Nhiều bạn yêu văn chương cả nước đã biết đến trang web
www.vuhong.com với cái tên dễ mến và khiêm tốn “Quán văn chương nhỏ
ven sông Hàm Luông”. Người ta biết đến một Vũ Hồng - thơ với bài thơ “Người
phương nam”, một Vũ Hồng - truyện với truyện ngắn “Tiếng chuông trôi trên
sông”…, một nhà văn đa tài, đa tình. Sau các tác phẩm đã xuất bản như “Tháp bụi”
(tập thơ), “Người phương Nam” (tập thơ), “Tiếng chuông trôi trên sông”
(tập truyện ngắn)…, anh vừa cho chào đời tập truyện ngắn “Người leo dừa” (Nxb
Hội Nhà văn - 2006). Riêng tập truyện ngắn “Tiếng chuông trôi trên sông” đã
in đến lần thứ 4, được tặng thưởng văn học của Hội nhà văn Việt Nam, được chọn
in trong Bộ sách Vàng của NXB Quân đội nhân dân nhân kỷ niệm 60
năm thành lập QĐNDVN và Tủ sách Vàng của NXB Kim Đồng. “Người leo dừa” với 11 truyện ngắn được viết bằng một bút
pháp khá hiện đại, ngôn ngữ hướng tới tính phổ thông, ít phương ngữ Nam bộ
như những tác phẩm trước, không gian truyện có ít nhiều chịu ảnh hưởng của
truyện ngắn Sê-khốp, và lời thoại mang phong cách của Hê-ming-way. Nhà văn
Nguyễn Ngọc Tư viết “Lời reo” thay cho lời tựa, có nhận xét: “… kết chuyện
luôn để lại một cái buồn sâu sắc, buồn ngọt ngậm ngùi lan tỏa vào lòng người
đọc. Những nỗi đau đời được kể bằng giọng bông lơn, nhẹ bâng. Những sự đổ vỡ
buốt lòng mang vẻ mặt tươi cười. Một lối văn tìm kiếm và chờ đợi người…”. Đọc những truyện ngắn của anh, ta không thể đọc nhanh, đọc
lướt kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” để giải trí, để nắm bắt cốt truyện, mà nhiều
khi phải dừng lại suy nghĩ về một lời thoại chứa nhiều thông tin và nhân vật
có khi đổi ngôi đột ngột. Lối viết “truyện trong truyện” được anh vận dụng
nhiều. Có khi chỉ một truyện mà chứa nhiều cốt truyện nhỏ, nhiều tình tiết
đan chen tạo nên một bức tranh đa chiều, lắm sắc như cuộc sống vốn có. Truyện
“Người leo dừa” là tiêu biểu nhất của lối viết ấy, phản ánh rõ bút pháp Vũ Hồng.
Nhân vật chính là một “Gã” làm nghề leo dừa mướn nhưng rất hào phóng, và có một
chút điệu nghệ, “một người có mặt mà như không hề có mặt trên cõi đời quá bao
la này”. Đây là chân dung gã “với dáng đi khập khiễng,
vậy mà mỗi khi ôm lấy thân dừa, gã leo thoăn thoắt như một con sóc chuyền
cành, hết cây dừa này đến cây dừa khác… Bẻ dừa xong, gom đủ số dưới gốc cho
chủ, gã chỉ cười hề hề rồi đi sang vườn dừa khác” (trang 10). Người ta mướn
gã làm đủ mọi việc như bẻ dừa, gài chuột… nhưng gã không bao giờ mở miệng đòi
tiền công, ai có đưa bao nhiêu cũng được, hoặc cuối tháng, cuối mùa mới đưa.
Lòng tin, chữ “tín” của những người nông dân ở thôn quê chưa bị cơ chế thị
trường làm lung lay. Gã sống trong nhà kho rách nát của đình làng nhưng ngày
nào gã cũng thắp nhang cầu nguyện. Và câu chào cửa miệng của lão với “tôi” là
“Chuyện thế giới có gì mới không?”. Nói gã điệu nghệ là ở chỗ gã chỉ uống rượu
vào thứ hai, tư, sáu và chủ nhật, còn các ngày thứ ba, năm, bảy thì ở nhà “viết
văn”. Văn của gã thế nào ta không cần biết. Hàng xóm ai có đám hiếu, hy, gã đều
tự nguyện đến nấu nước một cách âm thầm, lặng lẽ. Rồi đùng một cái, có ông Bộ
trưởng là Thủ trưởng cũ của gã tới làng để thông báo: gã được giải oan, được
Chính phủ truy tặng danh hiệu anh hùng, bởi thành tích nổi tiếng của một anh
lính đặc công thủy gan dạ và mưu trí của Khu. Bấy giờ cả làng mới biết tên gã
là Hậu. Những chi tiết như thế cũng có thể tách ra thành một truyện ngắn khác
về một con người anh hùng. Còn một chi tiết nữa cũng có thể trở
thành một truyện ngắn mi-ni hấp dẫn. Đó là cảnh vợ gã dẫn một ông Tây cao lớn
mắt xanh mũi lõ và một đứa con trai trở về. Anh vẫn chăm chút để tả đứa con
lai này - một nhân vật tưởng chừng không dính dáng gì đến câu chuyện - có thể
xác giống Tây nhưng mái tóc là của người Việt (theo phương ngôn “Cái răng cái
tóc là góc con người). Rồi việc chị vợ của của gã chăm sóc gã như những ngày
hai người còn yêu nhau thắm thiết… Hóa ra việc vợ gã đi xa lấy chồng Tây là
có lý do như gã nói “Tôi bị thương, tôi không còn khả năng làm chồng
ai hết” (trang 17). Những chi tiết gã và ông Tây leo dừa, tắm sông, đào dế; cảnh
ông Tây nghịch ngợm chụp ảnh bà sồn sồn đang ngồi trong cây cầu tiêu bắc cheo
leo trên hồ cá rộng…, tất cả đều như hư như thật, như cuộc sống vốn có, đang
cựa mình theo từng hơi thở. Đặc biệt cái chết của gã để lại nhiều xót thương
và cảm phục trong lòng người đọc. Hành động “xả thân” cứu người của gã trong
thời chiến cũng như trong thời bình biểu hiện một triết lý sống “mình vì mọi
người”. Tính cách “dõng dã” của cư dân Nam bộ đã thấm vào máu thịt
gã từ thuở nào. Cuộc đời của nhân vật Gã và những bối cảnh của nó có thể xây
dựng thành một truyện vừa hay một tiểu thuyết, hoặc có thể dựng thành phim
truyền hình nhiều tập. Ở truyện ngắn đặc sắc này, Vũ Hồng đã đưa vào nhiều cảnh
đời, nhiều tình tiết éo le, có kịch tính, có lớp lang, và khéo lồng vào đó những
vấn đề nóng bỏng của cuộc sống đương đại như chuyện chặt dừa, chuyện mở đường,
cảnh làng xóm đua nhau bán đất, làm nhà ra mặt đường lớn để buôn bán, không
khí “đô thị hóa” đang lan tới vùng sâu, vùng xa. Cái điệp khúc của gã: Ở chợ,
thấy chuyện thế giới có gì mới, xin cho hay là một thông điệp chứa đựng nhiều
biến cải trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn. Ở các truyện “Quán rượu cuối năm và một người viết văn trẻ”,
“Chờ đò Cà Mau”, “Ông già đến từ Busan”, “Tàu tốc hành từ phương Bắc”, “Miền
Tây huyền thoại”…, anh lại khắc họa chân dung của những người trí thức như:
Kim, Tui, Lưu, Phương, Hằng, ông Lee, bác sĩ Minh, viên sĩ quan, Na… Mỗi nhân
vật đều có một hoàn cảnh riêng nhưng tất cả đều có cách cảm, cách nghĩ và
hành động hướng tới cái đẹp, cái cao thượng của cuộc sống. Riêng ở truyện “Miền Tây huyền thoại” anh tạo được một giọng
điệu lạ khi viết về cái chết của Viên sĩ quan và vị Bác sĩ khi họ
cùng những người dân thị tứ ra cứu đê vỡ. Anh tưởng tượng ra những:
giọng lạ, giọng quen, giọng trong tiềm thức tôi, tiếng đáp lại… của những người
đã chết và người đang sống. Đó cũng chính là những lời “đối thoại nội tâm” và
“độc thoại nội tâm” để nhằm bộc lộ tâm lý nhân vật. Hê-ming-way khi viết “Ông
già và biển cả” cũng thường có kiểu độc thoại như thế để tạo không khí bi
tráng và lãng mạn khi đối đầu với đàn cá mập hung dữ, và ông cố bảo vệ con cá
kiếm câu được, tuy khi đưa được nó về bến thì chỉ còn bộ xương. Ở đây, đôi
lúc cái “bi” và cái “hài” xen lẫn, cái “thực” và cái “mơ” hòa vào nhau tạo
nên những huyền thoại có sức ám ảnh lớn. Tầng nghĩa tường minh của mỗi truyện
chỉ hiện lên 3 phần, còn tầng nghĩa hàm ẩn 7 phần chìm dưới nước
không phải ai cũng thấy. Đó là lý thuyết “tảng băng trôi”, để nó tạo nên cái
“ý tại ngôn ngoại” cho truyện ngắn. Hình ảnh đàn trâu đứng chôn chân chịu chết
thay cho con người ở cuối truyện đã làm nên một “huyền thoại miền Tây”. Đây
là một trong những truyện có thi pháp lạ so với các truyện ngắn trước đó. Vì
thế nó rất đậm tính nghệ thuật và tính nhân văn. Thông tin ở truyện ngắn này
được nén lại từ đầu, và đến cuối truyện mới bùng phát. Sức hấp dẫn của tập “Người leo dừa” còn ở ngôn ngữ và giọng
kể giản dị, linh hoạt. Khi thì nhân vật “Tôi” tự kể, khi thì chuyển
lời dẫn, lời kể sang một nhân vật khác. Ngay trong một lời thoại cũng chứa đựng
cả cái hiện tại và quá khứ, cái thực và cái mơ, cái quen và cái lạ, cái gần
và cái xa. Ở truyện “Bệnh”, tác giả đã để cho bà chủ nhà trọ bộc lộ cá tính
khá rõ nét qua những câu đối đáp với cậu Kim. Đó là một người đàn bà hám tiền,
hay “nổ”, thích thời trang, người mẫu… Khi đang nói chuyện này thì vắt sang
chuyện khác rất nhanh nhưng không quên tính nhẩm tiền lãi và tiền gốc cho
thuê nhà từng tháng rất chính xác: Một triệu sáu. Lãi 20% của ba tháng trước
là hai trăm tư. Con nhỏ đi thi số 221 có bộ ngực thật đẹp. Tổng cộng là một
triệu tám trăm tư. Đương nhiên, vì nó còn trẻ. Đưa chẵn một triệu tám trăm rưỡi.
Chị thì chỉ chuộng nhìn đôi chân hơn. (trang 35). Sự xen kẽ hai nguồn thông
tin trong lời thoại mới nghe tưởng như rời rạc, nhưng xâu chuỗi lại là rất
logíc. Cách viết như vậy phải vững tay nghề mới dám, nếu không nó sẽ lục cục
và phản cảm ngay nơi người đọc. Văn của Vũ Hồng ít tả cảnh thiên nhiên, ít những cảnh tình
diễm lệ. Anh thích lối tả chân, ngắn gọn như một lát cắt vào thiên nhiên hay
cuộc đời, giúp cho việc bộc lộ tâm lý nhân vật sâu hơn. Đây là cảnh gió ở miền
Tây: Đêm ở miền Tây gió thổi càng lúc càng mạnh. Chúng rít u u qua những vườn
cây. Chúng giật phần phật tấm bạt che hụ hợ trên nóc lều. Chúng làm những con
sóng thi nhau vỗ phầm phập vào thân đê, khiến tôi có cảm giác mặt đất đang
run lên bần bật… (trang 114). Đó thực sự là những câu thơ văn xuôi rất giàu
nhạc điệu. Tuy nhiên, nếu tác giả ít lạm dụng nhân vật “Tôi” thì tính khách
quan ở mỗi truyện sẽ cao hơn. Bố cục ở một vài truyện còn đơn điệu. Anh hướng
tới ngôn ngữ phổ thông là tốt, nhưng đôi chỗ phải phù hợp với phương ngữ của
nhân vật trong lời thoại. “Người leo dừa” là một tìm tòi, sáng tạo của Vũ Hồng về thể
loại truyện ngắn. Hy vọng ở những tập tiếp theo anh sẽ có những bứt phá với
hướng tìm tòi mới lạ hơn. Chất thơ ở mỗi truyện ngắn của anh đã giúp cho cảnh
và người thăng hoa, mang thông điệp bay xa.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét