Tiếng Việt thời LM de Rhodes
Cách nói tôi, ta, tao, tớ,
qua, min…
Phần này bàn về các cách dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
vào thời linh mục (LM) Alexandre de Rhodes đến An Nam truyền đạo. Cách gọi đại
từ nhân xưng với các ngôi chính là vết tích của truyền thống ngữ pháp La Tinh
như sẽ thấy rõ hơn ở phần sau. Bài này chú trọng đến cách dùng vào thời các
giáo sĩ qua An Nam, chứ không phê bình cách phân loại này có chính xác hay
không cho loại hình ngôn ngữ đặc biệt của tiếng Việt. Một điều rất rõ qua các
tài liệu vào thời này là LM de Rhodes phải đối phó với một ngôn ngữ hoàn toàn
xa lạ, nhất là cách xưng hô thật là phức tạp khiến ông phải giải thích bằng nhiều
trang giấy hơn so với các cách dùng khác như danh từ, động từ, giới từ… Các LM
Dòng Tên cũng như các Dòng khác đều đã học ngữ pháp La Tinh kỹ lưỡng ngoài những
kinh kệ bằng La Tinh dùng hàng ngày, nên đều có khả năng ghi chép một ngoại ngữ
qua ‘mẫu có sẵn’ hay ngữ pháp La Tinh. Kết quả là tài liệu ghi lại ngôn ngữ địa
phương vào thế kỷ XVI và XVII trở nên cần thiết trong việc tìm hiểu lịch sử
hình thành chúng. Các tương quan ngữ âm ghi nhận trong bài viết không nhất thiết
khẳng định nguồn gốc (Việt, Khme hay Hán cổ) của các đại từ nhân xưng. Các cách
dùng đại từ nhân xưng trong bản chữ Nôm Thiên Nam Ngữ Lục (TNNL) cũng được tham
khảo vì khả năng xuất hiện cùng thời kỳ hay ngay sau thời VBL.
Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của
LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn
tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển
Annam Lusitan Latinh (thường gọi là Việt Bồ La, viết tắt là VBL) có thể tra từ
điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/
Các chữ viết tắt khác là TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100
SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG
(Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV
(Trung Nguyên Âm Vận/124), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154),
VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB
(Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp),
A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo) LM (Linh Mục),
VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), HV (Hán Việt), Bắc Kinh (BK).
Để hiểu rõ cách dùng đại từ nhân xưng của tiếng Việt cách đây
gần 400 năm, ta sẽ xem lại bối cảnh truyền giáo cũng như nội dung các tài liệu
này từ những góc độ khác nhau như ngôn ngữ tri nhận (NNTN/Cognitive
Linguistics) chẳng hạn. Văn hóa cổ truyền Á Đông không khuyến khích cách dùng
trực tiếp đại từ danh xưng vì tính cách khiêm nhường, hay muốn tỏ thái độ tôn
trọng người chung quanh hay người nghe. Điều này phản ánh qua cảm nhận của pháp
sư Nghĩa Tịnh (635-713) 義淨 vào đời Đường [2], sau khi có dịp học/trải nghiệm và so
sánh nhiều ngôn ngữ khác nhau trên con đường tìm đạo:
若有人問云。爾親教師其名何也。或問。汝誰弟子。或可自有事至須說師名者。皆應言我因事至說鄔波馱耶名。鄔波馱耶名某甲。西國南海稱我不是慢詞。設令道汝亦非輕稱。但欲別其彼此。全無倨傲之心。不並神州將為鄙惡。若其嫌者改我為今。斯乃咸是聖教。宜可行之
Nhược hữu nhân vấn vân. - nhĩ thân giáo sư kỳ danh - hà
dã hoặc vấn - nhữ thùy đệ tử hoặc khả tự hữu sự - chí tu thuyết sư danh giả - giai ứng ngôn ngã nhân sự - chí thuyết ổ ba đà da danh - Ổ ba đà da danh mỗ giáp - Tây quốc
nam hải xưng ngã - bất thị mạn từ thiết lệnh đạo - nhữ diệc phi khinh xưng đãn - dục biệt kỳ bỉ thử - toàn vô cứ ngạo chi tâm - bất tịnh thần châu tương vi bỉ ác - nhược kỳ hiềm giả cải ngã vi kim - tư nãi hàm thị thánh giáo - nghi khả hành chi
Tạm dịch/ NCT: Nếu có ai hỏi “tên của upādhyāya (Ổ ba đà
da ~ thầy dạy) anh là gì?” hay “Anh là đệ tử ai?” hoặc trong các trường hợp phải
nói tên của thầy dạy mình, thì nên nói rằng “Thầy tôi tên là người ấy”. Bên Ấn
Độ và Nam Hải, dùng tôi/tao không có nghĩa ngạo mạn, cũng như không có ý khinh
thường khi xài đại từ anh/ chị/ mày. Cách dùng này để phân biệt người này với người
nọ mà không có ý khinh miệt. Không như cách dùng như vậy ở Thần Châu (Trung Quốc)
thì bị xem là ác ý không tốt. Nếu không thích dùng tôi/tao, thì dùng “người
này, đây…” thay vì tôi/ tao. Đây là những lời Phật dạy. Thực hành các điều trên
thì thật là thích hợp (trích từ quyển 3 “Nam Hải Ký Quy Nộp Pháp Truyện” 南海寄歸內法傳 - Nghĩa Tịnh soạn năm 691).
Gần đây hơn và vào thập niên 1930, học giả Phan Khôi cũng từng
suy nghĩ về đại từ tiếng Việt từ lăng kính văn hóa Pháp/ Hán và phân vân “Tôi
thường lấy làm lạ sao trong tiếng nói hiện hành của ta không có một thứ đại
danh từ trung lập [3], nghĩa là không trọng, không khinh, ai nấy
dùng mà xưng mình, xưng người đều được cả” (Việt ngữ nghiên cứu, trang
129). Thật ra, đại từ nhân xưng là một cửa sổ hé mở cho ta thấy phần nào truyền
thống văn hóa giao lưu và tư tưởng của người trước, cũng như đã để lại không ít
vết tích trong tiếng nói con người. Pháp sư Nghĩa Tịnh đã chỉ rõ một khác biệt
giữa cách xưng hô của phương Đông và phương Tây vào thế kỷ VII, tư duy này rất
ít thay đổi cho đến ngày hôm nay - khi giao lưu văn hóa ngôn ngữ Đông Tây đã bắt
đầu có hiệu lực hơn trước vì nhiều tác động khác nhau. Cách dùng đại từ nhân
xưng trong tiếng Việt còn phản ánh môi trường sinh hoạt của quần chúng, mang đậm
tư duy tổng hợp (‘biết người biết ta’) trong quá trình sinh tồn của dân tộc VN.
Để ý cách dùng mỗ giáp từ thời cổ đại trong đoạn văn trên, phần sau sẽ
đi vào chi tiết thêm.
Bối cảnh truyền giáo vào thời VBL ra đời
Các LM Dòng Tên đều được huấn luyện và đào tạo về giáo lý (thần
học) và ngôn ngữ [4] (nhất là ngữ pháp La Tinh/ cổ điển) rất
cẩn thận trước khi đi đến các địa phương trên thế giới để truyền đạo, ngoài ra
vấn đề học tập là một hoạt động luôn được các LM nhắc đến. Để hiểu rõ các đóng
góp của GS Dòng Tên trên phương diện ngôn ngữ, nhất là trường hợp của LM
Alenxandre de Rhodes, sau đây là vài hoàn cảnh đáng chú ý
1.1 LM Thomas Stephens (1549-1619) soạn và in cuốn ngữ pháp
tiếng Konkani (1640), một phương ngữ ở vùng tây nam Ấn Độ. Đây là sách in đầu
tiên của ngôn ngữ địa phương (vùng Goa, Ấn Độ) này, cùng với sách giảng về giáo
lý (Catechism) năm 1622.
1.2 LM Ludovico Bertonio (1555−1628) soạn và in hai cuốn ngữ
pháp và tự vị của tiếng Aymara (1612) đầu tiên, không có các tài liệu này thì
việc khôi phục và tìm hiểu lịch sử tiếng Aymara trở nên cực kỳ khó khăn. Hiện
nay, Aymara là ngôn ngữ chính thức của các nước Bolivia và Peru.
1.3 LM Jean de Brébeuf (1593 - 1649), sau được phong Thánh bởi
tòa thánh La Mã (1930), học và soạn một số tài liệu về tiếng Huron (một phương
ngữ ở Canada) và đặt nền móng cho một số công trình ngôn ngữ về tiếng này. Ông
cũng soạn “Phép giảng giáo lý” (Catechism) tiếng Huron viết bằng chữ La Tinh lần
đầu tiên. Ông cũng là tác giả viết lời cho bài ca Giáng Sinh - “Huron Carol” - xưa nhất của Canada.
1.4 LM Matteo Ricci (1552 - 1610) đến Macau vào năm 1582. Ông
có công lớn trong quá trình truyền đạo CG ở Trung Hoa. LM Ricci đã viết nhiều
tài liệu bằng chữ Hán như Thiên Chủ Thực Lục, Thiên Chủ Thực Nghĩa, Thiên Học
Thực Lục, Thiên Học Thực Nghĩa, Kỉ Hà Nguyên Bổn, Khôn Dư Vạn Quốc Toàn Đồ (năm
1602/Bắc Kinh - LM Ricci từng làm cho các bậc danh sĩ TQ ngạc nhiên và
thán phục khi cho thấy bản đồ thế giới người Âu Châu vẽ; khác hẳn với bản đồ TQ
vẽ - trong đó các nước chung quanh TQ nhỏ tí và nếu hợp lại thì không bằng một
tỉnh TQ thời bấy giờ), Tây Tự Kì Tích, Nhị Thập Ngũ Ngôn, Giao Hữu Luận, Tây Quốc
Kí Pháp, Biện Học Di Độc (xuất bản năm 1635, ghi nhận các trao đổi giữa CG và Tịnh
Độ Tông), Đồng Văn Toán Chỉ, Thật Dụng Toán Thuật Khái Luận, Trắc Lượng Pháp
Nghĩa, Viên Dung Giác Nghĩa v.v… Nhà Thần Học LM Peter C. Phan (Phan Đình Cho)
còn đề nghị là LM de Rhodes đã dựa vào “Thiên Chủ Thật Nghĩa” để soạn “Phép Giảng
Tám Ngày” (bài viết “Alexandre de Rhodes and Inculturation in
Seventeenth-Century VietNam” trang 135-140, trong cuốn “Mission and Catechesis”
Maryknoll, N.Y. Orbis Books 1998). Cũng nên nhắc đến câu chuyện sau liên hệ đến
LM de Rhodes, sau khi rời Goa (1622) đến Ma Cao, ở đó ông từng ghi nhận (cho thấy
rõ ràng ảnh hưởng của LM Ricci):
“Người Trung Hoa rất ngạc nhiên khi nhìn thấy bản đồ chúng
tôi vẽ. Trung Quốc vĩ đại của họ chỉ còn là chấm nhỏ trong vũ trụ Trái Đất bao
la. Trái lại, nơi bản đồ trái đất hình vuông do họ vẽ, Trung Quốc nằm chính giữa,
đúng như tên gọi (Trung Quốc-nước ở giữa). Sau đó, họ vẽ biển nằm bên dưới
Trung Quốc, trong đó rải rác mấy đảo nhỏ, và họ đề tên: Châu Âu, Châu Phi và Nhật
Bản…”
Khôn Dư Vạn Quốc Toàn Đồ 坤輿萬國全圖 (Bản
đồ thế giới) - LM Matteo Ricci (1602)
Sau đó, LM de Rhodes cũng vẽ một bản đồ xứ An Nam (có
thể dựa vào bản đồ Hồng Đức 1490). LM Ricci cùng với các LM Ruggieri, Fernandez
soạn cuốn Bồ Hán Tự Điển 葡漢詞典 (Portuguese-Chinese dictionary) vào
khoảng 1583-1588. Đây có thể coi như là lần đầu tiên chữ Hán được ký âm bằng chữ
La Tinh một cách có hệ thống, cũng là nằm trong một số mục đích của các giáo sĩ
Dòng Tên thời bấy giờ. Cũng nên nhắc ở đây là các tài liệu đầu tiên viết tiếng
Nhật bằng chữ La Tinh cũng do các giáo sĩ Dòng Tên soạn ra như “Dictionarium
latino lusitanicum ac Japonium” Tự điển La Bồ Nhật (Amakusa, 1595), 日葡辞書 Nhật Bồ từ thư - (Nagasaki, 1603)…v.v…
1.5 LM Alexandre de Rhodes (1593-1660) soạn các cuốn từ điển
Việt-Bồ-La (1651) và Phép Giảng Tám Ngày (1651), lần đầu tiên [5] về ngữ pháp và tự vị bằng tiếng Việt.
Nên nhắc ở đây là chữ La Tinh đã được dùng để phiên âm tiếng Trung Quốc và Nhật
Bản trước đó nhưng không được trọng dụng, có thể vì liên hệ Pháp Việt sau giai
đoạn truyền đạo của các giáo sĩ Tây phương (thế kỷ 16/17) mà chữ quốc ngữ có
vai trò quan trọng hơn. Trong BBC, LM de Rhodes đã nhắc đến vấn đề kỵ húy (tị
húy, kiêng húy): tên của một bà vợ quan trấn thủ là Tuyền (BBC ghi là Tiền) thì
các người khác trong hay ngoài gia đình, đầy tớ phải gọi trại đi là Toàn. Ngay
cả tên của cha mẹ hay người ở địa vị cao hơn, ta cũng phải giữ phép kỵ húy [6] này. Truyền thống này làm vấn đề
xưng hô trở nên rắc rối thêm nữa, tuy nhiên không nằm trong phạm vi bài viết
này.
1.6 Tuy nhiên, các GS Dòng Đa Minh (Dominican Order) đã có
trước Dòng Tên lâu đời hơn (từ năm 1216) cũng có những đóng góp không nhỏ về
ngôn ngữ. Thí dụ như LM Domingo de Santo Tomás (1499-1570) đã đến truyền đạo ở
Peru/Nam Mỹ và soạn cuốn “Grammatica o arte de la lengua general de los indios
de los Reynos del Perú” viết bằng tiếng Quechua qua con chữ La Tinh lần đầu
tiên (1560), và “Lexicon o Vocabulario de la lengua general del Perú”… Để ý là
vùng này đã trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha từ năm 1533 (cũng vào năm này thời
nhà Lê có một vị GS tên là I Nê Khu đến Nam Ninh truyền “tà đạo”). Ảnh hưởng của
Bồ Đào Nha (tới TQ vào năm 1514, An Nam vào năm 1524) rất phù hợp với nghĩa Hòa
Lang (Pha Lang/PGTN) chính là Bồ Đào Nha vào thế kỷ XVI. Trong cuốn đầu tiên đã
dẫn, LM de Santo Tomás bàn về tính chất bao hàm người nghe (inclusive) hay loại
trừ người nghe (exclusive) trong tiếng Quechua, đây là những khám phá đầu tiên
trong ngôn ngữ khác với tiếng La Tinh, Bồ, Pháp… Các GS Dòng Tên như Diego
González Holguín (1560-1620) và Ludovico Bertonio (1555-1628) cũng có viết về sự
khác biệt (gồm người nghe hay không - inclusive and exclusive distinction)
trong phạm trù nghĩa của đại từ nhân xưng của ngữ pháp Inca và Aymara. Quá
trình ghi chép lại các ngôn ngữ xa lạ bằng con chữ La Tinh đã cho ta nhiều tài
liệu quý báo để tìm hiểu thêm chính xác tiến trình hình thành và tính chất của
các ngôn ngữ này - ngay cả vài chi tiết lịch sử - trong đó có tiếng Việt. Cũng
nhờ vào những tài liệu (báo cáo) này mà Tây phương bắt đầu chú ý đến những tín
ngưỡng địa phương đã có từ lâu đời như PG [7] chẳng hạn. Một điểm quan trọng cũng cần nhắc
ở đây là các ngôn ngữ như Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Romanian, Catalan…
Đều có liên hệ mật thiết với nhau và cùng một gốc La Tinh, nên được sắp vào họ
ngôn ngữ La Mã (Romance languages) khác với họ ngôn ngữ Đức (Germanic
languages) gồm có tiếng Anh, Đức, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy… Thành ra các
giáo sĩ đều có căn bản rất vững chắc và mở rộng về ngôn ngữ khi ra ngoại quốc để
truyền giáo, ai cũng có khả năng trở thành một nhà ngôn ngữ học thâm trầm cả,
miễn là các vị ghi chép (ký âm) các tiếng này lại một cách cẩn thận. Chỉ cần dựa
vào một ngữ pháp nào đã có sẵn (những quy chiếu cố định, như từ ngữ pháp La
Tinh trung cổ), một ngôn ngữ khác có thể được ghi nhận lại một cách có hệ thống
và truyền bá hiệu quả cho việc giảng dạy giáo lý Ky Tô và giao tiếp hàng ngày
(mục tiêu đầu tiên). Phương pháp như vậy có chính xác hay phù hợp với ngôn ngữ
bản địa hay không lại là một vấn đề khác không nằm trong phạm vi bài viết.
Đại từ nhân xưng trong tiếng La Tinh
Các LM thời VBL đều thuộc lòng [8] cách chia động từ/danh từ tiếng La
Tinh: tùy theo vị trí của chúng trong câu mà phải thay đổi chữ cho phù hợp
(conjugation). Thí dụ như đại từ nhân xưng (personal pronouns) và các dạng biến
đổi theo cách/ ngôi/ số ít hay nhiều sau đây:
Singular (số ít)
NOM ego tu Is Ea Id
GEN mei tui Eius eius eius
DAT mihi tibi Ei Ei Ei
ACC me Te eum Eam Id
Plural (số nhiều)
NOM nos Vos Ei eae Ea
GEN nostri Vestri Eorum earum eorum
DAT nobis Vobis Eis eis Eis
ACC nos Vos eos eas Ea
Singular (số ít)
Case/
Person
(Cách/Ngôi) 1st (I) 2nd (you) 3rd (he, she, it)NOM ego tu Is Ea Id
GEN mei tui Eius eius eius
DAT mihi tibi Ei Ei Ei
ACC me Te eum Eam Id
Plural (số nhiều)
Case/ Person
(Cách/Ngôi) 1st (I) 2nd (you) 3rd (he, she, it)NOM nos Vos Ei eae Ea
GEN nostri Vestri Eorum earum eorum
DAT nobis Vobis Eis eis Eis
ACC nos Vos eos eas Ea
Bảng sau tóm tắt đại từ phản thân (reflexive pronoun) tiếng
La Tinh:
Case/Gender
(Cách/giống)
|
Singular/Plural
(số ít/nhiều)
|
||
Masculine
(Giống đực)
|
Feminine
(Giống
cái)
|
Neuter
(Trung tính)
|
|
NOMinative
(Danh cách)
|
—
|
||
VOCative
(Hô cách)
|
—
|
||
ACCusative
(Đối cách)
|
sē, sēsē
|
||
GENitive
(Thuộc cách)
|
Suī
|
||
DATive
(Tặng cách)
|
Sibi
|
||
ABLative
(Trạng/Ly cách)
|
sē, sēsē
|
||
LOCative
(Vị trí cách)
|
sē, sēsē
|
||
Tuy tiếng Việt không có các cách chia rắc rối và phải nhớ nằm
lòng như trên, tiếng Việt không phải thay đổi/ chia động từ/ danh từ/ túc từ tùy
vào vị trí/ giới tính và cách dùng chữ trong câu; bù vào đó thì một vấn đề phức
tạp [9] khác lại xuất hiện: “Tùy địa vị
khác nhau và tùy sự khác biệt của người ta nói với nhau mà ta có rất nhiều đại
từ nguyên thủy” (BBC).
Trong 8 chương của BBC, chương 4 và 5 viết về đại từ tiếng Việt và chiếm khoảng 6 trang so với tổng số 22 trang. Một điểm đáng ghi nhận ở đây là ngôi thời VBL chỉ ngôi vị cao cả, nơi ở của các bậc cao thượng (“ba ngôi cùng một đức Chúa trời” trang 532, “mất ngôi” trang 533), dịch từ tiếng La Tinh persona, mà nghĩa La Tinh là người, tính cách, mặt nạ (“mặt mẻ” - VBL trang 463). Bài viết nhỏ này chỉ chú trọng đến các cách gọi ngôi giao tiếp thứ nhất dùng trong VBL, BBC và PGTN, và không đề cập chi tiết đến những cách xưng hô tùy thuộc địa vị xã hội, huyết thống (ba/ cha/ bố, con, anh/ em…) và tương quan nghề nghiệp, tuổi tác (cháu/ bác, ông/ bà, thầy/ em v.v…).
3. Đại từ nhân xưng số ít/ ngôi thứ nhất chuyên dùng trong VBLTrong 8 chương của BBC, chương 4 và 5 viết về đại từ tiếng Việt và chiếm khoảng 6 trang so với tổng số 22 trang. Một điểm đáng ghi nhận ở đây là ngôi thời VBL chỉ ngôi vị cao cả, nơi ở của các bậc cao thượng (“ba ngôi cùng một đức Chúa trời” trang 532, “mất ngôi” trang 533), dịch từ tiếng La Tinh persona, mà nghĩa La Tinh là người, tính cách, mặt nạ (“mặt mẻ” - VBL trang 463). Bài viết nhỏ này chỉ chú trọng đến các cách gọi ngôi giao tiếp thứ nhất dùng trong VBL, BBC và PGTN, và không đề cập chi tiết đến những cách xưng hô tùy thuộc địa vị xã hội, huyết thống (ba/ cha/ bố, con, anh/ em…) và tương quan nghề nghiệp, tuổi tác (cháu/ bác, ông/ bà, thầy/ em v.v…).
Dựa vào cách hiểu của LM de Rhodes qua từ La Tinh ego (tôi)
và nos(chúng tôi), và dựa vào cách dùng trong VBL/PGTN, ta có thể tóm tắt
một số đại từ nhân xưng [10] như sau:
3.1 Tao
Dùng cho người trên nói với người dưới (hay “rất thấp”/VBL
trang 724): (a) cha với con cái (b) chủ với đầy tớ (c) chồng với vợ hay khi nói
chuyện có ngụ ý khi thường (BBC). Trong PGTN, đức chúa Giêsu từng phán “…Tao
bởi chết mà sống lại …” (trang 202), “…Tao đã ra đời đến phán xét thế
này …”(trang 199) …v.v… Trích từ TNNL, một dạng chữ Nôm của tao là 蚤 (tảo) hay 月蚤 (tao, bộ nhục) 騷 (tao ~ thối thúi hôi) :
Vua rằng còn có mặt tao (c. 7101)…
Bụt liền biết ý thốt ra rằng vầy
Tao đi áng hội mấy chày
Vắng nhà phá giới là mày đã cam (c. 7349-7351) v.v…
Cũng nên nói thêm ở đây về cách dùng tao/tau thời VBL. Trong
công thức rửa tội, câu khẩu ngữ ghi lại vào năm 1645 (hội nghị [11] ở Ma Cao) là
“Tau rữa mâi nhân danh Cha ùa Con, ùa spirito santo”
Cách nói như trên là rất trân trọng vào thời đó chứ không được
hiểu như tiếng Việt hiện đại (kiểu nói thô tục). Ngay cả các các đối thoại
trong các tài liệu Phật giáo xưa, ta cũng thường gặp cách xưng hô tao/mày này
trong phần nói chuyện của đức Phật Tổ hay các cao tăng
Bụt bảo A Nan rằng “Mày tuy là đệ tử cả tao” (Phật Thuyết Đại
Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh/PT)
“Tao vậy nên kính lễ” (PT)
“Mày nay xét nghe, tao hầu vì mày rẽ ròi chú thuyết” (PT)…
“Bây chừ mày trong phép tao, tuồng có duyên xưa” (Cổ
Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục/CC – sư Khâu Đà La bảo Man Nương)
“Tao đáp (giúp) nhà mày một áng sức vậy” (CC) …v.v…
3.2 Tôi/ tui
Dùng với tính cách khiêm nhượng, hay khi nói chuyện với người
bề trên: như vua nói chuyện với mẹ cũng dùng tôi (hàm ý tôi tớ/BBC). Tôi cũng
có nghĩa là đầy tớ” (làm tôi, tôi tá - VBL/trang 822). Tiếng Khme cũng
dùng cách nói nhún nhường này: tôi tớ [13] là kho-nhum, tôi/tao cũng
là kho-nhum, so với thần 臣 (bầy tôi) và bộc 僕 trong tiếng Hán, bộc có dạng boku tiếng Nhật (boku còn
là tôi/tao tiếng Nhật). Tam Thiên Tự, trang 8, còn ghi “僕 口綿 bộc min” cho thấy cách dùng nhũn nhặn
này, hay người nói/phát ngôn luôn hạ mình xuống như tôi tớ và dân thường
trong câu nói. Các cách dùng “con dân” hay “dân tôi” đều cho thấy khoảng cách của
giới cai trị (trẫm, thiên tử/con trời) và người dân trong một nước. Phần sau sẽ
bàn thêm về cách dùng min dựa vào tư cách khiêm nhường này. VBL cũng ghi nhận dạng tui là
nói một cách quê mùa [14]. Các dạng chữ Nôm là 碎 (toái) hay 倅 (thối).
Rằng “tôi tuổi tác đã nhiều” (c. 6897)
Rằng tôi vâng mệnh quốc gia (c. 5816, TNNL)…
Rằng tôi con trẻ học trò (c. 5951, TNNL)…
Tôi nguyền một kiếp làm tôi (c. 6065, TNNL)
Tôi thấy sự lạ hồ nghi (c. 5935, TNNL)…
Tôi chẳng dấu mẹ làm chi (c. 301, TNNL) v.v…
3.3 Ta
Cách nói của người bề trên đối với người bề dưới - để ý là
người bề dưới này phải thuộc hàng sang trọng (VBL trang 711). Một dạng chữ Nôm
là 些 (ta), trích từ TNNL
Bỏ thầy bỏ nước ta lòng gian ngoan
Rủ ta về cứ Châu Hoan
Một ý dấy loàn ra dạ bất nhân
Ta nay vâng lệnh Khúc quân (c. 3237-3239) v.v…
我
些 Ngã ta (Ngũ Thiên Tự, Tam Thiên Tự)
吾
些 Ngô ta (Ngũ Thiên Tự, Tam Thiên Tự)
予
些 Dư ta (Ngũ Thiên Tự)
Một dữ kiện nên nhắc ở đây để gợi ý về tương quan ta tiếng Việt
và một dạng ta trong tiếng Hán. Chữ ta/tra 咱
偺 喒 㑑 là chữ hiếm - không thấy TVGT/ĐV/QV/TV/LT/VH ghi nhận - có lẽ xuất hiện sau các thời kỳ này
(hay vào thời nhà Nguyên/Minh). Theo TNAV (năm 1324) thì thanh mẫu là tinh 精, vận mẫu là gia ma 家麻, dương bình - có các cách đọc theo
phiên thiết
子葛切,音咂 tử cát thiết, âm táp (TH 篇海) – các phụ âm tắt cuối t/p đã bắt đầu tha hóa vào thời TNAV
nên các âm ta, *tát, *táp đều đọc gần giống nhau
兹沙切,音查 tư sa thiết,
âm tra (TCAV 中州音韻) - Trung Châu Âm Vận là tài liệu thời
nhà Minh (1368-1661)
莊加切,鮓平聲
trang gia thiết, trả bình thanh (TVi)
莊加切, 音查 trang gia thiết, âm tra (CTT) …v.v…
Giọng BK bây giờ là zǎ zá zán zǎn so với giọng Quảng Đông
zaa1 và các giọng Mân Nam 客家话:[海陆丰腔] zap7 za1 [梅县腔] za1 [台湾四县腔] zap7 za1 [客英字典] za1 [宝安腔] zia1 潮州话:za1, tiếng Nhật san và tiếng Hàn cam,
phản ánh thời kỳ nhập vào gần đây mà thôi. Ta tiếng Việt đọc gần âm Triều Châu
za1.
Ngã môn 我們 tiếng Hán nghĩa là chúng tôi (không
bao gồm người nghe/exclusive) so với Ta/Tra Môn 咱們 là chúng
ta (bao gồm cả người nghe/inclusive), tương thích với cách dùng của ta
trong tiếng Việt.
Vấn đề trở nên thú vị hơn khi Chánh Tự Thông ghi chú thêm rằng
ta là bắc âm 北音, gợi ý về khả năng ta có nguồn ở một
ngôn ngữ/phương ngữ nào đó. Ngôn ngữ nào đó, đã nhập vào tiếng Hán và Việt để
cho ra dạng ta, có thể là tiếng Chăm. Dựa vào một dạng âm cổ phục nguyên của
ta/tra 咱 là *tra/dra, ta thấy dạng này
tương ứng với tiếng Chăm tray có nghĩa là mình, và cũng là ta (chúng
ta - đại từ danh xưng ngôi thứ nhất/số nhiều). Tiếng tiền-Chăm (proto-Chamic)
là *drɛy có nghĩa là mình (thân thể) và ta (we) theo bảng liệt kê các
nhánh ngôn ngữ http://language.psy.auckland.ac.nz/.
Phụ âm r/l thường tha hóa [15] trong tổ hợp phụ âm br/tr/sr, cũng
như khi nhập vào tiếng Việt/Hán như Brahmana > Bà La Môn ~ Phạm/Phạn, Prajna
> Bát Nhã, Srmana > Sa Môn v.v… Nên có cơ sở giải thích tương quan giữa
tray (Chăm), *tra (Hán) và ta (Việt). Họ ngôn ngữ Nam Đảo (Malayo-Polynesian,
trong đó có tiếng Chăm) cũng cho thấy dạng ta: tiếng Chăm ở Hải Nam, Chăm ở
Bình Thuận/Ninh Thuận, tiếng Puyuma (hay Nanwang Cq ở nam Đài Loan), tiếng
Saisiyat (ở bắc Đài Loan), tiếng Pazih LTs (hay Auran ở trung bộ Đài Loan), tiếng
Mapun (ở Phi Luật Tân) v.v… Trở lại với đại từ ngôi thứ nhất/số nhiều tiếng
Hán: Tại sao lại có dùng Ta/Tra Môn khác với Ngã Môn như vậy? Một cách giải
thích là khi một nhóm người Hán, hay Việt, nói chuyện với nhóm người/sứ thần
Chăm thì tiếng Chăm tray được xài để chỉ chung hết tất cả mọi người (inclusive)
kể luôn người nghe (người Chăm).
3.4 Tớ
Dùng khi giận dữ (so với cách dùng hiện đại), như kiểu nói “Tớ
làm chi ngươi” (ngươi là ngôi thứ hai, hàm ý khinh bỉ/ VBL trang 818). Một dạng
chữ Nôm là 伵
Chồng tớ quan hệ gì ngươi (c. 1669, TNNL)
Khá cho làm tớ khá cho làm thầy (c. 4644, TNNL)…
Ngươi nghe miệng tớ mặc lường (c. 6477, TNNL)…
Cáo rằng tớ giấu chi ngươi
Tớ tài thiện bốc biết loài cát hung (c. 7255-7256) v.v…
Với nét nghĩa giúp việc (đày tớ, tôi tớ[16]), cách xưng hô tớ có khả năng liên hệ đến
tá - chữ tá 佐 (thanh mẫu tinh 精 vận mẫu 歌 ca, khứ thanh, khai khẩu nhất đẳng)
có các cách đọc theo phiên thiết
則箇切 tắc cá
thiết (TVGT, QV) - QV/TV ghi khứ thanh
子我切 tử ngã
thiết (TV, LT) - TV ghi thêm thượng thanh
子賀乀 tử hạ
phật (TNTTĐTA 精嚴新集大藏音)
子賀切,左去聲 tử
hạ thiết, tả khứ thanh (TV, LT, TTTH, CV, TVi)
TNAV ghi vận bộ 歌戈 ca qua (khứ thanh)
CV ghi cùng vần/khứ thanh 左
佐 作 (tả tá *tác)
遭歌切, 左平聲 tao ca thiết, tả bình thanh (TVi)
祖過切,左去聲 tổ
quá thiết, tả khứ thanh (CTT) v.v…
Giọng BK bây giờ là zuǒ so với giọng Quảng Đông zo3 và các giọng
Mân Nam 客家话:[台湾四县腔] zo3 [海陆丰腔] zo3 [宝安腔] zo3 [梅县腔] zo3 [客语拼音字汇] zo3 [客英字典] zo3 [东莞腔] zo3 [陆丰腔] zo3 潮州话:zo2(tsó) zo6(tsǒ), giọng Mân Nam/Đài
Loan cho3, tiếng Nhật sa và tiếng Hàn cwa. Âm tớ gần với âm zo1 Triều Châu và
Quảng Đông (nguyên âm o/ơ là âm cổ hơn nguyên âm sau/lớn a).
3.5 Min
Dùng cho người trên nói với người dưới, tuy không quá cách xa
nhau [17] theo VBL trang 467 min ~ ego/L (so sánh
trường hợp tao, trong truyện “Mùa ăn chay cả”, chúa Giê Su cũng xưng là min).
Trích từ TNNL, một dạng chữ Nôm của min là miên 綿
Nhà min thầy sãi khó khăn ly hèn
Chẳng có con trai nối truyền
Hay đâu trời chẳng đem min sự này (c. 4504-4506)…
Min xin nuôi lấy người này
Nên thân min cậy nàng bây được nhờ (c. 4511-4512) v.v…
Min có thể là dạng âm cổ của chữ dân 民, âm dân là
kết quả của quá trình ngạc hóa (palatalisation) trong tiếng Việt. Quá trình ngạc
hóa đã đóng góp quan trọng trong lịch sử hình thành các ngôn ngữ Hàn, Nhật,
Trung (Quốc), Việt Nam, Anh (nhánh Đức/Germanic, họ Ấn Âu), Pháp (nhánh La
Mã/Romance, họ Ấn Âu) v.v… Trở lại với các ngôn ngữ ĐNA, khi tiếng Hán nhập
vào tiếng Việt, phụ âm đầu môi môi (bilabial) có khả năng ngạc cứng hóa để trở
thành phụ âm d (j), khi đi sau là nguyên âm trước (front vowels) với độ mở miệng
nhỏ như i, e. So sánh các tương quan sau đây
民 mín (BK)
dân (HV)
名 míng danh
(tên)
茗 míng mính
HV là chè/ trà - tiếng Việt còn dùng từ dành (cây dành dành)
滅 míe diệt
(như cách dùng diệt đế, diệt độ, diệt pháp…)
妙 miào diệu
(thần diệu)
面 miàn diện
(mặt)
彌 mí di (phiên âm Phạn mi/me/mai như A
Di Đà Phật, Di Lặc, Tu Di, Sa Di, Cù Đàm Di …)
泯 mǐn mẫn,
dân, miến (để ý có khả năng đọc m- hay d-) - hầu như chỉ có tiếng Việt mới cho
thấy khuynh hướng ngạc hóa rõ nét khi so sánh với các giọng Quảng Đông, Hẹ, Mân
Nam…
獼 mí mi, còn
đọc là di (một loài khỉ)
渺 miǎo miểu,
diểu
緬 miǎn miễn,
miến, diến
緬甸 Miến Điện
hay còn là Diến Điện (Myanmar bây giờ) v.v…
Xem lại các cách đọc chữ dân 民 (thanh mẫu
minh 明 vận mẫu chân 眞 bình thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên
thiết
彌鄰切,音泯 di lân
thiết, âm mẫn (TVGT, ĐV, QV, TV, LT, VH, CV)
TNAV ghi cùng vần 真文 chân văn (dương bình)
CV ghi cùng vần/bình thanh 民
泯 珉
玟 䃉 岷 汶 閩
旻 忞
旼 緡
緍 暋
罠 𤸅 (dân dân/mân mân/vấn *mẫn)
彌隣切, 閔平聲 di lân thiết, mẫn bình thanh (TVi)
彌延切,音眠 di
diên thiết, âm miên (TVi/CTT)
鄰溪切,音黎 lân
khê thiết, âm lê (TVi/CTT)
謨陽切,音庬 mô dương
thiết, âm mang (TVi/CTT)
彌平切, 閔平聲 di bình thiết, mẫn bình thanh (CTT)
鄰知切,音離 lân
tri thiết, âm li (KH) v.v…
Giọng BK bây giờ là mín so với giọng Quảng Đông man4 và các
giọng Mân Nam 客家话: [梅县腔] min2 [宝安腔] min2 [东莞腔] min2 [台湾四县腔] min2 [客语拼音字汇] min2 [海陆丰腔] min2 [客英字典] min2
[沙头角腔] min2 [陆丰腔] min3, giọng Mân Nam/ Đài Loan bin5, tiếng Nhật và tiếng Hàn
min. Một dạng âm cổ phục nguyên của dân là *min, thời Tự Vị (1615) thì *min có âm
*mien. Để ý rằng chữ Nôm ghi min bằng chữ miên 綿
緜, phù hợp với cách đọc vào thời Tự Vị (năm 1615 – xem
bảng liệt kê ở trên). Truyền thống khiêm nhường trong lời ăn tiếng nói còn thấy
dân hay *min dùng làm đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất trong thời cổ đại (TQ). Thí
dụ như Thảo Dân 草民 (người bình thường như cỏ rác này,
cách xưng hô của phái nam) và Dân Nữ 民女 là cách
xưng hô dành cho phái nữ. Để ý Thần Tử (HV) là dân, con dân hay tôi (Petit
Dictionnaire francais annamite/Trương Vĩnh Ký 1884 - trang 1098).
Một chi tiết nên ghi lại ở đây để gợi ý: min còn có thể liên
hệ với tiếng Khme dơng យើង /yəəŋ/ (tôi/ta/chúng ta/chúng tôi) vì
khuynh hướng ngạc cứng hóa, dân đọc theo giọng Nam VN rất gần với /yəəŋ/ Khme.
Liên hệ với tiếng Khme và tiếng Hán không làm ta ngạc nhiên vì lịch sử tiếng Việt
cho thấy nhiều dấu vết của họ Môn Khme và tiếng Hán Cổ, cũng như cách dùng va [18] chỉ nó (hắn, hàm ý khinh bỉ). Đây
là những đề tài cần được nghiên cứu chi tiết và sâu xa hơn để cho thấy các ảnh
hưởng qua lại của ngôn ngữ thêm chính xác.
3.6 Qua
Dùng cho người trên nói với người dưới. Qua còn bảo lưu trong
một số vùng ở Nam Bộ, khi các cộng đồng cư dân (Việt, Hoa, Khme…) đã ổn định đời
sống ở vùng đất mới này. Một dạng chữ Nôm là 戈 (qua), không
thấy dùng đại từ này trong TNNL. Một cách giải thích hiện tượng qua dùng nhiều ở
đồng bằng sông Cửu Long so với miền nam Trung Bộ (thời VBL) là kết quả của quá
trình Nam Tiến, một số cách dùng [19] đã được nhập vào Nam Bộ từ Đàng
Trong. Qua tương ứng với dạng ua2 giọng Triều Châu (Mân Nam) và ngã HV với các
nét nghĩa tôi/ta/tao.
Chữ ngã 我 (thanh mẫu nghi 疑 vận mẫu ca 歌 thượng thanh, khai khẩu nhất đẳng) có
các cách đọc theo phiên thiết
語可切 ngữ khả
thiết (TV, LTCN 六書正擶)
TNAV ghi cùng vần 歌戈 ca qua (thượng thanh)
CV ghi cùng vần/thượng thanh 我
硪 騀 (ngã)
延知切, 音夷 diên tri thiết, âm di (TVi)
阮古切 – nguyễn cổ thiết - CTT/TViB ghi âm ngũ 音五
五可切, 俄上聲 ngũ khả thiết, nga thượng thanh (CV, TVi, CTT)
烏可切 ô khả thiết (CTT) - cách đọc này rất gần với dạng *wa (qua giọng Nam) v.v…
Giọng BK bây giờ là wǒ ě so với giọng Quảng Đông ngo5 o5 và
các giọng Mân Nam 客家话: [梅县腔] nga1 ngai2 ngoe.2 ngo1 [海陆丰腔] ngo1 ngo3 (ngai2) [客语拼音字汇] ngai2 ngo1 [客英字典] ngo1 ngo3 [沙头角腔] nga1 ngo1 ngai2 [台湾四县腔] ngo1 ngo3 (ngai2) [东莞腔] ngo1 [宝安腔] ngo1 [陆丰腔] ngo1 潮州话:ua2, giọng Mân Nam/Đài Loan goa2, tiếng Nhật là ga, Hàn là a.
Từ thời VBL (1651) qua là từ được dùng riêng rẻ,
hay tổ hợp mớ qua(Gustav Hue/1937 và Paulus Của/1895 ghi là mới qua);
Béhaine và Taberd (1772/1838) ghi thêm các cách dùng qua bậu [20], chúng qua… Giọng Mân Nam/Đài Loan
là goa2 và giọng Triều Châu là ua2 phù hợp với âm qua tiếng Việt (giọng Nam).
Tiếng Mường Bi (Hòa Bình) còn dùng qua với nghĩa là chúng tôi/chúng tao/chúng tớ,
có thể là dấu vết của qua đã được VBL ghi nhận, so với cách dùng ha có nghĩa là
chúng ta (gồm người nghe). Điều này cũng không gây ngạc nhiên khi nhìn lại lịch
sử nhà Trần, vốn gốc Mân (Nam TQ - như Phúc Kiến, Triều Châu…) nên có thể vẫn
dùng dạng qua trong vòng gia đình khi mới sang An Nam sinh sống.
Ngoài ra, hàm ý của qua là người trên nói với kẻ dưới phản ánh xã hội VN khi
nhà Trần đang ở vị thế cai trị cả nước. Một hệ luận là âm cổ của dân, hay min [21], trở thành phổ thông cho đại từ nhân
xưng ngôi thứ nhất như đã bàn ở trên.
3.7 Thần
Thần có nghĩa là tôi, hàm ý khiêm nhượng hay cách nói của người
bề dưới/thủ hạ (VBL trang 740: thần, tôi ego). VBL cũng ghi nghĩa của thần
là quan trong triều của một nước có vua (quan đại thần, VBL/trang 742). Thần viết
chữ Nôm là 臣 (thần HV):
Nào đâu là chẳng xưng thần (c. 4033, TNNL)
臣
碎 Thần tôi (Ngũ Thiên Tự, Tam Thiên Tự)
Không thấy VBL/PGTH/BBC dùng từ trẫm [22], có thể vì LM de Rhodes hay những người
thân cận ít giao thiệp trực tiếp với vua/gia đình “hoàng tộc” ngự ở Đông Kinh
(Kẻ Chợ) so với các nhà Chúa ở Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Trẫm là long chủng, nàng là tiên phong (c. 170, TNNL)…
Chiêu Hoàng phán bảo trước sau dòng dòng
Trẫm nay nào khác tơ hồng (c. 5746-5747, TNNL)…
朕
蚤 Trẩm tao (Ngũ Thiên Tự)
朕
些 Trẩm ta (Tam Thiên Tự)
4. Mình, mỗ và mỗ giáp
4.1 Cũng nên nhắc đến trường hợp chữ mình (mềnh/VBL
trang 464). Mình có các dạng chữ Nôm là 𨉟 𠵴 命 (mệnh).
LM de Rhodes ghi hai nét nghĩa:
a) thân xác
VBL đưa ra các thí dụ như của mình, vợ mình, đánh mình (trang
464); trang 821 còn ghi cách dùng của tôi. Mình (thân thể) sau thời VBL đã
mở rộng nghĩa để chỉ tôi, ta, chúng ta (ngôi thứ nhất) và ngôi thứ hai, thứ ba.
Tiếng Java (Javanese), Mã Lai [23] còn dùng awak nghĩa là
mình (body/thân thể), tự mình và tôi/tao v.v…Đây là một trường hợp cho thấy
cách dùng mở rộng rất rõ trong ngôn ngữ: từ trải nghiệm cá nhân cụ thể (thân thể)
dẫn đến khả năng chỉ tôi hay ta (ngôi thứ nhất), người đối diện (ngôi thứ hai)
hay gồm chung lại.
4.2 Mỗ chỉ ngôi thứ ba hay cái gì đó (người ấy, ông ấy,
sự ấy… Vì không biết rõ tên, khiêm nhượng tránh dùng tên riêng, tỵ húy…) hay
ngôi thứ nhất (mỗ vẫn còn dùng trong tiếng Việt hiện đại tuy không phổ thông).
Thời VBL (1651), mỗ có nét nghĩa là quispiam (L. người đó, ai đó, gì
đó - VBL trang 475) và ghi thêm cách nói “Danh là mỗ” (nomen est N. - tên
là gì đó). Mỗ hiện diện trong Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh 1 lần.
Chữ Nôm và Hán đều là 某 (thượng thanh). Nguyễn Trãi
(1380-1442) từng dùng mỗ nhiều lần như
Thủy chung mỗ vật đều nhờ chúa (Mạn Thuật)
Năng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm (Ngôn Chí) v.v…
Cũng như chữ mình, mỗ cũng mở rộng nghĩa để chỉ tôi, ta, của
ta … Mỗ còn được dùng làm trạng từ phủ định (so với mựa); không thấy VBL
ghi lại các nét nghĩa này.
Một cách xưng hô cho ngôi thứ nhất dựa vào chữ mỗ là mỗ
giáp 某甲 (tôi, ta) và mỗ ất 某乙 (so với mỗ nhân 某人). VBL có ghi mỗ, giáp và ất (ớt hợi);
nhưng không ghi cụm từ mỗ giáp và mỗ ất (đều có thể dùng như mỗ chỉ tôi/ta
trong tiếng Hán). Mỗ giáp hiện diện trong Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng
Kinh 4 lần và đều tương ứng với ngã 我 trong văn bản Hán: “Ấy vậy mỗ giáp
kính lễ, mộ giáp nay niệm đọc, mỗ giáp hay đều vui mừng thuận làm đòi, nguyện mỗ
giáp nay vội trừ rầy bao nhiêu nghiệp chướng”.
Đại từ chỉ số nhiều
Khác hẳn với các đại từ chỉ số nhiều tiếng La Tinh [24], chúng chẳng có liên hệ gì đến các đại từ
số ít (xem bảng tóm tắt phần 2 bên trên), đại từ chỉ số nhiều tiếng Việt là loại
từ ghép gồm một từ chỉ số đông/nhiều) như chúng, mớ và phô (hàm
ý kính trọng) vào thời VBL. Tuy VBL không có mục chúng riêng so với chúng
tôi (trang 121, ghi thêm chúng nó), nhưng giải thích chúng là chỉ số
nhiều. Chúng [25] là âm đọc HV của chữ 眾. Từ điển Béhaine (1772/1773) và Taberd (1838) ghi thêm chúng
qua, cho tới thời Huỳnh Tịnh Của trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (1895). Sự hiện diện
của mớ qua (Béhaine/Taberd/Huỳnh Tịnh Của) cho thấy cách dùng qua [26](tôi) đã trở nên phổ thông ở Đàng Trong từ
thế kỷ XVIII. Bây giờ thì ít thấy ai dùng qua (tôi) ở Nam Bộ, trừ vài
trường hợp người già hay ở các vùng quê hẻo lánh - xem thêm ghi chú 19. Tiếng
Mường Bi còn dùng tàn (đàn) để chỉ số nhiều như tàn ủn (đàn
em), tàn pổ (đàn bố ~ các bố, các ông), tàn pay (đàn bay ~
chúng bay) tàn miềnh (chúng mình), tàn nả (chúng nó), tàn
qua (chúng tớ, chúng em), tàn pà (đàn bà), tàn ông (đàn
ông), tàn ong (đàn ong ~ bầy ong) so với cách dùng đàn người ta trong
VBL (trang 198).
Tóm lại, xem qua đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít vào thời
VBL, ta có thể nhận ra phần nào các đẳng cấp trong một xã hội quân chủ phong kiến
và cách nói khiêm tốn (tôi, tớ, thần), một bản chất cố hữu của con người Á
Đông. Ngoài ra, LM de Rhodes còn ghi lại vết tích của một số giao lưu ngôn ngữ
theo dòng thời gian min và va (so với dơng và via là
tiếng Khme), qua (tôi, giọng Triều Châu/ Mân Nam), và bậu (so
với tiếng Thái, Tày Nùng)… Cách xưng hô phức tạp trên còn phản ánh một tư duy tổng
hợp từ truyền thống nông nghiệp, khi đại từ nhân xưng còn có khả năng là một dấu
ấn của cơ cấu cộng đồng rộng lớn hơn; trong khung cửa nhỏ của đại từ nhân xưng
ta còn có thể tìm ra vài lưu tích của giao lưu văn hóa ngôn ngữ theo dòng lịch
sử (Khme, Thái, Hán, Chăm…). Tính cách (uyển chuyển) này trở nên quan trọng để
sống sót trước rất nhiều áp lực đồng hoá VN từ nhiều phía trong xuyên suốt lịch
sử dựng nước và giữ nước. Ngoài ra, “cái tôi” (tính chất cá nhân) đã mờ nhạt đi
khi tận dụng cách xưng hô dựa vào liên hệ gia đình và xã hội, khác hẳn với
khuynh hướng của ngôn ngữ Ấn Âu. Đây có thể xem là bức tranh giản lược vẽ lại
tình trạng xã hội Việt Nam vào thế kỷ XVII, khi biên giới phía nam còn chung đụng
với Chiêm Thành (vĩ tuyến 12/LM de Rhodes). Cấu trúc “mở”, phản ánh các tương
quan xã hội không đơn giản của cách xưng hô tiếng Việt (VBL). Cấu trúc “mở” này
còn có thể dẫn đến những trường hợp tiếng nước ngoài [27] nhập vào dễ dàng hơn trong quá
trình giao thoa ngôn ngữ theo dòng lịch sử.
1) Pigneau de Béhaine (1772/1773)- Bá Đa Lộc Bỉ
Nhu “Dictionarium Annamitico-Latinum” Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc
Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM - 1999).
2) Đỗ Quang Chính (1972) “Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659”
NXB Đuốc Sáng (Sài Gòn).
3) Huỳnh Tịnh Của (1895-1896) “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị” Tome I,
II - Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d’Adran (SaiGon).
4) Nguyễn Quang Hồng (2015) “Tự điển chữ Nôm dẫn giải” Tập 1
và 2 – NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (Hà Nội).
5) Nguyễn Hồng (1959) “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam - Quyển
1- Các Thừa Sai Dòng Tên 1615 – 1665” NXB Hiện Tại (Sài Gòn).
6) Nguyễn Thị Ly Kha (2007) “Từ xưng hô thuộc hệ thống nào?”
Tạp chí Ngôn Ngữ & Đời Sống - số 6, 2007.
7) Nguyễn Văn Khang (Chủ biên), Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hành
(2002) “Từ điển Mường Việt” NXB Văn Hóa Dân Tộc (Hà Nội).
8) Phan Khôi (1954) “Việt ngữ nghiên cứu” NXB Đà Nẵng in lại
(1997).
9) Vương Lộc (2002) “Từ điển từ cổ” NXB Đà Nẵng – Trung Tâm Từ
Điển Học (Hà Nội).
10) Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí (1974) “Từ điển
Tày-Nùng-Việt” NXB Khoa Học Xã Hội (Hà Nội).
11) Hoàng Thị Ngọ (1999) “Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải
âm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh” NXB Khoa Học Xã Hội (Hà Nội).
12) Nguyễn Tá Nhí (1988) “Tìm hiểu nghĩa của từ Mỗ” Tạp chí
Hán Nôm - Số 1 (4) Tr.88-91
13) Nguyễn Phú Phong (2000?) “Đi tìm (cái) tôi” trích từ
trang mạng http://chimviet.free.fr/ “Personal pronouns in Vietnamese and in Muong” trích từ trang mạng http://sealang.net/
14) Alexandre de Rhodes (1651) “Phép Giảng Tám Ngày” - Tủ
Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 - Sài Gòn) với phần giới thiệu
của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên. (1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ
điển Việt-Bồ-La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính - NXB
Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991).“Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng
Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?). “Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646” dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên - Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994).
15) Nguyễn Ngọc San/Đinh Văn Thiện (2001) “Từ điển từ Việt cổ”
NXB Văn Hóa Thông Tin (Hà Nội).
16) Thiên Nam Ngữ Lục (khuyết danh, chữ Nôm) xuất hiện vào
khoảng thế kỷ XVII, có thể đọc trên mạng http://sachbaovn.vn/
17) Jean Louis Taberd (1838) - cố Từ “Dictionarium
Annamitico-Latinum” Serampore (Bengale).
18) Bùi Khánh Thế (Chủ biên)/ Phú Trạm, Quảng Đại Cẩn (1996)
“Từ Điển Việt Chăm” NXB Khoa Học Xã Hội - Trung Tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông
Nam Á (Thành phố HCM).
19) Nguyễn Cung Thông (2011) “A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật?” - có thể xem toàn bài trên các trang http://www.daophatngaynay.com/vn/ (2016) “Cách nói xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài… thời
LM Alexandre de Rhodes (phần 1)” có thể xem toàn bài trang này http://chimvie3.free.fr/
- Nguyễn Cung Thông/ Phan Anh Dũng (2016) “Tản mạn về nghĩa của
mực tàu (phần 1)” - có thể xem toàn bài trang này chẳng hạn:
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/ hay trang http://chimviet.free.fr/
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/ hay trang http://chimviet.free.fr/
20) Nguyễn Hoàng Trung (2015) “Ngữ pháp tiếng Việt của Đắc Lộ
(1651) và những ảnh hưởng của nó trong việc miêu tả ngữ pháp tiếng Việt” nguồn
từ bài viết đăng trên trang mạng của khoa Văn Học và Ngôn Ngữ, Trường Đại Học
KHXH và NV, Thành phố HCM, hay trang http://vci.vnu.edu.vn/ v.v…
Chú thích:
[1] Nhà nghiên cứu ngôn ngữ độc lập,
hiện ở Melbourne (Úc) email nguyencungthong@yahoo.com
[2] Pháp sư Nghĩa Tịnh từng qua
Inđônêsia, Ấn Độ … nhiều năm để học và dịch kinh Phật. Upādhyāya (thầy dạy/ giáo
sư) là tiếng Phạn: upa là theo/ dưới/ với, ādhyāya là học. Chữ này dùng làm tên họ
cho một số pháp sư Bà La Môn, Jain ở Nepal và Ấn Độ.
[3] Tiếng Việt thời Phan Khôi đã có
dùng “đây và đó” (để chỉ tôi và anh/chị), trạng từ chỉ nơi chốn đây/đó (khoảng
cách không gian) không nhất thiết mang ý khen chê hay coi trọng/rẻ người nghe
(khoảng cách xã hội/cảm tính). Nhìn rộng ra hơn trong tiếng Việt, một số đại từ
chỉ định như “ấy, kia, này, nọ, đó, đấy, đây, này, bây, bấy” đều có khả năng
dùng làm đại từ nhân xưng trong một câu với mức độ biểu cảm khác nhau - tùy theo văn cảnh cũng như thanh điệu, cách nói, cử chỉ…
[4] Trong Luật Dòng Tên 1556
(Constitution) bằng La Tinh, phần IV, chương vi, đoạn 4 ghi ”cần phải có căn bản
nghiêm túc về tiếng La Tinh trước các môn học nhân văn khác, sau đó là các môn
Thần học (tạm dịch/NCT)”
[5] Một dữ kiện cần phải nhắc ở đây
là để hoàn thành VBL, LM de Rhodes đã dựa vào nhiều tài liệu và đóng góp của những
vị đi trước như LM Francisco de Pina, Gaspar D’Amaral và Antonio Barbosa (phần
giới thiệu của VBL) - không kể đến nhiều người/giáo dân VN đã không được nêu
đích danh.
[6] Các danh từ riêng như An nam,
Hán, Chúa, Iesu (Giê Su), Adam, Sem, Cam, Noe… đã bắt đầu viết hoa trong
các tác phẩm của Đắc Lộ, tuy không hoàn toàn thống nhất: như cách viết thiên
trúc (viết thường), đại minh, ngô, pha lang, đại tây dương, ông khổng tử v.v…
[7] Tây phương chỉ bắt đầu biết rõ
hơn về PG và các chi nhánh từ khoảng 2 thế kỷ nay, nhất là từ các công trình của
các giáo sĩ Tây phương đã đến Á Châu truyền đạo. Thí dụ như chùa PG đầu tiên ở
Âu Châu là “Das Buddhistische Haus” chỉ được xây dựng vào năm 1924 ở Berlin (do
ông Paul Dahlke đóng góp).
[8] Học từ nhỏ trong trường, ngoài
ra học Thánh Kinh/ Thần Học bằng La Tinh, lại xài thường xuyên các ngôn ngữ họ
La Mã (td. tiếng mẹ đẻ là Ý, Pháp, Bồ Đào Nha), rồi hàng ngày đọc kinh cũng bằng
tiếng La Tinh v.v… Các giáo sĩ Dòng Tên cũng từng (được huấn luyện trong
nhà Dòng) đi dạy tiếng La Tinh trước khi được gởi truyền đạo ở khắp nơi trên thế
giới. La Tinh là ngôn ngữ quốc tế (lingua franca) thời trước và vào thế kỷ 16
và 17. Các tác phẩm khoa học, triết lý, tôn giáo, pháp luật, ngoại giao quan trọng
thời trước thường dùng tiếng La Tinh. Tòa Thánh La Mã và cộng đồng CG nói chung
chỉ bắt đầu ngưng dùng La Tinh vào giữa thập niên 1960, tuy nhiên một số địa
phương vẫn còn đọc kinh bằng La Tinh.
[9] Các từ chỉ thị (deixis) có những
trục quy chiếu như thời gian, không gian, con người… Trong các ngôn ngữ Á
Đông, từ chỉ thị ngôi thứ xã hội (social deixis) phát triển cao độ.
[10] LM de Rhodes gọi các đại từ này
là đại từ cơ bản (Primitivorum Prominum, mượn trực tiếp từ ngữ pháp La Tinh), ảnh
hưởng đến ngữ pháp Anh/Pháp à Cách dịch sau này là primitive/personal pronoun
(A) hay pronom personnel (P), ít thấy dùng cụm từ primitive pronoun.
[11] Trong 35 giáo sĩ dự cuộc họp để
bàn về mô thức rửa tội bằng tiếng Đông Kinh thì có 31 phiếu thuận, 2 phiếu trắng
và 2 phiếu chống từ LM de Rhodes và Metellus Saccanus.
[12] spirito santo là Thánh Thần (tiếng
Bồ Đào Nha), thuở ban đầu tiếng Việt dùng trực tiếp các từ khó dịch/hiểu như
spito santo, limbo (L/Bồ - lâm bô), cu/câu rút (cây thánh giá, crux) v.v…
[13] Nô bộc/đầy tớ tiếng Khme cổ
là តួ /tuə/, gần giống với
âm tui (tôi) tiếng Việt - តួ /tuə/ bây giờ có nghĩa thân (người,
xe, nền móng…), mẫu tự v.v…
[14] So với thối thúi, tôi tui…
(Béhaine/Taberd), có thể đây là một dạng biến âm ở Đàng Trong vào thời VBL (giọng
Quảng Nam) mà Nam Bộ vẫn còn bảo lưu. Để ý rằng khi LM Cristoforo Borri đến
Đàng Trong từ năm 1621, ông từng ký âm Tui ciam biet (Tôi chẳng biết).
Một số phương ngữ Mường vần còn dùng dạng tui: 4 trong 30 phương ngữ tiếng Mường/Nguyễn
Văn Tài (1982).
[16] VBL ghi là tôi tá (trang
711), đầy tớ (trang 214, 818). LM Maiorica cũng dùng tôi tá nhiều
lần (“Các Thánh Truyện”…). Từ thời Béhaine (1772/1773), Taberd (1838) bắt đầu
ghi thêm dạng tôi tớ (cùng nghĩa với tôi tá).
[17] Trong các tài liệu chữ Nôm cùng
thời đại của LM Maiorica như “Các thánh truyện”, cách dùng min mở rộng hơn so với
định nghĩa của LM de Rhodes trong VBL. Các vị vua, thánh hay đức Chúa Giê Su đều
có lúc dung đại từ min. Phạm trù nghĩa và cách dùng tương ứng này có phải tùy
thuộc vào địa phương (Đàng Ngoài/ Đàng Trong) và ảnh hưởng của tập đoàn cai trị
đương thời, một vấn đề cần được tìm hiểu sâu xa hơn.
[18] va có khả năng liên hệ với tiếng
Khme វា vie (nguyên âm a khi nhập vào tiếng Khme thường trở
thành iê), nghĩa là nó/hắn/cô ấy/chúng nó với hàm ý không tôn trọng. Điều này
còn thấy trong cách dùng “dùi va” (đánh nó, VBL trang 853).
[19] VBL (trang 551) cũng ghi nhĩ chỉ
mày/ mi/ anh (số ít và nhiều), tương ứng với nhĩ 伱
爾… Qua và nhĩ là là các dạng khẩu ngữ bình
dân như kiểu nói ngọ nị (ngã nhĩ ~ tao mày) trong tiếng Việt hiện đại.
Cố Đại Tướng Dương Văn Minh (gốc Vĩnh Long) vẫn thường dùng qua trong
các cuộc nói chuyện thân mật với bạn bè.
[20] bậu là bạn (socius/L. VBL
trang 30), tới thời Béhaine (1772/1773) và Taberd (1838) có nghĩa là mày/anh/em
hay đại từ nhân xưng ngôi thứ hai. Cũng như cách nói qua, bậu đã theo
đà Nam Tiến để lại nhiều dấu ấn trong văn học Nam Bộ. Tiếng Tày Nùng dùng pậu để
chỉ tôi, người ta, họ, bạn. Tiếng Thái ผู้พู่ pôo chỉ người, dùng làm loại từ
(classifier) rất phổ thông. Bậu chữ Nôm dùng chữ bạo 暴 (còn đọc là *bo - bổ cố thiết 蒲故切) hay bộ
部 (còn đọc là phầu 否), gần với
âm ผู้พู่ pôo tiếng Thái hiên đại. Quốc Âm Thi
Tập ghi “Trong mặt những mừng ơn bậu bạn”, “Mấy đứa ngư tiều bậu bạn
thân”, “Ngàn hàng cam quýt con đòi cũ, Mấy đứa ngư tiều: bậu bạn thân” v.v…
[21] VBL còn ghi nhiều dạng âm cổ mà
bây giờ tiếng Việt không còn dùng nữa như: mựa (vô 無), đam- đem (đam/đảm 擔), khứng (khẳng
肯), cả - giá (giá 價), kem (giam/giám
監), khem (khâm 欽), min (dân
民 > đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất) v.v…
[22] Trẫm 朕 là đại từ
ngôi thứ nhất, từ thời Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) thì chỉ có vua mới dùng từ
này. Trước thời Tần Thủy Hoàng thì dùng Cô 孤 hay Quả
Nhân 寡人. Thí dụ: Cửu trùng nay đã gần
gang thước, giãi thực niềm đan trẫm được hay (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập);
Trẫm cùng Cảnh nghĩa chị em, trẫm cho thay mặt ra xem việc triều (TNNL) v.v…
[23] Khác với ý kiến một số học giả
trước đây cho rằng chỉ có tiếng Việt mới dùng mình (thân xác) để chỉ cái chủ thể
(so với se/soi-même tiếng Pháp, -self tiếng Anh) như LM Cadière, GS Trần
Văn Toàn… Trong 63 ngôn ngữ có tài liệu về ngữ căn, 47 ngôn ngữ dùng bộ phận
thân thể (mình, đầu, tim …) cho đại từ phản xưng (reflexive pronoun), xem chi
tiết trang http://wals.info/
[24] Đại từ nhân xưng La Tinh và các
ngôn ngữ Ấn Âu thường là đơn âm và viết hoa, phản ánh một tư duy phân tích
(analytical thinking) chú trọng và đề cao cá nhân trong xã hội, do đó phạm trù
nghĩa đại từ nhân xưng trong ngôn ngữ Ấn Âu rất hạn hẹp so với ngôn ngữ Á Đông.
Có thể coi tập hợp đại từ nhân xưng họ ngôn ngữ Ấn Âu như một cấu trúc “đóng”,
rất ít khi dùng đến các danh từ chỉ quan hệ trong họ hàng hay ngoài xã hội.
[25] Có những cách dùng tùy thuộc
vào địa phương như chúng ông (miền Bắc) so với bọn ông (miền
Nam). Chúng sau này còn dùng làm đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số nhiều,
chỉ họ/ người ta.
[26] Cũng như mỗ (tôi), qua (tôi,
ta) thường xuất hiện trong ca dao tục ngữ và tác phẩm Đàng Trong như Nguyễn
Đình Chiểu (Lục Vân Tiên), Hồ Biểu Chánh…













Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét