Thứ Ba, 2 tháng 12, 2025

Tiếng Việt: Lạ mà quen

Tiếng Việt: Lạ mà quen

Trước đây, người ta chia tiếng Việt làm nhiều phương ngữ, hiện nay theo cách nhìn phổ biến, tiếng Việt có ba phương ngữ: Bắc, Trung và Nam. Người Việt, về văn hóa, bên cạnh hệ giá trị chủ đạo, còn có hệ giá trị của tiểu nhóm, tiểu nhóm có thể nhìn nhận theo xã hội hoặc theo địa lý. Và có thể nói, mỗi phương ngữ dù đậm hay nhạt, dù ít hay nhiều đều mang cá tính của một vùng đất.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng ba mẩu hội thoại sau:
a, Một cô gái quyết tâm đi đến hôn nhân với bạn trai, nhưng cha cô không đồng ý, dứt khoát ngăn cản. Thấy con gái buồn bã, khóc lóc, người mẹ dỗ dành:
Từ từ con, để cha bay nguội đã, rồi mẹ tìm cách nói vào cho.
b, Một đôi nam nữ đang ngồi tâm sự trong công viên, nhận thấy tay anh con trai  đang “miệt mài thám hiểm’’, cô liền ngăn cản:
Dừng lại anh, đừng đi quá xa, hãy dành trọn vẹn cho ngày cưới.
c, Cả bọn đực rựa đang uống cà phê, thấy một cô gái đẹp đi ngang qua, một cậu vuột miệng:
Ồ!  Con nhỏ có body ngon ghê!
Bạn thấy tất cả đều bình thường phải không nào? Bởi đây là cách nói rất đỗi quen thuộc trên cửa miệng của người Việt. Thế nhưng, cũng không hẳn thế đâu. Ở (a) tại sao lại là nguội, để ba bay nguội đã… Hóa ra, người ta hình dung Giận là lửa, Giận là nóng. Ở (b) ngồi yên một chỗ chứ có di chuyển đâu mà đi quá xa? Hóa ra, cách diễn đạt này lại bắt nguồn từ suy nghĩ: Tình yêu là một cuộc hành trình (Con đường, quá trình). Còn ở (c), body đâu nào phải thực phẩm, có ăn uống được đâu mà ngon với không ngon! Thật ra đây là cách ý niệm hóa quen thuộc trong tư duy của người Việt Nam. Có thể nói, người Việt có thể lược quy hầu hết các sự vật, hiện tượng về thang độ ngon/dở để nhận xét đánh giá. Ví dụ, Nhà hai mặt tiền, ngon ơi là ngon, Ghế đó ngon lắm, chạy cả triệu đô mới được, Phim (sách) dở quá, Anh ta xử sự với vợ con dở ẹc… và về sâu xa là có lý do của tri nhận luận.
Như vậy, tiếng Việt cũng có điều lạ đấy chứ, thậm chí có nhiều điều lạ nữa là khác.
Hiển nhiên đi tìm nét riêng của tiếng Việt, trong liên hệ với ngôn ngữ khác, không thể không chú ý đến những đặc điểm nội tại của nó, như loại hình ngôn ngữ, tương tác văn hóa và cả thành tựu nghiên cứu mang tính thời đại. Nói rõ hơn, thời đại kỹ thuật số, với sự tiến bộ của của khoa học kỹ thuật trên nhiều phương diện, gần gũi với ngôn ngữ học là khoa học máy tính, khoa học tri nhận, trí tuệ nhân tạo… tất cả đã mang lại cho ngôn ngữ học nhiều cách tiếp cận rất mới mẻ, trong đó việc đề cao hoạt động trí não của con người, là điều dễ thấy nhất.
1. Vấn đề lý thú trong tiếng Việt: Lạ mà quen
1.1. Do nhiều lý do khác nhau, trước đây khi giới thiệu về từ láy, ví dụ như láy mô phỏng âm thanh hiện thực: róc rách, xình xịch, meo meo… và láy hình tượng như: thổn thức, dào dạt, ngậm ngùi…, không ít nhà nghiên cứu cho rằng đây là lớp từ mang cái riêng của tiếng Việt, đặc biệt  nó thể hiện lỗ tai thẩm ẩm rất độc đáo của chúng ta. Thế nhưng không hẳn là như thế, phương thức láy nói chung, từ láy nói riêng là hiện tượng phổ quát trong mọi ngôn ngữ, có điều trong tiếng Việt, loại từ láy hình tượng xuất hiện nhiều hơn là từ láy mô phỏng.
Mặt khác đặc điểm lí thú lại xuất phát từ loại từ mô phỏng cấu âm, nói khác có sự liên tưởng về nghĩa của một số vần liên quan đến cách chúng ta phát âm. Hãy quan sát vần um trong các tiếng sau: bụm, chụm, chùm, túm, dúm, xúm, núm, khúm núm,… khi phát âm miệng chúng ta chụm lại và  động tác này biểu trưng ngữ nghĩa là “gom lại, chụm lại”,  hay vần ứt trong các tiếng: bứt, đứt, nứt,  sứt, rứt, vứt… Cách phát âm các tiếng này biểu trưng ngữ nghĩa” rời ra, tách ra, lìa khỏi” (một từ cùng vần -ưt chỉ chất thải ra của con người cũng nằm trong sự liên tưởng ngữ nghĩa này). So sánh ba từ “sập, sụm, sụn” về mặt trực giác, ai cũng nhận ra rằng nghĩa của từ “sập” chỉ tốc độ phá hủy cao nhất. Điều này là có lý do,bởi khi phát âm ba tiếng này thì Sập miệng đóng lại kín nhất so với hai tiếng còn lại.
Hơn nữa, khi các từ ngữ  láy song tiết có sự hòa phối âm thanh giữa các vần như đóng/đóng, mở/ mở, đóng/mở, mở/ đóng tạo nên giá trị biểu trưng rất lớn, nhất là trong môi trường văn chương. Không phải không có lý, khi có người  cho rằng, với sự hòa phối âm thanh của hai vần – ấp và – ênh  trong hai cặp từ láy có mô hình  đóng/ mở trong hai câu thơ: Đoạn trường thay lúc phân kỳ ! Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh, Nguyễn Du đã thâu tóm được cả cuộc đời truân chuyên, ba chìm bảy nổi của nhân vật Kiều.
Liên quan đến vần  và biểu trưng ngữ nghĩa, ta có vần i, trong các tiếng: tí, rí, xí… mang nghĩa nhỏ bé, muốn diễn đạt nhỏ hơn ta láy: tí ti, nhỏ hơn nữa: tí tì ti nhỏ nữa tí tỉ tì ti. Gần gũi với nó, là hiện tượng lặp: nghĩa của ngày  so với ngày ngày, nhà so với nhà nhà, người so với người người. Đặc điểm chung ở đây là, dù láy hay lặp, nghĩa gốc đều mở rộng.Nếu hình dung ngôn ngữ là vật chứa đựng thì âm thanh, chữ viết là vật chứa, nội dung, ngữ nghĩa là vật được chứa và hễ càng nhiều hình thức  thì càng nhiều nội dung. Thông thường, với hạt nhân nghĩa đẹp, chúng ta sẽ có các dạng thức phát triển như sau: (i) Đẹp ơi là đẹp, Đẹp đẹp là, rất  ư là đẹp, (ii) kéo dài nguyên âm chính đe-e-e-e- ẹp.Từ hạt nhân nghĩa nhỏ (i) có thể nói nhỏ ơi là nhỏ, nhỏ nhỏ là, nhỏ rí, nhỏ rí ri, nhỏ rí rỉ rì ri, nhỏ chút chun, nhỏ chút  chủn chùn chun, rất rất rất nhỏ (ii) kéo dài âm chính râ- â- â- â-ất nhỏ hoặc nhỏ-ỏ-ỏ -ỏ. Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, để chỉ mức độ lớn từ hạt nhân nghĩa bự, cũng có thể nói (i) bự-ự-ự-ự-ự (ii) bự chà bá, bự chảng, bự chảng bành ki.
Rõ ràng các dạng thức kéo dài hoặc mở rộng hình thức đã làm cho nghĩa hạt nhân mở rộng, đặc trưng đẹp sẽ đẹp hơn, nhỏ sẽ nhỏ hơn, bự sẽ bự hơn. Và do chúng ta không gian hóa hình thức ngôn ngữ bằng chữ viết hay âm thanh nên vị trí và tầm tác động của các yếu tố từ ngữ trên hình tuyến có ý nghĩa quan trọng, nhất là đối với tiếng Việt, nếu không cẩn trọng đễ rơi vào lỗi ngữ pháp “xa mặt cách lòng”.
1.2. Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, tiếng (âm tiết) trùng với hình vị, đặc điểm này đã tạo nên một diện mạo riêng cả về ngữ âm, từ vựng và cả ngữ pháp.
(a) Về ngữ âm, khi nói, các tiếng bao giờ cũng được phát âm, một cách tách bạch, rạch ròi, không có hiện tượng đọc nối, đọc gộp âm vào nhau. (Ở đây, có hiện tượng chữ viết rất dễ đánh lừa  chúng ta, Cố ý và cối, Khu A và khua và cám ơn và cá mơn…, đây không phải là nối, hay gộp âm). Do vậy, ranh giới giữa các tiếng có ý nghĩa quan trọng. Và lúc đầu, người ta nói nhiều về quãng ngắt trên dòng ngữ lưu. Ví dụ, xét  phát ngôn sau: Quân ta đánh đồn giặc chết như rạ. Tùy theo cách ngắt ngữ lưu mà ta có những nghĩa khác nhau, Quân ta đánh /đồn giặc chết như rạ (đồn giặc chết), Quân ta đánh đồn/ giặc chết như rạ (giặc chết), Quân ta đánh đồn giặc/ chết như rạ (quân ta chết). Sau này Phạm Hữu Lai, đặc biệt Cao Xuân Hạo trên cứ liệu thực nghiệm đã chỉ ra rằng tiếng Việt có trọng âm và trọng âm có liên quan đến quan hệ ngữ pháp, nhờ có trọng âm mà ta có thể phân biệt đâu là quan hệ trong câu, đâu là quan hệ trong từ, trong từ cũng dựa vào trọng âm có thể phân biệt các loại đơn vị xét về cấu tạo và cả ngữ nghĩa.
Và trong thực tế, nhiều biểu đạt về ngữ âm không chính xác như… mắt đen tròn thương thương quá đi thôi… (G. N.) thường thương thương được đọc (ngâm) liền nhau và như vậy sẽ rơi vào mô hình trọng âm của xinh xinh, đèm đẹp, xanh xanh… nghĩa là” hơi xinh, hơi đẹp, hơi xanh” lẽ ra phải là thương / thương vì nghĩa của ngữ đoạn có sự tăng tiến. Tương tự lời bài hát… đời sống nghiệt ngã không cho chúng mình ấm mộng… (V.T.A, BKTS 50) phần lớn các ca sĩ đều xử lý như sau: đời sống nghiệt ngã không / cho chúng mình ấm mộng mà lẽ ra phải là: đời sống nghiệt ngã / không cho chúng mình ấm mộng.
Cũng về ngữ âm, dựa vào đặc điểm của cấu trúc của âm tiết, trẻ con có những trò chơi  ngôn ngữ rất lý thú như lặp âm đầu: Bà ba bả bán bánh bèo, bả bứt bông bụt, bả bỏ bậy bạ, bả bị bắt ba bốn bửa…, nói lái: Cái gì trên trời  rơi xuống mà lại mau co? (mo cau), Đập chuông là đuông chập, đuông chập là đâm chuột, đâm chuột là đâm tí, đâm tí là đi tắm. Hoặc phức tạp hơn: Thầy giáo, tháo giày, vấy đất, vất đấy; Thầy tu, thù Tây, cạo đầu, cầu đạo.
(b) Về mặt từ vựng, chính cương vị mỗi tiếng là một từ đã tạo nên hiện tượng cấu trúc bài thơ như một ma trận mà dân ngữ văn ai cũng biết. Đó là trường hợp, một bài thơ đọc xuôi, đọc ngược, đọc theo chiều dọc, chiều ngang, chiều chéo, đọc  căn cứ vào số lượng tiếng theo thể loại, tất cả đều có nghĩa. Rồi có thể đọc theo trật tự tuyến tính hay đọc nhảy đều có nghĩa: Lên phố mía gặp cô hàng mật, kéo tay lai hỏi thăm đường (hai dãy nghĩa: (i) có một ai đó đi lên phố bán mía, gặp cô bán mật, kéo tay lại hỏi thăm đường, (ii) Mía, mật, kẹo, đường). Tương tự, Trời mưa, đất thịt, trơn như mỡ, giò (dò) đến hàng nem chả muốn ăn. Thậm chí từ láy cũng có thể tách, chẻ ra được: Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng, nó kềnh cổ ra ; Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi đánh cọc, nó cạch đến già (Công kênh, cồng kềnh; cóc cách, cọc  cạch).
Hơn nữa nghĩa bao giờ cũng gắn liền với một hình thức biểu hiệu liên quan đến hình ảnh tinh thần gọi là ý niệm, ý niệm gắn với các đơn vị ngôn ngữ trong đó có từ ngữ. Các tổ hợp từ  liên kết các ý niệm như nhạc vàng, nhạc đỏ… ở đây là một thực thể tinh thần gắn với tính chất, tạo nên một tổ hợp ý niệm tích hợp hoàn toàn khác với nghĩa của nhạc Việt, nhạc không lời. Vẫn trên các ý niệm vốn có bằng con đường  khác nhau,chúng ta tạo nên những ý niệm mới, chẳng hạn như Chìm xuồng (Chỉ những hiện tượng tiêu cực không được xử ký đến nơi, đến chốn) trùm mền hay đắpmền (chỉ vật tư, máy móc từ nước ngoài nhập về không được đem ra khai thác, sử dụng) hay gần đây là Check VAR (đây  là hiện tượng hoán dụ, Hành động thay cho sự kiện) và Phông bạt (cũng là một hiện tượng hoán dụ, sự vật thay cho  hành động).
c, Về mặt ngữ pháp, từ lâu. người ta chú ý đến ba phương diện: trật tự, hư từ và ngữ  điệu. Trong đó đáng chú ý là các kết cấu hai tiếng có quan hệ bình đẳng nhau như áo quần, ăn uống, cay đắng… về trật tự có thể hoán đổi vị trí mà nghĩa không đổi: quần áo, uống ăn, đắng cay… nhưng không phải tất cả, còn nghĩa của các kết cấu loại này thường là nghĩa thành ngữ và có giá trị biểu trưng.
Thành tựu nghiên cứu của tiếng Việt gợi mở cho chúng ta nhiều kiến giải mới hơn, lạ hơn.
Xét các ví dụ sau:
Tinh giản, sáp nhập bộ máy nhà nước là đúng rồi, mới có ba giờ chiều mà cả xếp và nhân viên đã lặn khỏi cơ quan rồi.
Lo quá, thằng nhỏ nhà tôi đang bơi môn toán.
Nó còn lăn tăn nhiều thứ, nhưng ngại không dám nói ra.
Ô hay, có liên quan gì đến sông nước đâu mà lặn, bơi  và lăn tăn?
Hay, con người nào phải cây cối mà mọc với rụng, điều gì kết nối cách nói lạ lùng này. Hãy xem:
Mọc tóc, mọc lông, mọc răng, mọc nhọt, mọc mụn, mọc nhánh trong tai…… Rụng tóc, rụng lông, rụng răng… và khi tiếp xúc với câu thơ: Hãy là hoa, nhưng hãy khoan là trái, hoa nồng hương  mà trái lắm khi chua… (TNTH) thì không ai nghĩ là chỉ để  nói về thực vật cây cối.
2. Vấn đề có lý / vô lý trong tiếng Việt: Lạ mà quen
2.1. Hãy bắt đầu bằng các thành ngữ sau: Con ông cháu cha, Cao chạy xa bay, Nhường cơm xẻ áo. Sao lại con ông, cháu cha mà không  ngược lại? sao lại cao chạy, xa bay mà không ngược lại? Cơm thì nhường là được rồi nhưng áo lại xẻ ra  te tua ra  thì sao mặc được?
Thường thì người ta giải thích rằng, thành ngữ là những đơn vị nghĩa có giá trị biểu trưng, nghĩa của chúng khái quát chứ không phải nghĩa của các thành tố trong tổ hợp cộng lại, không nên dùng con dao logic mà mổ xẻ.
Liên quan đến vấn đề đang bàn, đơn vị thành ngữ sau đây phức tạp hơn nhiều: Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới ông. Cứ như những gì nghĩa câu chữ biểu đạt thì hết sức vô lý,  con được sinh trước, cha sinh sau; cháu sinh trước, ông sinh sau. Thật ra, đây là những kiến giải có tính chất thơ ngộ về cấu trúc và quan hệ trong một hệ thống. Cụ thể, trong một hệ thống, khi một yếu tố mới xuất hiện lập tức nó thiết lập một quan hệ mới và đảm nhiệm một chức năng mới, con là con trong quan hệ với cha và ngược lại, cháu là cháu trong quan hệ với ông và ngược lại. Như vậy, nếu không có yếu tố con thì sẽ không có quan hệ và chức năng cha, tương tự quan hệ cháu / ông cũng như thế. Và với ý nghĩa quan hệ và chức năng như đã phân tích thì con có trước cha, cháu có trước ông!
Nếu mở rộng quan sát, ta thấy trong tiếng Việt có không ít trường hợp có cách biểu đạt lạ: Nghĩ thầm trong bụng, sống để bụng chết mang theo, mát dạ, ấm bụng… Rồi, giận cành hông, giận bầm gan tím ruột, sợ tái mặt, sợ muốn rụng tim, tức ói máu, tức lộn ruột… Hình như vùng bụng là cơ quan suy nghĩ thứ hai của người Việt và hình như ở đây, các biểu hiện cảm xúc có liên quan đến bộ phận cơ thể người theo mô hình: Cảm xúc X + bộ phận cơ thể người. Điều này theo tri nhận luận, xuất phát từ nguyên lý con người dùng những hiểu biết về cơ thể mình để nhận thức thế giới.
Quan sát tiếp hai câu ca dao sau đây: (i) Sáng đi bóng hãy còn dài, trưa về bóng đã nghe ai bóng tròn. Và (ii) Sáng đi bóng hãy còn  dài, chiều về bóng đã nghe ai bóng tròn. Nội dung ở (ii) là vô lý, vì chỉ vào buổi trưa, khi mặt trời trên đỉnh đầu thì bóng mới tròn, còn sáng hay chiều bóng  đều dài. Thế nhưng, qua một cuộc điều tra bỏ túi của chúng tôi, mọi người cũng thừa nhận, cách biểu đạt ở (ii) hay hơn và đây là một mô tip đối lập sáng đi/ chiều về rất quen thuộc trong ca dao. Rồi trong nhận thức, lúc xác nhận, Anh em là ruột là rà, Vợ chồng như áo thay rồi là xong , lúc  thì  bảo,Vợ chồng là ruột là rà, anh em thì có cửa nhà anh em.
2.2.Trong tiếng Việt hiện song tồn hai dạng thức: Tất nghiệp/ tốt nghiệp, tiếp thụ/ tiếp thu, phản ánh/ phản ảnh… Ở đây không chỉ là vấn đề có lý/ vô lý mà có chuyện đúng /sai. Ý kiến thứ nhất cho rằng, đây là các từ Hán Việt vì vậy phải đọc cho đúng, tức chọn tất nghiệp, tiếp thụ, phản ánh… Ý kiến thứ hai cho rằng, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội,có trường hợp sai nhưng  dùng mãi rồi sẽ quen, vả lại, lớp từ ngữ vay mượn Hán Việt đã được Việt hóa  cả về ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp, cho nên đã đến lúc  phải coi chúng đã nhập vào hệ thống từ ngữ Việt và họ chọn hình thức từ ngữ còn lại. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp như tham quan/ thăm quan, phần lớn ý kiến lại chọn hình thức thứ nhất: tham quan. Tương tự, hiện nay cũng tồn tại hai câu tục ngữ: Cái khó bó cái khôn và cái khó ló cái khôn. Có lý hay vô lý là tùy theo người cảm nhận và lý giải.
Về  xác định phương hướng, người  phương Tây  lựa chọn: Bắc – Nam – Tây – Đông, trong khi người Việt lại là Đông – Tây – Nam – Bắc, nói rõ hơn, với người phương Tây nói từ Tây tới Đông, từ Bắc tới Nam trong khi người Việt là, từ Đông sang Tây, từ Nam ra  Bắc. Cũng thật khó xác định lựa chọn nào có lý, lựa chọn nào vô lý vì vấn đề không thuần là ngôn ngữ mà còn là lịch sử và văn hóa.
Cũng giống như một số dân tộc khác, người Việt hay dựa vào sông để định vị: lên nguồn/ xuống biển, trên nguồn/dưới biển…, Ai về nhắn với nậu nguồn/ trầu cau gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Cũng theo trục này nhưng với, ra vào, lên, xuống… phức tạp hơn. Gần đây, cư dân mạng boăn khoăn về một số trường hợp, ví dụ như lấy mốc là Gia Lai, cứ như những gì lâu nay theo đường thiên lý hay đường cái quan với cách dùng, Vào (vô) Nam/ ra Bắc thì phải là ra Kon Tum, chứ không nên dùng lên Kon Tum.
Tương tự, nếu lấy cái mốc là Cần Thơ, cũng theo đường cái quan thì xuống Bạc Liêu, xuống Cà Mau nhưng lạ  là bà con đều nói lên An Giang. Điều này chưa hẳn là vô lý. Và nếu lấy mốc xuất phát là các tỉnh miền Tây thì bà con đều định vị là lên Sài Gòn, lên Thành Phố. Rõ ràng, ngoài trục đường cái quan, lên/ xuống, ra / vào (vô) còn tùy thuộc vào địa hình cao thấp và cả vị thế kinh tế, trung tâm/ ngoài vi nữa. Định vị liên quan đến sông nước, có thể kể thêm, phần lớn các nền văn hóa khi xác định vị trí bờ của con sông đều  xuất phát từ dòng chảy, cụ thể xuất phát từ đầu nguồn của dòng sông, theo dòng chảy, lấy người quan sát làm quy chiếu, sau lưng là nguồn, trước mặt là biển, bên  tay trái  là  tả ngạn, bên phải là hữu ngạn (Từ nguồn nhìn ra biển) ,nhưng rắc rối là, sông nước ở Đồng Bằng Sông Cửu Long thì nửa ngày nước lên, nửa ngày nước xuống theo thủy triều, làm sao xác định tả ngạn, hữu ngạn? Lại nữa, ở khu vực miền Trung người ta định vị bờ sông xuất phát từ biển nhìn lên nguồn, nên bờ bắc của sông Hương của Huế là hữu ngạn, bờ Nam của sông Hương là tả ngạn, thậm chí phân chia địa  lý hành chính cũng dựa  vào căn cứ này. Huế là trung tâm, phía phải là các tỉnh phía Bắc như Quảng TrỊ, Quảng  Bình…, phía trái là các tỉnh phía Nam, Quảng Nam, Quảng Ngãi…, tất cả có thể tìm thấy trong sách Đại Nam nhất thống chí.
3. Triết lý tiếng Việt: Lạ mà quen
Thành ngữ, tục ngữ và cả ca dao là những thành tố ngôn ngữ – văn hóa, thể hiện cách nghĩ, cách sống, cách ứng xử, nhất là cách ý niệm văn hóa của cộng đồng diễn ngôn đối với bản thân mình và  với môi trường tự nhiên.
3.1. Với bản thân, nhất là cơ thể mình, đúng hơn là dùng những kinh nghiệm, những hiểu biết về chính cơ thể người và những trải nghiệm trực tiếp hay gián tiếp để nhận thức thề giới. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các ngôn ngữ đều biểu đạt ý niệm phải là đúng, là quan trọng, trái là sai, là ít quan trọng hơn. Kinh nghiệm cho  biết, phần lớn chúng ta đều thuận tay phải, bất lợi, phiền toái với những ai thuận tay trái. Từ đây, hệ giá trị phải / trái liên quan vị trí trung tâm,liên quan đến ngữ pháp hình ảnh và cả chỗ ngồi của cánh tả/ cánh hữu hoạt động chính trị ngày xưa.Nói rộng ra, những tri thức trực tiếp của cơ thể (đầu, mình, tay, chân… ruột, gan, bụng, da… bộ phận/ toàn thể, đi, đứng , nằm, ngồi, ngủ, thức…), những tri thức gián tiếp (trước mặt /sau lưng, trên đầu/ dưới chân, bên phải/ bên trái… trong/ ngoài, lên /xuống, ra / vào…) đều là những cơ sở kinh nghiệm để nhận thức và thể hiện triết lý nhiều khi  là vô thức. Ta bắt đầu bằng tục ngữ, Ruột để ngoài  da, kinh nghiệm cho thấy, cơ thể người là một vật chứa đựng, ruột bên trong, da ở ngoài, trong quan trọng hơn ngoài, ruột biểu trưng cho tính tình, cảm xúc, hành động.Khi ai đó nói, Hắn là người ruột để ngoài da là  muốn đề cập đến tính cách chân chất, thẳng như ruột ngựa, nghĩ ao nói vậy, không cần rào đón, nói ra chứ không để bụng. Còn ruột bỏ ra, da bỏ vào thì vẫn dựa vào những tri thức vừa nhắc, Ruột quan trọng hơn Da, bà con ruột rà máu mủ thì xa lánh trong khi người dưng, nước lả thì vì một lý do nào đó lại săn đón, gần gũi, thấy sang bắt quàng làm họ.
Nếu phương Tây dựa vào triết lý nhị nguyên: đầu biểu trưng cho lý trí, tim biểu trưng cho tình cảm, suy nghĩ thiên về phương thẳng đứng, trên quan trọng hơn dưới, đầu quan trọng hơn tim, lý trí quan trọng hơn tình cảm, trong khi  với người Việt thì bụng, lòng, dạ, ruột, gan 5 bộ phận biểu trưng cho tình cảm, lý trí, tính tình và  suy nghĩ thiên về phương nằm ngang. Và các yếu tố biểu đạt đều có vai trò như nhau, tùy thuộc vào  ngữ cảnh, không có yếu tố nào quan trọng hơn yếu tố nào. Nói khái quát, triết lý đa nguyên đa vị khác với nhất nguyên nhất vị và khác  với cả nhị nguyên nhị vị.
3.2 Ngôn ngữ học tri nhận chỉ ra rằng, mảng hiện thực nào, chủ đề nào gần gũi và quen thuộc với cộng đồng diễn ngôn thì xuất hiện trước nhất, xuất hiện nhiều nhất và có tầm tác động lớn nhất trong suy nghĩ và hành động của họ. Quả nhiên, với người Việt, môi trường sống như  sông nước, cây cối, núi đồi, bão lụt… chủ đề quen thuộc như ăn uống, ăn mặc, thực phẩm, đói no,… có một vị trí hết sức quan trọng trong không gian tinh thần và qua đó có  thể hiểu nếp sống nếp nghĩ  và cả triết lý dân gian. Chẳng hạn, có đến gần 500 đơn vị thành ngữ, tục ngữ về sông nước, trong đó có những  biểu đạt rất hay như: Nước khe  đè nước suối, Có nước sông nước đồng mới nhảy, Mạch trong nước chảy ra trong… và đặc biệt cách hình dung sau:
– Đời người là đời của  con sông: con người sinh ra từ nước (nước ối), chết về với nước (suối vàng, chín suối, nước tiên, nước phật, tục đưa linh).
–  Hành trình đời người là hành trình của dòng sông: Người không khác gì Sông, xuất phát từ nguồn trôi dần về biển cả, Sông có khúc, người có lúc, đục trong  của  nước và đục trong của cuộc đời, trong hành trình đó có khi thuận lợi: Biển lặng sóng êm, Xuôi thuyền mát mái, Thuận buồm xuôi gió… nhưng cũng có khi gặp khó khăn: Gió dập sóng dồi, Lên thác xuống gềnh, Thuyền xuôi gió ngược…
– Ứng xử với cuộc đời là ứng xử với sông nước: Coi gió bỏ buồm, Lựa chiều bẻ lái, Theo nước lượn thuyền…
Cụ Cao Xuân Huy (1900 – 1983), một nhà đạo học, trong quá trình nghiền ngẫm về bản sắc và lịch trình tư tưởng của Việt Nam, nhà nghiên cứu đã nhận ra: cái đặc tính mềm mại, uyển chuyển, linh hoạt, lưu động  của nước… Từ đó, ông khái quát rằng, dân tộc ta có tính nước và ghi nhận chính khả năng thích nghi và cân bằng, là bí quyết sinh tồn của người Việt Nam trước thiên nhiên khắc nghiệt và trước nhiều thế lực của giặc ngoại xâm hùng mạnh. Cũng theo chiếu hướng đó, hệ phái  Phật Giáo Khất Sĩ Nam Bộ nhìn nhận Tánh Phật là tánh thủy. Và nếu so sánh triết lý về nước của người Việt với người Trung Hoa và cả  người Anh, Mỹ chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điểm khác biệt.
4. Phương ngữ tiếng Việt: Lạ mà quen
Tiếng Việt tồn tại dưới dạng các phương ngữ (còn gọi là tiếng địa phương). Mỗi phương ngữ  là một hệ thống riêng, tuy vậy ngày nay giao tiếp giữa các phương ngữ không gặp trở ngại lớn. Vì thế, người ta hay nói tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trong thế đa dạng. Sự khác biệt giữa các phương ngữ dễ thấy nhất  là ngữ âm, từ vựng và một ít là ngữ pháp.
Trước đây, người ta chia tiếng Việt làm nhiều phương ngữ, hiện nay theo cách nhìn phổ biến, tiếng Việt có ba phương ngữ: Bắc, Trung và Nam. Người Việt, về văn hóa, bên cạnh hệ giá trị chủ đạo, còn có hệ giá trị của tiểu nhóm, tiểu nhóm có thể nhìn nhận theo xã hội hoặc theo địa lý. Và có thể nói, mỗi phương ngữ dù đậm hay nhạt, dù ít hay nhiều đều mang cá tính của một vùng đất.
Cá tính, trước hết là ở nội dung, nhưng cũng  có khi được thể hiện trong lựa chọn hình thức:
Bắc:   Ăn như thuyền chở mã
Làm như ả chơi trăng.
Trung : Ăn như còng chạy
Làm như mày mạy bơi.
Nam : Ăn như xáng Xúc
Mần như lục bình trôi.
Quan sát cách biểu đạt trong ca dao, dân ca có thể ghi nhận, phương ngữ Bắc thường khuôn định trong thể loại( ví dụ vẫn có nhấn nhá đệm lót nhưng về cơ bản lục bát vẫn 6 tiếng và 8 tiếng), câu chữ trau chuốt bóng bẩy, bóng bẩy đến điêu luyện.
Phương ngữ Trung, nổi bật với đặc điểm trung dung, nghĩa là  vẫn còn ảnh hưởng của tính chất khuôn thước của phương ngữ Bắc nhưng đồng thời đã hấp thụ được tính chất phóng khoáng của lời ăn tiếng nói của phương ngữ Nam.Do địa hình, núi biển không xa cách mấy, đất đai không được trù phú, lại luôn đối phó với thời tiết khắc nghiệt, bão lụt hằng năm… tất cả đã tạo nên tính chất rất” lạ”. Hãy nghe chàng trai tán tỉnh:
Tui đi lên tui gặp chị, tui đi xuống tui gặp chị
Người ta đồn mộng, đồn mị, đồn chị với tui là hai vợ chồng
Hôm nay gặp giữa chợ đông, Cầm tay chị lại, tui hỏi: Bây giờ chị tinh Sao?
Phương ngữ Nam, nhất là Đồng bằng sông Cửu Long, ca dao dân ca nói riêng, cách thức biểu đạt nói chung thường không câu nệ vào hình thức mà chủ yếu là làm thế nào diễn đạt được tiếng lòng, chẳng hạn, đâu đó ở Bắc hay Trung thường  có mô tip, khi thất tình, khi thất cơ lỡ vận hay xuất hiện hình ảnh lên chùa mà tu, hãy lắng nghe tiếng hò của người Đồng bằng:
… Việc gì mà phải lên chùa đi tu, ta về Cà Mau, ta qua Rạch Giá, gặp con cá ta bắt con cá, gặp con  cua, ta bắt con cua, gặp việc gì ta mần việc nấy…
Hay cái ăn, cái mặc vốn là nỗi ám ảnh của nhiều thế hệ cha ông chúng ta thì ở đây hình dung rất đơn giản, nhẹ nhàng:
Ăn: Người ta giàu, ăn cơm ngày ba bữa, nhà mình nghèo, nấu ít, ăn hết nồi rồi lại nấu thêm.
Mặc: Mần cho lắm, tắm cũng ở truồng/ Mần lay ray (lai rai) ngày thay hai ba bộ.
Về lược đồ  văn hóa, xe tơ, kết tóc của ông Tơ, bà Nguyệt, nhìn chung trong văn học dân gian, người  Việt đề cập đến với tấm lòng ngưỡng vọng, kính trọng, còn ở  Nam Bộ quan  hệ  giữa nhân vật trữ  tình với họ, rất dân chủ, rất bình đẳng :
Bắt ông Tơ, đánh sơ ít chục
Mối chỉ sậm sờ, ông ngủ gục ông không xe.
Hay:
Đánh ông Tơ cái  trót, ông nhảy thót lên ngọn trâm bầu
Ông xe đâu đó, ông thấy nhơn ngãi tui nghèo, ông không xe.
Ngoài việc thể hiện cá tính của một vùng đất, mỗi phương ngữ còn có phong vị riêng, ngoài những hiện tượng đặc phương ngữ, tức có phạm vi giao tiếp hẹp hoặc quá hẹp, không nhất thiết phải thống nhất giọng nói và từ vựng.
5. Vĩ thanh
Các bài trong tập sách này phần lớn đã được in ở một  số báo và tạp chí. Chúng được xác lập, nhìn nhận, kiến giải từ cái nhìn của ngôn ngữ học tri nhận – một ngành học còn non trẻ, xu thế nghiên cứu và ứng dụng  rất gần với khoa học trí tuệ nhân tạo.
Các bạn, tùy theo nhu cầu, có thể đọc riêng từng bài, vì mỗi bài có tính độc lập tương đối nhưng cũng có thể đọc theo chủ đề gồm nhiều bài.
Rất mong các bạn lượng thứ cho, vì  nhiều lý do khác nhau, một số ý tưởng, một số phân tích, một số ví dụ minh họa còn bị lặp lại.
15/3/2025
Trịnh Sâm
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Tơ trời lắng sâu cùng “Đồng vọng” của Võ Văn Hân Nhà thơ nữ Ba Lan Wisława Szymborska – người được mệnh danh là “Mozart của thơ”, được G...