Từ xưa các nhà Nho - Phật - Đạo đều chú trọng đến
việc “dưỡng khí”, chỉ do quan niệm triết học khác nhau nên phương thức và nội
dung không giống nhau. Nho gia tích cực trong việc bồi dưỡng phẩm cách con
người, nhấn mạnh vào con người tự mình phải hàm dưỡng cái khí nhân nghĩa. Đạo
gia chú trọng việc bồi dưỡng tính thiên nhiên của con người, đặt nặng vấn đề
con người cần phải hàm dưỡng cái khí bản chất của mình. Phật gia coi trọng việc
con người phải bồi dưỡng năng lực chịu đựng khốn khổ, nên nhấn mạnh vào việc
tự mình phải hàm dưỡng cái khí bao dung nhẫn nại.
Từ các quan niệm triết học xử thế như vừa nêu, nên khi đi
vào tác phẩm văn học, chủ thể nhân cách của mỗi nhà đều có bộ mặt khác nhau:
Nho gia chủ trương chân thành, Đạo gia có trạng thái phiêu dật, Phật gia đặt
nặng vấn đề tự tập trung. Trong ba giáo phái Nho Phật Đạo thì nhà Nho đặt nặng
việc tu dưỡng cá thể con người nhất, vì chủ thuyết này lấy việc thúc đẩy xã hội
tiền tiến là nhiệm vụ chính; đòi hỏi mỗi cá thể phải cực lực bồi dưỡng nhân
cách của mình để tích cực nhập thế, hi vọng sự nỗ lực của mỗi cá thể sẽ làm
cho xã hội đạt đến sự hòa hài cao độ,... Từ quan điển chủ đạo đó chi phối mà
mạnh Tử đề ra “khí hạo nhiên”, là một thứ lý luận dưỡng khí cho
vai trò chủ thể tự nhiên, mà rồi gây thành ảnh hưởng rất lớn trong
văn nghệ học, mỹ học của Trung quốc cổ điển và lan ra đến các lân
bang trong số đó có Việt nam.
Nhưng khí hạo nhiên là gì? Thất ra nó là một thứ
khí to lớn cứng rắn. Mạnh tử nói nó là “chí
đại chí cương”, nó có khả năng phối nghĩa với Đạo, và sản sinh ra
“tập nghĩa” (kết hợp nhiều việc nghĩa lại với nhau). Nói rõ hơn, khí hạo
nhiên là chỉ cho một thứ tinh thần phẩn cách cao quí nhất không gì có thể so
sánh được, nò có đặc điển là khích lệ phấn phát nâng cao ý chí con người. Phẩn
cách ấy khi biểu hiện ra bên ngoài là cực kỳ nhân hậu, cục kỳ cương trực đầy
khí tiết: “phú qu1y bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”
(Nghĩa là :giàu có mà không trụy lạc không dân đảng tham lam, nghèo hèn mà ý
chí không thay đổi, đứng trước uy vũ (kẻ mạnh) mà
tinh thần nghị lực vẫn vũng chãi không hề bị uy hiếp khuất phục).
Con người phải có đủ khí tiết cương trực nhân hậu mới có thể đảm
đương việc đạo nghĩa, hoàn thành được sứ mệnh đặc biệt
đối với đất nước với xã hội.
Vai trò của khí hạo nhiên quá lớn, nhưng bằng cách nào để bồi
dưỡng nó? Chúng ta chỉ căn cứ vào ngôn hành của Mạnh Tử mới giải thích hợp lý
được. Trước tiên mình phải bồi dưỡng cái tâm nhân ái, rồi dùng cái lòng nhân
hậu đó mà có thái độ xử nhân tiệp vật đúng đắn. Như trong chương Mạnh tử kiến
Lương Huệ vương tường thuật tỉ mỉ. Nhà vua nói: Ta cũng hết lòng với
dân gặp khi Hà Nội mất mùa thì dời dân qua Hà đông, dời thóc lúa Hà đông sang
Hà nội; hoặc khi Hà đông mất mùa cũng làm y như vậy, mà sao chính
sách nước láng giềng chẳng được như tasa mà dân họ chẳng ít đi,
trong khi dân của ta cũng chẳng thấy nhiều thêm là sao? Mạnh tử đáp: “Đó
chì là một khía cạnh của tính nhân ái, nên không đủ sức lôi kéo bách tính qui
thuận. Rồi nhân đó ông đưa ra chủ nghĩa lấy dân làm gốc, yêu cầu
nhà vua đừng làm hại mùa màng ( bắt dân đi phục vụ công dịch), lại
lo việc giáo dục khiến cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân được đầy đủ, mói có thể mọi người hướng về, dân số mới gia tăng, xã hội mới
phồn vinh phú cường... Mạnh Tử còn đòi hỏi nhà vua “kính trọng người già của
nhà mình, ròi suy ra để tôn kính người già của kẻ khác;
từ việc nuôi nấng can cái của mình suy ra đến trẻ con của người, cùng
đem cái thứ đạo đức thiết thực biến thành hành động thực
tế, khiến cho nhân cách có thể trở thành một bộ phận quan trọng; như vậy
không những việc tu dưỡng của con người đạt đến một giai tằng cao
cả, mà còn có thể thực hiện được sự thái bình thịnh trị của một quốc gia. Điểm thứ hai là phải rèn luyện cho có một ý chí
nội tại vững mạnh, để có thể chịu đựng sự khảo nghiệm của
hoàn cảnh đầy gian khổ. Mạnh Tử rất chú ý đến điểm này, vì ông cho rằng
con người một khi nghĩ đến việc lớn, một sự nghiệp, tức
không nghĩ đến tư lợi của mình, mà còn phải chuẩn bị cho việc hiến cả thân
mình. Dấn thân vào cuộc đời không mấy thuận buồm xu6i gió, mà thường là đầy trắc
trở khó khăn; con người cần phải thản nhiên đối diện với những tai ách, trước
sau vẫn duy trì một tinh thần chiến đấu vũng chắc. Mạnh Tử tùng
căn dặn: ”Trời trước khi ban trách nhiệm lớn cho người nào thí tất
phải làm cho cái tâm, cái chí của người ấy trải đầy khốn khổ; có
thể gân cốt phải lao động, thể xác phải đói khát, cùng túng, Muốn làm việc gì
cũng không yên, cũng đầy khó khăn. Tất cả những điều kiện đo là nhắm vào việc
khích động cái tâm, khiến cho tính khí trở nên nhẫn nại, bổ ích cho những điều
mà nó chưa thực hiện được. Chính những khó khăn đó mới rèn luyện
được ý chí, bảo trì được sự thanh tĩnh, rồi từ tinh thần khí chất không kiêu
ngạo, không tự ti, không kiêu kỳ cũng không khúm núm đó được xem như có nhân
cách tốt đẹp điển hình. Mạnh Tử còn đề xuất: Giữa sự sống và điều nghĩa, nếu
không thể muốn được cả hai, thì chọn điếu nghĩa vì nghĩa cao quí hơn. Điểm thứ ba là con người không chỉ phải trải
qua cuộc sống gian khổ để trôi luyện, mà còn cần phải trải qua
kinh nghiệm bị nếp sống sung sướng dẫn dụ. Thường trong cuộc sống gặp
phải cảnh gian khổ người ta hay nghĩ tới sự an ủi, tìm người tri kỷ san sẻ;
thế nhưng khi gặp cảnh ngộ sung sướng lại
thường có thái độ ly tâm ly đức, sanh tâm máy móc mưu mẹo vị kỷ. Bình thường
người ta chịu đựng được gian khổ chà xát, thế nhưng trước sự sung
sướng dẫn dụ lại không chống đở được. đó là điểm yếu đuối
của nhân tính. Và dục vọng là đầu sỏ của tội lỗi đưa con người đến chỗ trụy lạc.
Mạnh tử từ xa xưa đã thấy rõ điểm này, nên ông đã đòi hỏi con người
phải tiết chế dục vọng của chính mình, nôm na là cần phải tiết dục. Đó là
khía cạnh quan trọng của việc dưỡng khí, nên Mạnh tử từng
nói: ”Dưỡng tâm mạc thiện ư quả dục” nghĩa là muốn có cái tâm chân lý chẳng
gì hay hơn là giảm bớt lòng ham muốn (dục vọng). Trong chương Tận Tâm ông
nói rõ:” Tồn kỳ tâm dưỡng kỳ tính sở dĩ sự thiên dã”, Nghĩa là một người biết
bảo tồn nuôi dưỡng cái tân của mình, là bồi dưỡng cái
tính của mình thì có thể đủ sức lực đối phó với tất cả mọi việc
trong trời đất (tức là sự thiên, thiên ở đây là thiên nhiên vạn vật, là
thiên lý, thiên mệnh - Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo). Tóm lại, khí hạo nhiên của Mạnh tử là tập trung
tinh lực vào nhân cách lý tưởng của Nho gia, qui định
trách nhiệm nghệ thuật của tác gia, nghệ thuật gia là
phải đặt nặng vấn đề tu thân, dùng văn học nghệ thuật tuyên
dương giá trị của sự sinh tồn, hoằng dương đại nghĩa
xã hội. Chủ thuyết thực tiễn này đã gây nên ảnh hưởng rất lớn tạo
thành giá trị truyền thống trong nền văn học cổ của
Trung Quốc. Trong lý luận văn học người hưởng ứng Mạnh tử và áp dụng
thuyết dưỡng khí đầu tiên phải kể là Tào Phi (187-226) trong bài Điển luận,
ông phân tích chữ Khí rất chu đáo, chia khí ra thành
hai loại thanh và trọc, và mạnh dạn tuyên bố: “Văn
dĩ khí vi chủ”. Kế tiếp, đến đời Ngụy Tấn Nam Bắc triều (317-580) thì có Lưu
Hiệp, với tác phẩm lý luận văn học kỳ vĩ là Văn Tâm Điêu Long có
cả một chương “dưỡng khí”. Nhưng Lưu Hiệp không có
khuôn rập theo ý hướng của Mạnh Tử là nghiêng về chính
trị và tư tưởng luân lý. Dưỡng khí của Lưu Hiệp là nói về nghệ thuật sáng
tác văn học thuần túy chứ không đề cập đến tư tưởng triết học. Dưỡng
khi theo Lưu Hiệp là điều kiện chủ chốt để đưa tác phẩn
văn học nghệ thuật trở thành vững vàng xuất sắc, đó là
do nhân cách chủ thể trong tác phẩm được phấn
khởi hồ hởi na6ng lên. Ông cũng chịu nhiều ảnh hưởng của Tào Phi về thuyết
văn khí, trong thiên Phong cốt ông đưa ra phẩm cách thẩm mỹ, nó là
kết quả của dưỡng khi vì khi có cứng cát vững chắc thì phong
cốt mới vũng vàng (cốt là ý tứ sung thực, và phong là tình cảm
chân thành, tưởng tượng phong phú). Lý luận dưỡng khí đề cao khí hạo nhiên của Mạnh
tử là tiêu bảng nhân cách cao quý, đến đời đường Tống càng phát huy được tác
dụng quan trọng. Sự sáng tác văn học, đặc biệt là thời Thịnh Đường đòi
hỏi sự tìm kiếm nâng cao tinh thần nhân cách thi nhân trở nên hoàn mỹ, điển
hình là những nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,
cùng những nhà thơ biên tái. Trước thảm họa khốc liệt của chiến tranh họ vẫn
giữ được tinh thần ý chí, miêu tả khí thế những cảnh trí rộng lớn
bao la… Văn học đời Tống cũng không thiếu những tác phẩm khẳng
khái hùng hồn mà Tô Thức, Vương An Thạch là những nhân vật tiêu biểu.
Đặc biệt đến đời Nam Tống. 9/8/2009
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét