Thứ Ba, 2 tháng 12, 2025

Ngôn ngữ với thơ văn

Ngôn ngữ với thơ văn

Có ngôn ngữ mới có thơ văn, và thơ văn thể hiện một hình thái ngôn ngữ – gọi là “ngôn ngữ văn học” – có tính chất chuẩn mực nhất, tiêu biểu nhất cho ngôn ngữ ở một thời đại nhất định, trong quá trình phát triển lịch sử của nó. Theo lẽ lôgic thông thường, ai cũng thừa nhận điều đó. Và ở phương Tây cũng như phương Đông, truyền thống suy nghĩ, nghiên cứu về ngôn ngữ và thơ văn vốn là truyền thống “ngữ văn học”, có tính chất tổng hợp.
Nhưng rồi khoa học càng ngày càng đi sâu vào hướng chuyên môn hoá. Mỗi ngành, mỗi bộ môn lớn nhỏ, đều cảm thấy nhu cầu xác định thực rõ đối tượng nghiên cứu của mình.
Tuy vậy, đó là một công việc khó khăn, và nhiều khi không phải là không lúng túng. Có lẽ đó vẫn còn là trường hợp của ngôn ngữ học và văn học. Làm sao phân biệt được những hiện tượng nào là của “ngữ” và những hiện tượng nào là của “văn”?
Trong cuốn Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam (Bộ Giáo dục – Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1968), ông Lê Văn Lí viết: “Ngữ pháp có nhiệm vụ trình bày cho trung thành và hệ thống hoá những kiểu nói thông thường, dựa trên những tỉ dụ lấy ở trong ngôn ngữ được sử dụng hàng ngày, chứ không phải là những câu văn viết, lấy trong sách hay trích trong thi phú, trừ khi văn viết và thi phú đó tương tự với lời nói thường dùng hàng ngày, chẳng hạn như những câu thơ của Tú Xương sau đây :
Mai không tên tớ, tớ đi ngay…
Nào có ra gì cái chữ Nho…
Như vậy cũng thực là khó xử. Làm thế nào mà xé đôi sáng tác của nhà thơ ra được ? Và phần nào là để cho nhà nghiên cứu ngữ pháp sử dụng, mà phần nào thì loại, để giao cho nhà nghiên cứu văn học ?
Chính vì lúng túng khó xử như thế, hay còn vì những ranh giới vạch ra không đúng, thậm chí những hàng rào dựng lên một cách giả tạo, nên sinh ra tình trạng là có nhiều hiện tượng quan trọng bị bỏ sót trong việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt văn học.
Tôi xin dẫn làm thí dụ câu thơ sau đây, đã được coi là của Tú Xương, và cũng có thể coi là không khác gì với lời nói thường dùng hằng ngày:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Cả bài thơ đã từng được giảng ở trường phổ thông với những bình luận về đời sống khốn khổ của một lớp người trong xã hội cũ, về cả phong cách trào phúng của nhà thơ. Nhưng có thể nhận xét rằng đó thường là những lời bình bầu như không dựa vào các sự kiện ngôn ngữ trong bài thơ, câu thơ.
Vì nhiều lẽ. Trong đó, có một lẽ là, như đã nói, người “dạy văn” không thấy rằng công việc khảo sát các sự kiện ngôn ngữ ấy là thuộc phạm vi “văn học” của mình. Nhưng người “dạy ngữ” cũng có thể có ý nghĩ rằng phạm vi “ngôn ngữ” của mình chỉ bao hàm những đơn vị, những kết cấu, những hệ thống trong tính khái quát, chứ không thể là giá trị riêng của chúng, trong từng văn cảnh!
Do đó mà điều đáng tiếc tất nhiên phải xảy ra là tình trạng bỏ sót những sự kiện ngôn ngữ quyết định giá trị văn học của tác phẩm, những sự kiện mà chức năng nghệ thuật vốn xuất phát từ chức năng ngôn ngữ thông thường.
Rõ ràng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng về phương pháp.
Theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin thì phân biệt các mặt của một sự vật và xác định đối tượng riêng, là điều cần thiết. Tuy vậy, như chính Lê-nin đã phát biểu, nếu “muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các sự liên hệ và sự “trung gian” của sự vật đó” (Bàn về phong trào công nhân và công đoàn, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 1972).
Thiết nghĩ rằng vấn đề nêu lên ở trên cũng cần được quan niệm theo phương pháp luận chung đó : “ngữ” và “văn” là hai mặt rất cần phân biệt, song cũng rất cần phải nhìn thấy mối liên hệ gắn bó hai mặt đó với nhau thành một sự vật.
Trước tiên, chúng ta hãy đứng vào vị trí của người đọc, người tiếp nhận. Điều dĩ nhiên là mỗi cá nhân không thể tiếp nhận được gì hết ở một lời nói hay ở một câu văn, câu thơ, nếu như không có hiểu biết, không có ý thức về ngôn ngữ, Cái ý thức đó về ngôn ngữ, thiết tưởng là cái mà xưa nay truyền thống Việt Nam gọi là “mẹo” tức là ngữ pháp. Đó là cái mà nếu như không có trong óc mình, thì mình chẳng nói được lời nào, mà tất nhiên cũng chẳng hiểu được lời nói của ai.
Mẹo của ngôn ngữ, nó có trình độ tổ chức rất cao. Nhưng quan trọng hơn nữa : nó là một bộ phận khăng khít, không thể tách rời mà luôn luôn có liên hệ với ý thức chung của con người về thiên nhiên và xã hội trong hiện tại, và cả trong quá khứ. Điều này làm cho cái mẹo của ngôn ngữ khác về bản chất, với cái mẹo của các tín hiệu ở ngã tư đường.
Quả vậy, trong hoạt động giao thông, khi vận dụng cái mẹo của các tín hiệu, thì yêu cầu là chớ có làm sự liên hệ giữa nó với cái gì khác, mà phải phản ứng nhanh, nhanh như máy, đối với cái tín hiệu phát ra, để có thể đi qua đường một cách trót lọt, tránh mọi nguy hiểm – từ cái nguy bị phạt tiền, đến cái nguy bị chết chẹt!
Cũng có thể so sánh, như người ta thường làm, một lời nói với một tín hiệu ; những loại tín hiệu này, nhất là trong trường hợp lời nói nghệ thuật, chúng ta tiếp nhận nó thông qua mẹo của ngôn ngữ, trên cái nền sâu xa và ý thức chung. Và có thể nói rằng mối liên hệ giữa mẹo với ý thức chung đó quyết định quá trình thưởng thức văn học. Quá trình này bao gồm chủ yếu không phải những phản ứng máy móc mà những suy tư, những lí giải.
Chúng ta thường nói rằng đó là những lí giải về mối quan hệ giữa hình thức với nội dung. Nói như vậy là chỉ mới nói một cách rất chung. Sự thực là luôn luôn phải tính đến tác động cụ thể của ý thức riêng về ngôn ngữ, tức là của mẹo. Bởi vì nhờ có tác động của mẹo mà chúng ta có được những lí giải về ngữ âm, về cú pháp (tức là về cách sử dụng những đơn vị và bài trí các đơn vị đó theo một trật tự nhất định) và cuối cùng một lí giải về ý nghĩa, và đặc biệt về nội dung văn học.
Trở lại ví dụ về câu thơ của Tú Xương (trích ở bài thơ thường được đặt tên là bài Thương vợ), có thể thấy rằng sự hiểu biết về thời đại, về con người của Tú Xương là cái nền ý thức cần thiết cho sự thưởng thức câu thơ và cả bài thơ.
Quả vậy, trên cái nền đó, chứ không phải riêng một mình mẹo, mới chỉ ra được mối quan hệ đối lập giữa vế trên và vế dưới trong sự bài trí cú pháp của câu thơ, mối quan hệ mà theo đó chúng ta chỉ có thể có một cách hiểu, một lí giải, về ý nghĩa của câu thơ : đó là cảnh sống tần tảo, vất vả của người vợ quanh năm buôn buôn bán bán mà nuôi được con, được chồng. Chứ không phải là mối quan hệ mà theo đó lại có thể hiểu cách khác, chẳng hạn, rằng đó là một cảnh sống nhàn, quanh năm chỉ buôn bán thế thôi cũng nuôi con, nuôi chồng được ! Trong bất cứ ngôn ngữ nào, sự bài trí cú pháp – nhất là sự bài trí chỉ dựa vào trật tự – đều có thể dẫn đến những cách hiểu nước đôi, tức là dẫn đến hai, hay có khi ba, bốn lí giải về ý nghĩa. Chính trong trường hợp này, tác động của ý thức là giúp chúng ta chọn một lí giải đúng nhất.
Nhưng, nếu vậy thì mẹo hoá ra chẳng có tác động gì cả ?
Tác động của mẹo, như đã trình bày, là ở trên cái ý thức làm nền của nó. Trên cái nền đó, chúng ta đã chọn một lí giải hợp nhất cho câu thơ, một lí giải về cú pháp và từ đó, về ý nghĩa. Nhưng cần phải thấy rằng đó là một lí giải mà mẹo tiếng Việt chấp nhận ; nói cách khác, đó là một bài trí cú pháp mà mẹo tiếng Việt có cho phép mới đứng được thành một câu và ở đây, chính là trường hợp hai vế của một câu ghép.
Ngoài ra, trên cơ sở của lí giải chung đó đối với cả câu, mẹo lại còn chỉ ra những lí giải khác sau đây :
– Sự bài trí đối lập về vị trí, về cả ngữ âm giữa nhóm từ “quanh năm” (chỉ chiều dài rất dài của thời gian) với nhóm “mom sông” (chỉ chiều rộng rất chật hẹp của không gian).
– Sự bài trí các đơn vị của nhóm từ “năm con với một chồng” trong đó nổi lên giá trị đặc biệt của từ với (làm cho sáu cái miệng ăn đó thành một tập hợp số lượng thực nặng nề đối với người vợ trong không gian và thời gian ấy) ; của từ một, của cả nhóm từ một chồng và của vị trí nhóm từ này ở cuối câu (làm cho ông chồng chỉ được tính như một đơn vị trong cái số lượng kia, nhưng riêng đơn vị này thôi, nó là cả một sức nặng).
– Sự bài trí của một câu không cần có chủ ngữ nhưng vẫn cứ từ đó hiện lên bóng dáng của người vợ, một con người phụ nữ rất thực, cả xã hội Việt Nam trước đây (cái con người đã chịu đựng tất cả sức nặng của thời gian, không gian sinh sống và của số lượng cùng trọng lượng những tình cảm và đạo lí mẹ con, vợ chồng ấy).
– Sự bài trí của mười bốn tiếng (tức là mười bốn âm tiết) thành những ngữ đoạn tiếp nối nhau trong một ngữ điệu phản ánh ý nghĩa cùng tâm trạng…
Ý nghĩa cùng tâm trạng đó là nội dung văn học của câu thơ. Nó là kết quả của một lí giải cuối cùng, tổng hợp các lí giải cú pháp, ngữ âm, và ý nghĩa đã trình bày ở trên. Theo cái lí giải cuối cùng, tổng hợp này, thì câu thơ không phải chỉ miêu tả một cảnh sống khốn khổ, mà còn bộc lộ một nỗi xót thương, xót thương vợ lại xót thương cả bản thân mình là chồng, trong tình thế đắng cay ; nhưng không phải chỉ xót thương mà còn như đùa bỡn, cười cợt, chế riễu cả mình lẫn cuộc sống chung quanh.
Cũng theo cách lí giải này mà chúng ta nhận định về phong cách của nhà thơ : đó quả là một phong cách trào phúng mà trữ tình, trữ tình mà trào phúng !
Nếu đứng vào vị trí của người sáng tác, thì quá trình diễn ra tất nhiên có khác. Nhà thơ bắt đầu bằng một tứ thơ, tức là một nhận định riêng về thực tế. Và nó được triển khai ra qua mẹo – cũng là mẹo trên cái nền ý thức chung của nhà thơ – cuối cùng mới thành câu thơ trong một hình thức ngôn ngữ nghệ thuật nhất định. Hình thức đó cũng là kết quả một lí giải cuối cùng, tổng hợp các lí giải ngữ âm, cú pháp và ý nghĩa.
Nhà thơ Huy Cận thường thuật lại lịch sử của một câu thơ trong bài Tràng giang. Đó là câu: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Nó đã trải qua nhiều hình thức, tức là đã nhiều lần được điều chỉnh thông qua mẹo, mới đạt tới hình thức cuối cùng, hoàn chỉnh phù hợp với ý thức của nhà thơ và triển khai được cái tứ thơ lúc đầu (theo Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974).
Tưởng rằng nhà thơ, nhà văn nào cũng vậy.
Và Tú Xương chắc cũng không khác. Chẳng có bút tích gì để lại
hết! Nhưng chúng ta có thể hình dung những vấn đề mà Tú Xương có thể đặt ra, với những lí giải mà Tú Xương đã tìm thấy, và hài lòng.
“Quanh năm buôn bán ở ven sông” hay là “… ở mom sông” ? Từ mom rõ ràng là đã tập trung ở nó nó một lí giải tốt nhất về ý nghĩa, về cả ngữ âm : Nó biểu trưng một không gian chật hẹp!
“Nuôi đủ…” hay là “nuôi đến…”? “… năm con lại cả chồng” hay là “…năm con với một chồng”? Rõ ràng là hình thức “Nuôi đủ năm con với một chồng” đã thể hiện những lí giải tối ưu về cú pháp, về ý nghĩa, về cả ngữ âm: Nó biểu trưng một gánh nặng!
Cuối cùng, lại diễn ra quá trình thưởng thức của chính nhà nghệ sĩ đã trở thành độc giả của mình.
Và nếu như giữa độc giả đặc biệt này và những độc giả khác, các lí giải tìm thấy đều về cơ bản giống nhau thì đó là hiện tượng hiểu biết, cảm thông giữa nhà nghệ sĩ với quần chúng  nhân dân. Không thể nào khác, sự hiểu biết, cảm thông lẫn nhau đó phải dựa trên mẹo của ngôn ngữ, và trên cái nền ý thức chung…
Cho nên, tìm hiểu, nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ với thơ văn là một công việc mà thiết nghĩ rằng cuối cùng, phải nhấn mạnh đến tính chất tổng hợp của nó. Và phải chăng là trên cơ sở phân biệt và nghiên cứu riêng, xây dựng riêng các bộ môn ngôn ngữ học và văn học, chúng ta có thể trở lại và nâng cao truyền thống ngữ văn học?.
16/3/2025
Hoàng Tuệ
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt Phùng Cung sinh ra ở làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhưng...