Tiếng Việt thời LM de Rhodes
Vài nhận xét về cách dùng
“ăn
chay, ăn kiêng, ăn tạp, khem, cữ”
Phần này bàn về một số cách dùng trong tiếng Việt như “ăn
chay, ăn kiêng, ăn khem” và “ăn tạp” thời các LM Alexandre de Rhodes và
Jeronimo Maiorica sang An Nam truyền đạo. Đây là những ‘cầu nối’ để có thể giải
thích một số cách đọc tiếng Việt hiện đại và cho ta thấy rõ hơn quá trình hình
thành tiếng Việt cũng như sự khác biệt từ góc nhìn tín ngưỡng (Công giáo so với
Phật giáo chẳng hạn).
Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm
của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo
vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển
Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ
điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/
Các chữ viết tắt khác là SSS (Sách Sổ Sang Chép Các Việc),
NCT (Nguyễn Cung Thông), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc
Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ
Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324),
CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297),
LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666),
TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), ĐNQATV (Đại Nam
Quấc Âm Tự Vị), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công
Giáo), VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), HV (Hán Việt), BK (Bắc Kinh), MACC (Mùa
Ăn Chay Cả/LM Maiorica), ĐCGS (Đức Chúa Giê-Su), CTTr (Các Thánh Truyện), TCTM
(Thiên Chúa Thánh Mẫu), LM (Linh Mục).
Trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc
tiện tra cứu thêm. Chủ đề ăn chay cũng khá thời thượng vì các góc độ nhìn và hiểu
hoạt động ăn chay rất khác biệt: từ lý do sức khỏe cá nhân, tu luyện (hãm mình)
cho đến niềm tin từ tôn giáo hay tâm linh (làm cho ta hiền hơn?), từ quyền bình
đẳng của mọi loài sinh vật cho đến tương lai của môi trường và cả thế giới loài
người v.v… Một điểm đáng nhắc ở đây là tuỳ theo mức độ ăn chay (chỉ không ăn
thịt cá/thực phẩm từ động vật) mà tiếng Anh bây giờ có hai danh từ chỉ người/kẻ
ăn chay: vegetarian(végétarien/P, có thể dùng trứng và sữa) và vegan [2] (végétalien/P) - hoàn toàn không
tiêu thụ sản phẩm từ động vật - chế độ ăn chay không chỉ loại trừ thịt thú vật,
mà còn cả sữa, trứng và các thành phần có nguồn gốc động vật như đồ dùng/quần
áo (hàm ý tránh bóc lột các sinh vật). Chúng ta thường gặp sự phân biệt này
trong phần sau, nhưng không phải là trọng tâm của bài này. Bài viết này là một
phần trong loạt bài viết về tiếng Việt vào thời LM de Rhodes, đặc biệt chú trọng
về tương quan ngữ âm HV và Việt hơn là quá trình thay đổi phạm trù nghĩa của
các từ liên hệ. Hi vọng loạt bài viết này sẽ tạo cảm hứng và làm động lực cho
người đọc tìm hiểu sâu xa thêm về ngôn ngữ văn hoá VN, cùng nhiều điều thú vị từ
thuở bình minh của chữ quốc ngữ.
Ăn chay (ieiunium [3]/L VBL trang 6) theo ghi nhận của LM de
Rhodes là kiêng ăn thịt và cá, tuy nhiên có hai điểm đáng chú ý là (a) nhưng vẫn
ăn nhiều lần [4] trong một ngày (VBL trang 93-94) và
(b) nhưng bây giờ chỉ ăn chay theo bổn đạo CG (VBL trang 6). Như vậy, để hiểu
nghĩa ăn chay ta cần biết ăn bao nhiêu (a) (số lượng, hay ăn ít đi/nhịn ăn) và
ăn cái gì (b) (hay không ăn được đồ gì). Đọc điều kiện thứ hai (b), chúng ta thấy
là LM de Rhodes đã nhận ra sự khác biệt giữa vấn đề “ăn chay theo CG” và ăn
chay theo dân bản địa (hay đa phần là PG ở Đàng Ngoài và Đàng Trong). Ngay cả
theo truyền thống PG thì ăn chay có thể hiểu khác nhau: PG Nam Tông (Tiểu thừa
hay Nguyên Thuỷ, Theravada), người xuất gia được phép dùng các thức ăn thịt cá
… do thí chủ cúng dường, gọi là ‘tam tịnh nhục’, nhưng theo truyền thống PG Bắc
Tông (Đại thừa, Mahayana [5]) ở Trung Quốc người xuất gia không được
ăn mặn, cho dù những loại thịt đó là ‘tam tịnh nhục [6]‘. ‘Kinh Jivaka’ (Jivakasuttam) số 55, hay
trong “Kinh Trung Bộ” tập 2 có nhắc đến lời đức Phật giảng về tam tịnh nhục. Mục
đích ăn chay trong PG tóm tắt là tránh sát sinh/gây đau khổ và tôn trọng sự
bình đẳng giữa các loài sinh vật, còn mục đích ăn chay trong CG là hãm mình và
nhớ đến sự thương khó của ĐCGS – xem thêm phụ chú 6. Sự khác biệt được LM de
Rhodes ghi khá rõ là những người thờ tượng thần (~ thờ Phật, PG) ăn kiêng thịt
và cá (VBL trang 829, mục TRAI), và thường mang tính chất mê tín dị đoan như là
mời các thầy phù thuỷ làm chay. VBL trang 93-94 còn ghi tục “nhà chay [7]” là căn nhà (phòng) dành riêng để lương
dân cầu kinh và cúng đồ ăn chay (không có thịt và cá) cho người chết. Điều này
cũng cho thấy LM de Rhodes không hiểu rõ ý nghĩa thật sâu xa của tục ăn chay
theo PG (từ nguyên tắc không bạo động/không gây hại ~ ahimsa - xem
thêm mục 1.4 “Chớ giết”), hay sự quan sát của LM và giải thích của người bản địa
không được đầy đủ vào thời này [8]!
1.1 Âm chay thời VBL là một biến âm của trai HV; VBL
trang 829 ghi “TRAI, CHAY”. Chữ trai 齋 斋 㪰 (thanh mẫu trang 莊 vận mẫu giai 皆 bình thanh, khai khẩu nhị đẳng) có các cách đọc theo phiên
thiết
側皆切 trắc
giai thiết (TVGT, QV, NT, TTTH)
側皆反 trắc
giai phản (LKTG)
傳皆反 truyền
trai phản (CLTT 干祿字書)
莊皆切,債平聲
trang giai thiết, trái bình thanh (TV, VH, LT, CV, TVi, CTT)
津私切,音貲 tân
tư thiết, âm ti (TV, LT, CV)
卽齋縗也。音資 tức
trai thôi dã – âm tư (Triệu Kì chú 趙岐註 – trích KH)
才諧切 tài hài
thiết (LT)
TNAV ghi vận bộ 皆來 giai lai (dương bình)
CV ghi cùng vần/bình thanh 貲
訾 髭
觜 鄑 咨 資 齎
姿 姕 粢 齍 𪗋 齊
齋 澬 䆅 兹 孜
孳 仔
滋 嵫 鼒 鎡 耔
芓 趑
次 劑 (ti tư tê
trai/tư tề tài/tỉ *thứ)
CV cũng ghi thêm vần/bình thanh 齋
齊 (trai trai/tư/tề)
眞而切,音支 chân
nhi thiết, âm chi (TVi, KH), 音支 âm chi (CTT), 支皆切 chi giai thiết (TViB) v.v… Giọng BK bây giờ là
zhāi zī so với giọng Quảng Đông zaai1 zai1 và các giọng Mân Nam 客家话: [沙头角腔] zai1 sai2 [客英字典] zai1
[海陆丰腔] zai1 [陆丰腔] zai1 [宝安腔] zai1 [东莞腔] zai1 [客语拼音字汇] zai1 [梅县腔] sai2 zai1 [台湾四县腔] zai1 潮州话:zê1, giọng Mân Nam/ Đài Loan chai1, tiếng
Nhật sai shi và tiếng Hàn cay.
Một dạng âm cổ phục nguyên của trai là *tʂăi mà tiếng Việt
còn bảo lưu dạng chay [9]. Chữ trai cũng có dạng dựa vào bộ thực
(hàm ý ăn kiêng), nhưng cũng dựa vào bộ tề 齊 hàm ý giữ
cho tâm ngay thẳng (chỉnh tề). Để ý một dạng của trai là 䬩 gồm có chữ phi/bất 不 và chữ thực 食, cho thấy
một nét nghĩa cổ của trai (ăn chay) là (nhịn ăn) so với không ăn các đồ ăn mặn
(bất nhự huân 不茹葷) - xem CTT mục chữ . Trai 齋 là một cách dịch nghĩa của tiếng
Phạn poṣadha पोषध có các nét nghĩa (a) không ăn quá giờ Ngọ - thời đại PG
Nguyên Thuỷ thì ăn trước giờ Ngọ còn gọi là trai thực (“ăn chay”), từ thời PG Đại
thừa thì trai thực đổi thành tố thực từ ý muốn không sát sinh (b) ăn chay
(không ăn thịt) vào ngày rằm mỗi tháng. Để ý tiếng Trung (Hoa) chỉ người/kẻ ăn
chay là 素食者 tố thực giả, nhà hàng (bán đồ) chay
là tố thực xan quán 素食餐館 (không thấy dùng chữ trai/chay).
Ngoài ra liên hệ giữa trai (~ chay) và kính (kinh ~ kiêng) từng được Quảng Nhã
ghi: 齋,敬也 trai, kính/kinh dã. Ăn chay theo CG
là đầu tiên là tự nguyện, sau đó thành luật: việc ăn chay được ấn định cho suốt
Mùa Chay (Mùa Chay Cả [10] - Quadragesima/L). Từ thế kỷ V đến
thế kỷ IX, ngoại trừ ngày Chúa Nhật, mùa này chỉ được dùng một bữa ăn, thường
là bữa tối. Không được có thịt, cá trong bữa ăn và có nơi còn cấm cả trứng cũng
như các sản phẩm từ sữa… Đầu thế kỷ X, bữa này chuyển về buổi trưa. Khoảng thế
kỷ XIV, buổi tối có thể dùng một bữa ăn nhẹ. Đến thời Trung Cổ thì bãi bỏ luật
cấm ăn cá [11] và các sản phẩm từ sữa như bơ, phó
mát: một phần có lẽ từ áp lực các doanh thương về hải sản sẽ bị thua lỗ nếu cấm
tiêu thụ.
1.2 Các bản Nôm của LM Maiorica có lúc kí âm ieiunium (L,
ăn chay) là *chi *chung 支終: “khi bay ăn chay *chi *chung chớ ở
khó mặt” MACC trang 11, “Sau cấm chẳng cho bổn đạo *chi *chung ngày lễ cả” CTTr
trang 65 - để ý cách dùng lặp lại nghĩa ở câu trên. Cách dùng lặp lại nghĩa bằng
tiếng bản địa sau kí âm thường gặp trong giai đoạn giao lưu văn hoá ngôn ngữ
ban đầu: như Chúa dêu (Deus/L), chịu phúc mát-tê-ri là tử vì đạo lành (CTTr
tháng tám trang 150)… Cách kí âm *chi-chung phản ánh ảnh hưởng của tiếng Bồ-Đào-Nha jejum /ʒɨ.ˈʒũ/
rõ nét so với tiếng La Tinh ieiunium, tiếng Tây-Ban-Nha ayuno, tiếng Ý digiuno v.v… Để ý nghĩa của ieiunium là nhịn ăn (nhịn đói) so với nghĩa ăn chay ghi nhận
trong VBL, liên hệ đến nét nghĩa (a) của ăn chay trong phần 1 bên trên (số lần
ăn trong một ngày). Một điều đáng chú ý là bữa ăn sáng hay trưa tiếng Pháp
là déjeuner: tiền tố dé - hàm ý cắt/ngưng và jeuner có
gốc La Tinh jejunare nghĩa là ăn chay/nhịn ăn, cũng giống như nguồn gốc chữ
breakfast [12]/A. Bữa ăn trưa hay tối tiếng Anh
là dinner (tiếng Úc làtea [13]) hay tiếng Pháp dîner đều có
cùng gốc như déjeuner.
Chay còn được dùng làm động từ trong cách dùng “chay lòng [14]” nghĩa là giữ lòng trong sạch, giảm
bữa ăn (ĐNQATV trang 115); td. câu 2734 của truyện Kiều - trích từ
trang http://www.nomfoundation.org/
Câu
|
Bản
|
Bản Văn
|
2734
|
Kiều 1866
|
Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng. |
2734
|
Kiều 1870
|
𩙍𦝄𠖾㙁𦯬齋𢚸
Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng. |
2734
|
Kiều 1871
|
𦝄沫㙁𦯬斎𢚸
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng. |
2734
|
Kiều 1872
|
𫗄𦝄沫㙁𦯬斎𢚸
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng. |
2734
|
Kiều 1902
|
𫗄𦝄沫𩈘𪉥荼齋𢚸
Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng |
“Lòng chay [15]” có nghĩa là tâm trong sạch: ”Trước sau
giữ một lòng chay” trong Dương Từ Hà Mậu của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888). Vậy
là cho tới thời đại Nguyễn Du, chay vẫn còn giữ nét nghĩa cổ (của trai) là giữ
tâm cho trong sạch, ngăn tham dục - chứ không chỉ ăn chay bề ngoài mà thôi. Đây
cũng là hàm ý của thành ngữ “Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối”. Trong cuốn
sách Nôm “Mùa Ăn Chay Cả” quyển chi nhị, LM Maiorica cũng từng nhắn nhủ người
theo CG rằng:”Khi bay ăn chay giê-giung chớ ở khó mặt bắt chước kẻ binh bãi [16] làm chi, vì chưng nó giả mặt võ
vàng xanh xao cho người được biết nó ăn chay… Ý lời này là chớ muốn người ta
khen, có một ý là đẹp lòng ĐCT mà chớ.” trang 11.
1.4 “Chớ giết”
LM de Rhodes ghi “Chớ giêt” (ne occidas/L) trong VBL trang
110, nhưng ở mục giết ông lại ghi “chớ giết người” (non occides [17]/L - VBL trang 284). Có nhiều lý do khiến
LM de Rhodes phải thêm chữ người trong cách dịch “chớ giết”. PGTN
trang 297-298 ghi rõ thêm:”Giái (giới/ NCT) thứ năm, chớ giết, mà chẳng có cấm
giết muâng (muông/ NCT) chim, vì chưng ĐCT hoá ra loài khác sống, cùng sự khác
có xác vì người ta, mà cho người ta dùng loài muâng chim khi có việc: vì vậy giết
loài ất chẳng có tội gì… Giết người là tội cực trọng”. Ngay cả giết người
trong chiến tranh hay theo đúng luật lệ nhà nước (hay vua chúa) cũng là ngoại lệ:”Song
le giới này chẳng có cấm vua Chúa (Chúa viết hoa trong PGTN - NCT) có phép sửa
kẻ có lỗi mà phạt bằng tội nó… cho đến giết nó, và cho kẻo tội nó càng lâu càng
nhiều, và khi phạt nó, kẻ khác thì dái phạm tội mà khốn vậy (ý là giết kẻ phạm
tội để làm cho kẻ khác sợ không dám phạm các tội đó nữa/NCT)”. LM Maiorica cũng
giải thích giống như LM de Rhodes về điều răn thứ năm:”Điều này cấm chẳng cho
giết người, vì chẳng có cấm giết muông chim, vì chưng nó là của ĐCT sinh ra cho
người ta ăn… Những quan giết kẻ có lỗi… giết kẻ gian cho kẻ ngay được ở bàng
an… cho nên khi quan giết ai làm vậy thì có phúc về công bằng chẳng phải tội
đâu” TCTGKM trang 147-148. Đa số người dân ở Đàng Trong và Ngoài vào thời VBL
là theo PG, do đó có nhu cầu rất cần thiết để giải thích sự khác biệt giữa CG
và PG về điều răn cốt lõi “chớ giết”. Các LM phải giải thích chi tiết vì điều
răn thứ năm cũng chính là một điều răn căn bản trong Ngũ Giới五戒(tiếng Phạn: पञ्चशीलानि pañca-śīlāni) của PG, tuy có khác CG
là không giết [18] bất kì một sinh vật nào!
Ăn kiêng là kiêng (tránh không ăn/uống) món nào đó trong bữa
ăn. VBL ghi kiêng thịt là abstinere à carnibus, kiêng rượu là abstinere
à vino (trang 380). LM de Rhodes ghi mục ăn kiêng ngay dưới mục ăn chay và
ăn tạp cho thấy có sự khác biệt cần phải chép xuống. VBL cũng ghi chữ kính (td.
thảo kính cha mẹ, kính mến ĐCT…), tuy nhiên kính và kiêng có
tương quan ngữ âm. Từ tâm lý kính sợ dẫn đến sự tránh né, không dám đụng chạm đến:
kính/kinh > kiêng - kết quả này không làm cho ta ngạc nhiên cũng như tương
quan giữa khâm và khem ở phần sau (mục 4). Chữ kính/kinh 敬 (thanh mẫu kiến 見 vận mẫu canh 庚 khứ/bình thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo
phiên thiết
居慶切,音竟 cư
khánh thiết, âm cánh (TVGT, QV, TV, NT, LT, VH, TTTH, LTCN 六書正𨫠) - để ý nét nghĩa cảnh 警 theo Thích Văn (釋名).
TNAV ghi vận bộ 庚青 canh thanh (khứ thanh)
CV ghi cùng vần/khứ thanh 敬
竟 鏡
獍 (kính cánh)
居卿切, 音京 cư khanh thiết, âm kinh (VB, TVi, KH) - để ý (dạng)
bình thanh kinh đã hiện diện ít nhất từ thế kỉ XVII v.v… Giọng BK bây giờ là
jìng so với giọng Quảng Đông ging và các giọng Mân Nam 客家话: [沙头角腔] gin5 [梅县腔] gin5 [陆丰腔] gin5 [客英字典] gin5 [海陆丰腔] gin5 [东莞腔] gin5 [宝安腔] gin5 [客语拼音字汇] gin4 [台湾四县腔] gin5, giọng Mân Nam/Đài Loan keng,
tiếng Nhật là kei kyou và tiếng Hàn kyeng. Một dạng âm cổ phục nguyên của kính/kinh là
*kiəŋ so với dạng kiêng còn bảo lưu trong tiếng Việt. So sánh tương
quan kính/kinh và kiêng với tỉnh 井 ~ giếng, tỉnh 井 ~ giềng (láng giềng), thinh ~ tiếng, tinh 精 ~ siêng, tinh 精 ~ thiêng, lánh (lìng BK) ~ riêng, chính
~ chiếng (tứ chiếng), kính 鏡 ~ kiếng, cảnh/cành 頸 ~ kiềng, trình 呈 ~ chiềng, chinh 鉦 ~ chiêng, chinh/chính 正 ~ giêng, đình
停 (dừng) ~ điếng (chết điếng), cương 綱 ~ giềng/giường mối
Ăn tạp
Ăn tạp là ăn thịt, ngày ăn tạp là ngày được ăn thịt (VBL
trang 6, 725-726). Tạp HV nghĩa là lộn xộn, hỗn hợp, không thuần…Ăn tạp [19] là ăn thịt, cá, trứng tương phản với
ăn chay (thành ngữ: đầu chay đầu tạp). Ở tạp là ở bẩn thiểu, dơ cùng
một nghĩa. Tạp tương ứng với tạp [20] HV 雜 (thanh mẫu
tùng 從 vận mẫu hợp/hạp 合 nhập thanh, khai khẩu nhất đảng) có các cách đọc theo phiên
thiết
徂合切 tồ hợp/hạp
thiết (TVGT, QV, TTTH) - để ý QV ghi một nét nghĩa của tạp là 集也 tập dã
徂沓切 tồ đạp
thiết (NT, TTTH)
昨合切 tạc hợp
thiết (TV, LT, VH)
七盍切 thất hạp
thiết (TV, LT)
七合切 thất hợp/hạp
thiết (TV, VH, CV, TVi)
七合反 thất hợp
phản (ThVn 釋文)
昨答切 tạc đáp
thiết (CV, TVi, CTT) – TVi/CTT ghi thêm cách đọc 蠶入聲 tàm nhập
thanh
秦入切, 音疾 tần nhập thiết, âm tật (TVi) v.v…
Giọng BK bây giờ là zá so với giọng Quảng Đông zaap6 zaap2 và
các giọng Mân Nam 客家话: [沙头角腔] cap8 [客语拼音字汇] cab6 [海陆丰腔] cap8 [陆丰腔] cap8 [台湾四县腔] cap8 [宝安腔] cap8 [东莞腔] cap8 [梅县腔] cap8 [客英字典] cap8, giọng Mân Nam/ Đài Loan chap8,
tiếng Nhật zatsu zou và tiếng Hàn cap.
Ăn tạp bây giờ mang nét nghĩa hơi khác hơn so với thời VBL:
ăn đủ loại thức ăn khác nhau, từ thức ăn động vật đến thực vật: thí dụ như loài
người, loài chó, lợn …
Ăn khem
Khem là kiêng (cùng một nghĩa/VBL trang 365): “ăn khem, ăn
khem thịt” (ăn kiêng thịt/NCT) là các cách dùng trong VBL trang 365. Khem có một
dạng chữ Nôm dùng chữ kiêm HV 兼 làm thanh phù, hợp với bộ mộc 槏, bộ khẩu 嗛 hay bộ ngôn 謙… Khem có thể liên hệ đến
khâm HV 欽, như trong cách dùng khâm kinh 欽敬 (kính/kinh sợ > kiêng cữ) cho ra dạng kiêng khem trong
tiếng Việt. Học giả Lục Vân 陸雲(262-303) thời Tây Tấn từng dùng cụm
động từ khâm kính/kinh như 高譽洋溢,洛邑之內,無不欽敬 cao dự dương dật,lạc ấp chi
nội, vô bất khâm kính (trong Dữ Lục Điển Thư), hay trong Tam Quốc Diễn
Nghĩa (Đệ tam hồi) v.v…
Chữ khâm 欽 (thanh mẫu khê 溪 vận mẫu xâm 侵 bình thanh, khai khẩu tam đẳng) có các
cách đọc theo phiên thiết
去金切 khứ kim
thiết (TVGT, QV, NT, TTTH) - QV/NT/TTTH ghi nghĩa của khâm là kính/kinh dã 敬也
去金反 khứ kim
phản (NTLQ 玉篇零卷)
祛音切,音衾 khư âm
thiết, âm khâm (TV, LT, VH, CV)
魚音切,音唫 ngư âm
thiết, âm cấm (TV, LT) - cấm là ngậm
TNAV ghi vận bộ 侵尋 xâm tầm (dương bình)
CV ghi cùng vần/bình thanh 欽
衾 嶔
顉 (khâm)
驅音切 khu âm
thiết (CV, TVi) TVi ghi thêm âm khâm 音衾
渠京切,音卿 cừ
kinh thiết, âm khanh (CTT) - thời CTT (1670) các phụ âm cuối -nh và -m đã nhập
thành một âm -n v.v…
Giọng BK bây giờ là qīn so với giọng Quảng Đông jam1 và các
giọng Mân Nam 客家话: [梅县腔] kim1 [宝安腔] kim1 [客语拼音字汇] kim1 [陆丰腔] kim1 [客英字典] kim1 [台湾四县腔] kim1 [东莞腔] kim1 [海陆丰腔] kim1, giọng Mân Nam/Đài Loan khim1,
tiếng Nhật kin kon và tiếng Hàn hum. Một dạng âm cổ phục nguyên của khâm là
*kʰiem, rất gần với dạng khem vào thời VBL. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772-1822)
cũng dùng động từ khem như “Ai về nhắn nhủ đàn em nhé. Xấu máu thì khem miếng đỉnh
chung”. Sau thời VBL, Béhaine (1772/1773) và Taberd (1838) đã ghi thêm nét
nghĩa khem [21] (bộ mộc) là cây sào cắm trước nhà
có đàn bà đẻ. Bây giờ thì không thấy ai dùng từ khem nữa, cũng như một số âm cổ
từng hiện diện vào thời VBL: mựa (vô 無), đam - đem (đam/đảm 擔), khứng (khẳng 肯), cả - giá (giá 價), kem (giam/giám 監), khem (khâm 欽), min (dân 民 > đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất) v.v…
Cữ
VBL trang 137 ghi “nằm cữ” là tránh giao thiệp vì sắp sinh. Cữ
chữ Nôm thường dùng cử HV 擧 hay dạng viết giản lược, và có khi dùng
thanh phù cự HV 巨: đây là kết quả của khuynh hướng bảo
lưu âm cổ hơn với nguyên âm mở rộng so với nguyên âm nhỏ/trước i như kì 奇 ~ cơ, kì 旂 ~ cờ, kí 記 ~ nhớ…
Do đó, cữ có khả năng liên hệ đến kị HV. Chữ kị 忌 (thanh mẫu
quần 羣 vận mẫu chi 之 khứ
thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết
渠記切 cừ kí
thiết (TVGT, ĐV, QV, TV, NT, LT, VH, TTTH, TG 字鑑) - để ý
QV ghi 忌諱也 kị huý dã và 敬也 kính/kinh dã – so sánh nét nghĩa này của kỵ (~ cữ) với
kính/ kinh (~ kiêng), khâm (~ khem) và trai (chay).
巨記反 cự kí
phản (NKVT 五經文字)
居利切 cư lợi
thiết (TV)
居吏切 cư lại
thiết (LT)
巨己切,音芑 cự kỉ
thiết, âm khỉ (TV, LT, NATV 五音集韻)
TNAV ghi vận bộ 齊微 tề vi (khứ thanh)
CV ghi cùng vần/khứ thanh 芰
騎 䗁 伎 技 妓
忌 偈
嵑 臮 暨 𡏲 蔇
垍 綦 諅 誋 惎 㥍 (kị kĩ kệ).
CV cũng ghi cùng vần/khứ thanh 寄 徛 冀 兾 覬
懻 洎 溉 既 穊 覬
𩦸 季
記 其
忌 己
禨 璣
暨 刏 幾
猘 狾
罽 𦇧 瀱 (ký quý kế)
奇寄切,音惎 kì kí
thiết, âm kị (CV, TVi) - TVi/CTT còn ghi thêm cách đọc khác là âm kĩ 音技 (so với âm cữ tiếng Việt/NCT).
奇上聲 kì/cơ
thượng thanh (TViB) v.v… Giọng BK bây giờ là jì so với giọng Quảng Đông gei6
gei2 và các giọng Mân Nam 客家话: [海陆丰腔] ki6 [客英字典] ki3 ki5 [宝安腔] ki3 [梅县腔] ki3 [沙头角腔] ki3 [客语拼音字汇] gi4 ki4 [陆丰腔] ki6 [东莞腔] gi5 [台湾四县腔] ki5 潮州话:gi6 (kĭ) ki7 (khī), giọng Mân Nam/Đài Loan ki7, tiếng Nhật và tiếng Hàn
ki. Một dạng âm cổ phục nguyên của kỵ [22] là *ɡiə, cho ra dạng kị HV
và cữ, cũng như xát hoá để cho ra dạng giỗ (và có thể *ɡiə >
giới [23] HV 戒).
5.1 Kỵ ~ cữ > giỗ
Ngoài nét nghĩa kính sợ (> cữ, kiêng cữ), kỵ còn một nghĩa
cổ là ngày hay lễ cúng ngày đấng cha mẹ/người thân đã qua đời: do đó kỵ còn
liên hệ đến âm giỗ tiếng Việt. Cả hai dạng cữ và giỗ đều hiện diện trong VBL - không thấy dạng kị (so với kỳ và ký đều được LM de Rhodes ghi lại trong VBL).
Khuynh hướng xát hoá của phụ âm đầu k- để cho ra phụ âm gi- vẫn còn vết tích
vào thời VBL qua cách dùng khảo cả ~ khảo giá (taxare pretium/L - VBL
trang 363) là xem xét giá cả cả: đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy cả là âm cổ
hơn của giá, cũng như các ghi nhận trong VBL trang 85 cang la ~ giang la…
Khảo ứng với khảo HV 考, và giá ứng với giá [24] HV 價 mà một dạng
âm cổ phục nguyên là *ka. Đây là vết tích của âm cổ của giá chính là cả mà
VBL đã ghi nhận chính xác. Các tổ hợp như giá cả, mà cả (> mặc cả)
đều cho thấy âm cổ hơn cả đứng ở sau (cấu trúc chính trước phụ sau).
Tương quan phụ âm đầu k-gi còn thấy khi so sánh các từ HV như
gian 閒 hay 間 - căn
giam 監 - khám
giảm 減 - kém
giáp 夾 - gắp, cắp, cặp, kẹp
giái - giới 介 - cõi
giải 解 - cải, cởi, cổi, gỡ…
giải 蟹 - cua
giới 疥 - ghẻ (bệnh)
giới 戒 - cai (cai nghiện)
giái - giới 芥 - cải (rau)
giái (giới) 薤 - kiệu (rau)
giác, giốc 角 - gạc (sừng nai), góc, cắc (bạc cắc)
giác 覺 - cóc, cốc (biết, hiểu)
gia 茄 - cà
giả 赭 - ké (màu đỏ) vết tích còn trong cách
dùng đỏ ké
giả 者 - kẻ (người ấy)
giỗ < kị 忌 cữ v.v…
Tóm lại, đọc kỹ VBL cho ta thấy các cách dùng ăn tạp, ăn
chay, khem/kiêng/cữ đã hiện diện vào thời này. Tài liệu như VBL hay các bản Nôm
của LM Maiorica còn cho ta nhận ra sự khác biệt giữa tục lệ ăn chay theo CG so
với PG, thay đổi tuỳ theo tín ngưỡng/tôn giáo [25] theo dòng thời gian. Ăn chay (theo
PG) đã thấm nhuần vào phong tục dân gian, phản ánh trong tục ma chay [26] (td. “nhà chay”) vào thời VBL, rất
khác biệt với tục lệ ăn chay theo CG. Ngoài ra, VBL/PGTN còn cho ta nhiều bằng
chứng/dữ kiện và cơ sở vững chắc để nêu lên các liên hệ tr- và ch- (trai chay),
k- và gi- (cữ giỗ, cả giá) - dựa vào con chữ La Tinh vì gần với âm đọc
tiếng Việt và chính xác hơn, cũng như bổ túc cho các so sánh ngữ âm khi dùng chữ
Nôm.
Tài liệu tham khảo chính:
1) Pigneau de Béhaine (1772/1773)- Bá Đa Lộc Bỉ
Nhu “Dictionarium Annamitico-Latinum” Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc
Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM - 1999). (1774/Quảng Đông - Địa phận Đàng Trong tái bản năm 1837) “Thánh Giáo Yếu Lý Quốc
Ngữ” 聖教要理國語 viết bằng chữ Nôm theo dạng Hỏi-Thưa.
Y Doãn Ninh/Lê Bảo Tịnh phiên âm và chú giải, La Vang Tùng Thư xuất bản (Mỹ).
2) Phillipe Bỉnh (1822) “Sách Sổ Sang Chép Các Việc” NXB Viện
Đại Học Đà Lạt, 1968. (khoảng 1794-1802) “Nhật Trình Kim Thư Khất Chính Chúa Giáo” - xem bài viết
trên mạng như https://www.scribd.com/
3) Huỳnh Tịnh Của (1895-1896) “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị” Tome I,
II- Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d’Adran (SaiGon).
4) J. F. M. Génibrel (1898) “Dictionnaire annamite français”
Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon). (1906) “Petit dictionnaire annamite français” Imprimerie de la Mission à Tân Định
(SaiGon).
5) Nguyễn Quang Hồng (2015) “Tự điển chữ Nôm dẫn giải” Tập 1
và 2 - NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (Hà Nội).
6) Nguyễn Hữu Hiệp (2014) “Quan niệm ăn chay của đồng bào đạo
giáo Nam bộ” - có thể đọc toàn bài trên trang này http://danviet.vn/
7) Nguyễn Hồng (1959) “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam - Quyển
1 - Các Thừa Sai dòng Tên 1615 - 1665” NXB Hiện Tại (Sài Gòn).
8) Trương Vĩnh Ký J.B.P. (1884, 1920) “Petit dictionnaire
francais annamite” Imprimerie de l’union Nguyễn Văn Của (SAIGON)
9) Vương Lộc (2002) “Từ điển từ cổ” NXB Đà Nẵng - Trung Tâm Từ
Điển Học (Hà Nội).
10) Giêrônimô/Jeronimo Maiorica (thế kỉ XVII) “Mùa Ăn Chay Cả”,
“Thiên Chúa Thánh Mẫu - Quyển thượng”, “Thiên Chúa Thánh Mẫu- Quyển trung”, “Đức
Chúa Giê-Su - Quyển chi cửu & Quyển chi thập”, “Thiên Chúa Thánh Giáo Hối Tội
Kinh”, “Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông”, “Kinh Những Ngày Lễ Phục Sinh - Quyển
thứ ba”, “Các Thánh Truyện”. Sách lưu hành nội bộ (năm xuất bản 2002/2003 - LM
Nguyễn Hưng).
11) Alexandre de Rhodes (1651) “Phép Giảng Tám Ngày” - Tủ
Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 - Sài Gòn) với phần giới thiệu
của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên. (1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ
điển Việt Bồ La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính - NXB
KHXH, TPhố HCM (1991). “Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing,
Escondido (California/ Mỹ, 1994?). “Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646” dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên - Tủ sách Đại Kết, Tphố HCM (1994).
12) Nguyễn Ngọc San/ Đinh Văn Thiện (2001) “Từ điển từ Việt cổ”
NXB Văn Hóa Thông Tin (Hà Nội).
13) Jean Louis Taberd (1838) - tên Việt là cố Từ - “Dictionarium Annamitico-Latinum” Serampore (Bengale).
14) Nguyễn Cung Thông (2016) “Cách nói xuống thuyền, trên trời,
ra đời, Đàng Trong/ Ngoài… thời LM Alexandre de Rhodes (phần 1)” có thể xem
toàn bài trang này http://chimvie3.free.fr/ (2016) “Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min… Tiếng Việt thời LM de Rhodes” - có thể xem toàn bài trang này http://chimvie3.free.fr/ (2018) “Tiếng Việt thời LM de Rhodes - vài nhận xét về tên gọi và cách đọc (phần
11)” – có thể xem toàn bài trang này http://www.vanchuongviet.org/ (2018)
“Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes - Kinh Lạy Cha (phần 5A)” có thể xem toàn bài
trên trang https://nghiencuulichsu.com/ hay https://www.facebook.com/(2018) “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes - Kinh Lạy Cha (phần 5B)” có thể xem
toàn bài trên https://vandoanviet.blogspot.com/
15) Stêphanô Huỳnh Trụ (2012) “Giữ chay và ăn chay” và bài viết
“Chay tịnh hay trai tịnh?” – có thể đọc toàn bài trên trang này chẳng hạn http://tgpsaigon.net/.
[1] Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở
Melbourne (Úc)- email nguyencungthong@yahoo.com
[2] Vegan là danh từ do Donald
Watson chế ra vào năm 1944, một nhà hoạt động bảo vệ quyền lợi của loài vật.
Vegan gồm có danh từ vegetarian và hậu tố -an, đầu tiên (1944) chỉ người ăn
chay (không ăn thịt cá và bơ sữa) nhưng sau đó (1951) mở rộng nghĩa chỉ cuộc sống
không dùng các sản phẩm thú vật hay không bốc lột các loài sinh vật. Tiếng Việt
có thể dịch vegan là người ăn chay thuần (hay thuần chay, tiếng TQ
là hoàn toàn thái thực 完全菜食 hay tiếng Nhật là tuyệt đối tố
thực 絕對素食) so với vegetarian là người
ăn chay thường.
[3] Ieiunium La Tinh nghĩa là
ăn ít đi (nhịn ăn, fasting/A jeûne/P), Mùa Chay Cả (Lent/A), nhịn đói
(hunger/A).
[5] Thật ra, PG Đại thừa ở Tây Tạng
và Nhật Bản không tuyệt đối cấm ăn thịt, cũng như các nhà sư Khme (theo Tiểu thừa)
được ăn thịt trước giờ Ngọ.
[6] Các tài liệu PG Trung Hoa ghi lại
chuyện Vua Lương Võ Đế (502- 536) đã chính thức ra sắc lệnh bắt buộc tăng ni
phải ăn chay nếu không sẽ bị trị tội. Tam tịnh nhục 三淨肉 chỉ:
a) những loại thịt nào mà mình không thấy người ta giết để làm ra thịt (cho ta ăn)
b) không nghe tiếng kêu la của loài thú bị giết
c) không có sự nghi ngờ nào người khác vì mình mà giết để làm ra thịt (cho ta ăn). Ngũ tịnh nhục 五淨肉 thêm hai loại thịt
d) thịt con thú tự chết
e) thịt con thú khác ăn còn dư (kinh Lăng Nghiêm). Đức Phật Tổ không phải là người ăn chay (vegetarian), và ngài cũng không dạy đệ tử (Phật tử) bắt buộc phải ăn chay.
Xem thêm chi tiết trong các bài viết liên hệ như của HT Thích Thiện Hoa trang này chẳng hạn http://www.buddhismtoday.com/ hay trang https://zh.wikipedia.org/
a) những loại thịt nào mà mình không thấy người ta giết để làm ra thịt (cho ta ăn)
b) không nghe tiếng kêu la của loài thú bị giết
c) không có sự nghi ngờ nào người khác vì mình mà giết để làm ra thịt (cho ta ăn). Ngũ tịnh nhục 五淨肉 thêm hai loại thịt
d) thịt con thú tự chết
e) thịt con thú khác ăn còn dư (kinh Lăng Nghiêm). Đức Phật Tổ không phải là người ăn chay (vegetarian), và ngài cũng không dạy đệ tử (Phật tử) bắt buộc phải ăn chay.
Xem thêm chi tiết trong các bài viết liên hệ như của HT Thích Thiện Hoa trang này chẳng hạn http://www.buddhismtoday.com/ hay trang https://zh.wikipedia.org/
[7] Nhà chay có khả năng liên hệ đến trai
phòng HV 齋房, nơi để tĩnh dưỡng/tu thân hay trai
giới. Thi hào nhà Đường Trầm Thuyên Kì 沈佺期
(656-729) từng viết trong Hạp San Tự Phú 峽山寺賦: “齋房浴堂,渺在雲漢 trai phòng dục Đường, miểu tại vân Hán”. Trai phòng có
ba nét nghĩa: phòng (dùng để cho việc ăn) chay (~ thư trai/thư phòng -
xem chú thích 13), phòng đọc sách, phòng nhà sư ở.
[8] Thật ra các tài liệu về PG bằng
ngôn ngữ Tây phương không có nhiều vào thời này, nhờ vào các công trình “truyền
đạo” và giao lưu tôn giáo như PGTN, VBL cùng các bản báo cáo gởi về Trung Ương
(hay tòa thánh La Mã) nói riêng, và Tây phương nói chung mới bắt đầu biết đến
PG hơn và tìm hiểu cho chính xác hơn cho đến ngày nay. Ngoài ra, ý nguyên thuỷ
bất bạo động/không sát sinh và đem hạnh phúc đến cho mọi sinh vật hầu như đã mất
đi so với nhiều tập tục đầy mê tín dị đoan như đốt vàng mã cho người chết được
dùng (sau khi chết), nguyện cầu ăn chay sau khi thi đậu hay có con trai v.v…
Người ngoài (nhất là các giáo sĩ Tây phương như de Rhodes hay Maiorica) chắc chắn
sẽ nhận thấy ngay điều này, ngay cả cho đến thời buổi hiện tại!
[9] Giọng Nam Bộ đọc chay như chai /ʨaj/
gần với âm cổ hơn. VBL không ghi dạng chai, nhưng ghi hai và hay, cai và cay,
vai (uai) và vay (uay), tai và tay… Cho thấy hai vần -ai và -ay đã
phân biệt rõ vào thời này. Tương quan giữa các phụ âm đầu tr- và ch- của trai
và chai khá rõ nét khi so sánh các cặp trạo chèo, trảm chém, trản chén, trầm
chìm, trà chè, trữ chứa, triều chầu chào, trửu chổi,…
[10] Mùa Ăn Chay Cả (Quadragesima/L,
có gốc La Tinh quadraginta nghĩa là bốn mươi) là mùa ăn chay bốn mươi ngày (gọi
là Lent/A so với Carême/P Quaresima/Ý, Quaresma/Bồ-Đào-Nha đều có gốc tiếng La
Tinh quadraginta). Sau này cũng gọi là Mùa chay cả, Mùa chay, Tuần Chay,
Chay cả. Ăn chay 40 ngày như vậy mang nặng ý nghĩa tâm linh: như là để bắt chước
ĐCGS “ăn chay” và cầu nguyện trong sa mạc (Matthew 4.1-11), cũng như câu chuyện
ông Moses ở trên núi Sinai 40 ngày không ăn uống gì để chuẩn bị nhận Mười Điều
Răn (Exodus 34:28). Về việc giữ chay và kiêng thịt, theo giáo luật 1983 từ Toà
Thánh La Mã đại khái là:
(a) Điều 1251 quy định: “Thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh phải giữ chay và kiêng thịt”
(b) Tuổi giữ chay, theo Giáo Luật điều 1252:” Từ tuổi thành niên cho đến khi bắt đầu 60 tuổi thì phải giữ chay”. Ðiều 97, khoản 1 quy định: “Ai đã đến 18 tuổi trọn là thành niên.”
(c) Tuổi kiêng thịt, theo Giáo Luật điều 1252: “buộc những người từ 14 tuổi trọn”
(d) Điều 1253 còn cho phép “Hội Đồng Giám Mục có thể ấn định rõ ràng hơn những thể thức ăn chay và kiêng thịt, cũng như những hình thức sám hối khác, nhất là những công việc bác ái và những việc đạo đức có thể thay thế toàn phần hay một phần việc kiêng thịt và ăn chay” Xem thêm chi tiết trang http://giaoluatconggiao.com/
(a) Điều 1251 quy định: “Thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh phải giữ chay và kiêng thịt”
(b) Tuổi giữ chay, theo Giáo Luật điều 1252:” Từ tuổi thành niên cho đến khi bắt đầu 60 tuổi thì phải giữ chay”. Ðiều 97, khoản 1 quy định: “Ai đã đến 18 tuổi trọn là thành niên.”
(c) Tuổi kiêng thịt, theo Giáo Luật điều 1252: “buộc những người từ 14 tuổi trọn”
(d) Điều 1253 còn cho phép “Hội Đồng Giám Mục có thể ấn định rõ ràng hơn những thể thức ăn chay và kiêng thịt, cũng như những hình thức sám hối khác, nhất là những công việc bác ái và những việc đạo đức có thể thay thế toàn phần hay một phần việc kiêng thịt và ăn chay” Xem thêm chi tiết trang http://giaoluatconggiao.com/
[11] Có nhiều tranh luận về việc ăn
chay theo CG và hải sản: gồm các thức ăn biển, những loài có tính hàn như: ếch,
trai, sò, ba ba, những loài vừa sống trên bờ vừa ở dưới nước và những loài bò
sát không bị cấm sử dụng thịt của cá so với thịt bò/ gà/ heo…). Xem thêm lời bàn
chi tiết từ trang các giám mục của Hoa Kỳ http://www.usccb.org/
[12] Tiếng Anh break là cắt
hay ngưng, fast là nhịn ăn (ăn “chay”, không ăn từ ban đêm): breakfast là
bữa ăn đầu tiên trong ngày, tiếng Hà-Lan là breekvasten.
[13] Tiếng Anh dinner có gốc
La Tinh: tiền tố dis- (cắt/ngưng) và iēiūnō (ăn “chay”). Tiếng Úc (Anh) tea chỉ
bữa ăn tối (dinner) chỉ xuất hiện gần đây mà thôi, vì danh từ tea (nghĩa
là chè/trà) nhập vào tiếng Anh vào khoảng thế kỉ XVI và XVII. Trước dạng tea (hay
còn viết là V) là dạng cha (hay còn viết là tcha, chia, cia) phản ánh
hai ngôn ngữ nhập là tiếng Bồ-Đào-Nha và tiếng Hà-Lan. Tiếng Anh supper (bữa
ăn tối, bữa ăn tối nhẹ) hay souper/P có thể liên hệ đến soup (canh,
xúp, cháo). Các từ ngoại quốc dinner, tea và supper cho thấy liên hệ của bữa ăn
và thức ăn khá rõ nét.
[14] Danh từ lòng vào thời các LM de
Rhodes và Maiorica dùng trong nhiều chữ ghép như vào lòng, mất lòng,
được lòng, đẹp lòng, phải lòng, khó lòng, cực lòng, mặc lòng, thấy lòng, mở
lòng, giục lòng, xiêu lòng, hết lòng, blở (trở) lòng, cả lòng… Do đó có
khả năng rất cao là cách dùng “chay lòng” đã từng hiện diện vào thời đó.
[15] Lòng chay theo học giả
Béhaine (1772/1773) lại là bụng (ventriculus/L), tuy nhiên Taberd (1838) không
chép lại cách dùng này! Học giả Huỳnh Tịnh Của ghi “lòng chay, lòng không” là
“lòng thanh sạch, bụng đói” (ĐNQATV trang 585). Nghĩa cổ hơn của trai (chay,
thanh tĩnh) còn thấy trong cách dùng thư trai HV 書齋 hay là thư phòng 書房 là nhà/phòng
đọc sách. Thi hào Vương Bột (649-676) từng viết “直當花院裡,書齋望曉開
trực đương hoa viện lí, thư trai vọng hiểu khai”. Để ý Ngọc Thiên (năm 543) ghi
rằng “洗心曰齋tẩy tâm viết trai” (nghĩa đen:
rửa tâm/lòng sạch thì gọi là trai/NCT), còn Tự Vị (1615) ghi lại câu tẩy
tâm viết trai là do học giả Hàn Khương Bá 韓康伯
(332-380) thời Đông Tấn viết.
[16] Binh/bênh bải/bãi là người giả/ lừa
dối (deceptor, fraudator/L – VBL trang 19, 36):”Nó là kẻ có tội cùng là kẻ binh
bãi dối trá người ta” SSS trang 289. Cụm tính từ binh bãi thường dùng ở Đàng
Ngoài (Génibrel trang 39).
[17] Cả hai cách dùng La Tinh này đều
hiện diện trong Kinh Thánh (Vulgate): td. Marcus 10:19 “Praecepta nosti: ne
adulteres, ne occidas, ne fureris, ne falsum testimonium dixeris, ne fraudem
feceris, honora patrem tuum et matrem” tiếng Việt là “Anh đã biết các điều răn:
‘Đừng giết người, đừng ngoại tình, đừng ăn cắp, đừng làm chứng dối, đừng lường
gạt, phải hiếu kính cha mẹ”; so với Exodus 20:13 “Non occides” tiếng Việt là
“Không được giết người” hay trong Luke 18:20, PGTN trang 297 v.v…
[18] Pànàtipàtà veramanì (Phạn) 離殺生 ~ li sát sinh hay 不殺生 ~ bất
sát sinh: tránh xa sát sinh là kết quả của nguyên tắc ahimsa (không
gây tổn hại), cũng dẫn đến việc ăn chay (không ăn thịt cá) và không dùng vũ lực/bất
bạo động - xem thêm chú thích 3 và 4 bên trên.
[19] Ăn tạp (tạp thực 雜食) là ăn thịt, cá, rau cải (đủ thứ, hỗn hợp) còn ăn thịt là nhục
thực 肉食. Ăn tạp còn có nghĩa là ăn dơ (ĐNQATV).
[20] Tạp có một biến âm là chạp như
trong cách dùng chạp phô là tạp hoá 雜貨 đọc theo giọng
Triều Châu/ Quảng Đông - so sánh tạp chạp với liên hệ tụm chụm chùm, têm đệm
chêm, tập tiệp chiệp (Génibrel, trang 736), tác 索 chạc (td.
xỏ chạc vào mũi trâu), tiêu 蕉 chuối, tiên 煎 chiên (rán),
tư 蕉 chiếu, tốt 卒 chốt, tự 字 chữ, tự 寺 chùa… Tạp hóa điếm 雜貨店 là tiệm
tạp hoá hay tiệm chạp phô bán các đồ dùng hàng ngày (lặt vặt).
Đây là các điểm bán lẻ (tiểu thương) rất phổ thông ở miền Nam trước đây.
[21] Cụ Huỳnh Tịnh Của ghi rõ hơn về
tục cắm khem:”cây cắm ra cho biết trong nhà có việc kiêng cữ: ấy là một
cây dài nhỏ, chẻ ra một đầu, giắt một đoạn củi vắn đã có chụm rồi, cắm ra trước
nhà cho biết là nhà có người nằm bếp, đẻ con trai thì trở đầu cháy vào nhà, đẻ
con gái thì đầu cháy lộn ra” ĐNQATV trang 484.
[24] Chữ giá 價 (thanh mẫu kiến 見 vận mẫu ma 麻 khứ
thanh, khai khẩu nhị đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết:古訝切 cổ nhạ thiết (TVGT, ĐV, NT, QV, TTTH) - QV/TV ghi khứ thanh,
居迓切,音駕 cư nhạ thiết, âm giá (TV, LT, VH,
CV), 口下切 khẩu hạ thiết (TV, LT) - TV ghi thêm
thượng thanh, 居亞切 cư á thiết (CV)
TNAV ghi vận bộ 家麻 gia ma (khứ thanh)
居亞切, 音駕 cư á thiết, âm giá (TVi, CTT), 古借用賈。賈音古,轉去聲,義同 cổ tá dụng giá, giá âm cổ, chuyển khứ thanh - nghĩa đồng (KH) v.v… Giọng
BK bây giờ là ià so với giọng Quảng Đông gaa3 và các giọng Mân Nam 客家话: [梅县腔] ga5 (ka5) [海陆丰腔] ga5 [客语拼音字汇] ga4 [宝安腔] ga5 [客英字典] ga5 [陆丰腔] ga5 [沙头角腔] ga5 [台湾四县腔] ga5 [东莞腔] ga5 潮州话:gê3, giọng Mân Nam/Đài Loan ka5, tiếng
Nhật ka ke và tiếng Hàn ke. Một dạng âm cổ phục nguyên của giá là *ka mà tiếng
Việt vẫn còn bảo lưu qua dạng cả - so sánh tương quan gia 茄 - cà, giá/giả 賈 - cổ, giá 嫁 - gả , giả 者 - kẻ, giá 價 - cả v.v…
[25] Ăn chay (fasting/A) có thể
là không ăn không uống, không hút thuốc/ tình dục vào ban ngày (Hồi giáo - tháng
nhịn ăn Ramadan) hay không ăn thịt cá (thịt sinh vật/ Phật giáo) cho đến chỉ
không ăn thịt mà thôi (Công giáo).
[26] Theo phong tục ma chay thì
khi người chết được liệm vào hòm thì có thầy cúng (nhà sư) đọc kinh hộ niệm.
Khi đã chôn cất xong gia đình phải làm lễ thất tuần tính ngày người chết mới tắt
thở. Các con cái chịu tang phải về đầy đủ mặc lại tang phục và cúng cơm cho người
chết, thầy cúng hoặc nhà sư đến tụng niệm, cơm cúng cho người chết đều là những
món chay nhằm cho người chết được nhẹ nhàng hồn vía, sớm siêu thăng miền cực lạc
và có người còn cho rằng cúng chay là để hồn người chết sớm quy y cửa Phật,
nương nhờ cửa Phật mà không về với gia đình. Khi cúng đủ 6 tuần thì đến tuần thứ
7 gọi là lễ chung thất (tứ cửu hay 49 ngày). Khi nói đến đám chay, trừ
nghĩa tổng quát là làm tiệc chay nhưng còn một nghĩa là đám giỗ người chết
(Béhaine, Génibrel, ĐNQATV) v.v… Bản tường thuật “Xứ Đàng Trong năm
1621″ của LM Cristophoro Borri (1583 - 1632) ghi nhận ảnh hưởng rất lớn của
PG qua sự hiện diện của các nhà sư (ông sãi) trong đám ma:”… Thứ nhất họ không
phân biệt hồn người dữ tách rời khỏi thân xác với các thần xấu và gọi tất cả là
tà ma, và cho rằng không những thần xấu mà cả hồn người dữ đều tìm cách làm hại
người sống. Thứ hai là một trong những phần thưởng của hồn người đã sống lành
thánh đó à chuyển từ một thân này tới một thân khác tốt hơn, trọng hơn, như từ
thân xác một người dân thường đến thân xác một đế vương hay quan cao cấp. Thứ
ba là hồn người quá cố cần ăn uống và bồi dưỡng thân xác, do đó đôi khi trong
năm họ có tục dọn cỗ bàn thịnh soạn và long trọng, con cái cúng tế cha mẹ đã
khuất, chồng cúng tế vợ, bạn bè cúng tế người thân thích… Một số ông
sãi đi đến cung điện của quan Trấn Thủ để làm lễ chiêu hồn… Những người
chiêu hồn này vẽ vòng tròn, chăm chú làm lễ cầu ma quỷ bằng dấu hiệu và lời niệm
chú cho đến khi ma quỷ nhập vào xác của một thân nhân nào đó…”- trích từ bản
dịch của Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị, xem trang này chẳng hạn https://nghiencuulichsu.com/.
Trong phần văn khấn/tế của “Thọ Mai Gia Lễ” (NXB Hưng Long, Hà Nội 1952) thường
gặp câu ”Trên linh tọa một tuần chay nhạt, dưới suối vàng cha (mẹ) hãy chứng
tình… Cỗ bàn cúng vái, cũng gọi là chay nhạt, kính dâng tổ tiên…” - điều
này cho thấy ăn chay (lạt/nhạt ~ đám chay) rất phổ thông trong các giỗ vào
những ngày rằm (tháng ba, Đoan Ngọ, tháng bẩy...).











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét