Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

Vọng âm - Một tiểu thuyết dày công tư duy và lao động quá khứ

Vọng âm - Một tiểu thuyết dày
công tư duy và lao động quá khứ

Nhà văn Nguyễn Thu Hà vừa có buổi ra mắt tiểu thuyết “Vọng âm” (NXB Công an nhân dân) tại TPHCM. Và nhà văn An Bình Minh đã có tham luận về cuốn tiểu thuyết này, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Vọng âm là một cuốn tiểu thuyết được kết tinh từ hệ hình tư duy hiện tại và lao động quá khứ một cách công phu, kỹ lưỡng của nhà văn Nguyễn Thu Hà. Nhờ thế, cuốn tiểu thuyết không chỉ đứng vững bằng cảm hứng mà còn ở một “nền tư liệu” dày dặn của đô thị miền Nam những năm 1966 để tác giả như cùng sống và bước đi trên nền gạch của sân nhà mình.

Với sự thâm nhập nhân chứng sống và lao động quá khứ nhà văn Thu Hà đã xây dựng tác phẩm thông qua các tuyến nhân vật đan xen gắn kết với biên độ không gian và thời gian dài rộng. Mỗi nhân vật là một tâm trạng, mỗi bối cảnh là một tình tiết riêng có, đã được tác giả dàn dựng tỷ mỷ và công phu.

Mười sáu Chương văn Vọng âm, điều đọng lại không chỉ là số phận Tám Thu hay những lát cắt dữ dội của chính trường Sài Gòn, mà là công sức âm thầm sưu tập dữ liệu phía sau. Nếu chỉ có dữ liệu về thành thị, tiểu thuyết sẽ khô cứng. Công sức thứ hai là sự tìm tòi, cập nhật nhóm dữ liệu nông thôn… Củ Chi trong hồi ức Tám Thu không phải phông nền minh họa, đó là đất đỏ là hầm bí mật, là những cái chết oan khuất dưới tay bảo an, dân vệ; là dòng nước đêm Chín Hậu lặn trốn… Muốn có những trang văn dầy chi tiết ấy, người viết phải đi sâu vào quá khứ về tập thể nội tuyến của một vùng đất. Phải nghe người già kể chuyện đào địa đạo, nghe phụ nữ nói về hai “đống khói” làm ám hiệu, nghe tiếng thở trong hầm tối. Sự chính xác bởi động tác đốt rơm ướt để khói bay thấp thôi, nhiều khi quyết định độ tin cậy của cả Chương sách.

Sự tìm tòi còn nằm ở những chi tiết nghề nghiệp. Tra tấn trong Nha Cảnh sát không thể viết bằng tưởng tượng chung chung. Đi tàu ngầm, dội nước xà phòng, nện vồ vào thùng phuy, đó là những thuật ngữ và kỹ thuật có thật trong hệ thống đàn áp. Nhà tù Côn Đảo với phòng phơi nắng, chuồng cọp, thùng phân, rệp hút máu… tất cả đòi hỏi nhà văn phải đọc hồ sơ, phỏng vấn nhân chứng, thậm chí đối chiếu nhiều nguồn để tránh sai lệch. Chỉ cần nhầm cấu trúc một xà lim hay thời điểm một hiệp định được ký, là toàn bộ kết cấu sẽ bị chao đảo.

Một cuốn sách đi từ quán cơm của Hai Cù giữa xóm chợ nhốn nháo với căn gác kín đáo có cửa sổ trổ ra mé kênh nước đen sẵn sàng cho cuộc vượt thoát khi có động, đến tòa án vây đặc lính canh, báo chí cùng ánh mắt tò mò xem kẻ dám cả gan ám sát Trần Văn Văn; từ xà lim Chí Hòa đến boong tàu vượt biển và từ chuồng cọp đến lễ phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân… nghĩa là người viết phải gom góp tư liệu ở nhiều nguồn. Thế giới nội đô với mật báo giấu trong bó sen; thế giới báo chí với những tít giật gân đầy sự kiểm duyệt; thế giới giang hồ với Điền Khắc Kim, Mười Lung; và thế giới của những bà mẹ quê như bà Tư, lặng lẽ chịu đòn roi mà không đứt mạch niềm tin. Mỗi “thế giới” có một ngôn ngữ riêng. Không thể để giang hồ nói như cán bộ, càng không thể cho một quả phụ chính khách phát biểu hệt một bà má miền đất thép.

Công phu lớn hơn nữa là công sức về nhịp kể. Vọng âm đan xen giữa nổi – chìm, giữa công khai – bí mật. Để làm được điều ấy, tác giả phải kiểm soát lượng thông tin tiết lộ ở mỗi Chương sao cho minh triết. Biết chỗ nào dừng lại ở một câu nói “Chúng giữ để đưa đi”, biết chỗ nào phải mở rộng thành phiên tòa 59 phút nghị án. Đó không chỉ là kỹ thuật viết, mà là kỹ thuật chọn dữ liệu. Người viết hẳn đã có trong tay nhiều hơn 254 trang sách, (chẳng khác nào một ôm rau để cấu những ngọn rau rồi tự tay gạn bỏ, gạn bỏ nữa, rồi cuối cùng giữ lại những chi tiết đủ sức tạo hiệu ứng, độ ngân âm vang đọng lại trong người đọc).

Tôi nghĩ đến công phu của thời gian. Từ 1966 đến Hiệp định Paris, rồi ngày ngưng tiếng súng, rồi lễ vinh danh sau này, một quãng lịch sử dài gần mười năm chiến tranh cùng mấy chục năm hậu chiến. Để một nhân vật đi qua từng ấy mốc mà không đứt mạch, tác giả phải dựng được trục thời gian chính xác: Ngày xử án, ngày chuyển trại, ngày tàu cập bến. Lịch sử không cho phép sai số tùy tiện. Sự chính xác ấy làm nền cho những Vọng âm, những tiếng sóng Côn Đảo còn vang trong thói quen ngủ dưới sàn của Tám Thu.

Công phu còn là sự dấn thân vào tâm lý nhân vật, sự việc. Viết về tra tấn mà không sa vào kích thích bạo lực, viết về tình mẫu tử mà không ủy mị, viết về bản lĩnh chính trị mà không hô khẩu hiệu, đó là một cân bằng rất khó mà người viết phải hiểu được “nhân vật của mình” trước khi hiểu sự kiện. Tám Thu không chỉ là biểu tượng, anh có cha, có vợ, có con, có sự khát nước và nỗi sợ bị thủ tiêu. Hai Sương không chỉ là nạn nhân, cô có hoài ức yêu thương, có khoảnh khắc buộc phải ký vào bản cung để cứu con mình. Những chi tiết ấy không thể vay mượn hời hợt, chúng đòi hỏi lắng nghe từ nhiều số phận có thật.

Và cuối cùng là công phu với lao động hiên tại và quá khứ của “lương tâm người viết”. Một tiểu thuyết chạm vào những vùng nhạy cảm của lịch sử phải tự đặt câu hỏi về sự thật. Không tô hồng, không bôi đen, không biến con người thành công cụ minh họa. Và điều quan trọng nhất nhà văn phải là cán cân của sự công bằng. Khi chương cuối để nhân vật thú nhận vẫn luôn thường nhật áp tai xuống sàn nghe “tiếng sóng Côn Đảo”, đó không chỉ là thủ pháp nghệ thuật; đó là lời nhắc rằng sự nhớ nhung luôn có hình thức âm vang riêng, và người viết phải đủ trung thực để nghe cho rõ.

254 trang viết là bề nổi – bề chìm là những năm tháng đọc, hỏi, đối chiếu, đi và nhớ. Là những buổi ngồi một mình trước chồng tư liệu, gạch chân một chi tiết nhỏ rồi tự hỏi: đã đủ chưa? đã đúng chưa? Chính sự dày dặn dữ liệu ấy làm nên độ tin cậy của Vọng âm. Để khi người đọc gấp sách lại, họ không chỉ nhớ một câu chuyện, mà còn nghe được những âm thanh xa xăm một thời, là những hoài niệm không chịu tắt.

Thu Hà lớn lên và trưởng thành là trong một hệ sinh thái khép kín từ những bi kịch dòng họ và thời cuộc. Bởi thế, sự tìm tòi, tích hợp vừa là sự khao khát mãnh liệt vừa là sự thách đố với chính bản thân mình để phá bung cái bầu sinh quyển khép kín ấy mở ra những tìm tòi về xã hội, thân phận con người với độ quét sóng vô cùng mãnh liệt. Chính với hệ sinh thái khép kín và khao khát tìm kiếm ấy mà Thu Hà đã sớm có một vốn sống phong phú về thẩm mỹ – văn hóa xã hội…để đọc Thu Hà ta như đọc được những áng văn mới, áng văn lạ chưa đọc được ở đâu, lúc trúc trắc vỡ mạch lúc lại êm ả trôi xuôi đến vô tận.., Mỗi không gian là những hình ảnh đặc trưng tưởng như tác giả từng là người sinh ra và lớn lên ở đó. Mỗi tuyến nhân vật là con người, tâm trạng được chắt lọc đặc trưng đến mức gây cho người đọc sự tò mò vì sao Thu Hà có được những cảm xúc đa dạng hòa quyên đến thế. (Đến đây xin mở ngoặc, Thu Hà vẫn làm thơ và thơ cũng rất hay. Riêng về hệ sinh thái khép kín tôi mới đề cập, rồi đây chắc cô sẽ cho ra đời một tác phẩm đầy sức hấp dẫn).

Còn với cuốn sách này Nguyễn Thu Hà đã hòa trộn cảm xúc của mình với thời cuộc Sài Gòn ở những năm 1966-1970, một cách nhuần nhuyễn, khéo léo để nhìn thấu thân phận con người, suy tư sâu lắng của nhân vật, ngõ hầu làm cho Vọng âm chạm đến chiều sâu của cảm xúc, cuốn hút ngay từ những trang đầu tiên. Chỉ hơi tiếc một điều, đôi lúc Thu Hà… hơi tham, đã gắn tâm trạng nhân vật thù địch bộc lộ những điều ác độc về phía – bên – kia… khiến cho bạn đọc cảm thấy những điều này (là) hư cấu nhàm chán, lối mòn.

Đây là cuốn tiểu thuyết mà theo Thu Hà là khó nhằn nhất trong số bản thảo đã dựng trong giai đoạn 2022 – 2025. Và để thấy sự công phu, khó nhọc với Vọng âm, ta hãy nghe tâm sự của tác giả… “Bằng một sự thần kì nào đó cộng với tiền túi của mình tôi đã tới với Côn Đảo, ăn nằm chung với những con người từng chịu đày ải nơi thứ gọi là Địa ngục trần gian. Để biết được cách họ từng cố gắng giữ những hơi thở cuối của sự sống, biết cái đau của da thịt bị siết trong cùm sắt chôn dưới sàn xi măng, biết cách những người đàn bà và đàn ông giữ mình ở mép ranh giới hồn ma – con người, giữ phẩm giá làm người trước lằn ranh sinh – tử… Rồi nằm xuống sàn xà lim, thọc chân vào gông cùm, hít thứ mùi của tầng tầng lớp lớp da thịt trộn máu và cát, nghe ầm ì tiếng sóng vọng từ xa khơi truyền tới tường xà lim loang lổ vết máu rệp và vết tích… Tựa cuốn sách này đã được ấn định từ lúc đó”.

Tôi đã định nói lời cuối về Vọng âm, nhưng đành phải thêm ít điều về ao ước nhỏ nhoi của Thu Hà, “Phải làm sao khi cuốn sách ra đời, bạn đọc sẽ đọc được, nghe được bước chân trần cùa kẻ hậu thế thọc vào cát trắng nghĩa trang Hàng Dương và đứng trong bóng đêm gờ biển rạn nhìn về ánh đèn nghĩa trang…”. Thì bây giờ tôi tin rằng bạn đọc khi tiếp cận trực tiếp với tác phẩm sẽ cảm nhận được những điều trên. Vì vậy, lời cuối của tôi ở đây là Xin chúc mừng nhà văn Thu Hà đã viết được cuốn tiểu thuyết thành công với Vọng Âm công phu, sàng đãi chắt chiu từng câu chữ đầy hấp dẫn.

21/3/2026

An Bình Minh

Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Vọng âm - Một tiểu thuyết dày công tư duy và lao động quá khứ

Vọng âm - Một tiểu thuyết dày công tư duy và lao động quá khứ Nhà văn Nguyễn Thu Hà vừa có buổi ra mắt tiểu thuyết “Vọng âm” (NXB Công an ...