Có người nói thơ là thông điệp của tư tưởng, có người nói thơ là cơn
rung của cảm xúc. Tôi nghĩ: thơ là tư tưởng đã được cảm xúc hóa, là tư tưởng cất
lên từ sự sống, song hành với nhịp đập của trái tim. Nó không phải là tư tưởng
thuần lý mặc dù có tầm khái quát cao, có tính triết lý sâu sắc, tất nhiên nó
cũng vượt lên những tiếng thì thầm bản năng cảm tính...
Vào những năm 60 của thế kỷ trước, trong khi phần lớn thơ ca thiên về miêu tả sự
vật hoặc minh họa những tư tưởng đã định sẵn thì Phạm Đông Hưng đã viết những
bài thơ tư tưởng với những suy nghĩ không công thức và cách diễn đạt không quen
thuộc.
1961, chàng trai 21 tuổi Phạm Đông Hưng đã sớm nghĩ về cuộc đời. Anh hình dung
đó là một dòng sông, dòng sông có đục, có trong, có gió độc và sóng lớn, có lúc
định nhấn chìm thuyền xuống đáy sông, nhưng "Ta chèo thuyền qua đó/ Óc như
vầng trăng thu/ Đầu ngẩng cao trước gió/ Thuyền lướt qua vù vù" và điều
khao khát nhất là "Ơi dòng sông cuộc sống/ Bao giờ nước xanh trong/ Bao giờ
nhìn thấu đáy/ Để ta thôi bận lòng" (Dòng sông cuộc sống).
Tác giả khẳng định mình là con người, đứng cao hơn mọi thế lực hắc ám định
ấn đầu mình xuống, như mặt trời đứng cao hơn bóng tối (Tôi là con người).
Tác giả kêu gọi mặt trời hãy cháy nữa lên để cuốn thế giới khỏi cơn sài đẹn, đốt
hết bọn sâu bọ để tạo nên một nhân loại mới, một thế gian mới hẳn. Đó là
"thế giới mới đang vươn mình sống lại/ của ngàn năm trong giấc mộng thần kỳ/
Bên mùa hoa, chim ríu rít reo thi/ Bên những núi cơm, những dòng sông mật/ Con
người yêu thương, con người chân thật/ Không phỉnh phờ, không xu nịnh, ghét
ghen...". Mấy câu thơ trên tuy chưa thoát khỏi cảm hứng lãng mạn, thi pháp
ước lệ, khoa trương thời ấy nhưng đã có một tư tưởng mới đó là: muốn thế, phải
thay đổi, phải lột xác, phải hồi sinh như lá vàng phải trút cho màu xanh đâm chồi,
như đêm tối phải tàn cho ban ngày hiện tới.
Đừng nghĩ là thơ tư tưởng của Phạm Đông Hưng lúc đó chỉ toàn là khái niệm, vì
tác giả còn ít trải nghiệm. Không, anh đã luận bàn về sống, chết trong đạn bom,
kề bên cái chết. Chính tình yêu những gì tha thiết nhất, cụ thể nhất trong cuộc
sống đã cho anh sức mạnh để đứng dậy. Khi "một mảnh bom trúng vai/ Quật
người tôi ngã sấp" thì tiếng vợ, con "tia nắng rọi vào mắt",
"con dế bò dưới chân", "con ong bay ngang mặt" đã cho anh ý
nghĩ "không thể chết", phải "chiến thắng trở về" và thế là
"Cắn chặt hàm răng/ Vươn thẳng người đứng dậy" với ý nghĩ "Lòng
quyết sống, bỏ rơi cái chết/ Tôi yêu sống - Tôi không sợ chết" (Thắng chết).
Bài thơ có tựa đề Thắng chết cũng có thể thay bằng tựa đề "Yêu sống".
Hơn một lần, Phạm Đông Hưng nói về sống - chết nhưng càng về sau càng sâu sắc
hơn. Ví dụ bài Sống và chết viết 1971: "Trong sự sống có cái chết/
Trong cái chết có sự sống/ Chết sống là lẽ tự nhiên/ Chết sống là ở lòng người"...
Phạm Đông Hưng hay suy nghĩ về thời gian quá trình sống của đời người. Thời trẻ
chúng ta hay nghĩ đến tương lai và có một thời, cả dân tộc sống bằng tương lai
nhưng chính trong những ngày ấy, Phạm Đông Hưng nói hiện tại là tất cả. Anh suy
nghĩ có vẻ cực đoan "Ngày mai/ Không có ngày mai/ Chỉ có quá khứ hiện tại",
có lẽ vì quá khứ và hiện tại đều là hiện thực, quá khứ thì đã diễn ra rồi, còn
hiện tại thì đang diễn ra, còn tương lai thì chưa hiện hữu, vậy hãy sống với hiện
tại "hiện tại mới là tất cả", phải lao vào hiện tại, phải chịu đựng tất
cả và vượt qua tất cả. (Hiện tại là tất cả). Ý thức về cuộc sống hiện tại, về
con người trong cuộc sống hiện tại đã làm cho bài thơ có cái tên là Đào
than cũng là bài thơ về cuộc sống: "Ngày đêm cuốc đào/ Mồ hôi chảy
tràn trán, má/ Được một tấn than/ Phải hốt cuốc đi 5 tấn đất đá/ Cuộc sống con
người/ Vất vả hơn trăm ngàn lần đào than cuốc đá", nhưng điều quan trọng
nhất là "Ta hiểu ra rồi/ Xin đón nhận đời tất cả".
Ngày ấy khi nói đến lẽ sống, cách sống, người ta chỉ nói đến lẽ sống, cách sống
của cả dân tộc, cả thế hệ, nhưng Phạm Đông Hưng đã nói đến lẽ sống, cách sống của
riêng mình. Lẽ sống ấy, cách sống ấy không ngược với cái chung, nhưng vẫn có
nét riêng cảm nhận riêng, trải nghiệm riêng. Ví dụ "Tôi một con người/
Sinh lúc rạng đông/ Đất trời mang đầy bão tố/ Mưa rào thác đổ/ Sông ngòi sóng
trào nước lũ/ Đêm đen hấp hối giã từ/ Ánh sáng non tơ mầm nhú.../ Bố tôi thợ
rèn/ Mẹ tôi thợ cày cuốc đất/ Cán cuốc, bàn đe, than hồng, sắt thép/ Lúa chín đầu
mùa, hương thơm cỏ mật/ Nước mắt mồ hôi/ Quyện cùng máu đỏ/ Gõ vào đầu tôi, cho
tôi lẽ sống.../ Tôi nghĩ giản đơn một cuộc sống yêu thương, lao động/ Chân thật
thẳng ngay/ Cần chi khom lưng, quỳ gối/ Đường thăng thẳng đi/ Cần chi ngõ ngang
hang tối/ Sống kiếp dế giun/ Sống đời cáo sói/ Tôi nói to lên tiếng nói/ Tiếng
nói lòng tôi, yêu thương hờn ghét” và khi "cuộc sống bàn tay sắt thép/ Bóp
chặt hầu tôi/ Ngực tôi nghẹt thở..." thì tôi kêu gọi "Bão tố ơi, mau
mau nổi/ Rạng đông ơi, mau lên thôi/ Con của các người, bạn của các người/ Đang
từng phút giây chờ đợi".
Ý nghĩ về cách sống thường trực trong tiềm thức đã hòa vào cảm xúc của Phạm
Đông Hưng nên khi đứng trước những hình ảnh thiên nhiên thân thuộc như cây đa,
cây gạo anh biến nó thành biểu tượng, biểu tượng không mới nhưng không hề cũ, đặc
biệt là không hề tư biện, ước lệ. Ví dụ "Cây đa/ Gốc rễ sần sùi/ Cành lá
sum suê/ sừng sững/ Đứng giữa đất trời/ Xanh đẹp/ Mưa bão/ Sấm sét/ Có thể/
Đánh đa gẫy cành/ Trốc rễ/ Những loài/ cỏ dại, dây leo/ nép mình/ Bám trên mặt
đất/ Nguyên lành/ Sau cơn sấm sét, gió mưa/ Lòng vẫn hằng ưa/ Cây đa/ Ghét
khinh dây cỏ"
Những hình ảnh đời thường đi vào thơ Phạm Đông Hưng cũng chở nhiều tư tưởng ví
dụ làm nhà mới là một việc đời thường, việc riêng tư nhưng Tâm sự làm nhà
mới của Phạm Đông Hưng đã vượt qua tâm sự đời thường để trở thành một
thông điệp tư tưởng, phải đổi mới, mạnh dạn phá cũ, dựng mới "Ngôi nhà
(sau sửa sang)/ Không cao được lên/ Không to rộng ra/ Cánh cửa/ Ngày thêm chật
hẹp/ Cản trở/ Con tôi vào ra/ Cần phải dựng ngôi nhà mới/ Cao rộng, đẹp đẽ,
đoàng hoàng/ Nhà cũ tôi ơi/ Đã mọt, dột - rồi/ Gắng gượng chống che/ Cũng chỉ đứng
nổi/ Mười mùa/ Phá cũ/ Dựng mới/ Con tôi/ Mắt đen sáng ngời/ Nụ cười tươi rói/
Lòng tôi/ Hội mùa". Bài thơ viết năm 1969.
Trong những vần thơ thiết tha về Bác, Phạm Đông Hưng tâm đắc nhất là Bác dạy phải
chiến thắng kẻ thù trong ta (cái mà bây giờ ta gọi là giặc nội xâm). Cũng trong
những bài thơ ấy Phạm Đông Hưng luôn nêu cao tư tưởng vì dân của Bác. Bài Con
là thường dân¸ anh viết năm 1970 là lời tâm niệm, lời thề nguyên vẹn của
anh trước Bác về hai điều đó: "Trong khí lành, còn lẫn cả khí cay/ Cỏ dại
lúa non chen lấn mọc từng ngày/ Tin yêu Bác con lo làm tất cả.../ Những kẻ thù
xách súng, cầm dao/ Chúng dễ thấy nên dễ bề tiêu diệt/ Có độc trong vườn khó
hay khó biết/ Con bệnh trong người khó giết được Bác ơi/ Song con là đứa con có
tội/ Nếu bi quan, hằn học/ trốn đời/ Cúi đầu im lặng/ Mặc thời gian trôi/ Để cỏ
độc tốt xanh, để vi trùng nhiều khỏe/ Biến cuộc đời thành ghẻ lở xấu xa/ Con
làm sao xứng đáng con cha/ Người đã vì con, cho con tất cả/ Áo cơm, đất trời
hoa lá/ Và trái tim trong sạch con người”.
Hơn một lần, Phạm Đông Hưng nói đến nhân dân, có một bài thơ trong tập mang tên Nhân
dân. Tác giả khẳng định người dân là bất tử, nhân dân làm nên tất cả “Nhân dân
là sông, là núi/ Nhân dân là người trong con người chúng ta/ Nhân dân là lẽ sống/
Ôi nhân dân - Nàng thơ của ta”.
Tiếc rằng bài thơ viết năm 1974 nên chưa có những hình ảnh mới về nhân dân trong
thời kinh tế thị trường, đô thị hóa (điều mà nhiều nhà thơ như Trương Vĩnh Tuấn
sau này đã nói).
Nhưng cũng trong năm 1974, Phạm Đông Hưng đã viết bài “Chần chừ chi nữa” diễn tả
tâm thế bức xúc, muốn thay dổi hiện thực “Con người nhập nhoèn phải trái/ Cuộc
đời lập lòe trắng đen.../ Không thể lau chùi qua quýt/ Đổi thay dựng lại mới
nên”.
Thơ tư tưởng của Phạm Đông Hưng thường nói lớn, nói thẳng, nhìn thẳng, song
cũng có đôi bài nói nhỏ, để sự việc tự nói. Ví dụ bài Bức tranh tĩnh vật
và con thơ. Tứ của bài thơ là bức tranh vẽ chuối cam ngon quá thật quá nhưng
không ăn được làm con bé khóc, vò tranh, làm cho cha nát ruột... Bài Biết
thế, mua rau sấu có cái tứ ra chợ thấy rau sấu đắt quá không mua, qua hiệu
sách mua tập thơ, về nhà đọc càng về sau, càng nghĩ “biết thế mua rau sấu...”
Thơ tư tưởng của Phạm Đông Hưng còn dùng thi pháp thơ ngụ ngôn. Điều này tác giả
thường dùng trong thơ thiếu nhi nhưng trong tập thơ trữ tình người lớn này cũng
có đôi bài: “Những cái đinh gỉ đen” là một ví dụ.
Có bài không phải ngụ ngôn nhưng thơ kiểu ẩn dụ, nói bóng, pha chút siêu thực
như Khỏi bệnh: “Cuống họng/ Nhức đầu, không sao nói được” nhưng khi nói ra sự
thật thì từng đọi máu tưới đẫm mặt đất/ Cuống họng lành hết đau”.
Phạm Đông Hưng còn sáng tạo ra loại thơ trữ tình phê phán, nội dung phê phán hiện
thực nhưng không phải là thơ trào phúng vì không gây cười, mà đầy cảm xúc: sự
đau đớn, căm giận, khinh bỉ... Những bài thơ này thường xuất hiện trong thời
đương đại tức là thời kinh tế thị trường...
Có bài nhỏ nhẹ đẫm chất trữ tình như Cảm nhận về khách sạn. Cảm
thương cho thân phận những cô gái thôn quê, nhà lành phải lên thành phố làm
trong những khách sạn nhiều tầng chót vót: “Lập lòe xanh đỏ ma trời/ Ngày đêm
ngả nghiêng say tít”. Nhưng kết luận của bài thơ không nhỏ nhẹ chút nào, vì thế
mà càng thấm thía “Em mơ có chùm sao chổi/ Quét ngang trái đất! Sao ơi!”.
Nhưng phần lớn thơ trong giai đoạn này (từ 1990 trở đi) thơ Phạm Đông Hưng có
giọng trữ tình phê phán gay gắt. Không phải tôi không đồng tình với giọng thơ
đó vì tôi thấy thơ trữ tình phê phán của Maia côpxki còn gay gắt hơn (ví dụ
“Tôi cấu xé bọn quan liều như chó sói” hoặc “Hắn liếm ngực, liếm bụng và còn dưới
nữa” nhưng tôi muốn tác giả nói có tứ hơn, dùng hình tượng nhiều hơn, cách nói độc
đáo hơn, sâu cay hơn, thấm thía hơn. Tôi thích bài thơ Chuyện của đá, một
tảng đá ở trên mỏm núi được đưa về một góc công viên. Đá phải nghe nhiều chuyện
xấu (như chuyện bán đất ông cha). Đá liền tự nổ tung mình để tỏ sự phản ứng.
Nhưng buồn thay, những mảnh vỡ của đá cũng bị chúng đem bán tuốt. Hay ở một mức
nào đó bài Đâu rồi tiếng chim, Con đường quê tôi, Quy luật nào...
Đây là tập thơ tuyển từ cả đời thơ nên trong tập thơ, còn có một số bài chống Mỹ
cứu nước. Những bài này tất nhiên theo khuynh hướng sử thi nhưng ở Phạm Đông
Hưng, cũng có những nét riêng. Ví dụ bài Hà Nội lửa và thơ, tác giả đã hòa kết được quá khứ và hiện tại, tính cách anh hùng và nhịp sống đời thường, làm
cho ta càng thêm yêu Hà Nội và thấy Hà Nội cao hơn, đẹp hơn trong chống Mỹ cứu
nước “Thăng Long kinh thành ơi/ Đã bao lần máu lửa/ Đã bao lần xác giặc nghẽn
chặt sông... Vết đạn thần công/ Còn hoen thành cửa Bắc”, “Hà Nội xếp hàng/ Mua
gạo - mua vải - mua thuốc - mua hoa/ Hà Nội ấm lời ca/ Vang giòn trong tiếng
máy/ Ầm ầm bánh xe lăn xa/ Rạo rực lưỡi cày ăn đất/ Xốn xang hôn đầu/ Mặn nồng
trăng mật”.
Và cũng ở trong tập thơ này, ta thấy một Phạm Đông Hưng rất người, rất nhân văn
và không kém tươi mát. Đó là khi hơn một lần anh khẳng định Tôi -một con người
(viết hoa). Đó là khi anh tiếc thương một mầm xanh đã bị dập vùi (Sẽ là hoang mạc),
khi anh rung động trước những bông hoa núi (Hồn xuân), khi anh đau trước một bó
nhang chung mẹ thắp cho cả đứa con giải phóng quân và đứa con ngụy quân (Bó
nhang chung) và cả khi anh buồn (Buồn) hay anh như điên (Khùng).
Tôi không nghĩ là Tiếng thời gian đã là một tuyển tập thơ của anh từ 1961-2011 nên tôi không dám có những lời khái quát về thơ anh. Tôi chỉ có một nhận xét về một nét nổi bật nhất trong tập thơ cũng là một nét của phong cách thơ anh, đó là thơ có thiên hướng tư tưởng với cách nói bộc trực, bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai, xuất phát từ trái tim yêu lý tưởng, yêu cái đẹp, yêu cuộc sống, yêu con người và yêu thơ. Thơ anh có nhiều bài thành công, có bài chưa thành công nhưng tất cả đều in đậm phong cách tác giả và đã giúp tôi rút ra được những bài học về quan hệ giữa thơ và tư tưởng, đặc biệt giữa tư tưởng và cảm xúc, sự sống, giữa ý tưởng và tứ thơ, hình tượng thơ. Với những thu hoạch đó, tôi trân trọng nỗ lực và nhiệt tình của anh đối với thơ trong suốt 1/2 thế kỷ qua. Nỗ lực và nhiệt tình đó hình như vẫn đang tiếp tục. Đáng hoan nghênh thay!.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét