Quá trình tiếp nhận Edgar Allan Poe
1. Mở đầu
1.1. Edgar Allan Poe (1809-1849) là một hiện tượng độc đáo của
Văn học Mỹ thế kỷ XIX. Tuy chưa được chính thức đưa vào chương trình
giảng dạy các cấp, không có những ánh hào quang rực rỡ bao phủ cuộc đời và
sáng tác của ông như một số tác giả cùng thời, nhưng Poe được đánh giá là nhà
thơ thiên tài, người báo hiệu cho chủ nghĩa tượng trưng của thơ ca Pháp và cả
thế giới, “lý thuyết gia” của phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Đồng thời, ông
cũng được xem là “cha đẻ” của thể loại truyện trinh thám và truyện kinh dị, người
đặt nền móng cho thể loại truyện khoa học viễn tưởng và truyện phân tích tâm lý
sau này. Tên tuổi, tài năng của Edgar Poe ngày càng được thừa nhận và thu hút sự
quan tâm của người đọc cũng như giới nghiên cứu lý luận phê bình, sáng tác không
chỉ trong biên giới nước Mỹ mà đã mở rộng tầm ra nhiều nước trên thế giới.
1.2. Với văn học Việt Nam, Edgar Allan Poe không phải là
một cái tên xa lạ. Chính Poe là tác giả Mỹ đầu tiên có tên trên trang viết
tiếng Việt ngay từ những năm đầu thế kỉ XX (1917). Từ lúc xuất hiện đến
nay, 92 năm đã trôi qua, dấu ấn Edgar Poe tuy có lúc đậm, có lúc nhạt và cả
những khoảng trống, khoảng trắng ở từng miền Nam, Bắc do hoàn cảnh
lịch sử đặc biệt của đất nước song sáng tác của ông vẫn không ngừng hiện
diện trong bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam. Đặc biệt là số lượng
bùng nổ những truyện dịch, những bài viết, đề tài nghiên cứu về ông
trong mười năm đầu tiên của thế kỷ XXI này. Và đối với giới nghiên cứu, phê
bình văn học hiện nay, Edgar Poe là một hiện tượng đang được tìm tòi, khám phá
để khẳng định những mặt ảnh hưởng, và các sáng tác của ông có ý nghĩa thế nào đối
với quá trình hình thành và phát triển lý luận, thơ ca và truyện ngắn hiện đại
của nền văn học Việt Nam.
1.3. Năm 2009 là năm nước Mỹ và nhiều quốc gia trên
thế giới trọng thể tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh Edgar Poe. Đây
là một sự kiện lớn đối với văn học Mỹ và văn học thế giới. Cuộc
đời, văn nghiệp và ảnh hưởng của Poe đối với văn học nghệ thuật Mỹ
cũng như văn học nghệ thuật thế giới đang được nhiều trường đại học
Mỹ và nhiều nước Âu, Á tôn vinh. Tưởng nhớ 160 năm ngày mất của Poe
(7-10-1849), hòa nhịp vào dòng những hoạt động kỉ niệm năm Edgar Poe
của thế giới, bài viết của chúng tôi sẽ giới thiệu hai vấn đề: Edgar Poe
đã đến với Văn học Việt Nam từ khi nào? Đặc điểm của quá trình
tiếp nhận Edgar Poe ở Việt Nam ra sao? Đây chỉ là những phác họa ban đầu
về quá trình tiếp nhận Edgar Poe ở Việt Nam qua bức tranh 2/3
thế kỉ dịch thuật tác phẩm của ông. Do phạm vi của bài viết có hạn
nên chúng tôi chỉ hệ thống lại quá trình tiếp nhận Edgar Poe qua hoạt
động dịch thuật, không đi sâu vào phần nghiên cứu phê bình, phân tích
cụ thể tác phẩm của Poe cũng như ảnh hưởng tác động của Poe đối
với các tác giả văn học Việt Nam.
2. Quá trình tiếp nhận Edgar Poe ở
Việt Nam qua ba giai đoạn dịch thuật
Thống kê, hệ thống những sách báo trước đây còn lưu lại ở
các thư viện ở thành phố, các công trình khảo cứu văn học, cũng như tham
khảo các ý kiến, nhận định, của nhiều học giả tên tuổi Việt Nam từ đầu thế
kỉ đến nay, chúng tôi tạm chia quá trình Edgar Poe đến với Văn học Việt
Nam thành ba giai đoạn với ba đặc điểm khác nhau. Xác định mốc của từng
giai đoạn này, bài viết dựa trên cơ sở chính là sự xuất hiện các
tác phẩm của Edgar Poe được dịch ở Việt Nam. Đồng thời có chú ý
đến những mốc sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước để lý giải
những đặc điểm các giai đoạn tiếp nhận này.
2.1. Giai
đoạn 1- đầu thế kỷ XX đến 1945: Con đường gián tiếp - thụ động
2.1.1. Những
năm đầu thế kỷ XX, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của nước ta, phần lớn
văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Pháp và một số nước phương Tây
Anh, Mỹ, Nga…được tầng lớp trí thức Việt Nam tiếp xúc bằng Pháp ngữ. Một
trong những kênh tiếp nhận văn học Pháp nói riêng và phương Tây nói
chung vô cùng quan trọng là hệ thống giáo dục của nhà trường
Pháp Việt. Theo hồi kí của Vũ Ngọc Phan, chương trình học trong các
trường trung học Tây cũng như trung học Pháp Việt, thực dân Pháp quy
định “tiếng Pháp là tiếng mẹ đẻ, tiếng Anh là sinh ngữ được xếp
hàng đầu (1 ére langue), còn tiếng Việt bị liệt vào tiếng ngoại
quốc với các sinh ngữ Ý, Đức, Tây Ban Nha.” (Vũ Ngọc Phan, 2008, 367).
Cấu trúc môn Pháp văn ở bậc cao đẳng tiểu học bao gồm ba phần: chính tả, từ vựng,
ngữ pháp (3h/tuần); giảng văn (lecture expliquée) và học thuộc lòng (4h/tuần)
và rèn luyện kỹ năng viết tiếng Pháp (2h/tuần). Tuy không hề có giờ văn học
riêng nhưng học sinh lại được tiếp xúc với hầu hết những tác phẩm
triết học, văn học Pháp tích hợp trong một môn học chung là Pháp văn với
số tiết đã nêu ở trên, chủ yếu là giới thiệu văn chương cổ điển.
Hữu Ngọc từng nhớ lại: “Tôi biết Edgar Poe qua truyện Con cánh cam
vàng và bài thơ Con quạ từ thời học trung học ở trường
Bưởi.” (Hữu Ngọc, 2000, 529).
2.1.2. Với
ý thức tiếp thu tinh hoa văn hóa của các nước Thái Tây để xây dựng
nền văn học quốc ngữ buổi đầu còn phôi thai.., Năm 1917, Phạm Quỳnh
trong bài giới thiệu Thơ Baudelaire đã khẳng định “Baudelaire
là một nhà thơ có tài nhất nước Pháp về thế kỷ 19” và liệt kê tóm
tắt các tác phẩm của Baudelaire, trong đó có “bộ dịch đoản thiên
tiểu thuyết của văn hào nước Mỹ Edgar Poe” (Phạm Quỳnh, 2003, 381). Tuy
chỉ một dòng ngắn ngủi nhắc đến tên Edgar Poe nhưng Phạm Quỳnh đã là
người đặt cái mốc đầu tiên cho văn học Mỹ, gợi ý cho bao thanh niên trí
thức Việt Nam tìm đọc Edgar Poe với một niềm say mê khám phá những
chân trời mới lạ của văn chương. Nhưng mãi đến hai mươi chín
năm sau (1936), theo tài liệu mà chúng tôi hiện có trong tay, tiểu sử
tóm tắt cùng bản dịch đầu tiên hai bài thơ Con quạ (Le
Corbeau) và Mộng ảo (Un rêve dans un rêve) của Edgar Poe
mới xuất hiện trong Danh văn Âu Mỹ do Nguyễn Giang dịch.
Tất nhiên, không phải đến hai bài dịch này độc giả mới
tiếp cận Edgar Poe. Trong hồi ký Những năm tháng ấy, Vũ Ngọc
Phan nhớ lại những năm 1932-1933: “Xem được Thần khúc của
Đăng-tơ, Đông ki-sốt, Những truyện kì quái của Hốpman
(Hoffmann), Truyện kì lạ của Êtga Pô (Edgar Poe) cũng phải xoay
trở khá vất vả.” Năm 1934, trong lời tựa tập truyện kinh
dị Vàng và máu của Thế Lữ, Khái Hưng cũng phát
hiện: “Tác giả những truyện Vàng và máu và Một
đêm trăng đã tỏ ra có óc khoa học của Edgar Poe và tâm hồn thi sĩ
của Bồ Tùng Linh..”(Phạm Đình Ân, 2006, 416). Nghĩa là cả thơ và
truyện của Edgar Poe đã đến với những “siêu độc giả” Việt Nam đầu
tiên từ rất sớm và đọng lại trong lòng họ những ấn tượng không thể
nào quên.
Như vậy, tác phẩm bằng tiếng Việt đầu tiên của
Poe xuất hiện ở Việt Nam là do Nguyễn Giang dịch, và là hai bài
thơ, không phải là Truyện kỳ lạ do Vũ Ngọc Phan dịch năm 1944
như một số bài viết đã công bố và cả một số luận văn, luận án
trích dẫn lại từ bài viết Tình hình giới thiệu và nghiên cứu
văn học Mỹ ở Việt Nam của hai tác giả Mai Hương và Nguyễn Thị
Huế. Theo Nguyễn Hồng Dũng, năm 1941, cũng chính Nguyễn Giang dịch và
xuất bản một tập Truyện kinh dị của Edgar Poe. Tiếc là hiện nay
chúng tôi chưa tìm được văn bản của bản dịch này cũng như bản
dịch Truyện kỳ lạ của Vũ Ngọc Phan tại các thư viện lớn ở
thành phố Hồ Chí Minh.
Có thể thấy, ở những năm đầu thế kỉ này, đáp ứng
nhu cầu đổi mới văn học, các nhà văn đã chủ trương “đem phương pháp
Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam”, để thoát khỏi ảnh hưởng
nặng nề của lối văn chương biền ngẫu đầy rẫy những ước lệ ràng
buộc cũ. Cùng với nhiều tác giả cổ điển Pháp, việc tiếp nhận Edgar
Poe đã đi con đường trước tiên là dịch thuật để tìm hiểu, học hỏi
cái hay trong tư tưởng, trong cấu tứ và kỹ thuật sáng tác. Mặc dù
các dịch giả có ý thức chủ động tiếp thu cái hay, cái đẹp của văn
hóa văn học phương Tây như đã nêu trên nhưng xét về cơ bản, xuất phát
điểm, văn học Pháp và Edgar Poe vẫn được đội ngũ này tiếp nhận từ
ghế nhà trường trong các giờ học bắt buộc môn tiếng Pháp và thông
qua chiếc cầu nối là văn học Pháp do đó, nói chung, đặc điểm tiếp
nhận Edgar Poe ở 40 năm đầu thế kỷ vẫn là con đường bị động và
gián tiếp.
2.2. Giai
đoạn thứ hai (1945 - 1986): Vừa gián tiếp - bị động vừa trực
tiếp - chủ động ở phạm vi các đô thị miền Nam
2.2.1. Có hai lý do để chúng tôi chọn mốc giai đoạn
thứ hai từ 1945 đến 1986. Lẽ ra chúng tôi phải chọn mốc cho giai đoạn
thứ 2 từ năm 1949 để nhất quán với tiêu chí phân chia giai đoạn là
dựa vào sự xuất hiện tác phẩm dịch của Poe (1949 là năm Con
cánh cam vàng của Poe được Thiết Can dịch và nhà Nam Việt xuất
bản tại Sài Gòn).
Lý do thứ nhất bởi 1945 là năm có dấu mốc quan
trọng trong lịch sử dân tộc: Cách mạng tháng tám thành công, nước ta
giành được độc lập, tự do sau gần một thế kỷ đô hộ của thực dân
Pháp. Sự kiện lịch sử này đã chi phối toàn bộ cuộc sống của dân
tộc và nhất là văn học bởi quá nhiều biến động dồn dập. Trong
những ngày tháng lịch sử đầy sôi động ấy, vận mệnh dân tộc đã trở
thành tiếng nói chính, những buồn thương, mơ mộng vẩn vơ cá nhân được
xếp lại. Văn học bước vào thời kỳ nhận đường đầy băn khoăn trăn trở
mò mẫm của đội ngũ sáng tác. Nhưng lý do thứ hai mới là
quyết định vì giai đoạn 1945-1986 này đánh dấu một giai đoạn tiếp
nhận thứ hai khá đặc biệt đối với những tác phẩm của Edgar Poe: đối
tượng tiếp nhận chủ yếu là giới trí thức miền Nam Việt Nam, còn suốt 40 năm
giữa cuối thế kỷ XX này, tác phẩm của Poe hoàn toàn vắng bóng ở
miền Bắc, mảnh đất đã từng nồng nhiệt chào đón Edgar Poe những năm
đầu thế kỷ và đã từng có những hoa trái đầu mùa đáng trân trọng.
2.2.2. Sự tiếp nhận đứt quãng ở các đô thị
miền Nam
2.2.2.1. Giai đoạn này việc tiếp nhận văn học Mỹ cũng như
Edgar Poe chủ yếu đi theo con đường vừa gián tiếp vừa trực tiếp - vừa chủ động vừa bị động bằng tiếng Pháp lẫn nguyên tác tiếng
Anh (hai ấn phẩm năm 1949 và 1953 vẫn dịch từ tiếng Pháp). Điều
này cũng phản ánh đúng thực tế lịch sử, sau hiệp định Gienève 1954,
đất nước tạm thời bị chia cắt, miền Nam lại rơi vào một “nhà nước
bảo hộ” thứ hai sau khi thoát khỏa ách thống trị của thực dân Pháp:
đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, tiếng Pháp vẫn tiếp tục được giảng dạy trong
nhà trường song song với tiếng Anh, đến thập kỉ 60 mới mất dần vị
trí sinh ngữ chính, chấp nhận vai trò sinh ngữ thứ hai. Ở Sài Gòn, năm
1949, truyện The Gold Bug của Poe đã được Thiết Can dịch với nhan đề Con
cánh cam vàng. Năm 1953, Nhà xuất bản Tân Á Sài Gòn đã xuất bản tập
truyện Kho vàng bí mật (lấy tên từ The Gold Bug) của Poe gồm 9
truyện lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam: Con mèo đen, Chiếc mặt
nạ của xích tử thần, Vụ án mạng sau nhà xác, Quỷ nhập tràng, Kho
vàng bí mật, Thế giới người điên, Một buổi xuống thăm đáy biển, Mấy
dòng nhật kí trong một chiếc chai, Giọt máu cuối cùng của dòng họ
Use. Có 8/9 truyện này năm 1957 được Hoàng Lan giới thiệu trong tập truyện Con
bọ hung vàng do nhà xuất bản Như Nguyện phát hành, bổ sung thêm 4
truyện Một vụ báo thù ghê gớm, Một truyện thôi miên, Lá thư mất
cắp, Bức hình bầu dục. Hai tập truyện này, nhìn chung các bản
dịch khá gần gũi từ tiêu đề, nội dung, ngôn ngữ diễn đạt. Chỉ có
tựa đề Kho vàng bí mật được Hoàng Lan đổi sát với nhan đề
trong nguyên tác Con bọ hung vàng (The Gold Bug).
2.2.2.2. Năm 1956, bài thơ Con quạ (The Raven) và
tiểu luận nổi tiếng Triết lý sáng tác (Philosophy of Composition) của
Edgar Poe gồm cả nguyên tác tiếng Anh và bản dịch của học giả Nguyễn Hiến Lê
(1912-1984) được xuất bản ở Sài Gòn trong bộ Luyện
văn I, II, III của ông. Công trình này ra đời những năm 1953-1957 khi
tiếng Việt trở thành chuyển ngữ chính được sử dụng trong các ban
Tiểu học và Trung học, chương trình có thêm giờ Việt Ngữ. Mục đích
là giúp thanh niên, nhất là học sinh, sinh viên “có thêm một tài liệu
tham khảo trong cách nói, cách viết” để “chẳng những luyện văn và
hiểu văn, mà đồng thời còn có thể tẩy rửa một cách gián tiếp
những tác phẩm cẩu thả của những nhà văn non nớt.” (Nguyễn Hiến Lê,
1952, 11). Trong Luyện văn II, Tác giả đã dành hẳn một chương (28
trang) với tiêu đề Quan niệm sáng tác của Edgar Poe 5% là
hứng khá ấn tượng gồm 4 nội dung chính: (1) Sự thực ở đâu? (2)
Triết lý sáng tác của Edgar Poe. Bài thơ Con quạ. (3) Phê bình triết
lý đó. (4) 5% là hứng. Trung thành với mục đích của Luyện văn,
Nguyễn Hiến Lê đã giới thiệu hai kiệt tác này qua tiếng Việt, sau đó
phân tích khách quan cái hay và hạn chế trong quan niệm, phương pháp
sáng tác của Edgar Poe. Đây là bài dịch và phân tích đánh giá duy
nhất về tiểu luận Philosophy of Composition trong suốt 2/3 thế
kỷ dịch thuật tác phẩm của Poe. Việc phân tích cẩn trọng, khách quan
đi từ khâu tìm hiểu nguyên tác, dịch nghĩa, rồi căn cứ vào văn bản, kết
hợp liên hệ với cuộc đời nhà thơ, nhận định của những nhà phê bình
Âu Mỹ khác (Jean Barangy, Le grand amour d’Edgar Poe, 1956), sau đó
mới đưa ra những kiến giải chủ quan khiến cho ý kiến của Nguyễn Hiến
Lê có một độ tin cậy, hợp lý cao như chính kiến thức và tên tuổi
của ông.
2.2.2.3. Bên cạnh đó, tác phẩm của Poe còn được xuất
bản ở dạng các sách song ngữ. Năm 1959, truyện trinh thám The
Purloined Letter của Poe được Lưu Bằng dịch thành Lá thư
mất trộm(The Stolen Letter). Năm 1965, bài thơ Eldorado xuất hiện
dưới hình thức song ngữ trong Anh hoa thi ca Anh Mỹ thi tập loại đối ngữ do
Hà Bỉnh Trung dịch, với tên là Xứ mộng cùng với 34 khuôn mặt tiêu
biểu của thi ca Anh-Mỹ khác. Đây là bài thơ đầu tiên của Poe được
dịch trực tiếp từ nguyên tác tiếng Anh. Thế nhưng những tư liệu Hà
Bỉnh Trung thu thập được về cuộc đời của Poe chưa phản ánh đúng tiểu
sử và con người Poe. Về bài thơ, bản dịch của Hà Bỉnh Trung khá
tốt, có nhiều câu hay tuy chưa chú ý vần điệu và còn một số từ
dùng chưa sát với nguyên tác. Ví dụ danh từ “knight” lẽ ra dịch
“hiệp sĩ” chính xác hơn là “dũng sĩ”, hoặc cuộc hành trình vạn dăm
cô đơn và gian khổ đi tìm hạnh phúc của chàng trai trẻ này không đơn
giản là một chuyến “du lịch”, cũng như mục đích của chàng “In search
Eldorado” không hẳn là tìm xứ mộng sang giàu vật chất mà mang ý nghĩa
triết lý phải chăng con người luôn chạy theo những ảo vọng không bao giờ
có được trong hành trình kiếm tìm hạnh phúc. Từ truyền thuyết El
Dorado chuyển sang bài thơ Eldorado của Edgar Poe, ý nghĩa
không còn chỉ dừng lại ở “mộng sang giàu” mà Hà Bỉnh Trung không
dịch thoát ra được. Dịch giả Thái Bá Tân sau này (2000) có khắc phục
bằng cách dịch câu trên thành “Chàng đi tìm Eldorado” chung chung hơn,
nhưng gợi nhiều cách hiểu có tính triết lý của từ Eldorado hơn.
Từ đó, suốt trong hai mươi năm của giai đoạn này, kể cả tiếng
Anh lẫn tiếng Việt, sáng tác của Poe vẫn xuất hiện khá đều đặn, chủ yếu là các
truyện ngắn của ông. Năm 1967, sáu truyện mà Lê Bá Kông cho là hay nhất
của Poe tiếp tục được dịch từ tập truyện Six Stories by Edgar
Allan Poe, trong đó có truyện William Wilson lần đầu tiên được
giới thiệu. Dựa vào lời giới thiệu tập truyện của Lê Bá Kông, bỏ
qua mục đích thương mại quảng cáo, có thể thấy Poe được đánh giá
rấr cao “Ai đọc truyện của Edgar Poe cũng đều bị lôi cuốn một cách
say sưa từ trang đầu đến trang cuối” (Lê Bá Kông, 1965). Có lẽ vì thế
mà sau 10 truyện của Jack London được dịch và xuất bản năm 1963, Poe
là tác giả được nhà xuất bản Ziên Hồng độc quyền giới thiệu thử
nghiệm nhằm thăm dò thị hiếu của người đọc cho những ấn phẩm xuất
bản tiếp theo “Loại truyện ngắn này, nếu được độc giả hoan nghênh
chúng tôi sẽ dịch, xuất bản thêm để giới thiệu một số văn sĩ đại
tài quốc tế khác.” (Lê Bá Kông, 1965). Thơ của Poe chỉ có hai bài được dịch
trọn vẹn: The Raven, Eldoradovà một số đoạn trích hai bài thơ To
Helen, The Bells của Đắc Sơn trong giáo trình song ngữ dành cho sinh
viên Cao đẳng.
2.2.2.4. Giai đoạn tiếp nhận thứ 2 này phản ánh sự
bắc cầu từ ảnh hưởng của văn học Pháp, ngôn ngữ Pháp sang ngôn ngữ
Anh và văn học Mỹ. Nếu bản dịch năm 1949, 1953 còn dịch từ tiếng
Pháp thì đến bản dịch năm 1957 của Hoàng Lan tuy vẫn phiên âm tên
nhân vật theo kiểu Hán Việt như hình thức bản dịch năm 1953, nhưng đã
thấy chú thích tên nguyên tác The cask of Amontillado dưới tên
tiếng Việt là Một vụ báo thù ghê gớm. Hiện tượng các bản
in song ngữ cho thấy tiếng Anh đã phổ biến khá rộng rãi, nhiều người
có thể đối chiếu so sánh giữa bản dịch và nguyên tác. Bản dịch của
Lưu Bằng có chú thích từ vựng ở những từ khó sang tiếng Việt ngay
dưới mỗi trang. Tuy nhiên, nhiều đoạn nguyên tác tiếng Anh đã bị lược
bỏ, một số từ ngữ được thay thế cho rõ nghĩa, do đó các truyện của
Poe trở nên đơn giản hơn nhiều so với cách diễn đạt cầu kỳ của Poe
trong nguyên tác. Việc tiếp nhận Edgar Poe chủ yếu tập trung ở đội
ngũ trí thức, giáo viên, sinh viên và ở các đô thị miền Nam với mục
đích thực tế là luyện cách viết văn và trau dồi tiếng Anh chứ không
thuần tính chất văn chương như giai đoạn đầu tiên Poe đến với văn học
Việt Nam.
Căn cứ vào bức tranh dịch thuật giai đoạn này cũng
có thể thấy việc tiếp nhận Poe ở miền Nam có một sự đứt quãng:
suốt hai mươi năm 1967-1987 không có một tác phẩm nào của Poe được
dịch hay tái bản. Lý giải hiện tượng này, nhìn toàn cảnh bức tranh
dịch thuật ở miền Nam thì có vẻ người Sài Gòn đang có nhiều mối
quan tâm khác trong một bối cảnh xã hội cũng đã hoàn toàn khác. Đây
là những năm Mỹ bắt đầu cuộc leo thang chiến tranh ở hai miền Nam
Bắc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân cả nước đang ở những năm
tháng khốc liệt nhất. Phong trào đấu tranh văn hóa tư tưởng ở các đô
thị miền Nam ngày càng trở nên sôi động với sự ra đời của Lực lượng
bảo vệ văn hóa dân tộc năm 1967. Chính sách xâm lăng văn hóa bằng cách
du nhập ồ ạt văn học thế giới của Mỹ khiến cho thị trường văn học
dịch hết sức xô bồ. Nhịp độ phát triển của sách dịch ngày càng
mạnh chiếm tỉ lệ 60-80%, đến độ “ khuynh loát thị trường chữ nghĩa
vùng đô thị” (Trần Hữu Tá, 2000, 20).
Tuy nhiên, vẫn có thể điểm một số tác phẩm có giá
trị như của Lỗ Tấn, Léon Tolstoi, Dostoievski, Shakespeare, của nhà văn
Mỹ chuyên viết về chủ đề Trung Quốc, đoạt giải Nobel năm 1938: Pearl
Buck. Hoặc tiểu thuyết về chiến tranh của Hemingway cũng chiếm được
công chúng rộng rãi bởi tinh thần phản chiến và ngợi ca giá trị con
người trong tác phẩm của nhà văn có kĩ thuật sáng tác mới mẻ này.
Thuyết hiện sinh, phi lý cũng tràn ngập trong các tiểu thuyết của
các nhà văn Pháp như Albert Camus, J. Paul Sartre, hay kịch của Kafka,
Ionesco. Rồi bản thể luận, siêu hình học của Heiderger, chủ nghĩa hư
vô của Nietzche, phân tâm học của Freud…trở thành những vấn đề mới
lạ, thu hút người đọc tìm đến. Những giấc mơ của Poe, những câu chuyện
phiêu lưu viễn tưởng, nhà thám tử hào hoa Dupin… không còn là lựa
chọn hàng đầu. Người đọc giai đoạn này có quá nhiều nỗi kinh ngạc
bàng hoàng để bận tâm hơn. Cái chết phi lý ngay trước mắt khiến cho
người ta không còn thì giờ để suy ngẫm, phân tích nỗi khiếp sợ về
nó nữa. Người ta đang chạy trốn cái thế giới “Dịch hạch”* trong “Buồn
nôn”*, người ta đang trở thành “Người xa lạ”*[1] với chính bản thân mình. “Con
người phi lý không hy vọng, không ngày mai, không Thượng Đế” và cảm
thấy “tự do bát ngát” vì hắn không cần hy vọng, ngày mai hay Thượng
Đế.” (Thạch Chương, 1960, 78). Gạn đục khơi trong, Huỳnh Như Phương nhận
định rằng “Chủ nghĩa hiện sinh là triết học của một thời đại không
lặp lại. Việc tiếp nhận, vận dụng, truyền bá nó cũng là một “cơ
duyên” của lịch sử. Nó đã đến trong cái bối cảnh bi đát của xã hội
những năm 54-75, khi con người khao khát tự do và quyền sống, mong muốn
suy tư về chính tự do và thân phận làm người” (Huỳnh Như Phương, 2008,
181). Đây cũng là một lựa chọn. Sự lựa chọn này có thể tự phát
lẫn tự giác, nhưng đã thể hiện “tinh thần độc lập và tự trọng của
người trí thức” trong một hoàn cảnh lịch sử nghiệt ngã của dân tộc.
Chứng kiến những thác loạn, hỗn mang, đau thương nhất
của thế kỷ, nên những bi kịch đất nước chia cắt, chiến tranh thảm
khốc, bom đạn tàn phá, thân phận và tình yêu con người trước cái vô
nghĩa của cuộc sống… đã trở thành những đề tài dữ dội chi phối tư
duy và mọi sinh hoạt văn học nghệ thuật ở các đô thị miền Nam.
2.2.3. Sự vắng bóng ở miền Bắc
2.2.3.1. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, chủ nghĩa
xã hội đã được bắt tay xây dựng ngay những năm đầu khó khăn của đất
nước. Cuộc sống mới, thể chế mới đã bắt mạch với một sức sống
mới là văn học Nga-Xô viết mà đại biểu của nó là dòng văn học hiện
thực với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa của Maxim
Gorki, Tchekhov…Léon Tolstoi, Dostoievski tuy có dè dặt hơn nhưng vẫn
được yêu thích. Việc dịch thuật các tác phẩm tinh hoa văn học thế
giới có được chú trọng, có nhiều bản thảo hay nhưng các nhà xuất
bản vấp phải vấn đề tiên quyết: “Làm sao cho những tác phẩm dịch ấy
có thể đáp ứng với những yêu cầu về chính trị tư tưởng của nước
ta, trong cuộc chiến đấu quyết liệt chống Mỹ cứu nước này?
” (Như Phong, 1994, 335). Vì vậy, đối với văn học Mỹ,
giai đoạn này, có lẽ do nhu cầu phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ
nên ưu tiên cho những tác phẩm tiến bộ, có tính đấu tranh giai cấp.
Tuy còn “lẻ tẻ và tự phát (…) chưa đi sâu vào những vấn đề thi pháp
hoặc nghệ thuật.” (Mai Hương, Nguyễn Thị Huế, 208) nhưng văn học hiện
thực tiến bộ Mỹ vẫn hiện diện trong những năm tháng kháng chiến
chống Mỹ ác liệt cả ở hai miền Nam - Bắc.
2.2.3.2. Hiện tượng Edgar Poe hoàn toàn vắng bóng trên
văn đàn miền Bắc trong suốt những thập kỷ 50, 60,70, và hơn nửa thập
kỷ 80 cũng là một thực tế cho thấy việc tiếp nhận văn học không chỉ
dừng lại ở bản thân tác phẩm văn học hay hay dở hoặc những yêu thích
cá nhân đồng thanh đồng khí nữa mà còn được đặt trong môi trường
lịch sử, kinh tế, chính trị của toàn xã hội, trước vận mệnh sống
còn của cả đất nước, dân tộc. Nghĩa là tuy không dịch Poe, không viết
về Poe nữa nhưng không có nghĩa là những người từng tiếp nhận Poe ở
giai đoạn trước như Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn
Giang, Vũ Ngọc Phan… đã hết yêu Poe.
Điều này, xét về mặt lý luận, chúng tôi rất tâm đắc
với ý kiến của tác giả Huỳnh Vân: “tầm đón đợivăn học không nên và
không thể chỉ giới hạn trong văn học mà không xem xét đến các lĩnh
vực khác ngoài văn học như “tư tưởng, chính trị, xã hội, tâm lý, đạo
đức…” Bởi hai lẽ: “người ta đọc, hiểu và đánh giá một tác phẩm
không chỉ với vốn kiến thức có sẵn về văn học và người đọc không
thể nào là một công chúng chung chung, một người đọc lý tưởng, một
người đọc thoát ra khỏi những quy định về mặt xã hội, tầng lớp, thành
phần, giới tính, lứa tuổi...”. (H.Vân, 2009, 68).
Những sự kiện lớn lao của đất nước trong những năm tháng của giai đoạn thứ hai này, từ chiến tranh đến hòa bình, từ bị xâm lược đến giải phóng, nô lệ đến độc lập, chia cắt đến thống nhất, từ nước mắt đến nụ cười… và cả những ngộ nhận, đối đầu về tư tưởng chính trị, thể chế…đã tác động mãnh liệt đến đời sống dân tộc, phản ánh khá rõ nét trong bức tranh dịch thuật văn học thế giới, văn học Mỹ nói chung và Edgar Poe nói riêng.
Những sự kiện lớn lao của đất nước trong những năm tháng của giai đoạn thứ hai này, từ chiến tranh đến hòa bình, từ bị xâm lược đến giải phóng, nô lệ đến độc lập, chia cắt đến thống nhất, từ nước mắt đến nụ cười… và cả những ngộ nhận, đối đầu về tư tưởng chính trị, thể chế…đã tác động mãnh liệt đến đời sống dân tộc, phản ánh khá rõ nét trong bức tranh dịch thuật văn học thế giới, văn học Mỹ nói chung và Edgar Poe nói riêng.
2.3. Giai
đoạn thứ 3 (từ 1987 đến nay): con đường trực tiếp - chủ động trên phạm vi cả nước.
Đây là giai đoạn mang tính chất bản lề đánh dấu hai
mốc trở lại của Edgar Poe ở Việt Nam. Mười lăm năm dò dẫm tìm lại
độc giả cuối thế kỷ XX (1987-2001) và “bùng nổ” của bảy năm đầu thế
kỷ XXI (2002-2009).
Bảng 2: Thống kê số lượng các tác phẩm đã dịch
trong ba giai đoạn
GIAI ĐOẠN
|
Thơ
|
Truyện
|
Số lần xuất bản
|
Tiểu luận phê bình
|
Dịch lần đầu
|
|
Trước 1945
|
2
|
2
|
3
|
0
|
4
|
|
Từ 1945-1986
|
2
|
30
|
6
|
1
|
15 (1 thơ)
|
|
Từ 1987 nay
|
87-01
|
2
|
48
|
16
|
0
|
4
|
02-09
|
2
|
88
|
11
|
1
|
26
|
|
Cộng
|
4
|
136
|
27
|
2
|
30 (2 thơ)
|
|
Tổng cộng
|
8 lượt
|
168 lượt
|
36 lần
|
2
|
49 (5 thơ)
|
|
(Nguồn: HKO, tổng hợp từ các tập truyện thơ đã dịch
và xuất bản của Edgar Poe (1936-2009)
2.3.1. Con
số 4 bài thơ, 1 tiểu luận và 136 lượt dịch, 27 lần xuất bản chỉ
trong 22 năm, trong đó có 30 truyện dịch lần đầu tiên của
giai đoạn thứ ba này so với con số ít ỏi của các giai đoạn trước có một
ý nghĩa không đơn giản trong quá trình tiếp nhận Edgar Poe ở Việt Nam.
Năm 1986, công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế đã mở ra
một con đường mới cho tất cả các lĩnh vực nhất là kinh tế, chính
trị, xã hội và đi theo những thay đổi ấy là kiến trúc thượng tầng
của nó: văn hóa, văn học. Năm 1987, Con cánh cam vàng do N.H
Việt Tiến dịch, kèm theo tranh minh họa của Huy Toàn đã mở đầu “sự
trở lại của Edgar Poe’ đầy ngoạn mục những năm đầu thế kỷ XXI. Việc
một nhà xuất bản chuyên in sách cho thiếu niên nhi đồng như nhà xuất
bản Kim Đồng giới thiệu Edgar Poe cũng là một hiện tượng thú vị.
Đối tượng tiếp nhận Edgar Poe lần đầu tiên là các em thiếu niên cho
thấy quan điểm đánh giá Edgar Poe có sự thay đổi. Xu hướng “gạn đục
khơi trong” của lý luận văn học khi đánh giá các tác phẩm trong quá
khứ được đông đảo nhà nghiên cứu, nhà văn, dịch giả hưởng ứng.
Sự chọn lọc này đã giúp Poe được chú ý trở lại
bằng hai tập truyện năm 1988, 1989 của nhà thơ Đào Xuân Quý và dịch
giả Hoàng Văn Quang do Hội văn học nghệ thuật Phú Khánh Thuận Hải,
Quảng Nam-Đà Nẵng xuất bản. Một sự kiện đặc biệt đánh dấu vị trí của Edgar
Poe trong lòng người đọc Việt Nam là Tuyển tập Edgar Allan Poe dày
716 trang do Ngô Tự Lập và nhóm Địa cầu văn hóa tuyển dịch gồm 40 truyện ngắn của
Poe xuất hiện năm 2002. Chúng tôi coi đây là một bước nhảy vọt trong quá
trình tiếp nhận Edgar Poe. Có lẽ, trong lịch sử dịch thuật của văn
học Mỹ ở Việt Nam, ngoài Pearl Buck, Hemingway, chưa có tác giả nào
có vinh dự được giới thiệu thành một tuyển tập hoành tráng như vậy
với một đội ngũ dịch giả hùng hậu 15 người, trong đó có những nhà
văn, nhà giáo có trình độ chuyên môn sâu và ngoại ngữ uyên bác. Hai
mươi bốn truyện dịch lần đầu tiên của Poe trong tổng số bốn mươi
truyện đã mở ra một thế giới huyễn tưởng kì lạ đến kinh ngạc, một
thế giới quái dị, khủng khiếp nhưng đa dạng bí hiểm, dắt người đọc
đến tận cùng nỗi khiếp sợ và tận cùng chiều sâu tâm linh của con
người.
Tuy nhiên, cũng chính qua tập truyện này, chúng ta thấy quả hiểu được những truyện của Poe là điều không đơn giản. Bản thân một số truyện của Poe mang tính huyễn tưởng, khó hiểu, đầy triết lý sâu xa, mang nhiều ý nghĩa hàm ẩn không phải là loại truyện đọc một mạch để giải trí như lý thuyết truyện ngắn của chính Edgar Poe đề ra. Một số bản dịch còn mang tính hàn lâm khiến truyện đã khó hiểu lại càng khó đọc.
Tuy nhiên, cũng chính qua tập truyện này, chúng ta thấy quả hiểu được những truyện của Poe là điều không đơn giản. Bản thân một số truyện của Poe mang tính huyễn tưởng, khó hiểu, đầy triết lý sâu xa, mang nhiều ý nghĩa hàm ẩn không phải là loại truyện đọc một mạch để giải trí như lý thuyết truyện ngắn của chính Edgar Poe đề ra. Một số bản dịch còn mang tính hàn lâm khiến truyện đã khó hiểu lại càng khó đọc.
2.3.2. Từ dấu mốc 2002 đến nay, theo số liệu thống kê
tác phẩm đã dịch, qua các tên truyện, có lẽ chúng ta có thể dễ
dàng nhận ra những truyện “ăn khách” của Poe vẫn không ngừng được
xuất bản. Đứng đầu các truyện được dịch và liên tục tái bản của
Poe qua gần một thế kỉ vẫn là Con cánh cam vàng, Con mèo đen,
Cái thùng Amontillado, Trái tim thú tội…Tiếc là mảng thơ và nhất
là lý luận phê bình rất có giá trị của Edgar Poe vẫn còn quá ít, chưa
được quan tâm dịch và giới thiệu, nghiên cứu. Điều này tạo nên một
sự mất cân đối trong việc dịch thuật Edgar Poe ở Việt Nam. Suy cho
cùng, đó cũng là quy luật của sự tiếp nhận những yếu tố ngoại lai
của văn học Việt Nam. Người Việt vốn có óc thực tế, giản dị, không
thích những gì quá siêu hình trừu tượng, cầu kì phức tạp. Những gì
quá xa lạ với đời sống văn hóa truyền thống và thẩm mỹ đạo đức
của dân tộc tự nó không thể dung hòa được với các yếu tố nội sinh
của dân tộc để bén rễ vào tâm hồn người đọc.
Đến nay, nhiều tỉnh thành trong cả nước đã in tác phẩm của
Poe. Việc tiếp nhận Poe đã mở rộng phạm vi cả nước, không còn
gói hẹp trong hai đô thị Hà Nội, Sài Gòn như trước nữa. Nhiều nhà
văn bắt đầu khai thác yếu tố kỳ ảo - cái fantastic trong truyện ngắn của
Poe. Truyện ngắn đương đại Việt Nam đang đi vào một cơn sốt thể loại truyện kỳ ảo
hoặc có yếu tố kỳ ảo. Theo thống kê chưa đầy đủ, đến năm 2001, đã có gần 70 nhà
văn và khoảng 150 truyện kỳ ảo ra đời. Hiện tượng này khiến độc giả nhớ tới
Edgar Poe. Còn các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình thì đặc biệt nghiên cứu những
ảnh hưởng của tác giả này trên nhiều mặt một cách hệ thống đầy đủ hơn để bổ sung
cho những khiếm khuyết trong nghiên cứu về văn học Mỹ. Và thú vị hơn nữa, ở một
loại hình khó tiếp cận như thơ, cũng có thể tìm được những bản dịch rải rác
trên nhiều trang web văn học. Tập trung nhiều nhất là ở thivien.net với mười
hai bài thơ trong đó có chín bài lần đầu tiên xuất hiện bằng tiếng Việt. Dù chỉ
mới được đưa lên mạng từ tháng 4-4-2008, Poe đã có 482 lượt độc giả và nằm
trong top 10 nhà thơ Mỹ được đọc nhiều nhất trên trang web này. Điều đó chứng
tỏ nhà thơ của chúng ta không còn cô độc nữa.
3. Kết luận
3.1. Nhìn lại hành trình 2/3 thế kỷ dịch thuật tác
phẩm, ba giai đoạn tiếp nhận Edgar Poe có ba đặc điểm khác nhau, xuất
phát từ thực tế của lịch sử xã hội và những nhu cầu nội tại của
văn học Việt Nam, có thể thấy đầu thế kỷ XXI đang báo hiệu sự trở lại của
Edgar Poe. Cho đến nay, cái tên Edgar Allan Poe trên sách báo
và những trang web tiếng Việt không còn là điều hiếm hoi nữa. Điều mà mới
5 năm trước đây hầu như không thể nào làm được. Những thông tin, tài liệu về
Poe chỉ có bằng tiếng Anh tại các website của các trường Đại học Mỹ Baltimore,
Virginia… và Poe Studied Association. Hiện nay, ở Việt Nam, giới nghiên cứu văn
học vẫn tiếp tục đi tìm cách giải mã “câu đố Edgar Poe”. Truyện ngắn của Poe vẫn
tiếp tục xuất hiện trong nhiều tuyển tập. Thơ Edgar Poe được giới thiệu nhiều
hơn dù vẫn còn rải rác (trên các website văn học, các trang web cá nhân). Tình
yêu và niềm đồng cảm đối với Edgar Poe hình như cũng theo tỉ lệ thuận của những
trang tiếng Việt viết về ông đang ngày càng nhiều hơn trong đời sống văn học Việt
Nam. Điều gì khiến người ta trở lại yêu thích Edgar Poe? Có lẽ trước
tiên là do chính bản thân sức hấp dẫn kì diệu của những câu chuyện
chết chóc nhưng đầy tính nhân văn mà không ai có thể không suy ngẫm
mỗi khi đọc Edgar Poe. Và nỗi sợ hãi trong các truyện kinh dị của Poe
đã giúp con người đối diện với chính mình, thôi thúc họ khám phá
và vượt lên chính nỗi sợ hãi của bản thân mình.
3.2. Nỗi ám ảnh Edgar Poe đang dần biến thành một nhu cầu
thôi thúc đến với thiên tài độc đáo này. Mảng trắng cần quan tâm hiện nay chính
là ở phần thơ và lý luận sáng tác của ông. Bởi không thể nào không nhận thấy dấu
vết của Poe đối với thơ văn Việt Nam trước đây và hiện nay cũng như tương lai
sắp tới của văn học Việt Nam. Theo công ước Brene về luật sở hữu trí
tuệ, bản quyền của tác giả còn có hiệu lực sau khi mất năm mươi năm.
Edgar Poe đã ra đi đúng 160 năm, do đó, văn chương của ông đã trở thành
tài sản vô giá của nhân loại. Nói như Phạm Quỳnh “Văn chương có giá
trị, văn chương thật bất hủ là kể từ cái hạn năm mươi năm này mới
có thể định luận được. Nhà văn nào qua được cái “hạn’ này mà hậu
thế còn đọc đến sách vở mới có thể mong liệt vào hạng bất tử
được.” (Phạm Quỳnh, 1917, 381). Văn chương của Poe đã và đang tồn tại
gấp ba lần cái hạn năm mươi năm đó. Jorges Louis Borges - nhà văn
người Argentina - từng khâm phục: “Edgar Poe để lại nhiều cái bóng
khác nhau. Chúng ta thừa hưởng biết bao nhiêu kho báu từ con người kì
lạ ấy. Có hai người mà thiếu họ văn học hiện đại không như nó tồn
tại. Hai người đó đều là người Mỹ và cùng sống vào thế kỷ trước:
Walt Whitman (...) và Edgar Poe” (Ngô Tự Lập, 692, 693)./
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Đình Ân tuyển
chọn. 2006. Thế Lữ, Về tác gia và tác phẩm. H: Nxb Giáo dục.
2. Thạch Chương. 1960.
Albert Camus. S: Tạp chí Sáng tạo, bộ mới, số 3, ra ngày 1-9-1960.
3. Nguyễn Giang
.1936. Danh văn Âu Mỹ. H: Imprimerie D’Extrême-Orient.
4. Ngô Tự Lập
(tuyển chọn) .2002. Tuyển tập Truyện ngắn Edgar Poe. H: Nxb.Văn
học.
5. Nguyễn Hiến Lê.
1957. Luyện văn II. S: Nxb Nguyễn Hiến Lê.
6. Hữu Ngọc.
2000. Hồ sơ văn hoá Mỹ. H: Nxb. Thế giới.
7. Nhiều tác giả.
1997. Văn học Mỹ, quá khứ và hiện tại. H: Trung tâm KHXH& NVQG, Viện
TTKHXH.
8. Vũ Ngọc
Phan.2008. Vũ Ngọc Phan tuyển tập. Tập IV. Bút ký, hồi ký
và những trang viết khác. H: Nxb Văn học.
9. Phạm Quỳnh
(2003), Luận giải văn học và Triết học, H: Nxb. Văn hóa thông tin.
10. Trần Hữu Tá. 2000. Nhìn lại
một chặng đường văn học. HCM: Nxb Thành phố.
11. Hoài Thanh - Hoài Chân .1997. Thi
nhân Việt Nam. H: Nxb. Văn học .
12. Thúy Toàn.1996. Dịch văn
học và Văn học dịch. H: Nxb. Văn học.
13. Huỳnh Vân. 2009. Vấn đề Tầm đón
đợi và xác định tính nghệ thuật trong mỹ học tiếp nhận của Hans
Robert Jauss. Hà Nội: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 3 (445), trang 55-
71
14. Wada, Gunilla Lindberg .2006. Literary
History: Towards a Global Perspective, Publisher:Walter de Gruyter, trang
172-173
15. Các tập truyện dịch của Edgar Poe
TÓM TẮT
Edgar Poe (1809-1849) là tác giả người Mỹ đầu tiên đến
với văn chương Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX. Qua bức tranh
dịch thuật, có thể thấy con đường Edgar Poe đến với văn học Việt Nam
diễn ra qua ba giai đoạn với những đặc điểm khác nhau. Suốt gần một
thế kỷ nay, tác phẩm của Edgar Poe vẫn không ngừng hiện diện trong bức
tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam. “Nỗi ám ảnh Edgar Poe” đang dần biến
thành một nhu cầu thôi thúc đến với thiên tài độc đáo này. Hai trăm năm đã
trôi qua, Edgar Poe không còn chỉ là tài sản riêng của văn học Mỹ nữa mà đã trở
thành báu vật chung của nhân lọai. Trong đó có Việt Nam.
SUMMARY
Edgar Allan Poe(1809-1849) was the frist American writer who
entered Vietnamese Literary since the early twentieth century. Through the
translation of Poe‘s works, his way to Vietnamese Literature can be
divided into three phases with three different characteristics. During
nearly a century until now, his compositions have always been present in
Vietnamese Literary panorama picture. “Edgar Poe obsession” is now so huge that
it is becoming a need for every reader to learn about him. Two hundred
years have passed, Edgar Poe is not only a possession of American Literature
but also “a precious thing” of mankind, including Vietnam.
[1]* Tên các tác phẩm của A. Camus và J. Sartre.
[1]* Tên các tác phẩm của A. Camus và J. Sartre.
Tháng 8 năm 2009









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét