Khí là một phạm trù quan trọng trong triết học cổ
điển Đông phương, có khi còn gọi đó là vũ trụ quan. Người xưa cho rằng vạn vật
trong vũ trụ đều là do khí tạo thành, cũng có khi nói là do khi sinh ra và biến
hóa, hay khí là cội nguồn sinh ra vạn vật trong vũ trụ. Khí chia âm dương, do
đó khi sinh hóa mới ban cho vạn vật những đặc trưng và phẩm chất
khác nhau. Đối với con người, Khí cũng không thể thiếu vắng; nên Trang Tử từng
viết trong Nam Hoa Kinh: “Con người sinh ra là do khí tụ lại, khí tụ là sinh,
khi tán là chết; việc sống chết hầu như đã qui định, chúng ta lo lắng làm gì? Hoài Nam tử trong thiên Nguyên Đạo cũng nói: “Cái tâm vốn là chủ của ngũ tạng,
cho nên điều khiển cả tứ chi, khí huyết lưu hành, tung hoành trong cõi thị
phi, và cai quản việc nhà cửa” Cho nên, không có cái Tâm mà lại có cái Khí của
trời đất sao; khác nào không tai mà lại điều động chiêng trống,
không có mắt mà lại thích màu sắc, tất không thể nào có chuyện ấy được. Từ
quan niệm về khí đó, đem vận dụng vào việc sáng tác văn học nghệ thuật, người
thứ nhất sử dụng “văn khí” là Tào Phi, nhà văn học vĩ đại trong thời Tào Ngụy.
Chính từ thuyết văn khí của Tào Phi, văn học cổ điển
Trung Quốc đã đạt đến trình độ mới mẽ. Triết học cổ điển cho rằng, hai khí âm
dương trong trời đất là hai nguyên tố cơ bản cấu tạo thành vạn vật. Hệ
từ trong Kinh dịch viết: “Tinh khí vi vật” (Tinh khi tạo nên vật). Vậy tinh
khí là chỉ cho hai khí âm dương, nó không chỉ hóa thành vật, mà còn tạo ra
tinh thần. Sự biến hóa của nó vô cùng thần diệu, không thể nào dự đoán được.
Do đó trong Hệ từ của Chu Dịch mới nói rằng: “Âm dương bất trắc chi
vị thần” (Âm dương không lường được nên gọi là thần). Vì vậy, khí có sắc
thái huyền bí. Triết học có nhiều trường phái nên cũng có nhiều cách giải
thích khác nhau; nhưng đa phần đều cho đây là yếu tố sinh thành vạn vật trong
vũ trụ. Riêng khí âm dương trong Kinh Dịch thích ứng với các hiện
tượng trong xã hội, mang ý nghĩa tượng trưng phong phú; như Âm không chỉ tượng
trưng cho đất, mà còn tượng trưng cho nữ tính, cho sự nhu nhược; Dương không
chỉ tượng trưng cho Trời mà còn tượng trưng cho nam tính, cứng rắn
mạnh bạo. Từ đó suy diễn sự biến hóa của vạn sự vạn vật. đối với triết học
các đời sau có ảnh hưởng rất lớn.Con người cũng ở trong sự chi phối của âm dương, cùng thống
nhất với thiên nhiên, từ thời Hán trở đi hay nói đến “thiên nhân hợp nhất”.
Nên khi biến thành cuộc sống cá thể cũng như tinh thần nhận thức vốn là một
cơ cấu thiên nhiên. Quản tử mới nói rằng: “Cái tinh của khí đi vào Đạo là
sinh, đã sinh ra thì suy tư, mà suy tư là biết, nhận thức, biết rồi bèn dừng
lại”. Phàm hình thể con người vượt quá sự biết là hết sống. Một vật
có thể biến hóa gọi là Thần, một việc có thể đổi thay gọi là Trí, sự biến hóa
không đổi khí, cũng như thay đổi không di dịch trí. Mạnh Tử cũng
nói về tình chí liên quan đến khí và người: Chí là tướng soái của
khí, khí là sự sung mãn của cơ thể. Cái chí mà chuyên nhất thì động đến cái
khí, cái khí mà chuyên nhất thì động đến cái chí. Ông cũng phát huy sự dưỡng
khí, cái khi đó là khí hạo nhiên, nó rất lớn, rất mạnh, cứ thuận dưỡng,
đừng để bị hao tổn thí nó có khả năng lấp đầy cả trời đất (Hạo nhiên chi khí
chí đại chí cương, dĩ trực dưỡng nhi vô hại, tác tắc hồ thiên địa
chi gian). Đến Trang Tử thì xem khí là gốc của sự sinh tồn. Ông cho rằng
con người sinh ra là do khí tụ lại: tụ là sinh, tán là chết
(như đã nói ở trên) đồng thời ông cũng xem khí là một thứ hư
không. Sự sống con người được coi là một cảnh giới cao nhất, tức là cảnh giới
“tâm trai” (có nghĩa là chay tịnh ở trong lòng). Đến đời Tây Hán
thì khí đã thâm nhập vào đời sống tinh thần, được Hoài Nam tử giải
thích: Trong đời sống của con người có ba yếu tố rất quan trọng đó
là Hình, Khí và Thần, Hình chính là cái nhà của sự sống; Khí
là tạo cho cuộc sống sung mãn; Thần là phép tắc của sự sống. Nếu một
trong ba thứ đó mất đi thì cả ba đều bị thương tổn. Khí là ở giữa khoảng hình
và thần, là một thứ vật chất có công dụng làm cho cuộc sống trở
nên sung thực, hưng phấn. Ông còn giải thích thêm rằng khí có ý nghĩa với đời
sống con người, như tinh thần thì tinh là khí của
con người, còn thần là sự duy trì của con người.Nói chung, thế giới này là do hai khí âm dương tạo thành;
khí âm dương không những cung cấp cho vạn vật, mà còn ban cho con
người tinh thần. Nên con người phải tuân theo phép tắc của vạn vật mới bảo
trì được sức sống hưng thịnh, mới có thể có được sự sinh tồn tốt đẹp..
Đến đời Đông Hán thì có nhà tư tưởng Vương Sung, xuất phát từ lập trường ý
hướng nguyên khí thành tôn trọng thiên nhiên. Lập trường của ông
là lập trường của nhà Nho chống lại Hoàng Lão ( Đạo học) Ông tuyên bố : “ Khí
trời đất giao hợp sinh ra vạn vật, cũng như khí của vợ chồng giao
hợp thì sinh ra con cái ( Thiên địa hợp khí vạn vật tự sinh,
do phu phụ hợp khí tử tự sinh dã). Lại nói, con người sở dĩ sinh
ra là do khí âm dương, khí tác dụng nơi người khác nhau, nên khiến cho
tính cách chẳng ai giống ai, tài năng con người cũng từ đó có sự
phân biệt. Trời hấp thụ nguyên khí, còn người thì hấp thụ nguyên
tinh; nói khác đi, tài năng con người cao thấp là do kết quả hấp thụ nguyên
khí. Từ khi Tào Phi đưa ra vấn đề “ văn khí” mang tính
cơ sở triết học, cũng từ đó phạm trù triết học biến thành phạm trù văn học.
Ông bác bỏ quan điểm “ văn nhân tương khinh” và cho rằng thể tài
văn chương vô cùng phức tạp, do khí chất kẻ cầm bút khác nhau nên trong việc
trước tác mỗi người có một sở trường riêng. Trong Điển luận Tào
Phi nói rõ: Tài tính của con người là do trời sinh, sức người không sao biến
đổi được; ngay đến cha anh cũng không sao truyền thụ khả năng cho con em của
mình. Khí cũng có tính thanh tính trọc, tính tình con người là do hấp thụ khí
nuôi dưỡng nên rất khác nhau. Do đó mà từ Mạnh Tử đã đề ra việc “dưỡng
khí”, đến đời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, Lưu Hiệp trong tác phẩm “Văn Tâm Điêu
Long” nêu rõ mối quan hệ giữa khí chất con người và sáng tạo văn học.:
“Khi tình cảm rung động, thì ngôn từ phát sinh, lý trí phát triển nẩy nở
thì văn thơ hiển hiện; Bởi vì chúng ta bắt đầu từ sự ẩn tàng mà đi
đến sự phô diễn biểu hiện ra bên ngoài. Tuy nhiên tài năng có kẻ tầm
thường , có người phi phàm, khí chất có kẻ kiên cường, có người yếu đuối; học
lực có người nông cạn, có kẻ sâu sắc, vào đời có kẻ thanh nhã, có
người ô trọc, v.v… Cũng theo ông Tài và Khí đều là tiên thiên, con người
sinh ra là đã có rồi, việc học hành và luyện tập là hậu thiên, tức là phải
thông qua sự học tập mới có được. Làm việc sáng tạo mà chỉ nhắm vào yếu tố
tiên thiên không đủ, mà phải lo hàm dưỡng việc hậu thiên. Ngoài ra
còn phải chú ý tập trung vào tính tình thì tài, khí, học, tập mới trở thành sống
động; phong cách sáng tác của nghệ thuật gia mới khai triển những hình tượng mới
lạ. Lưu Hiệp cũng nhấn mạnh vào việc dưỡng khí, chủ trương thần thái phải
thanh tĩnh và bào trì nuôi dưỡng cái nguyên khí. Quan niệm dùng khí để đánh
giá sự sáng tạo văn học nghệ thuật, sau đời Lục triều đối với các nhà lý luận
đã thành một hành vi tự giác. Đến đời Đường, các nhà lý luận vận dụng khí để
tiến hành việc phê bình văn học, và trở thành như quan niệm triết học truyền
thống. Bạch Cư Dị từng viết: “Trong trời đất có ba yếu tố là Túy (tinh
hoa), Linh và Khí, vạn vật đều hấp thụ được ba yếu tố ấy, mà ở con người là
nhiều nhất, và trong các giai tầng thì hàng văn nhân lại
hấp thụ nhiều hơn cả. cho nên khí ngưng là tính, phát ra là chí, tản ra là
văn…” Đến các triều đại Nguyên - Minh -Thanh sự nhận thức đối với
sáng tác càng tinh tế hơn, và đối với văn học nghệ thuật càng minh xác. Văn
khí trở thành thần khí tính tình của tác gia nghệ thuật gia. Dương Hùng đời
Nguyên từng nói: “Con người có diện mạo cốt cách, có thần khí tính tình, thi
ca hay dở, cao thấp cũng từ thần khí.” Đổng Kỳ Xương cũng nói:”
Văn cần phải có thần khi”. Liêm Khẩn đời Tống kế thừa Mạnh Tử đề
cao việc dưỡng khí, tức dùng luân lý đạo đức của Nho gia hun đúc bồi
dưỡng tính tình con người. Làm văn cần phải dưỡng khí,
vì khí cùng tính chất với trời đất, nếu có nó đầy đủ thì có thể phối
hợp với Tam Linh (tức Trời, Đất, Người), quản nhiếp mọi việc; nên bậc quân
tử chỉ lo phần bên trong chứ không quan tâm việc ở bên ngoài... Đến
đổi có người cho rằng: Đạo là vua của Khí, và Khí là tướng soái của văn. Đạo
sáng suốt thì khí hưng thịnh, khí hưng thịnh thì ngôn từ trôi chảy (đạt)
trong văn chỉ cần từ trôi chảy thông suốt mà thôi. Thế
nhưng có nhiều nhà lý luận còn nói đến khí vận, khí cách, trong khía cạnh luận
văn, luận nghệ, đó là thời kỳ đối với khí thành ra đa nguyên hóa. Tóm lại từ Tào Phi phân tích chia khí ra làm
hai loại thanh trọc, đến Lưu Hiệp lại phăng ra là cương khí
và nhu khí. Thanh trọc và cương nhu thành đối ứng không phân biệt cao thấp. Về
sau người ta lại nhấn mạnh đến coi trọng thanh khí hay cương khí;
cho rằng khi dương cương mới là loại hình lý tưởng. Vận dụng khí lấy thế mạnh
mới là hay, đó là thế di chuyển không thể ngừng nghỉ, không ngừng nghỉ thì
trôi chảy; giống như dây đàn căng thẳng, phát ra những âm thanh dịu dàng, êm
ái, hay như dòng sông chảy mau tung tòe thành các xoay nước lượn
quanh nhìn không chán mắt. Tư Không Đồ đời
Đường trong Thi phẩm cũng đề cao khí: “Vận dụng thần như không, vận
dụng khí như cầu vồng…” Đó là tiêu chí của một phong
trào thẩm mỹ, nó phản ánh khuynh hướng thẩm mỹ của mọi người.
2/8/2009 Khổng Đức soạn dịch
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét