Thứ Ba, 2 tháng 12, 2025

Đọc thơ Nguyễn Trác trong mùa sen mới

Đọc thơ Nguyễn Trác
trong mùa sen mới

Mùa sen mới trong thơ Nguyễn Trác bắt đầu từ bao giờ? Tôi đọc tuyển tập thơ Nguyễn Trác cùng tập thơ mới “Bên cửa sổ là biển”* của ông, trong lòng cứ vang lên câu hỏi ấy.
Mùa sen đầu tiên bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ 20 với những bài thơ dạt dào, say đắm, viết về người lính, về mảnh  đất “Quảng Đà chưa mưa đã thấm”. Nơi ấy ông đã có nhiều năm làm thầy giáo dậy môn toán học, làm cán bộ quản lý giáo dục và làm báo văn chương. Chính từ mảnh đất miền Trung máu lửa, đoàn quân  trùng trùng ra trận, bãi khách võng tăng san sát, người lính, nhà thơ trẻ ấy đã viết lên những câu thơ rạo rực tin yêu: Ôi đất nước những tháng năm đánh giặc/Mặt trăng lên từ phía những cánh rừng (Gửi một người bạn võng); Có một nơi ngoài bom đạn là trăng (Lời ru sau chiến tranh); Trăng sáng quá và đầy như bát nước (Thành phố những ngôi sao biển).
Có lẽ mười năm ở chiến trường là mười năm Nguyễn Trác viết không nhiều nhưng với niềm  nhiệt hứng của thời cả nước lên đường, ông đã góp vào Thơ chống Mỹ một gương mặt thi ca trầm tĩnh và sắc sảo,  tình yêu Tổ quốc quyện với tình yêu con người, tình yêu lứa đôi mộc mạc và trong trẻo. Bất ngờ từ những trong trẻo ấy là những câu thơ vụt hiện, neo mãi trong lòng người khi cần nói về tâm trạng, về khát khao của một thời ra trận. Những bài thơ: Amế Trường Sơn, A Cui đi đánh giặc, Đák Ui Tây Nguyên, Hát tặng một dòng sông, Thành phố những ngôi sao biển, Bất chợt tiếng chim… cùng nhiều bài thơ khác được tác giả viết trong thời gian này như là “biên bản của một tâm hồn” trong sáng, đa cảm.
Nhìn vành trăng khuyết, đám mây trôi, viên sỏi nhỏ cũng khiến anh nghĩ ngợi về chặng đường dân tộc đang đi, chiến tranh và người lính, hạnh phúc và khổ đau. Nhưng anh không tuyên ngôn to tát, chỉ nói với bạn bè, đồng đội rằng, hãy đi đi, chí vững gan bền, như A Cui được mẹ sinh ra ngồi bón cơm cho anh bên đống lửa, cho nên sau này anh trở thành con chim ka-kang (đại bàng), anh như quả núi to. Nếu khi cần phải “nói lớn” thì Nguyễn Trác mượn cây cỏ, dòng sông, ngọn núi, cánh rừng  thay lời tâm sự: Thanh gươm lửa cài bên hông thành phố (Hát tặng một dòng sông); Cỏ ánh lên như thể mới quang dầu (Nhớ một miền đất cũ); Xin đừng giẫm chân lên cỏ/ Trên cỏ vẫn còn gương mặt cơn mưa (Tiếng chim xuân). Tuyệt nhiên không có những luận bàn thế sự ngổn ngang, những tuyên ngôn ồn ào, những triết lý chưa đủ chín. Và vì thế ông luôn thấy mình hạnh phúc, “nơi ban mai ta đã có thật nhiều”.
Tập Thơ Nguyễn Trác được tuyển chọn từ chín tập thơ và cả những bài còn nóng hổi “chưa vào tập”. Từ tập “Từ Đà Nẵng”, “Thành phố những ngôi sao Biển”, “Ở cuối dòng sông”… cho đến “Gió vẫn trên đường” luôn nhất quán một phong cách, giọng điệu. Vẫn là chọn một góc nhỏ trên sân khấu lớn;  chọn cái tĩnh trong cái động, viết về cái động qua cái tĩnh lặng; hát bè trầm trong bản hợp xướng. Nếu ai đó bất chợt hỏi ông muốn gửi đến bạn đọc thông điệp gì thì Nguyễn Trác nói rằng: Đó là tiếng nói  của tâm hồn Việt “luôn vang trong lòng mình” (Mùa lá rụng). Rằng thơ không có thiên chức nào cao quý hơn là “thiên chức ngân vang”. Ta có thể thấy rất nhiều những câu thơ hay và đẹp, trong suốt trong buổi nắng mai. Đọc thơ như nhìn thấy, nghe thấy một thi ảnh thoáng qua, nhưng rồi cứ bị ám ảnh mãi, càng về sau càng lung linh, đó là sự gợi mở chứ không gói lại, không giảng giải: Một người với chiếc ô hoa/ Ngồi che cho một người xa cuối trời; Đã bao lần anh đứng trú mưa/Mà quên cây đang ướt;  Bỗng nghe tóc mẹ bạc sang tóc mình;  Làm ngọn nến ngắn trên con đường dài;  Trời thả rông mây trắng/Đất gom về rong rêu…
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng nói, đại ý, nhà thơ có nhiều quyền, trong đó có quyền được nói về cái tôi. Trong thơ Nguyễn Trác, cái tôi luôn có sự đối thoại, so sánh, cật vấn chính mình. Lắm khi ông tự hỏi đâu mới là cái tôi đích thực chính mình. Tôi là cái tĩnh trong cái động. Tôi là bản âm của mưa phùn và lửa. Tôi như con trâu già gặm cỏ hoàng hôn; con chim già không chịu bỏ cuộc, muốn bay hết đường rồi chết. Tôi ngồi  Hà Nội lo mưa Sài Gòn (Một người với chiếc ô hoa/Ngồi che cho một người xa cuối trời). Khi sơn ca ngủ thì tôi cất tiếng hát… Đến đây thì ta chợt hiểu vì sao Nguyễn Trác luôn ẩn mình, luôn chìm khuất, tránh xa những tranh luận ồn ào. Và thơ ông, mãi cô đơn như thế, nỗi cô đơn buồn và đẹp.
Bước vào tuổi tám mươi, qua hơn nửa thế kỷ làm thơ, Nguyễn Trác đã trải bao mùa- sen- thơ. Có nhà phê bình văn học nói rằng, thơ ông Trác là thơ của người mê hoa, nhưng yêu hoa đến mê mẩn, nhất là hoa sen, được coi là Quốc hoa của Việt Nam, thì thi sĩ họ Nguyễn được xếp hàng đầu bảng. Khi bước vào mùa thu cuộc đời, ông thấy rằng mình thật là giàu có: Giờ đang là mùa thu/Hồ đầy sen thơm ngát. Nhưng không khỏi nuối tiếc, như sắp tuột khỏi tay những gì quý giá muốn dành tặng người thương chưa một lần dám nói:  Ta yêu những mùa sen/Như yêu câu thơ cổ.  Và mai này về cõi vân du vẫn tâm nguyện được tỏa hương cao khiết, như Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Tâm hồn tỏa sáng trong văn chương):  “Côn Sơn có hồ/Ta làm sen khi thác”.
Giờ Nguyễn Trác vẫn đang rong ruổi với cánh buồm thơ ngang qua mùa sen mới. Thơ ông ngày càng cô đọng, day dứt, chiêm nghiệm. Tôi rất thú vị khi đọc nhiều cặp câu kết trong các thi phẩm của ông, thường bật lên một triết lý sâu sắc, gợi mở – gợi suy nghĩ và gợi cảm hứng. Những triết lý sâu sắc ấy lại thường xuất phát từ những câu chuyện rất bình thường, nhỏ như lá cây, ngọn cỏ, hạt sương, tia nắng: “Bên bếp lửa chú gà vừa nở/Gại gại chiếc mỏ hồng lên vỏ trứng vỡ đôi”; “Giếng như lòng anh đó/Một hòn sỏi vô tình rơi xuống cũng âm vang”; “Người lính vào thành phố/Một chấm tròn rát bỏng khôn nguôi”; “Và người con ở sông Hà/Bỗng nghe tóc mẹ bạc sang tóc mình”; “Ban mai đậu trên cột buồm một con tàu chở cát/ Cát ròng ròng qua kẽ tay ta”; “Cuộc chiến hôm nay cũng khác vô thường/Mà chúng tôi không còn một trái tim nào khác/Ngoài trái tim từng đập ở Trường Sơn”…
Nguyễn Trác là thế, mở như không, kết cũng như không, đoạn giữa là kể chuyện. Đằng sau hình ảnh trực tiếp có thể nhìn, nghe, thấy, ẩn hiện một điều gì khác lạ, vượt ra khỏi cái nhìn bình thường. Cứ rủ rỉ, cứ chầm chậm bước rồi mùa sen sẽ tới. Tôi nhớ đến câu thơ Chế Lan Viên: Có những kẻ làm thơ như làm pháo/Cứ hét lên vì sợ chẳng vào tai (Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ…)
Đã có nhiều người bàn về thi pháp. Nhà ngôn ngữ học người Mỹ gốc Nga  Roman Osipovich Jakonson (1982-1983) chủ trương đi tìm “chất văn” đích thực của ngôn ngữ thi ca. Ông cho rằng: “Mỗi từ ngữ không có giá trị tự tại mà chỉ là công cụ để chỉ một đối tượng. Khi từ ngữ vượt khỏi công dụng thông tin ấy, để thể hiện giá trị thẩm mĩ tự tại  thì nó có chức năng thi pháp. Đó là thơ”. Nguyễn Trác thiết thực hơn, riết róng hơn. Ông không mấy quan tâm đến những khái niệm về hệ thi pháp cũ, hệ thi pháp mới, về sự chuyển đổi hệ thi pháp lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba. Ông chán ghét “những câu thơ no đủ”, “những dây leo sàm sỡ”, dẫu cũng chẳng mong chi “giành vương miện vòng hai”. Hiện đại, cách tân, hay truyền thống là quá trình liên tục, không tác rời nhau, điều cơ bản nhất vẫn là, thơ phải hay, giúp ích cho con người, cho cuộc đời. Với tâm thế ấy, mỗi chặng đường thơ ông ghi dấu một hành trình sáng tạo, mang đến chiều sâu thi cảm.
Và chúng ta đã gặp mùa sen mới trong thơ Nguyễn Trác. Cùng những hy vọng.
Chú thích:
* Hai tập thơ Thơ Nguyễn Trác, NXB Hội Nhà văn, 2023 và Bên cửa sổ là biển, NXB Văn học, 2024.
11/3/2025
Hải Đường
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ: "Đàn bà làm thơ trăm cái khổ"

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ: "Đàn bà làm thơ trăm cái khổ" Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã qua đời vào ngày 6.7.2023 sau nhiều năm bệnh tật, ...