Nét chấm phá khác của
Thế
Lữ trong thế giới thi ca
Mở rộng phạm vi
quan sát, có thể thấy Thế Lữ còn đóng vai trò người “dẹp loạn”, người “dọn vườn”,
người bắn chặn, phòng ngừa, cảnh tỉnh, cảnh báo những sự lạm dụng, ăn theo Thơ
mới, khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải “tan vỡ”… Nói cho đúng, với bút danh
Lê Ta, Thế Lữ đã tích cực nhập cuộc luận chiến thơ ca ngay từ buổi đầu hình
thành Thơ mới…
Thi sĩ Thế Lữ (6.10.1907
– 3.6.1989), tên thật là Nguyễn Đình Lễ (sau đổi là Nguyễn Thứ Lễ), còn ký bút
danh Lê Ta, Mười Ba Chàng, 13 Chàng, XIII Chàng… Quê nội của Thế Lữ ở làng Phù
Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc địa phận xã Phù Đổng, huyện Gia
Lâm, ngoại thành Hà Nội), sinh tại ấp Thái Hà (nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội).
Thế Lữ theo học chữ Hán từ
sớm, từng học Cao đẳng Tiểu học Bonnal và Thành chung ở Hải Phòng; từ năm 1929
lên Hà Nội theo học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và tham gia tổ chức Tự
lực văn đoàn (1932 – 1939)…
Đương thời Thế Lữ tích cực cộng tác với các báo Phong hóa, Ngày nay, Tinh hoa, Thanh nghị,… gắn bó với các nhà xuất bản Tân dân, Đời nay. Bên cạnh các bài thơ in báo và in thành tập Mấy vần thơ (NXB Đời nay, H., 1935), Mấy vần thơ, tập mới (NXB Đời nay, H., 1941), Thế Lữ còn nổi tiếng ở văn xuôi và hoạt động sân khấu…
Thế Lữ là thi sĩ tiêu biểu
cho hiện tượng “kép ba”, vừa là chủ thể sáng tác Thơ mới (48 bài), vừa đóng vai
nhà phê bình “dẹp loạn” Thơ mới (khoảng 50 bài) vừa là đối tượng được người
đương thời bàn về Thơ mới của mình (khoảng 40 bài)…
Thế Lữ xuất hiện lần đầu
với bài thơ Con người vơ vẩn (1933) và kết thúc là truyện thơ
dài Bức tranh tiên (1936). Thơ mới Thế Lữ hầu hết in trên báo
Phong hóa (1932 – 1936), được tập hợp trong Mấy vần thơ gồm 28 bài (Đời Nay,
1935); chỉnh lý, bổ sung, in lần hai Mấy vần thơ, tập mới (Đời nay, 1941) gồm
47 bài (bỏ 1, thêm 20, thay đổi 6 tựa đề và cách sắp xếp thứ tự)…
Thế Lữ thuộc nhóm những
tác giả tiên phong khơi nguồn Thơ mới (nối tiếp chủ tướng nổ pháo lệnh Phan
Khôi và những Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Huy Thông, Nguyễn Thị Manh Manh,
Hồ Văn Hảo, Nguyễn Vỹ, Vũ Đình Liên…).
Thơ mới Thế Lữ hướng tới
tinh thần duy mỹ, vị nghệ thuật, đề cao cái Đẹp và tư chất nghệ sĩ. Ngay nhan đề
các bài thơ đầu tay của ông như Lựa tiếng đàn, Tình bâng khuâng, Lời than thở của
nàng mỹ thuật, Tiếng sáo Thiên Thai, Cây đàn muôn điệu, Nhớ rừng… đều in đậm sắc
màu lãng mạn, nhấn mạnh cái tôi tự do, tiếng nói trữ tình và sự hòa hợp với
thiên nhiên, đất trời, vũ trụ.
Quan niệm về thơ cũng được
Thế Lữ đúc kết trong phần “Thay lời tựa” thuộc khổ kết bài thơ Lựa tiếng đàn:
Chán nản ư?
Các anh đừng than thở,
Cứ im đi, rồi bảo cho tôi
hay.
Lựa giọng buồn,
tôi sẽ vặn trầm giây,
Và gọi gió, gọi thông,
lên tiếng hoạ.
Năm trước Thế Lữ đã nổi
danh với tập Mấy vần thơ (1935) thì ngay năm sau ông tiếp tục
cho in truyện dài bằng thơ Bức tranh tiên – Duyên Bích Câu. Truyện
thơ này in nhiều kỳ. Mở đầu có mục Mưa hoa (Lời nói đầu) gồm 15 khổ thơ theo thể
tứ tuyệt và mục I- Đời thái bình; mục II- Tú Uyên; mục III- Xuân về; mục IV- Hội
xuân; mục V- Khấn nguyện; mục VI không ghi nhan đề (gồm 23 câu thơ tự do, dòng
thơ thay đổi 6 – 9 chữ); số VII và VIII đều không ghi nhan đề (cộng chung 5 khổ
thơ tứ tuyệt). Số cuối ghi “Còn nữa” nhưng không thấy in tiếp…
Về cơ bản, Thế Lữ thuộc số
những nhà thơ tiên phong khơi dòng và thuộc dòng chủ lưu phong trào Thơ mới, kiến
tạo trường cảm xúc, lối thơ, thể thơ, quan niệm thơ bằng chính những vần thơ.
Thế Lữ đã góp công “dựng
thành nền thơ mới ở xứ này” mà thế hệ những người tiếp nối theo ông có thể khơi
sâu, mở rộng thêm những chiều kích tâm hồn và đời sống hiện thực, hệ thống đề
tài và nội dung, hình thức nghệ thuật.
Chuyển sang thời kỳ cộng
tác với báo Ngày nay (1936 – 1940), Thế Lữ hầu như không sáng tác nữa mà chủ yếu
dồn sức vào hoạt động phê bình, giữ vai trò ngự sử, người phân loại, sàng lọc,
đánh giá, kiểm định thơ ca.
Trong suốt thời gian dài,
với các bút danh Thế Lữ, Leta, Lê Ta, Dr. de Lê Ta, 13 Chàng, Mười Ba Chàng,
ông chốt giữ chuyên mục Điểm sách – Điểm thơ – Tin thơ – Tin văn – Thi thoại, kể
cả nâng cấp giới thiệu những cây bút nổi tiếng, mới lạ…
Bắt đầu từ tháng 4.1934,
bút danh Lê Ta đã dần chuyển làn sang bình luận chuyên biệt về Thơ mới với các
bài trong mục “Cuộc điểm sách” trên báo Phong hóa và chủ yếu trên Ngày nay (Anh
với em của Lan Sơn, Tập thơ đầu của Nguyễn Vỹ, Mơ
màng của Đức Văn, Tình em của Nhuệ Thủy…), cho đến
chùm bài cuối cùng trong các mục “Điểm sách”, “Tin văn… vắn”, “Tin xuân”, “Tin
trong nhà” vào nửa đầu năm 1940 (Bình điểm tập Sóng thơ của
Tôn Nữ Thu Hồng; giới thiệu lối “thơ công cộng” vịnh tranh xuân của Thạch Lam,
Xuân Diệu, Huy Cận, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Tú Mỡ, Lê Ta, Nhất Linh; bình thơ
xuân của Đinh Hùng, Hoàng Điệp, Kim Bội, Nguyễn Đinh Thư, Huy Chúc, Họa Sơn Ẩn;
thuật chuyện thơ vui của nhóm bạn Hoàng Đạo, Nhất Linh, Thạch Lam, Huy Cận, Thế
Lữ, Tú Mỡ, Khái Hưng, Xuân Diệu cùng ứng khẩu chắp vần thơ liên ngâm tiễn tặng
Xuân Diệu vào Sài Gòn “Bỗng nhiên thi sĩ hóa Tây đoan”; phê bình
thơ xuân trên báo Tin mới và thơ Nguyễn Vỹ – Lệ Chi)…
Mở rộng phạm vi quan sát,
có thể thấy Thế Lữ còn đóng vai trò người “dẹp loạn”, người “dọn vườn”, người bắn
chặn, phòng ngừa, cảnh tỉnh, cảnh báo những sự lạm dụng, ăn theo Thơ mới, khoảnh
khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải “tan vỡ”… Nói cho đúng, với bút danh Lê Ta, Thế Lữ
đã tích cực nhập cuộc luận chiến thơ ca ngay từ buổi đầu hình thành Thơ mới.
Chính Thế Lữ đã trở thành
đối tượng đồng thời là người “trong cuộc” qua nhiều kỳ bút chiến – trong đó có
cả những nhà Thơ mới – với Nguyễn Vỹ, Bích Ngọc, Nguyễn Triệu Luật; và lôi cuốn
thêm các nhà văn Nhất Linh, Thạch Lam vào cuộc.
Điều quan trọng hơn, ngay
thời kỳ Thơ mới vừa nảy mầm, Lê Ta đã đăng trên báo Phong hóa một loạt bài đọc
điểm một số tập nằm trong dòng chảy Thơ mới (trong đó có người được Hoài Thanh
– Hoài Chân khắc tên vào Thi nhân Việt Nam như Nguyễn Lan Sơn,
Bàng Bá Lân, Nguyễn Vỹ, Huy Thông)…
Đơn cử trường hợp Huy
Thông với tập Yêu đương (1933), Lê Ta bình phẩm và đi đến lời
kết hài hước đúng mức: “Tôi đọc Yêu đương trong một nơi tĩnh mịch, bên những
người bạn làm việc ở gần mình… Họ thấy tôi là một người kỳ dị nhất trên đời,
đang thích chí vui cười bỗng sinh ra bực tức, rồi một lúc thấy vui cười, nhưng
rồi lại thấy bực tức nữa.
Đó là lỗi của ông Huy
Thông. Sao ông chẳng làm thơ dở từ đầu đến cuối để tôi vứt ngay sách ông đi có
được không. Ông lại lỡm tôi, len vào đó những cái hay làm tôi không nỡ bỏ”
(Phong hóa, 1935)…
Nhìn chung, trên cả hai
chiều khen – chê, Thế Lữ đại diện cho hệ hình quan niệm tư tưởng thẩm mỹ và diễn
ngôn phê bình kiểu mới trên đường khẳng định sự ưu thắng của Thơ mới cũng đồng
thời dụng công nghiêm khắc phê bình, chỉ trích các tác giả và tác phẩm Thơ mới
non yếu, nhạt nhòa…
Với vị thế một trong những
người lĩnh ấn tiên phong và gắn với phong trào Thơ mới qua suốt chặng đường
dài, thơ Thế Lữ đã được hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình đương thời như Nhất
Linh, Phan Nhung, Thạch Lam, Nguyễn Tường Bách, Trúc Hà – Hà Nhân (Trần Thiêm
Thới), Tứ Ly (Hoàng Đạo), Nguyễn Nhược Pháp, P.T.T (?), Hán Quỳ (Huy Cận), Nàng
Lê (Lê Tràng Kiều), Vân Hạc – Linh Nhãn (Lê Văn Hòe), Vương Tử, Trương Tửu, Kiều
Thanh Quế, Hoài Thanh – Hoài Chân, Diệu Anh (Đinh Gia Trinh), Hy Sinh, Lương Đức
Thiệp, Vũ Bội Liêu, Vũ Ngọc Phan, Hoa Bằng… cùng đọc điểm, khảo sát, trao đổi,
luận bình.
Từ phương Nam, Phan Nhung
cũng lên tiếng nhận xét tư chất cái mới và phân tích các đặc điểm thơ Thế Lữ
trong giai đoạn sơ khởi của nền thơ mới: “Từ ngày lối thơ mới xuất hiện đến
nay, các văn sĩ và thi sĩ ta đua nhau làm thơ rất nhiều; nhơn đó mà sản xuất lắm
bài thơ có giá trị.
Như nhiều bài thơ của thi
sĩ Thế Lữ đã đăng ở báo Phong hoá Hà Nội, ai cũng phải công nhận là có thú vị,
đọc lên nghe êm tai thanh nhã, và nhất là có cái thi cảm rất mạnh, xúc động được
cả tâm hồn người đọc. Song, cũng nên nhận rằng phần nhiều thơ đó thường mô phỏng
theo lối thơ tự tình ly tao (poésie lyrique) của các thi sĩ lãng mạn Pháp như
Lamartine, Alfred de Musset, v.v” (Phụ nữ tân văn, 1934).
Điều quan trọng hơn, hai
ông Hoài Thanh – Hoài Chân xếp Thế Lữ ở vị trí mở đầu các nhà thơ mới và tuyển
bảy bài, đứng tốp mười nhà thơ có số lượng bài nhiều nhất (Nhớ rừng, Tiếng
trúc tuyệt vời, Tiếng sáo Thiên Thai, Vẻ đẹp thoáng qua, Bên sông đưa khách,
Cây đàn muôn điệu và Giây phút chạnh lòng), đồng hạng với Nam Trân, Hàn Mặc
Tử, từ đó đi sâu phân tích, luận bình, kiến giải: “Độ ấy thơ mới vừa ra đời. Thế
Lữ như vừng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam.
Dầu sau này danh vọng Thế
Lữ có mờ đi ít nhiều, nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công Thế Lữ
đã dựng thành nền thơ mới ở xứ này” (Thi nhân Việt Nam, 1942).
Giới hạn trong sinh quyển
phong trào Thơ mới, quan điểm lịch sử cụ thể và cái nhìn đồng đại sẽ giúp người
đọc hôm nay tiếp nhận sát đúng thực chất trường hợp “tác giả kép ba” Thế
Lữ.
Việc đặt Thế Lữ trong
sinh quyển phong trào Thơ mới và tiếng nói của người trong cuộc, người đương thời,
“không – thời gian đương thời” góp phần gia tăng tính liên kết, giao thoa, xâm
nhập với các bộ môn khoa học khác (Ngữ văn, Văn hóa học, Xuất bản, Báo chí);
nâng cấp nhận diện hiện tượng Thế Lữ trên căn bản tri thức toàn thể, tổng thể
(nhận diện thơ ca từ chính trị – xã hội, nhìn phong trào Thơ mới từ ý thức chủ
quyền quốc gia và quan hệ Đông – Tây (Việt – Pháp), nhìn trường hợp Thế Lữ từ
truyền thống lịch sử và xu thế định hình nền thơ ca toàn thế giới)…
Nhìn chung, bảng màu hệ thống di sản Thơ mới và phê bình Thơ mới qua trường hợp điển hình Thế Lữ vừa là một hiện hữu đời sống thơ ca, vừa tự thân trở thành giá trị lịch sử văn hóa dân tộc trong thời kỳ hiện đại hóa, hội nhập và phát triển…
15/8/2022
La Nguyễn Hữu Sơn
Nguồn: Báo Giáo Dục và Thời Đại
Theo https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét