Xướng ca vô loài
Sách vở thường nói rằng xã hội Việt
Nam ngày xưa có "Sĩ, nông, công, thương". Như
vậy là còn thiếu. Người ta đã cố ý không kể một hạng người là bọn xướng
ca vô loài vì không biết sắp xếp bọn này vào đâu cho
ổn.
Xướng ca bị coi là vô loài, bị khinh rẻ
không thua gì thằng mõ. Bị khinh từ năm xửa năm xưa, từ thời vua
Lê Nhân Tôn (1447) xa tít."Dân
Thanh Hóa thấy vua đến, trai gái đem nhau hát rí ren ở hành tại. Tục hát rí ren
một bên con trai, một bên con gái, dắt tay nhau hát, hoặc tréo chân tréo cổ
nhau, gọi là cắm hoa kết hoa, thói rất là xấu. Đài quan Đồng Hanh Phát bẩm với
thái úy Khả rằng: "Lối hát ấy là thói dâm tục xấu, không nên cho người hát
nhảm ở trước xa giá". Khả liền sai cấm hẳn." (Ngô Sĩ Liên, Đại
Việt sử ký toàn thư, tập 3, Khoa Học Xã Hội,1968, tr. 139).Trai gái bá vai bá
cổ nhau ca hát là thói dâm tục rất xấu, cấm không được nhảm nhí trước kiệu vua.
Muốn tốt đẹp, trang nghiêm thì... vào cung vua mà múa với hát!Năm 1462, vua Lê
Thánh Tôn quy định rằng "Nhà phường chèo
con hát và những kẻ phản nghịch, ngụy quan, có tiếng xấu, bản thân và con cháu
đều không được đi thi, nếu mang sách hay mượn người làm hộ, thì trị tội theo
luật." (Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.183). Phường chèo, con
hát được bỏ cùng một rọ với đám phản nghịch, ngụy quan, có tiếng xấu. Cứ đà này
thì có ngày mất mạng như chơi chứ chẳng đùa. Luật lệ nghiêm khắc và vô lý của
Lê Thánh Tôn đã đẩy một số người trở về làng cũ học cày cho xong, học chữ thánh
hiền chỉ tổ toi cơm tốn gạo.Phường chèo, con
hát bị vùi dập có lẽ chỉ vì:"Xã
hội ta xưa quan niệm lũ xướng ca vô loài là một tầng lớp vô luân. Họ bị coi là
vô luân không phải vì họ sa đọa, chính sự sống của họ cũng không phải là sa
đọa, mà chỉ vì những vai trò của họ đóng khi xướng hát: họ bị coi là vô luân ở
đây vì người con có thể đóng một vai vua và người cha đóng vai bày tôi quỳ lạy,
anh em ruột có thể đóng đôi vợ chồng, và vợ chồng lại có thể đóng vai mẹ con
hoặc cha con... Tất cả cái vô luân là ở đây, ở đấy luân thường đã không còn
nữa, mặc dầu chỉ trong những lúc trình diễn." (Toan Ánh, Phong tục Việt Nam, Khai Trí, 1969,
tr. 429).Mặc dù bị vua quan
và nhà nho khinh ghét, mặc dù không được đi thi để ra làm quan lớn, bọn phường
chèo, con hát vẫn tiếp tục hành nghề và vẫn được nhiều người dân thường ưa
thích."Khoảng
năm Cảnh Hưng, phường hát chèo bội mới pha thêm lối tuồng, cũng đóng vai trò vẽ
mặt ra múa hát đùa cợt, không khác gì ở hí trường. Các nhà tang gia hay đua
nhau mượn phường chèo đóng tuồng để khoe khoang. Các quan chính phủ ghét hung lễ
lại dùng lẫn lộn cả cát lễ, bèn nghiêm cấm, đã hơn mười năm. Đến năm Canh Tuất
(1790) lại thấy dân gian bày trò hát bội ấy. Các con nhà lương gia tử đệ có
người bỏ cả chức nghiệp đi theo học hát, khăn áo dáng bộ như đàn bà, thường khi
ở nhà cũng nghêu ngao tập hát chèo, trước mặt khách cũng không thẹn thò gì cả.
Lại còn trò đánh bạc chọi gà sinh ra nhan nhãn. Tập tục đến thế thật đáng
buồn!" (Phạm Đình Hổ, Vũ Trung
tùy bút, Văn Học, 1972, tr. 57). May thay... cơ
trời vần xoay, rồi cũng đến một ngày mai sáng sủa hơn. "Lệ
cũ, cứ con nhà hát xướng không được vào nhà học hiệu, thi đỗ ra làm quan. Tiếc
rằng không mở rộng đường cho kẻ tuấn dị tiến thân, để thu lấy nhân tài xuất
chúng. Từ khi Lộc Khê Hầu (Đào Duy Từ) là con nhà hát xướng, vì không được ra
thi, mới lẻn vào giúp nhà Nguyễn ở trong Nam, bấy giờ những kẻ đương sự mới hối
rằng cái cách tìm kiếm nhân tài như thế là không rộng. Nhưng cũng chưa công
nhiên bãi bỏ lệ cũ. Từ khi bà Trương quốc mẫu, người Như Kinh, là kẻ hát xướng
được tuyển vào cung hầu Tần Quang Vương, sinh ra Trịnh Nhân Vương (Trịnh
Cương), Biện trưởng cung, người Á Lữ, sau lại đắc sủng với Nhân Vương, nên các
họ về giáo phường mới được kể bằng hàng với các họ nhà lương gia. Sau này các
họ nhà đại khoa hiển hoạn cũng thường có người do dòng họ hát xướng mà phát
đạt lên, nên những kẻ sĩ phu cũng cùng họ giao du tự nhiên, và rồi những nhà hát
xướng cũng quên hẳn thế hệ nhà mình tự đâu mà ra. Xem đó thì biết thế vận phong
tục mỗi ngày một khác." (Vũ
Trung tùy bút, sđd, tr. 79-80).Phải công nhận
là... mê gái cũng có cái hay! Bên trên mê gái thì bên dưới cũng được nhờ! Vua
chúa một khi quen hơi đào hát thì bao nhiêu cái nhảm nhí ngày xưa bỗng chốc
được dẹp qua một bên. Luật lệ được tẩy xóa. Xin cảm ơn và tuyên dương cô đào
hát họ Trương! Giọng ca tiếng hát và có lẽ cả thân hình của cô đã cảm hóa được
lòng người, phá bỏ được bất công. Nhờ cô mà con cháu mở mày mở mặt.Nhưng thói đời,
bia miệng thì cứ trơ trơ. Mặc dù vua chúa đã thôi lấy
thịt đè người, đè con hát từ lâu rồi, nhưng thành kiến xướng ca vô loài vẫn cứ bám rễ trong đầu
nhiều người đến tận đầu thế kỉ 20. Mẹ và em gái Tản Đà bất đắc dĩ phải "đắp đổi tháng ngày bằng điệu phách câu ca", bị
"người ta hùa cả nhau vào bài xích việc xướng ca là việc giăng hoa đĩ
bợm." (Nguyễn Mạnh Bổng, 1944). Bỗng dưng xướng ca lại được tặng thêm hỗn danh đĩ bợm. Tại sao vậy? Xướng ca có liên hệ gì với đĩ
à? Vậy đĩ là gì, là ai?Trong văn học, người Tàu gọi các cô làm nghề xướng ca là kỹ nữ. Kỹ nữ nguyên nghĩa chỉ là người con gái làm nghề ca xướng, múa
hát. Chữ kỹ (bộ nữ) của tiếng Hán được ta đọc Nôm thành đĩ. Kỹ nữ của Tàu trở
thành Con đĩ của ta. Kỹ nữ và con đĩ là hai chị em
ruột. Con đĩ ngày xưa chỉ có nghĩa là người con gái làm nghề hát xướng chứ
không phải là con đĩ làm nghề mại dâm như ngày nay!Thật hay đùa vậy?Xưa kia, trước khi
làng mở hội cho mọi người vui chơi thì các vị chức sắc phải tổ chức tế lễ ngoài
đình. Có rước phụng
nghênh hồi đình (rước
long kiệu từ miếu về đình) rất long trọng. Nghi trượng gồm nào cờ quạt, voi
ngựa, nào bát bửu, cờ biển. Rồi đến phường đồng văn đánh trống, gõ thanh la,
theo sau là mấy người con gái, đôi khi là con trai giả gái, vừa vỗ trống vừa
múa hát gọi là con đĩ
đánh bồng. Theo sau con đĩ đánh bồng là cờ vía, lọng vàng, lệnh kiếm,
phường bát âm, long đình, kiệu thánh... và sau cùng là bô lão, chức sắc của
làng. (theo Phan Kế Bính, Việt
Nam phong tục, Tổng Hợp Đồng
Tháp, 1990, tr. 96-100). Xem vậy thì vai
trò của con đĩ ngày xưa cũng không có gì là tệ lắm, được múa hát diễn hành
trước cả long đình, kiệu thánh, các bô lão, chức sắc của làng.Nếu chỉ múa hát
thôi thì chẳng có gì là xấu. Có xấu chăng là kể từ ngày các con đĩ bị giới
trưởng giả, mấy ông trí thức mời về nhà hát. Chính những vị tai mắt, khoa bảng,
đã mở đường hoặc tiếp tay làm biến chất, làm hư các con đĩ. Buổi hát ban đầu rất lịch thiệp. Các quan
ăn uống vui chơi, các cô hầu rượu, múa hát những bài do các quan yêu cầu.Hồng Hồng Tuyết TuyếtMới ngày nào còn chửa biết chi chiMười lăm năm thấm thoắt có xa gìNgảnh mặt lại đã đến kỳ tơ liễu (...)(Dương Khuê, Hồng Tuyết)Những chầu hát cô đầu dần dần bị những người thiếu tư
cách biến thành nơi cợt nhả, bá vai gối đùi.Nhân sinh quý thích chí Còn gì hơn hú hí với cô đầu (...)Chơi cho thủng trống tầm bông.(Trần Tế Xương, Chơi ả đào)Rồi chẳng bao lâu, buổi hát chỉ còn là cái cớ cho
những trận trác táng, tằng tịu, dâm loàn. Cũng ra đĩ rạc Bấy lâu nay đã toác toạc toàng toangChán chê rồi về đến đầu làngToan tấp tểnh những đường tu lý (...)(Trần Tế Xương, Đĩ rạc đi tu) Con đĩ vốn chuyên nghề hát xướng dần dần trở thành gái
làng chơi.Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ Trời sinh ra cũng để mà chơiDễ mấy khi làm đĩ gặp thờiChơi thủng trống long dùi âu mới thích (...)Mai sau này giỗ có văn nômCha đời con đĩ cầu Nôm.(Nguyễn Khuyến, Đĩ cầu Nôm)Các nhà hát tư mọc lên, lập thành xóm cô đầu. Vàng
thau lẫn lộn, khó mà phân biệt được con hát thật với con gái làng chơi. Từ đây
trở đi người ta đồng hóa đĩ với gái làng chơi, gọi gái làng chơi là đĩ.Sự biến chất này cũng tương tự như ý nghĩa
của từ Thanh lâu (lầu xanh) và Hồng lâu (lầu hồng). Lầu xanh lúc đầu dùng để
chỉ nhà sang trọng. Đến khoảng đời Đường thì được dùng để chỉ nơi ở của kỹ nữ. "Như vậy thì ngày nay Thanh Lâu không còn có nghĩa là nhà cao cửa đẹp
mà chỉ có nghĩa là nhà kỹ nữ." (Diên Hương, Thành ngữ điển tích, Phương Lai, 1954), và
cuối cùng trở thành: Lầu xanh có mụ Tú bà,Làng chơi đã trở về già hết duyên (Nguyễn Du, Kiều)Lầu xanh rõ ràng đã trở thành nơi chứa gái làng chơi,
gái giang hồ.Ngảnh mặt lại lầu xanh thương những kẻTrầm luân chưa khỏi kiếp hồng nhan(Tôn Thọ Tường, Đĩ già đi tu) Từ điển
Génibrel (1898) và Gustave Hue (1937) cũng chép lầu xanh là maison de
prostitution (nhà đĩ, nhà thổ). Lầu hồng xưa kia là chỗ ở của con gái nhà giàu: Đêm ngày lòng những giận lòngSinh đà về đến lầu hồng xuống yên (Kiều) Sau này lầu hồng cũng bị trở thành maison des
chanteuses (nhà chứa con hát), và sau cùng là nhà chứa đĩ. Giang hồ từ thủa mười lăm, Đến năm mười chín còn nằm trông xuân,Xuân kia còn độ mấy lần,Tấm thân phơi chốn bụi trần mà thương (...)(Hoàng Ngọc Phách, Giọt lệ hồng lâu)Nhà chứa đĩ thời Tây được gọi
là nhà đỏ, nhà thổ. Chữ
thổ không phải là chữ Hán, cũng không phải là chữ Việt. Thổ là
âm của tiếng Pháp tolérance (cũng như thổ
mộ là âm của tombereau). Nhà
thổ tức là maison de tolérance (nhà
chứa đĩ) của Pháp. Xã hội ta thích ứng thật nhanh chóng với mọi hoàn
cảnh! Vị Xuyên có Tú Xương Dở dở lại ương ươngCao lâu thường ăn quỵtThổ đĩ lại chơi lường.Tú Xương đã nắm bắt được chuyển biến của xã hội đương
thời, đưa một dịch vụ ăn khách là thổ đĩ vào văn
học. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) định
nghĩa "nhà chứa" là nơi nuôi gái mãi dâm, tổ chức cho gái mãi dâm hành
nghề, trong xã hội cũ. Đúng ra thì phải gọi là gái mại dâm (gái bán dâm), các
ông đi chơi gái thì gọi là khách mãi dâm (khách mua dâm). Nhầm
lẫn người mua với người bán âu cũng là thói quen đã có từ lâu. Nhưng nếu phân
biệt được chủ với khách, người cho với kẻ nhận thì vẫn hơn. Nhất là trong thời
buổi nhiễu nhương có cả các cậu, các ông bán dâm cho người cùng phái.Người Hà Nội gọi các cô gái điếm thời Tây
là đượi. Có người cho rằng đượi là nói trại của đười (con đười ươi, cùng họ với
khỉ, tườu) vì các cô điếm đầu tóc bù xù, nửa người nửa ngợm, nửa đười ươi. Giải thích này nghe
không xuôi tai vì phần đông các cô đượi đều ăn mặc hấp dẫn, son phấn, đầu
tóc chải chuốt, phi dê (frisés). Có như vậy mới mong câu được khách chứ. Đầu bù tóc rối như
đười ươi (mà đã có ai được thấy đầu tóc đười ươi chưa nhỉ?), thì đến tượng đồng đen, cột
nhà cháy nó cũng chê, thì làm sao mà bán trôn nuôi miệng được? Có lẽ đượi chỉ là biến âm
của đĩ mà thôi. Đọc trại với ý khinh bỉ và phân biệt. Đượi là me tây, đĩ là me ta.
Đượi và đĩ còn có tên là gái ăn sương. Tên nghe khá lãng mạn, nói lên được
nỗi vất vả lúc đêm khuya thanh vắng.Kiếm ăn chung với các cô đượi là bọn ma cô (maquereau), bọn
bồi xăm (chambre). Thời Pháp còn có nhà Lục xì. Vũ Trọng Phụng viết tiểu
thuyết Làm đĩ (1936) và phóng sự Lục xì (1937) nhưng tiếc rằng Tuyển tập Vũ Trọng
Phụng (Văn học, 1987) không đăng những truyện này nên rốt cuộc vẫn không
biết Lục xì là gì. Cái phiền của tuyển tập là vậy! Người khác chọn giùm mình. Cho
đọc cái gì thì đọc cái ấy! Tra tìm trong từ điển Hán, Nôm thì không thấy Lục xì. Từ điển Gustave Hue có
từ Lục xì nhưng lại không giải thích, chỉ cho biết Lục xì là một từ phon. (tôi đoán phon. là
viết tắt chữ phonétique, nghĩa là đọc theo âm). Nếu vậy thì Lục xì có thể là âm cuối của
chữ syphilis (bệnh hoa liễu, còn gọi là giang mai, nôm na là bệnh lậu hay tim la).
Nhà Lục xì là nơi khám bệnh hoa liễu cho các cô điếm thời Tây. Thực dân Pháp đem vào nước ta một loại kỹ nữ mới là vũ nữ, các cô gái nhảy, ca ve (cavalière). Gái nhảy phải biết... nhảy
đầm, không cần biết hát. Các cô hành nghề tại các đăng xinh (dancing). Ông nào
chồn chân muốn nhảy thì mua vé, chọn gái nhảy. Nhiều cô... làm thêm giờ phụ
trội, nhảy cả tại phòng riêng.Trở lại với các nàng kỹ nữ. Chữ kỹ ban đầu còn có nghĩa, còn được dịch
là ả đào, đào hát, con nữ phường chèo. Sau này được dịch thẳng là đĩ, con gái
mại dâm (Đào Duy Anh), con đĩ nhà thổ (Thiều Chửu).Kỹ nữ và con đĩ, tuy là đồng hội đồng
thuyền, cùng là xướng ca vô loài nhưng cũng được phân biệt đối xử. Những lúc hứng bốc
lên dạt dào thì thi sĩ gọi bọn này là kĩ nữ nghe cho thanh tao, lãng mạn! Nói
đến kỹ nữ là người ta liên tưởng đến những số phận long đong, lỡ làng. Một kỹ nữ gảy khúc tỳ bà đã làm xúc động ông tư mã Giang Châu. Một kỹ nữ lênh đênh
trên sông Hương ngợp ánh trăng đã làm mềm lòng nhiều thế hệ: Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi! Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trờiKhách không ở, lòng em cô độc quá.Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lảTay em đây mời khách ngả đầu say,Đây rượu nồng. Và hồn của em đâyEm cung kính đặt dưới chân hoàng tử....Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt.Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.Người viễn du lòng bận nhớ xa khơiGỡ tay vướng để theo lời gió nước.Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôiDu khách đi.- Du khách đã đi rồi!(Xuân Diệu, Lời kỹ nữ)Người ta dễ thông cảm, xót thương cho số phận các nàng
kĩ nữ và dửng dưng thậm chí khinh bỉ các nàng kỹ nữ nhập tịch Việt Nam, trở
thành con đĩ bình dân! Thành ngữ, ca dao của ta có rất nhiều câu
ám chỉ bọn gái đĩ già mồm. Sau những trận chơi cho thủng trống tầm bông, cho toác toạc toàng toang, các ông không quên núp
sau lưng vợ, lên mặt đạo đức khuyên các cô làm đĩ chín phương, để một phương lấy
chồng. Kẻ ít học cũng a dua nói leo vài câu vô
nghĩa:Đĩ xơ đĩ xác, đĩ xạc đĩ xờĐĩ ở trên bờ, đĩ lặn xuống aoCũng có người thành thực hơn, ra mặt chê nhưng đúng
hơn là ganh tỵ với đĩ:Làm đĩ có tàn, có tán, có hương án thờ vua, có chuông chùa niệm Phật.Toàn là chê, chửi, trách đĩ. Tha hồ cho sướng
miệng! Ngày xưa người ta gọi trẻ con là thằng
cu, cái đĩ. Cu là dương vật. Đĩ là gái làng chơi. Cu và đĩ mang
nghĩa xấu, được mê tín ngày xưa dùng với mục đích để ma quỷ chê đứa bé, không
ám hại nó. Ngôn ngữ hiện đại có từ kép đĩ điếm. Điếm nghĩa là cái kho,
cái nhà chứa đồ. Đĩ điếm là từ kép nửa Việt nửa Hán, có nghĩa là nhà chứa đĩ hay là ổ mại dâm.
Gái làng chơi có thêm tên gọi tắt là gái điếm.Cuộc đời ba chìm bảy nổi đã hóa thân nàng
kỹ nữ thành con đĩ, con điếm.Người xưa đồng hóa con hát với đĩ điếm và
gọi bọn này là xướng ca vô loài. Năm 1945, bộ trưởng bộ Giáo Dục - Mỹ Thuật
Hoàng Xuân Hãn đã làm một cuộc cách mạng văn hóa, đưa hát xướng vào
chương trình bậc trung học. Hát xướng trở thành môn học bắt buộc. Xướng ca
chính thức thoát khỏi cái nhục vô loài.Ngày nay nước ta có trường dạy âm nhạc,
kịch, tuồng, chèo, cải lương. Đủ các bộ môn xướng ca. Nghệ sĩ xuất sắc được
tặng danh hiệu, gắn huân chương. Ai dại mồm dại miệng tuyên bố xướng ca vô loài chắc sẽ bị cả triệu
người tát cho vỡ mặt.Như vậy là nước ta hết đĩ rồi chăng? Hết làm sao được! Ngày nào còn các cậu,
các ông lang bang, thèm của lạ thì ngày đó còn các cô, các bà làm cái nghề xưa
nhất trên mặt trái đất này! Xướng ca vừa được phục hồi danh dự, được tôn vinh
thì xã hội lại đẻ ra các nàng sờ nách ba (snack bar), bia ôm, mát xa (massage)... Có người
mua thì có kẻ bán, còn người bán thì còn kẻ mua. Ngoạn mục thay cái đèn cù của
kinh tế thị trường! Có điều lạ và bất công là phường chèo,
gánh hát có cả kép hát nhưng ngôn ngữ bình dân gần như bỏ quên bọn này. Sách vở
của ta chỉ đả động đến con đĩ chứ không nói đến thằng đĩ. Không biết xã hội phong kiến ngày xưa
có kỹ nam không? Ngày nay thì nhiều nước có. Không những có kỹ nam mà còn có cả kỹ sư! Ấy chết, xin
đừng vội hiểu lầm là các ông các bà kỹ sư là... bậc thầy của đĩ! Chữ kỹ (bộ
thủ) của kỹ sư viết khác chữ kỹ (bộ nữ) của kỹ nữ. Kỹ sư là người có tài năng,
chuyên về một kỹ thuật gì.Các cô kỹ nữ, các ông kỹ nam tân thời có tên
gọi đáng yêu là ca sĩ. Sĩ này được trọng vọng hơn cả sĩ của "Sĩ, nông, công, thương". Thần tượng của vô số
người. Dưới ánh đèn mờ, khói thuốc âm u, nhạc dìu dặt, mơ màng nghe các cô hát,
các cô ca, các cô la, thỉnh thoảng được ngắm một cái ngoáy, một cái ưỡn thì
chao ôi... xướng ca quả là sướng quá!.3/2003Nguyễn Dư
Năm 1462, vua Lê
Thánh Tôn quy định rằng "Nhà phường chèo
con hát và những kẻ phản nghịch, ngụy quan, có tiếng xấu, bản thân và con cháu
đều không được đi thi, nếu mang sách hay mượn người làm hộ, thì trị tội theo
luật." (Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.183).
"Khoảng
năm Cảnh Hưng, phường hát chèo bội mới pha thêm lối tuồng, cũng đóng vai trò vẽ
mặt ra múa hát đùa cợt, không khác gì ở hí trường. Các nhà tang gia hay đua
nhau mượn phường chèo đóng tuồng để khoe khoang. Các quan chính phủ ghét hung lễ
lại dùng lẫn lộn cả cát lễ, bèn nghiêm cấm, đã hơn mười năm. Đến năm Canh Tuất
(1790) lại thấy dân gian bày trò hát bội ấy. Các con nhà lương gia tử đệ có
người bỏ cả chức nghiệp đi theo học hát, khăn áo dáng bộ như đàn bà, thường khi
ở nhà cũng nghêu ngao tập hát chèo, trước mặt khách cũng không thẹn thò gì cả.
Lại còn trò đánh bạc chọi gà sinh ra nhan nhãn. Tập tục đến thế thật đáng
buồn!" (Phạm Đình Hổ, Vũ Trung
tùy bút, Văn Học, 1972, tr. 57).
Nhưng thói đời,
bia miệng thì cứ trơ trơ. Mặc dù vua chúa đã thôi lấy
thịt đè người, đè con hát từ lâu rồi, nhưng thành kiến xướng ca vô loài vẫn cứ bám rễ trong đầu
nhiều người đến tận đầu thế kỉ 20. Mẹ và em gái Tản Đà bất đắc dĩ phải "đắp đổi tháng ngày bằng điệu phách câu ca", bị
"người ta hùa cả nhau vào bài xích việc xướng ca là việc giăng hoa đĩ
bợm." (Nguyễn Mạnh Bổng, 1944).
Xưa kia, trước khi
làng mở hội cho mọi người vui chơi thì các vị chức sắc phải tổ chức tế lễ ngoài
đình. Có rước phụng
nghênh hồi đình (rước
long kiệu từ miếu về đình) rất long trọng. Nghi trượng gồm nào cờ quạt, voi
ngựa, nào bát bửu, cờ biển. Rồi đến phường đồng văn đánh trống, gõ thanh la,
theo sau là mấy người con gái, đôi khi là con trai giả gái, vừa vỗ trống vừa
múa hát gọi là con đĩ
đánh bồng. Theo sau con đĩ đánh bồng là cờ vía, lọng vàng, lệnh kiếm,
phường bát âm, long đình, kiệu thánh... và sau cùng là bô lão, chức sắc của
làng. (theo Phan Kế Bính, Việt
Nam phong tục, Tổng Hợp Đồng
Tháp, 1990, tr. 96-100).
Nhân sinh quý thích chí
Cũng ra đĩ rạc
Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ
Sự biến chất này cũng tương tự như ý nghĩa
của từ Thanh lâu (lầu xanh) và Hồng lâu (lầu hồng). Lầu xanh lúc đầu dùng để
chỉ nhà sang trọng. Đến khoảng đời Đường thì được dùng để chỉ nơi ở của kỹ nữ. "Như vậy thì ngày nay Thanh Lâu không còn có nghĩa là nhà cao cửa đẹp
mà chỉ có nghĩa là nhà kỹ nữ." (Diên Hương, Thành ngữ điển tích, Phương Lai, 1954), và
cuối cùng trở thành:
Lầu hồng xưa kia là chỗ ở của con gái nhà giàu:
Giang hồ từ thủa mười lăm,
Vị Xuyên có Tú Xương
Kiếm ăn chung với các cô đượi là bọn ma cô (maquereau), bọn
bồi xăm (chambre). Thời Pháp còn có nhà Lục xì. Vũ Trọng Phụng viết tiểu
thuyết Làm đĩ (1936) và phóng sự Lục xì (1937) nhưng tiếc rằng Tuyển tập Vũ Trọng
Phụng (Văn học, 1987) không đăng những truyện này nên rốt cuộc vẫn không
biết Lục xì là gì. Cái phiền của tuyển tập là vậy! Người khác chọn giùm mình. Cho
đọc cái gì thì đọc cái ấy! Tra tìm trong từ điển Hán, Nôm thì không thấy Lục xì. Từ điển Gustave Hue có
từ Lục xì nhưng lại không giải thích, chỉ cho biết Lục xì là một từ phon. (tôi đoán phon. là
viết tắt chữ phonétique, nghĩa là đọc theo âm). Nếu vậy thì Lục xì có thể là âm cuối của
chữ syphilis (bệnh hoa liễu, còn gọi là giang mai, nôm na là bệnh lậu hay tim la).
Nhà Lục xì là nơi khám bệnh hoa liễu cho các cô điếm thời Tây.
Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi!
Người xưa đồng hóa con hát với đĩ điếm và
gọi bọn này là xướng ca vô loài.
Như vậy là nước ta hết đĩ rồi chăng?
Các cô kỹ nữ, các ông kỹ nam tân thời có tên
gọi đáng yêu là ca sĩ. Sĩ này được trọng vọng hơn cả sĩ của "Sĩ, nông, công, thương". Thần tượng của vô số
người. Dưới ánh đèn mờ, khói thuốc âm u, nhạc dìu dặt, mơ màng nghe các cô hát,
các cô ca, các cô la, thỉnh thoảng được ngắm một cái ngoáy, một cái ưỡn thì
chao ôi... xướng ca quả là sướng quá!.
3/2003
Nguyễn Dư


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét