Em không nhìn sao ư
Ngôi sao của em
Ta nguyền làm bầu trời
Để có vô số mắt em nhìn
Trước thời Platon Hy Lạp cũng có một thể thi , gọi là Thi
Minh (Ep.Gramma.), đó là một thể thơ ghi trên các mộ bia, không những ngắn mà
còn nhiều ý vị triết lý. La Mã xưa cũng có thể thơ rất ngắn gọi là Ai Ca
(Elegia) chỉ có mấy câu lại có tính cách đối ngẫu, sau này các nhà
thơ của Anh là Coleridge va Tennyson ( thế kỷ 18, 19) đều mô phõng
theo. Ấn Độ cũng có thứ thơ chỉ có ba bốn câu gọi là Giade, sau này kinh điển
Phật thường dùng gọi là những bài kệ. Nhật Bổn có Hài cú, một thể
thơ đặc biệt cũng chịu ảnh hưởng của loại tuyệt Trung
Quốc.
Thơ tuyệt của Trung Quốc bằt đầu từ đời Hán
và kéo dài đến Tấn Lương Nam Bắc triều (202 – 610 CN) gọi là cổ thể, vần điệu tương
đối tự do, đến Sơ Đường thì mới chính thức thành lập luật lệ nghiêm khắc gọi
là cận thể hay thi luật. Tuyệt thi có người cho là một bộ phận của
thi luật cắt ra lấy nửa trên thì câu 3-4 đối nhau, lấy nửa dưới thì 1-2 đối
nhau, lấy đoạn giữa thì thành hai liên đối. 1 – 2 đối nhau, 3-4 đối
nhau; lấy hai câu đầu và hai câu cuối thì không có đối. Nhưng cũng có người
nói thơ tuyệt là bắt nguồn từ Nhạc Phủ ca dao dân ca của dân gian
rồi dần dần tạo nên một thể riêng biệt của nó. Khách quan mà nói nó là sự kết
hợp cả hai vừa Nhac phủ vừ thi luật. Tính chất Nhạc phủ thì lời lẽ
bình dị đầy nhạc tính, còn tính chất thi luật thì lời thơ hàm súc, gần với
tình người nhưng không được bộc bạch thổ lộ, cho dù có nói đến cảnh trước mắt,
lời lẽ bình dân đi nữa cũng phải có dư âm dư vị… Thơ tuyệt Việt Nam có
thể nói bắt đầu từ đời Lý Trần, nhưng thơ đời này hoàn toàn
theo đúng phép tắc cùa luật thi.
Nhà thơ Yến Lan vào những năm cuối đời hình như chuyên làm
thơ tuyệt, cho nên có một số lượng đến 500 bài đủ loại đủ thể. Anh cũng từng
tự bạch :
Ta viết cho đời thơ tuyệt cú,
Bù vào đất chật những trường thiên
Quế hòe phóng ngọn trên đầm cỏ
Đọng sóng tầng cao những nét riêng
Thơ tuyệt vốn có những ưu điểm chỉ có 4 câu ngắn gọn đơn giản
dễ đọc dễ nhớ. Thoạt nhìn thơ tuyệt như có vẻ dễ làm, thật tế không phải thế;
muốn đạt đến đỉnh cao của thơ tuyệt là chữ phải tinh luyện, ý phải
hàm súc uẩn tàng, ý tại ngôn ngoại; nói chung là lắm vấn đề, xuyên qua thơ
tuyệt Yến Lan chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn. Dù là người làm thơ mới, nhưng
khi trở qua làm thơ tuyệt Yến Lan hoàn toàn theo đúng luật thi.
Trước tiên thơ tuyệt dù chỉ có 4 câu ngũ ngôn hay thất ngôn
cũng phải theo thứ tự là Khởi Thừa Chuyển. Hợp.
Khởi là câu mở đầu thì phải như :”
Khai sơn kiến môn, đột ngột tranh vanh” ( nghĩa là mở cửa ra thì như thấy cả
một không gian to rộng có núi cao vươn lên); hay là “ Nhàn vân tự xuất khinh
dật tự tại” ( nghĩa là như mây từ hang núi bay ra nhẹ nhàng, nôm na là như
áng mây bay nhẹ nhàng tự tại). Hãy xem một bài thơ của Yến Lan làm chuẩn :
Sông vẫn sông xưa nước đổi nguốn,
Uống vào khang khác vị quê hương
Chút vì tươi trẻ từng bơi lặn
Kỷ niệm hòa vào hóa nhớ thương
(sau một công trình thủy lợi)
Câu mở đầu vẫn nêu lên một hình ảnh tộng quát chứa
đựng cả ý nghĩa của tổng đề. Và xin nhắc ngôn ngữ thơ luôn luôn mang tính hàm
súc, nghĩa là ngoài nghĩa bình thường còn có một ẩn ý sâu xa…
Câu thứ hai là Thừa,thì phải như “Ly long chi châu bảo nhi
bất thoát” (nghĩa là con ly con long ôm hạt châu mà
không buông rơi; nôm na là nó phải mang một ý xác định chắc chắn,
cũng có nghĩa là câu thừa phải khắn khít với câu khởi. Hay nói như Dương Tải
đời Nguyên trong “Thi pháp gia số” thì hai câu khởi thừa có khó nhưng chẳng
qua cứ nói thẳng vào sự việc là hay, thung dung kể tiếp là đúng. như câu hai
trong bài Dáng Mẹ ;
Tưởng tượng không ra hình dáng Mẹ
Đêm dài con thức vẽ chân dung
Thôi đành mượn nét xưa cha kể
Trên mũi kim còng một sống lưng .
Hay như bài Cửa Mở :
Tờ tranh trên vách bỗng xôn xao
Cụm trúc tâm tư với nhánh đào
Trăng cựa đầu hiên khua thức giấc
Ô hay cửa mở tự khi nào
Câu thứ ba là câu Chuyển thì phải như “ vạn khoảnh hồng ba
tât hữu cao nguyên” nghĩa là trong muôn khoảnh sóng lớn tất phải có gò cao nổi
lên. Thật ra câu ba là câu uyển chuyển biến hóa, nó phải có một tác động mạnh
đối với toàn thể bài thơ, đón tiếp hai câu trên và chuyển xuống
cho câu bốn là hợp, nếu câu này biến chuyển đúng thì câu thứ tư như thuyền
trôi xuôi giòng. Thí dụ như câu thứ ba bài “ Dưới giàn trầu”:
Ngọn gió nam non lật khóm trầu
Chập chờn như mở thếp ca dao
Lá sầu lá thảm còn vang vọng
Tiếng mẹ hò trăng tự thưỏ nào
Câu thứ tư là câu Hợp thì phải như “Phong hồi
khí tụ,uyên vĩnh hàm súc”, nghĩa là như gió quay trở về, khí tự hội
lại, đầm sâu thăm thẳm chứa đầy nước. Như câu thứ tư bài Ao gấm :
Lỡ đường xe khách ghé Lăng Cô
Bà cụ lần khân đến bán sò
Khăn vấn cắt ra từ áo lễ
Gấm nhà thế tộc cũ kinh đô
Đọc bài này lại nhớ đến bài Cố Hành Cung của
Vương Kiến
Lưu lạc cố hành cung, Cung hoa tịch mịch hồng. Bạch đầu
cung nữ tại, Nhàn tọa thuyết Huyền tông. Dịch xuôi: Chốn hành cung cũ tiêu điều,
trong cung hoa màu hồng lặng lẽ. chỉ còn những cung nữ già nua bạc đầu, ngồi
rỗi kể lể chuyện đời Huyền Tông. Đọc thêm câu thứ tư trong bài
Khói:
Đêm nao thế sự cũng dem bàn
Mẫu thuốc đầy vun cái gạt tàn
Nhẩm lại bao nhiêu câu hỏi lớn
Lẫn vào khói nhẹ gió xua tan
Ngoài những thể luật, người xưa còn đặt ra các Cách, là nhắm
vào ý tứ hay nội dung của mỗi bài mà quy định. Sau đây xin nêu một đôi cách
cách chính. Như bài Qua Nhã Nam ;
Thanh đổ vun măng trúc
Hào ấp ủ mùn thâm
Đường xuất quân Đề thám
Đỏ ối nông trường cam.
Hay bài Chói chang :
Chặt hết hoa phương vĩ
Đừng để nở chói chang
Nhằm vào em soi mói
Ra sự tình nghi oan
Hai bài ngũ tuyệt vừa nêu trước sau một ý thông suốt nên gọi
là Nhất Ý Cách. Bài Đom đóm :
Mỗi khi Bắc Đẩu trở canh tàn
Lại nhớ giờ xưa động bước thang
Gác xếp không đèn đêm cuối tháng
Thương tình con đóm trước lan can
Và bài Đọc Trang Tử :
Trưa đọc Nam hoa kinh
Tối nằm không hóa bướm
Mừng mình chủ được mình
Dậy thổi nôi khoai sớm
Bài Đom đóm cũng như bài Đọc Trang tử, hai câu đầu dương
như không liên lạc gì với hai câu sau, nhưng ý rất mật thiết chặc chẽ, gọi là
Chiết Yêu Cách. Bài Đõ mật:
Trẻ lánh, già xa, tàu giặc bay
Đầy vườn hoa nở chẳng ai hay
Bầy ong chẳng phụ công trồng xới
Trên áng thư vun đõ mật đầy
Toàn bài ý mạch lạc gọi là Liên Châu Cách. Bài Ven Đà;
Nắng rẽ sông Đà hai dải sáng
Tối sầm non Tản bóng mưa mây
Bên kia theo cá thôn chài vắng
Bò giỡn non tơ cỏ phía này
Câu ba ứng với câu 1, còn câu 4 ứng với câu 2 gọi là Phân Ứng
Cách. Nói chung còn rất nhiều cách, chỉ nêu ra một số để thấy Yến
Lan khi làm thơ tuyệt rất sở trường vế các quy luật cổ.
Nhóm Bàn Thanh tứ hữu, ngoại trừ Hàn Mặc Tử mất sớm, còn lại Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên đều có làm thơ tứ tuyệt,
nhưng mỗi người đều có một phong cách riêng chẳng ai giống ai,
chúng ta sẽ bàn về vấn đề này trong một dịp khác... Hôm nay - ngày 5 tháng 10
là ngày tưởng niệm 10 năm nhà thơ về cõi vĩnh hằng; nên chỉ nói đến thơ tuyệt
của Yến Lan, mà rồi cũng chỉ lướt qua thôi chứ chưa có thời gian đi sâu hơn.
Để kết thúc cho bài viết , chúng tôi tạm mượn lời của Kim Thánh
Thán yêu cầu đối với thi ca để nói về thơ của Yến Lan vậy: Ngữ ngôn giản
khiết, kết cấu tinh nghiêm; nghĩa là ngôn ngữ trong thơ vô
cùng đơn giản sáng sủa, kết cấu hay bố cục rất chính xác chặc
chẽ. Và “tác thi tu thuyết kỳ tâm trung chi sở thành nhiên giả, tu thuyết
kỳ tâm trung chi sở đồng nhiên giả. Tâm trung chi sở
thanh nhiên giả cố năng ứng bút trích lệ, tâm trung chi sơ đồng nhiên giả cố
năng sử độc giả ứng thanh trích lệ.” Nghĩa là làm thơ thì phải nói đến cảm
xúc và tư duy thành khẩn của thi nhân, và phải nói đến cái tâm đầy
cảm xúc và tư duy mang tính phổ biến và đại biểu tính. chính vì nói lên
được sự thành khẩn và phổ biến đó mà khi cầm bút lên là như rơi lệ
và độc giả đọc thơ cùng phụ họa theo đó mà thổn thức. Tất cả thơ tuyệt của Yến
lan cũng như sự nghiệp thi ca của ông không ngoài ý nghĩa vừa nêu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét