Cái tôi trữ tình trong "Dặm
ngàn hương
cốm Mẹ" của Nguyễn Tham Thiện Kế
Nguyễn Tham Thiện Kế là một
trong số những nhà văn tài hoa tiêu biểu của đất tổ Phú Thọ. Tác giả
luôn có ý thức đổi mới con chữ và tư duy để tạo nên một văn cách độc
đáo. Ký của Nguyễn Tham Thiện Kế là dòng ý thức pha trộn nhiều cảm hứng cá
nhân, biểu dương những vẻ đẹp hiện hữu, mải miết lưu giữ những giá trị văn hóa
truyền thống đang bên bờ phôi pha. Tuỳ bút Dặm ngàn hương cốm Mẹ là
bức tranh hội tụ đầy đủ màu sắc, hương vị, hơi thở của không gian văn hóa đất Tổ
Phú Thọ và xứ kinh kỳ ngàn năm văn hiến.
Tác phẩm đã bộc lộ một
cái tôi trữ tình chứa chan xúc cảm, chất chứa tâm tình của một người con nặng
lòng với quê hương, đất nước. Đó là cái tôi đầy nhân văn, giúp tác giả bày tỏ
những khát vọng nội tâm thầm kín trước những thăng trầm nhân tình, thế sự.
Cái tôi trữ tình
trong Dặm ngàn hương cốm Mẹ của Nguyễn Tham Thiện Kế phản ánh
hiện thực tâm trạng của chủ thể từ những trải nghiệm với người thật, việc thật,
từ những điều nhìn thấy, nghe thấy. Cái tôi trữ tình ấy được nhận diện từ sự
đan bện nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Đó trước hết là cái tôi rất mực thiết
tha trước vẻ đẹp của quê hương xứ sở. Với Nguyễn Tham Thiện Kế, sông Lô, sông
Thao không thuần tuý chỉ là một dòng chảy địa lý, đó còn là dòng sông lịch sử,
là chứng nhân những tháng năm dân tộc oằn mình trong đau thương chiến tranh. Mỗi
giếng nước, con ngõ, bến sông… xuất hiện trong kí của Nguyễn Tham Thiện Kế đều
gắn với một miền ký ức:
“Tôi có con sông thơ giữa
rừng thường xanh nơi khẩn hoang ngạt ngàn hoa dại trắng dòng trong. Bờ cát mật
viền cỏ, trái trám chua rụng điểm dấu chân nai. Thuyền bẹ hoa chuối rừng thắm đỏ
xuôi đi giấc mơ con trẻ về thủ đô Tháp Rùa, que kem ngũ sắc…” [1, tr.105]. Lắng
sâu trong không gian chôn nhau cắt rốn ấy là tiếng mõ trâu khua lốc cốc “vang
thì sáng sớm trẻ con nhớ vộc dậy mò cơm nguội đeo túi dệt vải bạt xanh lội suối
cái đến trường” [1, tr.254], tiếng ve sầu núi kêu ong ong trong cái nắng gắt cuối
hè, là bát chè cốm sen, là chén rượu cốm “lạnh tê, nuốt lưng chừng tới dạ mới bừng
náo lên hương cốm từ tâm não” [1, tr.19], rượu tăm nếp cái hoa vàng, xôi nếp trộn
cùi cọ bầu lâng lâng đầu lưỡi, bình cọ xào lòng gà, mẻ bánh khúc nóng rẫy mang
“vị ngon hư thực bâng khuâng” [1, tr.110], day dứt “vị cơm cháy non gạo tám nấu
nồi gang mấp mé bờ môi” [1, tr.176], là những câu hò, điệu Xoan, điệu Ghẹo mang
chứa vẻ đẹp truyền thống văn hoá Việt ngàn năm.
Hình ảnh tươi đẹp của quê nhà, của những con người anh hùng trong chiến đấu và miệt mài trong lao động đã đi vào tập tùy bút Nguyễn Tham Thiện Kế như một lời minh định niềm tự hào về xứ sở. Giữa cuộc đời đầy gian truân và thăng trầm, người dân Phú Thọ vẫn rạng ngời vẻ đẹp cần cù, chịu thương, chịu khó. Đó là Mẹ, là Chị, là Bà, là Dì… – những người phụ nữ nghĩa tình bao dung, những người sẵn sàng thứ tha, sẵn sàng hi sinh hết thảy cho gia đình thân yêu.
Độc giả dễ dàng tìm thấy
những điều rất đỗi gần gũi và thân thương như một phần hình bóng quê hương lam
lũ mà thắm đượm nghĩa tình: đôi tay chai sần theo năm tháng của Mẹ, bóng lưng
còng của Bà, cái xoa đầu ấm áp của Chị, mùi bồ kết hương nhu trên mái tóc Nội,
mùi mồ hôi mặn mòi thấm đẫm lưng áo Dì… Chuyện đời của từng cá nhân dù nhỏ bé
như mợ Bích, bà giáo Chi, lão Đông Chắt, ông già H’mông… cũng được Nguyễn Tham
Thiện Kế kể lại một cách đầy xúc động. Đó là bức chân dung chữ về những con người
hồn hậu, mộc mạc, chân chất, nghĩa tình.
Càng đi xa, Nguyễn Tham
Thiện Kế càng lắng sâu cảm xúc về sự-gắn-bó-nơi-chốn. Mỗi nét đất là dáng kỷ niệm
tuổi ấu thơ, khi là góc hoa xoan vườn mẹ, khi là cánh đồng ngạt ngào hương đồng
nội. Tuổi thơ cùng bánh nắm bỏng gạo thơm mật mía, kẹo vừng bùi bùi, bánh đa kê
nồng ngậy, viên bi bảy màu rực rỡ, và cả hương vị Tết như cát chảy qua kẽ ngón
tay. Hoài thương làn khói chiều quê “lòng vòng lây ngây” [1, tr.179], tác giả
thấm thía sự trôi chảy biền biệt của tháng năm, thấm thía cái hữu hạn của đời
người trước cái vô cùng của đất trời. Hồng Hạc vẫn căng mọng, thịt quả vẫn hồng
hồng ngọt lịm, “chỉ có điều Hồng Hạc trồng ngoài Bạch Hạc thì không còn là Hồng
Hạc nữa!” [1, tr.75]. Bánh khúc vẫn được rao bán những đêm đông nhưng “Chẳng có
chiếc bánh khúc nào ngon bằng chiếc bánh Mẹ làm” [1, tr.116]. Dẫu có nếm trăm
món ăn lạ miệng trong không gian sang trọng, cái tôi tác giả vẫn thèm khát vô bờ
cảm giác được một lần ăn lại bát canh sắn nấu chua của mẹ, nhai “những hạt cốm
thần thoại dẻo thơm cuống quýt lập bập giữ hàm răng ngon ngon mãi” [1, tr.17].
Những món ăn ấy mang hơi ấm của bàn tay Mẹ, mang “vị ngon cao thượng mà gần gũi
quen thân” [1, tr.47], là thức ngon vật quý không gì sánh bằng. Nhưng quy luật
thời gian hà khắc, có những vẻ đẹp khi đã rời xa thì chỉ còn có thể níu lại qua
hồi ức.
Viết về Dặm ngàn
hương cốm Mẹ, Đỗ Ngọc Thống so sánh: “Vũ Bằng ngày ấy xa dạt, sống trong nắng
gió lồng lộng ngút ngàn phương Nam, bỗng da diết, bồn chồn Thương nhớ mười
hai. Nhớ cánh hoa đào Hà Nội, nhớ cái rét Nàng Bân, nhớ cả tiết mưa phùn xứ Bắc…
Nguyễn Tuân ngồi ở thủ đô Hen-xanh-ky lạnh buốt của Phần Lan mà nhớ về
bát Phở bốc khói nghi ngút chốn Hà Thành. “Tha hương- nhớ quê” là lẽ
phải, thường tình. Với Thiện Kế thì khác, anh nhớ thương quê ngay tại quê
hương, “Tôi đang đứng ở bên hồ mà vẫn thương nhớ Hồ Tây” (Lời nguyện cầu cho Hồ
Tây)… anh ngập vào triền miên những suy nghĩ mông lung: “Gái dinh đào giờ
đây mặc váy, không gánh phù sa/ Các em lên phố làm công bán
hàng (…) Căn nhà rêu, hương trầm, chay tịnh không cánh hoa/ Cả dinh
đào trống rỗng, mặt vườn lỗ chỗ hố bứng cây như dấu đạn cối tung tóe màu đất mới/…Ngửa
lòng tay Tôi nhìn/ Ở nơi xa lắm, Nàng có nhớ dinh đào nữa không” (Với hoa
đào năm cũ)” [2]. Nếu chỉ là những rung cảm nhất thời, Nguyễn Tham Thiện Kế khó
lòng viết lên được những trang văn xúc động nhường ấy.
Cái tôi trữ tình trong Dặm ngàn hương cốm Mẹ đồng thời là cái tôi thấy mình lạc dòng, bơ vơ giữa đô thị cùng niềm khắc khoải hoài tiếc những giá trị văn hóa gắn với không gian làng quê đang dần mai một. Ý thức sâu sắc về sự đổi thay của quê nhà trước xu hướng đô thị hóa, cái tôi tác giả trải bày niềm tiếc nuối trước những cảnh tượng bể dâu: đó là số phận giếng Nhâu bị vùi lấp bởi quy hoạch đường cao tốc, là sự thưa vắng và mất dần nhịp đò sang sông bởi sự xuất hiện những cây cầu. Bếp gas đã thay cho bếp củi, còn đâu màu lam khói rạ, Mẹ thấy “cả không khí giờ đây cũng nhạt nhèo” [1, tr.181]. Từ không gian trung châu nguồn cội đến vùng đất Hà thành ngàn năm văn hiến, tất cả đều trong chiều đổi thay. “Bờ bê-tông đã thay mép cỏ. Sen cũng gầy và bớt thắm, sâm cầm thưa bay lại. Sương mù mau tan, gà không muốn gáy cữ định ngày… Khoả tay xuống nước hồ không ai dám rửa mặt, dẫu cho nước hồ ai đó đã định thay” [1, tr.128].
Hà Nội chỉ còn lại chút
dư quang hiu hắt của máy nghe nhạc quay tay, máy chụp ảnh trùm đầu, loa đồng
thau loe miệng, chiếc đồng hồ cúc cu… Ngõ nhỏ thưa dần tiếng rao ngai ngái của
những người bán dạo, mất dần mùi rau tầm khúc. Lối chơi đào của người Hà Nội
ngày một bớt sành. Hà Nội còn đâu “những lầu son gác tía từng soi bóng Hồ Tây
cùng huý kỵ của những triều vua” [1, tr.124], còn đâu “không gian văn hoá Hồ
Tây gia phong nề nếp và điềm tĩnh” [1, tr. 127] đến độ người hàng xóm không tự
tiện bước chân qua cổng rào nhà khác mà không hắng giọng hoặc thông báo trước.
“Bến khách thương cầu vọng hương hoa” [1, tr.106], “bến chờ đợi, bến hò hẹn, bến
gặp gỡ, bến chia ly” [1, tr.103] gắn với buồn vui xuôi ngược bao kiếp người dần
dà chỉ còn trong kí ức. Những hình ảnh từng gắn bó đến thân thuộc rồi cũng hoá
xa lạ. Viết về đời sống thực tại, Nguyễn Tham Thiện Kế không
ngừng kết nối với vẻ đẹp của lớp ngày tháng cũ. Qua đó, nhà văn gửi gắm ước vọng
neo giữ những giá trị văn hóa truyền thống của quê
hương.
Cũng từ khát vọng neo giữ
vẻ đẹp truyền thống ấy, tập tùy bút của Nguyễn Tham Thiện Kế đã đi từ những
thường nhật của đời sống để nhìn đời sống ở bề sâu. Cái tôi trữ tình tác
giả trầm mình vào đời sống, đau đáu nhớ tiếc trước nguy cơ phôi pha của ngôi
nhà cổ, của giếng làng tuổi thơ ngọt lành kí ức, của bến nước gieo duyên, của
làn Xoan, điệu Gheọ đằm thắm, rạo rực tình đất, tình người… Cảm hứng trữ tình
chuyển từ tự hào, ngợi ca sang trầm tư, lắng đọng. Nguyễn Tham Thiện Kế khao
khát được bộc bạch, được giãi bày cái tôi bản thể trong dòng cảm xúc phức hợp,
đa chiều về đời tư, thế sự. Đó là cái tôi tràn đầy khát vọng hướng về tuổi thơ
và muốn níu giữ những giá trị thiêng liêng còn lại của những vẻ đẹp sắp trở
thành hoài niệm.
Với trái tim nhạy cảm,
giàu trắc ẩn, Nguyễn Tham Thiện Kế nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình với
cuộc sống và với mảnh đất quê hương. Hạnh phúc không phải là những điều
to tát, xa vời mà có thể ở ngay trong những điều gần gũi, bình thường nhất
của nhân tình thế thái. Thông qua cái tôi đầy hoài niệm, Nguyễn Tham Thiện Kế
đã gọi dậy hồn dân tộc, khơi nguồn cái đẹp thiện lành, gióng hồi chuông khẩn
thiết đánh thức tình yêu tha thiết dành cho quê hương và khát khao bảo vệ, gìn
giữ các giá trị văn hoá tiềm ẩn trong cuộc sống đời thường.
Thế giới nghệ thuật kí Nguyễn Tham Thiện Kế được thể hiện với vô vàn cảm xúc khác nhau: có tự hào, có xao xuyến, có tiếc nuối, có xót xa, có hoài thương… nhưng ở trạng thái nào đi nữa, người đọc vẫn cảm nhận được một tấm lòng tha thiết với quê hương. Cái tôi trữ tình trong Dặm ngàn hương cốm Mẹ của Nguyễn Tham Thiện Kế vừa mang tính truyền thống, vừa mang nét hiện đại. Đó là cái tôi vượt qua thực tại xô bồ để trở về với nguồn cội. Qua đó, người đọc thấy được tình cảm yêu mến thiết tha của nhà văn đối với quê hương, đất nước, con người.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Tham Thiện Kế
(2011), Dặm ngàn hương cốm Mẹ, Nhà xuất bản Phụ Nữ.
2. Đỗ Ngọc Thống
(2011), Tản mạn về Dặm ngàn hương cốm mẹ của Nguyễn Tham Thiện Kế,
https://baoxaydung.com.vn/.
3. Nhiều tác giả (2022), Giáo trình văn học tỉnh Phú Thọ, NXB ĐHQGHN.
17/8/2022
Lê Như Tùng
Theo https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét