chết khiếp, theo đúng nghĩa của từ ấy - còn bị lý do ấy thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa. Ông ta công kích kịch liệt Aleksandr, nhất là sau những vố thất bại, sau trận Lützen, Bautzen, Dresden: “Phen này tôi lại ở trên sông Vistula đây!” Frederick Wilhelm nhắc lại một cách tuyệt vọng. Cả đến trận thắng ở Leipzig cũng không làm Frederick Wilhelm yên lòng thêm mấy. Vào thời ấy, đứng trước Napoléon, người ta sợ hãi khủng khiếp gần như sợ hãi thần linh, và đó đã là hiện tượng phổ biến. Cho đến sau trận Leipzig, sau khi Napoléon đã mất hết các đất đai đã chinh phục được, chỉ còn lại cái hậu phương là nước Pháp kiệt quệ, với tình hình dân chúng xôn xao, mà hình như Napoléon vẫn còn đáng sợ, đến nỗi Frederick Wilhelm không thể không hãi hùng nghĩ đến mai này khi chiến tranh kết thúc và khi các bạn Liên Minh đã rút đi hết thì ông ta, vua nước Phổ, sẽ còn phải chịu đựng cái cảnh láng giềng với một kẻ là Napoléon.

Nước Anh, Aleksandr và Frederick Wilhelm cho rằng nếu lần này phe Liên Minh vẫn để Napoléon ngồi trên ngai vàng thì bao nhiêu máu đã đổ ra trong những năm 1812 và 1813 đã uổng phí, nhưng nước Áo lại không thấy như vậy. Metternich muốn rằng nước Nga có một đối thủ đáng kể ở phía Tây; muốn rằng sau khi không còn là kẻ thù đáng sợ của nước Áo nữa thì Napoléon vẫn còn tồn tại ở Châu Âu, với tư cách là đồng minh về mọi mặt của một nền quân chủ của dòng họ Habsburg, để luôn luôn là vật chướng ngại lớn cho nước Nga. Metternich và Francis đệ nhất lại cố gắng dàn xếp với Napoléon, vì vị thượng thư ấy, con người thạo ngón dọa dẫm quân Liên Minh bằng cách đe rút nước Áo ra khỏi Liên Minh, đã lại buộc được nước Anh, nước Nga và nước Phổ ưng thuận đề nghị đàm phán hòa bình với Napoléon một lần cuối cùng theo những điều kiện sau đây: Napoléon sẽ phải chấm dứt chiến tranh bằng cách từ bỏ các đất đai đã chiếm được mà hiện nay đã bị mất; Napoléon sẽ còn lại nước Pháp với những đường biên giới không thay đổi mấy so với biên giới của nước Pháp đã được Hòa Ước Luneville quy định năm 1801. Các vua chúa phe Liên Minh đã có mặt ở Frankfurt. Metternich đã mời Saint Aignan, nguyên đại sứ Pháp ở Weimar hiện đang bị giữ ở Frankfurt và trước mặt thượng nghị sĩ Aberdeen đại diện cho nước Anh, Nesselrode, đại diện cho nước Nga (Nesselrode tuyên bố mình thay mặt cả Hardenberg, tể tướng nước Phổ), người ta đã giao cho nhà ngoại giao Pháp nhiệm vụ đi gặp Napoléon để chuyển những đề nghị của các cường quốc Liên Minh. Khi ký kết nó thì Hòa Ước Luneville đã là kết quả của một cuộc chiến tranh thắng lợi. Cho nên Napoléon vẫn còn lại cái đại cường quốc mà ông ta đã lập nên năm 1801 sau trận Marengo và Hohenlinden. Đang đứng chông chênh trên bờ vực thẳm - sau những tai họa khủng khiếp năn 1812 và 1813, trước nguy cơ nước Pháp bị quân Liên Minh tức thời xâm lược - thì gặp vận may cứu mạng không ngờ. Napoléon vẫn là chủ một cường quốc đứng vào bậc nhất.

Ngày 14 tháng 11 năm 1813, Saint Aignan đã đến Paris với những điều kiện của Liên Minh. Napoléon không muốn bày tỏ ý kiến ngay vì đang lao vào hoạt động sôi sục và cuồng nhiệt nhất: Tuyển mộ các lớp quân dịch mới, chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc chiến tranh mới. Tuy vậy, Napoléon đã ưng thuận đàm phán một cách bất đắc dĩ và dè dặt, đồng thời tiến hành ráo riết hơn nữa việc tổ chức quân đội. “Rồi khắc biết! Rồi khắc biết!” Trong khi rảo bước đi đi lại lại trong phòng, Napoléon nói chung cũng như vậy chẳng nhằm vào ai, “không lâu đâu rồi các ngài sẽ biết rằng binh lính của tôi và tôi không quên nghề nghiệp! Người ta đã đánh bại chúng tôi ở sông Rhine và sông Elbe, đánh bại bằng cách phản bội... nhưng rồi sẽ không có những kẻ phản bội ở giữa sông Rhine và Paris đâu “.

Những lời ấy bay khắp nước Pháp, bay khắp Châu Âu. Trong số những người am hiểu Napoléon, không một ai tin rằng đề nghị hòa bình của phe Liên Minh đạt được kết quả.

Ngày ngày, những đoàn quân mới tiến về phía Đông, về phía sông Rhine diễu qua con mắt theo dõi chăm chú của ông Hoàng Đế. Tấn thảm kịch lớn đã sắp tới ngày kết thúc.

[52] Metternich không phải là bố công chúa Marie Louise, nhưng ở đây tác giả gọi chung là bố vợ vì Metternich là người đã đứng ra làm môi giới cho cuộc hôn nhân giữa Marie Louise và Napoléon.

Yevgeny Viktorovich Tarle

Theo http://vnthuquan.net/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nguyễn Thị Lộ và vụ án Lệ Chi Viên Nguyễn Thị Lộ (? [1] - 1442), là vợ thứ của danh thần Nguyễn Trãi và là một nữ quan nhà Lê trong lịch...