Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

Nhật Bản duy tân 30 năm 2

Nhật Bản duy tân 30 năm 2

Chương VI. TRÊN ĐƯỜNG CHÍNH TRỊ

Đừng thấy hạng dân vô quyền nằm dưới ở trong một xã hội mà cho là thường! Hạng ấy đã có óc khôn, nảy ra sức mạnh và ý muốn, thì sức mạnh ý muốn đó phăng phăng đi tới, dầu thành đồng núi sắt cũng không cản được. Bây giờ ta thử xem họ vùng vẫy trên đường chính trị, tức là xét cái lai lịch của chế độ Hiến pháp nước Nhật vậy.

Đọc qua mấy chương ở trên rồi, chắc hẳn trong trí độc giả tự nhiên nảy ra cái cảm giác nhất định rằng Nhật Bản được duy tân tự cường, chính là do nơi dân chúng khua động thành phong trào xây dựng lên cơ sở. Đầu hết là sức dân, vua hiền quan sáng là sức thứ hai thôi.

Quả có như vậy thiệt.

Phàm một xã hội nhân quần được văn minh tấn hóa, phần nhiều khi là nhờ có một số ít người chí khí thức thời đứng lên kêu gào dìu dắt quần chúng mà ra. Hạng đó cũng như hột giống, nó có gieo vãi trước, mới có nẩy mầm đâm ngọn, cây xanh lá tốt sau. Đã cần có hạng tiên phong như thế phất cờ đi trước, song cũng lại cần họ phải có can đảm thiệt hành cái chủ nghĩa của họ cho kỳ được, cho tới cùng; chớ nếu có chí khí kiến thức mà chỉ nói rồi thôi, thì có ích lợi gì cho nhân quần xã hội đâu. Hạng người như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Phủng của mình ở đời Tự Đức chẳng phải là bực chí khí thức thời đáng yêu đáng kính là gì; nhưng chỉ tiếc mấy ông biết dùng có một cách là dâng sớ điều trần mà thôi, ngoài ra không cố ráng làm sao giục lòng thức tỉnh quốc dân và tự mình hoạt động, thành ra rốt lại mấy ông uổng mạng, mà chỗ thức thời của mấy ông cũng vô ích cho việc đời. Nếu đám người chí khí thức thời ở Nhật Bản bảy tám chục năm trước cũng thế, thì làm gì có nước Nhật Bản như ngày nay!

Sự nghiệp duy tân nước họ sở dĩ xây dựng lên được, chính bởi cái sức của đám “Hạ ban Phiên sĩ” làm chủ chốt.

Thế nào là “Hạ ban Phiên sĩ”?

Khoảng trên đầu sách, đã có chỗ nói chế độ phong kiến ở Nhật từ thế kỷ XII (Tây lịch) trở đi, trên cao hết là Thiên hoàng chỉ làm vua hư vị vô quyền, trong nước có trên 260 chư hầu hay là Phiên chúa 藩主 [Hanshu], đều thuộc quyền thống trị của Tướng quân, là một võ gia có thế lực hơn hết, dựng ra Mạc phủ, truyền nối đời đời, nắm trọn quốc chính trong tay, như kiểu mấy ông bá chủ ở đời Chiến Quốc bên Tàu vậy. Xã hội có ba giai cấp, là quý tộc, sĩ tộc và bình dân. Bậc sĩ là những người có chức nghiệp hay là có học thức. Đây nói về hạng Hạ ban Phiên sĩ, (下班藩士) tức là chỉ vào bậc sĩ ở trong nước Phiên mà lại ở vào lớp dưới. Nguyên là mỗi phiên bang, có ông Phiên chúa (người trong quý tộc), làm vua cai trị, bầy tôi phò tá đều là lão thần và phiên sĩ, cha truyền con nối, làm thần thuộc đời đời. Phiên sĩ chia ra có thượng ban (上班) và hạ ban (下班), nghĩa là bực trên, bực dưới. Phiên sĩ bực trên là số ít mà nhà thì giàu, chức thì lớn, chỉ giúp đỡ chính quyền trong phiên bang, chớ họ không làm sinh nghiệp gì khác hết. Còn hạ ban bực dưới chiếm số rất đông, phần nhiều nhà nghèo, nhưng có học thức tài cán, có tâm chí siêng năng, nhưng vẫn phải khuất phục trước mặt đám thượng ban luôn luôn.

Người có tài năng học thức mà bị đè ép khuất phục, không được mở mặt dương mày, thì còn gì bất bình hơn? Bấy lâu, đám hạ ban phiên sĩ vẫn chứa lòng bất bình; thường ráng phấn đấu và tìm cơ hội để thi thố tài năng của họ. Từ giữa thế kỷ XVIII, họ giao tiếp người Lan, nghiên cứu sách Lan, biết được chỗ tài giỏi của học thuật Tây phương và tình thế các nước, liền vùng trỗi dậy ngay từ hồi bây giờ hoặc kêu gào sửa sang chính trị, hoặc truyền bá tân học cho dân; thế là cái mầm duy tân của Nhật nhờ có đám sĩ tộc thức thời đã ươm hột một trăm năm trước rồi vậy.

Dẫn mãi tới lúc đề đốc Bá Lý qua, Mạc phủ cả quyết khai quốc, cho đến khi Minh Trị Thiên hoàng thống nhất cả nước rồi thi hành công cuộc duy tân trong 30 năm, đem Nhật Bản đặt lên ngang hàng Âu Mỹ, bao nhiêu những người bôn tẩu quốc sự, sáng tạo duy tân, đều là hạ ban phiên sĩ hết thảy. Nhà giáo dục quốc dân như Phúc Trạch Dụ Cát 福澤諭吉 [Fukuzawa Yukichi], Trung Thôn Kính Vũ 中村敬宇 [Nakamura Keiu] mà độc giả đã biết, chính là hạ ban phiên sĩ, nhà chính trị đại danh như Đại Ôi Trọng Tín 大隈重信 [Okuma Shigenobu], Y Đằng Bác Văn 伊藤博文 [Ito Hirobumi], cũng là hạ ban phiên sĩ, anh hùng như Lục tướng Nãi Mộc 乃木陸将 [Nogi Rikushou], Hải tướng Đông Hương 東郷海将 [Tougou Kaishou], cũng là hạ ban phiên sĩ nữa. Tóm lại, chính hạng người ở bực dưới của xã hội Nhật, đã đưa quốc gia Nhật lên cao.

Đừng thấy hạng dân vô quyền nằm dưới ở trong một xã hội mà cho là thường! Hạng ấy đã có óc khôn, nảy ra sức mạnh và ý muốn, thì sức mạnh ý muốn đó phăng phăng đi tới, dầu thành đồng núi sắt cũng không cản được. Thì Nhật Bản nhờ sức mạnh ý muốn của đám hạ cấp sĩ tộc mà trở nên văn minh hùng cường đó chớ gì?

Sức mạnh ý muốn của dân họ tràn lan bày tỏ ra đủ các phương diện: Chương trên, ta đã thấy họ sốt sắng tấn tới trong trường giáo dục; bây giờ ta thử xem họ vùng vẫy trên đường chính trị. Mà xem họ vùng vẫy trên đường chính trị, tức là xét cái lai lịch của chế độ Hiến pháp nước Nhật vậy.

DÂN QUYỀN LÚC MỚI KHỞI SỰ DUY TÂN

Độc giả đã rõ sự tích hồi Minh Trị Thiên hoàng quyết ý duy tân, ngài dắt các vị công khanh chư hầu làm lễ tế cáo trời đất thần minh mà thề 5 điều, thì chính điều thứ nhất là thề “rộng mở hội nghị, muôn việc quyết định ở nơi công luận”. Thế là rõ ràng vua Minh Trị tôn trọng dân quyền dư luận và ngay từ ban đầu đã có chủ tâm dựng lên chế độ Hiến pháp cho nước Nhật vậy.

Liền đó triều đình sắp đặt lại, gọi là Thái chính quan 太政官 [Daijoukan] tức là trung ương chính phủ, ở trong chia ra là 7 cục [Kyoku]. Dưới thì đặt ra hai chức là Nghị định 議定 [Gijou] và Tham dự 参与 [Kinyo], dùng để hỏi han bàn định triều chính. Hạng này lựa chọn hoặc là phiên chúa, hoặc là phiên sĩ có tài năng danh vọng thì được, chớ không phân quý tiện gì. Thứ lại đặt ra Trưng sĩ 徴士 [Choushi] và Cống sĩ 貢士 [Koushi], do các phiên chúa kén chọn tấn cử về triều, phiên lớn 3 người, phiên nhỏ 2 người hay một người, triều đình dùng làm quan hạ cấp nghị sự, tức như hạ nghị viện sau này, còn hạng trên thì như thượng nghị viện.

 

BẢN VIÊN THOÁI TRỢ 板垣 退助 [Itagaki Taisuke] (1837-1919) - Một người vận động dân quyền rất hăng hái trong buổi đầu duy tân và tạo lập ra chính đảng trước hết

Đồng thời, vua Minh Trị lại định rõ 3 quyền riêng nhau. Ngài hạ dụ rằng: “Quyền lực trong nước từ đây nhất thiết đều thuộc về một mình Thái chính quan, khiến cho không có mối lệ chính lệnh do cả hai ngả ban ra như trước kia nữa. Còn quyền lực của Thái chính quan cũng chia riêng ba quyền Lập pháp 立法[Rippou], Hành pháp 行法 [Gyouhou] và Tư pháp 司法 [Shihou], để cho đứt hẳn chỗ lo thiên trọng chuyên chế”.

Vậy là Minh Trị chính phủ khơi nguồn đắp móng Hiến pháp cho quốc dân Nhật từ đây, mà ở trong có ý noi theo cái thuyết “Tam quyền phân lập” của Montesquieu nước Pháp, rất là rõ ràng.

Qua năm Minh Trị thứ 2, có Tập nghị viện 集議院 [Shuugiin] mở ra, cũng là nơi nghị sự của các phiên sĩ do nhà nước chọn lựa sung vào. Sở dĩ những người nghị sự mà do nhà nước chọn lựa, không có lẽ gì khác hơn là bởi dân chúng mới ở chế độ phong kiến chuyên chế vừa thoát ra khỏi, tự nhiên trong sự thay cũ đổi mới, đang còn bỡ ngỡ, chưa đủ ngày giờ rèn tập tư cách chính trị, cho nên chưa tập cách nhân dân bầu cử được.

Dầu sao mặc lòng, ngay từ lúc ban đầu, chính phủ Minh Trị sắp đặt như thế, kể ra cũng khéo tôn trọng dân quyền công nghị lắm. Nhờ lấy sự tôn trọng dân quyền công nghị làm bia, mà chính phủ thi hành được mọi việc cải cách rất là mạnh bạo. Ví dụ năm Minh Trị thứ 4, bỏ hẳn các phiên bang, đổi ra làm huyện; lại tuyên bố Tứ dân đồng quyền 四民同権 [Shimin Douken] (sĩ, nông, công, thương có quyền như nhau), ấy đều là việc cải cách mạnh bạo; vì nước Nhật vốn là nước phong kiến, có giai cấp sang hèn đã lâu đời rồi, mà nay bỗng chốc xóa bỏ đi được, thật là hay.

Lúc ấy có lắm kẻ thấy chính phủ cải cách táo bạo quá như thế, thì tỏ ý bất bình, nổi lên làm loạn. Nhưng chính phủ nhờ có những ông chúa phiên thế lực, tán thành duy tân, xúm lại giúp sức, thành ra công cuộc cải cách cứ việc tấn hành, mà mấy đám phản loạn cũng dẹp được mau.

Bởi nhờ cái oai của các ông cường phiên, chính phủ chế phục thiên hạ được, rồi lại bởi sự bãi phiên, nên chính phủ phải thâu dụng các ông vào những địa vị trọng yếu ở trong triều, trong nước. Trong số này, hai cường phiên Tát và Trường có thế lực lớn hơn hết. Sau khi cơ sở của chính phủ lần hồi vững vàng, vây cánh của hai cường phiên đó giữ lấy những ngôi thứ trọng yếu, rồi tác oai tác phúc, làm cho cái tinh thần ban đầu của chính phủ tôn trọng dân quyền công nghị, nay phải lần mòn tiêu mất đi. Bè đảng cường phiên người ta gọi là Phiên phiệt 藩閥 [Hanbatsu] lại muốn dựng cờ nổi trống, chuyên chế quốc chính triều cương, không coi dư luận ra gì nữa hết.

Bọn kiến thức bất bình lắm; họ khua dậy nhân tâm, để đòi dân quyền và hối thúc Hiến pháp. Đây là một thời kỳ dân Nhật hoạt động trên đường chính trị rất hay.

Năm Minh Trị thứ 6, triều đình bàn tính chính sách đối phó với nước Hàn (tức Cao Ly), thành ra trong triều có cuộc chia rẽ lung tung, kẻ đi người ở. Cả bọn Tây Hương Long Thịnh 西郷隆盛 [Saigo Takamori], Phó Đảo Chủng Chần 副島種臣 [Soejima Taneomi], Bản Viên Thoái Trợ 板垣退助 [Itagaki Taisuke], Hậu Đằng Tượng Nhị Lang 後藤象二郎 [Gotou Shoujirou] và Giang Đằng Tân Bình 江藤新平 [Etou Shimpei] đang làm chức Tham dự tại triều, cùng rủ nhau từ chức, vì họ chủ trương nhất định đánh Hàn, nhưng triều đình không chịu nghe. (Ta coi Nhật mới khởi sự duy tân có sáu năm, mà muốn cử binh đánh người, cái dân khí hăng hái gan góc có ghê không?) Còn bọn Nham Thương Cụ Thị 岩倉具視 [Iwakura Tomomi], Đại Cửu Bảo Lợi Thông 大久保利通 [Ookubo Toshimichi], Mộc Hộ Hiếu Doãn 木戸孝允 [Kido Takayoshi] đều chủ trương hãy khoan sinh sự với ai, nên lo nội chính của mình sửa sang hẳn hoi đã rồi sẽ hay; bọn ấy ở lại trong triều như thường.

Trong bọn từ chức bỏ đi kia, có bốn ông vẫn ở luẩn quẩn tại Đông Kinh để hoạt động chính trị bên ngoài, duy có Tây Hương Long Thịnh trở về quê hương Lộc Nhi Đảo [Kagoshima] mở trường tư, rèn tập thanh niên về mặt chính trị. Vì sự yêu cầu dân quyền mà ba năm nữa Tây Hương cử binh đánh lại triều đình; câu chuyện ấy sẽ nói sau.

Giờ hãy nói tiếp theo câu chuyện trên. Giữa lúc trong triều mới xảy ra việc chia rẽ có kẻ ở người lui, thì có một người đi du học bên Anh bấy lâu, nay trở về triều, tâu bày sự tình Tây phương. Người đó hết sức ngợi khen chế độ nghị viên của Anh quốc, nói rằng Nhật Bản nên bắt chước; nếu không thì quyền chính cứ ở mãi trong tay chuyên chế của một hai ông cường phiên hoài. Chính phủ nên làm sao mở rộng cái tinh thần tôn trọng công nghị như hồi ban đầu ra, để cho quốc dân có quyền tham chính mới được.

Nhân đó, qua năm Minh Trị thứ 7, ngày 18 tháng Giêng, họ Bản Viên 板垣 [Itagaki] cùng bảy người bạn đồng chí, dâng tờ biểu lên triều đình, xin nhà vua mau mau mở ra nghị viện dân tuyển (nghị viện do dân bỏ thăm bầu cử). Lại đem tờ xướng nghị đó đăng báo, công bố cho quốc dân hay. Bản Viên đặt tên rõ ràng Dân tuyển nghị viện 民選議員 [Minsen Giin] là có chủ ý chỉ rõ cơ quan ấy thay mặt quốc dân, tự dân bầu cử ra, chớ không phải như Tập nghị viện kia là Quan tuyển nghị viện 官選議員 [Kansen Giin] do nhà nước lựa chọn cắt cử.

Lúc này bọn chí sĩ muốn hiệp nhau lại thành ra chính đảng 政党 [Seitou] như ở các nước Âu Mỹ, song còn e ngại một chút, là vì thuở đó hai tiếng “đồ đảng” còn phạm nhằm quốc cấm; nhà nước coi giống như nghĩa mưu phản, hễ ai phạm thì trị tội và nêu tên ra giữa chợ búa. Muốn tránh cái họa đó, nên chi bọn chí sĩ kết đảng, chỉ tự xưng là Ái quốc công đảng 愛国公党 [Aikoku Koutou], để chỉ tỏ ra mình chẳng phải là đồ đảng phi vi hay là đồ bất chính vậy.

Tới đây, trí thức dân Nhật đã mở ra lần lần và sự giáo dục hợp quần cũng tấn tới khá rồi. Nhất là nhờ có Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi) chuyên việc dịch thuật, ra sức cổ động Chủ nghĩa Bình dân. Ngoài ra, lại có người dịch Xã hội khế ước (Contrat Social) của J. J. Rousseau và tờ Nhân quyền tuyên ngôn (Déclaration des Droits de l’Homme) của nước Pháp, để thức tỉnh quốc dân, cho biết tôn quý nhân quyền. Những sách ấy, dân nô nức mua đọc, thành ra cái phong trào Dân quyền tự do nổi lên mạnh lắm. Dầu cho trong chính phủ có những tay cường phiên chuyên chế, không trọng dư luận, nhưng dân sẽ bắt buộc phải trọng; không muốn cho lập chính đảng, nhưng rồi cũng có chính đảng cứ lập ra.

CHÍ SĨ ĐỔ MÁU VÌ DÂN QUYỀN VÀ CHÍNH ĐẢNG

Đây bước vào cái thời kỳ dân Nhật hoạt động chính trị một cách hăng hái dữ tợn, vì dân quyền và chính đảng mà có nhiều chí sĩ đến đổ máu uổng mình.

Hồi này họ Mộc Hộ 木戸 [Kido] ở trong chính phủ (làm chức Tham dự), ngầm kín làm đầu cho một bọn theo chủ nghĩa “Tiệm tấn Lập hiến” (lần hồi tấn lên chính thể Lập hiến). Còn họ Bản Viên từ lúc bỏ chức Tham nghị trở về vườn, ở trong dân gian, thì công nhiên làm đầu của phe tự do cấp tấn, muốn có nghị viện dân tuyển cho mau.

Tháng 2 năm Minh Trị thứ 7, một người trong đám cùng Bản Viên từ chức Tham nghị (gọi là Tham dự cũng thế) hồi năm ngoái, là Giang Đằng Tân Bình 江藤新平 [Etou Shimpei], lật đật trở về quê quán ở Tá hạ 佐賀 [Saga]. Bọn sĩ tộc ở đây tôn Giang Đằng lên làm thủ tướng rồi cử binh chống lại chính phủ, đòi chính phủ phải gấp thi hành Hiến pháp. Chính phủ thấy vậy, giận lắm, thành ra cả phe Bản Viên cùng chính phủ tuyệt tình, trở nên thù nghịch nhau.

Tức thời Bản Viên cũng từ giã Đông Kinh trở về quê hương ở Thổ Tá 土佐 [Tosa] mà tuyên truyền thức tỉnh quốc dân; luôn dịp ép đòi chính phủ mau mau thi hành chính sách tự do tấn bộ. Bấy giờ ở Tá Hạ và Thổ Tá có Lập Chí xã 立志社 [Risshisha] dậy lên, nương theo lời tuyên thệ của Ái quốc công đảng mà rèn tập tính cách tự trị cho dân. Lại giãi bày những lẽ dân quyền tự do rất là hăng hái. Đám thanh niên nhập xã có tới bốn năm ngàn người. Thành ra Lập Chí xã cùng với trường tư học của Tây Hương Long Thịnh lập ra tại Lộc Nhi Đảo, là hai đảng đồng chí, găng với chính phủ trung ương, làm cho chính phủ phải kiêng nể.

Nhờ có Ái quốc công đảng của Bản Viên xướng lập trước hết và truyền hịch trong nước, lần lần các nơi đều có những hội xã chính trị mở ra, có tính chất và tôn chỉ đại khái như Lập chí xã trên đây.

Qua năm Minh Trị thứ 8, phe Bản Viên và Mộc Hộ (lúc này Mộc Hộ cũng mới từ chức về vườn) mời các hội xã nhóm hội chung ở Đại Bản 大阪 [Oosaka], rồi công bố hai điều đại cương như vầy:

Cái thuyết của chúng tôi nhất định, là cầu có một chính phủ do nhà vua lập luật (nghĩa là tránh những mối tệ chuyên chế của một hai cường phiên).

Chúng tôi muốn thực hành cái thuyết ấy, cho nên phải đòi có chế độ Nghị viện, để cho minh bạch luật phép trong thiên hạ.

Rồi đó Mộc Hộ cùng Bản Viên lại trở vô chính phủ làm chức Tham nghị như cũ. Nhà vua sai ông cùng với Đại Cửu Bảo Lợi Thông và Y Đằng Bác Văn hợp nhau khảo cứu chính thể. Vua Minh Trị hạ chiếu, có câu: “Chính phủ Lập hiến lần hồi dựng lên, trẫm và chúng dân đều được nhờ phúc”. Liền khi ấy, chính phủ đặt ra Nguyên Lão viện 元老院 [Genrouin] và Đại Thẩm viện 大審院 [Daishinin]; bấy giờ là ba quyền thiệt và phân lập.

Từ đó, thuyết Dân quyền tự do càng thịnh; khắp nước chỗ nào cũng lập hội kết xã và nghị luận chính trị nổi lên rất cao.

Tháng 6 năm ấy (năm Minh Trị thứ 8), chính phủ mở ra hội nghị địa phương của nhà nước, cho mỗi phủ huyện có hai người thay mặt dân đi dự hội, và cho các nhà làm báo được dự nghe. Song hồi này có nhiều tờ báo nói giọng kịch liệt quá; họ công kích chính phủ chỉ kiếm chuyện chần chừ, không mau đặt nghị viện dân tuyển. Chính phủ phải giữ quyền mình cho nghiêm, liền ra điều lệ làm báo, trị tội phỉ báng và kiểm thúc ngôn luận.

Đồng thời, giữa chốn triều đình, cũng nổi lên chống nghịch nhau về chủ nghĩa. Ví dụ Đại Cửu Bảo vẫn chủ tiệm tấn, còn Bản Viên thì cứ chủ cấp tiến luôn luôn.

Vì chỗ bất đồng ý kiến đó nên chi qua tháng 10, Bản Viên lại từ chức Tham nghị, lui về dân gian, cho dễ ra sức thúc giục nhân tâm mở mang dư luận.

Bọn chí sĩ cấp tấn nôn nao đòi ban Hiến pháp mở nghị viện ngay, song chính phủ xét chưa phải thời, nên cứ ước hẹn dần dà mãi. Bởi vậy, đến tháng giêng năm Minh Trị thứ 10 (nhằm 1886), phe trường tư ở Lộc Nhi Đảo, tức là phe chính trị cấp tiến, đồ đảng của Tây Hương Long Thịnh, tôn Tây Hương lên làm tướng, cử binh làm loạn, hỏi tội chính phủ. Ta nên biết bây giờ Tây Hương làm ông chủ trường tư, làm một nhà hoạt động chính trị, chớ lúc cuối đời Mạc phủ cách mười mấy năm trước, ông ta đã từng làm tới Lục quân đại tướng rồi. Bọn bất bình thấy ông có tướng tài, nên họ tôn ông làm tướng, để cự với chính phủ. Song chúng quả bất địch, họ Tây Hương bại trận mà chết. Ban đầu chính phủ cho ông ta là phản thần, nhưng sau 12 năm, nhà vua nghĩ lại mà thương, bèn phong tước hầu cho con ông. Tại kinh thành Đông Kinh có dựng tượng đồng kỷ niệm, chính Tây Hương là người tử tiết vì chính trị đầu hết.

Tây Hương phẫn uất vì triều chính bị bọn Phiên phiệt chuyên quyền, nên khi cử binh khởi nghĩa, có phát ra mấy vần thơ rất hùng. Bài thơ truyền tụng qua tới nước Nam mình, không mấy ông nhà nho không ngâm nga thán phục; có ông khoái ý, dịch ra quốc văn. Ấy là bài:

大聲呼酒上高樓 雄気欲呑五大州 一片丹心三尺剣 揮拳先斬佞臣頭

Đại thanh hô tửu thướng cao lâu, Hùng khí dục thôn ngũ đại châu. Nhất phiến đan tâm, tam xích kiếm, Huy quyền tiên trảm nịnh thần đầu.

Tôi thấy ông Á nam Trần Tuấn Khải dịch[1]:

Hét lớn lên lầu đánh chén say, Khí hùng như nuốt năm châu ngay. Nột mảnh lòng son ba thước kiếm, Lấy đầu quân nịnh cho biết tay.

Ông Nguyễn Bá Học dịch ra điệu lục bát:

Năm châu ngon lắm ớ bay! Rượu đâu? Cho mỗ bước ngay lên lầu. Lòng son, ba thước lưu cầu, Ra tay trước hãy chém đầu thằng gian.

Trong lúc Tây Hương cử binh, bọn bất bình ở các nơi cũng túa lên hưởng ứng, thành ra trong nước có nội loạn lung tung.

Bấy giờ, Bản Viên liền thừa cơ hội thúc giục nhà nước nên gấp gấp thành lập chính thể Lập hiến, cho yên lòng dân. Bản Viên sai xã trưởng của Lập Chí xã là Phiến Cương Kiện Cát 片岡健吉 [Kataoka Kenkichi, sau làm Nghị trưởng Chúng nghị viện) lên tới kinh đô dâng tờ kiến nghị. Trong đó, đại ý xin chính phủ nên rộng xét công luận, để sửa sang những điều chính trị sai lầm, khiến cho ba quyền lập pháp, tư pháp và hành chính được vững vàng đúng đắn; vậy thì nên mau mau mở ra nghị viện dân tuyển, dựng lên cái nền Hiến pháp.

Kể ra lời lẽ của Bản Viên êm đềm mà thống thiết lắm; nhưng mà lúc ấy chính phủ đang lo dẹp loạn, không rảnh ngày giờ xem xét gì đặng, thành ra tờ kiến nghị của Bản Viên vừa dâng lên là bị xếp xó ngay.

Phe cấp tiến có gan dạ mưu mô dữ lắm; giữa lúc phe nội loạn nổi lên, chính phủ lo dẹp như thế, có mấy người chức sự ở trong Nguyên Lão viện, là Lục Áo Tông Quan 陸奥宗光 [Mutsu Munemitsu], về sau làm Ngoại giao đại thần), Lâm Hữu Tạo 林有造 [Hayashi Yuuzou], về sau làm Đệ tín đại thần, tức là làm Thượng thư bộ Bưu chính), cùng mấy bạn thanh niên đồng chí nữa, âm mưu sắp đặt cử binh ngay ở Đông Kinh toan đánh đổ chính phủ để dựng lên chính thể Lập hiến.

Nhưng rủi cơ mưu bại lộ ra, cả bọn đều bị bắt hạ ngục, cả Phiến Cương Kiện Cát, xã trưởng Lập Chí xã, khi dâng thư kiến nghị còn đang luẩn quẩn ở Đông Kinh đợi tin, nay cũng bị chính phủ hiềm nghi, bắt nhốt vô khám.

Giữa cuộc huyết đấu của chính phủ và nhân dân, chính phủ đại thắng. Không mấy chốc, việc loạn ở miền Tây Nam dẹp yên được rồi, bọn bất bình khắp cả trong nước đều nép tiếng, im hơi, không còn dám hó hé lấy võ lực ra để chống cự gì nữa. Chừng cái oai của chính phủ càng to, mà chính thể Lập hiến tới đây hình như muốn hỏng mất rồi.

Nhưng, may sao lại xảy ra một việc biến động, khiến cho cái vận của chính thể Lập hiến bỗng dưng lại xoay ra có thế hối hả rộn ràng: Ấy là việc hồi tháng 5 năm Minh Trị thứ 11, người trọng yếu của phe tiệm tấn là Đại Cửu Bảo Lợi Thông bị thích khách đón đường đâm cho mấy dao chết tốt. Vụ ám sát này càng tỏ ra lòng dân nóng nảy tấn hóa lắm vậy.

Chắc bởi thấy nhân tâm như thế, nên chi cách đó không bao lâu, chính phủ mở ra địa phương hội nghị ở các phủ huyện, tức là sắp đặt thứ tự để mở ra trung ương hội nghị về sau.

Luôn ba năm Minh Trị thứ 11, 12 và 13, bọn Bản Viên và Hà Dã Quảng Trung 河野広中 [Kouno Hironaka, sau cũng làm nghị trưởng Chúng nghị viện) hai ba lần mở ra toàn quốc đại hội ở Đại Bản, mục đích đều là thỉnh cầu chính phủ phải mở Nghị viện cho mau. Cả thảy có 96 đoàn thể chính trị ái quốc ở khắp trong nước, cộng hơn 9 muôn 8 ngàn hội viên, cử đại biểu đi dự hội.

Trước khi các phe dân quyền nhóm đại hội lần thứ ba, chính phủ thấy dân làm rộn quá, liền gấp đặt ra thể lệ nhóm hội, rồi tức tốc đánh dây thép truyền lệnh cho quan quyền ở Đại Bản phải ngăn cản đại hội và giải tán Ái Quốc xã đi. Song, bọn chí sĩ hay được tin trước bèn lật đật nhóm hội sớm hơn và lập ra một đoàn thể chung, gọi là Quốc hội Kỳ thành Đồng minh 国会期成同盟 [Kokkai Kisei Doumei] nghĩa là thề nhau hiệp sức hoạt động kỳ cho đến lúc có Quốc hội (tức là Nghị viện) mở ra mới thôi.

Rồi Đồng minh này phái Phiến Cương Kiện cát cùng Hà Dã Quảng Trung thay mặt cho dân 2 phủ 22 huyện, đi lên Đông Kinh dâng tờ nguyện vọng. Chính phủ kiếm cớ, không xét tờ ấy. Hai người tổng đại biểu lại đưa lên Nguyên Lão viện, cũng bị cự nốt.

Đồng minh liền đặt trung ương tổng bộ của mình ở ngay Đông Kinh thề rằng phải kêu gào cho được quá phần nửa quốc dân ký tên đóng dấu vào tờ nguyện vọng, để đồng minh làm cho đạt mục đích mới nghe.

Hồi này, phong trào chính trị nổi rùm cả nước; người ta không ước hẹn nhau mà cũng theo đuổi chung một mục đích, có nhiều đại biểu khắp nơi, kế tiếp nhau về kinh, hoặc tới các nha môn, hoặc viếng các đại thần, ai nấy cùng bày tỏ kèo nài có một việc là thi hành Hiến pháp. Chính phủ lấy làm phiền về sự phải tiếp chuyện các đại biểu mỗi ngày, bèn ra một đạo pháp lệnh mới, định rằng từ nay phàm ai có dâng thư hiến kế gì, nhất thiết phải do quan địa phương xem xét rồi tâu về kinh mới được.

Bọn chí sĩ kêu gào dân quyền tự do thuở nay, cốt xúi người ta kéo nhau về kinh dâng tờ nguyện vọng cho đông, là để ra oai với chính phủ, nhưng giờ chính phủ ra lệ mới kia rồi, thì cái mưu cao của bọn chí sĩ không còn ăn thua được nữa. Từ nay, phong trào lại xoay ra thế khác. Bây giờ bọn chí sĩ lo gây dựng ra thế lực của dân chúng. Hoặc kết thành chính đảng; hoặc dạy dỗ nhân dân về việc chính trị, hoặc tổ chức các cuộc diễn thuyết khắp nơi. Cả nước hoạt động chính trị, có vẻ rầm rộ lạ lùng. Họ Bản Viên thật là hăng hái và chịu khó nhọc, tối ngày đi ngược về xuôi, du thuyết trong nước, làm kích thích nhân tâm dữ lắm.

CHÍNH ĐẢNG TRƯỚC NHẤT VÀ TRIỀU ĐÌNH PHẢI HẸN KỲ MỞ RA QUỐC HỘI

Qua năm Minh Trị thứ 14, có một việc quan hệ về quốc gia lý tài, chính phủ tính làm, nhưng cách định xử trí không khéo, làm cho dư luận sôi nổi dữ. Các báo viết bài công kích chính phủ mỗi ngày. Lại có người tổ chức ra những cuộc diễn thuyết rất lớn để phản đối công nhiên.

Ngay giữa chính phủ, ý kiến của các ông Tham nghị cũng nghịch nhau, nhất là Đại Ôi Trọng Tín.

Ông này nguyên là phiên sĩ ở Tá Hạ, nổi tiếng anh tài tân học, nên được trào đình Minh Trị triệu vô kinh làm chức Tham nghị. Ở trong triều Đại Ôi giúp đỡ công việc duy tân cải cách rất nhiều; thứ nhất các việc ngoại giao tài chính ban đầu hết sức khó khăn rắc rối, mà Đại Ôi bàn tính sắp đặt hay lắm. Thế là bấy lâu Đại Ôi vẫn trung thành phù trợ chính phủ, nhưng đến khi có việc quan hệ lý tài nói đây, chính phủ tính làm, thì Đại Ôi gân cổ công kích đáo để.

Việc ấy một việc bán đất công ở Bắc Hải Đạo do đám Phiên phiệt ở trong triều đình làm ngang. Bởi vậy Đại Ôi nói rằng nếu muốn cho tuyệt cái mầm Phiên phiệt ỷ thế làm ngang đi, thì không có cách gì hay hơn là mau mau mở ra Quốc hội, để cho dư luận của dân cùng chính phủ được hiểu biết nương dựa vào nhau.

Không phải Đại Ôi chỉ nói suông mà thôi; nói rồi liền thảo ra một tờ biểu, sửa soạn dâng lên Thiên hoàng ngự lãm, trong đó Đại Ôi xin tới năm Minh Trị thứ 16 thì phải mở Quốc hội. Nội triều đều hoảng kinh về lời xướng nghị của Đại Ôi.

Lúc đó Minh Trị Thiên hoàng đang ngự giá tuần du ở miệt đông bắc. Đến hôm ngự về, liền đêm hôm ấy ngài triệu hết các đại thần và tham nghị vô nhóm trong cung, rồi lập tức bãi việc tính bán đất công kia đó, cho khỏi quốc dân đến năm Minh Trị thứ 22 thì mở Quốc hội.

Thuở giờ chính phủ chần chừ, dụ dự không nhất định đến năm nào mới mở Quốc hội. Nay nhờ có Đại Ôi dâng biểu thúc giục, nên mới có kỳ hẹn đến năm Minh Trị thứ 22. Nhưng vì Đại Ôi chủ trương gấp mở Quốc hội, có ý hối thúc triều đình như thế, triều đình bãi chức Tham nghị của Đại Ôi. Đồng thời có nhiều vị quan liêu và tham nghị cùng một ý với Đại Ôi, trong đó có Khuyển Dưỡng Nghị, Thỉ Dã Văn Hùng 矢野文雄 [Yano Ryuukei], Vĩ Kỳ Hành Hùng 尾崎行雄 [Ozaki Yukiou]… cũng phải một lượt bãi chức nữa. Tóm lại, lúc ấy phàm những người nào có nhân duyên và đồng ý với họ Đại Ôi, đều bỏ chức về vườn, không còn ai ở lại trong hoạn lộ. Sau năm Minh Trị thứ 6, có vấn đề đánh Hàn mà triều đình chia rẽ tới nay có việc biến động này ở giữa chính phủ là việc lớn nhất.

Bước ra ngoài hoạn lộ rồi, Đại Ôi cùng với Bản Viên là hai tay thủ lĩnh chính trị hoạt động ở trong dân gian, ra sức hô hào kết lập chính đảng, đối đầu với chính phủ. Huống chi Đại Ôi từng ở trong triều lâu ngày, bao nhiêu chỗ thực tình và chỗ thiếu sót của chính phủ ra sao, Đại Ôi đều thấu rõ hết, thành ra chính phủ kiêng sợ, coi Đại Ôi và Bản Viên như hai địch quốc lớn.

Từ trước đến giờ, trong việc chính trị hoạt động tuy có những đoàn thể nọ, đồng minh kia lập ra rồi, nhưng đó chưa thiệt phải là chính đảng. Nay có sắc chỉ hẹn kỳ mở Quốc hội rồi, nhân muốn rèn tập nhân dân để nay mai đủ tư cách tham dự chính trị, nên chi Bản Viên bèn đứng ra tổ chức một chính đảng, có chủ nghĩa và kỷ luật hẳn hoi, gọi là Tự Do đảng 自由党 [Jiyuutou].

Nhật Bản có chính đảng, thiệt là khởi thủy từ đây.

Cùng trong một ngày (15 tháng 10 năm Minh Trị thứ 14), Đại Ôi lập ngay tại Đông Kinh một chính đảng, gọi là Lập hiến Cải tiến đảng 立憲改進党 [Rikken Kaishintou].

Ngoài ra còn có mấy đảng khác nữa, nhưng kể sự lâu bền và có hệ thống về lịch sử, thì chỉ có đảng Tự do của Bản Viên và đảng Cải tiến của Đại Ôi mà thôi.

Bản Viên lấy tư cách là Tổng lý đảng Tự do, đi dạo khắp trong nước để tuyên truyền diễn thuyết, cổ động lòng dân. Qua tháng 4 năm sau (Minh Trị thứ 15), Bản Viên ở Đông Kinh, tới dự một cuộc đại hội trong vườn Kỳ Phụ, bị thích khách là Tương Nguyên Thượng Cảnh thừa cơ đâm trúng vào bụng. Nhưng may phước Bản Viên không chết. Tương Nguyên bảo rằng Bản Viên quá khích, làm nhiễu hại quốc gia, cho nên va đâm; và tưởng nếu đâm chết Bản Viên, thì phá đổ cả đảng Tự do cùng tiêu. Ngay sau khi bị đâm, Bản Viên vẫn tỉnh và nói cứng:

“Bản Viên này dầu có chết đi nữa, “tự do” không khi nào chết được đâu”.

Nghe lời nói như thế, đủ rõ cái chí khí của những tay hoạt động chính trị trong hồi duy tân ra thế nào? Nhờ có những tay đó mà dân quyền chính đảng nước Nhật được mau vẻ vang tấn tới vậy.

CON ĐƯỜNG ĐI TỚI HIẾN PHÁP CÒN NHIỀU CHÔNG GAI

Giữ lời ước hẹn với dân, Minh Trị Thiên hoàng lo dự bị việc mở Quốc hội. Tháng Hai năm Minh Trị thứ 15, ngài sai Y Đằng Bác Văn cùng mấy tay anh tài bác học qua Âu châu khảo cứu Hiến pháp, Y Đằng qua ở Âu châu xem xét đến một năm ngoài mới trở về. Sau lại đi Âu châu khảo cứu một lần nữa; lần này về nước mới thảo ra Hiến pháp dâng lên Thiên hoàng ngự lãm. Y Đằng dùng nhiều công phu tâm lực vào việc này. Đại khái Hiến pháp Nhật Bản gần giống như Hiến pháp nước Đức. Nguyên văn do Y Đằng thảo ra, có đôi chỗ chật hẹp cho dân, nhưng chính vua Minh Trị sửa lại vì ngài muốn chủ não Hiến pháp trọng về mục đích cho dân tự do tấn hóa.

Trong khi một mặt Minh Trị Thiên hoàng sai họ Y Đằng đi Âu châu khảo cứu Hiến pháp, một mặt chính phủ Phiên phiệt bày đặt thêm những thể lệ gắt gao về việc kết xã lập hội, để trở ngăn chính đảng khó phát đạt.

Đã vậy mà lúc này mấy chính đảng lại tranh giành lẫn nhau rồi vu vạ cho nhau, quên mất kẻ thù chung của bọn mình, là chính phủ Phiên phiệt kia, thành ra chính phủ thừa cơ hội đó mà dùng thủ đoạn cương ngạch để đè ép chính đảng.

Các chính đảng phải chịu mọi sự thắt ngặt không nổi cho nên phải rủ nhau giải đảng. Tới hai đảng mạnh thế nhất, là đảng Tự do của Bản Viên cùng đảng Cải tiến của Đại Ôi cũng vậy. Nhưng chỉ bên ngoài họ làm bộ giải đảng, chớ bên trong vẫn giao thông thinh khí với nhau và cứ bí mật hoạt động luôn.

Vì đó, mà luôn mấy năm, lòng dân bị bít mất đầu nọ, tất phải bung ra đầu kia: Có nhiều việc quá khích bạo động xảy ra, đến đỗi nhiều người ra tù vô khám vì tội quốc sự phạm, hay là bị xử đến tử hình cũng có. Nhất là hồi năm Minh Trị thứ 19, chính phủ cùng các nước bàn tính sửa lại các điều ước đã ký từ mấy chục năm trước, trong đó có khoản quan hệ về pháp luật, chính phủ chịu để quan tòa ngoại quốc hợp với quan tòa Nhật xử kiện. Khoản này làm cho dư luận nhân dân sôi nổi dữ. Ngoại giao đại thần là Tỉnh Thượng Hinh 井上馨 [Inoue Kaoru] phải bãi chức và cả Nội các Y Đằng phải nhào. (Ta nên biết từ cuối năm Minh Trị thứ 18, triều đình đã bỏ Thái chính quan mà đổi ra Nội các 内閣 [Naikaku] như các nước, có Nội các tổng lý và đại thần các bộ. Y Đằng Bác Văn lúc này làm Nội các tổng lý. Nước Nhật có Nội các bắt đầu từ đây).

Bây giờ, những chí sĩ đảng viên của các đảng cũ lại nhen nhúm nổi dậy, có Hậu Đằng Tượng Nhị Lang đứng ra liên kết hết thảy các phe đảng hợp lại cho có sức mạnh, Hậu Đằng nói:

“Ngày nay không còn phải là ngày anh em trong nhà chúng ta tranh giành xích mích nhau được nữa. Ta thử ngó qua đại lục, con đường xe lửa Tây Bá Lợi của Nga đang làm kia, không bao lâu nữa thì tới Mãn Châu, kéo dài tới muôn dặm, đó thật là việc có quan hệ tới sự sinh tử tồn vong của Đông dương mình. Vậy anh em chí sĩ trong nước, nên bỏ những điều tiểu dị, lấy nghĩa đại đồng, cùng nhau kết thành một đoàn thể lớn, đặng có thế lực mà dùng ở trong Quốc hội nay mai sắp mở ra đây. Nếu như gặp phải chính phủ chuyên chế thì chúng ta chỉ đá một cái là nhào chớ lo gì!”

Các đảng phái cũ nghe lấy làm phải, đều xúm theo ngọn cờ của Hậu Đằng mà trở nên một đoàn thể có thế lực rất lớn, bao vây cả chính phủ, khiến cho chính phủ e dè luýnh quýnh. Các chính đảng ở Nhật có lúc thành cuộc liên hiệp lại một cánh, là từ cuộc liên hiệp này của Hậu Đằng làm được trước hết.

Giữa ngày lễ mừng Minh Trị Thiên hoàng kỷ nguyên năm thứ 22 (1889), Thiên hoàng công bố Hiến pháp thi hành và ân xá cho các quốc sự phạm. Trải 22 năm, chí sĩ hoạt động chính trị, thúc đòi Hiến pháp, thế là nay đã đạt tới mục đích.

16 NĂM THAY ĐỔI 23 NGHỊ VIỆN

Ngày mùng 1 tháng 7 năm Minh Trị thứ 23 (1890), nước Nhật có cuộc tổng tuyển cử Chúng nghị viện thứ nhất (tức như Communes nước Anh hay Chambre des députés nước Pháp).

Các nước ở Đông phương, một nước có chính trị Hiến pháp trước nhất, chính là nước Nhật.

Phép tuyển cử ban đầu cũng lựa chọn kỹ lưỡng, trong số 42 triệu dân Nhật Bản lúc ấy chỉ có 46 muôn người đi bỏ thăm, nghĩa là chưa được 1% có quyền đầu phiếu.

Thuở đó phần nhiều dân chúng nước Nhật còn chưa biết yêu cầu lấy quyền tham chính; duy có số ít là hạng chí khí học thức biết sốt sắng lập thành chính đảng và hoạt động chính trị mà thôi. Bởi vậy lúc đầu, cái quyền đầu phiếu ít nhiều rộng hẹp thế nào, dân chúng không lấy làm vui buồn gì cả. Song cái số ít kia là cái sức mạnh gớm ghê, địa vị chính trị của dân Nhật mau tấn tới chỉ nhờ về cái số ít đó.

Giờ các chính đảng lại nổi dậy hoạt động tự do. Không đảng nào không ra sức phấn đấu với chính phủ, cái chỗ họ nghi nan phòng sợ là xem chính phủ có giữ đúng tinh thần Hiến pháp không? Hay là đặt dùng Nội các nào có xứng chức đúng tài hay không?

Rồi thì các đảng cũ tái khởi và nhiều đảng mới tổ chức ra, danh hiệu đã nhiều mà chính kiến cũng lắm. Hai đảng Hiến Chính đảng 憲政党 [Kenseitou], và Chính Hữu hội 政友会 [Seiyuukai] có thế lực ở nghị viện Nhật Bản ngày nay, thay đổi nhau tổ chức Nội các bấy lâu, chính là khai sinh từ hồi Minh Trị duy tân, sau khi ban hành Hiến pháp ít năm.

Thiệt vậy, có Hiến pháp ban hành rồi, phong trào chính trị càng thêm hoạt động; đã nói rằng lúc này có nhiều đảng mới lập ra, danh hiệu đã nhiều mà chính kiến cũng lắm. Có khi các chính đảng rời nhau ra mà phấn đấu tranh giành nhau về chính kiến dữ dội; có khi các chính đảng hiệp nhau lại công kích phản đối chính phủ cũng dữ dội. Vì đó mà chính phủ thường phải dùng cái quyền giải tán Nghị viện luôn. Từ Minh Trị thứ 23 đến Minh Trị thứ 39, trước sau 16 năm mà đổi thay tới 22 Nghị viện. Ta xem như vậy, đủ thấy phong trào chính trị nước Nhật giữa hồi mới bãi cựu canh tân đã bồng bột tấn tới dường nào!

Tuy có lúc các chính đảng chia xé gây gổ nhau, nhưng không bao giờ họ quên chỗ quyền lợi tối cao của quốc gia. Khi quyền lợi tối cao đó cần dùng cả nước đồng tâm hiệp lực, thì tức khắc các chính đảng liên hiệp lại ngay. Ví dụ như hồi đánh Tàu năm 1894 và hồi đánh Nga năm 1904-1905, cả nước Nhật kết hiệp lại như một người để giúp đỡ chính phủ đến cùng; họ nghĩ mấy lúc có quốc gia đại sự, không phải là lúc nên có đảng phái tư tranh vậy.

CHÍNH TRỊ HOẠT ĐỘNG TRƯỚC SAU CÓ BỐN THỜI KỲ

Phong trào chính trị nước Nhật có chỗ nhân quả tương sinh rõ ràng: Ta xét cuộc vận động dân quyền, tức là xét lịch sử chính đảng, mà xét lịch sử chính đảng tức là xét lịch sử Hiến pháp.

Thiệt vậy, ngay lúc đầu duy tân, có cuộc vận động dân quyền do những tay chí sĩ mạnh bạo chủ trương, mới có chính đảng lập ra để làm cơ quan hoạt động. Rồi có chính đảng xướng xuất, rèn tập chính trị cho quốc dân và thúc giục chính phủ, nên chi mới sớm có Hiến pháp thi hành, nếu không thì chưa chắc năm Minh Trị thứ 23, nước Nhật đã có Hiến pháp đâu.

Nay muốn tóm thâu cái lịch trình của dân quyền chính đảng nước Nhật ta có thể chia làm 4 kỳ:

Kỳ thứ nhất, khởi từ năm Minh Trị thứ 7 có bọn Bản Viên, Hậu Đằng, Phó Đảo, Giang Đằng dâng biểu xin mở ra Nghị viện dân tuyển, cho đến năm Minh Trị thứ 14, là lúc họ Đại Ôi thoát ly chính phủ, ra ngoài hoạt động. Trong thời kỳ này tuy chưa có chính đảng nào tổ chức ra, nhưng cũng đã có nảy mầm đắp móng lên rồi, mà Bản Viên chính là người sáng lập chính đảng đầu hết. Năm Minh Trị thứ 14, có chiếu của Thiên hoàng kỳ hẹn với quốc dân đến năm thứ 23 thì mở Quốc hội. Lúc bấy giờ, Y Đằng Bác Văn cùng mấy vị quan liêu khác vâng chỉ nhà vua đi qua Âu châu xem xét để về thảo ra Hiến pháp; còn dân chúng thì có hai đảng Tự do và Cải tấn thành lập. Nhưng mà chính phủ đè nén rất nghiêm, cho nên đảng Tự do phải đành giải tán một lúc, rồi đến năm trước khi sửa soạn mở ra Quốc hội thì đảng ấy lại dấy lên, xây dựng cái nền móng dân đảng liên hiệp về sau. Ấy là kỳ thứ hai. Từ năm Minh Trị thứ 23, Quốc hội mở rồi trở đi, là kỳ thứ ba. - Hồi này, hai đảng Tự do và Cải tiến, bề ngoài hiệp lại thành ra Dân đảng để phản đối chính phủ, và chính bên trong thì hai đảng xung đột lẫn nhau. Chính phủ ra sức đề phòng và chống trả lại; hoặc khi bắt giải tán Nghị viện, hoặc lúc phải can thiệp vào việc tuyển cử. Tuy chính phủ ra oai làm khó các đảng không còn thiếu cách gì, nhưng vậy mà bao giờ phe phản đối cũng chiếm được số đông ở trong Nghị viện để làm ngặt chính phủ luôn luôn.

- Tới năm 1894, sau trận Nhật - Thanh giao chiến trở đi, thì tình thế xoay đổi ra khác. Bây giờ chính phủ biết không thể đè nén các đảng được nữa; mà các đảng cũng hiểu rằng cứ thù nghịch phản đối chính phủ hoài, là sự bất lợi. Đảng Tự do bèn cùng chính phủ đề huề trước hết; thứ đến đảng Tiến bộ. Chừng đó hai đảng hiệp nhau lại tổ chức ra Nội các chính đảng. Trên đàn chính trị Nhật, có Nội các của đảng phái bắt đầu từ đây. Song bên trong đảng phái không được thuận hòa nhau, thành ra Nội các chính đảng phải giả một lúc, nhường cho những người không thuộc về chính đảng nào cả. Vậy đủ biết Nội các vô đảng, vốn khó đứng yên đã đành, mà đến Nội các chính đảng chưa tới ngày giờ chín chắn thì cũng không vững nào.

4. Đến kỳ thứ tư, khởi từ năm Minh Trị thứ 31 trở đi, lúc Nội các chính đảng, lúc Nội các vô đảng, đắp đổi lẫn nhau. Tới đây chính phủ và chính đảng khéo nhường nhịn dung hòa nhau để sửa sang quốc chính.

Tóm lại, chính trị nước Nhật được mau tấn tới mở mang, thiệt nhờ cái công phu của chính đảng gây dựng bồi đắp trong đó lớn lắm. Chính đảng có công khua động thức tỉnh người trong nước mau có giáo dục chính trị, mau hiểu dân quyền tự do; chính đảng có công kiềm chế những ngón chuyên quyền và cứu chữa những điều sai sót của chính phủ trong lúc quốc dân chưa có quyền tham chính, nhất là ở trong chính phủ ban đầu lại có cái thế lực ngang tàng của đám Phiên phiệt. Sau nữa là chính đảng có công hối thúc Hiến pháp được sớm ban hành, Quốc hội được mau thành lập.

Có một chỗ Nhật Bản khác lạ người ta, ta nên nhìn biết, là các nước Âu Mỹ, thường thường có Hiến pháp Quốc hội trước, rồi mới có chính đảng sinh đẻ ra sau. Ví dụ như nước Anh là nước có Hiến pháp làm kiểu mẫu cho Nhật bắt chước phần nhiều, xưa kia có Quốc hội mở ra đến mấy trăm năm rồi mới có chính đảng; Nhật lại trái hẳn: Trước có chính đảng rồi sau mới có Quốc hội đẻ ra. Quốc hội bên Anh là một nguyên do sản xuất chính đảng; còn chính đảng ở Nhật thì lại là một cái động lực làm mẹ của Quốc hội; đó là cái đặc sắc lạ lùng của chính trị nuớc Nhật vậy. Còn nói gì trong cái thời gian có vài chục năm, họ xông pha vùng vẫy trên đường chính trị không bao lâu mà có được Hiến pháp hẳn hoi như thế, kể ra mau chóng biết sao mà nói cho cùng.

Ta nên nhớ luôn luôn rằng: Trên con đường này hay là các con đường nào khác cũng thế, Nhật Bản đi tới mục đích quá mau, đều là do nơi quyết tâm và lực lượng của dân hết thảy.

[1] . Trần quân viết bài trong số báo Đuốc nhà Nam đặc biệt ngày 9 Février 1934, cho bài thi trên đây của Y Đằng Bác Văn, ấy là sai lầm. Chính của Tây Hương Long Thịnh. Chỉ Tây Hương với thủ đoạn cách mạng của Tây Hương mới phát ra bài thơ như thế. Ta nên nhớ hồi đang duy tân, phe đảng của hai phiên Tát và Trường chuyên quyền, nắm giữ hết các địa vị trọng yếu, ngăn trở dân quyền, nên chi Tây Hương phẫn uất mà khởi binh, mới phát ra cái khẩu khí như bài thơ đó. Còn Y Đằng lúc ấy đang làm quan lớn trong triều, cộng sự với phe đảng hai phiên Tát, Trường, thì làm gì có sự phẫn uất ấy đâu.

Chương VII. HIẾN PHÁP NHẬT BẢN

Hiến pháp nước Nhật ban hành năm 1889, kể ra thật là đơn giản. Toàn văn chỉ có 76 điều; đầu hết nói về quyền vị của đức Thiên hoàng; thứ đến nghĩa vụ quyền lợi của nhân dân, rồi tới Đế quốc nghị hội, Quốc vụ đại thần, Khu mật viện, Tư pháp, Tài chính…

 

Quang cảnh buổi lễ ban bố Hiến pháp Nhật Bản năm 1889.

Chương trên nói riêng về lai lịch từ khi có phong trào chính trị hoạt động nổi lên cho tới lúc có Hiến pháp ban hành; chương này nói riêng về Hiến pháp, đại khái nội dung và thực tế của nó ra thế nào, chắc hẳn cũng có ích cho những người ưa nghiên cứu chính trị. Nói chi một ngày kia thế nào xứ mình lại chẳng phải có Hiến pháp ra đời.

TINH THẦN HIẾN PHÁP NHẬT BẢN

Đây nên nhắc sơ lại một câu chuyện đã nói ở chương trên, vì nó có ảnh hưởng tới gốc tích của Hiến pháp.

Ấy là câu chuyện xảy ra hồi tháng 7 năm Minh Trị thứ 14, chính phủ bàn tính đem bán những tài sản thuộc về của công ở Bắc Hải Đạo 北海道 [Hokkaidou]. Cách tính xử trí như thế làm cho dư luận nổi lên bất bình dữ dội. Nhất là Đại Ôi Trọng Tín đang làm Tham nghị trong triều, ra sức phản đối kịch liệt hơn hết. Đại Ôi thấy việc này, bèn suy nghĩ rằng nếu muốn cho dứt cái tệ Phiên phiệt làm ngang đi, thì không gì hơn là sớm mở Quốc hội. Tức thời ông thảo ra tờ biểu để dâng lên Thiên hoàng, một hai xướng nghị đến năm Minh Trị thứ 16 phải mở Quốc hội mới được, Minh Trị Thiên hoàng đi tuần du các tỉnh miền đông bắc trở về, nội đêm nhóm các đại thần và tham nghị lại, bỏ việc chánh phủ tính làm kia, rồi qua ngày hôm sau hạ chiếu hẹn kỳ mở Quốc hội vào năm Minh Trị thứ 23 (1890). Nhưng vì cái tội khởi xướng gấp mở Quốc hội, nên họ Đại Ôi cùng anh em đồng chí của ông ở trong triều, đều bị bãi chức về vườn hết.

Cuộc chính biến này có ảnh hưởng tới địa vị chính trị của dân Nhật nhiều lắm, ta nên chú ý ba điều:

1. Nếu không có Đại Ôi đánh bạo hối thúc, thì chắc chính phủ chưa quyết định năm nào mới ban Hiến pháp, e đến năm Minh Trị thứ 23 cũng chưa có Quốc hội mở ra đâu.

2. Cái kế hoạch của Đại Ôi bị thất bại, có ảnh hưởng tới sự khuynh hướng của nước Nhật chẳng nhỏ. Người Nhật nói nếu việc Đại Ôi chủ trương mà thành công, thì chẳng những là Nhật có Quốc hội mở ra sớm hơn, mà ngay chế độ Hiến pháp cũng không giống như chế độ thi hành bấy lâu nay.

Sao vậy?

Chỉ vì Đại Ôi vẫn hâm mộ muốn bắt chước cái lối nghị viện chính trị của nước Anh, vả lại bộ hạ của ông, nhiều hạng thanh niên học thức, cũng ham thích những học thuyết chính trị của Anh tự do hơn. Ví dụ Hiến pháp do tay Đại Ôi thảo ra, chắc là noi theo mẫu mực Hiến pháp Anh quốc, chớ không phải như Hiến pháp do Y Đằng noi theo Đức quốc vậy.

3. Đại Ôi về vườn rồi cùng Bản Viên hoạt động chính trị, làm cho thế lực của dân được nâng cao lên, chính phủ không dám khi thị như lúc trước nữa.

Năm Minh Trị thứ 14, sau khi Đại Ôi về vườn rồi, thì người trọng yếu ở triều là Y Đằng Bác Văn. Qua năm sau, Thiên hoàng sai Y Đằng lo thảo Hiến pháp.

Y Đằng qua Âu châu hai phen để nghiên cứu, rồi về mới thảo ra bản Hiến pháp dâng lên, được triều đình chuẩn y; ấy là bản Hiến pháp ban hành từ năm 1889, còn giữ tới nay.

Giờ muốn biết rõ tinh thần của Hiến pháp Nhật Bản thi hành từ năm 1889 ra thế nào, tưởng ta nên đọc một đoạn tự thuật của Y Đằng là người thảo ra Hiến pháp đó như vầy:

“Nước Nhật có tình hình riêng, không thể nào bốc lột trọn cả Hiến pháp của một nước ngoài nào đem về làm ép cho được. Ví dụ như ngôi vua có gốc nguồn sâu xa ở trong quốc sử, lòng dân bao giờ cũng khắng khít tôn sùng. Xưa kia là đời quốc gia còn lấy thần quyền làm chủ, chớ chưa thành ra cuộc phong kiến, thế mà ngôi vua đã là trụ chốt thể thống của nhà nước rồi.

Nay muốn khảo cứu để lập ra Hiến pháp mới, về chỗ cầm chừng cái đại quyền của vua, tất nhiên phải thận trọng cho lắm, mới được, cốt để ủng hộ cái quyền sẵn có từ xưa, hầu cho ngôi báu không phải là một cách chỉ đặt ra làm vì mà thôi.

Nhưng chính thể Lập hiến, điều cốt nhất là phải làm sao bảo hộ những sinh mạng, tài sản, danh dự, quyền lợi của chúng dân. Nếu muốn bảo hộ những cái đó của dân cho được hẳn hoi, thì quyền lớn của Thiên hoàng, cần phải có cách cầm chừng mới đặng. Ví bằng quyền ấy không có cách cầm chừng thì không kể là muốn làm chính thể Lập hiến ra thế nào đi nữa, nó cũng không đứng vững được.

Còn điều khác cũng phải lo liệu sắp đặt, là làm cho các chư hầu phong kiến xưa cùng với chế độ mới ngày nay được dung hiệp với nhau. Trong hàng chư hầu, có dòng họ bà con với nhà vua không phải là số ít; thuở xưa mấy ông vốn có thực quyền làm chúa một đất, cai trị một dân; đến nay tuy phong kiến đã bỏ, nhưng dân chúng đối với mấy ông, cũng vẫn có lòng tôn sùng, vả lại mấy ông cũng vẫn truyền nối nhau dùng những danh hiệu vua phong cho đời trước. Vậy nay Hiến pháp mới bày ra, cũng phải sắp đặt làm sao cho mấy ông đó được có nơi có chốn tử tế.

Lại Hiến pháp mới, đem các thứ quyền lợi nọ kia phú cho dân chúng, ấy là tự đấng quân vương sẵn lòng ban cho quốc dân để cho quốc dân được hưởng mọi sự vẻ vang tốt đẹp, chớ không phải có dấu tích gì tỏ ra dân chí ép buộc dành cướp quân quyền; điều đó không bày tỏ ra cho rành rẽ không được”.

Rút ở bài Đế quốc Hiến chính chi do lai 帝国憲政之由来 chính Y Đằng viết trong bộ Nhật Bản khai quốc ngũ thập niên sử của Đại Ôi Trọng Tín.

Ta nghe Y Đằng nói như vậy, thì ra cái chủ ý của Hiến pháp Nhật có bốn điều:

Ủng hộ cái đại quyền của vua sẵn có xưa nay;

Vì quyền lợi của dân mà phải hạn chế bớt cái quyền lực của Thiên hoàng;

Các phong kiến chư hầu thuở trước, nay ở trong Hiến pháp cũng có địa vị;

Nhân dân có quyền lợi nọ kia chiếu theo Hiến pháp, là tự vua sẵn lòng ban cho, chớ không phải tự dân đòi hỏi.

Xem Y Đằng lấy cái tinh thần thận trọng như thế làm gốc để soạn ra Hiến pháp, thì đủ rõ Hiến Pháp Nhật Bản thi hành từ 1889, chủ nghĩa của nó thật khác hẳn với chủ nghĩa Tự do tiến bộ của bọn Bản Viên, Đại Ôi. Vả lại ở trong Hiến pháp Y Đằng vẫn giữ cái màu mè bảo thủ của đám Phiên phiệt, nhắm không lạ gì.

Lấy toàn thể mà nói, thì Hiến pháp Nhật Bản dựa theo chế độ Quân chủ Lập hiến (君主立憲 [Kunshu Rikken], Monarchie constitutionnelle) của Đức quốc hồi trước phần nhiều, rồi châm chế theo lịch sử và quốc tục cùng là cách tổ chức riêng của xã hội Nhật Bản mà định ra. Đức quốc hồi xưa có cái thuyết đế vương thần quyền, với Nhật Bản có sự tín ngưỡng ngôi vua muôn đời một hệ; hai bên lý tưởng có khác gì nhau.

HIẾN PHÁP SẮP ĐẶT QUYỀN HẠN CỦA VUA VỚI DÂN RA THẾ NÀO?

Hiến pháp nước Nhật ban hành năm 1889, kể ra thật là đơn giản. Toàn văn chỉ có 76 điều; đầu hết nói về quyền vị của đức Thiên hoàng; thứ đến nghĩa vụ quyền lợi của nhân dân, rồi tới Đế quốc nghị hội, Quốc vụ đại thần, Khu mật viện, Tư pháp, Tài chính…

Đồng thời tuyên bố mấy đạo mệnh lệnh đặt ra Quý tộc viện, Chúng nghị viện, cùng là phép tắc bầu cử các viện ấy.

Bởi vậy, nay ta muốn biết qua cách thức sắp đặt chính trị ở nước Nhật thì ta phải xét qua mấy đạo mệnh lệnh nói đây mới rõ đặng. Trước xét về hình thức đã định ra theo phép; sau xét về thực tế ở ngoài.

Theo Hiến pháp 1889 đã định, thì cách thức sắp đặt chính trị của nước Nhật, làm theo lối tam quyền phân lập như các quốc gia văn minh gần đây. Tư pháp (pouvoir judiciaire) thì giao trọn cho các quan tòa một cách độc lập lâu dài, không có gì động phạm tới được. Lập pháp (pouvoir légistatif), thì do Đế quốc nghị hội 帝国議会 [Teikokugikai], gồm hai viện Quý tộc 貴族 [Kizoku] và Chúng nghị 衆議 [Shugi] hiệp lại. Còn Hành chính 行政 [Gyousei] (pouvoir excécutif) thì ký thác trong tay Thiên hoàng cùng Quốc vụ đại thần 国務大臣 [Kokumu daijin] là các quan lớn trong triều thân cận phò tá Thiên hoàng.

Song, nội ba quyền, có quyền Hành chính rốt lại cao hơn hai quyền kia. Thiên hoàng làm đầu Hành chính, lại lấy tư cách là đấng quốc gia nguyên thủ tóm thâu cả quyền thống trị, y theo Hiến pháp mà thi hành mọi việc. Như thế là về quốc chính, Thiên hoàng nắm giữ cả hai quyền lớn Lập pháp và Hành chính (Tư pháp nằm ở trong Hành chính, điều đó khỏi nói), một tay ngài thi hành sai khiến nhất thiết. Trong Hiến pháp định rõ rằng: “Nhật Bản do đức Thiên hoàng muôn đời một hệ cầm quyền thống trị” (日本以萬世一系之天皇統治之). Chính Y Đằng có viết một cuốn sách bằng chữ Anh, sau có người dịch ra chữ Hán, trong đó, Y Đằng cắt nghĩa về Hiến pháp Nhật Bản, cũng nói rõ địa vị của Thiên hoàng Nhật, khác hẳn các đấng nguyên thủ bên Âu châu: “Chẳng những ngài làm vua mà thôi, còn thống trị nữa”.

HÀNH CHÍNH

THIÊN HOÀNG - Đầu bộ Hành chính là Thiên hoàng, Thiên hoàng là đấng thống trị tối cao của quốc gia.

Quyền lực của Ngài không những coi sóc Hành chính, mà coi sóc cả Lập pháp nữa. Ngài có quyền xem xét, chuẩn y luật pháp để sai thi hành; ngài vời nhóm nghị hội; ngài tuyên bố khai hội, bế hội, đình hội và giải tán Chúng nghị viện khi nào ngài muốn. Trong lúc quốc gia có việc gì khẩn cấp, thì vì sự giữ gìn trị an hay là lo tránh tai họa, dầu trong khi ấy không nhằm kỳ nhóm nghị hội, Thiên hoàng có quyền ra những sắc lệnh cần dùng để thay thế pháp luật. Ngài có quyền định ra ngạch quan, lệ quan, lương quan văn võ và bổ dụng hay bãi chức quan viên văn võ lúc nào tùy ý.

Ngài thống đốc tất cả hải quân, lục quân, không quân trong nước; có quyền tuyên chiến, giảng hòa hay ký điều ước cùng các nước. Ngài ra lệnh giới nghiêm 戒厳 [Kaigen] (état de siège). Ngài phong tước vị cùng các vinh hàm. Ngài có quyền đại xá, ân xá, giảm tội, phục quyền.

Ta xem những chức quyền kể ra trên đây, thì biết Thiên hoàng Nhật Bản, về lập pháp, về hành chính cùng là nội trị ngoại giao, đều có quyền trọng đại độc lập đến thế nào! Nhất là có quyền ra sắc lệnh trong khi quốc gia có việc khẩn cấp, và một mình ngài tự ý quyết định những việc khai chiến, giảng hòa, ký ước như thế, nội hàng nguyên thủ các nước lập hiến đời nay, thật ít có ông nào được rộng quyền tới bực đó.

NỘI CÁC - Dưới Thiên hoàng thì có Quốc vụ đại thần 国務大臣 [Kokumu daijin] hay là Nội các phò tá Thiên hoàng, gánh vác trách nhiệm; nhất thiết giấy tờ gì thuộc về việc nước, phải có một vị đại thần Quốc vụ ký tên với Thiên hoàng mới có hiệu lực.

Kể theo phép nước, thì Quốc vụ đại thần là tay sai thân cận của Thiên hoàng, thay thế Thiên hoàng mà lo trách nhiệm; nhưng kể lẽ công, thì trách nhiệm của Quốc vụ đại thần phải chịu, chỉ là đối riêng với Thiên hoàng thôi. Quốc vụ đại thần tức là Nội các (Cabinet), gồm tất cả các ông tổng trưởng các bộ, ông làm đầu hết gọi là Nội các tổng lý đại thần 内閣総理大臣 [Naikaku Souri Daijin] (premier ministre), quen kêu là thủ tướng.

KHU MẬT VIỆN - Ngoài Nội các, có Khu mật viện 枢密院 [Suumitsuin]. Cơ quan này để khi nhà nước có công việc gì trọng yếu, thì Thiên hoàng hỏi ý kiến. Khu mật viện đại thần cùng Quốc vụ đại thần đều là bực quan lớn thân cận phò tá Thiên hoàng.

Những lúc cần ra mệnh lệnh khẩn cấp, cần ra luật giới nghiêm, hay là phân xử về những việc tài chính quan hệ đặc biệt, Thiên hoàng phải hỏi ý kiến Khu mật viện, nhưng mà ý kiến đó ngài vẫn có quyền tự do nghe theo hay là bác bỏ cũng đặng.

Theo Hiến pháp định, nhất thiết quốc gia đại chính, Thiên hoàng phải hỏi ý kiến Khu mật viện đã đành, mà tự Khu mật viện cũng có quyền bàn soạn và xướng nghị nữa. Xem vậy thì biết Khu mật viện có địa vị lớn lao ở trên đàn chính trị Nhật Bản, nhất là bởi những người được sung vào viện này, nếu không là bậc quốc gia nguyên lão, thì cũng hạng danh vọng hưu quan và mấy tay học vấn uyên bác.

Khu mật viện ở Nhật là một cơ quan ít thấy nước nào có. Tuy Anh quốc có cơ quan hơi giống, gọi là Hội đồng tư mật (Privy Council), nhưng đến địa vị và quyền hạn so sánh với Khu mật viện của Nhật thì khác hẳn nhau.

LẬP PHÁP

ĐẾ QUỐC NGHỊ HỘI - Hiến pháp Nhật Bản đặt ra Đế quốc nghị hội 帝国議会 [Teikokugikai], gồm cả hai viện Quý tộc và Chúng nghị nhập chung lại mà thành lập. Lấy danh nghĩa mà nói, đại khái cũng như ở nước Pháp khi bầu tổng thống hay là khi nhà nước có đại sự, ví dụ như muốn sửa lại Hiến pháp thì cả Thượng nghị viện (Sénat) cùng Hạ nghị viện (Chambre des députés) nhóm chung lại ở đền Versailles thành ra Quốc gia hội nghị (Assemblée Nationale) vậy.

QUÝ TỘC VIỆN - Quý tộc viện 貴族院 [Kizokuin] ban đầu mới lập, định số nghị viên có trên 300 người; đến năm 1925, tăng lên 420 người.

Những người sau được sung vào viện Quý tộc:

Các ông hoàng thân đúng tuổi; Hạng quý tộc được phong tước Công  [Kou] và tước Hầu  [Kou]; Hạng quý tộc được phong tước Bá ( Haku], tước Tử  [Shi], tước Nam  [Dan], thì mỗi họ nhóm hội đồng tộc chọn lựa mỗi họ mấy người sung vào Quý tộc viện; Nghị viên sắc tuyển là hạng có công lớn với quốc gia hay là có học thức danh vọng cao, bất cứ ở giai cấp nào, Thiên hoàng hạ sắc kén chọn và phong làm nghị viên trong viện Quý tộc. Hạng người nạp thuế nhiều hơn hết ở các phủ huyện, cũng do Thiên hoàng hạ sắc kén chọn. Gần đây lại chọn thêm bốn người ở trong Học sĩ viện 学士院 [Gakushiin] ra nữa.

Trong năm hạng trên đây, hạng 3 và hạng 5, kỳ hạn làm nghị viên 7 năm, còn ba hạng 1, 2 và 4 thì mãn đời.

Xem cách tổ chức Quý tộc viện thế ấy, hoàn toàn là một cơ quan đại biểu cho những bậc quý tộc, phú hào và quan liêu. Những bậc này đều là phần tử có đặc quyền trong xứ, và có cái tinh thần phong kiến như xưa.

CHÚNG NGHỊ VIỆN - Chúng nghị viện 衆議院 [Shugiin] ban đầu có trên 300 nghị viên, đến năm 1925 tăng lên 464. Tính ra trong 12 muôn người, có một người làm nghị viên.

Cách tổ chức viện này, có thể lệ riêng, chớ trong Hiến pháp không biên định rõ.

Phép tuyển cử đại khái là chia trong nước ra từng khu tuyển cử lớn; mỗi phủ huyện (nên biết phủ huyện bên Nhật tức là tỉnh ở các nước khác) là một khu, mỗi đô thị lớn cũng thành riêng một khu. Mỗi khu cử ra mấy nghị viên tùy theo dân số.

Nước Nhật cũng dùng cách tuyển cử có hạn chế. Mấy hạng người đúng lệ sau đây mới có quyền đầu phiếu:

Con trai đúng 25 tuổi; Phải có chỗ ở luôn trong khu tuyển cử 1 năm trở lên; Từ một năm trước và sau đó cũng thế, có nạp thuế chánh ngạch 15 yên ( yen) trở lên. Người ra ứng cử, cũng phải là hạng có tư cách và nạp khoản thuế như trên mới được.

Bởi vậy ban đầu cả nước Nhật chỉ có 45 muôn người có quyền tuyển cử mà thôi. Lệ ấy giữ mãi đến năm 1900 mới sửa lại; người ra ứng cử không bị hạn chế về mặt tài sản phải có bao nhiêu; còn người đầu phiếu thì sự hạn chế tài sản cũng giảm xuống, ai đóng thuế ruộng hay thuế khác 10 yên và đóng được một năm rồi, tức thị có quyền đi bỏ thăm.

Nhờ nới rộng ra như thế, nên số dân tuyển cử tăng lên được 150 muôn.

Tới năm 1919, lại nới rộng nữa: Ai nạp thuế 3 yên, đủ tư cách là người cử tri. Số dân tuyển cử tăng lối 300 vạn.

Từ đây trở về trước, chế độ tuyển cử ở Nhật hạn chế ít người như thế, rõ ràng Hiến pháp chỉ cho những người về giai cấp hữu sản nhiều ít mới được quyền bỏ thăm nhất là có ý thiên trọng về hạng địa chủ tài chủ, chớ chưa có tinh thần dân trị bao nhiêu. Mãi đến năm 1925, thì mới thi hành chế độ Phổ thông tuyển cử 普通選挙 [Futsuu Senkyo] (Suffrage universel).

Từ đó tới nay, phàm là đàn ông dân Nhật, 30 tuổi trở lên, chẳng kể có đóng thuế gì hay không, hết thảy đều có quyền tuyển cử Chúng nghị viện. Số dân bỏ thăm bèn lên đến 13 triệu người. Thế là từ năm 1925, dân Nhật mới thiệt là có quyền tham chính và chính trị Nhật mới bắt đầu ngả về con đường dân trị vậy. Ấy là nhờ nơi thế lực dân chúng khoảng 15 năm nay tiến lên mạnh lắm.

Theo lệ, những người làm quan lại trong triều ngoài quận, cùng là thầy tu, học trò, thầy giáo tiểu học, cho đến những người bao thầu công việc tạo tác của chính phủ, đều không được phép cử làm nghị viên.

Quý tộc viện và Chúng nghị viện, mỗi viện đều có chánh nghị trưởng, phó nghị trưởng. Với Quý tộc viện thì chánh phó nghị trưởng do Thiên hoàng chọn người sắc phong. Còn Chúng nghị viện cũng do Thiên hoàng kén chọn 3 người trong viện, để cho viện bỏ thăm cử lên làm nghị trưởng.

Cũng như Hạ nghị viện các nước, sổ dự toán công nho của nước Nhật mỗi năm, chính phủ phải đưa ra Chúng nghị viện xem xét, có công nhận mới được. Duy có nhiều khoản chi tiêu thuộc về đại quyền của Thiên hoàng (như lương quan văn võ, quân phí hải lục và mấy khoản do theo điều ước mà phải chi tiêu) cùng là các khoản phí dụng của chính phủ theo như nghĩa vụ pháp luật đã định, nếu không được chính phủ đồng ý, thì nghị viện không có quyền bác đi hay giảm bớt. Tóm lại, Hiến pháp cho Quốc hội có quyền về tài chính hẹp lắm.

Nhất thiết pháp luật gì cũng phải trải qua Đế quốc Nghị hội, nghĩa là hai viện Quý tộc và Chúng nghị họp chung lại bỏ thăm công nhận thi hành thì mới có hiệu lực. Hai viện Quý, Chúng, đều có thể trình ra những pháp án 法案 [Houan] (Projets de loi) để viện xét định. Lại được xướng nghị cùng chính phủ, tâu bày lên Thiên hoàng. Đánh thuế mới, giảm thuế cũ, cũng phải do Đế quốc Nghị hội đồng ý.

Còn Hiến pháp, khi muốn sửa sang thay đổi điều gì, duy có Thiên hoàng và chính phủ mới được xướng nghị, chớ Nghị hội không được, Nghị hội chỉ có quyền bàn bạc và quyết định thôi. Không như bên Pháp, chính Hạ nghị viện có quyền xướng nghị sửa sang Hiến pháp, rồi đưa ra Quốc gia hội nghị (Assemblée Nationale) quyết định. Té ra bộ Lập pháp ở các nước khác cao, mà ở nước Nhật lại có địa vị thấp kém.

CÁC CỤ NGUYÊN LÃO

Hiến pháp Nhật Bản, trên đây là xét về hình thức, giờ ta thử xem qua thiệt tế, thấy có một đôi chỗ lạ lắm.

Cứ lấy hình thức của Hiến pháp mà nói, như đã bày tỏ ở trên, thì chính trị đại quyền nước Nhật, phó thác ở tay đức Thiên hoàng là đấng quốc gia nguyên thủ. Song, xem đến thực tế, thì chính quyền lại không ở Thiên hoàng mới kỳ. Thiên hoàng Nhật Bản tôn nghiêm vậy chớ, mà không có quyền được như Mỹ quốc Tổng thống hay Đức quốc Hoàng đế lúc nọ đâu. Đến đỗi chính một nhà học giả chính trị ở Nhật đã nói:

“Kể về quyền lực, Thiên hoàng Nhật Bản là bậc nhỏ nhất trong hàng quân chủ ở thế giới. Quân chủ một nước chân chính Lập hiến là Anh hoàng kia, có quyền lớn hơn Nhật hoàng nhiều. Ở nước Nhật, đức Thiên hoàng tôn nghiêm, là theo hình thức về địa vị xã hội mà tôn nghiêm đó thôi, chớ không phải là ngài chiếm được địa vị trọng yếu bực nhất về chính trị đâu”.

Chiếu theo điều khoản trong Hiến pháp thì Thiên hoàng Nhật Bản vừa làm vua vừa thống trị; nhưng xem đến thực trạng chính trị nước Nhật, thì Thiên hoàng là đấng nguyên thủ chỉ ở ngôi vua mà không thống trị.

Mà chính trị đại quyền, lại cũng không ở Nội các. Ai nấy đều biết vua nước Anh có cái danh thống trị, rứa mà chính trị Anh quốc thực ở trong tay Nội các có hoàn toàn trách nhiệm. Nội các Nhật Bản không được như thế. Tiếng là Quốc vụ đại thần hay Nội các lấy danh nghĩa Thiên hoàng và thay mặt vâng mệnh Thiên hoàng, nắm giữ hết thảy quyền hành, song mấy ông đó không phải hoàn toàn được độc lập hành động bao giờ. Kỳ thực, sự hành động của Nội các hay Nội các có chính sách gì, thường phải chịu một cái thế lực đặc biệt khác hoặc sai khiến hoặc cầm chừng; cho tới vận mệnh của Nội các cũng phải nằm ở trong cái thế lực đó mà còn, mất, nên, hư.

Thế lực gì vậy?

Ấy là thế lực các cụ nguyên lão.

Ta nên biết chính trị Nhật Bản có Nguyên lão viện là một cơ quan đặc biệt, không thấy nước nào có.

Nguyên lão viện là một cơ quan ở ngoài pháp luật và Hiến pháp, chỉ do thói quen mà có đó thôi. Thiên hoàng lựa mấy ông lão thần sung vô viện đó, vừa để thưởng tặng công lao, vừa để hỏi han quốc kế. Bình thường, các cụ nguyên lão không có chức vụ gì nhất định. Trừ ra khi nào quốc gia có việc phi thường, thì bấy giờ nguyên lão có chia nhau gánh vác những chức vụ quan hệ. Như hồi Nhật Nga chiến tranh, nguyên lão Y Đằng Bác Văn chuyên lo ngoại giao; nguyên lão Tỉnh Thượng Hinh, Tùng Phương Chính Nghĩa 松方正義 [Matsukata Masayoshi] chuyên lo lý tài, nguyên lão Sơn Huyện Hữu Bằng [山県有朋 Yamagata Aritomo], Đại Sơn Nham 大山巖 [Ooyama Iwao] chuyên lo quân sự. Nguyên lão không nhất định số người là bao nhiêu ông, bởi vậy có lúc nhiều, có lúc ít. Hiện nay hình như càng ít lắm, mà có thực lực và oai quyền nhất hạng, là ông nguyên lão Tây Viên Tự 西園寺 [Saionji]; ta thấy mỗi khi Nhật Bản có chính cuộc biến động đổi thay, Thiên hoàng đều triệu ông Tây Viên về triều vấn kế. Chỗ bày tỏ ra quyền lực Nguyên lão rất lớn, là lúc có việc thay đổi Nội các. Thiên hoàng hay hỏi nguyên lão để nhất định người nào có thể đứng ra tổ chức Nội các mới. Bởi vậy thiệt sự Nguyên lão có quyền quyết định tối hậu, là vì khi nào Thiên hoàng cũng y theo ý kiến của nguyên lão mà quyết định giao phó Nội các cho ai. Tức như ba bốn năm nay, Nội các Nhật Bản thay đổi từ Khuyển Dưỡng Nghị đến Trai Đằng 斉藤 [Saitou], tới Cương Điền 岡田 [Okada] bây giờ, mỗi lần ta đều thấy báo đăng tin Chiêu Hòa Thiên hoàng 昭和 [Shouwa] triệu ông nguyên lão Tây Viên Tự chống gậy lọm khọm về kinh hỏi han chính sự; mỗi lần Thiên hoàng giao phó việc tổ chức Nội các cho người nào cũng do ông Tây Viên Tự tấn cử.

 

KHUYỂN DƯỠNG NGHỊ 犬養毅 [Inukai Tsuyoshi] (1855-1932) - Một người có công to trong hồi duy tân năm 1932, khi đang làm Thủ tướng, bị bọn võ quan quá khích vô tận trong dinh bắn chết.

Bởi có sự vấn chính và sự tiến cử đó, nên chi vận mệnh Nội các và đến cả chính cuộc Nhật Bản nữa cũng thường quan hệ ở thế lực của nguyên lão. Tiếng rằng nguyên lão tấn cử người lập Nội các rồi thôi, sau không có quyền gì trực tiếp can thiệp vào chính sách của Nội các, nhưng kỳ thực vẫn là có quyền can thiệp gián tiếp. Tuy mấy ông nguyên lão ở xa một nơi, mà thế lực oai quyền của mấy ông vẫn quan hệ tới chính sách và sinh mạng của Nội các luôn luôn. Thuở nay thấy hiếm gì Nội các bị nguyên lão can thiệp mà vướng phải cơ nguy? Hiếm gì Nội các làm mấy cái chính sách bị phái Nguyên lão không dung mà đến phải từ chức? Thế lực Nguyên lão là thế lực ngầm, nhưng mà lớn lắm.

Sở dĩ phái Nguyên lão ở trong chỗ vô hình mà có ảnh hưởng oai quyền đến chính cuộc Nhật Bản như thế, là bởi các cụ già đó đều là người đại biểu của cái thực lực chính trị nước Nhựt: Phiên phiệt.

Độc giả đã rõ công nghiệp duy tân xây dựng lên phần lớn nhờ nơi hai cường phiên là Tát phiên và Trường phiên, cho nên tự nhiên họ lũng đoạn cả chính quyền, bao nhiêu chức trọng quốc gia, đều là người vây cánh của hai cường phiên chia nhau nắm giữ hết. Ngoài chính trị ra, tới quyền hải quân và lục quân, cũng là ở trong tay của nhân sĩ hai phiên chia nhau nữa. Hồi vua Minh Trị đặt riêng hai bộ Lục quân và Hải quân, nhân sĩ Tát phiên giữ hải quân, nhân sĩ Trường phiên giữ lục quân. Một nước chỉ có chính trị và võ lực là hai cái sức mạnh nhất, mà nhân sĩ hai phiên Tát, Trường nắm cả, thì lẽ đương nhiên họ là phái thực lực trong nước, có thanh thế oai quyền đến cả toàn cuộc chính trị vậy.

Những ông khai quốc công thần hay là chính trị tiền bối, phần nhiều là nhân sĩ của phiên này hay phiên kia tin dùng cất nhắc ban đầu, đến sau già cả hưu quan, được lựa chọn lên bậc nguyên lão; cố nhiên các ông là đại biểu Phiên phiệt và dựa vô đó mà có quyền lực ngấm ngầm to lớn nhất nước, nhắm không lạ gì.

Nói tóm lại, thiệt tình chính trị Nhật Bản: Quân nhân cầm cốt chính trị, Phiên phiệt cầm cốt binh quyền, mà Nguyên lão là đại biểu của Phiên phiệt, vì các ông nguyên là bậc tiền bối, thế lực trong Phiên phiệt mà ra, cho nên trên đàn chính trị, nguyên lão có địa vị đặc biệt, có thế lực đặc biệt, không ai qua đặng.

Xưa kia gọi là Phiên phiệt, tức nay gọi là Quân phiệt 軍閥 [Gunbatsu]; tuy danh hiệu có đổi dời, chớ đến thực lực oai quyền ở trong nước thì vẫn thế. Ta xem việc chinh phục Mãn Châu mấy năm nay đủ biết. Từ năm 1931 tới giờ, mấy lần thay đổi Nội các, Chiêu Hòa Thiên hoàng vời ông nguyên lão Tây Viên Tự Công Vọng 西園寺公望 [Saionji Kinmochi] về kinh đô hỏi ý kiến, lần nào ta cũng thấy ông tiến cử một người đồng tình với quân giới và ông tán thành cái chính sách võ lực của phe Quân phiệt luôn luôn. Đến bậc khai quốc công thần, chính đảng lãnh tụ, như Khuyển Dưỡng Nghị, ra cầm chính quyền trong năm 1932, chỉ vì không chịu thế lực Quân phiệt sai khiến mà bị mấy viên tiểu tướng xông vào tận dinh bắn chết!

CÓ NĂM VIỆC LÀM DẤU TỎ RA CHÍNH TRỊ NHẬT BẢN CÓ THẾ BIẾN HÓA

Tuy chủ não và giới hạn của cuốn sách này chỉ hạn định trong cái vòng 30 năm Nhật Bản duy tân, nhưng tôi thiết tưởng về vấn đề chính trị, sẵn dịp đang nói, nên nói cho luôn: ta có thể tạm thoát xa vòng hạn định mà nói rộng ra một chút cũng không sao.

Tính chất và thực trạng của chính trị Nhật Bản, như mấy đoạn trên đây đã nói, bắt đầu từ Minh Trị sơ niên, cho đến năm 1914 có Âu châu đại chiến phát sinh ra, đại thế trước sao sau vậy, không có biến động lớn lao mấy.

 

GIA ĐẰNG CAO MINH 加藤高明[Katou Kataaki] (1860-1926) - Người làm cho số dân có quyền tuyển cử được tăng lên nhiều.

Nhưng ta dòm xem sự tình nước Nhật từ lúc Âu chiến trở lại đây, hình như chính trị của họ đang ở trong hồi thay đổi. Cứ lấy mấy việc sau này mà xét, người ta có thể nói rằng chính trị Nhật Bản nay mai chắc có cái thế biến hóa lớn lắm, chẳng phải giữ y nguyên trạng được mãi đâu.

Một là thế lực của nguyên lão có vẻ lần hồi điêu tàn. Nguyên lão trải bao nhiêu năm cầm cốt chính trị nước Nhật, tới lúc qua đời Minh trị trở đi, thì oai thế nguyên lão kém đi lần lần. Nhất là hồi có một Nội các nhân vụ Hải quân hối lộ mà bị đổ nhào, rồi họ Đại Ôi (Độc giả đã biết ông này cùng Bản Viên là phe độc lập và giữ chủ nghĩa Tiến bộ Tự do, chớ không thuộc về Phiên phiệt) lại dấy lên cầm quyền, thì oai thế các cụ nguyên lão hình như phải chịu ảnh hưởng mà kém sút đi nhiều.

Vả lại, sự thực trong khoảng mấy năm gần đây, nguyên lão kế tiếp nhau qua đời hết bộn, chẳng những đám già tiền bối là Tỉnh Thượng, Đại Sơn, Sơn Huyện rủ nhau thành ma, ngay đến mấy cụ hậu bối như Tự Nội 寺内 [Terauchi], cũng trước sau từ giã cõi đời nữa. Ngày nay, chẳng qua chỉ còn sót lại có Tây Viên Tự cùng một hai ông hậu tiến nữa thôi. Đã vậy mà danh vọng và thế lực của các ông già hậu bối kém thua các ông già tiền bối rất xa. Vì thế mà nguyên lão lần hồi sút mất cái thế lực cầm cốt ở trên đàn chính trị Nhật Bản đi. Tuy rằng hiện nay mỗi khi có quốc gia đại sự, nhất là lúc thay đổi Nội các, Thiên hoàng vẫn chiếu theo lệ xưa, vời mấy cụ già về kinh để hỏi ý kiến, nhưng đến thực sự, mấy cụ ít có cơ hội can thiệp vào chính sách của Nội các như là hồi trước, và lại lực lượng của mấy cụ cũng nhỏ bớt đi rồi.

Hai là thế lực dân chúng nổi dậy.

Sau trận Âu chiến, cuộc sinh hoạt của dân Nhật, vì tình thế thiên hạ nguy biến đổi dời mà phải chịu ảnh hưởng khá lớn. Hồi Âu chiến, Nhật Bản thừa cơ bán được hàng hóa vật liệu ra ngoài rất nhiều, công nghệ bỗng chốc mở mang rộng lớn, trong nước bày ra cảnh tượng phồn thịnh khác hồi trước xa, mà hạng “tân phú ông” một lúc phát lên giàu có đông lắm. Xã hội thình lình có vẻ thịnh vượng phong phú; vật sản trong nước lên giá cao hơn bội phần, nhưng được hưởng lợi, chẳng qua chỉ có một số ít người, còn sinh kế của phần đông nhân dân thì trở lại hóa ra khó khăn khốn khổ.

Chừng đó vì sự kinh tế ép bức, dân chúng ra mặt bất bình; tức như hồi tháng 8 năm 1918, khắp các đô thị lớn trong nước, giá gạo bỗng dưng vọt lên cao quá, dân chúng nhân dịp này nổi lên thị oai phản kháng một cách dữ dội xôn xao.

Cuộc xôn xao này từ ý nghĩa kinh tế mà tấn lên ý nghĩa chính trị; dân chúng phản kháng thị oai, hết sức công kích những thói xa xỉ của bọn quyền quý tư bản. Phong trào lúc đó, bắt đầu đã có pha trộn ít nhiều màu mè xã hội chủ nghĩa ở trong rồi.

Sau vụ bạo động lớn đó rồi thì kế tới chỗ này chỗ kia, có cuộc đình công xảy ra lung tung. Giữa năm 1919, Nội các Tự Nội là nội các thay mặt Phiên phiệt bị đánh đổ nhào, nhà bình dân chính trị là Nguyên Kính 原敬 [Hara Takashi] nghiễm nhiên đứng ra vâng mệnh tổ chức Nội các mới, thay mặt cho chính đảng Chính hữu hội. Ấy là lần thứ nhất có một nhà chính trị bình dân ra cầm quyền chính.

Việc biến động này có ý nghĩa và phạm vi rộng lớn, mà tính chất của nó rõ ràng là chống chọi với cái trật tự đã thành nền nếp bấy lâu. Ta xem việc đó đủ thấy dân chúng Nhật Bản gần đây đã tự giác nhiều; họ đối với chính phủ đã nhẹ bớt cái thói quen sợ sệt tôn trọng đi, vô số lại còn ra mặt bất bình với chế độ đang thi hành đó nữa. Vả chăng giữa lúc dân chúng rộn rực vận động thị oai, mà bỗng chốc có nhà lãnh tụ một chính đảng ròng là bình dân được Thiên hoàng vời ra giao phó quyền chính quốc gia cho như thế, chính là một việc phá lệ ở trong lịch sử Hiến pháp nước Nhật, vì cái trách nhiệm đó, địa vị đó, thuở nay thường chuyền tay nối gót nhau trong đám Phiên phiệt và quý tộc mà thôi. Như vậy chẳng phải chứng tỏ ra rằng chính trị Nhật Bản rục rịch có cơ thay đổi màu mè, chẳng phải thế lực dân chúng đã lần hồi trở nên to lớn là gì!

Thứ ba là oai thế của phe quân nhân cũng đã giảm bớt. Nước Nhật sau cuộc duy tân, lấy chủ nghĩa quân quốc 軍国主義 [Gunkoku Shugi] (militarisme) như kiểu người Đức, làm cơ sở lập quốc. Người trong nước tôn trọng sùng bái quân nhân không khác nào đối với thần thánh. Bởi vậy đám Quân phiệt được trớn mà chuyên chế ngang tàng, là sự thường thấy.

Song gần đây xem ra dân Nhật có một bộ phận quan hệ, không có vẻ quá trọng quân nhân như trước, thế lực của quân nhân cũng hết lừng lẫy quá như lúc xưa. Nhất là thời thế dồn dập, kinh tế nguy nan như mấy năm nay, chỉ riêng có phe quân nhân hay phùng mang trợn mắt, lăm le chiến tranh, chớ dân chúng thiệt tình không muốn.

Cũng vì quân nhân đã hơi kém thế, nên chi mấy năm trước ta mới được thấy có một Nội các dám đưa ra cái nghị án rút bớt niên hạn đi lính cho dân; vả lại, mấy chức trọng ở hải ngoại, như chức Tổng đốc thuộc địa Đài Loan, Cao Ly, cũng có thế đổi dùng quan văn nhiều khi, chớ trước kia chức ấy luôn luôn về tay quan võ.

Mặc dầu có việc chiếm đoạt Mãn Châu mới rồi chính là thủ đoạn quân nhân, mặc dầu hiện nay đám quân nhân đang hăm he dự bị chiến tranh dữ lắm, nhưng sự thực thế lực quân nhân đối với dân chúng kém sút nhiều rồi, không quá lớn lao như trong đời Minh Trị nữa. Ta có thể nói rằng chính trị nước Nhật có cơ thoát ly cái thế lực quân nhân đi lần lần, cuộc dân trị chỉ trong nay mai chắc thực hiện được.

Thứ tư là quyền tuyển cử của dân được mở rộng.

Độc giả biết ban đầu Hiến pháp mới ban hành, số dân có quyền bỏ thăm ít lắm, duy có giai cấp tư sản mới được hưởng quyền ấy thôi. Các nhà chính trị hô hào dân quyền tự do, lớp trước như Đại Ôi, Bản Viên, lớp sau là Nguyên Kính, Gia Đằng, rất là hăng hái với chủ nghĩa dân trị. Sau cuộc Âu chiến rồi, phong trào dân chúng nổi lên tưng bừng, khiến cho vấn đề mở mang quyền lợi công dân càng thấy nao nức.

 

NGUYÊN KÍNH 原敬 [Hara Takashi] (1856-1921) - Người đầu tiên tổ chức một nội các bình dân.

Hồi năm 1919, nhà chính trị bình dân là Nguyên Kính vâng mạng tổ chức Nội các xong rồi, liền đưa ra cái pháp án mở rộng quyền tuyển cử. Từ ấy trở đi, dư luận sẵn trớn nổi lên xôn xao một hai đòi nhà nước phải sửa sang chế độ tuyển cử cho thật có tinh thần dân chủ mới nghe. Lúc trước, trong 60 triệu dân Nhật, chỉ có 160 vạn người được quyền tuyển cử; nhờ có Nguyên Kính yêu cầu cải cách, số người đó mới tăng lên tới 300 vạn.

Thế mà sự cải cách ấy dân còn chê là ít; họ trách nhà nước chỉ làm nửa chừng; họ bất bình ra mặt, gây nên náo động khắp cả trong ngoài nghị viện, đến đỗi qua tháng 2 năm sau (1920), Chúng nghị viện bị giải tán.

Sau lúc bầu cử Chúng nghị viện mới, tuy là phe của chính phủ chiếm được nhiều ghế hơn, nhưng mà dân chúng vẫn cứ hoạt động ồn ào dữ dội, một hai đòi cho được chế độ phổ thông đầu phiếu, mới thỏa lòng dân.

Rốt lại đến năm 1925, hồi Gia Đằng làm Nội các tổng lý, bấy giờ cái án phổ thông tuyển cử mới làm xong. Từ đây trở đi, phàm là dân đàn ông nước Nhật, hễ đúng 30 tuổi, tức thị có quyền bỏ thăm bầu cử Chúng nghị viện, chớ không hạn là có nạp thuế gì hay không. Nhân đó số dân đầu phiếu tăng lên 13 triệu.

Dân chúng Nhật Bản vận động kèo nài cho được cái quyền tham dự chính trị một cách rộng rãi như thế, lấy ngày giờ mà nói thật là tấn tới đáo để. Nhất là từ lúc khai quốc duy tân tới ban hành Hiến pháp cho đến lúc đang nói đây, ngày giờ chưa có bao nhiêu lâu. Ta xem đường đi nước bước của dân chúng Nhật Bản tấn tới mau lẹ thế ấy, chỉ tỏ cho ta thấy rằng hễ nào nay mai chính trị Nhật Bản cũng xoay về con đường dân trị hẳn hoi; bao nhiêu dấu vết phong kiến quý tộc, sẽ thành ra một cổ vật, cỏ dậy rêu phong!

Thứ năm là có cơ chính đảng nối gót nhau tổ chức Nội các.

Từ năm 1898, hai đảng của Đại Ôi và Bản Viên hợp nhau lại tổ chức Nội các mà bị thất bại trở đi, trong chính giới Nhật lâu lắm không có Nội các chính đảng nào dựng lên được, về sau tuy có nhiều phen, đảng Chính hữu hội ghé vai vào Nội các này kia nhưng đó chẳng qua là chính đảng phải chịu đầu hàng ở trước oai thế của Phiên phiệt, để chia hưởng một vài cái ghế “cụ thượng” vậy thôi, chớ không phải là chính đảng được đứng lên tổ chức Nội các một mình.

Mãi tới năm 1918, Nội các Tự Nội là vây cánh bộ hạ Phiên phiệt, gặp phải lúc giá gạo mắc mỏ, dân chúng làm dữ, mà bị đổ nhào; bấy giờ mới có một Nội các của chính đảng lập ra được lần thứ nhất. Ấy chính là Nội các Nguyên Kính. Ông này là lãnh tụ đảng Chính hữu hội lúc đó. Kế sau lại có những Nội các Phiên phiệt đắp đổi nhau. Cho tới năm 1924, Nội các Gia Đằng là Nội các chính đảng lần thứ hai. Tới khoảng năm sáu năm vừa qua, có lúc lãnh tụ đảng Hiến chính là Nhược Quy 若槻 [Wakatsuki] mấy phen làm đầu Nội các, cũng là Nội các chính đảng. Năm 1932, Thủ tướng Khuyển Dưỡng Nghị bị đảng viên bạo động xông vô trong dinh bắn chết đó, nguyên là lãnh tụ đảng Chính hữu hội đứng ra tổ chức Nội các, ấy cũng là chính đảng Nội các. Mấy kẻ giết ông nào phải ai lạ: chính là quân nhân, quân nhân tức là Phiên phiệt mà!

Tuy hai năm nay, không thấy lãnh tụ chính đảng nào ra tổ chức Nội các, nhưng mà chính đảng vẫn có can dự vô phần nhiều và có quan hệ đến vận mệnh Nội các rất lớn. Chính đảng ở Nhật gần đây, đối với chính phủ và chính trị trong nước, càng ngày càng có thanh thế, ai muốn cầm quyền, không thể nào rời bỏ hay khinh thường chính đảng như mấy lúc xưa đặng.

Chúng ta cứ xét năm cái hiện tượng biến hóa kể ra trên đây, thì biết chính cuộc Nhật Bản từ hồi Âu chiến trở đi, rõ ràng có vẻ xoay về dân trị lần lần, không phải ròng rã một màu quý tộc phong kiến như 20 năm về trước nữa. Huống chi lâu nay các phe thuộc về giai cấp vô sản trong xã hội, đã lần lượt dựng ra chính đảng, hiệp thành đoàn thể hẳn hoi; mỗi việc gì họ cũng phấn đấu cạnh tranh với các phe có sản nghiệp to, có thế lực lớn, không chịu mềm mỏng nhường nhịn chút nào.

Vậy càng tỏ ra dân chúng Nhật Bản bị đè nén ở dưới oai quyền thế lực của chính phủ Phiên phiệt bao nhiêu lâu, bây giờ họ đã lần lần tự giác về địa vị chính trị của họ, cùng nhau kết phe hợp sức lại, sắp sửa trở nên một thế lực mạnh lớn ở giữa xã hội Nhật Bản. Chính trị nước Nhật sẽ bị cái thế lực đó xô đẩy, mà sẽ trải qua một cuộc biến hóa quan hệ, chớ không sao khỏi được. Hiến pháp năm 1889 tất phải thay hồn đổi xác, chắc không giữ hoài như cũ được đâu.

Nếu nay mai có cuộc chiến tranh với một liệt cường nào, thì nội tình chính trị Nhật Bản càng phải biến hóa mau lắm. Tôi nhớ hình như có một nhà chính trị nào ở Âu châu nói rằng “một mai Nhật Bản khai chiến với ai, tất nhiên trong nước họ có một cuộc cách mạng rất lớn”; lời nói ấy có lẽ là lời nói tiên tri về chính cuộc nước Nhật đó.

Chương VIII. LỤC QUÂN VÀ HẢI QUÂN

Tây phương lấy võ lực khiêu khích bắt buộc Nhật Bản phải tỉnh giấc mộng xưa mà đi vào con đường mới, hèn chi trong cuộc duy tân, chính phủ Nhật Bản lấy việc sửa sang binh bị, sắp đặt quốc phòng là việc quan hệ cấp bách thứ nhất cũng phải.

Đã nói toàn cuộc “Nhật Bản duy tân” có thể gọi tắt là một cuộc tóm thâu bắt chước hết thảy những cái gì là mới, là hay, là tài, là lạ của Tây phương. Từ chính trị, giáo dục, võ bị, khoa học cho tới kỹ nghệ, công thương, cơ khí, mỹ thuật, không có thứ nào mà Nhật không đạp đổ cái cũ, cái dở của mình, để đổi lấy cái hay, cái mới của người. Trên đường văn minh tiến hóa, họ như người khách lữ hành có việc gấp, mà đi thâu đêm suốt sáng, rảo cẳng rút đường, hầu tới mục đích địa điểm cho mau, kẻo sợ chậm trễ hư việc.

Bởi vậy, bắt đầu từ 1868 trở đi, lối 30 năm sau, Nhật Bản nghiễm nhiên trở nên một nước văn minh phú cường, trừ cái quốc hồn ra thì bao nhiêu dấu cũ vết xưa ba chục năm về trước không còn thấy tăm hơi đâu hết.

Mấy tiếng súng của Tây phương thức tỉnh và thúc hối Nhật Bản mau quá!

Đã đọc một chương ở trên xa kia, độc giả tất đã biết rõ cái cớ khiến cho Nhật Bản văn minh tự cường mau, chính là do mấy tiếng súng của Tây phương hăm he, bắt buộc. Trước là mấy tiếng súng của đoàn tàu Mỹ bắn vào Phố Hạ; sau là mấy tiếng súng của hạm đội 4 nước Anh, Lan, Mỹ, Pháp, hiệp nhau bắn vào Lộc Nhi Đảo và Hạ Quan. Những tiếng súng đó chỉ tỏ cho người Nhật thấy cái mãnh lực của Tây phương cao hơn mình muôn phần; nếu mình muốn sinh tồn, thì phải làm sao cũng bắn được những tiếng súng long trời lở đất như họ vậy mới được.

Thế là Tây phương lấy võ lực khiêu khích bắt buộc Nhật Bản phải tỉnh giấc mộng xưa mà đi vào con đường mới, hèn chi trong cuộc duy tân, chính phủ Nhật Bản lấy việc sửa sang binh bị, sắp đặt quốc phòng là việc quan hệ cấp bách thứ nhất cũng phải.

Phải xem qua cái lịch trình của lục quân và hải quân nước Nhật, mới dễ thấy cuộc duy tân của họ bày tỏ ra sự thành công kết quả đã mau chóng lại tốt đẹp vẻ vang đến thế nào?

CÓ NGƯỜI SỚM BIẾT NGHIÊN CỨU BINH PHÁP THÁI TÂY

Ai cũng biết Lục quân Nhật Bản nổi tiếng khắp thiên hạ là thứ quân có kỷ luật nghiêm minh và dũng mãnh liều chết lạ thường. Họ ngang hàng với lục quân của Pháp và của Đức chớ không phải vừa. Nhiều người Âu châu đi xem trận Nhật Nga chiến tranh 1904-1905, đều phải công nhận.

Có lạ gì dân tộc Nhật Bản sẵn có tính cách thượng võ từ trong trứng đẻ ra, trải qua con đường lịch sử dằng dặc hai ngàn mấy trăm năm, nào là vì lẽ phấn đấu sinh tồn mà phải đánh dẹp những bộ lạc ở xung quanh họ, nào là trong nước có những việc nội loạn chinh chiến luôn luôn, thành ra từ xưa, người Nhật đã từng biết sửa sang võ bị, rèn tập lục quân là thế nào rồi. Một dân tộc có Võ sĩ đạo là quốc túy, quốc hồn, tự nhiên ai cũng biết trọng võ, ai cũng là tên lính được cả. Có thể nói Nhật Bản từ khi có lịch sử cho đến lúc được chừng 2300 năm, không có mấy chương mà không biên chép việc võ.

Chỉ duy đến đời cận kim, họ Đức Xuyên làm tướng quân, ngoài thì đóng cửa tuyệt giao, trong thì thái bình vô sự, ròng rã hai trăm mấy chục năm như thế, việc văn hết sức tấn tới, mà việc võ ra chiều lãng quên đến đỗi hình như dân Nhật không còn có thứ máu hung hăng vũ dũng như tổ tiên thuở trước nữa. Bởi vậy hồi cuối thế kỷ XVIII, năm 1789, người Nga mở mang bờ cõi sang phương Đông, ỷ mạnh xâm lấn mất cù lao Thiên Đảo 千島 [Chishima] của Nhật, mà Nhật cam chịu ngó lơ; rồi từ đó về sau thường có lá buồm tàu Tây ra vô thấp thoáng ở biển gần kề Nhật Bản luôn luôn, nhưng cũng chưa đủ kêu gọi cái hồn thượng võ thủ thân của dân Nhật tỉnh dậy.

Mãi tới năm 1853, một đoàn tàu Mỹ kéo tới Phố Hạ bắn súng rầm rầm, bấy giờ trong nước Nhật, trên dưới mới rúng động hoảng hồn, coi như tiếng sét bể núi nghiêng trời thình lình giáng hạ! Cái hồn Đại Hòa dân tộc là cái hồn thượng võ trọng binh, hai trăm mấy chục năm bị uất kết trầm kha, nay vùng tỉnh dậy, rồi những người mang cái hồn ấy ùn ùn phấn phát giống như cái thế núi lở nước tràn, không có thứ gì ngăn cản được. Bấy giờ, trên thì mấy nhà cầm quyền Mạc phủ, dưới thì hạng chí sĩ thức thời, đều xôn xao nhìn biết sức mạnh ghê gớm của Tây phương, và nhất định làm sao mình cũng phải có quân lính tập rèn như người Tây, súng đạn dữ dằn như người Tây, thì mới sinh tồn đặng.

Song, y như một đoạn trên xa kia tôi đã nói, nước Nhật có phúc, cho nên đối với văn hóa Tây phương, trong dân gian thường sản sinh ra những hạng chí sĩ có cái óc tỉnh ngộ thời thế sớm hơn nhà cầm quyền, sớm hơn cả dân chúng, dầu về phương diện nào cũng thế. Chính hạng ấy tỉnh ngủ dậy trước, rồi đánh thức nhà cầm quyền và dân chúng dậy theo.

Như đời Đức Xuyên cấm dân nghiên cứu Tây học, còn việc mua bán thì chỉ cho phép một mình người Hòa Lan là người Tây phương được ra vô buôn bán ở đất Trường Kỳ mà thôi, nhưng vậy mà trong đám sĩ dân Nhật Bản vẫn có năm mười học giả thầm lén xem xét văn minh Tây phương. Ngay đến quân học Tây phương đời ấy cũng đã truyền qua Nhật Bản chút ít được rồi. Ta coi một chứng cớ này đủ biết.

Năm 1840, tức là trước khi có đoàn tàu Mỹ vô bắn súng thị oai ở cửa Phố Hạ 13 năm, nước Nhật đã có người dân ở Trường Kỳ tên là Cao Đảo Tứ Lang 高島四郎 [Takashima Shirou] lần mò chơi bời với người Lan, xem kiểu súng Lan, tự nhiên trong óc nảy ra kiến thức về thời thế, về sức mạnh của quân lính súng đạn Tây phương. Rồi đó Cao Đảo chuyên tâm giảng cứu binh học Tây phương ngay chẳng dụ dự chút nào! Không bù với sĩ dân nước mình, từ hồi cuối thế kỷ XVIII, có đức thầy Bá Đa Lộc đem mấy chục tay kỹ sư quân gia Pháp qua đóng tàu đúc súng giùm cho vua Gia Long, có khí giới tân kỳ đó ngài mới thắng nổi Tây Sơn, ấy chính là dịp đáng cho ta có một hai Cao Đảo Tứ Lang sớm hơn Nhật Bản 50 năm rồi chớ! Vậy mà chẳng hề có một nho gia hay một võ sĩ nào của mình thấy cái sức mạnh đó mà biết tỉnh ngộ bắt chước!

Cao Đảo học rồi dâng thư lên Mạc phủ, đại khái nói rằng:

“Thanh quốc (青国 tức là nước Tàu lúc đó) bị Âu binh đánh phá tan tành, là vì binh khí của Thanh dùng theo kiểu xưa, quân lính tập rèn lối cũ, không có thế nào chống lại được với binh khí quân sĩ lối mới đời nay. Nếu như nước Nhật ta không mau mau sửa sang binh khí, quân đội và chiến pháp, thì việc quốc phòng của ta không có thế nào khỏi nguy được đâu. Vậy xin tướng quân nên mau thi hành cuộc đại cải cách về việc binh cơ võ bị mới đặng…”

Vừa nói vừa làm, Cao Đảo lại cậy người Hòa Lan mua một ít súng đạn ở nước Hòa Lan đem qua, rồi tự mình rèn tập võ nghệ tân thời cho một số em cháu học trò. Khi tập rèn thành thuộc đâu đó rồi, chính Cao Đảo dẫn toán lính mới, bồng súng mới đó, lên tới Giang Hộ, để phô bày trước mắt, hầu chỉ tỏ cho Mạc phủ thấy việc nghiên cứu Tây học là việc cần kíp dường nào. Tuy nhà cầm quyền chần chừ nghi ngại, chưa chịu nghe lời Cao Đảo mặc lòng, chớ Cao Đảo cũng đã làm cho Mạc phủ hơi tỉnh ngộ về thế lực Tây phương nhiều ít.

Trở về quê hương, Cao Đảo mở trường dạy học luyện binh đúc súng kiểu Tây. Có nhiều chí sĩ thức thời vẫn dốc lòng khâm phục binh pháp Tây phương, giờ kéo tới Trường Kỳ thờ kính Cao Đảo làm thầy càng ngày càng đông. Cao Đảo cùng người học trò giỏi nhất là Giang Xuyên Thái Lang 江川太郎 [Egawa Tarou], mở xưởng đúc súng đạn riêng mà tự thảo ra trận đồ phòng giữ đất nước. Tia sáng “binh pháp duy tân” của Nhật Bản, chính là từ trong nhà Cao Đảo mà bật lên chiếu rọi trước hết vậy.

Tội nghiệp Cao Đảo về sau bị nhà cầm quyền sinh nghi là có chi lạ sao đó, nên chi cuối năm 1842, Cao Đảo bị bắt hạ ngục rồi chết luôn trong ngục.

Tới đây, tôi động lòng vụt nhớ lại cảnh ngộ của ông Nguyễn Trường Tộ mình ở đời Tự Đức cũng dâng thư yêu cầu cải cách về học thuật võ bị, không được triều đình biết nghe, lại còn sinh nghi rồi giam cầm ông ta chết khô trong ngục. Thân thế Trường Tộ giống như Cao Đảo; chỉ khác nhau một chỗ, là Cao Đảo có thực nghiệm ít nhiều, còn Trường Tộ chỉ cao đàm trên giấy. Thành ra, cùng là vì việc quốc gia thời thế mà chết khô như nhau, nhưng mà một người có lưu lại ảnh hưởng với hậu nhân, một người thì vô bổ cho quốc sự!

Mặc lòng Cao Đảo gặp bước chẳng may cho đời mình, nhưng mà công nghiệp khởi sáng của Cao Đảo vẫn sống đời đời. Người Nhật đều nói: “Ông tổ Tây phương binh pháp ở nước Nhật, chính là Cao Đảo!”.

Người nọ mang họa mà chết, tức thời có người kia nối chí mà dấy lên ngay, không sợ gì hết. Nội cái tinh thần vô úy của chí sĩ Nhật như thế, đủ khiến cho Nhật ít năm sau trở nên văn minh hùng cường tới bao nhiêu lần cũng đáng.

Nối chí Cao Đảo, chính là Giang Xuyên; học trò ra tay làm cái việc của thầy học để lại.

Giang Xuyên cứ mở trường dạy học trò tập binh đúc súng và lo việc quốc phòng như Cao Đảo trước. Một mặt Giang Xuyên khéo tỏ bày thời thế, mà được mấy cụ Các lão của Mạc phủ tin dùng. Mạc phủ giao cho Giang Xuyên xây hai pháo đài ở Hạ Điền 下田 [Shimoda] và Phẩm Xuyên 品川 [Shinagawa], làm như hai bức thành đá, hộ vệ Mạc phủ. Đến năm 1855, nghĩa là sau khi đoàn tàu Mỹ qua Phố Hạ 2 năm, thì Giang Xuyên mang bệnh qua đời.

Người Nhật đều nói: “Nhờ nơi Cao Đảo, Giang Xuyên, hai thầy trò sốt sắng gan dạ, mới mở ra đầu mối sửa sang binh pháp tân thời cho Mạc phủ, mà cũng chính là hai ông tổ sư của Lục quân Nhật Bản ngày nay”.

ĐẠI KHÁI LAI LỊCH CỦA LỤC QUÂN NHẬT TỪ MẠC PHỦ ĐẾN ĐỜI MINH TRỊ

Sau đó, cả về hải quân và lục quân, Mạc phủ đều lo sửa sang lại, và mua sắm binh khí tân thời để cho việc quốc phòng được vững vàng. Mạc phủ lại tự mở ra xưởng chế tạo súng đạn nữa. Các phiên bang cũng bắt chước; mỗi phiên đều mở ra xưởng súng đạn riêng của mình. Tự nhiên ban đầu súng đạn ấy chế tạo ra chưa tốt, nhưng mà nhờ có chỗ “lo thân và dè người” nó xui khiến, thúc giục, thành ra chỉ trong ít năm, công cuộc chế tạo binh khí lối mới ở nước Nhật được tấn bộ mau lắm.

Đến hồi tàu chiến của Anh bắn vào đảo Lộc Nhi 鹿児島 [Kagoshima) (1863) và năm sau hạm đội 4 nước Anh, Pháp, Mỹ, Lan, kéo tới bắn vào Hạ Quan (1864), nước Nhật thêm cơ hội tỉnh ngộ ra rằng chỉ có súng bền đạn tốt cũng chưa đủ cho mình cự ai hay là đánh người được, tất nhiên phải khéo luyện tập binh đội nữa mới xong.

Rồi năm 1862, Mạc phủ theo kiểu Tây mà lập ra được 3 binh đội: Bộ binh 8.306 người; kỵ binh 1.068 người; pháo binh dã chiến (dùng đánh nhau ngoài đồng) 800 người; pháo binh yếu tắc (giữ chỗ hiểm yếu, ví dụ như pháo đài) 2.045 người; tướng sĩ 1.406 người; cộng lại mấy đạo lục quân được 13.625 người. Lại bắt chước Tây phương mà định ra thứ bậc danh hiệu các tướng tá ở lục quân và hải quân, rồi phái người đi Âu châu nghiên cứu binh chế.

Tới năm 1867, Mạc phủ mướn mấy vị võ quan Pháp sắp đặt và thao luyện lục quân cho mình. Các phiên bang cũng đua nhau sửa sang võ bị lối mới; có điều là mỗi phiên tự ý bắt chước cách thức của một nước Âu châu, chớ không nhất định một thứ. Nhưng cũng năm 1867 đó, Mạc phủ đem quyền chính dâng trả Thiên hoàng, rồi sang năm sau là Minh Trị nguyên niên, bắt đầu mở ra lịch sử duy tân cho nước Nhật.

Một hai năm đầu Minh Trị, tuy là chính quyền đã trả lại nhà vua, nhưng mà binh quyền thì chưa, vì còn ở trong tay các phiên, mỗi phiên, có quân đội riêng: phiên theo kiểu Anh, phiên theo lối Đức.

Minh Trị Thiên hoàng sai Sơn Huyện Hữu Bằng (37 năm sau làm đại tướng trong trận đánh Nga) và Tây Hương Tông Đạo cùng đi qua các nước Âu châu, xem xét binh chế. Tháng 8 năm Minh Trị thứ 3, hai ông này về nước, gánh vác công việc sửa sang quân chính.

Bấy giờ Nhật Bản mới nhất định lựa chọn theo kiểu Pháp quốc mà tổ chức lục quân của mình, các phiên cũng lần lần trả lại đất cát cùng binh quyền cho nhà vua thống nhất. Lúc này trở đi, lục quân Nhật Bản mới thiệt là bước vào thời kỳ tổ chức theo lối mới, huấn luyện theo lối mới.

Ta nghĩ coi quân đội một nước trải mấy ngàn năm quen đánh nhau bằng giáo mác gươm đao, vả lại kỷ luật không rành, giáo dục ít có; nay bỗng xóa bỏ hết lớp cũ, để tạo lập ra lớp mới tinh, lẽ tự nhiên công cuộc cải cách này vừa vất vả khó khăn, nhưng thật là công trình vĩ đại lắm vậy. Nhất là luyện tập lục quân kiểu mới mà sau 37 năm nữa đã đem ra thử sức với lục quân của một đại cường quốc lâu đời là nước Nga, rốt cuộc binh Nhật toàn thắng, càng tỏ ra công cuộc cải cách mau lẹ rõ ràng biết sao mà nói cho cùng.

Tôi tiếc không thể nói kỹ về công cuộc cải cách binh pháp của đời Minh Trị từ ly từ chút, là vì giới hạn giấy mực hẹp hòi, mà dầu có nói kỹ chắc cũng là dư, vì giống người chúng ta vốn không thượng võ, không hào binh, tưởng nếu nói nhiều về công cuộc tổ chức này có lẽ lắm người đọc sinh chán!

Chúng ta chỉ nên biết rằng công cuộc cải cách binh bị của Nhật trong hồi duy tân đã làm một cách thấu triệt, hoàn toàn, không có một điều hay nào về binh cơ võ bị của Âu Mỹ mà Nhật Bản không thâu góp bắt chước. Từ việc giáo dục tướng sĩ, chế tạo khí giới, cho đến việc xây dựng pháo đài, sắp đặt binh chế, nhất nhất đều lần hồi sửa sang, kỳ cho tới có lục quân hẳn hoi như Âu Mỹ.

Mười mấy năm đầu, Nhật Bản còn phải mướn võ quan Âu Mỹ qua rèn tập và sở đúc súng đạn cũng mướn các nhà chuyên môn ngoại quốc chỉ vẽ trông nom. Nhưng từ năm Minh Trị thứ 15 trở đi, thì mọi việc luyện binh đúc súng gì, người Nhật cũng tự làm lấy hết, không phải mượn tay người ngoại quốc nào nữa. Là vì có những thanh niên đi du học Âu Mỹ trở về, đã rút nghề của Âu Mỹ mà tự chủ công việc luyện binh đúc súng được rồi. Học như họ vậy mới thiệt là học cứu nước.

Muốn biết hải quân và lục quân đời Minh Trị càng ngày càng tấn tới sửa sang thế nào, ta cứ xem nội số tiền công nho gia tăng cũng biết: mấy năm đầu chi phí 7 triệu yên có, 8 triệu yên có; 20 năm sau lên 13, 14 triệu, cho tới khoảng Minh Trị thứ 35, 36, thì số đó lên từ 50 đến 80 triệu, 100 triệu ngoài. Rõ ràng Nhật Bản chịu tốn hao sắp đặt quân đội khí giới lắm vậy.

Một việc có tổ chức mà không có thực nghiệm, thì cũng còn là việc thiếu sót, và không thực nghiệm thì làm sao biết chỗ dở hay? Hải quân và lục quân nước Nhật được kiêm cả hai cái lợi đó.

Trong khi quân đội hải lục cải cách theo mới, có mấy dịp tốt để cho tướng sĩ Nhật Bản thử sức của họ rất hay.

Trước hết, là hồi ban đầu Mạc phủ mới dâng trả quyền chính nhà vua, còn có số ít chư hầu bất phục, rủ nhau nổi loạn, ép nài Đức Xuyên Khánh Hỉ phải trở về Giang Hộ làm tướng quân lại. Dịp này, quân lính nhà vua trên bộ dưới thủy phải ra tay đánh dẹp hơn một năm mới êm. Tuy là nội loạn, nhưng tướng sĩ có cơ hội thao luyện chiến pháp lối mới của họ bắt đầu học được bấy lâu.

Năm Minh Trị thứ 10, có loạn ở miệt Tây Nam do Tây Hương Long Thịnh xướng lên, lại có dịp cho tướng sĩ nhà vua thử sức mình một lúc nữa.

Tới năm Giáp Ngọ (1894), Nhật Bản khởi sự đem binh ra thử sức ở ngoài, ấy là lúc chiếm cứ Đài Loan, đánh nhau với quân nhà Thanh của Trung Quốc. Trận này cả hai quân hải lục đánh đâu thắng đó, làm binh Thanh ngó thấy bóng cờ của Nhật đã chạy te. Rồi đến năm Canh Tý 1900, Trung Quốc có loạn Quyền phỉ, Nhật Bản đem quân sang cùng 7 nước Âu Mỹ, gọi là Bát quốc liên quân (八国連軍) vào Bắc kinh dẹp loạn ấy; cũng là dịp cho binh Nhật thực nghiệm tài lực của mình, mà cũng là dịp cho Tây phương ngó thấy phải lấy làm sửng sốt ngẩn ngơ: không hiểu sao Nhật Bản luyện quân lối mới quanh quẩn có ba chục năm, mà đã có được những quân đội thật là dũng mãnh thiện chiến và có kỷ luật nghiêm minh, không thua Tây phương chút nào.

Sau mấy kỳ thực nghiệm trên đây, tuy là binh Nhật được Tây phương khen ngợi và đánh ăn Trung Quốc, nhưng tướng sĩ Nhật không hề tự kiêu, cũng không cho là tự mãn tự túc. Trái lại, dầu đánh thắng được khen mặc lòng, họ vẫn xem xét lại mình còn thiếu sót những chỗ nào, rồi cố gắng được cải lương tấn bộ hơn nhiều nữa. Các thanh niên tướng sĩ xét mình chưa đủ học thuật làm lo, cho nên sau lúc chiến sự xong rồi, ai nấy trở về càng gia công luyện tập, vì họ thấy rõ binh sĩ Trung Quốc chỉ vì không có học thuật huấn luyện nên mới chọi ai thua nấy, chớ không chi lạ.

Lúc này những súng đạn cùng các thứ quân khí của Nhật tự chế tạo ra đã tấn tới lắm. Nhất là có kiểu súng bộ binh của một vị thanh niên đoàn trưởng là Thôn Điền (村田 Murata, major Murata Tsuneyoshi) sáng chế ra, đạn bắn đi rất xa. Vậy là vừa mới bắt chước người ta, mà họ đã nảy ra cái óc tự chế binh khí rồi; tôi tưởng thiên hạ không có dân nào đi học người mà mau tự lập mình đến thế.

Quân khí đã tốt, tướng sĩ lại đêm ngày luyện tập; một nước có lục quân như vậy, không mạnh sao được? Lục quân đó, đến sau năm 1904-1905, Nhật Bản đem qua Mãn Châu đánh tan quân lính của đại cường quốc Nga-la-tư, làm cho thế giới kinh hoàng, rồi từ đó Nhật Bản được leo lên ngang hàng với liệt cường Âu Mỹ.

Phàm là dân Nhật, ai cũng phải có nghĩa vụ ra lính. Đến tuổi ra đứng dưới lá cờ nhà binh, thì ai cũng bình đẳng như ai, không phân sang hèn giàu nghèo gì cả. Về niên hạn ra lính, gần đây có sửa đổi thế nào, tôi chưa được biết, chớ theo như binh chế đời Minh Trị hồi mới duy tân cho đến hồi đánh thắng Nga, thì nhất thiết nam tử đúng 20 tuổi đến 40 tuổi, đều có nghĩa vụ binh dịch.

Có 4 hạng lính: Thường bị 常備 [Shoubi), Hậu bị 後備 [Atobi), Bổ sung 補充 [Houju), Quốc dân 国民 [Kokumin).

Hạng lính Thường bị chia ra làm hiện dịch và dự bị 2 kỳ. Lính hiện dịch thì lục quân 3 năm, hải quân 4 năm; lính dự bị thì lục quân 4 năm 4 tháng, hải quân 3 năm.

Ngạch lính Hậu bị, kỳ hạn ra lính định là 5 năm; mãn hạn thì tên mình thoát khỏi sổ lính.

Hễ con trai đến tuổi thành đinh tức là đúng 20 tuổi, buộc phải ra lính hiện dịch ngay, để chịu sự rèn tập nghề binh. Duy có học trò thì được rộng kỳ cho học xong rồi mới phải nhập ngũ. Còn những người đăng lính vào hạng dự bị, thì mỗi năm chỉ bị kêu ra tập rèn có một tháng.

Lính Hậu bị cũng như lính Dự bị nói trên đây, là những người bình thời vẫn có nghề nghiệp làm ăn, không buộc vô ở trong trại, nhưng tên họ có ghi trong sổ quân, khi có chiến sự thì nhà nước kêu ra đi lính.

Những người có vóc dáng kém sút, và sức khỏe không hợp cách quân nhân, thì đăng vào ngạch lính Bổ sung.

Đến như ngạch lính gọi là Quốc dân binh, ấy là những người ra lính đã mãn hạn rồi, nhưng xin đăng lại để phục dịch quốc gia mãi mãi.

Riêng với học sinh, nhà nước cho rộng rãi hơn: học sanh cao đẳng chỉ phải ra lính hiện dịch có 2 năm; học sinh đại học thì 1 năm. Còn trung học trở xuống vẫn phải ra lính hiện dịch 3 năm như thường. Những học trò bậc cao, sau khi làm tròn phận sự đi lính rồi, tình nguyện sung vào quân đội thì gọi là chí nguyện binh 志願兵 [Shiganhei], tức như ngạch lính gọi là les volontaires ở Pháp quốc vậy.

Kể đến hồi đánh Nga, khắp cả nước Nhật, số dân có thể ra làm nghĩa vụ binh dịch, lối chừng trên 700 muôn người.

Hiện thời, Lục quân Nhật Bản có cả thảy 17 sư đoàn 師団 [Shidan], ấy là kể số lính tại ngũ trong nước và trấn thủ ở Mãn Châu, Cao Ly, chớ còn những ngạch lính Hậu bị, Dự bị và Bổ sung có thực số bao nhiêu, không ai biết được. Ví dụ một mai đánh nhau với nước nào, mà chính phủ hạ lệnh động viên 動員令 [Douinrei] (Mobilisation), thực số tất cả ngạch lính bao nhiêu, chính phủ giữ bí mật lắm.

Chiếu theo Hiến pháp Nhật Bản, toàn quốc Hải quân, Lục quân và Không quân, đều ở dưới quyền tiết chế của đức Thiên hoàng. Chính ngài là Hải, Lục, Không quân Đại nguyên soái (海陸空軍大元師). Ngài có quyền độc tài về quân chính, chớ không phải qua tay Nội các ưng không mới được. Lúc có chiến sự, ví dụ như lúc đánh Nga, Đại bản doanh 大本営 (Quartier général) hay là Nguyên soái phủ 元師府 vẫn đặt tại thành Đông Kinh, do Đức Thiên hoàng làm đầu, có Nội các Thủ tướng cùng mấy vị Hải quân, Lục quân đại thần và mấy vị Đại tướng quân làm chức Tham nghị Đại bản doanh. Khi đức Thiên hoàng ngự tới Đại bản doanh bàn tính quân cơ, vẫn mang nhung phục Đại nguyên soái.

Chính ngài lựa chọn giao phó các tướng tá thay mặt ngài ra trận cầm quân, gọi là Tổng chỉ huy 総指揮 [Soushiki] hay là Tổng tư lệnh 総司令 [Soushirei]. Tức như hồi có chiến sự với Nga, đức Thiên hoàng phong Đại Sơn Nham làm Lục quân Tổng tư lệnh, đánh bộ binh Nga ở Mãn châu, và phong Đông Hương Bình Bát Lang làm Hải quân Tổng tư lệnh, đánh thủy binh chiến hạm Nga ở cửa Lữ Thuận và Nhật Bản hải. Ra trận, hết thảy tướng sĩ ba quân đều phải vâng theo phương lược của quan Tổng tư lệnh, mà chính quan Tổng tư lệnh lại phải vâng theo huấn lệnh từ Đại bản doanh truyền cho. Trận đánh Nga, hai ông Đại Sơn và Đông Hương vốn là Trung tướng mà Thiên hoàng Minh Trị lựa chọn cất nhắc thăng cấp đại tướng, và đem cả vận mệnh Lục quân và Hải quân nước Nhật phú thác cho, là vì ngài biết rõ tài năng thao lược của hai ông, nên mới trọng dụng ủy thác như vậy. Quả thật, vua Minh Trị không lầm chút nào: bộ binh Nga đại bại vì tay Đại Sơn cũng như thủy binh Nga tan nát vì tay Đông Hương, một ông vua tri nhân thiện dụng, có lợi cho quốc gia là thế đó.

NHẬT BẢN VỐN LÀ MỘT NƯỚC HẢI QUÂN LÂU ĐỜI

 

THẮNG AN PHÒNG 勝安房 [Katsu Awa] (1823-1899) - Người có công sáng tạo ra Hải quân Nhật.

Cứ lấy địa thế mà nói, Nhật Bản cũng như Anh quốc, là nước cù lao rời rạc, biển rộng bao quanh, vậy thì khỏi nói chắc ai cũng đoán biết rằng vì lẽ sinh tồn hộ thân, tự nhiên dân tộc họ từ xưa vốn giỏi nghề đi biển và cũng từng có tư tưởng về hải quân rồi, chớ không phải đợi đến ngày nay.

Thật vậy, ngày xưa vua chúa Nhật Bản thường dùng chiến thuyền kéo đi chinh phục những cù lao kế cận. Dân chúng trong nước phần nhiều ở ven biển phải sinh nhai đánh cá, tự nhiên nghề hàng hải họ đã gan dạ rành rẽ lắm. Lại nhiều thương gia chuyên nghề buôn bán từ biển này qua biển kia, cho nên họ biết đóng ra những chiếc ghe lớn, để đi biển rộng, trương buồm thuận gió, dám vượt đại hải mà qua buôn bán với Nam dương quần đảo và nước Nam mình rất sớm. Ai thuộc sử ta, chắc còn nhớ có một đoạn về đời Hậu Lê chép rằng có một chiếc ghe buôn Nhật Bản bị bão lớn đánh trôi vào địa phận nước ta, người sống mà ghe hư hết, không thể dùng được nữa. Quan ta vì nghĩa bang giao, muốn đóng cho bọn dân Nhật này một chiếc ghe lớn để họ về nước, nhưng đóng cả năm không xong, rồi sau đành thú thật cái dở của mình không đóng ghe đi biển được. Họ phải chờ đợi trút năm nữa mới có ghe khác ghé vào rước đi. Nước Nam ta, mặt ngoài ngó ra biển, bờ biển từ bắc vô nam, dài mấy muôn dặm đường, mà không đóng nổi một chiếc ghe đi biển lớn, thảm chưa?

Ta coi đại khái một vài việc như trên, đủ rõ Nhật Bản cổ thời đã biết dùng chiến thuyền và đã có gan hàng hải ra thế nào rồi.

Trong lịch sử họ thường có nhiều trận hải chiến lớn lao. Hoặc trong nước đánh lẫn nhau, như lúc hai võ gia Nguyên Lại Triều và Bình Thanh Thịnh giao chiến trên biển, họ Nguyên dùng một đội chiến thuyền tới trên 840 chiếc, để quyết thư hùng; ấy là trận hải chiến lớn nhất của Nhật Bản cổ thời. Hoặc hải chiến với ngoài, là hồi cuối thế kỷ XIII, binh Nguyên nước Tàu tức là binh Mông Cổ đã từng gầm thét bao lâu ở đại lục Âu Á, đem trên 10 muôn chiến thuyền qua đánh Nhật Bản, chiếc nào cũng to lớn kềnh càng, thế mà dân Nhật ở các phiên bang phía Tây cũng dám chống cự đáo để. Lúc này, hai đàng mạnh yếu cách xa, thiếu chút nữa Nhật thua to và mất nước về tay giặc Nguyên, nhưng may sao có trận bão tố nổi lên, làm cho chiến thuyền của Nguyên chìm ráo. Người Nhật tin đó là sức thần cứu giúp, cho nên họ càng tin họ là “Thần quốc tử tôn”, và rồi từ đó trở đi, Nhật Bản không bị tai nạn ngoại xâm nào nữa.

Chẳng những họ không bị ngoại xâm, mà chính họ lại có cái chí ngoại xâm người ta. Lúc Phong Thần Tú Cát làm Tướng quân, từng đem chiến thuyền sang đánh Triều Tiên; rồi sau đó có người dũng cảm, bày mưu lập kế, muốn cướp lấy Đài Loan và quần đảo Lữ Tống (tức là Phi Luật Tân) ngay từ bấy giờ.

Đến đời Đức Xuyên làm tướng quân, thi hành chính sách khóa cửa luôn 200 năm ngoài. Trong thời kỳ dằng dặc đó, quốc gia vô sự, thiên hạ thái bình, không ai để ý tới việc hải phòng, lại có một lúc, Tướng quân Đức Xuyên cấm dân trong nước đóng những ghe lớn để đi biển xa, vì sợ người ta giao thông với ngoại quốc.

Mãi sau cuối đời Mạc phủ Đức Xuyên, ghe tàu Âu Mỹ qua Thái Bình Dương nhiều, bọn chí sĩ thức thời ở nước Nhật mới xướng lên vấn đề hải phòng, làm cho trên dưới xao xuyến. Tới năm 1853, có đoàn tàu Mỹ của Đề đốc Bá Lý kéo qua, rồi Mạc phủ được thư của quốc vương Hòa Lan khuyên bảo Nhật Bản thế nào cũng phải mau mau sửa sang hải quân, theo lối Âu Mỹ, bấy giờ Mạc phủ mới tỉnh ngộ, quyết ý mở mang hải quân. Đầu hết (1855), mở ra trường dạy hải quân ở Trường Kỳ, dùng người Lan làm thầy. Rồi sau mở ra xưởng đóng tàu và cơ sở đúc sắt ở Giang Hộ nữa. Việc hải quân giáo dục khởi thủy từ đây.

Ngoài ra hai chiếc tàu chiến của chính phủ Hòa Lan và nữ hoàng Anh quốc gửi qua tặng cho, Mạc phủ lại xuất tiền mướn các nước Tây phương đóng nhiều chiếc tàu, lập thành một hạm đội riêng của mình. Năm 1860, Mạc phủ phái chiếc quân hạm tên là Hàm Lâm chở sứ thần qua Mỹ quốc; ấy là lần trước hết Nhật Bản có quân hạm đi xa.

Trong khoảng có 5 năm mà Mạc phủ tổ chức ra được hải quân hạm đội và mở mang hải quân giáo dục như thế, tuy chưa ra gì, nhưng kể cũng là sốt sắng mau lẹ quá. Bấy giờ các phiên bang cũng bắt chước, hoặc phái người đi cầu học hải quân ở Âu Mỹ, hoặc mua sắm chiến hạm tân thời, phiên thì một vài chiếc, phiên thì mươi lăm chiếc; hiệp cộng lại số chiến hạm của Mạc phủ (44 chiếc) cùng các phiên bang, lúc này Nhật Bản đã có trút trăm chiếc tàu binh chớ không phải ít.

Đến lúc Minh Trị duy tân thì bao nhiêu chiếc tàu trận đó đều thống thuộc về tay trung ương chính phủ hết.

Ta nên biết tàu trận của Mạc phủ và phiên bang, hầu hết là thứ tàu nhỏ; sau Minh Trị Thiên hoàng thu về, mới thiệt là ra sức khuếch trương cho Nhật Bản có hải quân thiệt lớn, chiến hạm thiệt hùng, vì ngài rõ biết rằng: “Việc sắp đặt hải quân là việc rất gấp của nước Nhật, nước Nhật tất phải dựng lên cái cơ sở hải quân cho thiệt đúng mới được”. Hải quân Nhật Bản bước vào con đường phấn khởi từ đó.

Trước hết mở trường Hải quân học hiệu ở Đông Kinh, kén chọn thanh niên tuấn tú trong nước để học tập thủy chiến. Vệ hải quân, Nhật Bản ròng mướn người Anh làm thầy huấn luyện; học sinh tới kỳ thực nghiệm, tàu trận nước mình không chứa hết, thì nhà nước cũng gửi họ sang mấy chiếc tàu trận của Anh mà tập rèn công việc trong tàu và nghiên cứu về cơ khí.

Một mặt tạo lập ra mấy xưởng tự đóng lấy tàu binh; chỉnh đốn nhất là xưởng ở Hoành Tu Hạ (横須賀 Yokosuka). Năm Minh Trị thứ 6 khởi công đóng lấy hai chiếc tàu, 1540 tấn và 897 tấn, đến năm thứ tám hạ thủy. Lúc đầu còn mướn kỹ sư chuyên môn ở bên Tây sang làm đốc công; nhưng từ Minh Trị thứ 9 trở đi, Nhật Bản đã có những tay chuyên môn đóng lấy được rồi, chẳng cần phải người ngoại bang giúp sức.

Tuy vậy vua Minh Trị muốn cho nước mình mau có hạm đội lớn, nên chi mỗi năm đều xuất công nho ra mướn xưởng đóng tàu ở Anh, ở Đức, ở Pháp, ở Mỹ, đóng những chiếc chiến hạm lớn. Chính ngài mỗi năm tự giảm số tiền chi tiêu trong nội cung lấy 30 muôn yên để bỏ vào khoản chế tạo quân hạm. Quốc dân thấy vậy cảm động, nhiều người quyên giúp tiền muôn bạc triệu để cho nhà nước đóng tàu.

Bởi vậy đến năm Minh Trị thứ 16, Nhật Bản đã có một đội chiến hạm đủ các hạng tuần dương, thiết giáp, ngư lôi, thủy lôi… cộng tới một trăm mấy chục chiếc.

Trong những lúc số chiến hạm mỗi ngày một tăng gia, thì các pháo đài và quân cảng trong nước cũng lần lượt hoàn thành. Cho tới súng đạn lớn nhỏ, người Nhật đã tự chế ra rất là tinh xảo. Nhất thiết những việc gì quan hệ về hải quân, giờ cũng có trường giáo dục huấn luyện hết thảy.

Năm Minh Trị thứ 27 (tức năm Giáp Ngọ, 1894), vì việc Triều Tiên mà Nhật Bản đem hải quân khai chiến với Trung Quốc. Bao nhiêu năm Nhật Bản kinh doanh hải quân, trận Trung Nhật giao chiến này có dịp cho Nhật đọ tài thử sức coi hải quân mình kết quả ra thế nào. Nhật chỉ đem ra có 27 chiếc tàu, đánh hạm đội tí hon của nhà Thanh trận nào cũng thua; Nhật bắt được của Thanh 17 chiếc.

Trận này Nhật Bản đại thắng, chẳng những khiến cho thế giới phải kính phục, mà chính Nhật Bản cũng tự biết hải quân mình cần phải mở mang nhiều nữa mới đủ.

Từ đó Nhật lại lo đóng thêm nhiều tàu mới, chế tạo ra những kiểu súng mới, và ngày đêm thao luyện hải quân, cho nên đến đầu năm 1905 mới đánh phá tan tành cả hai hạm đội hùng cường của Nga ở cửa Lữ Thuận và trên Nhật Bản hải, gồm có gần 80 chiếc tàu. Dưới đây có đoạn nói riêng về trận ở Đối Mã, Đông Hương đại tướng phá tan hạm đội Ban-tích (Escadre de la Mer Baltique) tại đây, tỏ ra hải quân Nhật Bản trải qua một thời kỳ huấn luyện chỉ có 30 năm, mà trở nên dũng mãnh đến thế nào?

Luôn dịp, ta nên biết trong khi chính phủ Minh Trị lo khuếch trương hải quân thì nhân dân Nhật Bản đua nhau chế tạo thương thuyền. Cũng trong cái thời gian như hải quân, bóng cờ thương thuyền của Nhật Bản bay phấp phới khắp cả năm châu bốn biển. Cái giống Đại Hòa sẵn có nghề nghiệp tài năng đi biển từ xưa, ngày nay trên mặt biển không chịu thua ai, nghĩ cũng xứng đáng lắm vậy. Chỉ lạ một điều là về hải nghiệp cũng như các phương diện học thuật khác, họ đổi cũ thay mới, mở mang tấn tới quá mau, ai cũng kinh dị bái phục là phải lắm.

KHÍ KHÁI VÀ VÕ CÔNG CỦA TÊN LÍNH NHẬT

Quân đội nước Nhật, hải vậy mà lục cũng vậy, bỏ cũ theo mới trong vòng 30 năm, đã thu được kết quả tốt đẹp rực rỡ, nổi oai danh lẫm liệt vẻ vang, ta nên biết một phần lớn là do nơi tinh thần thượng võ của dân tộc Nhật Bản sẵn có lâu đời mà ra.

Từ xưa, họ có tinh thần thượng võ, đến đỗi kết tụ thành như một tín ngưỡng, một luân lý, một quốc hồn, ai nấy đua nhau gìn giữ trau dồi, lấy đó làm mực thước xử thế lập thân, và tự nhận cái nghĩa vụ “cứu dân báo quốc” là nghĩa vụ mình, làm được nghĩa vụ ấy là sự vinh diệu đệ nhất.

Chính là “Võ sĩ đạo”.

Ở chương đầu hết, tôi đã có một đoạn nói về lai lịch và tôn chỉ của Võ sĩ đạo rồi, khỏi cần nhắc lại nữa. Đây, nhân dịp nói về cuộc cải cách quân đội Nhật trong hồi duy tân, nên tôi muốn tóm góp lược thuật một vài chuyện khí khái cương dũng của nhà võ sĩ Nhật, tên lính Nhật, hay nói chung là người dân nước Nhật. Ta sẽ thấy rằng võ sự của Nhật ngày nay tuy là đổi cách khác hình, chớ cái thể chất của nó là tính khí khái cương dũng thì vẫn là từ cái nguồn Võ sĩ đạo đời xưa dồi dào lai láng mà phát ra vậy.

Võ sĩ Nhật có cái đặc biệt, là nhiều người có phong thể nho nhã ung dung, mà trong cái phong thể đó vẫn không mất khí khái cương dũng.

Thật, võ sĩ họ xưa nay không phải chỉ ròng chuộng sự giỏi nghề mạnh sức mà thôi, hầu hết kiêm học cả văn, cho nên có hạng võ gia mà giỏi văn học, hay thơ ca, không phải là ít. Ai nấy đều có lòng nhân ái nghĩa hiệp, tính ý một mực khiêm nhường, rất trọng danh dự. Ngày xưa võ sĩ ra trận gặp kẻ đối địch với mình, hai bên cùng đem tên họ và quê hương ra tỏ cho nhau biết, rồi bấy giờ mới nghiêm chỉnh oai dung, lấy nghề võ ra tranh cao hạ với nhau. Khi đã phân cao hạ thì kẻ thắng không bao giờ làm nhục bên thua, hành xác kẻ chết. Họ cho là cái lễ giao chiến phải vậy mới đúng. Đến sự đánh trùng giết lén, thì võ sĩ lấy làm xấu hổ, không thèm làm, dầu được thắng trận thành công gì đi nữa cũng vậy.

Đã có một câu chuyện hồi giữa thế kỷ XI, đến nay người Nhật còn truyền làm giai thoại.

Nguyên Nghĩa Gia 源義家 [Minamoto no Yoshiie] cầm binh đi đánh Áo châu [Oshu], thình lình giữa đường bắt gặp tướng giặc là An Bồi Trịnh Nhiệm 安部貞任 [Abe no Sadatou] liền phóng ngựa rượt theo, toan bắn một mũi tên cho tướng giặc chết tốt. Song trước khi bắn, họ Nguyên nghĩ ra một bài ca, rồi hát lớn tiếng để ngỏ ý cho tướng giặc biết rằng mình sắp bắn đây. An Bồi Trịnh Nhiệm nghe ca, kiềm ngựa quay đầu ngó lại, rồi ứng khẩu đọc một bài ca để đối đáp, trong bài ca bày tỏ nông nỗi của mình giữ thành cực khổ bấy lâu.

Nghĩa Gia nghe bắt mủi lòng, lập tức thu cây tên cất vào trong bao, không nỡ nào bắn cho đành, để mặc cho Trịnh Nhiệm chạy trốn.

Một võ sĩ chân chính, chẳng thèm đánh trùng giết lén người ta, và có phong thể nho nhã tới như vậy đó.

Đời Thượng cổ, Thần Công hoàng hậu 神功皇后 [Jinguu Kougou] đem binh đánh Hàn, có lệnh truyền cho tướng sĩ: “Kẻ đã đầu hàng chớ có giết; kẻ đã bị vít, chớ làm nặng thêm 降勿殺, 傷勿使重”. Chắc câu cổ huấn đó, võ sĩ Nhật vâng giữ đời đời, nên chi ta thấy trong trận Nhật Nga chiến tranh; bữa nọ trước cửa Lữ Thuận, một chiếc chiến hạm Nga bị bắn chìm, tướng sĩ Nga trôi nổi lúp ngúp trên mặt biển, quan tư lệnh ở chiến hạm Nhật là Trung tướng Thượng Thôn ngó thấy, liền hô binh sĩ của mình mà nói: “Giờ họ là người bị nạn chết trôi, chớ không phải là kẻ thù nữa, ta phải hết lòng cứu vớt cho mau!” Tức thời binh Nhật thả xuồng bơi lại cứu vớt, được tướng sĩ Nga trên 300 người khỏi chết. Tướng sĩ Nga cảm động quá, khen phục binh Nhật có lượng bác ái, chớ kẻ khác thì mặc kệ chết chìm, dễ chịu cứu vớt chưa!

Một đặc tính của võ sĩ Nhật là có máu công phẫn lạ lùng. Trời ơi! Hễ khi họ thấy một chuyện gì thiệt thòi nhục nhã cho quốc gia chủng tộc họ, thì máu công phẫn của họ sôi lên sục sục, không có cái sức mạnh nào làm cho nguội lạnh đi được. Nhất là họ tự nghĩ mình đây là võ sĩ vẫn có nghĩa vụ xông pha khói lửa, da ngựa bọc thây, để hộ vệ nòi giống nước non, mà nay có chuyện tổn hại bất bình cho nòi giống nước non, thì mình làm sao chịu nổi! Bộ mình đây là giá áo túi cơm, vô tâm vô dụng sao? Nếu mình không lo báo phục, không rửa sạch chỗ bất bình ấy đi, chẳng hóa ra mình thư sinh vô dụng lắm; vậy dầu sống hay chết, mất hay còn, tất nhiên mình phải có một phen quyết đấu mới được. Lòng công phẫn đó chẳng phải riêng của một vài cá nhân, mà thiệt là chung cả hạng người vác súng mang gươm sẵn có tinh thần chuộng võ, có nghĩa vụ giúp nước. Tôi muốn thuật ra một chuyện rất gần để làm chứng.

Hồi năm 1894 (tức năm Minh Trị thứ 27), vì vụ can thiệp nội chính nước Cao Ly, mà Nhật cử binh đánh nhau với Tàu. Chỉ giao phong có mấy trận, cả binh lục và binh thủy của nhà Thanh đều đại bại; nhà Thanh phải lật đật xin đình chiến giảng hòa. Qua năm sau (1895), Lý Hồng Chương 李鴻章 [Ri Koushou] phụng mệnh vua Thanh (lúc này là vua Quang Tự 光緒 [Kousho]) phong làm toàn quyền đại sứ, sang tới đất Mã Quan 馬関 [Bakan] nước Nhật, để cùng toàn quyền Nhật là Y Đằng Bác Văn ký tờ hòa ước.

Phàm nước thua trận, bao giờ chẳng phải chịu thiệt thòi, cũng như nước thắng trận bao giờ lại không đòi ăn miếng sướng? Theo hòa ước Mã Quan 6 khoản, có một khoản Tàu phải nhường đất bán đảo Liêu Đông 遼東 [Ryoutou] lại cho Nhật, cùng 2 đảo Đài Loan 台湾 [Taiwan], Bành Hồ 澎湖 [Houko] nữa.

Hòa ước này vừa mới ký tên đóng dấu được 6 ngày, thì Nga lấy oai thế mình khuyên Nhật trả Liêu Đông cho Tàu, đừng lấy. Hoàng đế Ni-cô-la thứ nhì (Tsar Nicolas II) nước Nga gửi điện văn qua Minh Trị Thiên hoàng; đại ý nói Nga thấy trong hòa ước Mã Quan có khoản Nhật đòi nhượng Liêu Đông, cốt để có chỗ dòm ngó uy hiếp Bắc Kinh rất tiện, như vậy e có hại cho cuộc hòa bình lâu dài ở Đông phương, nên Nga lấy tình thân ái, xin khuyên Nhật chớ lấy Liêu Đông…

Tiếng nói là khuyên, chớ kỳ thiệt là Nga ép Nhật không được lấy, vì lúc bấy giờ Nga là nước lớn, oai to thế mạnh lắm, Nhật phải xét mình mà kiêng nể ngay. Huống chi ở trong vụ đó lại có nước Đức nước Pháp, tán thành đồng ý với Nga nữa, thành ra thế lực ba nước dồn ép Nhật ta phải nhả Liêu Đông trả Tàu.

Vụ này làm cho nhân tâm ở Nhật sôi nổi tức tối lạ thường. Bọn võ nhân đều nghiến răng trợn mắt, đấm ngực giậm chân, tỏ lòng phẫn khích đối với danh dự quốc gia và hết sức oán hận anh Nga lấy cường oai can thiệp, làm cho Nhật Bản hụt mất một cái lợi quyền chính bởi bọn họ là võ nhân đã xông pha khói lửa mới có. Lòng phẫn khích bày tỏ ra ở ngôn ngữ hành động hằng ngày: nào là nhiếc Nga ngang tàng, chê bai chính phủ mình nhút nhát, cái giọng đó thấy đầy trên báo chương, chẳng bữa nào không; nào là rình đón kiều dân Nga mà ẩu đả hay ám sát, cốt làm sao cho sinh cuộc chiến tranh hai nước mới thôi.

Tuy những chuyện ngôn ngữ bạo động này không phải “tác giả” đều là võ nhân, nhưng mà chính là ảnh hưởng của võ nhân và chính võ nhân xúi ngầm. Chính phủ Nhật e khiêu khích sinh biến với Nga, nên phải ra tay đàn áp, vì chân tình lúc này Nhật chưa có đủ cái thực lực để chống chọi với Nga đâu được. Nhiều võ nhân phẫn khích mặc lòng, chớ cũng tự lượng sức mình như thế. Song, họ coi mối thù lớn như trời biển, trước sau thế nào cũng có một phen đánh Nga rửa thù mới xong.

Một vị lão tướng ở Nhật bây giờ là Đại Đảo Kiện Nhất 大島健一 [Ooshima Kenichi] mới đây thuật chuyện lại rằng cùng lớp mang gươm vác súng với ông ta hồi đó, nghe cái tin tổ quốc bị ba nước kia can thiệp mà phải trả Liêu Đông, thì ai nấy tức giận dầy gan ói mật. Chính ông ta cũng vì tức giận quá mà phát ra thơ cảm khái, có câu:

遺恨十年磨一剣

流星光底逸長蛇

Di hận thập niên ma nhứt kiếm,

Lưu tinh quang để dật trường xà.

Hai câu thơ của Đại Đảo Kiện Nhất có thể đại biểu chung cả tấm lòng công phẫn báo cừu của tướng sĩ Nhật Bản ở đời bấy giờ. Từ tướng soái đến sĩ tốt, ai nấy cùng một cách nồng nàn, hăm hở, lo dùi mài binh thư, tập rèn võ thuật, để một ngày kia có thể tuốt gươm xách súng ra thử tài rửa hận với Nga cho được thì mới hả lòng. Cái chí báo Nga như đinh đóng chặt trong tâm não của mỗi con nhà võ, giúp cho sự thao luyện kỹ thuật của họ càng được mau thành công phu kết quả. Họ thề với cây gươm đeo ở bên mình rằng sống chết thế nào cũng có một ngày họ cho nó tắm máu người Nga; không 5 năm thì 10 năm, không 10 năm thì 20 năm, cái ngày đó sao cũng phải có!

Mà quả nhiên như câu thơ sấm của Đại Đảo Kiện Nhất ở trên đây: tướng sĩ Nhật Bản luyện nghề tập trận, nếm mật nằm gai trong vòng 10 năm, từ 1895 đến 1905 là họ đủ thực lực và có cơ hội đánh mọp binh Nga ở đồng bằng cũng như ở trên mặt biển, trả được cái thù thị oai bắt trả Liêu Đông năm xưa. Chính Đại Đảo Kiện Nhất cũng là một viên tướng đánh Nga hồi 1905; mà ông ta quyết mài một lưỡi gươm ròng rã 10 năm cho thiệt bén, để nửa chém đầu người Nga cho đã nguôi giận, thế là đúng kỳ và như nguyện đó vậy. Không ngờ cái khẩu khí anh hùng linh đến như thế.

Ta coi võ sĩ Nhật giàu lòng công phẫn đồng cừu, có cái kết quả vẻ vang là đem tổ quốc họ đặt lên ngang hàng liệt cường thế giới, vì sự thật Nhật Bản chiếm được địa vị ấy, chính là sau trận thắng Nga mà đi.

Có trận Nhật Nga, Tây phương mới bừng mắt ngó thấy tướng sĩ Nhật Bản có sức chiến đấu lạ thường, không sợ hiểm nguy, không kể tính mạng, không nài đau đớn. Tấm lòng họ ái quốc nồng nàn, mà không bộc lộ ra bên ngoài có một vẻ gì là hầm hừ, nóng nảy; trái lại, họ ái quốc một cách bình tĩnh, thâm trầm, đã đem thân hứa cho nhà nước thì họ thái nhiên sấn sổ vào mọi cảnh nguy hiểm, gian nan; trái tim họ đối với nước cứng như sắt đá, không có sức nào làm tan rã đổi dời đi được.

Đầu năm 1904, hồi Nhật Nga rục rịch khai chiến, dư luận Âu châu đều tin chắc thế nào Nhật cũng phải thua, bất quá Nhật chỉ giao phong với Nga một vài trận, là đủ thấy nhức nhối mềm xương, không chịu nổi đâu. Trừ ra có mấy vị quân quan Âu châu dự vào (Bát quốc liên quân) đánh giặc Quyền phỉ ở nước Tàu hồi năm 1900, nhân đó mà được chứng kiến cách hành quân của Nhật Bản, thì mới tin rằng chưa chắc Nga thắng nổi Nhật mà có thắng cũng là trần ai khổ sở, chớ không dễ gì.

Đến khi tuyên chiến rồi, ngay mấy phát súng đầu tiên mà đi, binh Nga thấy cái sức chiến đấu của binh Nhật mà kinh hoàng sửng sốt. Thứ binh gì mà đánh đâu cũng lăn nhào vô trong vòng khói lửa, coi cái chết như không. Trên bộ đã vậy, dưới thủy cũng chẳng khác gì: hễ gặp tàu trận bên giặc là họ sấn tới mà đánh, còn có một tên quân một viên đạn là còn đánh, chớ không chịu lui trước bao giờ. Rất đỗi là cửa biển Lữ Thuận (Port Arthur) mà họ muốn lấy sức người để bít lại, thật võ sĩ họ kiên dũng đến thế là cùng!

Làm cách nào mà bít được cửa biển?

Nguyên là hạm đội Thái Bình Dương của Nga đóng ở Lữ Thuận, sau mấy trận thò ra đánh nhau với hải quân Nhật bị thất lợi, bèn trốn núp ở trong cửa biển không dám ló ra nữa. Hải quân Tổng tư lệnh Nhật là Đông Hương đại tướng liền nghĩ ra cách “bít cửa” Lữ Thuận, nếu thành công thì nhốt cả hạm đội Nga nằm cứng trong cửa, không có ngõ ra; bằng không vậy thì cũng là cách chọc cho tàu Nga phải ra ngoài biển khơi để mà đánh.

Hải quân Nhật mua rất nhiều tàu đò cũ, để dùng vào việc bít cửa. Mỗi chiếc tàu đều chở cốt mìn và năm bảy viên tướng sĩ để chỉ huy chiếc tàu, rồi thì cả đoàn cùng nhắm cửa Lữ Thuận mà chạy thẳng vào. Nếu pháo đài của Nga ngó thấy mà bắn chìm càng tốt, không thì mỗi chiếc tàu cũng tự châm lửa vào cốt mìn cho phát nổ lên, để tàu chìm xuống nằm ngổn ngang một đống ở ngay cửa biển, làm mắc nghẹt đường lối ra vào của hạm đội Nga.

Cuộc bít cửa như thế, Nhật Bản làm tới năm bảy lần, chớ không phải một. Mỗi lần bảy tám chiếc tàu đi tự tử cách này, Hải quân Tư lệnh bộ phải cần mấy chục viên tướng sĩ dẫn đi; mà tướng sĩ dẫn đi như thế cũng là đi tự tử, chớ trăm phần không có lấy một phần may sống sót, lội về bản trận được. Thế mà lần nào cũng vậy, vừa có một tiếng hô của Tư lệnh bộ, tức thời có cả ngàn người trong hải quân giành nhau biên tên vào sổ ứng nghĩa liều mình, đến đỗi Tư lệnh bộ phải dùng cách bắt thăm, ai trúng thì đi. Những người bắt thăm trật, rầu buồn tức tối lắm.

Nói chuyện bít cửa, không thể nào không nhắc tới Quảng Lại Võ Phu.

Quảng Lại Võ Phu, chức Hải quân trung tá, làm trưởng quan chiếc tàu thủy lôi (torpilleur) hiệu là Triều Nhật (朝日 Asahi) đã mấy phen có công đánh thắng hạm đội Nga ở trước Lữ Thuận rồi. Sau đó trút tháng, hạm đội Nga nằm lỳ trong cửa không thấy thò ra. Quảng Lại hăm hở đánh giặc mà không được đánh, tức quá, bèn cùng 70 tử sĩ, dẫn năm chiếc tàu cũ, xông pha vào mũi đạn của pháo đài Nga, để toan lấp cửa Lữ Thuận. Song lần này không thành công.

Cách một tháng sau, Quảng Lại dẫn bốn chiếc tàu đò cũ khác, đi bít cửa nữa.

Trong bốn chiếc tàu, Quảng Lại tự cầm đầu chiếc tên là Phước Tỉnh; và một người bạn là Sam Dã Tôn Thất 杉野孫七 [Sugino Magoshichi] làm phó. Khi đoàn tàu chạy gần tới cửa Lữ Thuận, Quảng Lại bảo Sam Dã xuống dưới bụng tàu sắp đặt cốt mìn, sửa soạn việc tự bắn cho tàu chìm, còn mình thì ở trên coi chỉ huy chiếc tàu chạy phăng phăng vô trong cửa. Thình lình bị một viên đạn thần công của Nga bắn tới, trúng giữa bụng tàu, thành ra cốt mìn chưa đốt đã nổ, Sam Dã chết tươi. Tàu gần chìm, Quảng Lại cùng bọn lính xuống thuyền nhỏ bơi đi. Chừng ngó lại không thấy bạn Sam Dã ở đâu, Quảng Lại biểu tốp lính bơi về trước, rồi mình tự quay lại leo lên chiếc tàu đang chìm kia mà tìm kiếm Sam Dã. Lúc bấy giờ trong chiếc tàu đã bị nước ngập tới từng trên rồi, mà Quảng Lại chạy từ mũi xuống lái ba lần, cũng không tìm thấy bạn, lúc ấy mới chịu xuống thuyền bơi về. Bơi chưa được bao xa, bỗng một viên đạn Nga bay tới, trúng ngay giữa đầu Quảng Lại, làm cho tan nát thân thể.

Tin buồn đưa về Đông Kinh, trong triều ngoài quận, trên vua dưới dân, ai cũng thương tiếc kính phục; bởi Quảng Lại vì nước quyên sinh, nặng tình với bạn mà chết như thế, nên cả nước Nhật đều tôn là “Quân thần”, lại làm lễ chiêu hồn rất lớn.

Lúc sắp đi bít cửa lần thứ hai, Quảng Lại cầm bút đề một bài thơ ở trên tàu Triều Nhật như vầy:

七生報国

一死心堅

再期成效

含笑上船

Thất sinh báo quốc,

Nhất tử tâm kiên.

Tái kỳ thành hiệu,

Hàm tiếu thượng thuyền.

Ý nói mình là đời thằng nam tử, thân hình bảy thước, đã hứa đem ra báo bổ quốc gia, thì một cái chết đã nhất định trong lòng rồi; lần này là lần thứ hai mình đi làm việc bít cửa, mong sao được thành công, thì mình chết cũng vui. Bây giờ ta tươi cười bước lên tàu để đi.

Ta xem mấy câu thơ trên đó, đủ thấy một người võ sĩ Nhật khảng khái quyết tử hết sức!

Cái gương quyết tử của Quảng Lại Võ Phu, có vô số người sau noi theo.

Chắc ai cũng nhớ đầu năm 1932, binh Nhật đánh Thượng hải, gặp nhằm tay cường địch là đạo binh 19 của Tàu chống cự lại hẳn hoi, binh Nhật đánh rất hăng, thế mà dây dưa trút tháng, vẫn chưa phá nổi mặt trận binh Tàu. Bấy giờ trong binh đội Nhật, có ba tên lính dũng được nhảy ra hiến mình để phá tan hầm lũy của bên nghịch. Ba người cùng ôm một viên đạn cốt mìn dài, xăm xăm xông thẳng vào trận địa Tàu; cốt mìn nổ tứ tung; cố nhiên thân thể ba người lính đều nát như tương, nhưng mà hầm lũy phía trước mặt trận của binh Tàu bị phá tan tành, nhờ đó Nhật mới tấn binh được, rốt lại đạo binh của Thái Đình Giai phải lui.

Ba người lính liều chết kiểu đó, người Nhật gọi là “nhục đạn” 肉弾 [Nikudan] (viên đạn thịt). Hiện nay ở Đông Kinh có đài kỷ niệm ba người liệt sĩ này; nhà nước đúc tượng đồng tả chân như lúc ở Thượng Hải vậy.

Còn câu chuyện này, cũng tỏ ra tính khí cương dũng khinh sinh của võ sĩ Nhật, thấy trong sách Le Japon dans le Monde của Antoine Zischka tả một cách đối chiếu ngộ lắm: Hồi năm 1933, hạm đội Mỹ tập trận ở Thái Bình Dương, có thả một viên đạn thủy lôi xuống biển để thử, nhưng viên đạn ấy chưa nổ, nên bộ hải quân muốn lấy lên, bèn rao hơi có cậu lính nào tình nguyện làm việc đó, nhưng chẳng có một cậu nào dám lãnh mệnh hết. Họ nghĩ viên đạn của nhà nước đáng giá 300.000 quan, tuy là nhiều tiền thật, nhưng mà giá trị tấm thân họ còn quý hơn, mắc hơn số tiền ấy nhiều, dại gì họ xuống biển lặn mò rủi chết oan mạng. Trái lại, đồng thời bộ hải quân Nhật Bản mới chế ra được một kiểu ngư lôi (torpille) có máy riêng, cho người ngồi vô trong đó rồi phóng ra, để người ngắm đúng tàu nghịch mà vặn máy cho ngư lôi đánh ngay mục đích, thì tàu nghịch thế nào cũng phải bị bắn chìm, không thoát đâu khỏi. Có điều muốn thí nghiệm sức mạnh của ngư lôi mới chế, bộ hải quân rao hỏi mấy người tình nguyện cảm tử, trong vài ba ngày tiếp được đơn tình nguyện của bốn năm ngàn người liều mình chịu chết. Nghĩ coi, một đàng là viên đạn chưa nổ, mà lặn đem lên, không chắc có rủi ro gì, thế mà chẳng có một người dám chịu; còn một đàng là mạng chết nắm chắc cả trăm phần trăm, thì có mấy ngàn người hiến thân cảm tử; vậy ai khí khái cương dũng hơn, ta cứ xét cũng rõ. Thế mới biết sự ái quốc khinh sinh, người Nhật cho là cái danh dự đệ nhất trên đời, nên ai cũng nô nức nhau để cầu lấy.

Sau nữa, võ sĩ Nhật Bản xưa nay còn có cái tập tục lạ lùng này, càng tỏ ra họ khí khái cương dũng đến cực điểm; ấy là tập tục mổ bụng tự tử, tiếng Nhật gọi là Harakiri hay seppuku.

Từ khi Nhật Bản có Võ sĩ đạo dựng lên, liền có tập tục này, do ở quan niệm danh dự mà ra. Bởi võ sĩ Nhật thờ chuộng danh dự thứ nhất. Một võ sĩ đã cầm gươm ra trận thì chỉ có nước một là thắng hai là chết, chớ bại trận là điều nhục nhã cho võ sĩ, hay là để cho giặc bắt sống được mình, danh dự võ sĩ cũng cấm ngặt lắm. Lâm vào cảnh đó, võ sĩ phải có gan tự giết mình đi, để bảo toàn danh dự.

Song nếu tự giết mình bằng chén thuốc độc, bằng sợi dây thắt cổ, hay là nhào xuống sông xuống hồ, võ sĩ đều cho là những cách hèn nhát, không xứng đáng với hạng người có can đảm anh hùng. Lấy dao cắt cổ, họ cũng cho là cách chết theo đàn bà. Người võ sĩ anh hùng tất phải tự chết một cách thung dung, chậm rãi, thong thả, tự nhiên, không mất vẻ tươi cười mà cũng không rên la đau đớn. Đã vậy mà phải chết trước mặt người ta và phải giữ lễ nghĩa hẳn hoi cho tới khi tắt hơi ngã xuống mới thôi. Nhà võ sĩ Nhật bèn lựa cách mổ bụng, chỉ có vậy mới là chết có gan, chết sang trọng, hợp với tư cách của con nhà võ.

Người định harakiri ngồi trước bàn thờ ông bà, làm lễ cúng bái hẳn hoi, chung quanh có mấy người bạn hữu hay họ hàng đứng chứng kiến, trong đó có một người cầm sẵn thanh kiếm nơi tay. Rồi đó người tự tử rút lấy con dao đựng trong hộp để trước mặt, một tay cầm dao tự mổ bụng mình, một tay kéo lấy ruột ra ngoài, nét mặt cứ tự nhiên, nụ cười cứ hiện ra luôn luôn ở cửa miệng, không được rên la nhúc nhích chút nào. Trước khi người mổ bụng sắp xỉu xuống thì người cầm thanh kiếm đứng bên chém giùm một kiếm cho ngã chết hẳn. Thế là xong lễ mổ bụng.

Bởi có tập tục và thành lễ như thế, nên chi mỗi người võ sĩ nào ban đầu cũng học cách dùng thanh kiếm cho đúng phép lịch sự, phòng mai sau có lúc cần phải mổ bụng mình không biết chừng. Thuở xưa, võ sĩ Nhật tập rèn kiếm thuật hết sức trang trọng, tinh vi, không khác gì nhà thi sĩ cặm cụi về nghề đẽo chữ gọt vần, hay là những chốn ngoại giao, triều đình, người ta gò gẫm về lối y phục giao tế vậy.

Cái tục tự tử anh hùng can đảm này xưa nay ở nước Nhật thấy có rất thường; ngoài võ sĩ ra, hạng người khác cũng có nữa. Mỗi khi một vị Thiên hoàng qua đời, thế nào cũng có ít nhiều người mổ bụng để chết theo, vì là thương vua quá. Ví dụ Nãi Mộc đại tướng mổ bụng tự tử liền sau khi vua Minh Trị thăng hà. Năm 1924, có một người thường dân, ngồi ngay trước cửa dinh công sứ Mỹ quốc tại Đông Kinh mà mổ bụng tự tử, là cốt để tỏ ý phản đối cái chính sách của Mỹ quốc bạc đãi dân Nhật kiều ngụ ở hạt Californie. Từ đó tới nay, còn thiếu gì đám harakiri khác. Trận Nhật Hoa giao chiến ở Thượng Hải, cũng có một vị tiểu tướng mổ bụng, vì đã lỡ để binh Tàu bắt sống rồi thả về. Sau cuộc thao diễn hải quân ở Thái Bình Dương năm kia, có một viên đội trưởng cùng mổ bụng xử mình, vì tự xét mình hơi lỗi phận sự chút đỉnh.

Chuyện Nãi Mộc Hy Điển 乃木希典 [Nogi Maresuke] mổ bụng chết theo vua Minh Trị, nên thuật sơ lại cho độc giả nghe.

 

Nãi Mộc Đại Tướng 乃木大将 [Nogi Taishou] (1849 - 1912) - Có võ công nổi tiếng hoàn cầu năm 1905 vì trận đại thắng quân Nga ở Lữ Thuận (Port Arthur).

Hồi Nhật Nga chiến tranh, Nãi Mộc làm Lục quân đại tướng, cầm mấy đạo binh vây đánh Lữ Thuận dữ quá, mấy ngàn binh Nga đành phải đầu hàng. Chiến công và oai võ của Nãi Mộc nổi vang thế giới, có nhà thế tộc ở Âu châu, lấy một thanh bửu kiếm của hoàng đế Nã-phá-luân ngày xưa gửi qua tặng Nãi Mộc. Sau trận phá Lữ Thuận rồi, Nãi Mộc có câu danh ngôn này: “Phàm cách dùng binh, bao giờ cũng quyết thắng bại ở 15 phút đồng hồ sau cùng, hễ bên nào cứ quyết chiến và giữ vững trận thế trong 15 phút chót, đó là bên ấy thắng trận”. Bởi vậy bên Âu châu người ta gọi là “un quart d’heure de Nogi” (một khắc đồng hồ của Nãi Mộc). Nhà viết tiểu thuyết đại danh ở Paris, được cử vô Pháp quốc Hàn lâm viện cách nay mấy tháng, là Claude Farrère tiên sinh, viết sách thường lấy võ sĩ Nhật Bản làm đề mục và năm trước có bài diễn văn nói về Nhật Bản, khen ngợi Nãi Mộc dữ lắm.

Theo như tiên sinh, sở dĩ Nãi Mộc mổ bụng chết theo Minh Trị Thiên hoàng, là vì có một chuyện hồi nhỏ, cũng là danh dự võ sĩ làm nguyên nhân. Lúc vua tôi đều còn nhỏ tuổi, cùng học một trường; bữa kia Nãi Mộc vì việc học lỗi lầm mà bị ông thầy quở trách sao đó, Nãi Mộc nghĩ sự danh dự, nhất định tự tử. Song vua Minh trị (lúc đó còn là Đông Cung thái tử) can ngăn, ngài nói:

“Ta là vua của ngươi: sự lỗi lầm đó ta gánh vác giùm cho, ta biểu ngươi cứ việc sống”.

Vì bấy giờ vua Minh Trị đã biết tài của Nãi Mộc sau này có thể làm rường cột cho quốc gia, nên chi ngài gánh lỗi, để cho Nãi Mộc đừng chết vậy.

Quả thiệt về sau Nãi Mộc cầm binh đối nghịch với Nga ở Mãn Châu, đánh đâu thắng đó, nổi tiếng anh hùng. Vua Minh Trị có đức sáng tri nhân thiện dụng như thế, gọi là minh quân anh chúa phải lắm.

Một chuyện từ hồi còn nhỏ, ai cũng tưởng Nãi Mộc quên rồi. Nhất là Nãi Mộc lập đại công với quốc gia thế đó, mấy cái lầm lỗi lúc trước cũng đền bù có dư. Nhưng mà không; việc phạm danh dự thuở nhỏ Nãi Mộc chẳng quên; nay vua Minh Trị thăng hà, Nãi Mộc mổ bụng chết theo, là vì Nãi Mộc nghĩ vua mình đã qua đời rồi, không còn người nhận giùm sự lỗi xưa kia cho mình nữa, vậy thì mình phải chết để bảo toàn danh dự mới được.

Một bậc người phú quý hiển vinh, anh hùng oanh liệt như Nãi Mộc, không chịu hưởng sự vẻ vang sung sướng, mà còn nhớ lại việc danh dự từ năm bảy chục năm trước, cam bỏ hết một đời phú quý hiển vinh để cứu lấy danh dự; thật võ sĩ Nhật Bản có cái tinh thần quý trọng danh dự đến thế là tuyệt phẩm vậy.

TRẬN Ở ĐỐI MÃ HẢI GIÁP, ĐÔNG HƯƠNG NGUYÊN SOÁI PHÁ TAN HẠM ĐỘI CỦA NGA

Muốn biết cuộc duy tân của Nhật Bản khởi sự từ năm 1868 trở đi cho tới ngoài 30 năm sau, có cái thành hiệu đến đâu rồi, thì cứ xem cái thành hiệu về binh lực võ bị của họ là thấy rõ ràng hơn hết.

 

ĐÔNG HƯƠNG BÌNH BÁT LANG 東郷平八郎 [Tougou Heihachirou] (1848 - 1934) - Hải quân Nguyên soái đã phá tan cả đoàn tàu của Nga ở eo biển Đối Mã năm 1905.

Tôi muốn nói cái thành hiệu đó là trận Nhật thắng Nga năm 1905, thắng cả trên bộ lẫn dưới thủy. Một nước, hồi nào muôn việc cũ mèm, bỗng chốc muôn việc đổi mới, mà thấm thoát có 37 năm, hải quân và lục quân của họ đem ra chiến thắng một đại cường quốc phương Tây, bảo đó không phải là cái thành hiệu duy tân thì là gì?

Vì sao có trận Nhật Nga chiến tranh 1904-1905?

Tóm tắt là vì Nga mở mang thế lực sang phương Đông lớn quá, làm ngăn trở con đường tấn phát của Nhật, cho nên Nhật phải sinh tử tương tranh để tìm lấy mạch sống. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII, Nga ỷ mạnh xí mất một miếng đất tổ truyền của Nhật làm của mình, ấy là cù lao Hoa Thái 樺太島[1] [Karafutotou]. Nhật vẫn căm tức nhưng vì thế yếu, không làm sao được. Lần lần về sau Nga mở mang thế lực, trên bộ thì khắp Mãn Châu tới Triều Tiên, dưới nước thì có hạm đội đóng ở Hải Sâm Uy 海參威 (Vladivostok) và ở Lữ Thuận 旅順 (Port Arthur), nắm giữ cái hải quyền ở trên Nhật Bản hải 日本海 [Nihonkai] (Mer du Japon), làm trở ngăn khó chịu cho con đường tấn phát của Nhật Bản qua đại lục, tức là cái ngõ sống cho Nhật tất nhiên phải đi. Đại khái cái nguyên nhân cốt yếu của trận Nhật Nga chiến tranh 1904-1905 là ở đó, chớ việc nội chính của nước Triều Tiên làm cớ cho hai bên khai chiến, chỉ là một cái nút chỉ nhỏ ở trong nùi tơ rối lớn mà thôi.

Vì chuyện thâm thù là một, vì lẽ sinh tồn là hai, cho nên tướng sĩ Nhật cùng Nga giao chiến có cái tráng khí hùng tâm, không viết mực nào tả ra cho hết. Trên bộ dưới thủy cũng vậy, con muỗi Nhật tấn lên đến đâu là con cọp Nga thối lui đến đó, làm cho dư luận thế giới sửng sốt không ngờ, và bày tỏ ra việc cải cách võ bị của Nhật Bản chỉ có ba chục năm thành hiệu lớn quá. Song, đây không phải có ý viết Nhật Nga chiến sử, mà chỉ riêng nói về trận Đối Mã hải giáp 対馬海峡 (Détroit de Tsushima), là vì trận này có nhiều ý nghĩa:

Một là nó kết thúc Nhật Nga chiến tranh, bởi đến lúc Nga đem hạm đội Ban-tích (Escadre de la Mer Baltique) sang cứu viện mà bị phá tan, thì Nga phải ngã cờ cuốn giáp ngay, không dám đánh với Nhật nữa; đành bỏ quyền lợi ở Nam Mãn, ở Tiều Tiên, cho tới hải quyền của Nga ở Nhật Bản bấy lâu cũng tiêu nữa. Nhật bắt đầu tiến phát qua đại lục từ đây.

Hai là trận này làm cho Nhật từ bữa nay qua bữa mai nhảy lên ngang hàng liệt cường thế giới và có thanh thế, có địa vị trọng yếu, trên Thái Bình Dương.

Ba là trận này Nhật Bản lấy số ít đánh với số nhiều mà thắng, tỏ ra nhân tài hải quân nước Nhật mới tập rèn đổi mới không bao lâu mà có thao lược lạ lùng. Người Tây phương ngợi khen so sánh Đông Hương nguyên soái với Đề đốc Nen-sôn (Amiral Nelson) của Anh quốc khi xưa, vì Nhật thắng trận này là trận rất to mà tự mình hao tốn rất nhỏ mới kỳ.

Vào hồi tháng 8 tháng 9 năm 1904, Nga hoàng Ni-cô-la II (Tsar Nicolas II) được tin cấp báo của quân mình ở phương Đông: dưới nước thì hạm đội Thái Bình Dương[2] bị đánh gần tiêu, trên bộ thì Lữ Thuận sắp mất mà Liêu Dương và Phụng Thiên cũng nguy. Thấy binh tình nguy cấp như thế, Nga hoàng liền mở quân sự hội nghị, quyết định lựa chọn những chiếc tàu chiến tốt nhất ở trong hạm đội Ban-tích mà lập ra hạm đội Thái Bình Dương thứ hai, giao cho Thủy sư Đề đốc Rô-dê-văng-ky (Amiral Zinovi Petrovitch Rojestvenski) làm tổng tư lệnh, để qua Đông phương cứu viện.

Ngày 4 tháng 10 năm đó, cả đoàn tàu trận lớn nhỏ gần 40 chiếc đậu dài ở cửa biển, khói lên nghi ngút, che bóng mặt trời, ngó oai phong thật là lẫm liệt đường hoàng, ai cũng phải sợ. Khi đoàn tàu sắp nhổ neo đi, Nga hoàng cùng hoàng hậu, thái tử, ngự giá xuống coi rồi phán rằng:

“Đem đoàn tàu như vầy đi đánh giặc, giặc nào không tan; hãm trận, trận nào không phá! Trẫm phái hạm đội này sang Đông, trong ý chẳng phải là cốt mong vào cửa biển Hải Sâm Uy của ta bên đó mà thôi, ý trẫm còn trông tướng sĩ các ngươi phen này cùng giặc Nhật quyết chiến, để rửa thù cho hạm đội Thái Bình Dương và làm rỡ ràng cho nước nhà; vậy tướng sĩ các ngươi nên cố gắng!”

Rồi đó hạm đội Ban-tích lục đục khởi hành.

Đề đốc Rô-dê-văng-ky chia ra làm hai toán: một toán do ngả Địa Trung Hải qua kênh đào Suy-ê (Canal de Suez) mà sang Ấn Độ Dương; còn một toán tự mình thống lãnh thì bao vòng châu Phi, rồi qua mũi biển Hảo Vọng (Cap de Bonne Expérance) rồi cũng băng qua Ấn Độ Dương mà sang Đông.

Sau khi hạm đội này đi được ít ngày, kế có tin rằng hạm đội Thái Bình Dương ở Lữ Thuận bị Nhật Bản đánh chìm hết rồi, Nga hoàng lo sợ quá, vội vàng sai thêm một đoàn tàu nữa đi, gọi là hạm đội Thái Bình Dương thứ ba.

Hạm đội trước đang đi nửa đường hay tin Lữ Thuận đã bị binh Nhật hãm mất rồi, mà binh Nga đánh nhau ở Phụng Thiên cũng thua, thành ra tướng sĩ trên hạm đội lo buồn, nay đi mai nghỉ, rất là chần chừ chậm chạp. Mãi đến ngày 12 tháng 4 năm sau 1905 mới đi qua Sài Gòn, ghé vào đậu ở vịnh Cam Ranh nước ta để chờ hạm đội Thái Bình Dương thứ ba tới nơi rồi cùng đi.

Song lúc đó nước Pháp trung lập, theo phép không được cho tàu trận của bên nào đậu nhờ trong đường nước của mình. Nhật hay tin có tàu Nga đậu ở vịnh Cam Ranh, liền đánh điện văn trách hỏi nước Pháp, và xin chiểu theo điều ước trung lập mà tống cổ tàu Nga đi. Bởi vậy hạm đội Nga phải nhổ neo ra khơi, chớ không được đậu ở Cam Ranh nữa. Ra biển chạy được ít lâu thì gặp hạm đội Thái Bình Dương thứ ba cũng vừa qua tới, nhập lại với nhau, cả thảy trên 40 chiếc. Hôm nay là ngày 5 tháng 5 năm 1905. Tính ra hai hạm đội Nga khởi hành ở biển Ban-tích bên Nga từ đầu tháng 10 năm ngoái, thế là hết 7 tháng mới đến phía ngoài hải phận Trung kỳ ta.

Nói về hải quân Nhật Bản, từ tháng Chạp năm trước (1904), đánh phá tan nát hạm đội Nga ở cửa Lữ Thuận rồi, thì hạm đội Nhật đều rút về quân cảng Tá Thế Bảo 佐世保 [Sasebo], sửa máy sơn tàu, lau chùi súng ống lại, và cho tướng sĩ nghỉ ngơi trên 60 ngày. Trong dịp đó, xưởng đóng chiến hạm của Nhật cũng vừa đóng xong 38 chiếc tàu trận mới.

Đông Hương nguyên soái cùng các viên bộ tướng là Thượng Thôn, Xuất Vũ, Qua Sinh… thắng trận khải hoàn, về Đông Kinh bái yết Thiên hoàng, rồi đến ngày 6 tháng 2 năm 1905, lại vâng mệnh xuất chinh, sửa soạn đâu đó, chờ hạm đội Ban-tích của Nga sang tới nơi là đánh. Nguyên soái Đông Hương bài binh bố trận, chia hải quân ra làm 7 đội, mỗi đội tuần phòng một ngả ở trong Nhật Bản hải và Trung Quốc hải, còn chính ngài thì thống suất đội chiến hạm thứ 7, phòng bị quanh miệt quần đảo Lưu Cầu (琉球 Iles Ryuukyuu) và eo biển Đối Mã, vì ngài đã định trước thế nào hạm đội Nga cũng phải đi qua ngả này mà lên Hải Sâm Uy của họ.

Lúc này là ngày 14 tháng 5, hạm đội Nga đang còn lênh đênh trên mặt biển ở phía ngoài hải phận Trung kỳ ta, mà vẫn chưa biết hạm đội của Đông Hương bố trí thế nào, trấn thủ ở đâu. Bấy giờ, Đề đốc Rô-dê-văng-ky bèn hội tất cả các bộ tướng và hạm trưởng các tàu tề tựu ở tàu kỳ hạm[3] để bàn tính phương lược, coi giờ nên đi ngả nào. Các tướng bàn bạc phân vân chia rẽ. Một viên bộ tướng nói:

“Bên giặc thế nào cũng giữ chặt lấy ngả Nhật Bản hải, hạm đội ta chớ nên đi lên ngả đó mà nguy. Chi bằng ta vòng ra Thái Bình Dương, dựa theo mé biển phía ngoài Nhật Bản mà dông cho mau, rồi băng qua eo biển Tông Cốc 宗谷 [Souya] của Nhật mà lên Hải Sâm Uy thì mới toàn vẹn được”.

Một viên hạm trưởng vùng vằng tức tối, đứng phắt dậy nói lớn:

“Chúng ta đây, cả đoàn tàu hùng tráng trên 40 chiếc, che mây rẽ nước từ Tây sang Đông, phí ngày giờ trải 8 tháng nay, đi băng ngang một nửa trái đất, là cốt để tìm lấy giặc mà đánh cho hả lòng, hầu lập nên đại công như Đề đốc Nen-sôn (Nelson) thuở trước. Nay lại định trốn tránh quân giặc mà bao vòng ngả Thái Bình Dương, thật là vô lý. Theo ý tiểu tướng định kế bây giờ, không có gì hơn là trước hết chúng ta đánh lấy Đài Loan làm nơi căn cứ cho hạm đội Ban-tích của ta, ấy là thượng sách, rồi thì thừa cơ đánh giặc sau”.

Các tướng thanh niên cường tráng, đều khen kế đó là phải. Đề đốc Rô-dê-văng-ky suy nghĩ lẳng lặng một lát rồi đứng dậy bảo chư tướng:

“Ta quyết định đưa cả hạm đội do ngả Đối Mã hải giáp mà lên Hải Sâm Uy”.

Chư tướng vỗ tay, tung hô vạn tuế.

Đoạn, Đề đốc lại ra hiệu lệnh cho tất cả đoàn tàu như vầy:

“Quân giặc sắp gần kề trước mắt ta rồi. Hạm đội chúng ta ăn thua vinh nhục, chỉ ở trong khoảng ít ngày nữa đây, vậy tướng sĩ các ngươi phải nỗ lực để báo đền tổ quốc”.

Đến ngày 25, hạm đội Nga do phía đông Đài Loan mà ra Trung Quốc hải, chỉ sai vài chiếc tàu vận tải ghé vào Thượng Hải lấy thêm than dầu vật thực, còn thì toàn đội nhắm ngay eo biển Đối Mã mà phăng phăng thẳng tới.

Phía bên quân Nhật, nguyên soái Đông Hương hay tin hạm đội Ban-tích đã chạy ngang qua quần đảo Lưu Cầu, thì định chắc sớm tối ngày 26 hay 27, thế nào cũng đi qua hải giáp Đối Mã, cho nên hạm đội Nhật hờm sẵn ở đấy chờ đánh.

Nói cho ngay, Đông Hương nguyên soái dư biết rằng đề đốc Nga, tay cừu địch với mình, là một vị sĩ quan hải quân cao cấp, đã nổi tiếng thông minh, can đảm và có tài thao lược ghê gớm lắm. Đông Hương lại cũng dư biết rằng lấy số tàu binh mà kể, thì hạm đội Nga nhiều hơn hạm đội mình. Vậy thì Nhật khó làm sao thắng Nga cho nổi. Tuy nhiên, Đông Hương đã suy tính hư thiệt kỹ lưỡng, biết rõ hạm đội của Đề đốc Rô-dê-văng-ky thiếu thốn về binh lực và thuốc đạn; nhất là cả đoàn tàu đi từ Âu sang Á, ròng rã 8 tháng nay, tự nhiên máy móc phải tròng trành, tướng sĩ phải mỏi mệt, mà tàu lại không chở đủ số than để lên tới Hải Sâm Uy mà qua mắt Nhật Bản cho được; thế nào giữa đường tránh khỏi đánh nhau? Nga yếu thế e thua là ở chỗ đó. Trái lại, tàu Nhật thì vừa mới sơn phết, sửa sang máy móc và tích trữ đạn dược rất sung, còn tướng sĩ ai nấy đều tỉnh táo hăng hái, chỉ đợi có giặc lại mà đánh.

Lấy tình trạng hai bên về binh lực và sĩ khí như thế mà suy xét so đo, cho nên Đông Hương nguyên soái vững lòng chờ đợi hạm đội Nga tới chỗ eo biển chỉ rộng có 122 hải lý là eo biển Đối Mã để cùng giao chiến một phen sống mái, chớ không vì thấy tàu Nga đông, tướng Nga giỏi, mà kiêng sợ chút nào!

Ngày 26, Đông Hương nguyên soái ra lệnh cho chiếc tàu do thám, hiệu là Tín Nùng 信濃 [Shinano] phải cẩn thận tuần phòng ở quanh biển Đối Mã, hễ thấy bóng tàu Nga, phải đánh điện tín cấp báo cho đại đội hay. Chiếc tàu này đi tuần biển đến 2 giờ khuya thì thấy đoàn tàu Nga, liền phi báo cho hạm đội Nhật hay. Các nhà quân sự chuyên môn của Âu Mỹ nói rằng chớ chi chiếc tàu Tín Nùng của Nhật đi tuần chậm trễ 5 phút đồng hồ sau, thì hạm đội Nga vượt khỏi Đối Mã rồi, không đến đỗi phải chôn thây ở đó.

Tảng sáng 27, mặc dầu biển dậy sóng to, trời có sa mù bịt bùng, hạm đội tiên phong của Nhật được tin hạm đội Nga sắp tới, tướng sĩ Nhật hăm hở nghênh chiến. Xuất Vũ trung tướng truyền bảo bộ hạ như vầy:

“Anh em ta đêm ngày chờ đợi hạm đội Ban-tích tới để đánh; ngày nay may mắn làm sao tàu giặc đã tới trước mắt, cái giờ sinh tử quyết chiến của anh em ta đến rồi. Song binh gia thắng bại, không biết đâu trước mà lường; nói ví dụ như tàu chúng ta bị bắn nặng lắm, thì anh em ta cũng thề đánh tới chết chớ không thèm lui. Còn một viên đạn, cứ đánh; còn một tên quân, cứ đánh. Ai nấy đều nên nỗ lực tận tâm mà đánh giặc, rủi như tàu chúng ta chìm thì trước khi chun vô bụng cá, chúng ta đem hết thảy vật dụng quân cơ trong tàu mà tự hủy đi ráo, chớ để lọt qua tay bên giặc nghe”.

Rồi đó Xuất Vũ trung tướng dàn trận, xông vào giao chiến với hạm đội Nga. Trong lúc sa mù tối tăm, tàu Nga không biết tàu Nhật nhiều ít thế nào, chỉ thấy bên Nhật bắn mình thì mình bắn lại, rồi thì phân hạm đội ra làm hai hàng tả hữu, kéo dài trên 20 dặm, phăng phăng chạy vào eo biển Đối Mã. Lúc này mà đề đốc Nga còn chưa thấy rõ thiệt tình bên Nhật, trong trí vẫn tưởng rằng mấy chiếc tàu Nhật mà mình ngó thấy đây là thứ tàu hư cũ không thể chiến đấu gì được; còn đại đội hải quân Nhật thì đang đón hạm đội mình ở eo biển Tôn Cốc là phía trên kia, thế là Nhật mắc mưu mình rồi, thôi mình có thể thừa hư mà thắng lên Hải Sâm Uy dễ dàng như chơi. Than ôi! Đề đốc Nga không biết có hạm đội của Đông Hương đang hờm sẵn ở Đối Mã hải giáp, lát nữa coi mà!

Quả thiệt Đông Hương nguyên soái được tin hạm đội Nga sắp qua Đối Mã hải giáp liền ra lệnh cho cả hạm đội bộ hạ mình gồm 20 chiếc tàu, dàn trận như hình tràng xà, xông ra nghênh địch. Cờ hiệu giao chiến kéo lên bay phấp phới ở trên kỳ hạm Tam Lạp 三笠 [Mikasa] Đông Hương nguyên soái truyền lệnh cho toàn đội rằng: “Tổ quốc vinh nhục ở một trận này, tướng sĩ các ngươi đều phải gắng sức”. Lệnh này làm cho hùng tâm tráng khí của chư tướng sĩ thêm phấn chấn trăm phần.

Hạm đội Nhật phân hai, một nửa đánh vào sau lưng hạm đội Nga, một nửa thì chạy hàng dài ở phía tả, chận ở mặt trước. Lúc hai bên còn cách xa nhau 10 ngàn thước, tàu Nga bắn trước, nhưng tàu Nhật làm thinh, chờ khi còn cách chừng 5 ngàn thước, thì tàu Nhật mới thử bắn 6 phát. Súng Nhật bắn hay quá, trong 6 phát mới bắn đó, có 3 phát trúng ngay vào một chiếc tàu Nga, mà một phát trúng giữa tướng đài, viên đề đốc chiếc tàu ấy bể sọ chết tốt.

Nga muốn biến thế trận để đối địch cho dễ, nhưng bị Nhật xông vào đánh riết quá, nên biến thế trận không kịp. Đã vậy mà súng Nhật bắn 10 phát trúng đến 6, 7; còn súng Nga bắn trả thì xuống nước gần hết. Hồi 2 giờ chiều, hai bên đánh nhau càng hăng, súng nổ vang trời, khói lên mù mịt. Tuy binh Nga chống cự hăng hái can đảm cũng dữ, nhưng mà tàu nào tàu nấy bị đạn Nhật bắn phá nhừ tử, thành ra lòng quân đã hơi rúng động.

Đến 2 giờ rưỡi, hạm đội Nga bị khốn trong vòng vây, trận thế rối loạn tứ tung, muốn phá vây chạy trốn, nhưng mà tàu Nhật áp tới bao phủ như bức tường dày, không có ngả nào cho tàu Nga thoát ra được. Lúc này tàu Nga có mấy chiếc bị bắn chìm rồi, tàu Nhật lại nhắm vào kỳ hạm của Đề đốc Rô-dê-văng-ky mà bắn dữ dội. Đề đốc đứng trơ trên tướng đài, tay cầm thanh gươm ra hiệu cho tướng sĩ; bỗng chốc tàu cháy ngùn ngụt, cháy tới tướng đài, làm cho Đề đốc Nga bị thương nặng lắm, vội vàng cùng bộ tướng sang qua tàu khác vừa xong, thì chiếc kỳ hạm chìm nghỉm.

Bây giờ chiếc tàu Nga hiệu Nicolas 1er thay làm kỳ hạm, cùng chiếc Alexandre III đánh lại tàu Nhật rất là dũng mãnh, vì tướng sĩ ở hai tàu này đều là hạng tinh nhuệ trong hải quân Nga.

Song, rủi cho Nga, hết tàu này tới tàu khác, bị trúng đạn Nhật mà nổ chìm liền. Thét tàu Nga phải đành liều, phá vòng vây mà chạy; tàu Nhật rượt theo bén gót.

Tối lại, trên biển u ám, không sao ngó thấy rõ đường mà đánh, nên chi Đông Hương nguyên soái truyền hiệu lệnh cho hạm đội mình đều tụ ở phía ngoài cù lao Uất Lăng 鬱陵島 [Ururundo], chỉ sai một đoàn tàu ngư lôi và tàu khu trục theo đánh tàu Nga. Hồi 8 giờ tối, biển nổi sóng ầm ầm mà trời đen như mực, tàu Nga lênh đênh trên biển không biết lối nào mà đi, vì sợ đi bậy, gặp tàu Nhật thì khốn. Nhờ vậy mà tàu ngư lôi và tàu khu trục của Nhật theo dõi tới nơi, lại xông vào đánh tàu Nga, chiếc thì bị chìm, chiếc thì hư máy, không cử động gì được nữa.

Chính một chiếc tàu có Đề đốc Rô-dê-văng-ky và tham mưu bộ tướng cũng bị hết than hư máy, đứng sững trên biển, nên phải kéo cờ hàng, để cho binh Nhật bắt sống cả mấy thầy trò; còn chiếc tàu Nga thì Nhật dắt về Tá Thế Bảo quân cảng.

Có 5 chiếc khác thừa lúc đêm tối, định dông thẳng lên Hải Sâm Uy, không dè tới sáng, bị một hạm đội Nhật lù lù chặn ngang trước mặt. Chính là hạm đội của Đông Hương, Đông Hương ra hiệu khuyên hàng; 5 chiếc tàu Nga biết thế chống cự không nổi, kéo cờ trắng lên hàng ngay.

Nội buổi sáng 28 tàu Nhật còn lùng kiếm tàu Nga, hoặc bắn chìm, hoặc bắt sống. Thế là cả hạm đội Ban-tích của Nga trên 40 chiếc, đến đây không còn sót lại chiếc nào toàn vẹn. Tính ra Nhật bắn chìm của Nga 21 chiếc; bắt sống 5 chiếc; 3 chiếc mắc cạn bị hư; 8 chiếc trốn thoát; 1 chiếc chạy mất tung tích nơi nào không biết. Có lẽ nó là chiếc chạy lạc vào cửa Ô Cấp ta rồi chìm ở khoảng trên Nhà Bè mà mấy chục năm nay còn thấy cột buồm trồi lên mặt nước đó chăng?

Phía Nga, hạm đội Ban-tích tan nát như đã kể trên đây, còn tướng sĩ thì 4.000 người bị hoặc bị đạn mà tử trận, hoặc đắm tàu mà chết chìm; 7.000 người bị Nhật bắt sống, trong số đó có Đề đốc Rô-dê-văng-ky và nhiều danh tướng khác nữa. Thế mà phía Nhật, thì chỉ mất ba chiếc tàu ngư lôi, chết 116 người và bị thương tích 350 người thôi.

Trận hải chiến ở eo biển Đối Mã này kết thúc cuộc thắng bại giữa hai nước Nhật Nga, từ đó Nga bị đuổi ra khỏi phía đông Thái Bình Dương để nhường cho Nhật trở nên hải thượng bá chủ. Vả lại trận Đối Mã đánh xong hôm nay, thì ngày mai oai danh Nhật Bản lừng lẫy toàn cầu, nhảy vọt lên ngang hàng với liệt cường Âu Mỹ. Ai cũng nói rằng thiên hạ cổ kim, không tiền tuyệt hậu, chẳng thấy có một trận hải quân chiến thắng nào mà cái giá nó ít tốn hao quá như là trận Nhật chiến thắng Nga ở Đối Mã hải giáp vậy.

Thắng trận khải hoàn, Đông Hương nguyên soái trở nên một bậc dân tộc anh hùng, thế giới vĩ nhân. Người thắng trận đã nâng cao địa vị của quốc gia dân tộc Nhật Bản đó, thọ gần 80 tuổi, mới mất ở Đông Kinh hồi tháng 6 năm 1934, Nhật Bản làm lễ quốc táng hết sức long trọng. Nhân dịp đó, ta thấy vô số báo chí Âu Mỹ tự thuật lai lịch và ca tụng chiến công của Đông Hương.

Đông Hương, hồi đầu duy tân, là một chàng thanh niên do vua Minh Trị lựa chọn phái đi qua học hải quân ở Anh quốc giữa năm 1868. Đông hương lưu học tại Anh quốc luôn 7 năm, đã nghiên cứu về binh pháp hải quân lại tinh thông cả về cơ khí hải quân nữa. Lúc bấy giờ Âu châu gọi Đông Hương là “cậu học trò Nhật Bản” (écolier Japonais). Cách sau vừa đúng 30 năm, tảng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1905, cậu học trò Nhật Bản làm Hải quân nguyên soái. Phá tan hạm đội của một cường quốc Âu châu ở Đối Mã hải giáp đó.

Giữa lúc đánh trận, Đông Hương cầm thanh bửu kiếm đứng trên tướng đài của chiếc kỳ hạm Tam Lạp, chỉ huy quân sĩ từ sáng sớm đến tối mịt, bỏ cả ăn uống, quên hết hiểm nguy. Đạn Nga bay ngang trước mặt vù vù, mà Đông Hương không hề nhúc nhích, cái thái độ dũng cảm tự nhiên của Đông Hương như thế, càng làm cho mạnh khí nức lòng tướng sĩ Nhật Bản bội phần. Ai nấy reo hò hăng hái, quyết chiến cho đến lúc toàn thắng mới thôi. Có tướng ấy, tất nhiên có quân ấy là phải lắm.

Tuy thắng đại trận, lập đại công thế ấy, mà Đông Hương chẳng lấy làm đắc chí tự kiêu chút nào. Ai khen công trận thì Đông Hương chỉ nói đó là nhờ có oai linh của Thiên hoàng, dũng khí của ba quân, hồng phúc của tổ quốc. Ngày khải hoàn về Đông Kinh, cái cử chỉ trước hết của Đông Hương là vô nhà thương thăm viếng Đề đốc Rô-dê-văng-ky, nắm tay đề đốc mà nói:

“Tôi rất lấy làm vinh hạnh được gặp một tay đối địch hết sức dũng cảm như ông.”

Cái cử chỉ này càng tỏ ra võ sĩ Nhật Bản có tính nho nhã di truyền từ xưa, như một đoạn trên kia đã nói vậy.

CHÚNG TÔI HỌC THEO TÂY PHƯƠNG CÁC ÔNG MÀ

Xét qua công cuộc cải cách võ bị của Nhật đã thành công mau lẹ và có kết quả rỡ ràng như thế rồi, luôn dịp ta nên nhìn biết một điều này nữa. Điều này, chẳng phải ý tôi muốn nói ra đặng ngợi khen gì Nhật Bản, nhưng mà nó chính là một sự thật, không nên bỏ qua.

Hồi duy tân, Nhật Bản hối hả sửa sang võ bị theo như Tây phương, chẳng phải chỉ cốt lo “giữ mình” mà thôi đâu, kỳ thiệt họ đã lập chí “ăn người” rồi. Đã không muốn tiến hóa tự tân thì thôi, chớ nếu tiến hóa tự tân, thì tất nhiên phải có những vấn đề công nghệ phát đạt, vấn đề nhân khẩu gia tăng, bắt buộc họ có cái tình thế riêng phải lấy võ lực để tìm lấy hơi thở, mưu lấy đường sống.

Bởi vậy, ông tướng tên quân nọ mới ngày hôm nào hãy còn mang giáp múa đao, cầm cung ra trận, không khác gì tướng sĩ Trung Quốc thuở xưa, thế mà bỗng chốc duy tân, bao nhiêu thói xưa lối cũ xóa đi hết, nhất thiết đổi dùng từ binh cơ đồ trận cho tới nhung trang khí giới của Tây phương, sự biến hóa ấy thấm thoát chưa được bao lâu, thì họ đã đem ra thực nghiệm “ăn người” rồi. Nào đánh Trung Quốc chiếm lấy Đài Loan, Bành Hồ, nào mượn tiếng sửa sang nội chính giùm cho Cao Ly rồi sau bảo hộ luôn, lại nào là cố đánh thắng Nga để nắm lấy hải quyền ở miệt đông Thái Bình Dương và đuổi Nga ra khỏi Mãn Châu để khuếch trương thế lực mình sang đại lục, ấy đều là những sự hiển nhiên Nhật Bản đã dùng võ lực sửa đổi theo Tây phương mà thiệt hành “ăn người” cả đó.

Sau lúc thắng Nga trở đi, võ bị của Nhật ngày càng thêm mở mang tấn tới. Đến giờ, thôi thì quá rồi: hải quân và lục quân của họ đã đứng ngang hàng với mấy nước đệ nhất hùng cường trong thế giới; võ nhân họ, ở bên trong có thế lực lớn lao bên đàn chính trị, ngó ra ngoài muốn hầm hừ nhai nuốt cả những Úc châu của Anh, Phi Luật Tân của Mỹ, Nam Dương quần đảo của Hòa Lan, chớ không phải muốn vừa. Mãn Châu chưa đủ no bụng họ đâu, họ còn đang dòm qua dĩa thịt liền một bên, muốn nhai luôn cả Tây-bá-lợi-á (Xibia) của Nga luôn một miếng cho gọn!

Tuy ngoài miệng hay nói hòa bình ngọt xớt, nhưng kỳ thực Nhật Bản chính là một nước “quân quốc chủ nghĩa” (Nation militariste) rõ ràng không còn phải nghi gì nữa.

Có người Âu Mỹ nào trách thiện Nhật về chỗ đó thì Nhật cười và nói:

“Ủa! Chúng tôi học theo Tây phương các ông chớ ai!”

Thì chính là lời nói thật.

Như trên xa kia đã nói, thiệt là trước nhờ mấy tiếng súng của Đề đốc Bá Lý, sau nhờ có những hiệp súng của 4 nước Âu Mỹ hiệp nhau bắn nổ rầm rầm ở Lộc Nhi đảo và Hạ Quan, làm cho người Nhật vùng tỉnh giấc mê mộng mấy ngàn năm mà vội vàng cải cách duy tân. Việc thứ nhất là họ đã ngó thấy Tây phương mạnh ở súng gang tàu sắt, thì trước hết họ phải lo sao cho họ cũng có những vật cần kíp đó. Antoine Zischka[4] viết câu này thực là đúng với tư tưởng tâm lý người Nhật hồi năm 1868: “Nếu người ta sống theo cách Âu châu thì cũng phải biết bắn giết theo cách Âu châu mới được”, (Si on vivait à l’européenne, il fallait aussi tuez à l’européenne).

Võ bị nước Nhật hồi duy tân sửa sang tấn tới quá mau, cho đến đỗi cách sau 37 năm đem ra thực nghiệm chiến thắng được Nga, tóm lại chỉ gốc ở một chỗ giác ngộ và định kiến có bấy nhiêu đó!

Lại cũng vì chỗ giác ngộ định kiến đó mà Nhật Bản phải trở nên một nước quân quốc chủ nghĩa, soi gương nối gót thầy học Tây phương. Thử hỏi xưa nay trong thiên hạ có một nước nào, hoặc mở thêm đất cát, hoặc mưu lấy lợi quyền, mà khỏi dùng đến võ lực? Nước mạnh nào lại không là nước quân quốc chủ nghĩa? Tây phương bắt đầu từ thế kỷ XVII sang mở mang đất cát, kinh doanh quyền lợi ở Đông phương, chẳng nhờ có binh ròng tướng mạnh, tàu sắt súng gang, thì nhờ ở sức nào khác hơn? Chính Tây phương qua bắn súng vào Phù Tang tam đảo rầm rầm, mới đánh thức Nhật Bản tỉnh ngộ tự cường đó chớ ai! Cũng chính Tây phương chỉ tỏ cho Nhật biết sức mạnh của súng đạn tân thời và biết mối lợi của võ lực sung túc, cho nên Nhật phải bắt chước đó. Ngày nay họ trở nên quân quốc chủ nghĩa mà thú thật rằng học bài chung sách của ông thầy Tây phương là phải lắm.

Danh sĩ Pháp là Maurice Dekobra năm ngoái qua chơi Nhật Bản trở về viết cuốn sách Samourai huit cylindres rất ngộ, có nhắc lại câu nói của ông giáo sư Nitobe Inazou ở trường Đông Kinh Đế quốc đại học như vầy:

“Hồi Nhật Bản tự bỏ cái thú tịch mịch phong lưu của mình từ xưa mà để mắt dòm ra thiên hạ, ngó thấy trên biển Trung Quốc phấp phới nhiều lá cờ lạ, thuở nay mình không biết, thì ai nấy đều sửng sốt lạ lùng: nào cờ tam tài, nào cờ có băng đỏ của Hồng Mao, nào cờ điểm sao lốm đốm của Mỹ quốc.

Chớ chi lúc nọ ở dưới những lá cờ đó, có một đạo binh toàn là thi gia và mỹ thuật gia kéo tới bờ biển chúng tôi, thì không chừng chúng tôi đã cao hứng vì lẽ cạnh tranh tinh thần, mà cùng họ phấn đấu ở trong vòng nghệ thuật văn chương một cách rất là ôn tồn thân ái. Song cơ khổ thay! Lúc chúng tôi dòm thấy dưới những bóng cờ đó tua tủa lên vô số là đầu gươm mũi súng chói mắt sáng lòa, thì chúng tôi hiểu ngay rằng chúng tôi đây phải đúc súng rèn binh để giữ lấy thân chúng tôi mới được. Bởi vậy, ngay từ khi chúng tôi bắt đầu tiếp xúc với Tây phương, thì chủ nghĩa quân quốc đưa tới cho chúng tôi bắt chước đầu hết mọi sự. Thiệt, công cuộc tổ chức hải quân và lục quân của Nhật ngày nay, có phải là Nhật phát minh ra đâu; Nhật chỉ chép y kiểu cách của Âu châu thôi mà”.

[1] . Có tên khác là Khố Hiệt đảo 庫頁島 hay Tát cáp liên 薩哈蓮 cũng thế, tức là cái cù lao ta thấy trên địa đồ đề tên là Sakhalin, nửa phần về Nga, nửa phần về Nhật. Nhật lấy lại được nửa phần sau trận thắng Nga 1905; còn nửa phần nữa bây giờ họ tính mua lại của Nga, cũng như là mua con đường xe lửa Đông Mãn kia.

[2] . Lúc đó hải quân nước Nga chia làm 4 hạm đội hay là 4 đoàn tàu chiến, đóng ở 4 nơi: một là hạm đội Ban tích (Escadre de la Mer Baltique); hai là hạm đội Hắc Hải (Escadre de la Mer Noire); ba là hạm đội Lý Hải (Escadre de la Mer Intérieuse); bốn là hạm đội Thái Bình Dương (Escadre du Pacifique). Hạm đội này đóng ở cửa Lữ Thuận, bị hạm đội Nhật phá tan, sau đem hạm đội Ban-tích sang cứu viện cũng bị phá tan nữa.

[3] . Đoàn tàu chiến khi ra trận, chiếc tàu có ông Hải quân nguyên soái ở trên, treo cờ hiệu lệnh nguyên soái, thì gọi là kỳ hạm 旗艦 [kikan], tiếng Tây kêu là Navire Amiral.

[4] . Tác giả cuốn Le Japon dans le Monde, 326 trang, nhà xuất bản Payot ở Paris.

Chương IX. VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Về văn hóa tư tưởng, Nhật Bản có chứa cái kết thai lâu đời chẳng phải tầm thường, văn hóa tư tưởng nào họ cũng thâu góp, cảm thụ của người, nhưng rất khéo lựa chọn, khéo dung hòa, khéo lọc hay bỏ dở để cho thích hợp và hữu dụng với mình, thành ra đến lúc văn hóa tư tưởng Thái Tây sang Đông, họ biết đón rước vồ vập lấy liền.

Nhiều người ngó thấy Nhật Bản sinh ra được đứa con duy tân tự cường giống Âu châu như đúc khuôn, tưởng vậy là Nhật Bản nhờ công ơn khí bẩm của Âu châu truyền cho hết thảy.

Mà người ta không tưởng vậy sao được; vì chứng cớ hình tích là những cơ khí, cửa nhà, xe tàu, y phục cho đến chính trị, lý tài, kinh tế, quân sự kia, nhất thiết là của Âu châu sản sinh, vậy thì đứa con Nhật Bản duy tân, chẳng phải con của Âu châu thì còn ai?

Nếu chỉ xét người ở ngoài da, thì vậy đó là phải rồi. Nhưng, chưa chắc mỗi ai có khí bẩm Âu châu truyền cho, cũng duy tân tự cường được, Trung Quốc từ thế kỷ XVIII, đã có nhiều người Tây phương lui tới, đem những cái hay của họ sang cho mà thấy, sao Trung Quốc không văn minh hùng cường đi? Cũng như nước Nam mình đời Gia Long, có những người Pháp tài nghề chuyên môn là Olivier, là Chaigneau, qua đây đóng tàu đúc súng, xây thành luyện quân ở ngay trước con mắt mình, sao mình không giỏi văn minh hùng cường đi?

Tại sao?

Chỉ tại Trung Quốc với mình như chị đàn bà khô khan yếu đuối, trong mình không có những cái tính chất có thể cảm thọ khí bẩm tốt lành của người ta để sinh sản ra tốt lành.

Trái hẳn lại, Nhật Bản từ xưa chẳng những đã chứa sẵn nhiều tính chất phát dục chín chắn tốt lành, mà ngay đứa con văn minh hùng cường cũng đã nằm sẵn trong thai nghén của họ rồi, vừa đúng lúc ngày đầy tháng, thì Âu hóa tới rước nó ra, chớ không phải Âu hóa đem trọn đứa con đẻ sẵn cho Nhật Bản đâu! Khác nào hột giống cây quý tự người Nhật đã gieo nó dưới đất rồi, Âu hóa như trận mưa phải thời, tự nhiên nó nảy mầm đâm nhánh lên vậy.

Một bậc danh nhân trong thời đại Minh Trị, nông học kiêm pháp học bác sĩ là Tân Độ Hộ Đạo Tạo 新渡戸稲造 Nitobe Inazou ví dụ Âu hóa có công như là cô mụ, rất có ý vị:

“Âu hóa đối với nước Nhật chúng tôi không khác gì chuyện cô mụ hộ sinh đối với một đứa nhỏ trong thai, đến ngày đến tháng, cô mụ tới đỡ cho nó chui ra đời. Nếu Âu châu có công với sự tiến hóa duy tân của chúng tôi, tức là cái công của cô mụ hộ sinh đó. Nghĩa là đứa nhỏ cứng cáp tốt lành đã có sẵn trong thai nghén của chúng tôi rồi, chỉ nhờ Âu hóa tới làm người hộ sinh, khiến cho người mẹ sinh ra đứa nhỏ được mau chóng hơn, dễ dàng hơn, và ít quằn quại đau đớn. Bảo rằng đứa nhỏ do chúng tôi sinh ra đó là của Âu châu ban cho hết thảy thì sai lắm. Rút lại mà nói: Nhật Bản có nhờ Âu châu là để cho cái sức có sẵn nơi mình, được mau phấn phát, tấn tới theo thời vậy”.

Câu nói nghe như hơi quá tự phụ, nhưng quả là chứa đầy sự thật.

Về văn hóa tư tưởng, Nhật Bản có chứa cái kết thai lâu đời chẳng phải tầm thường. Nhất là văn hóa tư tưởng nào họ cũng thâu góp, cảm thụ của người, nhưng rất khéo lựa chọn, khéo dung hòa, khéo lọc hay bỏ dở để cho thích hợp và hữu dụng với mình, thành ra đến lúc văn hóa tư tưởng Thái Tây sang Đông, họ biết đón rước vồ vập lấy liền. Trên con đường này, trước khi muốn thấy dấu chân họ ở chặng sau, ta dòm sơ lại bước đi của họ ở mấy chặng trước thử xem.

Sự thật, Nhật Bản đã sẵn có một cái thai văn hóa kết tinh lâu rồi.

Muốn xét cái thai văn hóa của Nhật Bản, đầu hết phải xét từ tôn giáo mà đi.

Thật, quả như lời của ông giáo sư Félicien Challaye đã nói: “Chính là tôn giáo đã vạch rõ ra những tính chất cốt yếu của nền văn hóa ấy, khiến cho nó có vẻ lạ khác người ta, có linh hồn riêng của nó. Nó ảnh hưởng tới tư tưởng, tính tình và công việc của người Nhật làm một cách rất sâu xa; chính tôn giáo đã giúp ý tưởng cho họ nảy ra văn chương, ra mỹ thuật, làm nên khuôn mẫu cho tất cả những điển chương phép tắc tổ truyền; chính tôn giáo đã làm cho rung động và ngày nay cũng vẫn còn rung động sự sống bề ngoài cũng như sự sống bề trong của người Nhật.” (Ce sont les religions qui ont déterminé les caractères essentiels de cette civilisation, lui ont donné son originalité, son âme. Elles ont profondément agi sur les idées, les sentiments et les actes de Japonais; elles ont inspiré leur lictérature et leurs arts, modelé toutes les institutions traditionnelles; elles ont animé et elles animent encore leur vie extérieuse comme leur vie intérieuse).

Từ thuở nước Nhật cổ, có ba nền đạo lớn, vẫn là những đạo cốt yếu của nước Nhật kim ngày nay: Thần đạo, Khổng giáo, Phật giáo.

THẦN ĐẠO

Ở chương thứ nhất, độc giả đã thấy một đoạn nói người Nhật tin tưởng nước họ là Thần quốc, do Thần dựng lên, đức Thiên hoàng là con cháu, dòng dõi của vị Thần tôn nghiêm cao quý hơn hết, đời đời truyền nối trị vì, không ai được xâm phạm, không hề có sự thay đổi bao giờ. Tự nhiên Thần đạo 神道 [Shindou] (shinstoisme) là đạo gốc, có từ lúc Nhật Bản mới thành dân tộc, mới lập quốc gia trở đi.

Đây, cần nói thêm về Thần đạo, nhất là những điều trước kia chưa nói, vì có quan hệ với vấn đề văn hóa.

Ta nên phân biệt: Thần của người Nhật, không phải Thần như của Tàu và nước Nam ta, phàm ai sống khôn thác thiêng, được người ta lập đình miếu thờ tự và có nhà vua sắc phong là Thần thì mới là Thần; cũng không đồng nghĩa với Thánh (Saint) ở đạo Gia-tô, thường là những người xưa kia tận trung với đạo Chúa hay là tử tiết vì đạo, về sau được Tòa thánh ở La Mã phong Thánh thì mới được là Thánh.

Thần đạo ở Nhật Bản cốt nhất là sự tưởng nhớ kính thờ các Gia Di 加彌 [Kami], tức là anh linh của những người qua đời. “Hết thảy những kẻ chết đều thành Thần”, ấy là lời của nhà chí sĩ ái quốc 平田 篤胤 [Hirata Atsutane] (1776-1843), đứng ra xướng minh Thần đạo, gây nên một phong trào vừa có chủ nghĩa tôn giáo quốc gia; vừa có tôn chỉ chính trị ái quốc; chính cái phong trào đó về sau kết cuộc là Mạc phủ phải dâng trả quyền chính của Thiên hoàng và mở ra thời kỳ Minh Trị duy tân vào năm 1868 vậy.

Căn bản của Thần đạo tóm tắt lại ở sự tin tưởng này: anh linh của kẻ chết vẫn quanh quất ở giữa kẻ sống; vẫn đi về lui tới nhà cửa con cháu; tuy ở trong cõi thiêng liêng vô hình mà vẫn kiểm xét tính hạnh đạo đức và dự phần vào những cảnh vinh nhục vui buồn của kẻ đang sống luôn luôn. Vẫn biết rằng cõi Thần cũng như cõi người, có hạng xấu tốt nên hư, nhưng mà hết thảy những kẻ đã chết, đều có quyền sức thiêng liêng tác oai tác phúc cho người sống được. Giữa người sống với kẻ chết vẫn có sợi dây quan hệ liên lạc với nhau.

Kẻ chết cần dùng người sống tưởng nhớ kính thờ để cho vong linh được yên ổn sung sướng trên cõi thiêng liêng. Còn người sống phải nhờ kẻ chết che chở phò trợ cho mình ở đời.

Có nhiều hạng Thần: Thần của gia đình là anh linh của cha mẹ, ông bà, tổ tiên, thờ tự bàn thờ trong nhà; Thần chung của làng xóm, thờ ở đình miếu hương thôn; tới Thần chung cả nước là anh linh của các đấng anh hùng hào kiệt, chí sĩ, danh nhân, mà trên hết là anh linh của tổ tiên đức Thiên hoàng. Cho đến trời, đất, cây, đá, các đồ dùng về nghề nghiệp, mỗi sự vật đều có Thần giám đốc chủ tể nữa.

Cái gốc luân lý ở xã hội Nhật Bản xưa nay cũng thế, là ở gia đình. Ông Lafcadio Hearn làm giáo sư ở Đông Kinh trong lúc Minh Trị duy tân, vô dân Nhật, ở nước Nhật luôn 40 năm, biết rõ người Nhật đến tận móng tay kẻ tóc, muốn chỉ tỏ cái đại cương của gia đình luân lý Nhật Bản bằng câu này đúng lắm: “Gia đình là một tôn giáo, nhà cửa con cháu ở là một đền thờ”. (La famille est une religion, le home (la demeure familiale) un temple).

Xứ mình lâu nay, thấy có nhiều nhà ấy là nói những người không phải theo đạo Thiên Chúa đã dẹp bàn thờ ông bà đi, chớ ở Nhật Bản, nhà nào cũng có, từ nhà các ông tể tướng, nguyên nhung, cho đến nhà của thường dân lao động. Vì đó là một dấu tỏ ra con cháu cung kính tưởng nhớ ông bà tổ tiên, thường thường khấn vái cúng kiến. Họ cho rằng mình đây có thân hình, cửa nhà, có sự nghiệp; hay là bất cứ sự vật gì, đều nhờ ông bà cha mẹ ban cho, nên mình phải luôn tưởng nhớ kính thờ mới được. Huống chi là tổ tiên vẫn dòm thấy công việc ta làm, vẫn nghe mỗi lời ta nói, vẫn thấu lòng dạ ta, vẫn xét đoán ta; nếu ta ở đời mà cư xử hành vi đến can danh phạm nghĩa, để cho anh linh tổ tiên sầu tủi, thật là ta mắc một tội rất lớn.

Trong gia đình, Thần đạo buộc có kỷ luật nghiêm minh: con phải hiếu thảo vâng lời cha mẹ, vợ phải kính nể chồng, em phải nghe lời anh, kẻ dưới phải phục tòng người trên. Luật nghiêm ấy phải có chỗ bù chế lại, là nghĩa vụ giúp đỡ lẫn nhau, buộc những kẻ trên phải lo lắng, phải cứu vớt, phải an ủi, phải tư trợ cho sự sống của kẻ dưới được thong thả êm đềm.

Ngoài luân lý gia đình, tới luân lý hương tộc, Thần đạo nghiêm cấm những kẻ cùng ở một làng xóm, cùng chung một họ hàng, không được gây gổ chửi rủa nhau. Lúc có hoạn nạn như trộm cướp cháy nhà thì phải tương cứu. Ai ở trong làng mà phạm tới luân lý hương tộc đại khái của Thần đạo như thế, đều bị người ta khinh khi, ruồng bỏ, đến đỗi muốn lập gia đình không được, rồi phải bỏ làng mà đi phiêu lưu.

Trên gia đình và hương tộc, là quốc gia. Thần đạo dạy người ta suy rộng tấm lòng con hiếu cha từ ra trung quân ái quốc, làm người phải biết trọng danh dự, trọng khí tiết, khinh tài trượng nghĩa, dầu phải vì danh dự vì quốc gia mà chết bỏ mình đi, cũng đừng thèm sợ tiếc. Võ sĩ đạo, độc giả xem trên xa kia đã biết, là đạo gì, chính là một chi nhánh nảy từ luân lý quốc gia của Thần đạo mà ra đó.

Sở dĩ Nhật Bản là một dân tộc chuộng sự thanh khiết nhất đời, cũng là do phận sự của Thần đạo bắt buộc. Họ nói Thần ưa sự thanh khiết, cho nên mỗi người nào kính thờ tưởng nhớ Thần, luôn luôn phải giữ tâm mình và thân mình cho thật trong sạch; không vậy thì Thần không gần gũi mình, không chứng giám phò trợ cho mình. Người Nhật vẫn lấy chỗ tập tục thanh khiết của Thần đạo bắt buộc họ mỗi ngày mỗi giờ mỗi giây mỗi phút như thế là chỗ đặc biệt tự cao; không như tục lệ người Tàu đến khi sắp có cúng tế mới lo trai giới mộc dục (ăn chay, kiêng cữ, tắm gội), bởi vậy là dấu tỏ ra bình thường không thanh khiết. Người Ấn Độ lúc làm lễ Phật phải xông hương; đạo Gia Tô xức dầu thơm trước khi tụng kinh làm lễ, đều là cách mượn vật che thân.

Cái đặc sắc của Thần đạo, là một nền luân lý đạo đức, chớ không có những lễ nghi phiền phức như các đạo khác, mà chỉ cốt có một tấm lòng thành. Họ lấy lòng thành là nòng cốt mực thước của mọi đức hạnh; lấy đó mà thờ Thần, lấy đó mà ăn ở với người, tấm lòng lúc nào cũng như nước trong, như gương sáng.

Tấm lòng thành đó lúc gặp Nho giáo Phật giáo truyền tới, tức thời biết đón rước dung hòa và lựa lọc cái hay của người rồi đẽo gọt lại trở nên cái hay của mình; tới sau có văn hóa Thái Tây tràn sang, họ cũng tỉnh ngộ ngay về chỗ hay dở, về sự cần dùng mà tiếp lấy tức thời, không chần chờ do dự đến đỗi nguy vong như ai.

NHO GIÁO

Nho giáo ở bên Tàu truyền qua nước Nhật, vào khoảng Ứng Thần Thiên hoàng 応神天皇 [Oujin Tennou] năm thứ 16, chiếu theo Tây lịch, nhằm năm 285.

Ban đầu Nho giáo sang Nhật, xã hội Nhật chẳng hề bị xảy ra mảy may nhiễu loạn nào, không như lúc đầu của đạo Phật và đạo Gia Tô mới truyền bá, lòng người ngờ vực, mới cũ ganh nhau, đến đỗi đổ máu.

Tại sao?

Tại đạo Nho dạy những thuyết phần nhiều phù hợp với Thần đạo và tập tính của người Nhật.

Thiệt vậy, Thần đạo dạy người ta phải hiếu kính cha mẹ, thờ tưởng tổ tiên, phải trọng lễ nghĩa đạo đức, phải trung quân ái quốc… thì đạo Nho cũng vậy. Cho nên người Nhật đón rước đạo Nho một cách vui vẻ êm ái, để tô điểm thêm vẻ tốt đẹp cho nền văn hóa của họ.

Nguyên là đời Ứng Thần Thiên hoàng, có mấy vị sứ thần của nước Bách Tế (tức Cao Ly bây giờ) qua Nhật Bản, đem theo Ngũ kinh Tứ thư dạy cho người Nhật, đạo Nho truyền qua từ đó. Lần hồi nhà vua mở trường đại học ở kinh sư, và truyền lệnh mỗi nước chư hầu lập một quốc học, đặt ra những chức bác sĩ, trợ giáo để dạy Nho học cho dân. Nhờ vậy mà sức truyền bá của đạo Nho càng ngày càng thịnh.

Có một lúc Nho học ở Nhật đã suy vi, nhưng đến đầu thế kỷ XIII (theo Tây lịch) nhờ có mấy ông thầy chùa đem học thuyết Tống Nho truyền qua Nhật, bấy giờ Nho học ở Nhật lại bắt đầu phấn chấn. Nhờ họ Đức Xuyên lên làm tướng quân, thống nhất trong nước, là người trọng Nho, thành ra văn học và Nho giáo trở nên có thế lực.

Ở bên Tàu, khoảng giữa đời nhà Tùy, nhà Đường, Phật giáo thịnh hành quá, gần muốn làm tiêu Nho giáo. Sau nhờ Tống nho cứu vớt lại. Trong Tống Nho, lãnh tụ là Chu Tử (1130-1200), khéo lấy tinh thần của Phật giáo mà thay lông đổi cốt, xướng lên những thuyết lý khí tâm tính, khiến cho Nho giáo sắp nguy lại quật lên có thế lực. Thuở Hán Đường, nhà nho hay câu nệ với những câu nói của thánh nhân, thành ra Nho học thiếu mất khí sống; đến nhà nho đời Tống không vậy, cốt lấy tinh thần mà giải thích đạo Nho, nói rằng tấc lòng của thánh nhân mình không cần phải dò kiếm ở mấy ngàn năm trước làm gì; trái lại, chỉ nên dò kiếm ở ngay trong tim, trong óc mình là thấy. Nhờ Tống Nho phát minh cái thuyết tính lý như thế mà Nho giáo lại có hoạt khí, và Nhật Bản hoan nghênh Tống học là hoan nghênh thứ Tống học đó.

Học phái Chu Tử đẻ ra ở Nhật Bản có nhiều tay đại nho, có công to với nền giáo dục trong nước.

Song cũng có phái Cổ học nổi lên, chê Tống học xen lộn thuyết Phật vô, làm sái mất cái chân nghĩa của Khổng Tử đi, cho nên họ muốn tìm suốt đến nguồn Khổng giáo, để giữ hệ thống chính quyền. Phái này cũng nảy ra lắm bậc danh nho bác học.

Rồi có học phái Chiết trung, nghĩa là ở giữa hai phái trên đây.

Đến lúc bên Tàu có Vương Dương Minh 王陽明 [Ouyoumei] (1472-1528) xướng lên thuyết lương tri 良知 [Ryouchi], chính người Tàu không biết quý chuộng hoan nghênh, mà nhà nho ở Nhật lại đón rước một cách vui mừng nô nức. Đại khái học thuyết Dương Minh lấy lương tri làm gốc, hễ lương tri (tức là lương tâm) của con người ta tìm tòi suy xét một việc gì mà biết nó là hay, là phải, thì cứ việc mạnh bạo thực hành, không ngần ngại gì cả. Chính là một học thuyết chuộng sự thực hành, đào luyện cho người ta giàu về tinh thần thực hành vậy.

Người hoan nghênh học thuyết Dương Minh đầu hết ở Nhật Bản là Trung Giang Đằng Thụ 中江藤樹 [Nakae Touju] một bậc cự phách trong Chu Tử học phái. Đến lúc tuổi già ông ta mới biết học thuyết Dương Minh là hay, tức thời bỏ học thuyết Chu Tử rồi ở Cận Giang 近江 [Oumi] dạy học trò, hết sức xướng lên thuyết Lương tri, nói rằng con người ta chỉ học suông thì vô vị lắm, học phải lo chính mình thực hành mới là có ích, vậy thì chỉ duy có cái đức lương tri là có thể biết rõ năng tính của mỗi người và có thể thấy rõ sự thực tại của cõi đời.

Đằng Thụ nổi tiếng là Cận Giang thánh nhân 近江聖人 [Oumi Seijin], lôi kéo được số khá đông sĩ phu biết bỏ Chu học là cái học chỉ chuộng lý tưởng mà quay về Dương Minh học là cái học ganh đua thực hành.

Lúc Nhật Bản rục rịch khai quốc duy tân, đám chí sĩ trong nước xôn xao hoạt động, muốn mưu ích lợi cho quốc gia mà rủ nhau ra sức hô hào mở mang văn minh mới, trong đó nhà nho chiếm số rất nhiều. Nhà nho hào kiệt có tiếng lớn công to với cuộc duy tân, như Hoành Tỉnh Tiểu Nam 横井小楠 [Yokoi Shonan] (1809-1869), Tá Cửu Gian Tượng Sơn 佐久間像山 [Sakuma Shouzan] (1811-1864), Cát Điền Tùng Âm, Tây Hương Long Thịnh… đều là người của phái Dương Minh. Phái này tuy có số ít, nhưng đẻ ra được anh hùng hào kiệt nhiều hơn. Trong khi phái nho Chu học bo bo cố chấp và xướng lên những thuyết “tỏa quốc nhương di” (khóa các cửa biển lại, chống cự người Tây phương ra vô) thì phái nho Dương Minh biết sự mở cửa đón Tây, duy tân tự cường là sự cần dùng cấp bách. Vậy cho biết cùng là Nho giáo mà biết lựa chọn học thuyết hay dở, nó quan hệ đến cuộc mất còn suy thịnh của một quốc gia dân tộc lắm thay! Thiệt, dân tộc Nhật Bản biết đón rước văn hóa học thuật phương Tây, không phải không nhờ có chỗ dưỡng dục sẵn sàng từ trước; chỗ đó Nho giáo chiếm một phần rất lớn, nhất là Nho giáo theo thuyết Dương minh.

Ta lại nên nhìn biết trong khoảng một ngàn mấy trăm năm, Nhật theo Nho giáo, là chỉ ham chuộng nghiên cứu những cái tinh ba triết lý của Khổng Tử, chớ không rước lấy những cặn bã là hư văn khoa cử của bọn nho Đường Tống bày ra. Đã vậy mà họ lại biết nhân Hán tự để chế tạo ra một thứ văn tự riêng của mình, không chịu làm nô lệ Nho học Hán văn một cách tuyệt đối như các đệ tử khác. Đó là hai cái đặc sắc học Nho của họ, mà chính hai cái đặc sắc ấy dự phần công lao rất lớn vô cuộc duy tân vậy.

Đến đời duy tân trở đi, Nho giáo bị học thuật Tây phương lật đổ, làm cho tiêu mòn, nhưng đó chẳng qua chỉ là hình thể Nho giáo mất đi mà thôi, chớ tinh thần Nho giáo thì người Nhật họ còn giữ mãi trong tâm não và sự giáo dục của họ, lấy cái tinh thần ấy để bù chế vào chỗ thái quá của văn minh vật chất Tây phương. Vả lại, Nho giáo là một dấu tích văn minh cổ thời của Đông phương, và chính Nhật Bản có chịu ảnh hưởng sâu xa, thành ra không khi nào họ bỏ tinh thần Nho giáo. Ta xem trong chương trình đại học của Nhật Bản, vẫn có một khoa Nho học Hán văn, và trong xã hội vẫn có những tay học vấn chuyên môn nghiên cứu và tuyên truyền những triết lý của Khổng Tử; mỗi năm ở văn miếu thờ Khổng Tử vẫn giữ lễ tế tự long trọng như thường. Họ ra sức chủ trương và dẫn nhiều chứng cớ bày tỏ ra rằng Nho giáo có lắm chỗ đi đôi với khoa học đời nay, mà không chống chọi nhau gì hết.

PHẬT GIÁO

Phật giáo truyền sang Nhật Bản vào khoảng thế kỷ VI Tây lịch, tự Cao Ly truyền của Trung Quốc rồi đem qua Nhật.

Các tôn giáo khởi lên ở Ấn Độ, đại khái đều gốc ở quan niệm quốc gia và nhân dân; duy có Phật giáo là một tôn giáo rộng cả thế giới, tự phát lên một vẻ mới lạ tốt đẹp, thành ra nó dễ tràn lan truyền bá ra đến nửa phần thiên hạ.

Phật giáo truyền bá ra hai ngả khác nhau. Một là phái Tiểu thừa 小乗 [Shoujou] hay Hīnayāna, người ta cũng gọi là Nam tông 南宗 [Nanshuu], thịnh hành ở các xứ Tích Lan và Miến Điện. Một là phái Đại thừa 大乗 [Daijou] hay Mahāyāna, người ta cũng gọi là Bắc tông 北宗 [Hokushuu], thịnh hành ở nước Tàu và Trung bộ châu Á. Đại khái hai phái hơi khác nhau về chỗ tin tưởng niết bàn (nirvãna); Nam tông chủ trương rằng người ta có thể tới niết bàn do nơi công phu tu luyện và ý chí tự do của mình; nhưng Bắc tông chủ trương phải nhờ có sức thiêng liêng cứu độ giải thoát nhiều hơn là nhờ ý chí tự do.

Chính Phật giáo Đại thừa đó Cao Ly đem sang Nhật Bản hồi thế kỷ VI. Lúc mới truyền qua, Phật giáo bị Thần đạo chống chọi công kích dữ lắm. Nhưng sau những nhà thâu truyền Phật giáo khéo thay đổi một chút cho thích hợp và không động chạm tới lòng tín ngưỡng Thần đạo của người Nhật, bấy giờ Phật giáo mới thịnh hành truyền bá ở dân gian Nhật Bản.

Nhất là từ thế kỷ thứ IX trở đi, Phật giáo có ảnh hưởng sâu xa đến văn hóa Nhật Bản đủ các phương diện. Tư tưởng triết lý, chính trị, giáo dục, mỹ thuật, công nghệ, kiến trúc, công cuộc xã hội từ thiện… nhờ sức cảm hóa và sức thâu thập của Phật giáo mà mở mang tấn tới lạ thường.

Cho đến văn học thi ca cũng vậy. Thứ chữ riêng của Nhật Bản gọi là Phiến giả 仮名 [Kana], gồm có 50 âm, lấy gốc ở văn pháp của chữ Phạn; còn chữ mới là Bình giả 平仮 [Hiragana], sự sắp đặt có ngụ giáo lý của Phật giáo mà làm thành ra ca dao, tục ngữ, kịch bản, thi văn. Tóm lại, gọi là tinh túy của cổ văn học Nhật Bản đều nhờ đạo Phật cảm hóa mà ra.

Từ thế kỷ IX cho tới trước ngày duy tân 1868, Phật giáo rất có thế lực, hầu như quốc giáo của Nhật Bản; rồi sau đó Phật giáo mới tách riêng quốc gia và trở nên một Tôn giáo tự do quan hệ nhất ở xã hội Nhật Bản đến nay.

Phật giáo ngay từ khi mới vô nước Nhật trở đi, đã chia ra nhiều tôn phái, nhưng tôn phái nào cũng đóng góp vô cuộc xây dựng văn hóa tốt đẹp rất nhiều, và không nhiễm phải những cái lưu độc của bọn háo sự bày đặt ra như các nơi khác. Cũng như đón rước Nho giáo, người Nhật đón rước Phật giáo cũng chỉ cầu lấy cái chân tinh thần làm gốc, chính cái chân tinh thần đó phát huy ra văn hóa rực rỡ cho họ. Văn học bác sĩ Cao Nam Thuận Thứ Lang 高楠順次郎 [Takakusu Junjirou] đã nói không sai:

“Phật giáo qua Nhật không bao lâu mà phổ biến cả trên dưới, ai nấy đều hâm mộ quy hướng. Chẳng những Phật giáo cảm hóa đạo đức người Nhật mà thôi, lại có vang bóng rất sâu xa tới mọi việc chính trị, giáo dục, văn học, công nghệ, mỹ thuật. Tóm lại, nền văn hóa xưa của nước Nhật, do Phật giáo vun đắp mở mang cho phần nhiều.

Có một điều nên nói cho rõ, Phật giáo ở các nước trên đại lục kia, người ta đều quên sót cái tinh thần khởi nguyên của nó, chỉ vồ vập lấy những nọc đọc mối tệ là nhiều. Duy có Nhật Bản có cái tính riêng, đối với văn vật xứ ngoài truyền vào, biết lựa chọn tinh hoa, thảy bỏ cặn bã, rồi nhồi nắn lại, cho vừa hợp với quốc tình của mình. Thì tinh thần của Phật, gặp được sự lựa chọn nhồi nắn đó, mà nảy được chân tướng ra. Cho nên Phật giáo của Nhật không phải là Phật giáo của Ấn độ, cũng không như Phật giáo của các nước Trung Quốc, Miến điện, Xiêm La, Việt Nam. Các xứ này đều trúng độc, duy có Nhật là giữ được tinh thần khởi nguyên của Phật mà thôi”.

TÓM LẠI ẢNH HƯỞNG CỦA BA ĐẠO THẦN, NHO, PHẬT

Tới đây tưởng độc giả đã thấy rõ rằng: tư tưởng, luân lý, phong tục, tính tình, chính trị, học thuật, mỹ nghệ, nhất thiết những cái hợp lại thành ra một nền văn hóa riêng của Nhật Bản sẵn có từ xưa, đều lấy ở trong nguồn ba đạo lớn là Thần đạo và Nho giáo, Phật giáo mà ra.

Về văn học, kho sách xưa của Nhật chứa đầy những sách có giá trị của các bậc danh nho, cao tăng viết ra, đủ các môn loại: triết lý, tôn giáo, kịch bản, thi ca, sử ký... Có ông soạn tới sáu bảy chục bộ sách. Đời xưa, họ đã thịnh hành in sách truyền bá khắp trong dân gian, chớ không phải viết sách ra để dành làm riêng của mỗi nhà.

Về mỹ thuật, kiến trúc, hội họa và điêu khắc, những tay thợ khéo đời xưa lưu lại thiếu gì kiểu nhà đẹp, thiếu gì bức tranh vẽ tuyệt bút, thiếu gì đồ chạm trổ thêu dệt có công phu tinh tế lạ lùng. Nhà mỹ thuật Tây phương ngó thấy cũng phải thán phục.

Những vẻ đặc biệt về sự sống vật chất và sự sống tinh thần, như thanh khiết, giản dị, lễ phép, tình quyến luyến gia đình, yêu mến quốc gia nồng nàn cực độ và cái thiên tính ưa cảnh tự nhiên, cũng là chịu ảnh hưởng ba đạo Thần, Nho, Phật.

Tập tục vệ sinh sạch sẽ của Nhật Bản, thật không phải là thứ nhập cảng từ Âu châu, cũng không phải ở bên Tàu truyền qua; nó là tập tục sẵn có tự nhiên ở dân tộc Nhật Bản, do nơi Thần đạo bắt buộc mỗi người tin Thần kính Thần phải giữ thân thể và tâm não trong sạch luôn luôn, thì Thần mới phù hộ, chứng giám.

Tính ăn ở giản dị, có phần tại lẽ kinh tế, vì Nhật vốn xứ nghèo, có phần tại vẻ mỹ quan của người Nhật rất ghét thói xa hoa, chỉ chuộng sự đẹp thanh tao, đơn giản, nhất là vì đạo Thần và đạo Nho đều dạy người ta phải quý trọng giữ gìn những sự sản của ông bà đã khó nhọc gây dựng lên mà lưu lại cho mình; mình không có quyền được hoang phí sự sản ấy đi một cách ích kỷ.

Nói gì sự lễ phép của người Nhật khắp thiên hạ đều biết. Còn tinh thần ái quốc của họ thôi thì tuyệt phẩm. Chính vì tấm lòng ái quốc nồng nàn, người Nhật buộc mình cái nghĩa vụ phải đóng góp tâm lực vô công cuộc duy tân nước mình để cho nước cũng mới mẻ, cũng hùng cường như Âu Mỹ. Ai được chứng kiến trận Nhật Nga chiến tranh đủ ghê tướng sĩ Nhật yêu nuớc đến đỗi khinh sống liều chết ra thế nào. Sau hết, đến tấm lòng tự phụ nước non mình là Thần quốc và yêu mến phong cảnh thiên nhiên một cách thâm thiết, làm cho tâm não người Nhật cao thượng, đối với sự sống có vẻ hớn hở tươi cuời hiện ra trên nét mặt luôn luôn. Ông giáo sư Lafcadio Hearn đã nói cái nụ cười của người Nhật là một sức mạnh lạ lùng, thiêng liêng. Thiệt vậy, nụ cười như hoa nở tối ngày trên môi; vui sướng mà cười đã đành, lúc rầu buồn giận dữ, lúc cầm dao tự mổ bụng mình mà nụ cười vẫn tươi vẫn có mới kỳ.

Thế là Nhật Bản sẵn có một nền văn hóa, sẵn có những cốt cách văn hóa lâu đời rồi, không phải mù mờ hèn thấp gì; đến lúc tư tưởng học thuật Thái Tây sang Đông, họ thấy cần dùng thì tự nhiên đón rước và cũng dung hóa như xưa kia đã đón rước dung hóa đạo Nho đạo Phật vậy. Hèn chi họ nói: “Đứa con văn minh, chúng tôi đã chửa sẵn nó trong thai, Âu châu các ông tới chỉ như cô mụ đỡ giùm cho nó ra đời, chớ không phải bản lai chúng tôi tối tăm ngu dại, rồi nhờ có văn hóa các ông thì chúng tôi mới có văn hóa đâu”.

ÂU HÓA CỦA NHẬT BẢN

Nhật Bản bỗng chốc sửa sang thay đổi mọi việc, mới theo phương Tây, tự mắt người ngoài dòm vào cho là sự lạ lùng, còn chính họ là người trong cuộc, chỉ cho là sự tự nhiên. Nguyên lai dân tộc họ từ xưa vẫn có tính hăm hở mạnh bạo bắt chước những cái hay của người ta rồi khéo dung hòa uốn nắn cho hợp với chỗ cần dùng của mình, thành ra lúc trước ngó thấy Nho giáo, Phật giáo có chỗ hay, họ vội vàng đón rước cũng như bây giờ ngó thấy văn minh Âu châu hay, tự nhiên họ cũng vội vàng đón rước, không lạ gì.

Có điều ta nên nhìn biết rằng thuở xưa dân tộc Nhật Bản ở dưới chế độ phong kiến, có bị áp chế là áp chế về hình thức bề ngoài thôi, chớ về tư tưởng học thuật, dân họ vẫn tự do dùi mài lượm lặt theo ý họ muốn, nhà cầm quyền muốn ngăn cấm cũng chẳng ngăn cấm được. Thì đời Mạc phủ Đức Xuyên, đằng đẵng 300 năm khóa cửa tuyệt giao với người ngoài, nhất là với giáo sĩ Tây phương, tức là đời Đông là Đông, Tây là Tây chưa gặp nhau mấy, lại nghiêm cấm nhân dân cầu học ngoại nhân, thế mà cũng có những người Nhật, hoặc lén bỏ nhà vượt biển ra ngoài mà dọ xét sự tình thiên hạ, hoặc lò mò tới Trường Kỳ học hỏi nơi mấy người Hòa Lan mua bán tại đó mà biết chữ Hòa Lan, biết những thuật chữa bệnh, đúc súng, trị quân, xây thành của Âu châu. Thử xem giữa lúc nhà nước cấm học Âu học mà Nhật Bản còn cầu kỳ háo dị như thế, có lạ gì đến lúc chính nhà nước cần dùng đổi thay lối mới, nhân sĩ họ chẳng ùn ùn đổ theo Âu hóa, phát khởi chóng mà thành hiệu mau!

Cũng đem cái tinh thần khéo biết chọn lựa dung hóa là tinh thần sẵn có từ xưa, họ đón rước chọn lựa Âu hóa: nước nào ở Tây phương có món sở trường thì họ lọc lấy món sở trường ấy, mà tẩy đi món nào xem ra là sở đoản và không lợi cho quốc tình, không hợp cho gia dung của họ, chớ không phải vùa càn quơ bướng hết thảy. Ví dụ lục quân hóa theo Đức, tư tưởng dân quyền tự do hóa theo Pháp, hải quân và chế độ lập hiến hóa theo Anh, công nghệ kiến trúc hóa theo Mỹ. Nhiều môn khác, họ trộn chung những cái hay của người ta, rồi lọc ra lấy một cái hay nào hơn hết để mà theo. Họ Âu hóa những triết học, chính trị, pháp luật, giáo dục, cơ khí… theo kiểu lọc bột vậy đó.

Cuối thế kỷ trước, Nhật Bản bắt đầu Âu hóa, nhiều người Âu châu nghe tiếng hay là ngó thấy, đều ra dáng kiêu ngạo, nhăn mặt phì cười. Có phái cho Nhật Bản là thứ người Đông phương lạc hậu, số phận đày vậy muốn ti toe Âu hóa sao cho nên thân. Một nhà ngoại giao, tên gì tôi quên, đã nói: “Nhật Bản kim thời là một bản dịch sơ sài. Le Japon moderne, c’est une traduction mal faite”. Ngay danh sĩ Pierre Loti chớ phải ai không mắt tinh đời, cũng nói Nhật Bản Âu hóa như một tuồng hát khỉ của mấy chú khách Sơn Đông! Có một phái khác thì tưởng Nhật Bản Âu hóa một cách tuyệt đối đến làm tiêu hết dấu tích Nhật Bản cổ thời.

Cả hai phái đều tưởng sai sự thật.

Phái trên đợi đến kết quả Nhật Nga chiến tranh, tự biết mình bậy rồi: Nhật họ Âu hóa nên thân, chớ không phải là tuồng hát khỉ.

Còn phái dưới chỉ ngó bề ngoài mà nói, tới chừng dòm xa vô bề trong một chút, họ phải thấy sự thật hiển nhiên này: Những cái mà cậu Nhật kim thời muốn bảo tồn dấu tích nước Nhật xưa, còn nhiều hơn là những cái mà cậu đã mượn và muốn mượn của Âu châu đời nay.

Thật vậy, cũng như ngày họ Nho hóa, Phật hóa, ngày nay Nhật Bản không Âu hóa nhất thiết đâu.

Họ vẫn giữ cái cốt cách xưa của họ về sự sống vật chất, như nhà cửa, vật dụng, ẩm thực, y phục; cả cái cốt cách xưa về sự sống tâm linh, như phong tục, các thói quen, các cuộc giải trí… Cho đến nghệ thuật xưa, luân lý xưa, tôn giáo xưa, họ vẫn bảo thủ y nguyên mặc dầu Âu hóa.

Họ không trọn vẹn bắt chước văn minh Âu châu cho tới nhất thiết cái gì ngộ nghĩnh hơn hết, đặc biệt hơn hết, thâm thúy hơn hết. Không, không mặc dầu phải Âu hóa còn nhiều, người Nhật vẫn so sánh phán đoán mình Âu châu thô lỗ, không được sâu sắc lý thú bằng cổ văn minh của họ.

Thế mà họ vẫn phải Âu hóa, là vì sự cần dùng bắt buộc, thời thế bắt buộc, tấm lòng độc lập tự tôn của họ bắt buộc.

Coi mấy chương ở trên đầu sách, độc giả đã biết Nhật Bản khóa cửa tuyệt giao từ thế kỷ XVII, đến giữa thế kỷ XIX, người Tây phương đem sức mạnh tới hăm dọa, biểu họ phải mở cửa ra trước mặt của sức mạnh, Nhật Bản phải tuân lệnh. Bấy giờ cả nước rung động như sấm vang núi chuyển; họ biết rằng sống bằng lý tưởng thanh cao không đủ, sức mạnh tuy họ gớm ghiếc, nhưng mà cần dùng. Nước họ tuy có trình độ tinh thần, nghệ thuật và tôn giáo khá cao, nhưng không thể ỷ thị có bấy nhiêu đó mà sống đối với đời này; nếu họ không làm sao cũng có sức mạnh về quân sự, về kinh tế, về cơ khí, về công nghệ như người ta, thì bề nào cũng bị ngoại nhân mạnh hơn kéo tới lấy họ làm mồi để trên dao thớt; họ sẽ đứng vào hàng nô nhan thuộc địa của Âu châu.

Sự sống và cách sống của họ xưa nay họ quý chuộng mến yêu lắm, không thể nào rời bỏ; họ đoán biết thân mình nếu rủi để cho ngoại nhân tới nước họ làm chủ, họ sẽ buộc mình đổi thay mất sự sống và cách sống riêng đó, cho tới tính tình, phong tục của tổ tiên để lại cho, cũng không sao giữ nguyên vẹn được đâu. Huống chi non nước của Thần, dòng dõi của Thần, lẽ nào để ai xa lạ đâu tới nuốt sống và nhấn chìm xuống cho đành. Vậy thì, cho được giữ nguyên văn hóa tổ truyền, họ muốn họ vẫn tự do độc lập, cho được tự do độc lập, họ muốn trở nên hùng cường, cho được trở nên hùng cường, họ phải bắt chước phỏng theo ít nhiều món của cái văn minh Âu châu kia đã lấy sức mạnh mà ấn đại vô nhà họ.

Những chế độ học thuật gì của Âu châu mà họ xem ra Âu châu được hùng cường độc lập bởi đó thì họ bắt chước phỏng theo có bấy nhiêu thôi. Ngoài ra, chính họ cũng sẵn có những món không kém thua ai, còn hay hơn nữa không chừng.

Ta nên hiểu cái chủ nghĩa, cái thâm tâm của Nhật Bản Âu hóa là thế.

Trước hết, họ mượn của Âu châu những cơ quan mới lạ, cần dùng cho việc hộ vệ non nước, là lục quân và hải quân. Cho được giao thiệp bằng vai ngang bậc với các nước Âu Mỹ và chỉ tỏ ra họ cũng là một quốc gia văn minh tân thời, họ bèn Âu hóa những chế độ chính trị và pháp luật. Cho được làm nên công cuộc duy tân lớn lao, về xã hội, về quân sự, về kinh tế, tất nhiên phải cần nhiều tiền, họ bèn vay mượn tiền bạc của các nước Tây phương để dựng lên đại thương mãi và đại công nghệ theo Âu hóa. Cho được Âu hóa các chế độ cơ quan trong nước, Âu hóa cả thương mãi, công nghệ, quân sự; cho được tự mình đào luyện ra cho mình có những tướng, những quân, những quan tòa, những thầy thuốc, những kỹ sư, mỗi mỗi như Âu châu, Nhật bèn mở mang sắp đặt một khuôn khổ giáo dục mới, một phần dựa vào khoa học Âu châu làm gốc.

Hết thảy những sự bắt chước đó đều phát động ra bởi cái ý chí kiên cường của người Nhật muốn trở nên mạnh để vẫn được tự do, vẫn được tự do để giữ lấy lối sinh hoạt riêng, tư tưởng riêng của mình từ xưa. Thì ra Nhật Bản chỉ Âu hóa để đương đầu với Âu Mỹ cho dễ và để vẫn là Nhật Bản cho dễ đó thôi.

Bởi vậy, phần nhiều cái họ Âu hóa chỉ như bao phủ lơ thơ một lớp bề ngoài; lắm người Âu Mỹ thật thà không biết, tưởng đâu là Nhật họ Âu hóa không nên thân, Âu hóa như hát khỉ; chớ kỳ thiệt họ chủ tâm Âu hóa một cách có chừng vậy đó. Đến nay cũng thế, Âu hóa trải 70 năm dư, mà nước Nhật kim thời vẫn ở bên cạnh với cổ Nhật Bản hơn là với kim Âu châu (En tout cas, aujourd’hui encore, le Japon moderne reste plus voisin du vieux Japon que de la moderne Europe. - Félicien Challaye).Có lẽ không một người Tây phương nào cho bằng ông giáo sư Lafcadio Hearn thấy rõ tới những lằn xếp ở trong trái tim khối óc của dân tộc Nhật Bản, là vì như trên kia đã nói ông ta sống làm giáo sư ở Nhật tới 40 năm, lại vô dân tịch Nhật, lấy tên Nhật là Koizumi Yakumo. Chính ông đã lấy những sự kinh nghiệm và kiến văn tận gốc của mình mà nói: “Âu hóa mặc lòng, Nhật Bản vẫn là Đông phương như ngàn năm trước”.

MỘT NGƯỜI BẢO THỦ

Muốn hình dung ra cái hiện tượng “hóa Tây giữ Đông” của dân tộc Nhật Bản. Ông giáo sư Lafcadio Hearn chép truyện một chàng thanh niên con nhà Thần đạo võ sĩ của Nhật ở giữa thế kỷ XIX, mà ông đặt tên là “Một người bảo thủ”.

Thuở nhỏ, anh này cũng phải chịu sự giáo dục nghiêm khắc như con nhà võ sĩ khác. Người ta rèn tập anh phải chịu đói chịu lạnh cho quen. Người ta dạy dỗ anh cái đạo lập thân xử thế, bất cứ gặp cảnh ngộ nào cũng phải ung dung trấn tĩnh, coi thường sự đau đớn khổ sở, xem khinh sự chết và đừng thèm sợ hãi gì hết. Bởi vậy, có bữa cách giáo dục lạ thay! người ta dẫn anh đi xem một vụ xử trảm, căn dặn khi ngó thấy gươm chém đầu rơi, không được rùng mình biến sắc chút nào. Trở về, anh phải ăn một chén cơm chan canh đỏ tươi như sắc máu. Đến đêm, người ta sai anh ra chỗ xử trảm ban ngày mà tìm cái đầu rụng đó đem về. Cả ngày, anh chàng hết giờ luyện tập võ nghệ, thì tới giờ nghiên cứu Hán văn, Nho học và những triết lý của Thần đạo, của Phật giáo. Không bao lâu, anh chàng trở nên một người vũ dũng, lễ độ, liêm khiết, hăm hở đem tấm thân của mình cống hiến cho nước, cho vua, cho đồng bào, cho danh dự.

Lúc này có đoàn tàu chiến của ngoại quốc ra vô phấp phới ở cửa biển Hoành Tân, Giang Hộ, hăm dọa bắt buộc Nhật Bản phải mở cửa thông thương. Chàng thiếu niên võ sĩ ta thấy tổ quốc bị khinh khi như thế, thì khí phẫn uất nổi lên đùng đùng. Nhưng không biết làm sao nhấn chìm cả đoàn tàu của kẻ nghịch đi, tối ngày chàng khấn vái Thần, Phật lấy phép linh xô đẩy ra khỏi bờ biển Phù Tang hay là dùng cách nào đánh chìm nó xuống đáy biển hết thảy. Cả dân tộc cũng đều một lời khấn vái như chàng vậy. Song đoàn tàu vẫn trơ trơ bất động; Thần, Phật làm ngơ. Liền đó, Mạc phủ tới. Triều đình, tự thú mình vô lực để chống lại sức mạnh của người Tây dương, bèn hạ lệnh cho nhân dân phải mau mau học lấy ngôn ngữ và học thuật Âu châu. Vì sự sinh tồn của quốc gia quan hệ ở đó; nếu không duy tân cải cách sớm lẹ, thì nguy cho nền độc lập của dân tộc quốc gia.

Chàng thanh niên võ sĩ ta liền đi học tiếng Anh ở một hải cảng bị buộc mở ra giao thông lúc bấy giờ; chàng háo kỳ, nên chăm chỉ nghiên cứu dọ hỏi cả những sự tình của các nước Tây phương. May sao gặp được một vị giáo sĩ Thiên Chúa thấy chàng là người chí sĩ, bèn đem lòng thương, dạy chàng học Thánh kinh. Chàng tự suy nghĩ trong trí, có lẽ tại người Âu châu có một nền luân lý rất cao, cho nên họ mới hùng cường quái lạ như thế kia chăng. Vì tấm lòng ái quốc sai khiến, chàng trở nên tín đồ Gia Tô và vẫn cặm cụi nghiên cứu những học thuật Âu Tây.

Lần hồi, chàng tự tỉnh ngộ và tin quyết rằng tinh thần khoa học chống chọi với đạo lý Gia-tô, và chống chọi với cả những tôn giáo tổ truyền Nhật Bản nữa. Bảo rằng có một ông Thượng đế chủ tể vũ trụ và linh hồn của mỗi người trường sinh bất diệt, thì làm sao mà tin cho được. Chàng nghĩ trong trời đất không có cái tính thiêng liêng nào hơn là cái tình người đối với người thì mới phải. Rồi đó chàng thôi không tín ngưỡng đạo Gia-tô nữa. Bây giờ, muốn phán đoán Âu châu cho đúng, chàng quyết đi du lịch quan sát Âu châu một phen.

Chàng qua ở quanh các nước Âu châu rất lâu năm, tự mưu lấy sự sống của mình, cho nên hết làm việc bằng tay thì làm việc bằng não, cốt để kinh nghiệm cho nhiều, và mắt ngó thấy mỗi sự vật gì, chàng cũng chịu khó tìm xét suy nghĩ đến nơi.

Thử hỏi sau cuộc du lịch quan sát đó, chàng thanh niên võ sĩ có cảm giác và phán đoán ra thế nào?

Té ra trước cặp mắt chàng xem xét, thì văn minh Âu châu có mở mang thông minh của con người ta một cách đáng sợ thật, nhưng nó vẫn thiếu giá trị về tinh thần. Cái chỉ tỏ ra đặc sắc của Âu Mỹ, chỉ là sức mạnh vật chất của họ tràn lan mở rộng ra một cách dữ dằn, do nơi một công cuộc cạnh tranh nhau gớm ghiếc mà ra. Sự sống là một đám vật lộn tranh ăn giữa đàn beo sói. Kẻ mạnh và kẻ khôn lanh làm cho thế giới thành ra địa ngục cho những kẻ hèn yếu. Thói xa hoa hoang phí vô độ của một bọn người bắt cả phần đông phải làm tôi mọi mà không biết thương hại một chút nào. Còn biết bao nhiêu con người ta khổ não tới nước những sự cần dùng thiết thân cho họ mà họ không có. Chỉ vì tính dâm lạc trong một vài giờ, mà thói kiêu căng của bọn giàu có nhai nuốt mất cả công lao nhọc nhằn hàng mấy chục năm. Rồi chàng nghĩ bụng: “Bọn ăn thịt người ở đời văn minh còn độc dữ bằng mấy bọn ăn thịt người ở chốn rừng rú, là vì chúng đòi thịt mãi, không biết bao nhiêu cho vừa!”

Mà hễ xã hội càng lớn lên chừng nào, thì vực thẳm hang sâu đau đớn khổ sở của xã hội đặt mình lên trên đó càng thêm sâu thẳm chừng nấy. Người Âu châu chỉ biết tôn trọng có sức mạnh mà thôi, coi sức mạnh như thần thánh; rõ ràng họ thờ phụng những vị thần bạo ngược đời xưa là Odin và Thor, mà đổi tên khác đi đó thôi. Cái thế giới đó không còn có đức tín gì hết.

Rồi thì anh Nhật Bản này cả quyết xuống tàu trở về tổ quốc đứng lên hô hào đồng bào dìu dắt quần chúng. Chương trình hành động của anh ta rất là đơn giản:

“Anh em chúng ta chỉ nên mượn của Âu châu những cái gì cần dùng cho sự hộ vệ tổ quốc ta mà thôi, còn thì ta vẫn phải giữ những cái tinh hoa của văn minh nước Nhật cổ mới được”.

Câu chuyện tóm tắt đại khái trên đây, thật khéo tả rõ ra cái chủ não Âu hóa của dân tộc Nhật Bản; nó không phải là tư tưởng cố chấp của một người đâu, chính là tấm gương chiếu rọi chung cả tinh thần dân Nhật vậy.

Quả thực, Nhật Bản họ chỉ cốt Âu hóa để cho dễ chống chọi với Âu châu và cho dễ còn y là người Nhật đó thôi.

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trong thời đại duy tân, văn hóa Thái Tây vang dội đến cuộc sinh hoạt chính trị và xã hội Nhật Bản, có hai cái sức mới, thế lực rộng lớn: Xã hội chủ nghĩa và Phụ nữ vận động.

Xã hội chủ nghĩa truyền vô nước Nhật vào khoảng 1890, nghĩa là sau lúc thực hành duy tân mới được 22 năm.

Những tín đồ xã hội chủ nghĩa trước hết ở nước Nhật chính là những người Nhật tín đồ Thiên Chúa. Lúc nào nước họ luôn mấy trăm năm ngờ vực cấm tuyệt đạo Thiên Chúa, tới chừng khai quốc duy tân, họ lại lợi dụng ngay đạo Thiên Chúa và các ông cố đạo làm xe chở học thuyết nọ chế độ kia của Âu Mỹ đem qua cho họ.

Katamaya - nhà viết báo, Kinoshita - nhà văn học, Abe - cựu giáo sĩ và giáo sư, đều là người truyền bá xã hội chủ nghĩa đầu hết. Nhưng họ là người xã hội chủ nghĩa ôn hòa, chịu ảnh hưởng Tolstoi.

Có nhiều người khác tư tưởng mạnh bạo hơn, như Sakai, chủ trương phổ thông đầu phiếu và Kotoku, cộng sản, chủ trương lấy tổng bãi công làm khí giới để đối phó với tư bản.

Các nhà xã hội chủ nghĩa Nhật Bản hoạt động cũng hăng hái: nào là dịch những sách của Marx, Engels và Kropotkine, nào là mở ra những báo chí làm cơ quan truyền bá chủ nghĩa xã hội, nào là tổ chức ra các cuộc mít tinh, nào là xướng khởi nhiều vụ bãi công. Kể tới tháng Chạp năm 1904, xã hội chủ nghĩa mới hoạt động có 14 năm, mà họ bán được 15.000 cuốn sách dịch của Âu châu, 200.000 tờ báo, 39.000 tập sách cổ động, 120 cuộc đại hội và lập ra nhiều chi bộ ở trong 11 nơi có thợ khai mỏ và xưởng công nghệ lớn lao.

Ban đầu chính phủ còn dung dưỡng, nhưng sau thấy chủ nghĩa xã hội có cái phong trào vận động cộng hòa, tức là có ý nghĩa phản đối, cách mạng, xâm phạm bất kính với quyền tuyệt đối của đức Thiên hoàng. Bấy giờ chính phủ mới ra tay trừng trị: tịch thu, hủy đốt những sách của Marx; các báo xã hội hơi nói quá một chút đều bị phạt vạ rất nặng, các ông trợ bút chủ nhiệm thường bị kêu án tù năm mười năm, còn nhà in thì bị tịch biên mất.

Sức đè xuống càng nặng, thì sức bùng lên càng nhiều. Năm 1910, vợ chồng Kotoku và mấy chục bạn đồng chí xã hội chủ nghĩa rủ nhau sắp đặt ám sát Minh Trị Thiên hoàng và khởi loạn. Nhưng cơ mưu bị bại lộ; họ đều bị bắt. Ngày 24 janvier năm 1911, hai vợ chồng Kotoku và mười người nữa bị xử tử.

Dầu bị trừng trị cấm ngăn mặc lòng, đảng viên xã hội Nhật Bản vẫn hoạt động, vẫn tuyên truyền, nhất là trong đám thợ thuyền, cho tới thanh niên học sinh và hạng trí thức vô sản cũng quy hướng chủ nghĩa xã hội rất nhiều.

Bắt đầu từ năm 1807, thợ mỏ ở Trường Kỳ bỏ việc, nắm đầu ông chủ và hai người lính cảnh sát mà đánh gần chết, từ đó trở đi thợ thuyền Nhật Bản, chịu ảnh hưởng xã hội chủ nghĩa, có tổ chức thành ra liên đoàn hẳn hoi và tổ chức ra những cuộc đình công luôn luôn. Thợ thuyền đàn bà cũng vậy.

Tinh thần cách mạng càng ngày càng bồng bột.

Bởi vậy các nhà cầm quyền ở Nhật Bản vẫn lo sợ phong trào cộng sản tràn lan qua nước mình. Họ phải chiếm cứ Mãn Châu và tính xâm đoạt cả nội, ngoại Mông Cổ nữa, là cốt đóng đường chặn ngõ cộng sản qua nước Nhật đó.

Nhiều người Âu châu xem xét tình trạng Nhật Bản rồi nói trước rằng rồi đây thế nào cũng thực hành một chế độ cộng sản mới, chế độ cộng sản Thiên hoàng làm chủ, để cho được điều hòa tấm lòng người ta trung thành với cuộc dĩ vãng và tấm lòng hâm mộ những sự mới lạ đời nay.

Kỳ thực, dân Nhật chỉ mượn chủ nghĩa xã hội để làm khí giới đối phó với những tay quý phái, nghiệp chủ, phú gia, không đè nén ức hiếp họ được nữa thôi, chớ không khi nào trong tâm não họ mất được cái tinh thần trung nghĩa sùng bái Thiên hoàng. Vụ âm mưu của hai vợ chồng Kotoku đã nói sơ trên kia chỉ là chuyện muôn ngàn thuở vậy thôi. Từ đó tới nay gần ba chục năm trời, thỉnh thoảng vẫn có một vụ âm mưu hay ám sát có mục đích chính trị chớ chẳng không, nhưng chỉ là đối với quan liêu chính khách mà phát ra, còn đối với Thiên hoàng, dầu kẻ gây biến làm phản tới đâu cũng vẫn là đặt cao trên đầu, coi như “thần thánh bất khả xâm phạm”.

PHỤ NỮ VẬN ĐỘNG

Địa vị gia đình và xã hội của đàn bà Nhật xưa kia cũng bó buộc thấp thỏi như chị em nhà Nam chúng ta vậy. Cũng y như mình, sợi dây luân lý nghiêm khắc trói buộc họ không biết là mấy vòng: tứ đức, tam tòng, chức nghiệp, tiết tháo... vòng nào cũng riết chặt lạ lùng. Đến đỗi đàn bà phải thờ Trinh nữ đạo (貞女道) thiêng liêng như đàn ông phải thờ Võ sĩ đạo; một chương trên xa kia đã nói.

Song, tới lúc quốc gia dân tộc bước vào cõi duy tân, mọi việc ùn ùn sửa đổi theo ảnh hưởng văn hóa Thái Tây, tự nhiên địa vị phụ nữ cũng vậy.

Đồng thời với xã hội chủ nghĩa, phụ nữ vận động cũng xuất hiện ở Nhật. Nhờ nơi phụ nữ tự giác mạnh bạo, mà cũng nhờ nơi công cuộc Minh Trị giáo dục xô đẩy phần nhiều. Độc giả đã thấy trong tờ sắc lệnh thề nguyền duy tân của Minh Trị, việc quan hệ nhất là việc quốc dân giáo dục, trai gái cũng thế.

Phụ nữ giáo dục vừa mới gây dựng mở mang theo cách thức Thái Tây được mười lăm năm, liền có phụ nữ vận động nổi lên. Các cô có học thức mới, nhất là các cô đi du học Âu Mỹ về, xúm nhau tổ chức hoạt động, và có khi yêu cầu ra mặt nữa, cho địa vị và quyền lợi đàn bà được sửa đổi theo thời.

Họ muốn sửa đổi ít nhiều khoản ở trong luật pháp, phong tục, mà triều đình chính phủ phải chiều theo. Bởi vậy trong bộ Dân luật mới thảo giữa hồi duy tân, sự yêu cầu của đàn bà được thỏa mãn, như là nhất định một vợ một chồng, bỏ hẳn thói tục đa thê ngày trước, lại cho đàn bà cũng được có sản nghiệp riêng, và có quyền như đàn ông được đứng lên xin ly hôn vì lẽ chồng có ngoại tình.

Về mặt chức nghiệp, họ cũng được thỏa nguyện và được bình đẳng với đàn ông; nghĩa là các ty các sở, bất cứ công tư, đều mở rộng cửa cho viên chức đàn bà. Họ cũng đậu đốc tơ, mở bệnh viện, hay là làm trạng sư ngang vai đồng bậc với đàn ông.

Duy có về mặt sửa đổi phong tục và luân lý gia đình, chị em bên Nhật đã phải nhiều phen lao tâm khổ tứ, kêu gào chống chọi lắm mới được. Họ không chịu cái lối hôn nhân “cha mẹ đặt đâu ngồi đó” nữa. Nhiều cô ra mặt phản kháng gia đình, không chịu lấy anh chồng do cha mẹ hay gia đình lựa chọn, mà các cô không biết mặt mày tâm tính và không thể nào thương. Ngoài đường, người ta thấy nam nữ học sinh dắt tay nhau đi lại tự nhiên; cái luân lý “nam nữ thụ thụ bất thân 男女授受不親” của thói Nho xưa, các cô đã hất đi xa lắc. Trong nhà, kính chồng chiều chồng đã đành, nhưng anh chồng lăm le ràng buộc các cô bằng những sợi dây luân lý hà khắc như xưa, thì các cô “cách mạng” ngay, không chịu bị ép một bề.

Âu hóa vang dội thành ra phong trào phụ nữ vận động ở Nhật trong thời kỳ duy tân đại khái như vậy đó.

Phụ nữ vận động lúc bấy giờ có nhiều tay kiện tướng đứng ra xung phong đột trận, sốt sắng kêu gào. Nổi tiếng thứ nhất là cô Ume Tsuda, giáo sư trường Quý tộc nữ tử học hiệu, đã nhiều lần thay mặt chị em đi dự mấy cuộc Phụ nữ thế giới đại hội ở Âu châu và Mỹ châu.

Họ lập ra nhiều báo chí làm cơ quan cho phụ nữ vận động, làm chủ và viết bài toàn là đàn bà.

Có mấy cô có tư tưởng cấp tiến, muốn nhập phụ nữ vận động và xã hội chủ nghĩa làm một, để nâng cao địa vị của phụ nữ bình dân và sinh kế quyền lợi của họ; không phân giai cấp. Phụ nữ vận động trải qua thời gian không mấy, mà thâu được kết quả khá nhiều; ngoài ra những kết quả vật chất, người ta thấy tinh thần tự do và bác ái nhiễm sâu trong óc của các hạng phụ nữ Nhật, giàu sang nghèo hèn không còn là hàng rào cách biệt như xưa. Rất đỗi có những cô con gái quý tộc, thà bỏ địa vị sang giàu, thà bị bôi tên trong sổ quý phái, để tự do kết hôn với một anh học trò nghèo, hay là một chú thợ bình dân.

KINH TẾ LÝ TÀI, CÔNG NGHỆ, THƯƠNG MÃI ĐỀU ÂU HÓA

Mấy việc kinh tế, lý tài, công nghệ, thương mãi, chẳng phải nhờ có ảnh hưởng Thái Tây dội qua Nhật Bản mới có, mới biết đâu. Chỉ có thể nói rằng nhờ ảnh hưởng Thái Tây khiến cho Nhật Bản mở mang sửa đổi những việc ấy trở nên mới mẻ rộng lớn, theo thời đại và theo Thái Tây.

Thật vậy, người Nhật thuở xưa đã từng sinh tồn về công nghệ, ham chuộng ganh đua về công nghệ. Họ có nhiều món công nghệ đặc biệt của họ. Nhất là mấy món đại công nghệ như dệt sơn, chạm, vẽ, họ vốn có căn cơ và đặc sắc lâu đời. Thương mãi cũng vậy.

Thì năm sáu trăm năm trước người Nhật đã vượt biển qua buôn bán ở Ấn Độ, Nam Dương quần đảo, Xiêm La, Việt Nam, các xứ ở quanh phương Đông, không mấy xứ không có dấu cẳng vết chân của chú lái buôn Nhật, ganh đua mạo hiểm và thương lợi với người Tàu. Nước ta, giữa đời nhà Lê, miền Bắc có Phố hiến (thuộc tỉnh Hưng Yên bây giờ) là thành phố buôn bán tụ tập các ngoại thương, bên cạnh những tiệm buôn của người Hồng Mao, người Hòa Lan, người Tàu, có những tiệm buôn của người Nhật. Miền Nam, thuở họ Nguyễn làm chúa, ở Hội An (Faifo, tỉnh lỵ Quảng Nam bây giờ) cũng có người Nhật tới mở tiệm mua bán, nhiều cậu lấy vợ An Nam đẻ con rồi chết chôn ở đó, mồ mả đến nay vẫn còn dấu tích. Có lần một chiếc ghe buôn của họ gặp sóng gió đánh chìm ở hải phận ta, hình như Mạc phủ Nhật Bản lấy nghĩa bang giao tương trợ, viết thơ qua cầu triều đình nước Nam giúp sức đóng giùm cho những người sống sót kia một chiếc ghe để họ về xứ. Họ phải ở lại chầu chực cả năm, quan ta và thợ mộc ta không sao đóng nổi chiếc ghe to lớn để vượt biển khơi như họ được. Nhắc mấy chuyện này lại cho biết xưa kia người Nhật từng chuộng thương mãi và mạo hiểm thông thương ra thế nào rồi.

Cho đến cơ quan lý tài, ta gọi là nhà băng hay ngân hàng, không phải đợi tới giữa thế kỷ XIX, nước Nhật cổ thời đã có những nhà ngân hàng lớn, sắp đặt theo cách cha truyền con nối. Xưa gọi là Tiền trang (銭莊 Sensou), nghĩa là một nơi đổi chác gửi gắm tiền bạc để mua bán, thì chính công việc nhà băng ngày nay.

Nổi tiếng nhứt là Tiền trang nhà Tam Tỉnh 三井 [Mitsui], tổ tiên của nhà triệu triệu phú Tam Tỉnh ở nước Nhật bây giờ, làm chủ không biết bao nhiêu là nhà băng, xưởng tàu, mỏ than và những công ty buôn bán lớn, người ta gọi là ông vua lý tài ở nước Nhật, sản nghiệp có lẽ giàu hơn ông vua dầu hỏa Rockefeller ở Hoa Kỳ nhiều. Đường Chaigneau ở Sài Gòn ta đây, ai đi qua để ý chắc thấy một nhà treo bảng “Tam Tỉnh dương hàng” 三井洋行 [Mitsui Youkou] thì là một chi nhánh của nhà Mitsui, hầu khắp thế giới đều có chi nhánh.

Nhà Tam Tỉnh mở ra công cuộc buôn bán lớn lao ở kinh đô (Kyoto, nơi đóng đô của vua Nhật hồi xưa) từ thế kỷ XVI. Qua đến thế kỷ XVII, nhà này khéo sắp đặt cách thức giao dịch chở chuyên tiền bạc khắp trong nước Nhật. Cuối thế kỷ XVII, Mạc phủ Đức Xuyên phó thác việc kiểm soát lý tài cho nhà Tam Tỉnh. Tục lệ nhà này, cha truyền con nối, trông coi sản nghiệp và càng ngày mở mang thêm giàu thêm lớn ra mãi; sự kinh doanh và giàu lớn đã có trước khi Âu hóa sang Đông. Đến thời kỳ Minh Trị duy tân, nhà Tam Tỉnh sắp đặt sửa sang lại công cuộc kinh doanh đồ sộ của nhà mình theo cách Âu Tây.

Xem sơ như vậy, là độc giả đủ thấy trước hồi Minh Trị duy tân, nước Nhật từng có trí thức riêng và căn cơ thực lực riêng của họ về kinh tế, lý tài, công nghệ, thương mãi rồi đó.

Nhờ có trí thức và căn cơ sẵn sàng đó, thành ra đến lúc Âu châu qua xông đại vô nhà Nhật Bản mà đánh thức họ vùng dậy, quanh quẩn không có bao nhiêu năm, đại công nghệ, đại thương mãi, đại lý tài của xứ họ mở mang xây dựng lên đồ sộ lạ lùng. Thì nền móng có sẵn rồi, họ chỉ có việc xây cao đắp rộng ra bằng vật liệu mới và nhân công mới thôi. Nếu như canh nông và tiểu công nghệ, tiểu thương mãi còn thấy những dấu tích quang cảnh Nhật Bản cổ thời, nhưng kể toàn thể, người ta có thể nói rằng tình hình kinh tế hoạt động ở nước Nhật đã Âu hóa, Mỹ hóa, tân thời hóa một cách sâu xa lắm.

Bởi sự thế không vậy không được; Nhật Bản phải Âu hóa từ kinh tế lý tài cho đến thương mãi công nghệ xứ họ, cũng như họ đã Âu hóa cả những lục quân hải quân, chính trị luật pháp vậy. Ngay lúc mới bắt tay vào cuộc duy tân, họ háo thắng và phấn phát lạ lùng: “Hễ Âu Mỹ có thứ gì thì ta cũng phải có thứ nấy, tổ chức như họ, hùng cường như họ, có thế mình mới tự lập và tranh hành với thiên hạ được”.

Bấy giờ, phần nhiều là các ông phiên vương chư hầu trả đất nạp quyền lại nhà vua nhất thống rồi, đem vốn liếng tiền bạc ra lập những nhà máy nọ, hãng buôn kia, kinh doanh các cuộc thương mãi công nghệ lớn lao. Từ năm 1872 trở đi, nhà băng dựng lên như nấm mọc, để giúp vốn cho người ta mở mang chế tạo buôn bán. Nhưng ban đầu, mọi việc kinh tế lý tài do sức dân và của dân hùa nhau sắp đặt xây dựng mặc lòng, nhà nước vẫn có quyền xem xét, chỉ bảo, dìu dắt, tức là thực hành chính sách “Kinh tế chỉ huy” (Economie dirigée). Bên cạnh Minh Trị Thiên hoàng, có một hội đồng cố vấn làm việc đêm ngày, gồm những người cẩn thận sáng suốt và chuyên môn về các vấn đề kinh tế, ngồi đó suy nghĩ tìm tòi, làm như ngồi cầm lái, để sai khiến cả bộ máy kinh tế trong nước.

Chủ ý nhà nước buổi đầu cốt trông nom chỉ dẫn cho dân, làm việc gì đều nên việc ấy, kẻo sợ có những người hấp tấp nóng nảy quá mà làm hư việc đi, không những hao tốn tài lực của mình đã đành, còn e tổn thương đến công cuộc duy tân của nhà nước nữa. Sau mười lăm năm kinh tế chỉ huy, nhà nước mới để dân tự do kinh doanh hoạt động. Một việc đó đủ chỉ tỏ cho người ta thấy công cuộc Minh Trị duy tân là một công cuộc sắp đặt, tính toán rất kỹ lưỡng chi li, không có một mảy nào bơ thờ quên sót vậy.

Trên kia đã nói Nhật phải nôn nao Âu hóa cả công nghệ thương mãi, là bởi sự thế bắt buộc không vậy không được. Sự thế bắt buộc để tranh hành với thiên hạ, mà cũng bắt buộc vì lẽ trăm công ngàn việc sửa đổi có liên lạc quan hệ với nhau, mà sự cần dùng hơn hết chính là tiền bạc. Thật vậy, cho được thực hành sửa đổi to lớn lạ lùng về quân bị, về chính trị, về giáo dục, như Nhật đã làm thành công kết quả đó, Nhật đã cần phải vung tay trút túi, xài những món tiền hao tốn gớm ghê, tự nhiên họ phải hối hả mở mang ra đại công nghệ và đại thương mãi theo như Âu châu, để có tiền bạc dồi dào làm việc duy tân.

Sự biến hóa cải cách như thế, chính là do nơi ý chí sắt đá của giống người Nhật muốn trở nên hùng cường như người ta cho mau, để mình vẫn được độc lập tự do như xưa vậy.

Chương X. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC QUỐC NGỮ VÀ VĂN TỰ

Văn học cũng như quân bị, kinh tế, chính trị, công thương, nếu người Nhật Âu hóa là chỉ muốn cho được giữ y tính cách đặc biệt của mình. Giáo sư Félicien Challaye từng phát biểu rằng: “Ai tưởng về mặt văn chương, người Nhật muốn biến thành Âu hóa, thật là tư tưởng lầm lắm đó”.

Quốc ngữ Nhật Bản với quốc ngữ các nước khác có dính dấp quan hệ ra thế nào, thuở xưa không có ai nghiên cứu. Mãi đến đời Minh Trị, văn hóa phương Tây truyền sang, bấy giờ Nhật mới bắt đầu giảng cứu gốc tích quốc ngữ. Năm Minh Trị thứ 19, trường Đế quốc Đại học đặt ra khoa học bác ngôn 博言学科, để tiện giảng cứu.

Lúc đó, đã từng có mấy nhà ngữ học ngoại quốc xét gốc định loài của quốc ngữ Nhật Bản. Mỗi người chủ trương một khác. Người này nói tiếng Nhật giống tiếng Mãn Châu. Người kia nói có bà con với tiếng Hàn (Cao Ly). Người khác nữa bảo rằng tiếng Nhật với tiếng Mông Cổ có chỗ thân tộc quan hệ. Gần đây, lại có người phát minh ra tiếng Nhật có hệ thống với loài tiếng “Ấn Độ - Nhật nhĩ man” (Indo Aryen), nghĩa là có bà con với tiếng Đức. Có lẽ vì đó mà Hitler nói giống người Nhật có pha máu giống người Đức chăng?

Kỳ thiệt, công việc giảng cứu này đến giờ cũng chưa quyết định được tiếng Nhật thuộc vào hệ thống nào. Mỗi thuyết cho là gốc này gốc kia chỉ là đoán chừng.

Chỉ biết rằng dân tộc Đại Hòa 大和 [Yamato] dựng nước ở Nhật Bản, vốn có một thứ tiếng riêng. Về sau văn hóa bên đại lục tràn qua, người Nhật đón rước Hán văn Nho học, tự nhiên có mượn nhiều tiếng Hán, tiếng Hàn pha trộn vô quốc ngữ. Phật giáo cũng đem nhiều tiếng Phạn tới cho Nhật mượn nữa.

Các nước Âu châu thông thương với Nhật Bản sớm hơn hết, là người Bồ Đào Nha. Kế tới người Y-pha-nho, người Hòa Lan, người Anh, người Pháp, người Đức… Nhật Bản cũng mượn tiếng của mấy nước này hóa làm tiếng mình vô số, nhất là những danh từ về y học, khoa học.

Còn văn tự, có ít nhiều người Nhật do tính tự ái, nói rằng trước khi chưa có chữ Hán truyền sang, Nhật Bản đã có Thần đại văn tự 神代文字 [Jindai Moji], nghĩa là ở đời Thần cũng có chữ riêng rồi. Nhưng, Đằng Cương Thắng Nhị 藤岡勝二 [Fujioka Katsuji] là nhà chuyên môn nghiên cứu nổi tiếng về quốc ngữ văn tự Nhật Bản bác hẳn cái thuyết trên đây, cho rằng những người chủ trương thuyết ấy tưởng dân Nhật Bản cổ thời không có một thứ văn tự riêng là sự đáng lấy làm xấu hổ, cho nên họ dò đoán cầm chừng mà bày vẽ Thần đại văn tự đó thôi. Nếu quả xưa kia đã có văn tự đó chăng nữa, chẳng qua chỉ riêng trong một khu vực nào, chớ dân chúng không dùng, mà nó cũng không đủ tư cách là một thứ văn tự.

Nhật Bản có văn tự, chính là thoát thai ở chữ Hán mà ra. Ấy là:

Bình giả tự 平仮字 [Hiragana], mượn ở lối chữ viết tháu của Tàu mà đặt ra cho được giản tiện, kẻo để nguyên cả Hán văn cho dân học thì phiền phức khó khăn quá. Tương truyền người đặt ra lối chữ này, một vị Thầy tu đạo Phật, là Hoằng Pháp đại sư 弘法大師 [Koubou Daishi] (774-835).

Phiến giả tự 片仮字 [Katakana] chỉ mượn một mảnh chữ Hán mà đặt ra, mà đọc theo âm quốc ngữ Nhật. Đại khái cũng như nhà nho ta xưa mượn gốc chữ Hán mà đặt ra chữ Nôm để đọc theo âm của tiếng mình vậy. Có người nói kiểu chữ này là bản đồ 50 âm, do Cát Bị Đại Thần 吉備大臣 [Kibi no Daijin] (693-775) sáng tạo.

Hai lối chữ mượn này dựng lên một nền văn tự riêng của Nhật, dùng pha trộn với chữ Hán để viết văn làm sách phổ thông. Duy có đám thượng lưu học thức mới chuyên dùng chữ Hán mà thôi. Nhưng họ viết chữ Hán theo như văn pháp riêng của họ, chớ không chịu theo văn pháp Tàu. Sự mượn chữ đặt chữ riêng viết văn theo phép riêng như thế, chứng tỏ ra người Nhật thuở xưa đi học của người, vẫn giữ tính cách độc lập của mình là dường nào.

Đến lúc Âu hóa sang Đông, thời thế cấp bách, trước hồi Minh Trị duy tân, đã có người dâng thư lên Mạc phủ xin bãi hẳn chữ Hán, để dùng chữ Bình giả, Phiến giả của mình thôi.

Kế đó, bước vào thời kỳ Minh Trị duy tân có nhiều thuyết kế nhau nổi lên. Năm Minh Trị thứ 16, có Giả danh hội 仮名会 [Kanakai] lập ra cũng xướng khởi ý kiến chuyên dùng chữ mượn, tức là chữ Bình giả và Phiến giả. Qua năm sau lại có La mã tự hội 羅馬字会 [Romajikai] chủ trương dùng chữ La tinh như các nước Âu Mỹ. Cả hai hội đều xướng bỏ chữ Hán. Có một phái Âu hóa cấp tiến, muốn dùng hẳn Anh văn làm quốc văn.

Nhưng, Hán văn đối với người Nhật tiếng Nhật có lịch sử lâu đời, có quan hệ thâm thiết, không thế nào bỏ hẳn đi được. Muốn cho việc học của dân được giản tiện, mau lẹ, nhà nước bèn lựa lọc chữ Hán lấy một số cần dùng còn lại vài ba ngàn chữ thôi. Sự trí thức về chữ Hán văn Hán của sĩ dân Nhật suy đi từ đó.

Trong đời Minh Trị, quan báo và công văn đều viết bằng chữ Hán xen vô chữ Phiến giả cho dân dễ hiểu, ấy là giữ thói quen từ đời trước.

Có một hồi tân văn tạp chí cũng dùng trộn cả chữ Phiến giả vô, nhưng được ít lâu rồi thôi, chỉ dùng chữ Bình giả xen lộn chữ Hán như ta thấy ở báo chí Nhật ngày nay, chữ Phiến giả chỉ dùng để dịch các danh từ của Âu Mỹ, cho được đọc theo như âm tiếng Âu Mỹ vậy.

Chữ Bình giả xưa kia viết ra lộn xộn bất nhất, ai muốn viết sao thì viết, cũng như nhà nho nước Nam ta viết chữ Nôm vậy. Nhưng đến năm Minh Trị thứ 33, Văn bộ (tức là bộ Giáo dục) định ra thể lệ hẳn hoi, mẹo luật rành rẽ.

Trước khi muốn xét về văn học và sách báo của Nhật Bản lúc mới duy tân, chúng ta nên biết qua quốc ngữ văn tự nước Nhật như thế.

VĂN HỌC ĐỜI MINH TRỊ

Đời xưa, Nhật Bản đã có một nền văn học phát đạt và có đặc sắc lắm; họ tự phụ rằng không thua gì Âu châu. Tiểu thuyết, thi ca, hí kịch, đoản thiên, sử ký, phong dao… môn loại nào cũng có những áng văn hay truyền tụng. Nhất là đời Đức Xuyên làm tướng quân, luôn mấy trăm năm, thái bình vô sự, người ta chỉ có việc chăm lo trau dồi văn học, thành ra văn hay sản sinh rất nhiều. Văn học Nhật Bản đến đời Đức Xuyên là đời toàn thịnh.

Người Nhật bắt đầu nếm mùi văn học Âu châu, là những truyện ngụ ngôn của Ésope, dịch ra tiếng Nhật từ thế kỷ XVI, chắc là do tay dịch thuật của một ông giáo sĩ nào đó. Đến phần dưới của thế kỷ XVIII, thêm có bản dịch Voyages de Gulliver (Tạm dịch: Những cuộc phiêu lưu của Gulliver). Lúc này có những người Hòa Lan, Bồ Đào Nha và Y Pha Nho sang Nhật mua bán, trong đám nhà nho Nhật, nhiều người nghiên cứu Hán văn tinh thông rồi, lại có hứng thú nghiên cứu văn tự ngoại quốc nữa, nhất là học chữ Hòa Lan để xem xét y khoa và sự tình Âu châu. Tuy là Mạc phủ có lệnh nghiêm cấm và có nhiều người vì học chữ ngoại bang mà bị chết chém, những hạng sĩ phu óc lớn nghĩ xa vẫn cứ mạo hiểm mà học. Nhờ vậy mà Nhật Bản đã sớm có những người hiểu biết qua loa về vật lý học và bác vật học của Thái Tây, chớ không riêng văn học mà thôi.

Sự học tiếng Hòa Lan đến cuối đời Đức Xuyên đã thịnh hành, lần hồi người ta học tới Anh văn, Pháp văn, Đức văn nữa. Mạc phủ lại đặt ra một sở chuyên dịch sách vở của Tây dương, gọi là “Phiên thư thủ điều xứ (番書取調處). Sở này về sau biến thành ra trường Đông Kinh Đại học lấy Anh văn làm gốc để giảng dạy các khoa.

Thế là trước khi chưa khai quốc duy tân, nước Nhật đã biết chú ý đến ngôn ngữ văn học phương Tây rồi. Họ không phải quá ư cố chấp như mình đây, đến đời Tự Đức mà sĩ phu ta không biết văn học nào khác hơn văn học Trung Quốc.

Tới lúc mở cuộc duy tân rồi, các nhà học vấn tiên giác từng học qua một thứ ngôn ngữ văn tự châu Âu, bây giờ ganh đua nhau làm sách, dịch sách, truyền bá tứ tung, để cho quốc dân mau biết những phong tục, tập quán, lễ nghĩa, chính trị, học vấn của Thái Tây. Người có công này lớn nhất là Phúc Trạch Dụ Cát 福澤諭吉 [Fukuzawa Yukichi] vừa lập trường, vừa dịch sách, vừa làm báo để rèn tập nhân tài cho cuộc duy tân và thức tỉnh quốc dân về việc sinh tồn, việc quyền lợi. Trước mắt người Nhật buổi đầu duy tân, Phúc Trạch là ông thánh sống, có sự nghiệp giáo dục to lớn quan hệ như thế nào, một chương trên kia nói về “dân gian giáo dục” tôi đã nói rõ rồi, khỏi cần nhắc lại ở đây nữa.

Kế Phúc Trạch là Tân Đảo Tương 新島襄 [Nijima Jou], Trung Thôn Chính Trực 中村正直 [Nakamura Masanao], Trung Giang Đốc Giới 中江篤介 [Nakae Tokusuke]… đều là bậc anh tài có công nghiệp gieo mầm ngoại quốc văn học ở nước Nhật.

Sau lúc nhà vua đã bỏ chế độ phong kiến và cho tứ dân bình đẳng, bấy giờ người ta xôn xao bàn bạc về những chuyện dân quyền tự do; đã bàn bạc về những chuyện dân quyền tự do, lẽ tất nhiên người ta hâm mộ sùng bái những người như Montesquieu, Jean Jacques Rousseau của nuớc Pháp. Bởi vậy, lúc Trung Giang Đốc Giới ở Pháp quốc về, dịch sách Dân ước (Contrat Social) của Rousseau và xướng lên thuyết dân quyền tự do, làm cho nhân tâm rung động nồng nàn. Rồi đó phong trào dân quyền càng ngày càng thịnh. Năm Minh Trị thứ 14, nhà vua phải hạ chiếu kỳ hẹn với dân 10 năm nữa thi mở ra Quốc dân hội nghị thành ra dân càng đua nhau cầu học trí thức thế giới và tư tưởng dân chúng càng ngày càng mới mẻ thêm.

Ấy là tình thế vào khoảng năm Minh Trị thứ 15, 16 trở về trước, mặc dầu tiêm nhiễm ngoại quốc tư tưởng và phiên dịch sách vở Thái Tây đã nhiều, nhưng văn học mới vẫn chưa thiệt dấy lên. Duy có một hiện tượng, là có tân văn tạp chí nhân được phong trào mới mà đẻ ra thôi. Là bởi nhân tâm Nhật Bản hồi này đều dốc lòng gắng sức vào việc cải tạo quốc gia, cho nên sự cầu học trí thức Thái Tây, chỉ cốt những việc gì là việc thiết thực, chớ không ai rảnh rang để thưởng ngoạn văn học Thái Tây cho được. Huống chi trong khoảng 15 năm mới khởi cuộc duy tân này, số người biết ngôn ngữ văn tự Thái Tây còn ít lắm; dầu cho người biết cũng là chưa đủ tinh thông để thưởng ngoạn cái thú vị của văn học Thái Tây nữa kia.

Thời kỳ tân văn học mở ra thật từ năm Minh Trị thứ 15, 16 trở đi.

Khởi thủy là ba vị giáo sư đại học, Ngoại Sơn 外山 [Toyama], Thỉ Điền Bộ Lương Cát 矢田部良吉 [Yatabe Ryoukichi] và Tỉnh Thượng Hinh 井上馨 [Inoue Kaoru] in ra lối thơ mới, gọi là Tân thể thi 新体詩 [Shintaishi]. Văn học phương Tây vang dội tới văn học Nhật Bản mở mối ra từ đó.

Nguyên là lối thi tả tình của Nhật thuở trước, thông dụng nhất là điệu ca bằng quốc âm và có tô điểm vô những tiếng ờ đời Trung cổ, người ta mới cho là hay. Ba vị giáo sư trên đây cho lối quốc ca vắn quá không đủ tả hết tình tứ ra được; lại còn chêm tiếng Trung cổ vào cũng không hợp thời nữa. Rồi đó ba ông xúm nhau lại bắt chước điệu thi của Tây mà đặt ra ca, gọi là thi theo thể mới. Lại dịch nhiều thi ca hay của Tây phương cho quốc dân ngoạn thưởng. Về sau có nhiều tay dịch thi ca Tây phương còn hay hơn nhiều, song kể người thợ đầu hết, chính là ba ông, vả lại người Nhật được rảnh rang nếm mùi văn học Tây phương và biết là cân dùng, thật bắt đầu tự đó.

Lần hồi không mấy năm, những tay có tài phiên dịch đem sách của các danh sĩ Âu châu ra dịch tứ tung, nhiều nhất là tiểu thuyết và bi kịch. Cervantès, Shakespeare, Fénelon (truyện Télémaque), Daniel de Foe (Robinson Crusoe), Goethe, Dickens, và Alexandre Dumas (truyện Les Trois Mousquetaires, người Nhật khoái lắm), Victor Hugo, Maupassant, Zola, Loti, Tolstoi, Jules Verne, văn chương tiểu thuyết của các ông này đều dịch hết ra tiếng Nhật và người Nhật ngoạn thưởng hoan nghênh đáo để. Triết học thì họ dịch từ Platon cho đến Rousseau, Kant, Schopenhager, Auguste Comte, Stuart Mill và nhất là Herbert Spencer.

Lúc đang nói chuyện đây, văn đàn mới ở nước Nhật, có hai phái đứng đối nhau đánh trống phất cờ tân văn học:

Một là phái thanh niên văn khoa học sinh ở trường đại học Tảo Đạo điền; giáo sư văn khoa của trường này là Bình Nội Tiêu Dao 坪内逍遥 [Tsubochi Shouyou], một nhà lãnh tụ trên đàn văn học mới, rất tinh thông Anh văn, thường đem văn học nước Anh dịch thuật giới thiệu cho học giới Nhật Bản. Thụ nghiệp với ông lúc bấy giờ, có nhiều thanh niên học sinh còn đang ngồi trên ghế học đường mà đã viết tiểu thuyết và soạn kịch, tài hoa nổi tiếng.

Hai là hội Nghiễn hữu xã 硯友社 [Kenyusha] tụ họp những người kiện tướng của tân văn học, người dịch sách nước nọ, người dịch sách nước kia, gần có đủ mặt: nhà phê bình có, nhà sáng tác có, nhà văn học sử có, một thời hoạt động vang dậy trên đàn học mới.

Ngoài ra có hai làn sóng, tuy chống chọi nhau, mà đều có ích cho cuộc tấn hóa của Nhật Bản mới kỳ.

Một là làn sóng sùng bái Tây phương.

Một là làn sóng tỏ rạng quốc túy.

Năm Minh Trị thứ 20, Đức Phú Tô Phong 徳富蘇峰 [Tokutomi Sohou] mở ra tạp chí đặt tên là Quốc dân chi hữu 国民之友 [Kokumin no Tomo] đem các vấn đề văn học, tôn giáo, phong tục ra bàn bạc một cách rộng rãi ngang tàng, nhiều bài viết văn lập luận rất kỳ, cốt đem văn học Tây phương vô nước Nhật và chú ý về văn nghệ mới lạ. Trong báo ấy đầy rẫy bài vở hoặc sáng tác, hoặc phê bình, hoặc dịch thuật, bài nào cũng có vẻ làm rung động tai mắt người trong nước giữa lúc muốn đạp đổ văn học cũ, dựng lên văn học mới.

Đức Phú Tô Phong là tín đồ đạo Gia-tô, cho nên ông ta nghị luận về các vấn đề tôn giáo, chính trị, dân quyền nhất nhất đều có chủ nghĩa khuyên bảo người ta sùng bái Tây phương.

Những người chống cự chủ nghĩa ấy bèn mở ra tạp chí đặt tên là Nhật Bản nhân 日本人 [Nipponjin], lấy chủ nghĩa phát dương quốc hồn quốc túy làm gốc. Họ nói văn minh Tây phương cũng còn có nhiều chỗ thiếu sót, chớ phải hoàn toàn tốt đẹp gì sao; chẳng qua chỉ có võ lực là hơn, vì lẽ thời thế sinh tồn, mình bắt chước người ta thì bắt chước, nhưng không thể nào lãng quên hay là bỏ hẳn những cái tinh túy của văn minh Đông phương mình đi được.

Trong mấy năm Minh Trị từ 20 đến 23, 24, hai làn sóng trên đây đều có ảnh hưởng rất hay cho tư tưởng Nhật Bản. Một mặt này có chủ nghĩa Âu hóa rầm rộ thịnh hành, một mặt kia có tinh thần quốc túy nổi lên chống lại. Té ra những người từ Minh Trị buổi đầu tới đây, chuyên chú xem xét văn vật phương Tây, chừng rõ biết được hết sự tình của người ta rồi, trở lại giật mình vì chỗ việc gì mình cũng nhắm mắt theo càn là bậy. Vì sự thiệt chính mình cũng có nhiều cái hay.

Đó là chỗ tự tỉnh của quốc dân Nhật Bản, nhờ sự tự tìm biết cái hay của người đánh thức giùm sự biết cái hay của mình.

Hai làn sóng này điều hòa lại với nhau, khiến cho người Nhật tấn hóa một cách có lương tri sáng suốt, và công nghiệp duy tân đến đó mới thiệt là chín chắn.

Trên kia nói hai làn sóng đều có ích cho cuộc tấn hóa của Nhật Bản là vậy đó. Còn một việc hiển nhiên khác nữa.

Buổi đầu duy tân, người trong nước ham mê vồ vập văn minh Tây phương quá đỗi, tới nước quên mất không nhớ lại rằng Đông phương có một nền mỹ thuật có vẻ tốt đẹp riêng, đáng quý đáng giữ. Thành ra bao nhiêu những bức tranh vẽ khéo, những đồ chạm trổ quý báu công phu, chính là vật báu của Nhật mà người Nhật đem bán rẻ cho người Âu Mỹ đem đi gần hết, chẳng biết tiếc là gì. Đến những miếu thần chùa Phật đồ quý vật xưa, có quan hệ về lịch sử lâu đời, người ta cũng để cỏ mọc rêu phong, trôi sông bỏ xó, không thèm sửa sang gìn giữ. Tới chừng có chủ nghĩa phát dương quốc túy nổi lên phừng phừng, bấy giờ người ta mới sực tỉnh, biết rằng văn vật phương Tây có những cái đáng theo thì theo, nhưng mà văn vật phương Đông mình cũng có những cái hay phải nên giữ gìn quý trọng mới được. Rồi đó, nhiều môn nghệ thuật riêng, mỹ tục riêng, ví dụ như múa kiếm, đánh vật, trồng hoa, múa nhạc, uống nước trà… hai mươi năm tấm lòng quá chuộng văn minh Tây phương cho khinh thường xem rẻ đi, bấy giờ nó lại lần hồi khôi phục cho tới ngày nay.

Đến văn học cũ cũng vậy, bị người ta phế khi mấy chục năm, tới đây có những người trở lại biết cái thú vị văn học xưa của mình, bèn gom góp lựa lọc lấy tinh túy cựu văn học mà dung hòa bằng tư tưởng mới của Tây phương. Thành ra họ nhồi cả văn học Đông Tây lại một cục, để nắn ra văn học mới. Vẫn biết là văn học mới đó có nhờ Tây phương văn học chế hóa cho nhiều, nhưng ở bên trong vẫn có tinh hoa đặc sắc riêng của mình một phần.

Thế thì về văn học cũng như về quân bị, kinh tế, chính trị, công thương, nếu người Nhật Âu hóa là chỉ muốn cho được giữ y tính cách đặc biệt của mình. Đây, tôi muốn mượn câu của giáo sư Félicien Challaye làm câu kết đoạn này: “Ai tưởng về mặt văn chương, người Nhật muốn biến thành Âu hóa, thật là tư tưởng lầm lắm đó”.

NHẬT BÁO TẠP CHÍ

Nếu ai muốn bỏ hết các việc cải cách khác của Nhật Bản, mà chỉ xem nội một khoản báo chí thôi, cũng đủ thấy bước đường duy tân người Nhật rong ruổi mau lẹ đến thế nào. Từ lúc mới khởi duy tân trở đi, chưa đầy hai chục năm, báo chí của họ đã có cơ sắp sửa ngang vai chen gót với sự nghiệp ấy của Âu Mỹ rồi. Chẳng bù với báo chí xứ mình đẻ ra có lẽ trên ba mươi năm mà vẫn còn là thằng trẻ nít: một tờ báo chạy nhất ở tỉnh thành lớn xứ mình chưa bằng tờ báo nhỏ ở một xó châu quận người ta.

Trong lúc bắt đầu khai quốc, nghĩa là lúc chính quyền còn về tay Mạc phủ, bị Đề đốc Bá Lý tới ra oai buộc phải mở cửa thông thương, đám chí sĩ Nhật Bản đã dựng lên ít nhiều cơ quan ngôn luận để thúc giục nhà nước phải mau duy tân cải cách. Những báo này còn in chữ khắc bằng cây và chỉ ra mỗi tháng hay mỗi tuần một số, cách thức biên tập sắp đặt tờ báo còn lôi thôi lắm.

Lúc này cả thảy gồm chục hiệu báo chí chớ không phải ít, nhưng báo nào cũng khốn khổ về đồng tiền eo hẹp, thành ra không mấy tờ đứng vững. Ông Henry Dumolard, tác giả cuốn Le Japon politique, économique et social (Paris, Colin 1903) thuật lại một chuyện nghe tức cười chết: “Có báo xuất bản hai năm rồi vì hết tiền vốn mà phải đóng cửa, là vì trước sau chỉ vỏn vẹn có hai vị độc giả mà thôi”.

 

Ông vua báo giới Nhật - TRUNG THÔN LONG BÌNH 中村龍平 [Nakamura Ryuuhei] - Người làm cho báo Triều Nhật có địa vị ngày nay. Ngoài ra còn làm chủ nhiều báo và in nhiều sách.

Bước qua thời đại Minh Trị duy tân, còn sót lại năm ba tờ tuần báo nguyệt san, trong đó chỉ có báo Giang Hồ tân văn 江湖新聞 [Koko Shimbun] ra vẻ đặc sắc hơn hết. Nhưng vì mỗi số báo ra, bài nào cũng xăm xoi công kích hai cường phiên Tát Ma và Trường Châu làm cho chính phủ tức mình sinh ghét, rồi cấm xuất bản, lại bỏ tù viên chủ bút báo ấy. Trước giờ chính phủ chưa nghĩ đến sự kiềm chế các báo, nay mới thấy sự đó là cần, bèn ra lệnh buộc tờ báo nào cũng phải xin phép nhà nước cho ra mới được, bài vở nếu thả giọng bạo động quá thì chủ nghiệm chủ bút ở tù.

Mãi tới năm Minh Trị thứ 4 (1871), Nhật Bản mới có tờ báo hằng ngày thứ nhất xuất bản, là Đông Kinh Hoành Tân tân văn 東京横浜新聞 [Tokyo Yokohama Shimbun], bắt đầu dùng chữ chì của người Nhật tự đúc lấy (thử coi sớm chưa!) và in bằng máy in đặt mua ở Âu châu. Từ việc biên tập, việc in, việc bán, sắp đặt đã khá chỉnh bị. Báo này chẳng những làm ông tổ nhật báo mà thôi, lại làm khuôn mẫu cho những báo hằng ngày khác kế theo nữa.

Qua năm sau, 5 tờ báo hằng ngày lớn nối gót nhau ra đời:

Đông Kinh nhật nhật tân văn 東京日日新聞 Bưu tiện báo tri tân văn 郵便報知新聞 Triều Dã tân văn 朝野新聞 Độc mãi tân văn 読売新聞 Thự tân văn 曙新聞 Mỗi tờ bày tỏ một chính kiến, hoặc muốn tấn hóa lần hồi, hoặc đòi duy tân cấp bách, mà tờ nào cũng có một vài tay danh nhân chí sĩ chấp bút, đua nhau bút chiến tung hoành, có ảnh hưởng đến thời cuộc một cách sâu xa, lừng tiếng là Ngũ đại tân văn (五大新聞 Godai Shimbun), chính phủ cũng phải kiêng nể.

Từ năm Minh Trị thứ 4 đến thứ 8, trước sau 5 năm, mà nhật báo, tuần báo, tạp chí dựng lên đến hơn 100 nhà. Sự tiến bộ của báo giới Nhật phát khởi đã mau mà rồi ngày càng tấn tới mau lẹ dị thường. Trong sự tấn bộ đó, nhiều chỗ bày tỏ ra công phu nhân lực mới quý. Thử xem một chuyện phát báo cũng biết. Các báo ban đầu đều in ra buổi trưa; việc phát hành đã có xe hơi xe đạp gì đâu, người ta chia nhau thủng thẳng đưa tay đến tận mỗi nhà độc giả. Mấy anh đưa báo còn khệnh khạng, chần chờ, đến mỗi nhà, ngồi uống chén nước trà, nói chuyện tán tỉnh con ở ngộ nghĩnh nhà người ta chê chán rồi mới chịu đem báo đến nhà khác cũng vậy, thành ra báo ra buổi trưa mà sự phát hành kéo mãi đến khuya mới xong. Mỗi nhà báo phải mướn cả trăm người đi phát tay như thế. Tội nghiệp có nhà báo mướn hạng người đó không đủ, thì chính các ông trợ bút tự đem phát lấy; báo để trong tay áo “kimono” rút ra mà đưa mỗi nhà.

Từ hồi báo giới Nhật Bản tạo lập ra đến lúc đang nói đây, tuy là đủ môn nọ loại kia và cách sắp đặt cũng gọi là tấn tới mới mẻ khá rồi, nhưng người ta chỉ ham bàn chính trị, sính múa văn chương, chớ tờ báo chưa có tư bản tranh cạnh xen vô, chưa có tính chất thương mãi, cũng chưa có màu mè mỹ thuật.

Có chăng, là từ tờ Đại Bản triều nhật tân văn (大阪朝日新聞 Osaka Asahi Shimbun, Asahi Osaka) ra đời trở đi.

Thật vậy, lúc đầu chỉ là đám người văn gia chí sĩ chung đậu tiền bạc làm báo với nhau thôi, nhà tư bản chưa bước vô cõi tân văn. Đến năm Minh Trị thứ 12, có Đại Bản triều nhật tân văn mở ra, làm được vài năm rồi về tay Thôn Sơn Long Bình 村山龍平 [Murayama Ryouhei] kinh doanh, bấy giờ báo giới mới bắt đầu có tính chất tư bản. Mà từ đó báo giới mở mang rộng lớn, phải nhờ có sức tư bản như các công cuộc kinh doanh lớn lao khác vậy.

Thôn Sơn Long Bình là nhà giàu, không phải tay biết cầm bút viết văn nhưng mà biết cách làm một tờ báo thế nào cho được nhiều người ham đọc, cần đọc, phải đọc. Ông ta xuất một số tiền thật lớn để làm báo, chú trọng nhất là thông báo tin tức làm sao cho mau lẹ, bèn dồn cả toàn lực vào cơ quan thông tin, bày ra nào là điện tín trong nước ngoài nước, nào là thông tín viên đặc phái (correspondants spéciaux), để cho việc báo tin thật là mau chóng, dầu hao tốn bao nhiêu tiền cũng mặc. Tư bản cạnh tranh trong làng báo mở mối ra từ đây.

Mấy tờ báo khác, thấy tiếng tăm của Đại Bản triều nhật tân văn mỗi ngày bay lên cao như diều, cũng lấy sức tư bản ra để tranh cạnh, tiền bạc họ xài ra như nước, cầu lấy tin mau, in đẹp, báo lớn, bài nhiều. Nhưng phần đông vì sự tranh cạnh quá lố, đến phải đuối hơi trút túi mà chết. Duy có tờ Đại Bản mỗi nhật tân văn 大阪毎日新聞 [Osaka Mainichi Shimbun] là đứng lại tranh cạnh nổi mà thôi. Họ tranh cạnh luôn mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, từ lúc ấy cho đến bây giờ, chính là hai tờ báo hằng ngày, lớn nhất nước Nhật. Sau đây có một đoạn riêng, nói về thủ đoạn cạnh tranh ghê gớm của hai nhà báo Triều nhật Asahi và Mỗi nhật Mainichi ra thế nào? Giờ để nói chuyện tuần tự về lịch sử báo giới đã.

Đến năm Minh Trị thứ 23, nhà vua ban bố Hiến pháp và mở Chúng nghị viện ra rồi, báo giới càng thêm phát đạt và có thanh thế về mặt chính trị. Người ta nói lúc này về thế lực chính trị, chính phủ ở bậc nhất, nghị viện ở bậc nhì, tân văn ở bậc ba. Có lúc chính phủ sợ tân văn quá hơn là sợ nghị viện, cho nên thường khi tìm cách ngăn trở tân văn phát đạt, nhưng nó cũng cứ phát đạt như thường.

Sau cơ hội trên đây là cơ hội giúp cho báo giới bước cao lên một bước, tới trận Nhật Bản đánh nhau với nhà Thanh nước Tàu (1894), báo giới nhờ đó tăng số độc giả lên gấp đôi. Nhiều báo vì lẽ doanh nghiệp lợi tiện mà lập thêm chi nhánh riêng hai nơi: ví dụ Triều nhật và Mỗi nhật ở Đại Bản, lại lập ra tòa báo Triều nhật và Mỗi nhật ở Đông Kinh nữa, nơi nào in riêng tờ báo tại nơi đó. Nếu Đông Kinh là kinh đô chính trị, thì Đại Bản là kinh đô công nghệ. Muốn cho sự phát hành mau chóng, khỏi mất công gửi đi gửi lại lâu lắc lôi thôi, hai tờ báo lớn mới xuất bản hai nơi như thế. Mà nơi nào xuất bản cũng ghê, Triều nhật in ra 370.000 tờ ở Đại Bản và 180.000 ở Đông Kinh, hiệp cộng 550.000 tờ. Mỗi nhật cũng xuất bản cả hai nơi gần gần số ấy. Đó là nói số in hồi duy tân trải qua Nhật Nga đại chiến cho đến Âu châu đại chiến mà thôi. Chớ bây giờ hai tờ báo này in nhiều mấy lần hơn và kình địch với báo Anh, Mỹ kia. Độc giả sẽ thấy một đoạn nói riêng.

Trong khi tân văn phát đạt tấn tới lạ lùng như thế, thì tạp chí cũng không vừa gì. Khoa học, chính trị, giáo dục, triết học, mỹ thuật, phụ nữ, tôn giáo… môn loại nào cũng có tạp chí riêng để kêu gào, để giảng dạy, để dìu dắt người ta. Kể tới năm 1905, nghĩa là từ ngày Minh Trị bắt đầu duy tân đến đây được 38 năm, các thứ tạp chí khắp nước Nhật đến số 1.500 hiệu, mà riêng ở Đông Kinh có 380 hiệu. Độc giả là phụ nữ và học sinh nhiều nhất, thực nghiệp giới ở bậc thứ.

Cũng kể tới thời kỳ nói trên đây, khắp nước Nhật, số báo hằng ngày lớn nhỏ trên 700 nhà. Thời gian không bao lâu mà báo chí mở mang phát đạt đến thế, thật là tột bậc vậy.

THỬ XEM SỰ CẠNH TRANH CỦA HAI TỜ BÁO LỚN NHẤT

Ấy là báo Triều nhật và Mỗi nhật như trên kia đã nói.

Cả hai đều có lịch sử trường cửu gần sáu chục năm nay, chẳng những là báo lớn ở nước Nhật hay là ở phương Đông này thôi, lại đứng vào hàng một số ít tờ báo lớn nhất trong thế giới nữa.

Tôi muốn để một đoạn riêng nói về lai lịch và sự nghiệp kinh doanh của hai tờ báo này nhất là về Triều nhật nhiều hơn.

Báo Triều nhật sáng lập ở Đại Bản (Osaka) ngày 25 tháng Giêng năm 1879 (Minh Trị thứ 12). Lúc đầu báo quán chỉ là một cái nhà bé nhỏ, bởi là cơ quan của văn sĩ chung nhau, chớ chưa có nhà tư bản xen vô.

Đã nói hồi Minh Trị bắt đầu duy tân, không có một thứ văn hóa nghệ thuật nào của Tây phương mà người Nhật họ không bắt chước; bởi vậy nghề làm báo của Tây phương cũng phát hiện ở nước Nhật một cách mạnh bạo lớn lao như muôn vàn nghề nghiệp khác. Nhưng lúc bấy giờ có nhiều tờ báo dựng lên rồi đổ ụp xuống liền, là vì có nhiều nỗi khó khăn gay trở; nhất là vì mặt tài chính làm cho thất bại nhiều hơn hết; duy chỉ có báo Triều nhật chống chọi và qua lọt được cái cầu khó khăn gay trở đó.

Từ năm 1885, báo Triều nhật ở Đại Bản dời về chỗ báo quán bây giờ, song lúc ấy nhà cửa, máy móc và cách sắp đặt cũng còn lôi thôi sơ sài, chớ đâu phải được như ngày nay. Mãi đến năm 1890, kiểu máy in mới của nước Pháp chế tạo ra, hiệu Marinoni, truyền qua Nhật Bản; chừng đó nghề làm báo ở Nhật Bản mới bước vào cõi tiến hóa mới mẻ.

Hai trận chiến tranh Trung Nhật (1894) và Nhật Nga (1904-1905) cùng là vụ loạn Quyền phỉ ở Bắc Kinh, đều là những cơ hội tấn phát lạ lùng cho báo Triều nhật. Mấy lúc có chiến tranh đó, báo đều phái đi từng đoàn phóng viên ra tới chiến trường để lấy tin và chụp hình. Bọn phóng viên này cố sức làm cái chức vụ thông tin, lăn lóc vào giữa chỗ rừng gươm mưa đạn, lắm khi tính mạng nguy hiểm rất mực, mà họ cũng không kể gì, cứ việc liều mình lấy tin cho được mới thôi. Một nhà báo có những phóng viên như thế, thật không có cách quảng cáo nào cho bằng và không thể nào không phát đạt cho được. Chính nhờ vì đó mà báo Triều nhật càng ngày càng tấn tới phi thường, được quốc dân hoan nghênh tin cậy lắm. Từ lúc ấy trở đi, số độc giả càng ngày càng tăng, báo Triều nhật càng thấy sự sắp đặt của mình về mặt vật chất nội dung còn thiếu sót nhiều; vả lại, cần phải cạnh tranh với báo Mỗi nhật (Mainichi, cũng ở Đại Bản) dữ lắm, thành ra báo Triều nhật hết sức mở mang. Sự cạnh tranh của hai nhà báo này, làm cho báo giới Nhật Bản leo lên một cái trình độ rất cao, ngang hàng với báo giới Hoa Kỳ, chớ báo giới Âu châu không bì kịp đâu.

Năm 1915, báo Triều nhật cất nhà báo mới, cao 8 từng lầu, thật là nguy nga rộng rãi, mà chỉ dựng có một năm là xong.

Đồng thời lại mở mang các cơ quan và khí cụ in báo, thông tin, thứ nào cũng tân thời hết thảy.

Báo này lúc khởi thủy là của một số anh em đồng chí viết văn nhà nghề, chung nhau lập ra; vài năm sau, nhà tư bản Thôn Thượng Long Bình xuất vốn mua lại làm chủ một mình, ra sức mở mang, càng ngày càng lớn, về vật chất và tinh thần cũng vậy. Cho đến năm 1919 trở đi, mới đổi ra công ty hữu hạn, số vốn đến 4 triệu yên, nhưng vẫn Thôn Thượng làm xã trưởng. Thôn thượng nổi tiếng là “vua báo” ở nước Nhật, cũng như Lord Northcliffe ở Hồng Mao mười năm trước và Hearst ở Hoa Kỳ bây giờ vậy. Vua báo Nhật Bản mới qua đời năm 1933, thọ 85 tuổi.

Nhà báo Triều nhật ở Đại Bản và ở Đông Kinh cũng vậy, xem hình thấy cảnh đồ sộ lạ thường, ta có thể tưởng tượng rằng nhà băng Đông Pháp ta ở Sài Gòn chỉ bằng phần nửa thôi.

Bề ngoài đã vậy, cách thức sắp đặt làm việc bề trong nhất nhất theo kiểu tối tân, không thiếu một sự cần dùng gì cho nghề nghiệp mà trong tòa báo không có. Đại khái tầng lầu thứ nhất là bộ doanh nghiệp (ta gọi là ty quản lý) và nhà in; tầng thứ hai là phòng việc của ông xã trưởng (ta gọi là chủ nhiệm) cùng các cơ quan viên chức thuộc về phần ông; tòa soạn cũng ở tầng này, lại có một phòng hội nghị rất lớn. Tầng thứ ba là nơi tiếp khách, có viện đồ thư, có phòng âm nhạc. Tầng thứ tư có hàng cơm và những phòng riêng cho các trợ bút và phóng viên nằm nghỉ; lại có nhà tắm cho họ nữa… Còn trên nóc nhà có sân rộng để cho thầy thợ trong tòa báo lên tập thể thao mỗi ngày và có chuồng nuôi 300 con chim bồ câu dùng vào việc thông tin hay đem bài từ Đại Bản lên Đông Kinh cho nhà báo Triều nhật chi quán [Tức chi nhánh của báo Triều nhật] ở đây. Các máy móc in báo và làm hình đều đặt trong hầm nhà ở dưới chót hết.

Tòa báo có ga ra xe hơi riêng, lúc nào cũng có mấy chục chiếc xe hơi sẵn sàng, để cho các trợ bút và phóng viên đi làm công việc nghĩa vụ. Ngoài ra, còn có sân máy bay riêng và mười mấy cái phi cơ, cũng dùng vào việc thông tin tức.

Máy in báo Triều nhật toàn là kiểu máy tối tân như ở bên Mỹ, mỗi giờ có thể in ra 8 muôn tờ. Hiện thời, trong nhà báo Triều nhật có 17 bộ máy kiểu đó, cho nên mỗi giờ in được 1 triệu 36 muôn tờ trở lên.

Kể số người làm ở tòa soạn, ở nhà in và ty quản lý bây giờ có đến 1.756 người, riêng phần tòa soạn, vừa trợ bút, vừa phóng viên, kể có 400 người rồi. Năm chục năm trước, hồi báo Triều nhật mới lập ra, vẻn vẹn chỉ có 20 người làm, thế mà trải qua có nửa thế kỷ, báo ấy mở mang phát đạt cho tới có số người làm đông đảo như thế, thật là một sự tiến bộ lạ lùng lắm vậy.

Những thợ này làm việc trong báo Triều nhật, hình như mỗi người đối với nhà báo đều có cảm tình gắn bó và có lòng tín ngưỡng cao xa, đến đỗi họ cặm cụi giúp việc nhà báo một cách thành tâm tận lực, chớ không mấy ai chịu bỏ đi làm nơi khác. Theo số điều tra tới cuối năm rồi, thì trong nhà báo Triều nhật, số người làm việc lâu bền 20 năm trở lên, có ngoài 50 người; còn có nhiều người giúp việc ròng rã trên 40 năm nữa.

Báo Triều nhật thường ngày xuất bản buổi sáng 8 trang lớn, buổi chiều 4 trang; nội dung chú trọng về công việc tin tức trong xứ trước, rồi bàn rộng tới công việc tin tức khắp các nước Âu Mỹ. Bởi vậy, phàm là những nơi đô hội kinh thành lớn trong thế giới, báo Triều nhật đều có đặt thông tin riêng.

Trong số báo mỗi ngày, trừ tin tức ra, các vấn đề chính trị, kinh tế, giáo dục, mỹ nghệ, thể dục… mỗi vấn đề có một địa vị riêng, chu đáo hoàn toàn lắm. Cầm tờ báo coi cách in của họ tốt đẹp kỹ lưỡng quá: chữ Hòa văn (nghĩa là chữ Nhật có xen chữ Tàu vô) sắp nhỏ như con muỗi, vậy mà nét in rõ ràng sạch sẽ hết sức, không có một chút nào có thể chê được. So sánh một tờ báo Nhật với một tờ báo Tàu vào hạng tốt nhất, như Thân báo ở Thượng Hải, sự khác xa nhau kể trời với vực. Người Nhật tự chế ra được cái máy sắp chữ theo kiểu monotype của Âu Mỹ để sắp chữ Hòa văn. Báo Triều nhật vừa sắp chữ theo lối thường, vừa dùng máy sắp chữ kiểu riêng nói đây.

Không phải báo Triều nhật chỉ phát hành ở Đại Bản và ở Đông Kinh mà thôi, họ còn phát hành những tờ báo địa phương, rải rác có 29 nơi ở trong nước, mà nơi nào cũng mang cái tên báo đó và có máy in riêng cả.

Gặp khi có việc biến động gì quan hệ, ví dụ như lúc Nội các thay đổi, tức thời báo Triều nhật in ra số báo đặc biệt (numéro spécial), rồi cho mười mấy chiếc phi cơ của nhà báo bay đi phân phát khắp các phủ huyện. Họ cốt làm cho tin tức thông báo, cực kỳ mau lẹ hoàn toàn. Đội phi cơ của nhà báo phải bay đi ban đêm là sự thường lắm.

Ngoài ra số báo mỗi ngày, nhà báo Triều nhật còn xuất bản nhiều thứ tuần báo, về chính trị, về kinh tế, về thể dục, về phụ nữ, về nhi đồng, về nghệ thuật; còn có những tạp chí mỗi tháng ra một kỳ và mỗi mùa, mỗi năm cũng có một hiệu tạp chí riêng nữa. Ấy là các báo bằng chữ Nhật. Muốn làm quảng cáo cho nước Nhật khắp trong thế giới, báo Triều nhật phát hành mấy thứ tuần san tạp chí bằng chữ Anh, để gửi tặng các nước ngoài. Chắc ít người mình được ngó thấy mấy thứ báo này; ai ngó thấy tất phải ghê sợ cách in của Nhật Bản khéo léo tốt đẹp lạ lùng.

Luôn dịp, tưởng nên nói qua cho biết sự cạnh tranh của mấy tờ báo lớn ở Nhật ra thế nào?

Hai báo Triều nhật và Mỗi nhật[1] cạnh tranh nhau từ ly từ chút, không ai chịu thua ai; nhưng họ cạnh tranh một cách vĩ đại, hùng hồn, chớ không phải cạnh tranh bằng những ngón tiểu nhân đâu. Ví dụ năm 1914, báo Mỗi nhật cất tòa báo cao 5 tầng, thì năm sau, báo Triều nhật dựng lên báo quán cao ngất 8 tầng. Hay là năm 1924, Mỗi nhật phái một chiếc thủy phi cơ bay khắp nước Nhật để cổ động cho báo; tức thì Triều nhật cho một chiếc phi cơ cất cánh bay ngang Si-bê-ri (Sibérie) và Nga quốc rồi tuốt xuống tới kinh thành Ba-lê nước Pháp, để chụp hình và điều tra về phong cảnh nhân vật.

Mỗi nhật tức mình quá, vì thấy mình làm gì, Triều nhật cũng làm cho hơn, Mỗi nhật bèn mua một lúc năm chiếc máy bay dùng làm quảng cáo, không dè mấy hôm sau, Triều nhật sắm 10 chiếc máy bay dùng để đem tin và chở báo đi lại trên không trung từ Đại Bản lên Đông Kinh.

Hai báo ganh hơi tức khí nhau đến đỗi nhà báo nào cũng in ra một số báo riêng để cho dân mù đọc.

Cuộc cạnh tranh từng nước của hai tờ báo này, có kết quả rất hay cho địa vị báo giới Nhật Bản được cao thêm lên hoài và người đọc báo được hưởng những sự lợi ích mới mẻ về mặt kiến văn tin tức luôn luôn.

Vì lẽ cạnh tranh, nhà báo nào cũng quăng tiền bạc ra như rác, không hề thập thò tiếc rẻ, miễn có tin tức mau chóng mà thôi. Tức như hồi năm 1923, có nạn động đất dữ dội ở thành Đông Kinh, ai nấy còn nhớ; kỳ đó báo Mỗi nhật xài hết tới 440.000 yên, là tiền phái người đi điều tra chụp hình và tiền đánh dây thép về nhà báo ở Đại Bản.

Sợ dùng những phương pháp thông tin thường dùng, e có khi bị chậm trễ hay hư hỏng gì chăng, nên chi hai nhà báo cạnh tranh, đều đặt ra nhà máy vô tuyến điện riêng, rất là hoàn hảo và nuôi nhiều chim bồ câu giúp việc cho các nhà phóng sự thông tin.

Hồi năm 1926, Đại Chính Thiên hoàng lâm bệnh, hai báo Triều nhật, Mỗi nhật cạnh tranh về cách thông tin mới ghê. Ngay lúc bệnh vua chưa lấy gì làm trầm trọng lắm, hai báo đã mướn nhà ở gần hoàng cung để cho phóng viên của mình ở luôn đêm ngày, dò la tin tức. Phóng viên hai báo giấu lén nhau ngộ quá, đến nỗi báo này tưởng báo kia không biết làm cách mướn nhà ở dọ tin như mình. Trong nhà đó, họ đặt máy nói, máy điện báo và sửa soạn máy chớp bóng sẵn sàng; lại dự bị những máy bay, những xe mô tô, chim bồ câu, để bất cứ giờ khắc nào, hễ phóng viên có bài vở hình ảnh gì, tức thời gửi về Đại Bản cho nhà báo in liền.

Chỉ vì nghe ngóng bệnh tình của vua, mà báo Triều nhật phái đi tới số 60 người ở bên hoàng cung ròng rã 4 tháng, kể cả trợ bút, phóng viên, cùng là sốp phơ, loong toong và đầy tớ của họ đem theo hầu hạ nấu ăn nữa. Báo Mỗi nhật cũng phái đi một số người đông như thế. Hai báo làm vậy là chỉ cốt tranh nhau đăng tin tức về bệnh tình Thiên hoàng cho được sớm hơn các báo độ mươi lăm phút đồng hồ thôi.

Coi một việc mà họ phái đi nhiều người như vậy, đủ biết số người phục dịch của mỗi nhà báo đông đến thế nào. Số người làm trong báo Triều nhật trên kia đã nói; còn số người làm của báo Mỗi nhật còn đông hơn: cả thảy 2.465 người, trong đó có 405 trợ bút. Cách tổ chức bên trong của báo này đại khái cũng như báo kia.

Hoa lợi của hai báo đều lấy tiền lời rao và số báo bán ra làm gốc. Mỗi năm họ thu nhập về hai khoản đó lối 10 triệu tới 14 triệu. Trừ mọi việc chi phí rồi, năm nào mỗi báo cũng được lời 2 triệu yên.

Người làm hai nhà báo này lương bổng khá lắm. Chủ bút báo Mỗi nhật có số lương mỗi năm tới 30.000 yên, chớ số lương quan thượng thư chỉ có 12.000, và lương quan tri sự mỗi phủ huyện (cũng như chủ tỉnh hay tổng đốc mỗi tỉnh ở nước mình) có 7.000 thôi.

Khỏi phải nói rõ, chắc độc giả cũng lượng biết những cơ quan ngôn luận ở Nhật Bản tổ chức một cách lớn lao, mới mẻ, trọn vẹn như tờ báo nói đây, tự nhiên có ảnh hưởng tốt đẹp cho văn hóa, cho dư luận đã đành, lại còn có thế lực lớn đối với chính trị trong nước nữa.

Đến thế kỷ nào, nước Nam mình mới có một tờ báo như Triều nhật hay Mỗi nhật?

NGHỀ IN TẤN PHÁT CŨNG GHÊ

Lấy thời gian và công việc mà so sánh thử chơi, cùng là khoảng đường 30 năm, kể từ chỗ cất bước phát đi, nghề báo nghề in ở nước Nhật chạy bằng hai cặp giò con thỏ, còn nghề in nghề báo của mình đi chậm quá con rùa.

Nói là 30 năm, chớ sự thật chưa hết cái thời gian ấy thì sự nghiệp báo chí và xuất bản của người Nhật đã sắp hàng với mấy anh chị bậc nhất trong thiên hạ rồi. Lời thề của họ cả quyết sửa sang mau lẹ cho bằng Âu Mỹ, thiệt họ đã làm đúng y, bất cứ phương diện nào.

Vào khoảng bắt đầu chúa Trịnh ở đời Lê nước ta, thì Đức Xuyên Gia Khang 徳川家康 [Tokugawa Ieyasu] nổi lên làm chúa ở nước Nhật, sai thợ khắc ra 30 muôn chữ rời bằng cây để in Ngũ kinh, Tứ thư và các sách xưa của bản quốc phát cho dân học. Tới khoảng đầu thế kỷ XVII (lối chừng 1614), họ lại biết đúc ra 20 muôn chữ bằng đồng nữa mới là kỳ hơn. Nhờ họ sớm biết khắc chữ cây rời, đúc chữ đồng rời như thế, thành ra nghề in đã có căn cơ vững vàng tốt đẹp và kinh kia sách nọ được rải trong dân gian được rộng lắm rồi.

Chắc hẳn “chữ rời” chẳng phải là việc phát minh của người Nhật đâu; thuở nay họ chỉ thánh bắt chước, chớ không phát minh được gì. Cụ Khổng ngày xưa nói mình “Thuật nhi bất tác, 述而不作”[2]; chính người Nhật cũng vậy đó. Tôi đoán chắc hồi thế kỷ XV, Gutenberg ở Đức phát minh ra máy in và chữ rời, về sau có những cố đạo Bồ Đào Nha hay mấy chú lái buôn Hòa Lan, mon men qua Nhật giảng đạo, buôn bán, đem việc phát minh của Gutenberg nói cho người Nhật nghe rồi họ bắt chước tức thời, chớ không chi lạ!

Đã sẵn có cốt cách lâu đời vậy rồi, tự nhiên đến thời kỳ duy tân vừa mở ra, nghề in phải theo thời thế mà Âu hóa, người Nhật tự biết đúc ra chữ chì mà in sách in báo ngay, không phải đặt làm ở Âu Mỹ. Mà nghề in tấn tới bồng bột, cũng là sự thường.

Thời kỳ duy tân đi tới chừng nào thì nghề in và số sách hoặc soạn hoặc dịch cũng đi tới chừng ấy. Chỉ xem hai con số sau đây cũng đủ thấy rõ:

Năm Minh Trị thứ 10, số sách in ra cộng 5.441 quyển trong đó 232 quyển là sách phiên dịch (dịch sách Âu Mỹ ra chữ bản quốc) và 464 quyển là sách phiên khắc (in lại y bản của người ta).

Tới năm Minh Trị 37, số sách in ra lên tới 26.610 quyển, mà trong đó chỉ có 28 quyển là sách phiên dịch, còn phiên khắc thì không có một quyển nào.

Là bởi nước Nhật sau 30 năm Minh Trị duy tân, được liệt cường Âu Mỹ xem ngang vai đồng bậc rồi, thì Nhật có vô hội đồng minh bảo hộ bản quyền của liệt cường, thành ra sự phiên dịch và phiên khắc sách ngoài, không phải tự do được như trước, sách vở người ta, mình muốn dịch của ai cứ dịch, muốn in lại của ai cứ in, chẳng phải xin phép tác giả hay nạp thuế bản quyền gì hết, mà cũng chẳng ai biết đó là đâu. Vả lại sau 30 năm duy tân rồi, việc giáo dục tấn tới mở mang lắm, hạng văn nhân học sĩ tự viết sách soạn sách lấy khá nhiều, mà số độc giả có thể tự hiểu văn tự Thái Tây cũng thêm đông lên rồi, không cần phải nhờ sách dịch nữa vậy.

Nghề in mới, họ bắt chước Thái Tây tới cực điểm đã đành, nhưng có một nghề in cũ họ gìn giữ và sửa sang thêm, chính người Âu Mỹ cũng phải thưởng ngoạn. Ấy là lối in tranh vẽ nhiều màu sắc mà in bằng bản khắc cây, gọi là Đông cẩm hội 東錦繪 [Tounishikie], một món mỹ thuật tổ truyền. Lối này đã đem những bức tranh đẹp từ đời xưa của Nhật in ra khoe với thế giới. Nhưng tay thợ khắc cây tinh xảo đến đâu, mà mỗi bức tranh phải khắc từ 30 bản tới 100 bản cây riêng mỗi màu mỗi nét để sau in chồng lên nhau, công phu quá nhiều và giá vốn quá mắc, thành ra không bì được với mỹ nghệ màu bằng đá bằng điễn của đời nay vừa mau vừa khéo hơn. Dầu vậy mặc lòng, nó cũng tỏ ra nghề in của Nhật từ xưa đã có giá trị mỹ thuật riêng là thế nào rồi.

-- HẾT --

[1] . Người sáng lập báo Mỗi nhật (Mainichi) là Bản Sơn Ngạn Nhất (Motoyama Hikoichi) cũng tạ thế hồi năm 1933.

[2] . Tạm dịch: Thuật lại mà không trước tác. (BT)

PHỤ LỤC

Tủ sách đất nước, văn hóa, con người Nhật Bản do Alpha Books xuất bản SHOGUN CUỐI CÙNG

24

Tên sách: Shogun cuối cùng

Tác giả: Tokugawa Yoshinobu

Khổ sách: 14x20,5

Số trang: 364 trang

Nhà xuất bản Thế giới, 2014

Shogun cuối cùng, cuốn sách dễ khiến người ta liên tưởng đến một nước Nhật cổ xưa với những hình ảnh đặc trưng nhất của một nền văn hóa mang tinh thần võ sỹ đạo. Bạn ngỡ mình sẽ chìm đắm trong những lời văn miêu tả những đường gươm mũi kiếm tuyệt mỹ, những tiếng hét ra lửa của một Đại Tướng quân uy nghi lẫm liệt trong bộ giáp sắt cùng những mưu lược, toan tính để đối đầu với kẻ thù....?

Thế nhưng, bối cảnh lại diễn ra vào những năm giữa thế kỷ XIX, khi súng ống, đạn pháo, đại bác, máy ảnh, tàu hơi nước... đã có mặt ở Nhật Bản. Lúc ấy, dù là Thiên hoàng hay Đại Tướng quân, dù là Samurai hay thường dân, bất kỳ người Nhật nào cũng hiểu rõ đất nước đang đối mặt với một thời kỳ đầy biến động. Trong thời điểm “dầu sôi lửa bỏng ấy”, cần có một cái đầu lạnh.

Và Shiba Ryotaro đã phác họa nên chân dung một trong những “cái đầu lạnh” thời bấy giờ trong lịch sử Nhật Bản. Bạn sẽ bắt gặp hình ảnh một Samurai vừa lạ, vừa quen với hình dung vốn có, để rồi nhận ra đâu đó trong cuốn tiểu thuyết này những lý giải cho sự phát triển và thành công lâu nay của nước Nhật.

THẾ GIỚI NGẦM TOKYO

 

Tên sách: Thế giới ngầm Tokyo

Tác giả: Jaka Adelstein

Khổ sách: 14x20,5

Số trang: 544 trang

Nhà xuất bản Thế giới, 2014

Thế giới ngầm ở Tokyo - là câu chuyện có thật đầy kịch tính của một phóng viên điều tra người Mỹ chuyên viết về tội phạm, và hầu như hoạt động chủ yếu trong báo giới Nhật. Năm 1993, ông trở thành nhân viên đầu tiên không phải người Nhật làm cho báo Yomiuri Shinbun. Trong suốt 12 năm điều tra, Jake Adelstein đã khám phá ra rất nhiều mảng tối của xã hội Nhật Bản: những hành vi thâm độc và sự thao túng của các băng đảng tội phạm đối với chính phủ và cả FBI... Sự chạm trán của thế lực này với bất cứ ai đều là một nỗi bất hạnh cho người đó.

NGŨ LUÂN THƯ

 

Tên sách: Ngũ luân thư

Tác giả: Miyamoto Musashi

Khổ sách: 14x20,5

Số trang: 208 trang

Nhà xuất bản Thế giới, 2013

Ngũ luân thư được nghiền ngẫm khắp nơi, từ giảng đường Harvard cho đến các doanh nhân và các chiến lược gia, và nó được coi là kim chỉ nam cho người đọc, giúp họ chiến thắng mục tiêu và đạt được thành công trong sự nghiệp nói chung, và là lời đáp trả của người Nhật cho MBA của Harvard nói riêng. Tạp chí Time đã ca ngợi quyển sách này rất ngắn gọn: “Ở Phố Wall, khi Musashi cất tiếng, tất cả phải lắng nghe”.

NHẬT HOÀNG HIROHITO VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NƯỚC NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI

 

Tên sách: Nhật hoàng Hirohito và công cuộc xây dựng nước Nhật

Bản hiện đại

Tác giả: Herbert P. Bix

Khổ sách: 16x24

Số trang: 704 trang

Nhà xuất bản Thế giới, 2013

Nhật hoàng Hirohito và công cuộc kiến thiết nước Nhật Bản hiện đại, tác giả Herbert P.Bix đã mô tả về Thiên hoàng Chiêu Hòa, trong đó tập trung vào các quan hệ gần gũi của ông với các cận thần, quan chức, nhóm tinh hoa chính trị của Nhật Bản cũng như quan hệ chặt chẽ với tướng MacArthur.

Cuốn sách viết về giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử phát triển Nhật Bản, vén lên bức màn bí ẩn về ảnh hưởng của Hirohito đối với Nhật Bản và thế giới. Những quyết sách xây dựng nhà nước Nhật Bản hiện đại của ông được phân tích tỉ mỉ, rõ ràng.

LỊCH SỬ TÔN GIÁO NHẬT BẢN

 

Tên sách: Lịch sử tôn giáo Nhật Bản

Tác giả: Sueki Fumihiko

Khổ sách: 13x20,5

Số trang: 316 trang

Nhà xuất bản Thế giới, 2011

Cuốn sách mà quý vị độc giả đang cầm trên tay được dịch từ trước tác của nhà nghiên cứu Sueki Fumihiko - chuyên gia hàng đầu của Nhật Bản trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng tôn giáo. Ông đã có một thời gian dài giảng dạy tại Đại học Tōkyō, sau đó chuyển sang công tác tại Trung tâm nghiên cứu văn hóa Nhật Bản Quốc tế (Nichibunken), nơi tập trung nhiều chuyên gia hàng đầu của Nhật Bản về các lĩnh vực trong ngành khoa học xã hội nhân văn. Lịch sử tôn giáo Nhật Bản là cuốn sách hiếm hoi đã tổng hợp được một cách logic toàn bộ lịch sử tôn giáo Nhật Bản mà người viết nếu không phải là người am hiểu về mối quan hệ đa chiều của tất cả các tôn giáo trong lịch sử của đất nước này thì khó có thể viết được.

ĐỂ TRỞ THÀNH SAMURAI TIẾNG NHẬT

 

Tên sách: Để trở thành samurai

tiếng Nhật

Tác giả: Abe Masayuki

Khổ sách: 13x20,5

Số trang: 280 trang

NXB Lao động - Xã hội, 2012

Đây chính là cuốn sách đầu tiên tại Việt Nam giúp bạn có thể vào làm tại các doanh nghiệp Nhật Bản hay đi du học tại Nhật Bản.

Nhật Bản không chỉ là quốc gia dẫn đầu thế giới về kinh tế và công nghệ, mà còn là đất nước kỳ diệu với những nét văn hóa đặc trưng cùng tính cách dân tộc độc đáo. Những năm qua, quốc đảo này là địa chỉ quen thuộc đối với các bạn trẻ trên khắp thế giới tìm đến để trau dồi kiến thức, học hỏi kinh nghiệm thông qua học tập và làm việc tại các công ty Nhật Bản. Không chỉ thu được kiến thức khoa học hay kinh nghiệm quản lý, các bạn trẻ chắc chắn sẽ còn được rèn luyện một trong những bí quyết thành công của người Nhật, nguồn gốc của “sự thần kỳ châu Á”. Đó là tinh thần Samurai!.

4/9/2026

Đào Trinh Nhất

Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nhật Bản duy tân 30 năm 2

Nhật Bản duy tân 30 năm 2 Chương VI. TRÊN ĐƯỜNG CHÍNH TRỊ Đừng thấy hạng dân vô quyền nằm dưới ở trong một xã hội mà cho là thường! Hạng...