Nhà văn Văn Xương hiện sống và viết tại Quảng Trị – nơi
anh sinh ra và lớn lên từ đó. Bạn đọc rộng rãi cả nước biết đến Văn Xương
qua những tập truyện ngắn xuất bản khoàng hơn chục năm trở lại đây: Hoa gạo
đỏ bên sông; Hồn trầm; Lỗ thủng; Những chặng bay ký ức; Thượng nguồn… Các tác phẩm của anh viết về cuộc chiến những năm chống Mỹ và
thời hậu chiến, phần lớn về chính quê hương Quảng Trị. Những vết thương chiến
tranh tại vùng đất Quảng Trị đau thương và kiên dũng vẫn chưa khép lại hoàn
toàn. Còn đó những bom đạn trong lòng đất. Còn đó những người lính ngã xuống
chưa tìm được mộ, hài cốt. Còn đó những nghèo, khó. Còn đó những chia lìa phân
tán lòng người chưa dễ gì vượt qua… Tất cả đã được nhà văn quán xuyến, đặt vào
trang viết với nhiều thân phận, cảnh huống khác nhau. Mỗi truyện ngắn của Văn
Xương có thể được hình dung như những mảnh ghép của hiện thực chiến tranh và hậu
chiến. Lần này, Văn Xương tìm đến thể loại tiểu thuyết. Có phải anh
nghĩ đến ưu thế của tiểu thuyết, một thể loại so với truyện ngắn có dung lượng
lớn hơn, bối cảnh xã hội, không gian – thời gian dài rộng hơn, số lượng nhân vật
nhiều hơn, có đất để dụng công cấu trúc thỏa sức hơn, và nhất là gợi lên những
khả năng của thực tại khả dĩ hơn? Không thỏa mãn ở những “mảnh ghép” truyện ngắn,
Văn Xương muốn dựng lên một bức tranh dài rộng về cuộc chiến và hậu chiến của đất
và người Quảng Trị trên nền cảnh đôi bờ sông Bến Hải và Thạch Hãn. Nhà văn đã lựa chọn một bối cảnh lớn trong đó có các chuỗi biến
cố: Hiệp định Genève 1954; công cuộc cải cách ruộng đất và những di họa của nó ở
phía Bắc, cuộc chia cắt chiến tuyến và cuộc ly tán dân chúng Bắc – Nam; chiến
thắng năm 1975; thực trạng hòa giải, hòa hợp và đoàn tụ… Trên cái nền sự kiện
long trời lở đất đó là số phận của một gia đình gồm đôi vợ chồng và bốn người
con: Bố bị quy oan, tù tội rồi chết trong tù; chị cả tên Thanh lấy chồng sống đời
dân thường bình dị; anh hai tên Minh đi bộ đội quân giải phóng, sĩ quan; anh ba
là Quang học trường sĩ quan Đà Lạt, làm chỉ huy quân đội VNCH; em gái út Giang
sống đời bình dị bị mắc kẹt giữa mâu thuẫn ý thức hệ của hai người anh. Một ghi nhận đầu tiên về tác phẩm đó là nhà văn đã tập trung
khắc họa những mâu thuẫn phức tạp giữa những lớp người khác nhau ở trong dân
làng, trong cán bộ thôn xã, trong môi trường quân đội, và đỉnh cao là trong một
gia đình. Sự phức tạp, éo le của cuộc sống đã đẩy từng số phận vào những tình cảnh
trớ trêu, nhiều oan khiên, nhiều bất hạnh. Đặc biệt, sự khốc liệt của cuộc chiến
gây nên biết bao thảm cảnh, cái chết tang thương, những thương bệnh binh, cuộc
sống đói nghèo trong thời bình, những ám ảnh cuộc chiến, những xung đột ý thức
hệ không dễ gì cởi bỏ ngay được. Điểm ghi nhận thứ hai rất đáng trân trọng: nhà văn đã đặt ra
vấn đề hòa giải hòa hợp giữa những người trong làng trong nước, trong gia đình
với nhau vốn trước kia thuộc hai chiến tuyến. Đây là điều mà trên cấp độ đường
lối, chúng ta đã có từ lâu; nhưng trên cấp độ thực tiễn vẫn đang còn rất phức tạp.
Trong gia đình, dòng họ, trong làng xóm, bạn bè… vẫn còn nhiều trường hợp chưa
hóa giải được hận thù. Về phần sau của tác phẩm, nhà văn Văn Xương đã cho hai
anh em Minh và Quang từ chỗ xung đột, đề phòng dần dần biết cảm thông, thương
nhau, và tiến tới hòa giải. “Ngôi nhà bom”, hình ảnh cuối cùng được dụng
công miêu tả ở phần cuối truyện như một biểu tượng nói về công cuộc hòa giải và
hòa hợp đó. Bắt đầu từ mỗi anh em, gia đình, bè bạn, quê hương, người trong nước
thật lòng hướng về hòa giải, hòa bình thì mới hy vọng giải quyết được mối quan
hệ cấp quốc gia: Bắc – Nam, bên này bên kia, trong nước và hải ngoại… Vấn
đề này đã trở thành trục lõi xuyên suốt tác phẩm, được nhà văn giải quyết một
cách thuyết phục. Hình ảnh con “sông tuyến” được nhà văn dụng công, đẩy lên, chắp
cánh cũng đã trở thành một biểu tượng. Nó là nỗi chia cắt Bắc Nam. Nó là sự
chia lìa, ly tán của lòng người. Nó phân chia thế giới theo tinh thần phân tuyến
ta – địch. Nó chất chứa sự tàn khốc chết chóc của cuộc chiến. Và cuối cùng, con
sông tuyến ấy đã được nối liền, trở lại hiền hòa, xanh mát, thơ mộng, biểu
trưng cho hòa bình. Từ dòng sông máu, dòng sông phân ly nay trở thành dòng sông
đoàn tụ, yêu thương. Nhà văn Văn Xương là người hiểu kỹ và sống sâu với hiện thực
cuộc chiến cùng bối cảnh xã hội mà vùng đất lửa Quảng Trị đã trải qua. Chủ đề
hòa giải và hòa hợp hậu chiến đã được ông thể hiện ít nhiều trong một số truyện
ngắn. Nay, tiểu thuyết “Sông tuyến” như một sự tiếp tục với một quy
mô và chiều sâu mới. Ông trao cho các nhân vật nói về câu chuyện của đời mình
trong mối liên hệ ràng rịt với các nhân vật khác, với các mối quan hệ xã hội đa
dạng, với quê hương, Tổ quốc. Nhờ vậy, cuộc sống được miêu tả tự bật lên ý
nghĩa. Xét theo nghĩa đó, tác giả đã quản lý khá tốt nhân vật của mình, mỗi
nhân vật là một đời sống, một số phận sinh động, gây ấn tượng cho người đọc. Trước đây, ngay trong cuộc chiến hoặc những năm đầu hòa bình
đã có một số tác phẩm văn chương, bộ phim, vở kịch, ca khúc viết về vùng đất
chiến tuyến Quảng Trị này. Ở đó, các tác giả tập trung thể hiện sự khốc liệt của
chiến tranh, lòng quả cảm và kiên trung của quân và dân ta đánh giặc, tội ác
ngút trời của kẻ thù. Nay, tiến thêm một bước nữa, các tác giả đã không dừng ở
hiện thực cuộc chiến, phóng chiếu cái nhìn vào hiện thực hậu chiến, nỗi đau
chia cắt lòng người, đặt ra vấn đề hòa hợp và hòa giải dân tộc. Trên tinh thần
đó, tiểu thuyết “Sông tuyến” của nhà văn Văn Xương là một nỗ lực cảm
động đóng góp vào nền văn xuôi hậu chiến Việt Nam hiện đại. 13/9/2025 Văn Giá Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét