Dấu ấn phương tây trong văn học
Việt Nam hiện đại - Vài nhận
xét tổng quan
Khảo sát những dấu ấn của văn học nước ngoài trong một nền
văn học dân tộc là một trong những đề tài của văn học so sánh ứng dụng. Trong
bài này, chúng tôi chỉ khảo sát những dấu ấn của văn học phương Tây trong văn học
Việt Nam hiện đại và đánh giá ý nghĩa của chúng dưới góc độ văn học so sánh, chứ
chúng tôi hoàn toàn không có ý nói rằng văn học Việt Nam chỉ là những dấu ấn của
phương Tây.
1. Trong hơn thập kỷ vừa qua, nước ta đã áp dụng một đường lối
đổi mới toàn diện. Trên phương diện quan hệ quốc tế, chúng ta đã thi hành chính
sách mở cửa, theo tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước vì hòa bình, độc lập và phát triển. Trên lĩnh vực văn hóa, Việt Nam đã tăng cường trao
đổi hợp tác đa phương với nước ngoài. Trong tình hình đó, văn học Việt Nam đã hội
nhập được vào văn học thế giới và trở thành một bộ phận cấu thành của nó. Chính
vì thế mà ngày nay, hơn lúc nào hết, các sản phẩm văn học nước ngoài - nhất là
của phương Tây - đã có được một cơ hội thuận lợi để thâm nhập vào văn học Việt
Nam.
2. Tuy nhiên cần phải nói ngay rằng đây không phải là lần đầu
tiên văn học phương Tây có tác động đến văn học Việt Nam. Trước Cách mạng tháng
Tám, giữa hai nền văn học cũng đã có những mối tiếp xúc chặt chẽ. Trong văn học
Việt Nam đầu thế kỷ XX đã có hai hiện tượng quan trọng dường như chịu sự ảnh hưởng
sâu sắc nhất của văn học phương Tây, đó là văn xuôi lãng mạn và phong trào Thơ
mới.
Với nhóm Tự lực Văn đoàn, văn xuôi lãng mạn đã đưa
vào văn học Việt Nam những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa lãng mạn châu Âu:
thái độ phản phong, ý thức đề cao tự do cá nhân. Với những đại diện tiêu biểu
như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, lần đầu tiên
nhóm Tự lực Văn đoàn đã đưa ra mẫu hình nhân vật cá nhân cũng như các quyền tự
do cá nhân để chống lại những khuôn khép của lễ giáo phong kiến. Nhóm này đã
tuyên bố rõ ràng: “Đem phương pháp Thái Tây ứng dụng vào văn chương An
Nam” (1). Ngoài ra chúng ta còn thấy sự có mặt của phong cách lãng mạn
phương Tây trong văn học Việt Nam. Chẳng hạn ta có thể thấy phong cách huyễn tưởng
của Edgar Poe trong truyện ngắn Vàng và máu của Thế Lữ.
Cái phương pháp “Thái Tây” cũng đã được áp dụng một cách có ý
thức vào thơ ca Việt Nam trước năm 1945. Từ năm 1932 đến 1942 các nhà thơ cách
tân đã phát động một phong trào Thơ mới để làm một cuộc cải cách chống
lại một lối thơ cũ sáo mòn, khô cứng trong khuôn khổ niêm luật cằn cỗi, vô hồn;
và trong cuộc đấu tranh để khẳng định cái mới này, phần thắng đã thuộc về họ.
Trong khoảng thời gian 10 năm đó, các nhà thơ của phong trào Thơ mới đã
tiếp thu ba nguồn thơ ca quan trọng: dân ca Việt Nam, thơ Đường Trung Quốc, thơ
ca phương Tây hiện đại, đặc biệt là thơ ca Pháp. Các nhà thơ đại diện cho phong
trào Thơ mới như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn
Mặc Tử... ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của các nhà thơ phương Tây. Nhà phê bình
đương thời Hoài Thanh đã viết: “Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên đều chịu ảnh hưởng
rất nặng của Bôđơler [Baudelaire], và qua Bôđơler [chịu] ảnh hưởng của nhà văn
Mỹ Edgar Poe, tác giả tập Chuyện lạ. Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ
Bôđơler, Edgar Poe đến thơ Đường, còn Hàn Mặc Tử đã đi từ thơ Đường đến
Bôđơler, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh kinh của đạo Thiên
Chúa” (2). Có thể nói rằng thơ ca phương Tây, đặc biệt là thơ ca Pháp hiện
đại, đã làm thành một nguồn tiếp sức cho phong trào Thơ mới nói riêng
và cho sự phát triển của ngôn ngữ thơ ca trong văn học Việt Nam nói chung.
3. Ngoài hai hiện tượng văn học kể trên, chúng ta còn có thể
nói rằng nhiều tác giả văn xuôi Việt Nam, trong đó trước hết phải kể đến các
nhà văn xuôi hiện thực chủ nghĩa, đã tiếp thu văn học phương Tây như tiếp thu một
nguồn sáng tạo nghệ thuật. Ta có thể nhận thấy phong cách tự nhiên chủ nghĩa của
Emile Zola trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, phong cách tâm lý - nội quan của
Dostoevski trong một số tác phẩm của Nam Cao (ví dụ như Truyện người hàng
xóm của ông có thể làm cho ta liên tưởng đến chuyện Ghi chép dưới nhà
hầm của Dostoevski)... Và đặc biệt ở đây phải kể tới trường hợp Hồ Biểu
Chánh.
Hồ Biểu Chánh đã trở thành nhà văn bình dân nhất Nam Bộ ở nửa
đầu thế kỷ XX, và ông là một nhà văn điển hình cho hiện tượng phóng tác theo
văn học phương Tây. Các cuốn tiểu thuyết được Hồ Biểu Chánh phóng tác dựa vào
văn học phương Tây là: Chúa Tàu Kim Quy (1922), phỏng theo Bá tước
Monte-Cristo của A. Dumas, Cay đắng mùi đời (1923), phỏng theo Không
gia đình của H. Malot, Ngọn cỏ gió đùa (1926), phỏng theo Những
người khốn khổ của V. Hugo. Xét trên tổng thể, tiểu thuyết của Hồ Biểu
Chánh là những tác phẩm mang tính đạo lý - xã hội, lấy cuộc đấu tranh giữa chính
và tà, giữa thiện và ác làm yếu tố chủ đạo của cấu trúc tự sự. Và những cuốn tiểu
thuyết dùng để phóng tác được ông tuyển chọn theo tinh thần đó đã góp phần đáng
kể vào việc thể hiện quan điểm đạo lý - nghệ thuật tiến bộ của ông. Ở buổi đầu
phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, hiện tượng phóng tác văn học đã
có một vai trò nhất định. Nó xuất hiện như một sự tiếp thu kinh nghiệm nước
ngoài ở những nhà văn đang tập dượt một thể loại văn học mới. Chính vì vậy mà
trong mấy chục năm đầu của thế kỷ XX, ở Việt Nam đã có một số nhà văn tiến hành
công việc văn chương này, nhưng không phải ai cũng thành công. Theo Vũ Ngọc
Phan, truyện ngắn Em ơi đừng tuyệt vọng của Vũ Bằng là tác phẩm phỏng
dịch Đêm trắng của nhà văn Nga Dostoevski, và vở kịch Lòng rỗng
không của Đoàn Phú Tứ là phỏng dịch vở kịch Người thầy giáo của
nhà văn Pháp Henri Duvernois (1928). Ở hai nhà văn Việt Nam này không còn là
chuyện phóng tác nữa mà là phỏng dịch, thậm chí có chỗ dịch nguyên văn(3).
Chính vì vậy mà tác phẩm của họ không để lại ấn tượng sâu sắc. Trong số các tác
giả phóng tác thì Hồ Biểu Chánh là người duy nhất biết biến các tác phẩm của
người khác thành của mình, biết biến các phóng tác thành sáng tác của riêng
mình chứ không phải là những sản phẩm phỏng dịch. Trong các tác phẩm phóng tác
của Hồ Biểu Chánh, nhân vật gốc đã trở thành những con người quen thuộc với người
dân Nam Bộ. Chính vì vậy mà tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đã được đọc nhiều nhất ở
Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX và chúng làm cho Hồ Biểu Chánh trở thành nhà văn bình
dân nhất của miền Nam trong giai đoạn này.
4. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954), văn học
Việt Nam bước vào một thời kỳ mới. Trên cơ sở của truyền thống nghệ thuật dân tộc
và của thành tựu văn học thời kỳ trước, cùng với những yêu cầu của thời đại mới,
các nhà văn Việt Nam đã sáng tạo nên một nền văn học hoàn toàn mới để đáp ứng
nghĩa vụ cao cả đối với vận mệnh của Tổ quốc. Giờ đây khẩu hiện của nhân dân Việt
Nam là “Tất cả vì độc lập dân tộc.” Trong hoàn cảnh như vậy, văn học
cần phải huy động mọi nguồn lực để phục vụ sự nghiệp thiêng liêng của đất nước.
Để nhằm mục đích đó, văn học hiện đại Việt Nam đã tự thấy có
nhu cầu phải tiếp thu các tư tưởng xã hội và tư tưởng nghệ thuật của chủ nghĩa
hiện thực xã hội chủ nghĩa mà trong lúc này chỉ có chủ nghĩa hiện thức xã hội
chủ nghĩa mới có khả năng biến văn học thành một nhân tố tích cực trong cuộc
chiến đấu vì độc lập dân tộc. Khói lửa của H. Barbusse và Người
mẹ của M. Gorki đã trở thành một trong những mô hình sáng tác theo phương
pháp hiện thực XHCN cho văn học kháng chiến Việt Nam.
5. Sau năm 1954, Việt Nam bị chia cắt làm hai miền. Và văn học
cũng bị phân chia: một nền văn học cách mạng ở miền Bắc và ở các vùng giải
phóng của miền Nam, và một nền văn học ở vùng tạm bị chiếm miền Nam. Tất nhiên,
sự phân chia này chỉ là tương đối, trên thực tế ta có thể nói tới một “dòng văn
học tiến bộ” trong vùng bị chiếm ở miền Nam.
Ở miền Bắc, trong giai đoạn 1954-1975, phương pháp hiện thực
xã hội chủ nghĩa chiếm ưu thế trong đời sống văn học. Trong tình hình đó, văn học
có nghĩa vụ phải dành ưu tiên hàng đầu cho nhiệm vụ chính trị. Văn học hiện thực
xã hội chủ nghĩa của nước ngoài được khai thác đến mức tối đa để bổ sung cho
văn học trong nước; trong các nền văn học nước ngoài này, văn học Xôviết chiếm
vị trí số một. Người mẹ của Gorki, Đội cận vệ thanh niên của
Fadeev, Thép đã tôi thế đấy của N. Ostrovski, Đất vỡ hoang của
Solokhov được coi là những tác phẩm “kinh điển” của văn học cách mạng. Tất
nhiên, sự ảnh hưởng của chúng không thể hiện dưới dạng sao chép máy móc, mà
chúng cung cấp cho các nhà văn những nguyên tắc và thủ pháp nghệ thuật của chủ
nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa: đó là cách đặt vấn đề chủ đạo, cách kết cấu cốt
truyện, cách xây dựng nhân vật điển hình, cách giải quyết mâu thuẫn, v.v... Và
mặc dù không phải là sao chép, nhưng đôi khi các thủ pháp đó thể hiện rõ đến nỗi
chúng ta có thể nhận ngay ra nguyên mẫu của tác phẩm chịu ảnh hưởng. Đó là trường
hợp ảnh hưởng của Đất vỡ hoang đối với bộ tiểu thuyết Cái sân gạch và Vụ
lúa chiêm của Đào Vũ.
Tuy nhiên cũng trong giai đoạn nói trên, đời sống văn học
cũng đã được mở cửa rộng rãi cho công chúng hơn. Các tư tưởng và quan niệm văn
học không còn chỉ được giới hạn cho các nhà văn và các nhà trí thức, mà chúng
còn được phổ biến rộng rãi trong công chúng, kích thích nhu cầu tìm hiểu và
tinh thần sáng tạo của công chúng. Trong tinh thần ấy, mặc dù vẫn ưu tiên hàng
đầu cho chủ nghĩa hiện thực XHCN, nhưng công chúng vẫn cảm thấy nhu cầu cần được
tiếp cận với nhiều nền văn học và nhiều trường phái văn học khác trên thế giới.
Để đáp ứng nhu cầu đó, văn học dịch đã đứng ra làm nhiệm vụ hỗ trợ cho bộ phận
sáng tác. Và thế là một loạt các nhà văn cận đại và hiện đại tiến bộ của thế giới
đã được giới thiệu cho độc giả Việt Nam như: Pushkin, Gogol, Tolstoi, Turgenev,
Chekhov, Hugo, Balzac, Daudet, Flaubert, Goethe, Heine, T. Mann, Defoe, W.
Scott, Swift, Hemingway, M. Twain, O. Henri, J. London... Như vậy là, mặc cho
có sự hạn chế chật hẹp của chủ nghĩa hiện thực XHCN trên bình diện lý luận,
nhưng trên bình diện thực tiễn, văn học đã khai phá cho mình một con đường
riêng: văn học thế giới quá phong phú cho nên công chúng không thể chối bỏ nó
được. Đó là chúng tôi chưa kể tới việc các nền văn học cổ khác của thế giới
cũng được dịp in dấu ấn trong văn học Việt Nam ở giai đoạn này (vở kịch Con
nai đen của Nguyễn Đình Thi là một ví dụ).
6. Tuy nhiên, giai đoạn nói trên (1954-1975) chưa phải là
giai đoạn mở cửa. Dưới dự chi phối của chủ nghĩa giáo điều quốc tế do quy chế
chiến tranh lạnh áp đặt, việc trao đổi văn hóa nói chung và trao đổi văn học
nói riêng đã diễn ra rất hạn chế, một bộ phận không nhỏ của văn học thế giới đã
bị ngăn trở không được tiếp cận với công chúng Việt Nam. Ta có thể nói rằng
trong khi việc trao đổi văn hóa đã được diễn ra rộng rãi trên bình diện địa lý,
thì trên bình diện tư tưởng - đề tài nó lại bị hạn chế. Chính do tình trạng mất
cân bằng nói trên mà giờ đây khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, văn hóa nước ngoài đã tràn vào Việt Nam như những cơn thác lũ không thể kìm nổi. Ngày
nay, văn học Việt Nam đang chịu nhiều sự ảnh hưởng đa dạng của văn học thế giới.
Và tất nhiên, ngoài những ảnh hưởng tích cực còn có cả những ảnh hưởng tai hại:
xuất hiện loại văn chương thương mại dung tục. Nhưng nhìn chung có thể nói rằng
chính sách mở cửa đã tạo thuận lợi cho sự phát triển của văn học Việt Nam, nhờ
có chính sách này mà văn học Việt Nam trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn và
đích thực hơn.
Ngày nay người ta không tìm thấy ở Việt Nam một nền văn học
tiêu chuẩn hóa, mà giờ đây chúng ta đã có được một nền văn học đa sắc, trong đó
các nhà văn có thể tự do sáng tác theo suy nghĩ chủ động của riêng mình. Trong
thời kỳ đổi mới này, nhiều hiện tượng cách tân của văn học phương Tây đã có cơ
hội được thâm nhập vào văn học Việt Nam. Ta có thể nhận thấy dấu ấn của
Dostoevski, của Kafka, của Proust, của Joyce, của Camus, của kịch phi lý, thậm
chí của cả “tiểu thuyết mới” của Pháp trong một số hiện tượng văn học Việt Nam
hiện đại.
7. Nhưng những kinh nghiệm nước ngoài ấy đã gây tác động khác
nhau tùy theo từng trường hợp; hoặc chính xác hơn là các nhà văn Việt Nam đã tiếp
thu kinh nghiệm nước ngoài một cách rất khác nhau. Theo chúng tôi, khi việc tiếp
thu kinh nghiệm nước ngoài chỉ giới hạn ở khía cạnh kỹ thuật hình thức thì nó
có thể đem lại những ấn tượng tốt đẹp. Đó là trường hợp của một Nguyễn Minh
Châu mới với kĩ thuật dòng chảy ý thức của Proust (Phiên chợ Giát).
Cũng có thể Nguyễn Minh Châu không chịu ảnh hưởng trực tiếp của Proust, nhưng
cái kĩ thuật dòng chảy ý thức đâu còn là của riêng Proust nữa, mà nó đã trở
thành tài sản chung của nhiều nhà văn trên thế giới và chúng ta không loại trừ
có thể có nhiều con đường gián tiếp đưa nó đến Việt Nam. Cùng trong tinh thần
tiếp thu kỹ thuật viết văn này còn có truyện Chín bỏ làm mười của Phạm
Thị Hoài. Truyện Chín bỏ làm mười chịu sự ảnh hưởng của truyện Mười
một người con trai của Kafka. Tuy nhiên đây chỉ là sự bắt chước về mặt nghệ
thuật, cho nên nó vẫn đạt hiệu quả thẩm mỹ nhất định; các nhân vật trong Chín
bỏ làm mười thật sự là của Phạm Thị Hoài chứ không phải của Kafka, chúng
là những trạng thái nhận thức của tác giả và mang ý nghĩa giả thiết triết lý.
Đây là một lối viết độc đáo, mới mẻ, ít người sử dụng.
Tuy nhiên đôi khi ảnh hưởng nước ngoài không chỉ giới hạn ở
khía cạnh hình thức, mà nó còn mang cả tính nội dung và thuộc về quan niệm nghệ
thuật, tức là khi nhà văn thuộc phía tiếp nhận lấy cả khung cảnh tự sự của tác
giả nước ngoài để đưa vào môi trường Việt Nam. Đó là trường hợp của Nguyễn Huy
Thiệp và đặc biệt là của Phạm Thị Hoài. Nguyễn Huy Thiệp đã chuyển cái khung cảnh
tự sự của Anh em Karamazov của Dostoevski vào truyện ngắn Không
có vua: chuyển cái triết lý “không có Chúa thì mọi cái đều được phép làm” thành
cái triết lý “không có vua thì mọi cái đều được tự do”. Còn đối với
trường hợp của Phạm Thị Hoài thì trong tác phẩm của chị còn có bóng dáng khung
cảnh tự sự của các tác giả văn học phi lý phương Tây. Chính Phạm Thị Hoài đã lấy
một trong những chủ đề thuộc khung cảnh tự sự của Kafka là mê cung để đặt tên
cho một tập truyện ngắn của mình: Mê lộ (1989).
Có một sự giống nhau khá rõ về tình trạng tha hóa của nhân vật
giữa Phạm Thị Hoài với các tác giả nói trên. Meursault, nhân vật chính
trong Kẻ xa lạ, là nhân vật văn học hiện đại đầu tiên khước từ lối sống
theo kiểu lề thói xã hội. Còn các nhân vật của Phạm Thị Hoài cũng khước từ một
“lối sống bầy đàn”: Hai mẹ con cô Liễu “sống kín đáo, ngầm kiêu hãnh vì khác biệt
cư dân trong xóm: chủ yếu là công chức, giống nhau từ cách ngậm cái tăm, xỏ đôi
dép, đến những ước mơ quẩn quanh tội nghiệp và căn bệnh dễ chịu: mất khả năng ý
thức về tất cả mọi sự, trước hết là về mình” (Tổ khúc bốn mùa); hay: “Tôi
từ chối không đứng vào bất kỳ thế hệ nào. Tôi từ chối bất kỳ bộ đồng phục quá
chật hoặc quá rộng nào” (Thiên sứ);“Người ta kháo nhau, ở đám tang hôm ấy có một
đứa trẻ chừng mười bốn, mười lăm tuổi, không khóc, không cười, không hoa, không
chứng chỉ, một mình đến viếng, rồi lặng lẽ bỏ đi” (Thiên sứ). Người không
chứng chỉ có nghĩa không phải là thành viên của cộng đồng, là đứng ngoài cộng đồng,
theo một nghĩa nào đó chính là kẻ xa lạ trong xã hội. Nó giống loại nhân vật
không có tung tích, nhân vật vô danh trong văn học phi lý phương Tây hiện đại.
Đọc Phạm Thị Hoài người ta còn có thể liên tưởng tới chủ nghĩa phi lý trong Huyền thoại Sisyphe của Camus. Chúng ta hãy so sánh đoạn văn
sau đây trong chùm bài tiểu luận mang tên Một lập luận phi lý in trong
tập Huyền thoại Sisyphe: “Đến một lúc, mọi cảnh trí trang hoàng sẽ bị sụp
đổ. Ngủ dậy, lên xe điện, bốn giờ ngồi bàn giấy hoặc ở công xưởng, nghỉ ăn cơm,
bốn giờ lao động, nghỉ ăn cơm, đi ngủ và thứ hai thứ ba thứ tư thứ năm thứ sáu
rồi thứ bảy đều lặp lại cùng một nhịp điệu, lối sống đó tiếp diễn dễ dãi gần
như đều đặn. Chỉ đến một hôm cái câu hỏi ‘để làm gì’ bỗng xuất hiện và mọi cái
bắt dầu bằng một sự mệt mỏi pha lẫn thái độ ngạc nhiên này” (4), với đoạn văn
sau đây trong Thiên sứ: “Họ biết làm gì khác hơn ngoài liên hoan, cơ hội
ôn tập và thao diễn chính họ, trước khi trượt dài vào một thời khóa biểu công
chức, dằng dặc những chu kì ngày lại giống ngày; không một biến cố đánh dấu
hành trình của thời gian?” (Thiên sứ); chẳng khác gì công việc vần tảng đá lên
đỉnh núi diễn ra hàng ngày của nhân vật huyền thoại Sisyphe trong thần thoại Hy
Lạp! Còn cái thế giới siêu thực trong Tiệm may Sài Gòn, Thực đơn chủ nhật...
của Phạm Thị Hoài làm cho ta nhớ lại cái thế giới phi lí trong kịch của Ionesco
và liên tưởng tới cả hội họa siêu thực của nhà danh họa Tây Ban Nha Salvador
Dali. Đấy là một thế giới trong đó có một kích thước được phóng đại hẳn lên (ví
như thế giới của “những đứa con gái tên toàn dấu sắc” trong Tiệm may Sài
Gòn), trong khi đó thì các kích thước khác lại bị dồn nén cả vào một xó, tất cả
làm thành một bức tranh méo mó, dị dạng và quái đản.
Nhưng giữa các tác giả văn học phi lý và Phạm Thị Hoài có một
sự khác nhau căn bản. Nghệ thuật diễn đạt cái phi lý của các tác giả văn học
phi lý là nghệ thuật phúng dụ, ngoa dụ và tượng trưng. Vì thế thế giới của họ
mang tính tượng trưng, siêu thực và phi lịch sử cụ thể. Thậm chí có lúc các tác
giả còn sử dụng cả huyền thoại để làm tăng thêm ý nghĩa tượng trưng và khái
quát: người biến thành côn trùng (Hóa thân của Kafka); người biến thành
thú vật (Những con tê giác của E. Ionesco); một con khỉ tường trình trước
Viện Hàn lâm về quá trình tiến hóa thành người của nó (Một bản báo cáo gửi Viện
Hàn lâm của Kafka); một con vật kể về cuộc sống dưới lòng đất của mình (Hang
ổ của Kafka); những chiếc ghế biểu diễn thay cho nhân vật (Những chiếc ghế của
Ionesco); câu chuyện trong Đợi Godot của Beckett diễn ra tại một xứ
“chẳng của riêng ai”. Thậm chí cả thời gian cũng có lúc trở thành thời gian tuyệt
đối, không có quá khứ cũng không có tương lai, chỉ có hiện tại ngưng đọng.
Chúng ta hãy nghe đoạn đối thoại sau đây giữa ba nhân vật trong Đợi Godot:
“POZZO: Mấy giờ rồi?
ESTRAGON: (Xem đồng hồ): Để xem...
VLADIMIR: Bảy hay tám giờ?
ESTRAGON: Tùy thuộc vào mùa.
POZZO: Bây giờ đang là buổi chiều. (Im lặng. Estragon và
Vladimir ngắm nhìn hoàng hôn.)
ESTRAGON: Hình như mặt trời đang mọc...
VLADIMIR: Không thể như thế được.
ESTRAGON: Hình như đang là bình minh
VLADIMIR: Đừng nói nhảm. Phía đó là hướng Tây.
ESTRAGON: Cậu thì biết gì?
POZZO (hoảng sợ): Đang là buổi chiều ư?
VLADIMIR: Vả lại, mặt trời vẫn chẳng nhúc nhích chút nào.
ESTRAGON: Tớ cam đoan là nó đang mọc.
POZZO: Tại sao các cậu không trả lời tôi?
ESTRAGON: Vì chúng tôi không muốn nói những chuyện ngớ ngẩn.”
Còn Phạm Thị Hoài thì lại muốn sử dụng ngay bối cảnh của hiện
thực lịch sử cụ thể để xây dựng huyền thoại. Tức là trong khi các tác giả văn học
phi lý phương Tây xây dựng cái khung cảnh tự sự mang triệu chứng của những tai
họa định mệnh của loài người, thì Phạm Thị Hoài lại xây dựng một khung cảnh tự
sự phi lý trên cái nền lịch sử cụ thể ở cấp độ một dân tộc. Làm như thế tránh
sao khỏi sự xộc xệch, lệch pha, và chính vì vậy mà tác phẩm của chị bị hạn chế
về hiệu quả thẩm mỹ.
Phạm Thị Hoài đã có tài trong việc “thao túng” vốn sách vở của
mình để khai phá một chủ đề khá mới đối với độc giả Việt Nam: cái phi lý. Tuy
nhiên theo chúng tôi, Phạm Thị Hoài chưa xử lý được vấn đề quan hệ giữa vốn
sách vở với hiện thực cuộc sống. Thậm chí còn chưa khống chế được vốn sách vở của
mình (chị còn nhầm lẫn coi Lão - Trang là một và viết liền hai tên gọi của hai
nhà triết học này - Lão Tử và Trang tử - thành một tên trong câu: “Kẻ sĩ
thứ tư phong độ như Lão Trang” (Truyện thầy A. K., kẻ sĩ Hà thành). Chính
vì vậy mà sự khám phá của Phạm Thị Hoài chưa sâu.
Riêng có một điều có thể cần lưu ý, đó là sự phê phán cái “ý
thức bầy đàn” của Phạm Thị Hoài. Đành rằng ở đây vẫn có vai trò của vốn kiến thức
sách vở, nhưng Phạm Thị Hoài đã cụ thể hóa được vấn đề theo cách nhìn riêng của
mình. Tuy nhiên sự phê phán của Phạm Thị Hoài thiếu chiều sâu nhận thức về con
người và xã hội và thiếu tình yêu đồng loại. Một lần nữa, cái nhìn cục bộ vụn vặt,
không đi tới được tận cùng của sự việc, và cùng với những lời phát biểu đại
ngôn vô cớ và vô căn cứ, đã làm cho Phạm Thị Hoài không vươn tới được tầm cao của
những vấn đề mà chị đặt ra. Ở đây, khi so sánh Phạm Thị Hoài với Camus và các
tác giả kịch phi lý, không có nghĩa là chúng tôi khẳng định rằng Phạm Thị Hoài
sao chép các chủ đề trong tác phẩm của họ, (thậm chí chưa chắc Phạm Thị Hoài đã
đọc Huyền thoại Sisyphe), mà chúng tôi chỉ cho rằng có thể Phạm Thị Hoài
đã tiếp thu cái tinh thần phi lí của họ mà thôi. Và việc đối chiếu tác phẩm như
trên chỉ là để rút ra nhận xét này. Ngoài ra, những nhận xét so sánh trong bài
này không phải chỉ là những đánh giá duy nhất dành cho Phạm Thị Hoài. Tác phẩm
của Phạm Thị Hoài còn nhiều khía cạnh khác nữa không nằm trong phạm vi bài viết
của chúng tôi, vì ở đây chúng tôi chỉ phân tích những yếu tố thuộc chủ đề về các
mối tương quan giữa văn học phương Tây với văn học Việt Nam, chứ không đánh giá
toàn diện mỗi hiện tượng văn học.
Nhân tiện nói đến huyền thoại chúng tôi cũng muốn bàn thêm một
chút về việc “thao túng” huyền thoại của Nguyễn Huy Thiệp trong Vàng lửa.
Thoạt nhìn, có nhiều người sẽ cho rằng Vàng lửa là một truyện lịch sử.
Ta hãy xem lại ý kiến này trên góc độ văn học so sánh.
Từ Shakespeare đến W. Scott, Hugo, Dumas, và xét thêm cả La
Quán Trung của Trung Quốc cũng như Ngô Gia Văn Phái với Hoàng Lê nhất thống
chí của ta, truyện lịch sử thường là những bức tranh tái hiện lịch sử theo
quan điểm của một phái nào đó mà nhà văn là người phát ngôn. Chính vì vậy mà
nhà văn đã tự cho phép mình có quyền hư cấu và đôi khi bóp méo cả lịch sử. Tam
quốc diễn nghĩa là một ví dụ điển hình. Ở đây, La Quán Trung, đại diện cho quan
điểm nhà Hán chính thống, đã ưu ái các nhân vật của nhà Hán (ví dụ như ba anh
em Lưu, Quan, Trương và Khổng Minh), và hạ thấp các nhân vật thuộc các phe phái
khác (Tào Tháo, Chu Du...). Có thể đây sẽ là một bằng chứng biện hộ cho Vàng lửa
của Nguyễn Huy Thiệp. Những người bênh vực anh có thể cho rằng nhà văn có quyền
hư cấu và phán xét lịch sử. Nếu thực sự Vàng lửa là truyện lịch sử thì Nguyễn
Huy Thiệp hoàn toàn có cái quyền đó. Nhưng theo chúng tôi, Vàng lửa không phải
là truyện lịch sử theo đúng nghĩa là sự tái hiện lịch sử, mà thực ra nó chỉ mượn
lịch sử để làm một việc có thể được gọi là “hóa giải huyền thoại”.
Trên thế giới cũng đã có những nhà văn làm công việc hóa giải
huyền thoại này. Camus đã hóa giải huyền thoại về ý thức tuân thủ các quy ước
xã giao của con người trong Kẻ xa lạ. Việc Meursault không khóc khi mẹ chết
và không để tang đúng nghi thức lại trở thành lí do chính để kết tội anh trong
vụ án giết người của anh. Camus cũng đã hóa giải huyền thoại về thân phận cao cả
của con người trong Huyền thoại Sisyphe: thân phận con người bình thường
chỉ là một sự phi lý của tạo hóa. Còn Nguyễn Huy Thiệp trong Vàng lửa lại
hóa giải huyền thoại về sự vĩ đại của nền văn minh người Việt. Đây là một quan
điểm lịch sử cụ thể, một sự tự phủ nhận chính mình mà từ trước đến nay trên thế
giới chưa ai làm. Có người cho rằng Lỗ Tấn cũng đã làm như vậy. Nhưng không phải.
Thực ra khi chế giễu con người Trung Quốc hiện đại là Lỗ Tấn chỉ muốn làm thức
tỉnh cái ý thức dân tộc tạm thời đang bị u mê chứ ông không hề có ý phủ nhận
giá trị văn minh của dân tộc Trung Hoa. Còn ở Nguyễn Huy Thiệp thì ngược lại:
Anh cho rằng dân tộc Việt Nam đang u mê về sự vĩ đại(!), và anh muốn đánh thức
mọi người để cho họ thoát khỏi cơn u mê đó.
Ở nước ta trước đây cũng đã có những người (như Trần Văn Thủy,
tác giả bộ phim tài liệu Chuyện tử tế) cho rằng ở Nhật Bản người ta không
tuyên truyền cho trẻ em về sự giàu có của thiên nhiên Nhật Bản như ở ta. Đây là
một nhận định đáng ngờ. Bởi lẽ trên thế giới không có dân tộc nào là không có
lòng tự hào dân tộc, và càng không có dân tộc nào là không giáo dục cho trẻ em
về lòng tự hào đó (kể cả nước Nhật, một đất nước có bờ biển trải dài bao quanh
hơn một nghìn hòn đảo và là nơi gặp gỡ của các dòng hải lưu đã làm cho nó trở
thành nước có ngành đánh bắt hải sản lớn vào loại nhất nhì thế giới). Và sự thực
là việc tự hạ nhục mình cũng tai hại không kém gì việc tự đề cao mình quá mức.
Sự “vĩ đại” của một dân tộc chỉ là một giá trị tự tại. Bất cứ một dân tộc nào
cũng có quyền tự cho mình là “vĩ đại” (và sự thật là tất cả các dân tộc trên thế
giới đều có những lý do chính đáng để cho mình là “vĩ đại”), chỉ có việc tự cho
mình là vĩ đại hơn các dân tộc khác mới là một điều hàm hồ. Và một điều cũng
hàm hồ không kém là việc đánh mất ý thức tự trọng của chính mình. Camus là người
rất bi quan về số phận của loài người nói chung, nhưng đối với con người cụ thể,
ông rất lạc quan và quý trọng nó, và đó cũng là sự tự trọng của chính mình. Ông
đã tuyên bố: “Nếu như đạo Cơ Đốc tỏ ra bi quan trước con người thì nó lại
lạc quan trước số phận của loài người. Về phần tôi, tôi sẽ tuyên bố rằng mặc dù
bi quan trước số phận của loài người nhưng tôi lại lạc quan trước con người“ (Tập
hợp các bài viết trong tập sách Actuelles I) Và ông đã viết trong sổ
tay rằng “con người có nhiều điều đáng khâm phục hơn là đáng khinh ghét”.
Gần đây có một cuốn tiểu thuyết có vẻ như cũng mang hơi hướng
quan điểm của văn học phi lý, đó là cuốn Cơ hội của Chúa của Nguyễn
Việt Hà xuất bản năm 1999. Cơ hội của Chúa là một cuốn tiểu thuyết của
thời kinh tế thị trường. Nhân vật chính là Hoàng, một thanh niên trí thức (cũng
cùng một vần chữ cái với tên tác giả, giống như Josef K. của Kafka). Cái mặt
trái của cơ chế thị trường mà Nguyễn Việt Hà lột tả là một mảng sự thật của cuộc
sống hiện nay. Điều này nhiều người cũng đã nói tới, cả trong tiểu thuyết lẫn
truyện ngắn, nó chẳng có gì là mới cả. Nhưng cái cách phủ nhận cái xấu của tác
giả mới là điều đáng nói. Nguyễn Việt Hà đã phủ nhận cái xấu bằng chủ nghĩa hư
vô và thể hiện chủ nghĩa hư vô này bằng rượu. Ngay cả ở đây, chủ nghĩa hư vô của
Nguyễn Việt Hà cũng có “bậc tiền bối” của nó chứ không phải là phát minh mới mẻ
của anh. Chúng ta có thể thấy chủ nghĩa hư vô của anh là sự nối tiếp chủ nghĩa
hư vô của Phạm Thị Hoài. Thiên sứ là thứ chủ nghĩa hư vô thời bao cấp (đám
thanh niên không biết làm gì ngoài liên hoan hội hè ăn nhậu, sống không có mục
đích). Còn ở Nguyễn Việt Hà thì, với chủ nghĩa hư vô thời kinh tế thị trường,
Hoàng cũng chẳng biết làm gì ngoài việc la cà các quán rượu, tọng hàng lít rượu
mạnh vào bụng để rồi lại nôn ra hết. Anh ta rất thích các loại rượu Tây (một sản
phẩm thượng lưu của thời kinh tế thị trường), nhưng hầu như không có khả năng
tiêu hóa được bất cứ một loại rượu nào. Phải chăng tác giả muốn phủ nhận ngay
chính cái phương tiện phủ nhận của chủ nghĩa hư vô? Thật là một thứ chủ nghĩa
hư vô triệt để nhất và có mùi “chua nồng”! (Không biết ở đây có cảm hứng Buồn
nôn của Jean-Paul Sartre không.) Giá như Hoàng có thể tiêu hóa được rượu
(mà lại toàn rượu ngon), thì thứ chủ nghĩa hư vô của anh có lẽ sẽ có được sắc
thái thanh cao hơn.
Tất nhiên ở đây tác giả có một thiện ý là muốn xây dựng cho
nhân vật chính của mình thành một người thanh bạch giữa đám người ham mê đồng
tiền, đám người ít nhiều bị đồng tiền làm vẩn đục lương tâm; muốn xây dựng anh
thành một con người lý tưởng để phủ nhận mặt xấu của cơ chế thị trường. Đó là một
ý định tốt. Nhưng từ ý định đến việc làm là cả một khoảng cách lớn. Trên thực tế
thì tác giả đã dùng rượu để phủ nhận cái xấu! Mà lại là rượu nôn! Đây là một
“phát minh” rất độc đáo của Nguyễn Việt Hà.
Trốn trong rượu chưa đủ, Hoàng còn tìm cách trở về với các bậc
hiền triết, vĩ nhân thời xa xưa để luận bàn triết lí mung lung hòng trốn tránh
sự đời. Tất cả những cái đó làm tăng thêm thái độ xa lạ của Hoàng trước cuộc sống.
Hoàng sống đấy mà không hòa nhập được với ai. Có chăng là chỉ với người bạn gái
tên là Nhã. Nhưng thực ra Nhã cũng chỉ là một alter ego (“dị ngã”, “bản
ngã thứ hai”) của Hoàng. Có cái gì đó phảng phất không khí Kẻ xa lạ của
Camus. Nhìn chung nhân vật Hoàng có cái vẻ giống với các nhân vật cô đơn, không
hòa nhập được với cộng đồng, của văn học phi lý. Cũng giống như Meursault của
Camus, Hoàng cũng có cái vẻ dửng dưng trước cuộc đời pha thêm chút thái độ
khinh bạc, đặc biệt là dửng dưng trước đồng tiền. Tác giả có một ý định tốt là
muốn dùng Hoàng làm lý tưởng, đại diện cho cái tốt trong guồng quay nghiệt ngã
của kinh tế thị trường, để làm tác nhân phủ nhận cái xấu. Nhưng thực tế thì
sao? Hoàng chỉ là một cái thùng ủ rượu chua để rồi lại nôn các thứ phế thải ra,
một trí thức bê tha nhếch nhác! Người như thế làm sao phủ nhận nổi cái xấu? May
thay cuốn tiểu thuyết này còn có được một nhân vật tích cực duy nhất, đó là
Nhã. Và giá như cái alter ego ấy của Hoàng được tôn lên hàng đầu để đánh đổ cái
anh chàng Hoàng nát rượu kia đi thì chắc là cuốn tiểu thuyết sẽ có một giá trị
khác. Một lần nữa, sự “cấy ghép” cái chủ đề “phi lý”, “cô đơn”, “buồn nôn” ở cấp
bản thể của phương Tây vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam đã tỏ ra khập
khiễng, không có sức thuyết phục, và do đó kém hiệu quả thẩm mỹ.
Chúng tôi cho rằng Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà đều có ý định
chính đáng là muốn đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết. Cả hai đều muốn đưa ra những
mô hình mới cho tiểu thuyết. Đó là một ý định rất đáng hoan nghênh. Từ lâu
chúng tôi cũng đã có ý nghĩ cho rằng văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng
thường có những khuôn mẫu, mô hình. Hay nói một cách khác là lịch sử tiểu thuyết
là lịch sử của sự thay thế các mô hình. Mỗi thời, mỗi giai đoạn, các nhà văn đều
tìm thấy cho mình một mô hình để theo. Ở giai đoạn lãng mạn, tiểu thuyết Việt
Nam có mô hình về sự đấu tranh cho tự do cá nhân. Ở giai đoạn chủ nghĩa hiện thực
phê phán, tiểu thuyết có mô hình về việc mô tả cuộc sống bị chèn ép của những
con người thuộc tầng lớp thấp hèn của xã hội. Trong thời kỳ kháng chiến, tiểu
thuyết có mô hình về những người dân thường yêu nước cầm súng đánh giặc. Trong
thời kỳ xã hội chủ nghĩa và đấu tranh giải phóng miền Nam, tiểu thuyết có mô
hình của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, mô tả công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và cuộc đấu tranh ác liệt nhưng lạc quan của dân tộc để giải phóng
miền Nam. Trong những giai đoạn này, tiểu thuyết của văn học nước ta tỏ ra khá
thuần nhất. Còn các mô hình qua các thời kỳ thì được lấy ở đâu? Chúng ta biết rằng
tiểu thuyết Việt Nam là một nền tiểu thuyết non trẻ so với thế giới, do đó ở thời
kỳ đầu hiển nhiên là nó phải lấy khuôn mẫu trong kho tàng văn học thế giới. Tiểu
thuyết lãng mạn trước 1945 lấy khuôn mẫu ở văn học lãng mạn phương Tây, chủ yếu
là ở văn học lãng mạn Pháp. Thậm chí có những nhà văn còn dựa hẳn vào các tác
phẩm văn học cụ thể của nước ngoài để phóng tác, như trường hợp tiểu thuyết đạo
lý “chính - tà” của Hồ Biểu Chánh chẳng hạn. Tiểu thuyết hiện thực phê phán dựa
vào mô hình của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên của văn học Pháp. Tiểu
thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa chủ yếu dựa vào mô hình tiểu thuyết của văn học
Liên Xô.
Tuy nhiên sự việc có khác đi kể từ thập kỉ 80, đặc biệt từ nửa
cuối thập kỉ cuối cùng của thế kỷ XX. Từ đây, trong không khí của thời mở cửa,
văn học nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng đã bắt đầu được tiếp xúc rộng
rãi với nhiều nền văn học trên thế giới, và do đó nó có nhiều cơ hội để tìm thấy
cho mình những mô hình mới. Nhiều nhà văn cũng muốn vạch cho mình một con đường
riêng bằng cách, dựa trên sự tiếp thu các thành tựu của văn học thế giới trong
bối cảnh của giao lưu văn hóa đa phương ngày nay, họ tiến hành những cuộc thể
nghiệm để tạo ra những mô hình mới cho tiểu thuyết. Đây là những nỗ lực rất
đáng khích lệ. Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà là một trong những trường hợp thể
nghiệm như vậy. Tiếc thay, kết quả thể nghiệm của họ tỏ ra chưa đủ sức thuyết
phục.
Cũng là sự tiếp thu văn học phi lý, nhưng ở kịch phi lý, sự
tiếp thu văn xuôi phi lý đã cho những kết quả cách tân nghệ thuật trong sân khấu.
Còn ở Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà thì thật đáng tiếc đó lại là một sự bắt
chước bằng cách “cấy ghép” khập khiễng, xộc xệch. Đây cũng là một bài học quý
giá về tiếp thu văn học thế giới.
8. Như vậy, văn học phương Tây đã in dấu lên nền văn học Việt
Nam từ khá lâu và góp phần không nhỏ vào sự phát triển của văn học Việt Nam.
Chúng tôi đã điểm qua những cái mốc đáng quan tâm ở giai đoạn gần đây nhất.
Chúng tôi không dám đánh giá toàn bộ giá trị của các hiện tượng văn học vừa được
nhắc tới, mà chỉ đưa ra một số nhận xét từ góc độ văn học so sánh, hi vọng sẽ
góp thêm một số ý kiến để người đọc tham khảo khi tìm hiểu các hiện tượng đang
gây tranh cãi ấy. Tiếp thu kinh nghiệm văn học nước ngoài là một việc làm cần
thiết và đáng hoan nghênh. Nhưng sự tiếp thu này chỉ đem lại hiệu quả khi nó được
kết hợp với nền tảng riêng của nền văn học ở phía tiếp nhận, nghĩa là phải có sự
tham gia của hoạt động đồng hóa sáng tạo. Tiếp thu hoàn toàn không có nghĩa là
thay thế.
Chú thích:
* (In lần đầu bằng tiếng Pháp trên Vietnam Social
Sciences, số 2-1995; viết lại có bổ sung bằng tiếng Việt trên Tạp chí văn
học, số 2-1997; in lại trong Nguyễn Văn Dân: Nghiên cứu văn học - lý luận
và ứng dụng (Nxb. GD, 1999, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2000. Bản cuối
cùng này cũng đã được chỉnh lý đôi chỗ, đặc biệt là thêm đoạn mở đầu).
(1) Trích theo Trương Chính, Vấn đề đánh giá Tự lực
Văn đoàn, Tạp chí văn học, số 3-4/1988.
(2) Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội,
1988, (tái bản), (Nguyễn Đức Phiên xuất bản lần đầu ở Huế năm 1942).
(3) Theo Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, Nxb. Vĩnh Thịnh, Hà Nội,
1951, (in lần thứ hai).
(4) A. Camus, Le mythe de Sisyphe [“Huyền thoại Sisyphe”],
Gallimard, Paris, 1942, p. 29, (bản tiếng Pháp).
5/5/2016Nguyễn Văn Dân Nguồn: Viet-studies


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét