Thứ Hai, 1 tháng 12, 2025

Văn chương Hoàng Thanh Hương - Bản thể trong tính đa diện

Văn chương Hoàng Thanh Hương
Bản thể trong tính đa diện

Nhắc đến Hoàng Thanh Hương, chúng ta nghĩ ngay đến một nữ nhà văn có cốt cách, thẳng thắn và một sự nghiệp văn học để lại nhiều dấu ấn trong tiến trình phát triển nền văn học Tây Nguyên đương đại. Một nhà văn đã dấn thân, thể nghiệm và gặt hái khá nhiều thành công với các thể loại, như: thơ ca, văn xuôi, nghiên cứu, báo chí.
Đối với văn chương, chị mang đến tiếng nói rất riêng về thân phận con người, gửi gắm những thông điệp đầy triết luận nhân sinh sâu sắc. Ấn tượng là, yếu tố văn hóa dân gian thấm đẫm trong từng trang văn của chị, để làm nên thứ giọng điệu tâm tình giàu bản sắc vùng đất đỏ cao nguyên bazan, những nhân vật thường rơi vào điêu thương nhưng vẫn toát lên cái khí chất khó trộn lẫn vào đâu được, cấu trúc ngôn từ nội tại trong mỗi tác phẩm được xây nên bằng thứ chất liệu tự nhiên như nó vốn có, thứ thanh âm của lòng người và yếu tố âm nhạc từ dụng ý chiến lược tự sự phối trộn bất ngờ mà ám ảnh khó phai; những chi tiết giản đơn, bộc trực nhưng lột tả hết mọi biến thái tinh vi qua lời người kể chuyện và từ lời nhân vật. Tất cả đã lay động vào tâm khảm của độc giả, lẫn siêu độc giả, làm dấy lên những ý niệm nhân văn sinh thái, ý thức về giới và nữ quyền và những tư tưởng chất chứa giá trị nhân văn mới. Nó đã tạo nên tính đa diện trong cái bản thể/văn tính đặc trưng của thế giới nghệ thuật Hoàng Thanh Hương. Đặc biệt, khi chúng ta tìm hiểu, nghiên cứu qua các tập truyện sau: Mở mắt ngày đã trôi (Tập truyện ngắn, 2019), Ngày bình thường trở lại (Tập truyện kí, 2019), Phía trước là bầu trời (Tập truyện ngắn, 2020), Những đứa con của buôn Nú (Tập truyện ngắn, 2020), Phía mùa rực rỡ (Tập truyện ngắn, 2023).
Có thể nói, văn học không những phản ánh cái bên ngoài mà còn đào sâu các tầng ý nghĩa ẩn bên trong. Văn học không những đi tìm cái nguyên lí hiện tồn, nhân vị mà còn dấn thân vào những hiện tượng cụ thể đời sống. Văn học không những coi trọng phương diện nội dung – tư tưởng mà còn quan tâm đặc biệt đến chất liệu tạo nên tính thẩm mĩ mới. Văn học không những quan tâm đến cấu trúc nội tại của tác phẩm mà còn hướng tới người đọc có khả năng đồng sáng tạo, tái cấu trúc để mở nó ra “như là cấu trúc ngôn từ động” (từ dùng của Trương Đăng Dung). Văn bản nghệ thuật ngoài đề cao tính văn học còn phải ngẫm nghĩ kĩ lưỡng tính ngôn ngữ nhằm “khẳng định không gian ngôn ngữ và quyền tự trị ngữ nghĩa” [9, tr.55] của nó. Đó là cái bản thể trong tính đa diện của khuôn mặt văn chương. Những biến thái tinh tế của khuôn mặt văn chương ấy được Hoàng Thanh Hương thể nghiệm qua những khía cạnh sau:
1. Trước hết, ngôn ngữ, giọng điệu trong những tác phẩm của chị thấm đẫm khí chất của văn chương hậu hiện đại. Nó không những nhờ lối dẫn dắt linh hoạt (điều này vốn có thừa trong văn chị), điểm nhìn trần thuật liên tục thay ngôi đổi thứ, mà còn bởi sự kết hợp nhuần nhị giữa phong vị cao sang và những chi tiết được phóng ngoại đầy chất “pốp”, “piếc” [9, tr.11-12]. Chính hơi hướng lắm khi phong tục, bình dân ấy lại giúp cho chiến lược tự sự trở nên cuốn hút, hấp dẫn. Văn chương hậu hiện đại li khai dần lối diễn ngôn theo kiểu đại tự sự trong phương pháp sáng tác cũ, mà hướng đến một thứ văn chương hòa hợp đến mức phi lý giữa cái cao đài và cái hạ mạt, giữa siêu ngôn và sự vụn vỡ ngôn từ.
Thể hiện qua trang văn Hoàng Thanh Hương là: chị thường sử dụng câu văn ngắn, ngôn ngữ biến ảo khôn lường, lời văn nửa trực tiếp và không thiếu những chi tiết diễn tả sự trần trụi, dung tục: “Khuya hùng hục lao vào vợ, thỏa mãn lăn ra ngủ, ngáy như trâu rống, nói mớ khua tay chân ầm ầm.” (Ngày bình thường trở lại), “Xong chuyện anh trần truồng ra sa lông ngồi hút thuốc để mặc cô co quắp trong đống chăn gối nhàu nhĩ sực mùi mồ hôi.”, “Ngọc nôn thốc, lão đè sấp Ngọc, gầm gừ, Ngọc rú như con thú bị thương sau mỗi cú đẩy thô bạo.” (Đi qua ngày tháng), “Con người không biết yêu thì thành chó rồi còn gì” (Khi yêu), “Nàng chán chuyện vợ chồng đến tận cổ, anh hùng hục như trâu cày, nàng mím môi cong người cho xong. Rã rời, mệt mỏi vật vào giấc ngủ chẳng giấc mơ nào lung linh.” (Bóng). Bởi, một phần trong văn chương chị mang nhiều yếu tố tính dục, “Ít có thứ gì trái ngược nhiều với tính dục như suy nghĩ; tính dục là bản năng, phi lí và tự phát, trong khi suy nghĩ thì thận trọng, tách bạch và mang tính đánh giá…” (Alain de Botton) [2].
Sự dung tục ấy lắm lúc đạt đến mức độ “tàn nhẫn”, đó là sự bất nhã, báng bổ vào những giá trị vốn tồn tại lâu bền trong tâm thức người Việt. Chẳng hạn, nhân vật chị trong Khi yêu nhạo báng cả những điều tưởng chừng thiêng liêng, đáng quý nhất: “Chị bảo tôi học lắm vào rồi hèn. Nhà văn, thạc sĩ  mà hèn. Chị bảo ai làm dân béo thì tin thì theo. Chị nheo mắt thì thầm tao có người yêu mới. Tôi trố mắt. Anh phó thủ tướng nước miềng đó. Tôi trố mắt. Anh ấy là number one, tao đang yêu cả anh Philip nữa.”. Hay, lời của nhân vật cô giáo Nguyên trong Gõ cửa mùa xuân: “lấy ai thì lấy chừa mấy ông công an, bộ đội ra”. Điều ấy không những được phóng ngoại/ biểu hiện rõ ràng qua lớp ngôn từ, mà còn ẩn sâu bên trong giọng điệu kiểu tưng tưng, tuồn tuột, bất cần đời của chị. Nó được thể nghiệm dày đặc, liên tục, không những qua cấp độ câu từ mà còn ở cấp độ đoạn, văn bản và liên văn bản. Mỗi văn bản là một cách diễn ngôn riêng về cuộc sống dưới điểm nhìn của một người đàn bà nhân hậu, thẳng tính và lắm những trăn trở, suy tư.
2. Hơn nữa, thông qua nghệ thuật tự sự phi tuyến tính của văn chương hậu hiện đại thì không những không gian, thời gian mà hình tượng nhân vật cũng được lắp ghép có phần ngẫu hợp từ hàng trăm mảnh vỡ của chất liệu hiện thực lẫn những giấc mơ, ám ảnh, siêu thực. Hình tượng trung tâm giờ đây không còn vẹn nguyên mà trở nên đáng thương, tội nghiệp. Nó được phác hoạ thường là lờ mờ, nét đậm nét nhạt, có khi chỉ thoáng qua bằng những lát cắt sắc lẹm và cũng có khi lại là những đường nét được dậm tô nhiều lần để nổi rõ sự uất hận, dằn vặt của phận người.
Nhân vật Chi trong Ngày bình thường trở lại đầy những vết cắt tâm lý. Nhân vật mụ đi tìm lại “khuôn mặt” của chính mình trong trạng thái mộng du (Mộng du). Nhân vật Ngọc hiện lên ở thiên truyện Đi qua ngày tháng lại chập chờn trong điệp khúc của quá khứ đau thương. Còn nhân vật Mị trong Bóng quê thì lênh đênh giữa “chợ người” trước nỗi niềm đau đáu cố hương. Nhân vật Sen ở thiên truyện Đẻ thuê lại mỏi mòn thèm khát trở thành người “đàn bà thứ thiệt”. Hay như nhân vật Nhi trẻ trung, thắc thỏm chờ tin người chồng chung, đã hai thứ tóc (Phía trước là bầu trời). Rồi cô Sâm, nhân vật chính của truyện ngắn Sau bình minh là em, lại hiện lên với chuỗi ngày tủi hờn trong quá khứ và biết bao phút giây cô đơn cùng cực ở hiện tại.
Bởi vậy, các nhân vật trên đã để lại những ấn tượng khó phai trong lòng độc giả. Một phần, họ đại diện cho tiếng nói của chủ nghĩa nhân văn mới, tiếng nói của nữ quyền và ý thức về giới. Các nhân vật chính trong truyện ngắn của nhà văn Hoàng Thanh Hương thường là những người đàn bà đích thực [4, tr.82]: cả tin, có cá tính, nhiều ham muốn luyến ái, dám dấn thân và luôn chủ động nhận những thiệt thòi về mình; dù trước đó, họ không hề giấu giếm những toan tính thiệt hơn, đầy thực dụng, hay ích kỷ. Thế nhưng, các nhân vật ấy vẫn luôn đặt mình trong trạng thái cân bằng khả dĩ giữa con người bản năng và con người chức năng.
Chính những đặc điểm tâm lí và hành động nhân vật như vậy đã tạo nên một phong cách khó trộn lẫn của nhà văn Hoàng Thanh Hương trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam về chủ đề nữ giới. Bởi, các nữ nhà văn khác lại thường “ưa chuộng kiểu nhân vật vị kỷ hơn là vị tha, nổi loạn hơn là an phận, thách thức để được là chính mình hơn là hoà hợp để chỉ là một cái bóng” [1]. Có thể dẫn ra như, nhân vật Mị trong Bóng quê, cô thể hiện rõ bản tính của nữ giới là luôn khao khát được yêu thương, che chở, đặc biệt là bản năng làm mẹ; nhưng cuối tác phẩm, chính trách nhiệm với cha mẹ, với mong mỏi đổi thay quê hương mà cô quyết định báo với Tùng: “Tôi sẽ về Ayun Pa luôn” cùng với lời hứa của ông Nghiễm, “Tôi sẽ đưa em về một chuyến. Ở Ayun Pa tôi có thể đầu tư vào gì để kiếm tiền”. Hay, nhân vật người đàn bà trong Cơn mưa không dừng lại dù mang tâm trạng uất ức, não ruột vì chồng ngoại tình với cô giúp việc, tên Huệ, nhưng vẫn cố ra vẻ hòa thuận, nồng ấm trước gia đình hai bên và để giữ “sĩ diện của người đàn bà mang danh trí thức”.
Bản năng ghen tuông, chiếm hữu, muốn làm mẹ của người đàn bà đôi khi lại phải hòa hoãn, “xuống thang” trước con người chức năng mà gia đình và xã hội định ước. Ở truyện ngắn Khi yêu, nếu như nhân vật chị có khuynh hướng luôn đề cao bản năng khi yêu, “Chị là người đa cảm, đã yêu là quên đời, đã yêu là sẵn sàng giơ lưng đỡ trời sập cho người tình.”, thì nhân vật chính (xưng tôi) lại hướng đến sự hài hòa trong cảm xúc và hành động: “Tôi biết chút thôi anh sẽ gọi lại nhưng bỗng dưng lúc này tôi chẳng muốn nghe anh, chẳng cần anh và chẳng nghĩ rằng anh có thể khiến lòng tôi ấm áp như nắng đang luênh loang ngoài vườn cỏ mới cắt trước phòng làm việc sau mấy ngày mưa dai dẳng ẩm ướt, rét mướt. Tôi ngả lưng xuống ghế dài, gối đầu lên đống sách cứng ngắc, nhạc thiền nho nhỏ. Tôi cần ngủ một chút…”.
Nếu xét trên cấu trúc tổng thể trong toàn bộ tác phẩm của chị thì nhân vật người đàn bà thường đặt ở vị trí trung tâm, vững chãi. Lời người kể chuyện, lời của các nhân vật luôn tập trung hướng vào việc miêu tả, kể lể, đánh giá về họ. Họ thường được xây dựng có diễn biến nội tâm và điểm nhìn sâu sắc, đa diện. Kiểu nhân vật mà tác giả thường xây dựng là: nhân vật có cá tính nổi bật (nhân vật tính cách); nhân vật có diễn biến tâm lí phức tạp (nhân vật tâm lí); nhân vật gắn với những quan điểm, tư tưởng và ý thức nào đó (nhân vật tư tưởng); nhân vật có số phận không phải khi nào cũng bình yên mà thường trải qua những đắng cay, đau thương, tủi hờn (nhân vật số phận); rồi một ngày, họ nhận ra sự thật nghiệt ngã hay hạnh phúc đến nao lòng (nhân vật thức tỉnh).
Ví dụ như, nhân vật Nguyên trong Gõ cửa mùa xuân được tác giả gửi gắm nhiều thông điệp nhân văn. Cô giáo Nguyên cũng đã trải qua những sự cố trong cuộc đời, để rồi nhận ra những điều bình dị chính là hạnh phúc. Hạnh phúc giản đơn là khi mở cửa đón chồng đi công tác trở về: “Bố về đấy, nhanh lên con. Cô bế bổng con bé gần như lao ra cổng, tiếng guốc khua giòn trên nền gạch”. Hay, nhân vật H’Panh trong Mùa pơ – lang cuối cùng lại là nhân vật số phận. Cô chịu đựng nỗi cô đơn, tủi nhục, uất ức và kết thúc cuộc đời bằng cái chết tức tưởi. Còn nhân vật chị trong Khi yêu lại được phác hoạ với nét cá tính nổi bật, được biểu hiện như một nhân cách. Trong truyện ngắn Dưới tán rừng còn lại thì nhân vật già Đinh Blim và đứa con gái tên H’ Leng toát lên những suy nghĩ và hành động đẹp, là nhân vật tư tưởng, đại diện cho ý thức gìn giữ, kết nối, phát huy các giá trị truyền thống của đồng bào mình.
3. Trong nhiều tác phẩm, nội dung – tư tưởng và chất liệu văn chương cũng được nữ nhà văn tập trung hướng vào phản ánh những giá trị thiêng liêng, mang tính cộng đồng, và mối quan hệ hài hòa giữa nhân loại (human) và (thế giới) phi nhân loại (nonhuman). Bởi, nhà văn Hoàng Thanh Hương còn là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian có nhiều thành tựu nổi bật. Thế nên, suối nguồn văn hóa của vùng đại ngàn Tây Nguyên đã ngấm ngầm chảy trong hồn thơ lẫn chất liệu văn xuôi của chị. Đó cũng là điểm tạo nên giá trị thẩm mĩ riêng biệt của trang văn Hoàng Thanh Hương.
Chất liệu từ văn hóa không chỉ đơn thuần là thứ vay mượn tạm thời của nhà văn khi sáng tác, mà nó đã ngấm vào trong máu thịt, để rồi được người nghệ sĩ nhào nặn thành tác phẩm, chất chứa tâm hồn nhân văn sinh thái khá đậm nét. Đời sống văn hóa, tinh thần con người Tây Nguyên hiện lên trong thế giới nghệ thuật ấy đầy căng tràn nhựa sống. Thứ sức sống của/ do sự hài hòa với thiên nhiên. Họ cố kết cộng đồng dưới sự che chở của thiên nhiên, và họ bảo vệ lại thiên nhiên. Thiên nhiên/ thế giới phi nhân cùng với con người hòa hợp như những đứa trẻ song sinh, có thể giao cảm và sống chết cùng nhau. Trong vài truyện ngắn, thiên nhiên có khi được xây dựng như là nhân vật trung tâm, kết nối văn hóa cộng đồng, lịch sử, như: Dưới tán rừng còn lại, Người đi về vùng sương, Về làng, H’La.
4. Ngoài ra, trong trang văn chị, đàn bà và âm nhạc luôn song hành nhau. Đàn bà cần âm nhạc. Âm nhạc phải có đàn bà. Những bản nhạc cất lên, mở đầu cho chuỗi ngày sống trong bi kịch. Những bản nhạc chia sẻ cùng vô vàn chan chứa nỗi niềm. Những bản nhạc trải ra, chen vào lẩn trong nhung nhớ, đơn côi. Và, những bản nhạc lại kết thúc chơi vơi cho cuộc tình/đời hạnh phúc lẫn đau thương. Như vậy, âm nhạc được đan xen trong văn chương Hoàng Thanh Hương không những mang dấu ấn của liên văn bản, mà còn là yếu tố thể hiện cơ chế cấu trúc tạo sinh hữu hiệu, hình thành nên trường nghĩa có tính năng sản cao trong ngôn ngữ nghệ thuật. Ta thấy, sự lặp lại yếu tố âm nhạc trong diễn ngôn tự sự luôn gắn liền với thân phận người đàn bà.
Thân phận người đàn bà được lặp lại trong các thiên truyện do/ bởi bản năng và ý thức của/ về họ. Đàn bà trong tư cách của con người bản năng hay con người chức năng tiếp tục được nhắc đến nhiều lần do/ bởi cảm hứng/ quan niệm/ ý thức về phồn thực, nó chảy liên tục và mãnh liệt trong tín ngưỡng văn hóa dân gian… Với cách diễn ngôn như thế, giá trị của tác phẩm dần được bổ sung, nâng tầm lên trong quá trình tái cấu trúc, tiếp nhận từ độc giả. Nói như Solomon Marcus: “những hiện tượng lặp lại không phải chỉ là một sự kiện tổ hợp đơn thuần như ở Propp, mà chúng làm thành điểm xuất phát để tạo ra thêm những hiện tượng lặp lại khác nhằm kéo dài văn bản đến vô cực.” [9, tr.27]. Chúng ta dễ dàng tìm thấy mối liên hệ ấy qua các tác phẩm như: Ngày bình thường trở lại, Mộng du, Khi yêu, Bóng, Đẻ thuê, Gái làng (Đi qua ngày tháng), Người đi về vùng sương, Dưới tán rừng còn lại, Phía trước là bầu trời, Sau bình minh là em.
Nói tóm lại, “với cuộc cách mạng tình dục, tiếng nói phụ nữ, tiếng nói nữ quyền đã vang lên mạnh mẽ trong văn học, nhất là những năm đầu thế kỉ XXI” [2]. Cùng với các nhà văn nữ khác đề cập về con người đa diện dưới điểm nhìn của một người đàn bà, như: Dạ Ngân, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà thì Hoàng Thanh Hương đã thật sự hòa vào dòng chảy của nền văn chương đương đại, mà lại giữ được vẻ riêng của cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật, khó trộn lẫn. Với cách xây dựng cấu trúc ngôn từ động, chủ đề mang hơi thở của thời đại; giọng thương cảm, triết lí đời tư; tư duy nghệ thuật và bút pháp tinh tế, linh hoạt… đã làm nên văn tính đặc trưng trong sự đa diện của khuôn mặt văn chương chị.
Tài liệu tham khảo:
1. Thái Phan Vàng Anh (30.11.2024), Tiểu thuyết nữ đầu thế kỉ XXI – Ý thức giới của những diễn ngôn cá nhân, https://baovannghe.vn/tieu-thuyet-nu-dau-the-ki-xxi-y-thuc-gioi-cua-nhung-dien-ngon-ca-nhan-18279.html
2. Thái Phan Vàng Anh (31.7.2022), Giá trị nhân văn mới trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI, http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-nghe/gia-tri-nhan-van-moi-trong-tieu-thuyet-viet-nam-dau-the-ki-xxi_13625.html
3. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
4. Hoàng Thanh Hương (2019), Ngày bình thường trở lại (Tập truyện ký), Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội.
5. Hoàng Thanh Hương (2019), Mở mắt ngày đã trôi (Tập truyện ngắn), Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội.
6. Hoàng Thanh Hương (2020), Phía trước là bầu trời (Tập truyện ngắn), Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội.
7. Hoàng Thanh Hương (2020), Những đứa con của buôn Nú (Tập truyện ngắn), Nhà xuất bản Sân khấu, Hà Nội.
8. Hoàng Thanh Hương (2023), Phía mùa rực rỡ (Tập truyện ngắn), Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng.
9. Sông Hương (2013), Sông Hương – nghiên cứu, lý luận và phê bình (tuyển chọn 2003 – 2013), Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế.
22/3/2025
Đỗ Văn Minh
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Truyện cái giường

Truyện cái giường Tôi là một cái giường hư bỏ trong nhà chứa đồ cũ. Tôi buồn lắm. Cái nhà nhỏ như một cái hộp lớn, tồi tàn, dơ bẩn, bụi đâ...