Chiêm ngắm Ðóa hoa vô thường
Các anh chị Talawas mến,
Xin gửi tới bài viết “Chiêm ngắm Đóa hoa vô thường” để chia sẻ với
bài “Nghệ thuật ca từ của TCS qua tác phẩm DHVT” của anh THQuang. Vì thấy có một
số ý tưởng trùng hợp thú vị khi cùng nhìn về tác phẩm này. Và để góp
thêm vào... “Huyền thoại Trịnh Công Sơn” cho vui ở Góc cuối tuần.
Bài "Chiêm ngắm DHVT đã đang trên Hợp Lưu số tưởng niệm
TCS ra khoảng tháng 5, 6 năm ngoái (2001).
Thân,
Hà Vũ Trọng
Chìm dưới cơn mưa một người chết đêm qua
Chìm dưới đất kia một người sống thiên thu
Chìm khuất trong ta một lời nói vu vơ
Chìm dưới sương thu là một đóa thơm tho...
Chỉ có trong tình yêu ta mới bắt gặp được cái chết của chính
mình. Tình yêu cũng mở ngõ cho những lần hóa kiếp. Hãy thử bước vào thế giới đó
để khởi đầu bằng một cái chết thật vô cùng yêu dấu.
- Trịnh Công Sơn (Lời tựa Tình Khúc, 1967)
Bởi chàng nhập vai Orpheus, nhà thơ... nhà kiến trúc nên huyền
thoại, nhà phù thủy trước sự man rợ, và là người hành hương về cõi chết...
- George Steiner
“Silence and the Poet”
Khúc dạo
Chúng ta yêu nhạc Trịnh Công Sơn vì trong nhạc của anh có
thơ. Vậy, chúng ta có được cả hai. Tự thơ đã là một loại nhạc biểu hiện cái đẹp
và sự hài hòa của chữ nghĩa. Nhạc thơ ở anh song sinh từ niềm thôi thúc muốn tỏ
tình với cuộc đời. Nhạc thơ đó cũng lung linh ảo diệu như bóng trăng in
trên mặt nước mà chúng ta thường không phân biệt nổi đâu là nhạc là thơ. Nếu nhạc
là con sông thì thơ là con trăng nhập vào mặt nước thành con thuyền chở tình
yêu của anh. Nói cách khác, thơ và nhạc là đôi cánh để bay chở tình yêu trong
những ca khúc của Trịnh Công Sơn, không thể tách lìa được. Từ đó thơ nhạc sẽ
la đà bay vào lòng người, khiến tai ta có thể nghe được những âm thanh vọng xuống
từ trời cao, tiếng của đất trời rộn ràng... Dù em khẽ bước không
thành tiếng, cõi đời bao la vẫn ngân dài. Mỗi khúc hát của TCS là mỗi giấc mơ
hóa thân thu mình bé lại làm mưa tan giữa trời, là mỗi lần tâm hồn bụi bậm
thường nhật của chúng ta được tuôn tưới, gột rửa.
Thơ ca đích thực nảy sinh từ vũ điệu của tâm hồn (Inayat
Khan). Từ thơ mà nhịp điệu của tâm hồn được thể hiện. Có người sẽ cho rằng nét
nhạc của Trịnh Công Sơn giản dị, đơn điệu. Hẳn là anh chuộng sự đơn sơ, giản dị,
nhưng đây là cái giản dị của sự đạm bạc, khổ hạnh, nghèo mà vẫn giàu
những cảm thức mỹ học tao nhã. Nét nhạc “đơn điệu” (monotone hay
thể monophonic ballade) đó lại là dòng cảm thức cô tịch, của cá nhân trực
cảm được nỗi cô đơn với vũ trụ, thiên nhiên. Người ôm lấy muôn loài nằm
trong tiếng bi ai. Tiếng bi ai đó thấm cả vào lòng cảnh vật, sỏi đá tưởng là vô
tri. Làm sao em biết bia đá không đau... Ngày sau sỏi đá cũng cần có
nhau... Cảm được cái u ẩn của vết lăn trầm hằn trên phiến đá nâu
thêm ưu phiền... hoặc có một dòng sông đã qua đời từ cơn mộng du
nương chảy theo dòng sông là chứng nhân già nua của địa cầu để đọc xem nó đã
ghi lại những gì về tình yêu sau những cơn địa chấn kinh hoàng. Lời thơ nhạc ở
đây “diệu” ở chỗ như những ngón tay búng vào đúng những phím tơ trên mỗi người
và để thả trí tưởng tượng thâm nhập vào tính vô tận của đời sống. Trên mỗi
thân người có nghìn phím tơ, búng ngón tay đàn thức dậy ước mơ... Ðôi
khi thấy trên lá khô một dòng suối...
Và nếu để đi tới chỗ rốt ráo vượt trên cả cái tiếng nhạc: đó
là tiếng người trong tiếng thơ Trịnh Công Sơn. Tiếng của thân phận
cát bụi úp mặt bùi ngùi trên đường: tiếng thiết tha ân cần của một
tình yêu vô ngã, hỉ xả để gió cuốn đi, để tim lăn trên đường mòn, để
tình yêu xay mòn thành đá cuội, để treo tình trên chiếc đinh
không [trên cây thập giá đời], để ru tình nên chịu quì gối vong nô, để làm
đá cuội mà lăn theo gót hài,... Chúng ta có thể kết tinh tất cả những hình ảnh
đó vào trong sự tự nguyện chọn “quy y” hay ở trọ trong
chính đôi chân của một người đẹp: đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều. Ðôi chân ấy chính là đôi chân của đoạn trường. Yêu cái giọng người nhu
mì của Trịnh Công Sơn rõ ràng đã đồng điệu với thi sĩ Lorca: “Thi ca đích
thực chính là tình yêu, hết mình, quên mình... Tôi có thể nói với bạn rằng tôi
ghét tiếng phong cầm, đàn, sáo. Tôi yêu cái tiếng người. Cái tiếng người đã chịu
hạ mình vì tình yêu.” Tình yêu hết mình đó chính là viên ngọc để Dã
Tràng nghe và cảm thông được tiếng của muôn loài... Hoặc dẫu biết gập ghềnh
nhiều kiếp lưu vong nhưng vẫn gánh kiếp của một tên tuyệt vọng Sisyphus
để lăn tảng đá đời: Ta lăn đời đã quá đôi tay vẫn còn ôm mịt mùng...
Cảm thức mỹ học [như trong Thiền tông, đã nói ở trên] và hồn
thơ của Trịnh Công Sơn cũng rất gần với những đoản khúc hòa ca (waka): “đem
quả tim làm hạt giống gieo, để từ đó nở ra vạn lá biếc của lời” (Vạn Diệp Tập). TCS
đã hòa điệu được cả hai mặt cảm xúc và biểu hiện phương Ðông bằng con đường khổ
hạnh và tối thiểu (Minimalism) cần phải có trong tâm linh và nghệ thuật. Hơn nữa,
cảm thức thẩm mĩ của anh trong nỗi ám ảnh về cái đẹp, vô thường, cái chết...
cũng như khúc thức ballade của anh (mang âm hưởng chung của Ðông [Nam] Á) màu sắc
gần với những bài hát ru và dân dao (minyo) của Nhật - giải thích một
phần cho tầm ảnh hưởng không nhỏ các ca khúc của anh đối với người Nhật vốn nổi
tiếng về khiếu thẩm mỹ. Về mặt lịch sử, có sự đồng cảm của Nhật đối với một đất
nước trong và sau cuộc chiến cũng tang thương, đầy hiểm nguy và thường trực
giáp mặt với cái chết. Sự gặp gỡ của Trịnh Công Sơn trong Thiền học cũng là để
tìm ra một đạo sống, một lối thoát bằng ý niệm đồng hóa sống với chết, sinh
không tách ly khỏi tử. Ðời sống được cái chết hầu cận, cái chết tháp tùng đời sống,
cả hai cùng nối liền một vòng tử sinh. Người chết nối linh
thiêng vào đời. Trong khi ta về lại thấy ta đi. Hoặc phủ nhận cả hai để đi
tới chỗ vô thủy vô chung: Không có cái chết đầu tiên... Không có cái chết
sau cùng. Từ đó anh đã thăng hoa cho cát bụi tuyệt vời... Chìm dưới đất
kia hạt cát bao la. Bởi không chỉ riêng cái chết mới là một khủng hoảng toàn diện,
mà sống cũng là một khủng hoảng (1). Một lần nằm mơ
tôi thấy tôi qua đời... Sống trong cái chết cũng có thể hình dung một
cách nghịch lý bằng đời sống được ngắm nhìn từ cõi chết, qua cách nhìn của nhà một
nhà văn Tây ban nha: “... Tôi muốn nhìn thế giới này bằng nhãn quan từ bờ bên
kia... Tất cả phụ thuộc vào cái nhìn của tôi lên bạn như kẻ chết nhìn vào kẻ chết;
Tôi đang sống trong một hoàng hôn vĩnh cửu của cõi chết, tôi ngửi thấy những
đóa hoa tựa như mùi tử thi...” (Valle Inclán). Trịnh Công Sơn đã từng nói
về “cái chết yêu dấu” được hóa kiếp trong tình yêu hay trong mỗi tình khúc của
anh: Bởi cái chết đã dựng hình tượng trong cõi sống... Con người chỉ là một
loài thiêu thân vô tội bay mãi vào ảo tưởng tình yêu. Chỉ có trong tình yêu ta
mới bắt gặp được cái chết của chính mình. Tình yêu cũng mở ngõ cho những lần
hóa kiếp. Hãy thử bước vào thế giới đó để khởi đầu bằng một cái chết thật vô
cùng yêu dấu (Tình Khúc, 1967).
Trịnh Công Sơn đã từng và ngay lúc
này đây đang vọng nhìn cuộc đời từ bờ bên kia: mệt quá thân ta này, nằm xuống
với đất muôn đời. Kìa còn biết bao người, dìu dặt tới quanh đây. Ðã từng ta
thấy em trong tiền kiếp tới cách nhìn sau này với nhãn quan lưỡng nguyên
pha thêm tính u mặc (humour) kiểu Bùi Giáng trong bài hát Con mắt còn lại. (Cõi
bờ con mắt Hoa Nghiêm, con mắt còn lại một con khóc người/ Bây giờ riêng đối diện
tôi, còn hai con mắt khóc người một con. - B.G.). Con mắt còn lại là con mắt
Hoa Nghiêm: con mắt thứ ba: con mắt huệ nằm giữa trán.
Văn Cao đã gọi chính danh Trịnh Công
Sơn là người ca thơ - để nói về các thi ca sĩ troubadour/minstrel -
những sứ giả sống để phụng thờ và ca tụng tình yêu như là nguồn sáng cứu rỗi
trong đêm trường Trung cổ. Một khoảnh khắc sống với quả tim yêu nồng nhiệt đáng
giá hơn một trăm năm sống bằng quả tim khô héo, dù ngay cả khi ca tụng tình yêu
bằng những bài tình ca không có hạnh phúc. Ðời thi ca sĩ là một kiếp
rong chơi:
Ðời vẽ tôi tên mục đồng
Rồi vẽ thêm con ngựa hồng
Từ đó lên đường phiêu linh.
Ðời vẽ trong tôi một ngày
Rồi vẽ thêm đêm thật dài
Từ đó tôi thề sẽ rong chơi...
(Chỉ
có ta trong một thời)
Chính phong thái bohemien/ gypsy này
mà hình ảnh người du ca Trịnh Công Sơn với cây đàn guitar cùng “nữ hoàng chân đất”
Khánh Ly thời ấy (1967) hiện ra giữa trời và trong các quán cà fê (sau đó là cặp
tình nhân Lê Uyên và Phương), họ là những café cantanta (ca sĩ hát
trong quán càfê) là một luồng sinh khí mới thu hút được một thế hệ rất lớn những aficionado (người
hâm mộ), và đã trở nên một dấu ấn sâu đậm khó quên đối với họ. Phong thái này mặc
dù thiếu cái passion (2) động của tiết nhịp flamenco
nhưng nó lại là cái Passion (3) tĩnh - đúng
lúc để lặng mình mà chiêm ngắm lại những vết thương lòng của người Việt Nam, của những vết
lăn trầm, của thân xác quê hương đang tan nát từng giờ trong những Ca
Khúc Da Vàng (1967). Những bài hát ru như Ngủ đi con, Lời mẹ ru và
đặc biệt bài Ca dao mẹ: hình ảnh người mẹ ngồi trăm năm như thân tượng
buồn để lại quê hương là pho tượng bi cảm Pieta (Thương xót) sống
động về người mẹ Việt Nam ru con, ru mình, ru quê hương trong tiếng võng bấp bênh phận
người, trong lúc thần chết đang bay chập chờn... Cũng có thể nói phần lớn ca
khúc TCS là những bài hát ru và hát kể và là những tự tình khúc. Rất nhiều
lời tỏ tình mở đầu ca khúc của anh luôn là ngôn ngữ nói đằm thắm gần
gũi đời thường như: Chiều nay em ra phố về... Ngày mai em đi..., Ði về đâu
hỡi em... Em còn nhớ hay em đã quên... Không có đâu em này... TCS
đã thăng hoa cho cái hồn đầy nhạc tính của tiếng Việt.
Những khúc ca thơ chủ đề thân phận như Vết
lăn trầm, Dấu chân địa đàng, Từng ngày qua, Ru ta ngậm ngùi, Xin mặt trời ngủ
yên,... làm ta nhớ tới những Trầm Ca (Cante Jondo của
García Lorca) (4), chúng thổ lộ được hết cái hồn duende -
tiếng kêu bi thương phát tỏa được từ đáy lòng u uẩn - được hát lên
trong những quán café, góc phố, hoặc trong không khí bè bạn. Chúng
biểu lộ được cái thân phận du mục của người Việt Nam trong thời chiến,
trong khi không thể kiếm được tình tự đó nơi những rạp hát hào nhoáng thường là
nơi mua bán cảm xúc như những sản phẩm; những nơi đó khó có thể là môi trường
thích hợp cho nhạc Trịnh Công Sơn. Ca khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam, Ta Phải
Thấy Mặt Trời... cũng làm thức dậy cái tính độc lập ”vô chính phủ”
(arnachy) trong tiềm thức của thanh niên. Từ đó ta hiểu tại sao nhạc TCS từng
là mối “taboo” (cấm kỵ) đối với chính quyền của cả hai phía, nó bị kết án với
cái tên gọi là nhạc Xanh. Xanh, bởi nó không theo Vàng hoặc Ðỏ.
Hay có thể nói nhạc Xanh cũng là Blues (5) bởi
nó nói lên được cái thân phận nô lệ da vàng đầy tủi nhục. Nhìn lại Gia
tài của mẹ là khát vọng “giải thực” (decolonization) cho cái tinh thần bị
tha hóa của người Việt, đặc biệt là ở giới cầm quyền và trí thức trong thời nội
chiến (6). Rất nhiều hình tượng về người Mẹ và
người Nữ biểu tượng cho tình yêu xuyên suốt trọn đời sáng tác của TCS, đó là sự
hướng về Nữ tính Vĩnh cửu (Éternal Féminin - Goethe) làm biểu tượng cho sự
cứu rỗi chung.
Ðịnh
mệnh của người thi ca sĩ Trịnh Công Sơn như định mệnh của chàng Orpheus [trong
thần thoại Hy lạp] đã phải hành hương xuống tận cõi âm ti, bằng mãnh lực của lời
thơ tiếng nhạc làm nguôi dịu những linh hồn đang bị đày đọa và để cứu lại người
tình đã bị rắn độc giết hại. Tiếng hát cung đàn lyra của Orpheus cũng đã cứu
bao người khỏi chết vì giọng mật ngọt của ngư nữ Siren huyễn hoặc giữa trùng
khơi... Do màu sắc tâm linh trong những ca khúc của Trịnh Công Sơn
nên tự chúng không thể là loại ca khúc phổ thông để tiêu khiển, vì khi hát lên
được cái hồn trầm uất của mình là giải nguôi được cho tâm bệnh của mình. Ở
trong đó đã tiềm ẩn chức năng chữa trị của các shaman (thầy mo) là
dùng những khúc phù chú để chữa lành xoa dịu nỗi đau tâm hồn và thể xác. Shaman là
nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ, thầy thuốc đồng thời hiệp thông giữa hai cõi sống và
chết - làm vai trò giải tà, giải oan và chiêu tụ. Điều này thấy trong Ca
Khúc Da Vàng và như trong lời mở đầu kêu gọi thống thiết của Trịnh Công
Sơn trong Kinh Việt Nam (1968): Ta phải đi tới bằng con tim sứ
giả mang niềm tin và lời hứa hẹn của những người đã nằm xuống... Xin đừng bao
giờ làm kẻ phản bội với một quá khứ hiển linh...
Dõi
trông cuộc hành hương của người du ca sĩ Trịnh Công Sơn ta thấy nhạc khởi đầu
đã hoà chung vào với từng giọt nước mắt buồn rơi trong đêm mưa từ độ ấy... và từ
đó đêm[và mưa] bao trùm lên những ca khúc của anh – như những bài Tụng ca
Ðêm của thi sĩ Novalis: “Ðêm đã trở nên, dạ con kết trái, đầy những mạc khải...”
– Ðêm ta nằm nghe tiếng trăm năm... đêm nghe tiếng muôn trùng, đêm
nghe tiếng khóc cười của bào thai. Hoá thân vào dòng thác đêm là cái chết
đang cuốn trôi đi tất cả trong Ðêm thấy ta là thác đổ. Ðêm mạc khải
cho trăng vàng khai hội một đoá hoa quỳnh. Từ đó ta là đêm nở đoá hoa vô
thường...
Từ
thánh vịnh ca Cát bụi tới hương thiền ca Ðoá hoa vô thường, ở
thời khoảng giữa đã là một hành trình vượt qua những chặng thương khó của từng Ca
Khúc Da Vàng đầy ắp những hình ảnh thánh giá, khổ nạn, phúc âm, lời kinh
đêm, vực sâu, những lời truyền tin đợi chờ phục sinh... là nỗi tuyệt cùng chỉ
còn hi vọng vào sự cứu rỗi của tình yêu. Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ
loài người, này em xin cứu một người, này em có nhớ cuộc đời... Ðợi chờ yêu
thương trên cây thánh giá. Ðời có sân si dưới bóng bồ đề... Cho tới thời
điểm tĩnh tịch giữa ngọ7cây trưa thu bóng dài và tôi thu bóng tôi là nỗi
khát khao đi tìm lại sự an nhiên (người về soi bóng mình) trong cõi tâm linh với
hương thiền đầy tính mĩ học (mà thiền sư Nhật Suzuki Daisetz đã tung gieo ra
ngoài thế giới). Những tác phẩm mang hương vị Thiền thời kì này (1972 –75)
như Ở trọ, Biết đâu nguồn cội, Ngẫu nhiên, Nguyệt ca, Níu tay nghìn trùng,
Giọt lệ thiên thu, Lời thiên thu gọi, Phôi pha, Bên đời hiu quạnh, Ðêm thấy ta
là thác đổ, Cũng sẽ chìm trôi, Tự tình khúc, Một cõi đi veà,... và được
“viên thành” bằng tổ khúc Ðoá hoa vô thường. Ðoá hoa vô thường có
thể coi là bức “tứ bình” bằng nhạc, thơ và hoạ mở ra cho ta thấy trọn cuộc hành
trình tâm linh đi tìm ý nghĩa trong cuộc hội ngộ với tình yêu, cái đẹp, cái vô
thường.
Khát
khao đi tìm sự bình an của Trịnh Công Sơn trong Thiền tông, không hẳn là để tìm
sự giải thoát hoặc để đạt tới cõi hoàn toàn an nhiên tự tại, mà có phần gần với
lí tưởng Bồ tát [như đối với nhà thơ Cao Bá Quát] là “mang cái bệnh Duy-ma” vì
chúng sinh8 Lí tưởng này không nhằm đạt tới Niết Bàn, cho dù tình
yêu ở đây có mang tính vô ngã đi nữa: Tôi xin làm quán đợi buồn chân em
ghé chơi/ Tôi xin làm đá cuội mà lăn theo gót hài/ Tôi thu tôi bé lại làm mưa
tan giữa trời. Trong ca khúc Biết đâu nguồn cội đó, đầy những
hình ảnh [mang Âm tính, Nữ tính, Mẫu tính và Pháp tính] thường thấy trong Thiền
tông: nước, trăng, thuyền [chứa chở trời đất và người] đều nổi trôi, che chở và
uyển chuyển. Ở trong bài nhạc này để nói về sự tương tác luôn “ở trọ” trong
nhau và “thiếu nợ” lẫn nhau giữa cõi đời và với trời đất (trăng muôn đời
thiếu nợ mà sông không nhớ ra) hơn là để nói tới cái tâm chân như hay cái
tánh không: “Kìa xem bóng nguyệt lòng sông. Ai hay không có có không là gì”
(Thiền sư Ðạo Hạnh). Ở Trịnh Công Sơn, cái đẹp bi luỵ còn in dấu khi bước
tới hư vô khoác áo chân như nhưng vẫn còn long lanh giọt lệ
thiên thu (Giọt lệ thiên thu). Ðôi khi trầm tư về cái đẹp với cảm xúc bâng
khuâng trước cái mênh mang mà sự giải thoát thì diệu vợi tận cõi “bỉ ngạn” (bờ
kia):
Bên
kia sông nước vô bờ
Hồng
nhan em có bao giờ bâng khuâng. (Lời ở phố về)
Nhan
sắc Ðóa hoa Vô thường
Tim
tôi đã nở
Ðóa hoa dưới trời
Chùm
cánh khát mong
Bầu
nhụy mơ mòng.
(García
Lorca)
Nếu
chiêm ngắm kỹ, bạn sẽ thấy con người là một bông hoa năm cánh. Một thiền giả Nhật
đã có chiêm nghiệm như vậy.
“Giao
hưởng thơ” Ðóa hoa vô thường là một dụ ngôn/ ẩn dụ bằng ý thơ nẻo nhạc
để kể về cuộc hành hương đi tìm ý nghĩa của tình yêu, nghệ thuật và cái chết.
Tương tự như trong truyền thuyết đi tìm Ðóa hoa Xanh biểu trưng cho nghệ thuật
của thi sĩ Lãng mạn Ðức Novalis -- Một cuộc luyện đan (alchemy) trong tình yêu
và nghệ thuật. Hoặc gần với Thiền tông hơn, nó được luân diễn trong
10 bức tranh chăn trâu, là hình ảnh kẻ mục đồng hay hành giả/lữ khách lạc nẻo
giữa đồng hoang nội cỏ, khởi đi tìm cái tâm (chân như) của chính mình đã đánh mất
trên siêu lộ mê ảnh trong cõi sinh tử chập chùng mộng mị...
Bốn
“chương” (movement) nhạc của Ðóa Hoa Vô Thường tương ứng với bốn mùa
hay bốn tâm cảnh về một đời người, như vòng “qui hồi vĩnh cửu” (eternal
recurrence) trong Một cõi đi về. Lối tiến hành âm hình giai điệu của Ðoá
Hoa Vô Thường là một cuộc chuyển hoá liên tục giọng, điệu tính, tiết nhịp,
tâm thái... trong từng đoạn, câu hoặc tiết nhạc. Ý thơ dựa trên một chủ đề
chính tái hiện nhiều lần là bông hoa xuyên suốt tác phẩm. Sự chuyển hóa sắc
thái liên tục này làm gợi nhớ tới ý niệm “giao hưởng thơ” [symphonic
poem của các nhà soạn nhạc Ðức như F. Liszt thời Lãng mạn] đưa ra tính tự
do của một nhạc thể và khả năng sử dụng dàn nhạc như là một bảng pha màu, từ đó
vẽ ra một bức tranh linh động bằng âm thanh hình ảnh.
Chương
I
Tìm
tình, nhịp thong dong
Khởi
đầu bằng thể hát kể đồng dao bốn chữ Tìm em tôi tìm... như nhịp chân
rảo bước đi tìm Tình trong vẻ Ðẹp mà hình ảnh thanh tao hiện thân trong mình
hạc xương mai. Bước đầu tìm trong cái đơn độc, cái một: tìm trên non
ngàn một cành hoa khôi - hiển hiện trong đóa hoa tinh khôi đó là nụ
cười mong manh, một hồn yếu đuối, một bờ môi thơm mang tấm lòng sơ nguyên
của một hồn giấy mới. Khiến chúng ta liên tưởng tới những vần thơ
tình tâm linh diễm tuyệt “vì tình tôi phải tìm tình” trong Nhã Ca (Kinh
Thánh) hoặc trong Tụng ca Tâm linh [của San Juan de la Cruz] để đi tới
chỗ kết hợp huyền nhiệm (unio mystica).
(rộn
rã bồi hồi)
Ðường
nét “hướng thượng” trong giai điệu này: “Tìm em tôi tìm nhủ lòng tôi ơi...” là
nỗi quyết tâm tìm trong cả những thấp thoáng ảo hoá (maya) của vạn vật đắp đổi;
thời gian: tìm đêm chưa từng, tìm ngày tinh khôi. Trên trời: tìm chim
trong đàn ngậm hạt sương bay. Dưới đất: tìm lại trên
sông... những dấu hài. Từ thơ bốn chữ giờ còn lại còn ba chữ: những
dấu hài... giọng ngậm ngùi tưởng nhớ. Ở đây “tình lại gặp
tình” lần tìm theo chỉ thấy từng bước in rêu của một hồng nhan bạc mệnh...
(Trầm
tưởng).
(Dịu
lắng)
“Tìm
em xa gần đất trời rộn ràng...” lòng người đi tìm bây giờ đã lắng xuống
để quán tưởng mà ôm lấy đất trời xa gần trong cả cái tính phù du, bạc mệnh, tàn
và tận của tấn tuồng ảo hóa đó: Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh, trăng
tàn nguyệt tận, chưa từng tuyệt vọng đâu em. Thêm hai chữ đâu em như
lời nhắn nhủ mãi mãi tới cõi phù sinh này (Ðừng tuyệt vọng tôi/em ơi đừng tuyệt
vọng...).
(Rộn
ràng)
Từ
thể hát đồng dao giờ hóa thành bài kệ (gatha) tụng reo:
Tìm
trong vô thường
Có
đôi dòng Kinh
Sấm
bay rền vang
Bỗng
tôi thấy em
Dưới
chân cội nguồn...
Là
lúc cảnh giới của đất trời giao hội từ khi câu Kinh đã bước vào đời (Nguyệt
ca) - đôi dòng Kinh Sấm (Vajracchedika) ấy bay rền vang là ánh kim
cương chẻ toang bóng tối âm u... Cũng chính là lúc bỗng tôi thấy
em dưới chân cội nguồn - cội nguồn của chân như, bản lai diện mục - Người Tình hay cái Tâm sẽ tự hiển hiện cho thấy khi thôi tìm trong
hình sắc, âm thanh... Giờ tôi mời em về trong đêm thiêng liêng có ơn
mưa trời gội rửa tuôn tưới. Em giờ hiện hữu ở khắp bốn bề tẩm hương
trầm thơm ngát. [Tiếng đàn... như tiếng mưa nhỏ giọt]. Khi vườn mưa tạnh,
tiếng nhạc liền cất lên hân hoan để soạn sửa cho cuộc lễ mạc khải thiêng liêng
dưới ánh trăng vàng: một đoá hoa quỳnh trong ngọc trắng ngần lồng với
bóng trăng tròn. Cũng từ lòng đóa hoa tố tâm đó mở ra [chỉ trong một đêm thắp
sáng] mà vạn vật được phản chiếu và mở phơi như trong một tấm gương trong. Cái
nôi vũ trụ tình yêu nhiệm màu đó là những ngón tay xoè bung ôm lấy tất cả làm Một.
Tới
đây lời thơ ngưng. [Tiếng đàn... giờ là ánh trăng lung linh tĩnh mặc] để chiêm
ngắm vẻ đẹp của đóa ngọc quỳnh. Như cái thị kiến ân sủng (beatific vision) của
thi sĩ Dante chói mắt trước ánh sáng tâm linh phát toả từ tình yêu được kết
thành đóa hoa hồng trắng.
Chương
II
Ðưa
tình về, nhịp hớn hở (Nhạc...)
Thanh
thoảng (Nhạc...)
Bình
an
Từ
khi có duyên hội ngộ, đã có tình là có đối đáp. Lời thơ chuyển sang thể lục bát
trữ tình để bày tỏ khoảng an bình khi cả hai đã có nhau như hình với
bóng. Bằng một nhịp thơ liền lạc, vui và đầm ấm: “Từ nay tôi đã có người, có em
đi đứng bên đời líu lo... Từ em tôi đã đắp bồi, có tôi trong dáng em
ngồi trước sân.”
Hát
tự do
Giọng
chuyển đột ngột chùng xuống thành khúc hoài cảm (melancholy) đượm vẻ
nuối tiếc, man mác, buốt lạnh như lời linh cảm trước cho tính bạc mệnh của đóa hoa “mới chớm đã viên thành” như nụ tình ái Kim-Kiều. Mùa đông cho em nỗi
buồn, chiều em ra đứng hát kinh đầu sông... chút tình mới chớm đã viên thành.
Và tàn
đông con nước kéo lên đợi mùa xuân tới:
Nhịp
nhàng thơ thới
Ðiệp
từ Từ nay... đã luôn được nhắc lại, cung giọng bây giờ cao và nhấn nhá vui
hơn. Toàn chương II diễn tả một cuộc “đối đáp” nói–thưa (đối điểm/counterpoint), đắp-bồi giữa
hai bè ngôi thứ khởi từ tôi-người, tôi-tình sang tôi-em; cho
tới đoạn này là anh-nàng để đồng xướng (homophony) một chữ có. Ở
đoạn này như là giai điệu chim hót trầm bổng cùng với tiếng ca đồng thanh của đất
trời sông núi đáp đền tới cuộc hội ngộ từ khi đã có... Từ
nay anh đã có nàng, biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca. Mùa xuân trên những mái
nhà, có con chim hót tên là ái ân.
Chương
III
Bốn
mùa yêu nhau trong lẽ vô thường của trời đất
(Nhạc
chuyển... Chậm lại...)
Bình
an
Khúc
arioso (vịnh tự khúc): “Sen hồng một nụ...” Chuyển từ hình ảnh đóa quỳnh
trắng của chương I sang một hóa thân khác là nụ sen hồng đang ngồi đong đưa -
khoảng cách từ “thơ ngây” tới “kinh nghiệm” - bằng một giọng kể hoài tưởng lại
thời thanh xuân êm đềm chuyển sang sắc màu “chín” của tình yêu đã nếm trải từ
rạng đông cao đến đêm ngọt ngào. Bảng màu “mùa xuân chín” rõ rệt hơn: Em hồng một
thuở xuân xanh... giờ còn lại nỗi buồn hoài niệm để đền trọn mối tình.
(Hồng đi nhé xin hồng với nụ. Vàng phai sẽ cuốn đi mịt mù – Vàng phai trước
ngõ).
(nhạc
chuyển...)
Hiu
hắt
Từ
đây chuyển đoạn trầm xuống hiu hắt như tiếp nối đoạn hoài cảm ở
chương II nhưng đã trở thành thể thơ độc thoại sáu chữ. Một chiều em đứng
cuối sông, gió mùa thu rất ân cần chở lời kinh đến núi non, những lời tình em trối
trăng...” Cuộc tình đã trải qua cả hạnh phúc lẫn khổ đau, và thân phận lưu
lạc hoa trôi bèo dạt, lênh đênh từ đầu sông cho tới cuối sông đoạn
trường “tính từ sông nước cát lầm”. Cánh gió mùa thu chở lời Kinh hát về thân
phận gửi tới non nước quê nhà. Một thời yêu dấu đã qua. Giờ đây gót hồng
(gót sen/ đôi chân hồng trần của Thúy Kiều) mong mỏi được quay về. Từ khúc hoài
cảm ở trên giờ hợp lại trở thành khúc hoài hương (nostalgia) trối
trăng rằng: dù trần gian có xót xa cũng đành về với quê nhà.
(Con
sóng biển dâu đã mang tình về quê quán cũ)
[Nhạc...]
Chương
IV
(Nhạc
chuyển... ) Rộng rãi
Dồn
dập vừa
Mênh
mông
Tình
đi, người ở lại - (Ðoạn cuối)
Êm
đềm, xa vắng
Khúc
1: “Từ đó trong vườn khuya, ôi áo xưa em là một chút mây phù du, đã thoáng
qua đời ta...”.
Khúc bi
ca (elegy) u huyền này bằng thể thơ tự sự năm chữ, là tiếng thở dài mênh
mang khi tình đã đi, người ở lại. Có thể diễn tả lại bằng lời thơ
trong Lửa Thiêng:
Bóng
đêm tỏa không lấp niềm thương nhớ,
Tình
đi mau, - sầu ở lại lâu dài.
Ta
đã để hồn tan trong tiếng thở
Kêu
gọi người đưa tiễn nỗi tàn phai.
(“Bi
ca” - Huy Cận)
Từ
cảnh vườn đêm hội ngộ có ánh trăng vàng mạc khải của chương I tới cảnh vườn
khuya cô tịch trong chương cuối này, là nỗi thấu cảm tính phù du của chữ tình,
của vẻ đẹp mong manh là hình ảnh chính cái chết. Từ đó trong hồn ta, ôi tiếng
chuông não nề...Nỗi tuyệt vọng mênh mang, nhịp tim xao động trong lòng là tiếng
chuông não nề văng vẳng như tiếng chuông cầu hồn. Tiếng ngựa hí vang rừng
xa vọng suốt đất trời kia, mang tính ẩn dụ đầy âm-hình (audio-visual) loan báo
cho giờ phút khởi hành chuyến xe cuối cùng của đời người. Từ đó ta ngồi
mê, để thấy trên đường xa, một chuyến xe tựa như, vừa đến nơi chia lìa.
(Tình
do tâm mà sinh, có khi tình mất mà tâm còn động vọng. Ðến lúc tâm bình an thì
tình kia cũng đoạn nỗi).
[Nhạc] Mạnh
và liền nhau
Êm
dịu lại
Khúc
2: “Từ đó ta nằm đau, ôi núi cũng như đèo, một chút vô thường theo...”
Bài
tự tình khúc cuối này như bức tranh thủy mặc của cõi tâm bao la vô cùng.
Từ
đó... từ chốn vô thủy vô chung để mà chiêm nghiệm toàn cảnh lộ trình đã
qua của người nghệ sĩ - kẻ hành hương - giờ nằm đau dạt dào bi cảm trước cái
như tính của vẻ đẹp, của sự vật; chẳng còn biện biệt nữa không gian (ôi núi
cũng như đèo) với thời gian (từng phút cao giờ sâu) để rồi nhập vào với trạng
thái tịnh mặc (samadhi) ngay trong nỗi đau - [ở một nghĩa nào đó] là đang trải
qua kinh nghiệm về cái chết. Ði vào cõi chết như một âm điệu ngân vang rồi cũng
sẽ chìm trôi vào với cái tịch lặng: cõi đi về thiết yếu của
âm nhạc, của chính đời người.
Từ
đó - tình yêu là hoa nở hồng ban sớm nở hết trong hoàng hôn, vẫn còn mãi
khát mong, lại phải nhờ tới ngọn gió vô thường thổi qua để tiếp tục hóa thân
thành sương tinh khiết rụng mát trong bình minh.
Vườn
khuya đóa hoa nào mới nở,
Ðời
ta có ai vừa qua...
(Ðêm
thấy ta là thác đổ)
Từ
đó ta là đêm, nở đóa hoa vô thường.
Từ
đó - người đi hành hương nhập thể vào với bóng đêm vô tận (là cõi chân
không) để nở ra đóa hoa vô thường: người chiêm ngắm [đóa hoa] đã trở thành
cái [đóa hoa] mà mình chiêm ngắm. Vẻ đẹp của đóa hoa vô thường là nở ra nụ
cười khúc khích trên lưng đài gương của cái dục mang hương sắc hoa tình của
cái chết.
Từ
đó - đóa hoa là biểu hiện rõ nhất về sự vô thường: hiện, hiển và biến:
Mùa
mưa tới cành hoa trắng ngần
Ðã
ra đời đùa vui phút giây
Sau
một lần đến bên người
Khép
lại tấm lòng nghìn năm nhớ ai...
(Chuyện
đóa quỳnh hương)
Từ
đó - đóa hoa ấy đã khép lại những cánh mong manh trước cả lúc trăng
tàn nguyệt tận.
Từ
đó -
Chìm
dưới sương thu là một đóa thơm tho.
(Chìm
dưới cơn mưa)
Nhưng từ
đó, để kết tinh nên một đóa mong manh, thơm tho ấy dâng cho đời, đã là sự
cưu mang và hi hữu kể từ trăm năm trong cõi người ta...
(Nhạc
để chấm dứt...)
Khúc
kết
Những
phương trời gió loạn nào đã đi qua,
Còn
lại đóa hoa vô thường
Phất
phơ giữa tuế nguyệt không thời.9
Chú thích:
(1) Xem vấn đề “Sinh tử sự đại” và
“Cái Chết Lớn” trong bài “Mondo: At the Death of a Great-Death-Man” trong A
Zen Life: D. T. Suzuki Remembered. (Vấn đáp: cái Chết của một Ðại-Tử-Nhân
-- Một đời Thiền: Hồi tưởng về D. T. Suzuki]. Masao Abe chủ biên, Nxb
Weatherhill, Tokyo, 1986.
2 passion: cuồng
nhiệt.
3 Passion (viết hoa): sự
thương khó, thống khổ.
4 Poem del Cante
Jondo (Thi tập Trầm ca): Tác phẩm chính đầu tay của Federico García Lorca,
1921, nhà thơ 23 tuổi lúc đó đã kết tinh được những chủ đề sẽ đi xuyên suốt các
tác phẩm của ông: tình yêu, cái chết, và sự lạc loài. Như Lorca nói:
“Sắc thái địa phương [của nhạc phổ thông Flamenco] đối lập với sắc thái tâm
linh [của Trầm Ca] -- đó là sự khác biệt rất sâu xa.” Sắc thái
tâm linh trong các khúc ca của Trịnh Công Sơn cũng khác biệt xa với loại ca
khúc phổ thông Việt Nam khác (tương tự như Blues đối với Rock and Roll ở Mỹ).
5 Chất Blues của người
da đen có thể thấy trong các ca khúc chủ đề về thân phận của TCS đặc biệt
những năm 1964-66 mang giọng thở than não nề nhưng không có
tính u mặc mai mỉa của blues da đen và cấu trúc nhịp cũng đơn giản
hơn. Riêng ở những Ca Khúc Da Vàng và Kinh Việt Nam, chất blues được
“Trịnh Công Sơn hoá” và nâng lên thành những khúc hát Kinh, để tụng (lập đi lập
lại lời đầu của đoạn một; vd: Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người...
hay Người con gái Việt Nam da vàng...) mà sắc thái gần với thể gospel
blues (= phúc âm buồn) và spirituals (nhạc tâm
linh da đen) mà điệu thức có cả thang âm ngũ cung như điệu hát chầu văn Huế mà
tiết tấu [thay vì dùng sênh, phách, mõ] có thể vỗ tay hoặc dậm chân
đệm khi hát. Ðiệu blues thở than vì thân phận đoạ đày mất quê hương của
người da đen đã gặp điệu “blues Nam ai” não nề của dân Chàm [trong chầu văn Huế].
6 Ðể hiểu rõ quan điểm của TCS về cuộc chiến tranh VN là một
cuộc nội chiến cũng như thái độ, ý thức chính trị của TCS trước vàø
sau 1975, xin xem cuộc tiếp xúc và nói chuyện giữa kí giả Henry Kamm với
Trịnh Công Sơn trong cuốn Dragon Ascending -- Vietnam and the
Vietnamese (Thăng long – Nước Việt và người Việt), chương 15: “The
Wages of the Just” (Lương bổng của người Công chính), Nxb Arcade, NY 1996. Bài
hát cuối cùng (“swan song) của TCS là Ðồng dao 2000 -
sáng tác cho năm 2000 - là “giấc mơ tiếp nối” của Ðồng dao hòa bình (1968);
giấc mơ chấm dứt cuộc nội chiến Nam-Bắc đó, và thị kiến về hòa bình
giờ như thể đã được hiện thực hóa: “Ðường sóng gió đã đã
qua đi. Ðường hòa bình đã đến rồi. Năm hai ngàn ta đi tới...“
(7) Nietzsche: Zarathustra đã nói thế, phần IV
chương Về giữa ngọ. Bản Anh ngữ của RJ Hollingdale. Penguin Books,
1961.
(8) “Bồ tát vì chúng sinh mà vào vòng sinh tử, đã có sinh
tử thì có bệnh, bao giờ chúng sinh hết bệnh thì Bồ tát sẽ không còn bệnh”. (Kinh Duy Ma Cật).
(9) Dịch nghĩa thơ của Vương Duy. Trích trong Ðường
thi - Vương Duy chân diện mục của Vũ Thế Ngọc, Eastwest Institute Press,
CA 1987.
Trịnh Công Sơn
ÐÓA HOA VÔ THƯỜNG
I. Tìm em tôi tìm
Mình hạc xương mai
Tìm trên non ngàn
Một cành hoa khôi
Nụ cười mong manh
Một hồn yếu đuối
Một bờ môi thơm
Một hồn giấy mới
Tìm em tôi tìm
Nhủ lòng tôi ơi
Tìm đêm chưa từng
Tìm ngày tinh khôi
Tìm chim trong đàn
Ngậm hạt sương bay
Tìm lại trên sông
Những dấu hài
Tìm em xa gần
Ðất trời rộn ràng
Tìm trong sương hồng
Trong chiều bạc mệnh
Trăng tàn nguyệt tận
Chưa từng tuyệt vọng đâu em
Tìm trong vô thường
Có đôi dòng Kinh
Sấm bay rền vang
Bỗng tôi thấy em
Dưới chân cội nguồn
Tôi mời em về
Ðêm gội mưa trong
Em ngồi bốn bề
Thơm ngát hương trầm
Trong vườn mưa tạnh
Tiếng nhạc hân hoan
Trăng vàng khai hội
Một đóa hoa quỳnh
II. Từ nay tôi đã có người
Có em đi đứng bên đời líu lo
Từ nay tôi đã có tình
Có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa
Từ em tôi đã đắp bồi
Có tôi trong dáng em ngồi trước sân
Mùa đông cho em nỗi buồn
Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông
Tàn đông con nước kéo lên
Chút tình mới chớm đã viên thành
Từ nay anh đã có nàng
Biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca
Mùa xuân trên những mái nhà
Có con chim hót tên là ái ân
III. Sen hồng một nụ
Em ngồi một thuở
Một thuở yêu nhau
Có vui cùng sầu
Từ rạng đông cao
Ðến đêm ngọt ngào
Sen hồng một độ
Em hồng một thuở xuân xanh
Sen buồn một mình
Em buồn đền trọn mối tình
Một chiều em đứng cuối sông
Gió mùa thu rất ân cần
Chở lời kinh đến núi non
Những lời tình em trối trăng
Một thời yêu dấu đã qua
Gót hồng em muốn quay về
Dù trần gian có xót xa
Cũng đành về với quê nhà
IV. Từ đó trong vườn khuya
Ôi áo xưa em là
Một chút mây phù du
Ðã thoáng qua đời ta
Từ đó trong hồn ta
Ôi tiếng chuông não nề
Ngựa hý vang rừng xa
Vọng suốt đất trời kia
Từ đó ta ngồi mê
Ðể thấy trên đường xa
Một chuyến xe tựa như
Vừa đến nơi chia lìa
Từ đó ta nằm đau
Ôi núi cũng như đèo
Một chút vô thường theo
Từng phút cao giờ sâu
Từ đó hoa là em
Một sớm kia rất hồng
Nở hết trong hoàng hôn
Ðợi gió vô thường lên
Từ đó em là sương
Rụng mát trong bình minh
Từ đó ta là đêm
Nở đóa hoa vô thường.
19/5/2002Hà Vũ Trọng


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét