Nghe "Một mùa hè dưới
bóng
cây" hát thơm mấy cơn mưa
Nhận được tập truyện “Một mùa hè dưới bóng cây” của Nguyễn Tham Thiện Kế, chưa kịp đọc kỹ, đêm mưa bỗng nghe từ tập truyện ấy vọng ra tiếng hát ấm lạnh lạ lùng, mỗi truyện ngắn trong tập này là một bài hát, nhưng dù về mênh mông thế giới, rộng lớn biển trời, sâu thẳm của mọi khúc ca ấy là “Thân phận con người trước mọi thử thách.!…”. Rồi không đọc nữa để ba đêm lắng nghe, chép lại ba khúc ca lạ lùng, từ cuốn sách này, sau khi bật cười bỗng phải khóc lặng lẽ.
1. Khúc
ca của giọng Nam trầm kể về những truyện ngắn có sự giao thoa tuyệt đẹp bút
pháp hiện thực với bút pháp lãng mạn.
Đây là khúc ca kéo dài nhất,
hát về số lượng truyện ngắn lớn nhất, so với hai khúc ca tiếp theo, được hát bằng
giọng Nam trung và Nam cao không kém phần quyến rũ.
Khúc ca này chọn đêm mưa
to nhất mà thầm thì về các tác phẩm “Lời hẹn mùa hoa cũ”; “Mùa hoa bạc
hà chưa hết ở sơn nguyên”; “Chỉ còn cây và nắng”; “Trái hồng xanh trên tay”;
“Đám cưới hoa dong riềng”; “Mặt người khác”; “Chuyến buýt 16h30”; “Đào phai
theo dấu khói”; “Hoa trắng rụng dòng trong”; “Bóng những tàn hoa lau”.v.v…
Trong khúc hát kì lạ này,
bè trầm là bút pháp hiện thực, với các nhân vật ở đủ nghề nghiệp, lứa tuổi, giới
tính với bao oái oăm, éo le với những thử thách nghiệt ngã. Đó là nhân vật Mí
Chạ trong “Lời hẹn mùa hoa cũ”, anh ta đau lòng đứt ruột khi phải bán đi cún
con – chú cún thuộc dòng chó của người H’Mongz vừa tinh khôn vừa trung thành:
“…Thì cũng lúc gã thấy Mí
Chạ kẹp chai rượu rỗng, ngồi dựa tường đất. Mặt lấm lem, mắt ngầu đỏ.
– Tao nhớ con chó. Cho
tao ngắng nó lần nữa để tao về núi đây…
Sững sờ, thật sự gã đâu
muốn mua con chó của Mí Chạ. Biết Mí Chạ quý nó đến thế thì đâu gã nỡ tước đi
miền vui của lão. Hành trình của gã còn dài chặng. Xuôi Hà Giang xong sẽ vòng
Sa Pa, sang Lai Châu, Điện Biên nữa. Tha lôi cún thế nào đây. Giằng co…” (Trang
15)
Đó là số phận nghiệt ngã
của cô gái H’Mongz có tên gọi “Thuốc Lào”, cô gái làm một nghề mà rất ít cô gái
dám làm: Xe ôm…
Truyện ngắn “Đào phai
theo dấu khói” đề cập đến nạn phá rừng vì thú chơi trọc phú của con người,
và từ sự hủy hoại mới sinh đến sự tha hóa của con người. Ba nhân vật chính Thợ
Cây, Ông già bon sai có biệt danh Chaly, gã trọc bụng phưỡn có cái rốn khổng lồ
– Chỉ ba nhân vật đã tạo thành một thế giới thu nhỏ, xung đột lúc như sóng trên
bề mặt, lúc như sóng ở đáy sông. Giữa bao đổ nát lương tâm ấy, chúng ta vẫn còn
chút hi vọng dù là mong manh:
“Hai ngày bám đường mòn
Thợ cây gặp dấu Chaly lưng núi mây. Trại hoa đào rừng, nơi Chaly duy dưỡng bon
sai. Căn lều vương hương củi thông, mái thân trúc óng lợp thêm cỏ gianh, lủng lẳng
bồ hóng bám đầu lạt buộc như ngọn rong đuôi chó. Món chè Đào lệ hoa còn ấm
trong nồi treo lửng trên bếp lửa tàn. Thứ lệ đào hổ phách, vỏ cứng, ruột quánh,
vừa mới gỡ ra khuyết nhựa. Tinh huyết đào ôm ấp hạt sồi rang nâu sồng. Lù xù
quanh trại hàng café arabica lẫn thân chè shan cao ngẳng, đeo bám loăn xoăn từng
chùm quả củ mài ba cánh như chong chóng, quay quay.
Mũ chỏm long ngoắc chày
giã góc lều, áo ghi – lê treo liếp ván. Rương đinh tán khóa im. Lần theo sơ đồ
định vị những câu đào cổ đang đưỡng những phôi rễ bonsai. Thợ cây chỉ thấy trồi
mặt đá rải dày lá trúc quân tử sáng bạc lắc thắc cách đào quăn như máu chưa kịp
khô. Lẽ nào cả rừng đào phai được các thiền sư Trúc Lâm gieo hạt cùng ông lão
tay chơi quyền anh hạng ruồi đã thành sương theo dấu khói…” (Trang 242)
Nhưng đau đớn và ám ảnh
nhất là số phận bi kịch của nhân vật chị Như Chị lên đơn vị thăm chồng sắp cưới,
đại đội trưởng Thái Hưng vừa gặp đã tạm biệt vợ để ra trận địa, tiếng bộc phá
rung chuyển mặt đất, tìm nhặt mãi, người đại đội trưởng đẹp trai chỉ còn lại
vài kg lổn nhổn trong chiếc xô quân dụng.
Buốt như một lưỡi dao lam
cứa vào trái tim người đọc là cái chết oan ức của cu Nhỡ – chàng trai tốt bụng,
đáng yêu trong tác phẩm “Một mùa hè dưới bóng cây”.v.v… Bút pháp hiện thực
tạo ra bè trầm trong các truyện ngắn kể trên với sự xù xì thô nhám của chất liệu
đời sống nhiều mồ hôi nước mắt, và đôi khi thấm cả máu. Nó phơi bày hiện thực
cuộc sống trong cái nhìn trần trụi, không tô vẽ. Nhưng điều kỳ diệu của các
truyện ngắn này là có buồn đau nhưng không bi lụy. Luôn có ánh sáng thầm lặng
làm nên sức sống lạc quan cho các nhân vật. Ánh sáng ấy tụ lại trong bút pháp
lãng mạn, nằm ở bè cao của khúc hát thứ nhất này. Sự song hành – giao thoa hai
âm điệu ấy với những tỉ lệ khác nhau, đã đem lại cho các truyện ngắn này vẻ đẹp
vừa đau đớn vừa quyến rũ kỳ diệu.
Này đây với mùa hè dưới
bóng cây; “Tưởng người ta đến bắt, cu Nhỡ hốt hoảng cắm xuống vực liệng liệng
như con mực một nắng. Chỉ thấy sóng nhòa váng đỏ sủi bọt bềnh bồng một lát rồi
lại xanh yên. Y như con cá heo nhiễu loạn sóng âm tự tần đâm vào đá ngầm. Bóng
đêm nơi tầng đáy san hô từ từ nhoi lên chuyển mặt biển xanh lam thành tím sẫm
rùng rình” (Trang 322)
Với truyện ngắn “Mùa hè dưới bóng cây”, dù Cu Nhỡ đã chết oan ức nhưng lòng tốt, sức sống tiềm tàng của Cu Vược, của những người dân xóm Chài ấy đã thắp lên ngọn lửa khỏe khoắn trong bóng đêm. Ngọn lửa như bàn tay ấm, lau nước mắt cho chúng ta trước những nghiệt ngã, trớ trêu của số phận. Để trong nắng rát bỏng của mùa hè, chúng ta tìm được bóng cây mát lành.
Còn với truyện ngắn “Bóng
những tàn hoa lau”, bi kịch của chiến tranh tàn khốc hơn kiểu bi kịch thế sự
– Đời tư, đặc biệt là với thân phận người phụ nữ như chị Như, chồng chưa cưới,
đã hi sinh ở lại chiến trường xưa không về Hà Nội, sống bằng nghề làm đệm, làm
gối từ bông lau. Bao xót ca trào dâng khi hình ảnh chị Như đối sánh với những
hình ảnh những tàn hoa Lau phất phơ trước gió biên thùy. Nhưng tình đồng chí, đồng
đội và căn nhà tình nghĩa kia (dù chị không thích ở đó) vẫn như một “điểm tựa”
cho chị, cho chúng ta với bốn chữ “Tình Nghĩa Sắt Son”:
“Ba gian nhà tập thể cũ.
Phất phơ áo quần cũ trên dây phơi thép gỉ, và con cúi độn tóc lủng lẳng như xác
rắn héo. Lững thững, lạc ngàn. Trước mắt tôi rừng cũ hoen mưa nhuốm một sắc hoa
lau ngả bóng tàn giữa đào phai” (Trang 310)
Cốt truyện trong “Lời
hẹn mùa hoa cũ” thật đơn giản, xoay quanh việc mua bán một con chó cún,
nhưng với sự am hiểu sâu sắc văn hóa H’Mongz, tâm hồn người H’Mongz, tác giả
đưa người đọc từ ngạc nhiên này đến thích thú khác. Khi nhân vật Mí Chạ ngồi suốt
đêm ngoài cửa phòng để gặp lại Cún con đã bán cho nhân vật “Gã”. Cuộc hội ngộ mừng
rỡ giữa chủ và chó, cùng việc hai ông cháu Mí Chạ đi tìm “Gã” suốt một năm sau,
để thực hiện lời hứa khiến người đọc rưng rưng bởi cái đẹp, cái thiện vẫn âm thầm
tồn tại, tỏa sáng trong những hoàn cảnh lam lũ, khắc nghiệt.
Một trong những truyện ngắn
hay nhất của tập truyện là “Mùa hoa bạc hà chưa hết ở sơn nguyên”. Nhân
vật chính của truyện là cô gái H’Mongz có cái tên ngồ ngộ “Thuốc Lào” với một
chiếc xe Minsk làm phương tiện hành nghề xe ôm, một đứa con còn đang bú mẹ
để lo lắng, thương yêu, với hành trình làm xe ôm cho nhân vật “Hắn” với bao
tình tiết bi hài, với tính cách cứng rắn mà tình nghĩa, sòng phẳng đến cực
đoan, cô gái ấy như một tứ thơ lạ lùng chợt ngân lên trong đói nghèo, giữa đá
núi và giá rét vùng cực Bắc. “Đôi mắt một mí long lanh nhìn hắn ươn ướt. Ngồi
sau, dù bị thử thách cảm giác, hắn vẫn phải ôm chặt chiếc eo son trẻ (…) Hầy
a…a… tiếng kêu hoang dại lẫn tan trong gió đòn càn. Màu núi, màu hoa bạc hà lướt
trôi trong mùi sữa mùi mật mùi ngải hoang”. Rất nhiều tác phẩm trong tập truyện
này là những “phiên bản” tuyệt vời của Du kí, gắn với những chuyến đi với khát
khao khám phá thế giới và chính mình của nhân vật trung tâm. Với đặc điểm ấy,
truyện ngắn “Mùa hoa bạc hà chưa hết ở sơn nguyên” là một “phiên bản” lạ,
đẹp, đầy sáng tạo của thể loại Du kí – một thể loại mà nhà văn Nguyễn Tham Thiện
Kế đã rất yêu thích và thành công.
Có thể nói ở khúc ca thứ
nhất này, bút pháp hiện thực là “sợi dây” nối cánh diều tác phẩm với mặt đất –
những phạm vi hiện thực được khai thác, phản ánh với bao xung đột nghệ thuật. Để
rồi bút pháp lãng mạn là gió, là nắng đưa “cánh diều” bay lên “bầu trời” Chân
Thiện Mĩ kì diệu.
Trong khúc ca này (và ở
hai khúc ca sau cũng thế), ca từ là ngôn ngữ tinh tế sống động, giàu tính tạo
hình và tính nhạc, vận dụng linh hoạt biện pháp lạ hóa và các thủ pháp chuyển
nghĩa tài tình – thứ ngôn ngữ “Mật ong” được tạo ra bởi rất nhiều “phấn hoa” sắc
thái thẩm mĩ đa dạng, phong phú đến không ngờ. Giai điệu của các khúc ca ấy là
tổ hợp giọng điệu nghệ thuật mang tính đa thanh – Các giọng điệu bình đẳng và
luôn đối thoại cùng nhau ở bề sâu ngôn từ nghệ thuật.
2. Khúc ca thứ hai của giọng
nam trung hát về những truyện ngắn sử dụng bút pháp trào phúng trong tập truyện
này.
Một tác phẩm trào phúng
bao giờ cũng xây dựng nhân vật trào phúng trong tình huống trào phúng, xung đột
trào phúng, với phương tiện nghệ thuật là ngôn ngữ – giọng điệu trào phúng. Có
một số tác phẩm trong tập truyện “Một mùa hè dưới bóng cây” đã mang những đặc
điểm kể trên, để rồi bằng tiếng cười châm biếm mà tống tiễn cái xấu, cái lỗi thời
ra “nghĩa địa” một cách vui vẻ. Đó là truyện ngắn “Quầng tối dưới thông
phong” – Một nhan đề có tính tượng trưng: – Lửa đèn dầu cháy sáng trong
thông phong, nhưng ngay dưới nó có những quầng tối không mấy ai để ý. Cuộc sống
quanh ta cũng thế!
Truyện ngắn trào phúng
này tập trung phản ánh một xung đột lớn; – xung đột giữ bốn chi dành quyền trưởng
họ của Thống tộc. Xung đột ấy được triển khai qua hai sự kiện được miêu tả bằng
bút pháp trào phúng: – Sự kiện họp người đứng đầu bốn Chi họ Thống để bầu trưởng
họ mới; sự kiện tranh cướp đồ thờ tự cùng “xác” nhà thờ Tổ khi hạ giải vì nằm
trong vùng quy hoạch. Đặc biệt xung đột có tính trào phúng kể trên được thể hiện
qua bốn bức chân dung biếm họa, được xây dựng bằng thủ pháp cường điệu nhằm lố
bịch hóa; – Đó là chân dung cụ Thống Đại – cựu Trưởng tộc tuổi 90 tiếc nuối hào
quang quá khứ sắp bị tước đoạt ngay trong cuộc họp họ này; Thống Thượng cựu tướng
công binh tướng mạo Hà Mã, quân phục đeo đầy huân huy chương, câu cửa miệng là
“Tương cho nó quả bộc phá năm lạng cho tao”; Thống Chung là tiến sĩ chuyên tạo
khuôn mẫu bệ xí ở Nga, có “mặt bánh rán năm hào”. Có Slogan gắn với chuyên môn:
“Gạt nước mười quả bóng bàn trôi tuột thì mới chuẩn”; Thống Hạ có tướng mạo tiểu
nhân, vừa tham vừa hèn, câu cửa miệng của ông ta là: “Mày có gì cho tao không?”
Bốn bức chân dung biếm họa
ấy lần lượt được “vẽ” dần cho hoàn chỉnh bằng loạt chi tiết nghệ thuật đắt giá.
Với Thống Thượng đó là chi tiết hắn lăn đùng trước bàn thờ Tổ, giãy đành đạch
giả vờ bị vong tổ tiên nhập vào, hay chi tiết Thống Thượng ăn tiết canh rất thô
tục, tiết canh nhuộm đỏ râu, tay bôi tiết canh đỏ cả huân huy chương…:
“Đợi Thống Thượng vừa ngoảnh
đi, đám đông chi Thống hạ ẩn nấp ngoài tường rào hằm hè xông vào trung cung mạnh
ai nấy vơ nào đỉnh đồng, câu đối, đèn dầu, quạt trần, công tắc điện, mẫm gỗ,
mâm đồng, chân nến, đĩa bát, chiếu, màn. Kẻ có người không. Tranh cướp đồ không
được, chúng quay sang bóp dái, véo ngực, giật tóc đối phương cho phải nhè ra đồ
mới thôi. Hai trai nhỡ, một là tóc hoe, kéo co tấm câu đối, Chẳng đứa nào chịu
lún. Tóc hoe má phính điên tiết lấy rìu định bổ tấm câu đối sơn son ra
làm hai mảnh… Phôi gỗ mít vôi, thớ xoắn vặn, kiệt khí cả mấy trăm năm đã đẩy
ngược lười rìu văng vào ống chân thằng nọ, Máu vọt tia cầu vồng như cắt tiết
gà…” (Trang 85)
Thông qua xung đột, nhân
vật, chi tiết nghệ thuật có tính trào phúng, tác phẩm chua xót phản ánh sự xuống
cấp về văn hóa, tha hóa nhân cách con người vì danh và tiền ở những nơi tưởng
linh thiêng nhất, với một số người tưởng đáng kính trọng nhất. Tiếng cười trong
tác phẩm vỡ ra thành những mảnh nước mắt!
Cùng nằm trong “mạch”
trào phúng này còn có truyện ngắn “Nằm dưới hoa mộc miên”. Thủ pháp tương phản
kết hợp với cường điệu đã tô đậm thêm sắc thái trào phúng vốn thâm trầm cho tác
phẩm: – 108 cây mộc miên được cha ông trồng nhằm tạo phong thủy tốt cho làng,
đã bị chặt 107 cây, sót một cây rỗng ruột không thèm chặt, và đó là “công” là tội
của lão Quắm. Giờ cây mộc miên sót lại ấy được xin phong tặng là Cây Di sản. Ai
cũng bảo cây thiêng! Thực chất với lão Quắm, cây tồn tại bởi cho lão hai lợi
ích: – Cung cấp tầm gửi mộc miên bán ra tiền; nơi khuất giữa hai nhánh cây là
“căn phòng bí mật” cho lão Quắm hành lạc với bao nhân tình. Sự ranh ma quỷ quyệt
của lão Quắm, lòng tham của gã buôn gỗ với bao mưu ma trước quỷ khi đứng trước
cây mộc miên cuối cùng của làng, khiến người đọc rùng mình: – Ở làng quê ấy,
văn hóa và lòng người tha hóa đến như vậy sao? Cái chết của lão Quắm ở cuối tác
phẩm là minh chứng cho sự trả giá, cùng lòng sám hối muộn màng của con người để
khi dục vọng chiến thắng lương tri ấy. Phụ họa cho chân dung biếm họa lão Quắm
là ba nhân vật phụ- ba bức vẽ sử dụng thủ pháp vẽ chấm phá của tranh Thủy mặc
phương Đông với vài nét sơ lược mà chụp đúng cái thần của đối tượng cần khắc họa:
– Gã buôn gỗ; Tay săn ảnh; Người đàn bà có lông mày cạo nhẵn, xăm đen như 2 con
rết sắp lao vào cắn nhau. Ngôn ngữ và giọng điệu mỉa mai, châm biếm tạo ra những
tiếng cười trào phúng sắc hơn dao:
“Xăm lông mày, khăn bịt
miệng chẳng biết nôn khan hay là khóc.
“Ôi đấng cao dày ơi… hái tầm gửi nữa làm chi để chết xác cũng biến thành tầm gửi lửng lơ cha ơi…”[trang 97].
3. Khúc hát thứ 3 của giọng
nam cao hát về những tác phẩm được sáng tác bằng bút pháp huyền ảo – kinh dị.
Bút pháp huyền ảo – kinh
dị trong truyện ngắn “Có một ai trong bóng tối nhìn tôi’ có sức lay động, ám gợi
mạnh mẽ tới bạn đọc.
Với không gian ngôi nhà vắng
chủ ven biển hoang lạnh, chi tiết nghệ thuật thu hút sự chú ý, rồi cảm giác lo
sợ là bàn thờ gỗ xoan bôi dầu điều. Vỏ non sữa bột han rỉ sắt chân nhang lùa cứng,
tấm vải đỏ che bài vị lấm tấm cứt rơi [trang 99], trên đó có hai tấm ảnh của
hai anh em song sinh bị úp mặt xuống bàn thờ, thời gian đêm tối khiến cho khung
cảnh thêm huyền hoặc. Kịch tính dâng cao khi hai hồn ma kia (một là quân giải
phóng, một là lính của Việt Nam cộng hòa) hiện về nhờ họa sĩ vẽ cho hai bức
chân dung, bởi có người thân làm cán bộ xã không cho phép thờ người lính ngụy
trên bàn thờ. Với người mẹ đáng thương kia, đứa con nào ngã xuống trái tim mẹ
chẳng chảy máu dù nó khoác áo “bên này” hay “bên kia” ?! Bút pháp huyền ảo –
kinh dị đã khiến người đọc phải rùng mình thêm lần nữa bởi mùi xương người cháy
bốc lên trong bếp:
“- Mạ anh hôm nay hẳn
cũng đi vắng? – vầng, đi vắng hắn ở thế giới người sống. Mạ đang lạc lối đi tìm
anh em tôi dưới cõi âm. Tôi ngó thấy mạ, nhưng mạ không thấy chúng tôi”.
Bỗng anh ta nhảy dựng,
nhao ra cửa, ho sặc sụa. Cơn ho thốc lên, xoắn vặn cuống họng.
– Có mùi xương cháy.
Xương người cháy [trang 103],
Bằng bút pháp huyền áo –
kinh dị, bức tranh hiện thực được soi chiếu, khám phá ở những chiều kích khác.
Nó không chỉ đem lại hiệu quả “lạ hóa” cho thế giới nghệ thuật được miêu tả mà
còn khám phá hiện thực ở những tầng bậc sâu thẳm hơn, nơi yếu tố tâm linh hiện
hữu. Bằng hiệu quả nghệ thuật đặc sắc này, nỗi đau Hậu chiến được lý giải, phản
ánh sâu sắc hơn và cũng đau đớn hơn.
Bút pháp huyền ảo trong
truyện ngắn “Người tình Celadon” đưa chúng ta vào một thế giới chập chờn,
song hành giữa con người và cổ vật ám ảnh khi đọc:
“Chờ đợi chủ nhà cho tường
dung nhan chiếc bình tỳ bà, hậu của các bà hoàng Celadon thời Lý, chị cố thủ
trong ghế bành màu rượu chát, ngắm thêm lần nữa chiếc đĩa Tống, trước khi từ biệt
nó. Cổ vật, không đơn giản là gỗ gốm sứ ngọc vàng kim cương, nó chìm trong máu
lửa vẫn giữ được dáng hình, danh phận. Nghiêng ánh lò sưởi dội lên từng nét
cánh mẫu đơn, mỗi khúc vặn hoa văn thừng sáng bừng tan chảy thành dòng xâm lấn
xuống hai chân đang râm ran hơi ấm. Khói nến hương trầm quyện hơi rượu lẩn mùi
thuốc hồng hoang của những món đồ cổ mang dấu thời gian đằng đằng, chị ngỡ mình
đang tham gia buổi hiến tế giữa đá ong và nâu trầm gỗ dái ngựa.” (Trang 418)
“Nửa bên trái của khuôn mặt”
khiến tôi ám ảnh. Trong truyện ngắn này, nhân vật Nàng chỉ yêu thích ngắm
nhìn nửa bên trái của gương mặt Gã. Một câu hỏi được đặt ra: – Tại sao lại cứ
phải mặt bên trái? Đến tận cuối tác phẩm này mới hé lộ một sự thật lạ lùng: – mặt
bên trái của anh rất đẹp. Mặt bên phải của anh rất xấu: – Trần trụi và thô lỗ.
Gương mặt ấy xuất hiện như một biểu tượng nghệ thuật cho tính hai mặt của nhân
cách con người. Riêng với truyện ngắn “Mưa trong cửa sổ trời” bút
pháp huyền ảo đã xáo trộn thời gian, đồng hiện không gian, đồng hóa ảo và thực
để rồi cuối cùng kín đáo gửi gắm một thông điệp nghệ thuật: – Có cái tất yếu
nhưng ít ỏi và mờ xa lắm. Đôi khi sự ngẫu nhiên, may rủi có lí và phi lý làm
nên thân phận của chúng ta. Chúng ta làm chủ được bao nhiêu phần trăm trong số
phận của mình?!
Cả một seriss truyện lấy
gương mặt người làm biểu tượng khám phá, ngoài “Nửa bên trái của khuôn
mặt” chúng ta còn chứng “Thấy lại mặt người”, “Mặt người
khác”, “Dưới mặt người” với nhiều tầng vỉa hàm ngôn không kém phần đặc
sắc.
Mưa đêm tạnh thì tiếng
hát dừng, tôi rụt rè trò chuyện cùng cuốn sách:
– Sách vừa hát đến ba
khúc ca, giai điệu đẹp, ca từ chau chuốt, tinh tế và sang trọng, vậy nói đến tận
cùng chủ đề của ba khúc ca ấy là gì?
– Thân phận con người!
– Nghe kỹ thì thấy có sự
hiểu biết sâu sắc về văn hóa một số vùng miền, nghệ thuật ẩm thực, tâm lí phụ nữ….,
sách học ở đâu mà giỏi thế?
– Học từ nhà văn viết
sách ấy!
– Nghe nói nhà văn Nguyễn
Tham Thiện Kế dành tới gần 20 năm để viết, chỉnh sửa cuốn sách này. Vì sao phải
cần đến gần 20 năm?
– Vì hai lẽ: – Thứ nhất
rượu hạ thổ càng lâu càng ngon. Đồ cổ càng lâu năm càng quý; Thứ hai nhà văn
này không mắc bệnh háo danh, ăn xổi. Đích viết của ông nhằm tới là vì ý nghĩa
trường phát của văn chương, một lý do tối thượng để nó song hành với đời sống
con người.
– Hình như phần lớn tác
phẩm trong tập truyện này phảng phất bóng dáng của Du kí – một thể loại mà nhà
văn này đã rất thành công với cuốn “Đợi chị về tưới rượu bến sông”?
– Cũng có thể nói như thế!
Nhưng quan trọng hơn, văn là đời, có ai ngồi im không giao tiếp, không đi lại,
gặp gỡ, yêu thương hoặc căm ghét, gắn bó hoặc xung đột, để từ đó mới sáng lên
cái điều nhà văn muốn nói? Ngay cả khi anh (chị) không bước chân ra khỏi nhà
thì vẫn đang “Đi” trong tư tưởng, trong tưởng tượng…
Cuốn sách quay lại hỏi
tôi có chút kiên bạc.
– Anh là nhà phê bình văn
học đang viết bài về tôi?
– Không. Tôi chỉ nghe
sách hát rồi ghi chép lại, đôi khi bình phẩm tí chút mà thôi…
– Nên thế, tác phẩm hay
là cấu trúc Động và Mở, có nhiều tầng nghĩa hàm ẩn, nhiều khoảng trống chờ người
đọc, đầy sáng tạo. Đừng bao giờ xác quyết như chân lý đang nằm sẵn trong túi
các vị ấy…
– Nếu vậy, nhà phê bình
văn học như nhà thám hiểm, vẽ lại vùng đất mình khám phá theo cảm nhận hạn hẹp
của riêng mình?!
– Cũng phải, mỗi tác phẩm
hay là một biển khơi đang vỗ sóng, dưới đáy sâu giấu bao bí mật, các anh cũng
chỉ múc được vài gáo nước rồi từ đó nói về đại dương…
Ban đầu tôi hơi bực vì
cái mặt kiêu kiêu của cuốn sách, rồi ngẫm nghĩ thì thấy sách nói cũng phải, đặt
tay rồi chạm ngực vào các trang văn phập phồng nổi sóng ấy., thấy gió lịch sử
thổi lộng, các thân phận con người cần cù và dũng cảm, khổ đau và hi vọng đang
vịn vào câu chữ đi tới ước mơ của mình. Vẫn cứ đi qua mồ hôi, nước mắt, đôi khi
cả máu mà chẳng biết có đến được không?!
Gấp cuốn sách lại, những cơn mưa trong câu chữ bay lên bầu trời, mưa dữ dội hay thơ mộng, chân thật hay Liêu trai đều mặn chát.
4/11/2023
Nguyễn Đức Hạnh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét