Nhật Bản duy tân 30 năm 1
Lời thưa
Cuốn Nhật Bản duy tân 30
năm của tác giả Đào Trinh Nhất có thể được xem như một cuốn cẩm nang dành cho
những ai muốn tìm hiểu về đất nước, con người và văn hóa Nhật Bản, nhất là giai
đoạn mà Nhật Bản thực hiện công cuộc duy tân. Cuốn sách sẽ giúp độc giả trả lời
được những câu hỏi như: Đâu là khởi nguồn của công cuộc duy tân ở Nhật Bản? Sự
lột xác thần kỳ của Nhật Bản phải chăng là do may mắn? Nhật Bản đã làm những gì
để có những thay đổi ngoạn mục, trở thành biểu tượng cho cả thế giới? Liệu rằng
chúng ta có học hỏi được gì từ bài học duy tân của Nhật Bản hay không? Để đem
tư liệu quý đó đến với độc giả hôm nay, chúng tôi mạn phép tái bản lại tác phẩm
Nhật Bản duy tân 30 năm dựa trên bản in năm 1936 tại Sài Gòn. Với mục đích có
được một văn bản chính xác, nhất quán và rõ ràng cho độc giả ngày nay, chúng
tôi đã có một số thao tác biên tập như sau: (1) Đính chính một số sai sót về
tên nhân danh, tên tác phẩm được nhắc tới; (2) Thống nhất trong toàn văn bản về
việc dùng các chữ nhất, nhật, sinh, tính, nhân, bệnh, bản… thay vì nhứt, nhựt,
sanh, tánh, nhơn, bịnh, bổn…; (3) Thống nhất cách viết hoa, viết thường và (4)
Sửa lỗi chính tả và bổ sung một vài chú thích khi cần thiết. Đối với những phần
đính chính, bổ sung, chúng tôi đều ghi rõ là do biên tập viên [BT] thực hiện.
Đặc biệt, văn bản gốc có
sử dụng rất nhiều hình ảnh minh họa, tuy nhiên do chất lượng hình ảnh kém, nên
không thể phục nguyên được, do đó chúng tôi quyết định thay một số hình ảnh
tương tự với hình ảnh trong văn bản gốc, được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau,
mục đích là cho cuốn sách thêm sinh động, hấp dẫn. Ngoài ra cũng giúp bạn đọc
có một cái nhìn khách quan hơn về cuốn sách, chúng tôi xin giới thiệu bài viết
của nhà báo Phan Khôi (1887 - 1959), người sống cùng thời với Đào Trinh Nhất về
cuốn sách Nhật Bản duy tân 30 năm được đăng trên Sông Hương, Huế, số 32 (27
Mars 1937), trang 2, 8.
Với tất cả sự cẩn trọng
trong công tác biên tập và trình bày, chúng tôi hy vọng có thể chuyển cuốn Nhật
Bản duy tân 30 năm đến tay bạn đọc bằng một văn bản đáng tin cậy. Mặc dù vậy,
trong qua trình làm việc, sai sót là điều khó tránh khỏi. Chúng tôi mong nhận
được những góp ý của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong những lần
tái bản tới.
Xin trân trọng giới thiệu
cùng bạn đọc.
Ban biên tập
Giúp độc giả khi đọc cuốn
Nhật Bản Duy Tân 30 năm của ông Đào Trinh Nhất
PHAN KHÔI
Ông Đào Trinh Nhất, bạn
tôi, mới rồi, trong một lúc xuất bản hai cuốn sách có giá trị ngang nhau. Cuốn
Phan Đình Phùng đã được đem phê bình ở báo này số trước. Đến cuốn Nhật Bản duy
tân 30 năm, tôi nghĩ viết một bài phê bình như thế nữa không có ích, chi bằng đứng
về một phương diện khác hầu có thể giúp độc giả trong khi đọc cuốn sách ấy.
Nghĩ như thế rồi tôi viết
bài này, coi cũng như bài tựa hay bài bạt cho cuốn sách về thế sự của Đào quân,
chỉ khác là không được hân hạnh in vào trong sách của người.
Cuốn Nhật Bản duy tân 30
năm dày gần 300 trang giấy khổ lớn, lấy tài liệu ở hai chục pho sách hoặc chữ
Hán, hoặc chữ Nhật, hoặc chữ Tây, để thuật lại công việc của một nước trong 30
năm cải cách mà thành hiệu. Trong chúng ta người nào có lòng sốt sắng, bỏ cả mọi
việc mà đọc nó, cũng phải mất vài ba ngày mới hết. Khi đọc xong, ai nấy đem
lòng hâm mộ sự thành công của người Nhật, là lẽ cố nhiên; nhưng nếu ai nấy thường
tự hỏi: nước Nhật tại làm sao mà có được sự thành công ấy, thì chưa chắc lý hội
lấy mà trả lời ngay cho mình được.
Một cuốn sách dài như thế,
khi xem đến khúc sau có lẽ đã quên khúc trước, huống chi trong đó sự tình bề bộn
lắm, thì lý hội cho được cũng là khó.
Vả còn điều này nữa, mình
là người Việt Nam, khi đọc cuốn sử duy tân của Nhật Bản, phải thấy có sự cảm
khái riêng trong lòng. Vì sao nước mình thuở xưa cũng ở trong một hoàn cảnh như
họ mà mình lại không làm như họ được? Tôi tưởng người đọc sách ấy chẳng những
muốn trả lời câu hỏi trên mà thôi, cũng muốn đáp luôn câu hỏi dưới.
Tôi đã đọc qua cả cuốn
sách của Đào quân một bận. Về những điều ấy tôi đã lý hội kỹ. Tôi xin viết ra
đây để trả lời hai câu hỏi kia. Ấy là một việc mà khi làm, tôi tưởng là có ích
cho những người đọc sách của ông Đào.
* * *
Nhiều người An Nam hay
nói: Nhật Bản là nước đồng văn với nước ta, họ cũng theo đạo Khổng Mạnh, họ
cũng là một nước phụ dung văn hóa của nước Tàu như nước mình, thế mà họ duy
tân, tự cường được đến như thế, còn nước mình ra thế này, đáng lấy làm tức.
Người nào nói như thế là
chưa biết rõ nước Nhật Bản. Phải, họ thuở xưa cũng theo đạo Khổng Mạnh, cũng
làm một nước phụ dung văn hóa của nước Tàu như nước ta thật, nhưng mà có khác
nhau nhiều lắm trong sự giống nhau ấy.
Đọc sách của ông Đào,
chúng ta thấy người Nhật có những cái tinh thần riêng của họ để làm nền móng
cho sự lập quốc, như Đại Hòa hồn, Võ sĩ đạo, những cái ấy đã đành là không có ở
nước ta rồi. Kể đến sự theo văn hóa Trung Hoa, nước họ cũng khác với nước mình
nữa.
Người Nhật theo đạo Khổng
Mạnh nhưng không theo cái học khoa cử, không bắt chước làm những kinh nghĩa,
thi, phú, là thứ văn chương vô dụng. Sĩ phu họ không bị những cái bả vinh hoa của
cử nhân tiến sĩ làm mê muội đi. Đầu óc của họ thuở nào đến giờ vẫn trong sạch,
cho nên khi thấy có Tây học thì họ nhận biết là đáng theo mà theo ngay.
Lại thêm, người Nhật theo
văn hóa Tàu mà những cái dở, những sự mê tín của người Tàu họ không chịu theo.
Tức như người Nhật không tin địa lý, cũng không tin quỷ thần, đốt vàng mã. Nhờ
đó, trong tư tưởng họ không vướng víu những cái tối tăm dơ bẩn cần phải mất thời
giờ để gột sạch đi rồi mới hấp thụ cái hay cái tốt được.
Người Việt Nam ta từ triều
Trần triều Lê về sau chỉ biết tôn chuộng cái học khoa cử, là cái học phù hoa vô
dụng, làm cho sĩ phu trở nên đui điếc. Đã vậy lại còn mắc nhiều sự mê tín của
người Tàu đưa qua cho, như là tin phong thủy, bói, số cùng vô số thứ dị đoan. Hồi
triều Tự Đức, người Nhật đã hăm hở theo Âu hóa rồi, nhưng người mình thì trong
óc còn chất chứa không biết bao nhiêu sự tối tăm dơ bẩn, vậy nên cứ thủ cựu
hoài mà không làm như họ được.
Cái trình độ văn minh của
một nước thế nào, là coi ở học thuật tư tưởng của người nước ấy. Một nước mà muốn
cải cách, cũng bắt đầu từ học thuật tư tưởng mà cải cách đi.
Học thuật tư tưởng của
người Nhật lúc chưa tiếp thọ Âu hóa cũng đã không đến hủ bại như nước ta, nhờ
đó mà họ tiếp thọ Âu hóa một cách dễ dàng. Đến khi biết Âu hóa là đáng theo, và
quyết kế theo rồi, thì họ lại còn biết phá hoại học thuật tư tưởng của họ mà
không hề dùng dằng đoái tiếc.
Trong nước ta hiện có một
hạng người thủ cựu cứ phao ngôn rằng người Nhật Bản lúc duy tân, theo Tây là chỉ
theo về phương diện khoa học cơ khí mà thôi, còn về phương diện tinh thần thì họ
vẫn giữ các điều họ sẵn có.
Đọc qua cuốn sách của ông
Đào Trinh Nhất, sẽ thấy lời nói đó là không thật. Vả, trong thiên hạ chẳng có lẽ
nào lấy cái tinh thần cũ ra mà làm được sự nghiệp mới bao giờ. Cải cách thì phải
cải cách từ tinh thần, tức là học thuật tư tưởng.
Du nhập cái tư tưởng công
lợi của người Anh và người Mỹ. Việc này do ông Phúc Trạch Dụ Cát đề xướng ra.
Ông cả gan kêu gào phá hoại văn hóa cũ mà ông cho là cái dư độc của chế độ
phong kiến. Họ Phúc Trạch sáng lập ra Khánh Ứng nghĩa thục, chuyên ban bố cái
tinh thần giáo dục của phương Tây. Cái tinh thần ấy cốt ở những sự: hoài nghi,
phá hoại và cải tạo, làm cho sĩ phu hướng chiều về đường thực học và bồi dưỡng
cái óc tự do độc lập của quốc dân.
Du nhập cái tư tưởng tự
do của người nước Pháp. Việc này do ông Bản Viên Thoái Trợ đề xướng. Sách Dân ước
luận của J. J. Rousseau dịch ra trong buổi ấy. Từ đây có dấy lên nhiều cuộc vận
động mới về chính trị.
Du nhập cái tinh thần của
đạo Cơ Đốc. Cơ Đốc giáo vào nước Nhật đã lâu, nhưng cái tinh thần của đạo ấy được
thấm khắp giữa người Nhật là từ hồi đầu triều Minh Trị. Bấy giờ có người tên là
Tân Đảo Tương, một tín đồ của Chúa Cứu thế, lập ra cơ quan gọi là Đồng Chí xã,
hết sức tuyên truyền giáo nghĩa của Chúa Gia Tô. Ông làm việc ấy bởi một đức
tin chắc chắn, như có nói rằng: “Nếu không dùng đạo Cơ Đốc để cảm hóa quốc dân
thì không bởi đâu truyền bá cái chân tinh thần của văn minh Âu châu được”.
Du nhập cái tư tưởng quốc
gia của người nước Đức. Việc này do ông Gia Đằng Hoằng Chi đề xướng. Ông có làm
ra sách Nhân quyền tân thuyết, phản đối các thuyết bình đẳng tự do mà cổ xúy
cái Chủ nghĩa Quốc gia theo thuyết tiến hóa của Đạt Nhĩ Văn.
Theo một cuốn sách văn học
sử Nhật Bản, người ta đã công nhận bốn điều ấy là trụ cột trong cuộc duy tân
thành công của người Nhật, đáng đem để trên hết những sự chấn chỉnh ở bề ngoài,
như là mở quốc hội, ban hiến pháp cùng là tập rèn cơ khí, khuếch trương công
nghệ...
Sự nhớ cũ bao giờ cũng
choán một phần trong tâm lý loài người. Do cái tâm lý ấy, lại thêm cái lòng tự
trọng nữa, người Nhật đến ngày nay đã cường thịnh rồi, bèn cất cao giọng lên mà
xướng cái thuyết bảo tồn quốc túy. Chứ kể theo sự thực trên lịch sử, nếu đương
hồi Minh Trị mà người Nhật cứ khư khư giữ lấy cái cũ của mình, không phá hoại
và cải tạo, thì làm sao có ngày nay được? Cái lẽ ấy dễ hiểu lắm: tức như nước
ta vào thời Tự Đức đã bo bo giữ lấy học thuật tư tưởng cũ, chuộng khoa cử và
không chừa bỏ được mọi sự tin tưởng nhảm nhí, đi đón rước lấy văn hóa Âu châu
thì ta đã phải mất nước rồi.
Cứ như những lẽ nói đây
đã đủ trả lời cho hai câu hỏi trên kia, câu hỏi phát ra trong óc mọi người sau
khi đọc cuốn Nhật Bản duy tân 30 năm của ông Đào Trinh Nhất. Tôi còn xin nói
thêm mấy lời nữa làm kết luận.
Nước ta vì thâm nhiễm các
cái di độc của văn hóa Trung Hoa, khoa cử và dị đoan mê tín, nên sự nhận biết về
văn minh thế giới đã phải chậm hơn người Nhật 50 năm. Từ ngày khoa cử bỏ, người
mình có khai thông ra một chút, nhưng bao nhiêu sự hủ bại vẫn còn choán trong
tư tưởng, thành thử không tiến bộ cho nhanh chóng được. Bây giờ, đọc sách ông
Đào, lấy việc nước Nhật làm gương, ta còn nên gia công trong sự cải cách về
tinh thần, trên cõi đất ấy còn có lắm phen phá hoại và kiến thiết rồi mới toan
làm được việc gì...
Vài lời nói trước
Sau hai mươi mấy tháng
công phu tìm kiếm góp nhặt những tài liệu cần dùng, tôi đánh bạo viết ra cuốn
sách này, trong tâm não chỉ có mấy cái quan niệm sau đây là cốt yếu.
Một là để đóng góp vào
kho sách quốc văn một cuốn sử học. Nếu có những người chỉ ham đọc tiểu thuyết,
thi ca, bài văn, thần quái chắc cũng có nhiều người biết đọc những sách về triết
lý, về học thuyết, về khoa học, về lịch sử.
Huống chi, bao giờ đọc sử
cũng là một điều cần dùng bổ ích cho sự học vấn, sự tấn hóa của người ta. Cuộc
hưng vong suy thịnh của quốc gia dân tộc này, vẫn có thể do nơi sử học làm tấm
gương nên soi hay là dấu xe nên tránh cho quốc gia dân tộc kia. Nếu muốn soi
gương sáng, theo dấu hay, tự nhiên chúng ta nên biết chuyện Nhật Bản duy tân tự
cường cũng như nên học sử Pháp quốc văn minh cách mạng, cùng là các nước tấn
hóa hùng cường khác trong thiên hạ vậy.
Hai nữa, Nhật Bản duy tân
tự cường thật là một hiện tượng lạ lùng quái gở ở trong lịch sử thế giới nhân
loại, xưa nay chưa hề thấy có. Cái hiện tượng ấy phát ra một cách không ngờ, một
cách đáng sợ, người ta ở đâu xa xôi ngàn muôn dặm, biển cách non ngăn, còn phải
tìm tòi xem xét cho biết thay, nữa là mình đây ở gần một bên. Càng những dân tộc
nào đang yếu muốn mạnh, ngu muốn khôn, dở muốn hay, hèn muốn giỏi, lại càng nên
tìm tòi xem xét cho biết cái hiện tượng tấn hóa xưa nay có một đó.
Thật vậy, giữa lúc những
nước chung nguồn hay khác nguồn văn hóa chủng tộc, xúm xít ở miền đông này, đều
mê muội đắm chìm, làm con cá nằm giữa thớt dao chinh phục của Tây phương, duy
có một mình Nhật Bản vùng dậy quật cường và chống ngăn được làn sóng xâm lược
đang ào ào từ tây sang đông, chỉ tràn tới mé biển Trung Quốc và xóm đảo Nam
Dương là hết. Mà họ quật cường mau lẹ quá chừng: trên con đường văn minh hiện
thời họ rong ruổi vùn vụt như bay, trong ngoài ba bốn chục năm đuổi kịp Âu Mỹ
đã đi ba bốn thế kỷ. Trăm công ngàn việc, bỗng dưng thay mặt đổi hình hết thảy,
mà quốc thế dân sự chỉ có tấn tới êm ru, không hề bị lay động tổn thương, không
phải nhỏ một giọt máu. Thế là trái hẳn với cái công lệ[1] ở trong lịch sử biến
cách xưa nay, phàm quốc gia dân tộc nào phút chốc đổi thay chính trị văn hóa
như thế, thường không tránh khỏi một phen khiến cho thế nước rung rinh, máu đào
lênh láng.
Lẽ thứ ba, tới kinh tế và
chính trị. Ta với Nhật là hàng xóm láng giềng, địa thế ngó xiên nhau, chỉ
tương cách có một con nước, một mặt biển không bao xa, vậy thì dầu muốn dầu
không, lẽ tự nhiên phải có tiếp xúc quan hệ. Người ta phải biết căn nguyên và lực
lượng của những kẻ từ cận lân bang, để hoặc lựa chọn có thể cùng ai thân giao,
hoặc phòng ngừa ai có thể thừa cơ bắt gà đập chó nhà mình, không chừng có lúc
ra mặt xâm vườn lấn đất của mình nữa là khác. Trong vòng quốc tế lân giao, bà
con ta phải biết căn nguyên lực lượng của Nhật Bản, chính vì lẽ đó.
Vị trí nước mình, cũng
như Trung Quốc, chính là một thị trường vừa tất nhiên, vừa thuận tiện để cho Nhật
Bản phát dương cái lực lượng to lớn của họ về kinh tế, công nghệ. Lâu nay,
chúng ta đã thấy họ bắt đầu khai khẩn nhiều thứ khoáng sản ở phía bắc Trung kỳ
và từ từ mở mang các công cuộc mua bán đồ sộ ở mấy nơi đô thị lớn của ta. Còn
vì nể ông địa chủ ở đây (tôi muốn nói người Pháp) ít nhiều, nên chi cái bước
kinh tế họ đi vào xứ mình khoan thai mà chắc chắn, nhưng cứ tấn tới luôn. Bên
Tinh Châu [Singapore][2], kinh tế lý tài Nhật Bản đang muốn áp đảo cả dân bản
thổ và người Tây phương ở đó. Ở Xiêm La [Thái Lan] cũng vậy. Ở đây rồi cũng có
ngày.
Bởi vậy tôi thường suy
nghĩ, nếu như chúng ta không ráng phấn phát tự tồn, e một ngày kia không xa, đến
những việc làm mối lợi lặt vặt, chẳng phải chỉ có Hoa Kiều là tay kình địch mà
thôi đâu, sẽ thêm người Nhật nữa.
Phải biết lúc này chính
là lúc Nhật Bản đang tầm ngầm bố trí thực hành cái chính sách Nam tiến.
Mãn Châu, Hoa Bắc chưa đủ.
Nhật đang muốn xâm lược Hoa Nam và tính toan tràn lấn xuống cả một vùng Nam
Dương gồm hết Ấn Độ, Hòa Lan, Phi Luật Tân [Philippines], Xiêm La [Thái Lan],
Tinh Châu [Singapore], mặc lòng những xứ này là lãnh thổ hay phạm vi thế lực của
các nước Âu Mỹ. Báo giới Đông Kinh [Tokyo] từng nói lỡ miệng ra như thế, nhất
là phe quân nhân. Tuy không nghe họ kể gộp cả tên Đông Dương mình, nhưng Đông
Dương nằm vắt ngang trên con đường Nam tiến của họ tất nhiên họ để trong tâm mục
chẳng cần nói ra.
Nước cờ ngày nay Nhật Bản
sửa soạn đi tới, ba bốn chục năm trước đã có nhiều người Pháp tiên liệu rồi.
Tôi nhớ hình như có người Pháp đã nói câu nói truyền tụng này: “Buông Á, lấy
Phi” (Lâchons l’Asie, prenons l’Afrique). Người khác cũng tiên liệu mà chắc chắn
hơn, ví dụ Thống tướng Pennequin, cách nay gần bốn chục năm, đã từng đoán định
sự thế tất nhiên mai sau, cho nên ngay hồi bấy giờ, ông đã chủ trương chính
sách khai hóa dân Việt Nam một cách rộng rãi và nên tổ chức ra quân đội Việt
Nam hẳn hoi, để mai sau hợp lực với người Pháp giữ lấy quê hương đất nước này,
chống ngăn cái làn sóng tham tâm vô yếm[3] của đế quốc Nhật Bản.
Nhiều lần trên mặt báo
chí, tôi vẫn nhắc nhở tán thành cái chính kiến đó mãi.
Với giống người đông như ổ
kiến mà chen chúc nhau, thiếu ăn nghẹt thở, thế tất phải xâm lấn tràn lan ra
chung quanh cho được sinh tồn: với giống người thuở nay chỉ quen đánh úp người
ta một cách bất ý vô tình, chứ không hạ chiến thư trước bao giờ, vậy tưởng xóm
giềng lân cận như mình phải lo thủ thân[4] giữ miếng luôn luôn mới được.
Tóm lại, cuốn sách tầm
thường này chỉ do mấy cái quan niệm đã giải tỏ trên đây mà viết ra.
Không hiểu tại sao Nhật Bản
được văn minh hùng cường mau lẹ quá?
Ấy là một câu thường nghe
nhiều bà con mình hỏi nhau.
Việc gì ở đời cũng phải
có nhân quả tương sinh mới phát hiện ra được. Nói chuyện Nhật Bản duy tân tức
là nói một chuyện nhân quả.
Phải, họ duy tân được là
bởi họ có đủ tư cách lực lượng cần dùng, chứ không phải là một sự may mắn, ngẫu
nhiên, theo như nhiều người lầm tưởng. Do sự xem xét vội vàng, nhiều người lầm
tưởng quốc thế của Nhật Bản cũng như Xiêm La: chỉ là may mắn mà được độc lập tự
tồn giữa lúc các quốc gia chung quanh đều bị chinh phục và giữa lúc những làn
sóng Âu Mỹ xâm lược đổ tràn qua Đông Dương dữ dội. Trái hẳn lại, theo tôi tin
chắc, giữa thế kỷ XIX, nếu liệt cường Âu Mỹ muốn lấy Xiêm La làm thuộc địa, thật
dễ dàng như trở bàn tay, nhưng nếu muốn chinh phục Nhật Bản, chắc là không được.
Vì Nhật có tư cách lực lượng để độc lập tự tồn. Tư cách lực lượng ấy như là hạt
giống đã nằm sẵn ở dưới lớp đất rồi, đến lúc gặp thời tiết thúc giục, tự nhiên
nó phải nảy mầm đâm ngọn mà trồi đầu lên thành cây.
Bởi vậy, độc giả mở sách
ra, sẽ thấy một chương đầu hết, tôi không ngại gì phải viết dài dòng nhiều giấy,
là cốt bày tỏ ra vì sao trong lúc ba bề bốn bên ai nấy đều yếu hèn mất nước, mà
chỉ một mình Nhật Bản duy tân tự cường được như ngày nay, nhờ họ sẵn có những
mầm hay giống tốt thế nào? Phải biết từ xưa, dân tộc họ đã có nhiều cái tính
cách đặc biệt: thượng võ, hiếu chiến, tự tôn, rất trọng danh dự, coi chết như
không. Về văn hóa tuy là họ cũng làm đệ tử Nho giáo và văn tự Trung Quốc, nhưng
họ biết lựa chọn để dựng lên một nền văn hóa riêng. Ai nhắm mắt theo càn, cả từ
văn tự, khoa cử, từ chương, chế độ, thì họ biết rút lấy tinh hoa, biết
dung hợp, để lập ra một nền giáo dục thiết thực riêng, tự đặt lấy một lối văn tự
riêng, chứ không chịu bắt bóng theo đuôi, người sao ta vậy. Ai say mê thờ kính
mãi học thuyết Tống Nho, thì họ biết châm chước tùy thời và đón rước những cái
học “Tri hành hợp nhất” và “Minh tâm kiến trí” của Vương Dương Minh. Ngay hồi
Âu hóa chưa sang Đông, chỉ có năm ba thương gia giáo sĩ Tây dương phiêu lưu mạo
hiểm qua đây, người Nhật đã biết lần mò dò hỏi về tình thế thiên hạ và học mót
những thuật làm thuốc, thuật đúc súng, luyện quân của người ta, chứ không cố chấp
tự kiêu như ai, một lúc có phúc đã được người Tây dương qua tận nhà mình cứu
giúp và bày tài nghề ra trước mắt mình mà không biết mở mắt bắt chước!
Rồi đến giữa thế kỷ XIX,
ngó thấy sức mạnh của Tây phương dồn dập sang Đông, có thể lấn lướt cả những Cù
lao Cửu Châu Tứ Quốc 九州四国
[Kyushu Shikoku], người Nhật tự nghĩ nếu mình không mau tự cường bình đẳng với
Tây phương, tất cũng mang họa vong quốc như ai. Ấy là lúc mầm giống nằm sẵn dưới
lớp đất sâu đã được thời tiết thúc giục cho nứt mộng trồi đầu lên trên. Tức thời,
từ triều đình, mạc phủ, quan lại, cho đến sĩ phu, hào kiệt, nhân dân, hết thảy
đều tỉnh giấc thủ cựu, dốc lòng tự tán, ai nấy hăm hở như nhau. Dân tộc đã sẵn
có tư cách lực lượng rồi, lại được vua quan sĩ thứ đồng tâm nhất đức, thành ra
ngày nay hô lên, ngày mai làm liền, công cuộc duy tân phăng phăng đi tới như
sóng tràn gió thổi: con đường văn minh Âu Mỹ đi chậm rãi trên ba thế kỷ, người
Nhật rút lại có ba chục năm!
Muốn thì được; thật người
Nhật đã biết muốn văn minh, quyết lòng tự cường, họ đã được văn minh tự cường
đó. Bao nhiêu ý chí và nghị lực của con người ta, phô bày ra một mực rất cao.
Chính họ đã treo lên lớn bự chói lòa một tấm gương “sống chết tự mình” cho tất
cả những quốc gia suy vi, những dân tộc hậu tấn trong thiên hạ cùng soi, nên
soi!
Vậy thì cuốn sách này
chính là một cuốn sách nên viết ra; mà viết ra chắc không đến nỗi vô ích cho quốc
nhân đồng bào thì phải.
ĐÀO TRINH NHẤT
(Saigon, Octobre 1936)
❀ ❀ ❀
[1] . Công lệ: Cách thức
chung được mọi người đều nhìn nhận, đánh giá. (BT)
[2] . Toàn bộ các chữ
trong [ ] đều là của biên tập viên.
[3] . Tham lam cùng cực,
không gì có thể ngăn trở được. (BT)
[4] . Bảo vệ thân mình.
(BT)
Chương I. BA NGUYÊN DO LỚN
Thử mở hết lịch sử nhân
loại ra mà coi, đông tây kim cổ, có quốc gia nào chỉ sửa sang thay đổi trong 30
năm mà được mới hẳn mặt mày, trở nên tốt đẹp, như là Nhật Bản vậy không?
Khắp các dân tộc ở trong
thiên hạ thế giới xưa nay, không hề ai thấy dân tộc nào có cái lịch sử tấn hóa
tự cường một cách vẻ vang, một cách lạ lùng, một cách mau chóng cho bằng dân tộc
Nhật Bản.
Mạnh bạo vẻ vang?
Phải.
Bao nhiêu quốc gia dân tộc
lớn nhỏ ở Đông phương mình, đến giữa thế kỷ XIX, là lúc bàn cờ thiên hạ đã xoay
ra cái thế “mạnh được yếu thua, khôn sống mống chết” rõ ràng lắm rồi, thế mà vẫn
còn mơ màng không tỉnh, một mực giữ riết những thứ hủ bại hèn yếu như xưa,
thành ra lần lượt trước sau bị các cường quốc Thái Tây qua chinh phục lợi dụng
hết thảy. Nhật Bản ở Đông phương cũng đang là một nước trong các nước hủ bại
hèn yếu đó, bỗng chốc nổ vang như tiếng sét đánh, họ nổi lên duy tân hùng cường
một cách thật là oanh liệt. Trải 30 năm ra sức sửa mình, mau chân lẹ bước, Nhật
đuổi theo kịp Âu châu trên đường văn minh, rồi cùng một nước rất mạnh của Âu
châu thử sức đánh nhau mà Nhật đại thắng, làm cho tai mắt tâm hồn cả thế giới đều
phải rúng động kinh hoàng. Cho đến hiện nay, về binh lực, về cơ khí, về học thuật,
về công nghệ… mặt nào Nhật cũng dư sức cùng các cường quốc Âu Mỹ thích cánh
chen chân mà đứng vào hàng thứ nhì trong thiên hạ.
Nói cho phải, thực sự nhờ
có Nhật Bản tự cường và tranh giành với Âu Mỹ được như thế, thành ra giống da
trắng cũng bớt lên mặt coi rẻ giống da vàng; trái lại, còn lo sợ nay mai có cái
họa da vàng (péril jaune) nữa là khác.
Mau chóng lạ lùng?
Phải.
Y như câu chuyện nghề võ
đánh trả thầy. Con đường văn minh khoa học của người Thái Tây hao tốn biết bao
tâm lực công phu, trải ba bốn thế kỷ xây đắp mới nên, và đi lần hồi từng bước,
trải ba bốn thế kỷ bặt thiệp mới tới. Ai không nghĩ rằng những kẻ khác có giỏi
học mót theo sau, cũng chẳng khi nào mau chóng tới mức kịp thầy cho được. Thế
mà Nhật Bản phăng phăng sấn bước, chỉ trong vòng 30 năm là họ đủ theo kịp Âu Mỹ
và dựng lên được cái lâu đài văn minh khoa học cũng đẹp lộng lẫy như của Âu Mỹ
vậy. Rồi thì “quơ lấy gậy ông, đập lưng ông, lấy ngay giáo giặc để đâm giặc”,
bây giờ họ đem ngay những cái đã học của Âu Mỹ ra đua chọi tranh giành với Âu Mỹ.
Thử coi lâu nay Nhật Bản có binh lực khiến cho Âu Mỹ phải kính nể, kiêng dè;
còn các đồ công nghệ chế tạo họ đem qua bày đầy ở giữa thị trường Âu Mỹ mà bán
cạnh tranh giá rẻ, làm cho Âu Mỹ phải rên!
Một dân tộc, một quốc gia
đang ở trong vòng yếu hèn cũ kỹ mà thay đổi thành ra một nước giàu mạnh mới
khôn, người ta gọi đó là cuộc tấn hóa. Lẽ thường, cuộc tấn hóa phải đi lần hồi
từng chặng, từng bước. Nhưng cuộc tấn hóa của Nhật Bản đã thực hành và thành
công một cách mau lẹ quá thế, ta phải bảo là họ chạy, họ nhảy, họ bay; cũng có
thể nói là họ xẹt một cái như chớp nhoáng mà tới cõi văn minh phú cường, chứ có
phải họ đi từng chặng từng bước gì đâu!
Thật vậy, thử mở hết lịch
sử nhân loại ra mà coi, đông tây kim cổ, có dân tộc nào chỉ rong ruổi trong 30
năm mà theo kịp người ta trên con đường văn minh người ta đã đi ba bốn thế kỷ
không? Có quốc gia nào chỉ sửa sang thay đổi trong 30 năm mà được mới hẳn mặt
mày, trở nên tốt đẹp, như là Nhật Bản vậy không?
Ai cũng phải nói rằng
không. Ai cũng phải chịu rằng xưa nay chỉ thấy có một mình Nhật Bản được vậy mà
thôi.
VIỆC GÌ CŨNG CÓ
NHÂN QUẢ
Bởi vậy, tất ai cũng phải
lấy làm lạ lùng nóng nảy, không biết Nhật Bản có những lực lượng gì và căn
nguyên vì đâu mà cuộc duy tân hùng cường mau lẹ quá chừng như thế?
Cố nhiên là họ nhờ có vua
quan tài giỏi khôn ngoan, có dân tâm sốt sắng hăng hái, mới hiểu biết những chỗ
bắt buộc cần dùng của phong trào, của thời thế mà mạnh bạo tự tân tự cường cho
mau. Đó là một lẽ căn bản. Song ở trên cái căn bản hiện tại này còn có những
cái căn bản dĩ vãng xa xôi khác. Ấy là tinh thần dân tộc, là lịch sử quốc gia,
Nhật Bản vẫn khác lạ hơn người ta; như là họ có sẵn mầm giống tốt đẹp chất chứa
từ lâu rồi, đến nay gặp được công phu vun trồng, thời tiết thúc giục, làm cho mầm
giống đó dễ đâm chồi nảy nhánh ra và rồi mau trổ bông tươi kết trái tốt vậy.
Trên đời, có vật gì không
thai mà nên hình, có việc nào không nhân mà có quả cho được. Bởi thế, ngày nay
nếu ta muốn biết vì sao Nhật Bản duy tân được mau lẹ vẻ vang thế kia, thế nào
cũng nên xét qua về lịch sử quốc gia và tinh thần dân tộc của họ trước hết. Họ
có cái kết quả rực rỡ như hôm nay vốn là nhờ có nhiều cái nguyên nhân đã ươm từ
đời trước.
Theo ông Bá tước Đại
Ôi Trọng Tín 大隈重信 [Oukuma
Shigenobu] thì nguyên nhân ấy có ba.
Tôi xin giới thiệu liền để
độc giả biết rằng Đại Ôi Trọng Tín là một người có dự phần công lao rất
lớn trong cuộc Minh Trị Duy Tân và đã chứng kiến tất cả thời đại vẻ vang ấy từ
đầu tới cuối. Ban đầu, ông kêu gào duy tân cải cách rất là hăng hái; sau bước
vào trong chính giới hoạt động, trở nên một bậc yếu nhân, khi làm Tham nghị triều
đình, khi làm Nội các Tổng lý. Lúc ở đàn chính trị bước xuống thì ông lo việc
giáo dục, tự mở ra một trường đại học có chủ nghĩa cao, quy mô lớn[1] cốt để
rèn tập nhân tài cho nhà nước dùng. Chính ông soạn ra bộ sách Khai quốc
ngũ thập niên sử 開國五十年史,
1500 chương, biên chép công việc duytân từ trước đến sau, đầy đủ, rõ ràng. Nay
tôi viết ra cuốn sách tầm thường để hiến độc giả đang coi đây, ngoài ra những
tài liệu góp nhặt ở nhiều nơi khác một phần lớn là nhờ nơi tài liệu trong sách
của họ Đại Ôi vậy.
Đại Ôi nói rằng Nhật
Bản được biến hóa cường thịnh như ngày nay tuy có nhiều nguyên nhân, song bao
nhiêu nguyên nhân gì cũng đều quy tụ cả vào ba điều cốt yếu sau đây:
Nối dõi Thần quốc, bền vững
nguyên lành.
Dân tộc nhờ địa lý thiên
nhiên mà sinh ra có nhiều tính chất đặc biệt.
Chế độ phong kiến gây nên
những cuộc chia đất tranh hùng, chống chọi ganh đua nhau luôn luôn, thành ra
rùi mài un đúc được chí bền sức mạnh và nảy ra lắm tài khéo tính khôn.
Đó là ba cái điều kiện
thiết yếu, theo họ Đại Ôi, làm nền móng sâu xa cho cuộc duy tân Nhật Bản
ngày nay. Trong bài tổng luận cuốn Khai quốc ngũ thập niên sử tác giả
đem những tài liệu chứng cứ ra giải bày ba việc trên đây thấu suốt và lý thú lắm.
Tôi dựa theo đó và phụ thêm nhiều kiến văn góp nhặt ở ngoài, lược thuật ra mấy
đoạn sau này, để cho độc giả trước hết nên biết cuộc phát triển tự cường của Nhật
Bản vốn có nguồn gốc sẵn sàng từ xưa ra thế nào?
[1] . Tức là trường Tảo Đạo
Điền đại học 早稲田大学
– Waseda Daigaku ở Tokyo ngày nay.
1. Nối dõi thần quốc
Sự tin tưởng của người
ta, tuy cùng một tên, nhưng mà khác thể: có sự tin tưởng chỉ là mê hoặc, sinh
ra có hại; có sự tin tưởng chính là dấu hiệu của lý tính, của tinh thần, của
cái gốc sinh tồn hoạt động ở đời; sự tin tưởng ấy thành ra cần dùng và có lợi.
Phàm người có ôm giữ
trong óc một điều tin tưởng gì đúng đắn vững vàng, ta thường thấy họ đi trên đường
đời ít khi vương nhằm những nỗi trắc trở sai lầm, mà công việc họ làm cũng dễ
thành công kết quả. Một dân tộc cũng thế. Ta xem dân tộc Nhật Bản tin tưởng họ
là Thần quốc mà có những ảnh hưởng lợi ích cho quốc gia dân tộc họ ra sao thì
biết.
GỐC TÍCH THẦN QUỐC
Thật vậy, người Nhật tin
rằng nước họ là Thần quốc 神國,
nghĩa là một nước do thần dựng lên.
Tuy là một chuyện viển
vông mù mịt, nào có gì làm bằng, nhưng vậy mà trong tâm não người Nhật xưa nay
lớn bé trẻ già, ai cũng đều tin tưởng như thế; tin tưởng một cách chắc chắn, vững
vàng, lại còn có vẻ tự cao nữa là khác.
Theo quốc sử Nhật Bản,
nguyên là 3000 năm về trước, trên trời có ba vị thần hiển linh:
Thiên ngự trung chủ tôn 天御中主尊 Amenominakanushi no mikoto
Cao hoàng sản linh tôn 高皇産霊尊 Takamimusuhi no mikoto
Thần hoàng sản linh tôn 神皇産霊尊 Kamumimusuhi no mikoto
Ba vị thần xuống phàm
kinh doanh thống trị ở trên tám cù lao Nhật Bản. Thần “Thiên ngự trung chủ” làm
chúa tể, ở ngôi chính thống, là đức nguyên tổ của các Thiên hoàng (Mikado 天皇), nước Nhật về sau. Còn hai vị thần “Cao
hoàng sản linh” và “Thần hoàng sản linh” thì là ngoại tổ của Thiên hoàng. Thuở
đó ba vị thần kết hôn với nhau, sinh nở ra thần con thần cháu, dòng dõi phồn thịnh.
Duy có dòng dõi thần “Thiên ngự trung chủ” là dòng dõi chính thống chân truyền
đời đời nắm quyền thống trị nước Nhật; còn dòng dõi hai thần kia thì làm các chức
lớn, phò trợ nhà vua, như là tể tướng, chư hầu, tướng quân… Thành ra vua Nhật
là con cháu chính tông của thần đã đành, mà đến các quý tộc danh gia trong nước
cũng là con cháu của thần nữa.
Cách sau mười mấy đời
truyền nối dòng dõi của ba vị thần nói trên đây, tới “Thiên Chiếu đại thần 天照大神 Déesse Amaterasu Omikami, tục gọi là Nữ
thần Mặt trời, hay là thần Quốc tổ 國祖,
vì chính thần tạo lập ra ngôi vua nước Nhật xưa nay.
“Thiên Chiếu đại thần”
sai vị thần cháu ngài hóa sinh hình người, lên ngôi vua thống trị nước Nhật;
khi đó ngài ban cho hoàng tôn ba món thần khí, là một cái gương, một thanh kiếm,
một hòn ngọc, và có lời dạy rằng: “Ngôi báu này, con cháu của thần chính tông đời
đời truyền nối nhau, cùng trời đất trường sinh vô tận”. Từ đó Nhật Bản dựng
thành quốc gia và có vua cầm quyền trị dân một cách chính thức. Ba món thần khí
là cái dấu tỏ thiêng liêng quý báu của nhà vua, từ xưa đến nay, mỗi đời Thiên
hoàng lên nối ngôi trị vì, trước hết có cuộc tế lễ rất tôn nghiêm, để bái lĩnh
ba món thần khí này, tức là vật truyền quốc chi bảo vậy. Mỗi món thần khí chỉ tỏ
ra một đức tính:
Ngọc Bát bản quỳnh
khúc 八 阪 瓊 曲 玉
tỏ ra đức nhân ái từ bi;
Gương Bát chỉ 八 咫 鏡 tỏ ra đức trong sạch sáng suốt;
Kiếm cỏ trĩ 薙 草 劍 tỏ ra sức mạnh bạo cả quyết.
Vị hoàng tôn vâng mệnh
“Thiên Chiếu đại thần” lên ngôi trị vì, khai sáng nền quân chủ Nhật Bản là Thần
Võ thiên hoàng 神武天皇
[Jimmu Tennou]. So sánh với Tây lịch, thì ngài tức vị vào khoảng trước Thiên
Chúa giáng sinh 660 năm; so sánh với Hoa lịch, thì ngang vào năm thứ 17 của
Châu Huệ vương; còn so sánh với nước Nam ta, thì phỏng chừng vào lúc cuối đời
Hùng Vương 16 hay là Hùng Vương 17, lối đó.
Vậy là Thần Võ thiên
hoàng chính là thủy tổ của Chiêu Hòa thiên hoàng, đức vua đang tại vị của Nhật
Bản ngày nay. Tính cộng triều vua từ Thần Võ tới Chiêu Hòa, 124 đời, tính năm
thì tới nay (1936) được 2.596 năm. Thế là từ khi Nhật Bản dựng nước có vua đến
giờ, chỉ có một dòng họ truyền nối làm vua, chứ không có sự thay triều đổi họ
như các nước khác.
Trên kia đã nói Nhật là
nước của Thần tạo lập ra, và vua Nhật là dòng dõi chính truyền của thần, cho
nên phàm là người Nhật, ai cũng tin tưởng, kính thờ, tôn trọng, không được xâm
phạm hay là nghi hoặc bao giờ. Sự tin đó chôn chặt vào trong tim óc người Nhật
cứng như đinh đóng vậy.
Ai có ý bất kính hay là
hoài nghi, kẻ ấy phạm tội rất lớn. Còn nhớ cách nay 30 năm, một nhà bác học đại
danh là ông Koumei, giáo sư ở trường Đế Quốc đại học tại Đông Kinh ngỏ ý nghi
hoặc về gốc tích Thần Võ khi xưa không phải là Thần, tức thời ông bị cách chức.
Lại năm 1926, cũng vì câu chuyện đó, mà ông bác sĩ Tetsu Onjiro bị cách chức
nghị viên trong viện Quý tộc. Một vài chứng cớ như thế đủ chỉ tỏ cho ta thấy
người Nhật tin tưởng về cội rễ quốc gia quân chủ của họ một cách thành kính vững
vàng ra sao vậy.
Giờ ta thử xét sơ coi sự
tin tưởng đó có những ảnh hưởng hay cho lịch sử quốc gia Nhật thế nào?
KHÔNG CÓ CÁCH MẠNG
Thuở xưa, kẻ làm quân chủ
hay lấy thần quyền làm khí cụ, nghĩa là bày đặt nương dựa vào sức quyền thiêng
liêng của thần thánh để cho dễ cai trị sai khiến muôn dân. Ta coi không mấy nước
ban đầu mới có quốc gia lịch sử mà không ỷ thị thần quyền làm gốc. Song về sau
ngôi vua nước nào cũng có những sự tranh giành mà thay triều đổi họ luôn luôn,
chứ không hề thấy nước nào có một dòng họ giữ lấy ngôi vua mãi được.
Chỉ duy có Nhật Bản, từ
khi lập quốc đến nay, gần 2600 năm, và trải 124 triều vua, đều là con cháu
của Thần Võ thiên hoàng một dòng truyền nối mà thôi. Vì lòng dân xưa nay tin chắc
rằng nước họ là Thần quốc, vua họ là Thần tôn (con cháu của thần), vậy cái ngôi
chí tôn chỉ có dòng dõi của thần mới là xứng đáng và muôn đời không thể đổi
thay, cũng không ai được xâm phạm tới; trái lại, ai cũng phải kính thờ ủng hộ.
Bởi vậy, thuở nay Nhật Bản
không có cách mạng bao giờ; thực là một sự lạ lùng đặc biệt của họ.
Cách mạng nói đây, nghĩa
là một cuộc mưu toan đánh cướp hay đổi thay ngôi quyền thống trị. Ấy là việc
thay triều đổi họ làm vua; nước nào trong thiên hạ cũng có trải qua cảnh đó năm
lượt bảy phen; chỉ có nước Nhật là không.
Tuy là xưa kia Nhật Bản
cũng có một vài kẻ gian thần giết vua, và chính trong hoàng tộc cũng từng xảy
ra cái nạn tranh ngôi hại lẫn nhau chứ chẳng phải không, nhưng vậy mà trong nước
không hề vì đó mà đến đỗi có những cuộc rối loạn nổi lên. Có lúc dòng vua hầu
tuyệt rồi cũng trở lại phồn vinh như cũ. Có lúc họ Đằng Nguyên 藤原 [Fujiwara] cũng là một dòng dõi của thần
lập ấu chúa, cầm đại quyền, nếu như ở nước khác thì dễ sinh ra việc đoạt quyền
thoán vị như chơi, song họ Đằng Nguyên thì vẫn thờ vua một cách cung kính. Cho
tới về sau, luôn mấy trăm năm, Thiên hoàng ở ngôi chỉ như phỗng đá, làm vua hư
danh vậy thôi, bao nhiêu đại quyền trong nước đều về tay tướng quân nọ tướng
quân kia kế tiếp nhau nắm giữ, gọi là Mạc Phủ tướng quân 幕府将軍 [Bakufu Shogun] giống như kiểu “vua Lê
chúa Trịnh” ở lịch sử nước Nam ta. Song đời họ nào làm tướng quân cũng vẫn dốc
lòng tôn kính hộ vệ Thiên hoàng, chứ không một ông nào dám có ý dòm ngó ngôi
báu. Những lúc như thế, ở nước khác có thể đổ bể ra bao phen cách mạng rồi,
nhưng ở nước Nhật thì yên ổn như thường.
Đến lúc ban đầu Minh Trị
duy tân, nhà nước sửa sang thay đổi mọi việc, tuy có một vài hào kiệt chí sĩ
nóng nảy dấy binh làm dữ, có người cho đó là việc cách mạng, nhưng kỳ thực chỉ
là việc hối thúc nhà nước cải cách cho mau, và đối phó với ngoại bang cho cứng
cáp mà thôi, chứ kẻ dấy binh đó bản tâm không có chỗ nào phản nghịch Thiên
hoàng hay làm hại quốc gia. Bởi vậy đời Minh Trị sửa mới luật pháp, không cần để
khoản trị tội phản nghịch vào, mà những tội trái lệnh vua hay quốc sự phạm cũng
coi như tội cách mạng ở các nước khác.
KHÔNG BỊ NGOẠI XÂM
Dân Nhật do nơi sự tin tưởng
mình là Thần quốc mà sinh ra lòng tự tôn; do nơi lòng tự tôn mà sinh ra sức tự
vệ rất mạnh, không chịu để cho ai xâm phạm tới Thiên hoàng và không chịu ai ở
ngoài tới lấn hiếp đất nước non sông của họ được.
Lịch sử quốc gia của họ
trải hai ngàn mấy trăm năm, bị giặc ngoài tới đánh trước sau bốn lần:
Đời vua Khoan Nhân [寛仁 Kannin] (Tây lịch năm 1019) bị giặc Khiết
Đan. Đời Văn Vĩnh [文永
Bunei] (1274) bị giặc Nguyên. Đời Hoằng An [弘安
Kouan] (1284) cũng bị giặc Nguyên nữa. Đời Ứng Vĩnh [応永 Ouei] (1418) thì bị Mông Cổ kéo binh qua
đánh. Thế mà lần nào họ cũng đánh giặc phải lui.
Thuở đó có dân nào hùng
cường cho bằng Mông Cổ, dòng dõi của Thành Cát Tư Hãn 成吉思汗 là người anh hùng oanh liệt, đã quét sạch
Á châu, lại đem binh qua đánh tới Âu châu, khiến cho Âu châu bây giờ nhắc tới vẫn
đang lo sợ cái vạ “da vàng”. Dòng đó đã chinh phục Trung Quốc, làm vua Trung Quốc
rồi (tức là nhà Nguyên 元),
bèn thừa thế đem chiến thuyền qua đánh Nhật Bản, nhưng bị thủy quân Nhật nhân
được sức gió mà đánh lại binh Nguyên thua chạy không kịp[1].
Thế là xưa nay không có
người khác nước nào tới xâm lăng đất nước Nhật Bản đặng, vì họ cho đất nước họ
là Thần quốc, dòng giống họ là Thần tôn, nên họ ra sức tự vệ, không chịu ai ăn
hiếp được họ. Nói gì 70 năm nay, duy tân hùng cường rồi, họ chỉ đánh người ăn
người thì có, chứ không biết chữ “thua” là nghĩa thế nào?!
ẢNH HƯỞNG VỀ TÂM TÍNH
Dân Nhật là một giống dân
chuộng sự sạch sẽ nhất trong thiên hạ, không ai không biết.
Sở dĩ họ có cái đặc tính
đó, hoặc do địa lý phú tính tự nhiên cho họ, song xét đến cội rễ cũng bởi nơi
dân tâm rất mực tin thần kính thần mà ra. Họ nói thần rất ghét sự dơ dáy, tránh
sự ồn ào, bởi vậy mình kính thần tất phải giữ sao cho tấm thân mình tinh khiết
thanh tịnh luôn luôn mới được. Đó là một cái gốc giáo hóa của Thần quốc
ngay từ thuở xưa, rồi sau thành ra phong tục của xã hội, thiên tính của quốc
dân, coi sự tinh khiết thanh tịnh, như một nền đạo thiêng liêng, ai nấy phải tu
phải giữ vậy.
Ta nên biết thần ở trong
tâm não người Nhật tin tưởng, khác hẳn ý nghĩa với thần của nhà tôn giáo; mà
cách họ kính thần cũng không giống cách dân Tàu hay dân Nam mình kính thờ vậy
đâu. Người Nhật đối với thần, thờ kính thần, nhưng không hề có ý khấn vái lạy lục
để thần làm cho mình thỏa sự dục vọng gì, hay là cầu lấy sự phúc lợi riêng cho
mình; nghĩa là họ không thờ thần hầu trông có những sự lợi thân ích kỷ; trái lại
họ chỉ sợ mình không được thanh khiết, đến đỗi bị thần ghét bỏ mà thôi. Tóm lại
cái thâm ý của họ kính thần là lo tu thân, chứ không phải cầu lợi.
Đạo kính thần của họ cần
nhất là mỗi người lo giữ sáu căn cho được trong sạch 六根清浄. Sáu căn là: tai, mắt, mũi, miệng, thân
và tâm. Họ nói rằng nếu như giữ được sáu căn trong sạch, không có một điểm nhơ
bẩn nào dính vào, và sáu căn bao giờ cũng sáng suốt như thủy tinh, vậy thì mình
có thể ở yên giữa trời đất thanh tịnh, rồi tự nhiên được thần ban phúc cho, chứ
tự mình không phải khấn vái cầu cạnh chi hết.
Coi một chút vậy đủ biết
Nhật Bản từ xưa đã có một nền văn minh tinh thần khá lắm rồi. Vả lại họ sẵn có
tục kính thần, cho nên trải mấy ngàn năm trong lịch sử, dễ hấp thụ lấy những
văn hóa ngoại bang đưa tới. Đạo giáo, Nho giáo và Phật giáo của Trung Quốc và Ấn
Độ truyền sang, người Nhật đều đón rước dung hòa, lựa chọn lấy những cái sở trường
của người ta để làm ra cái đặc sắc của họ. Cho tới lúc họ gặp văn minh Thái Tây
truyền qua cũng thế.
Ông Đại Ôi Trọng
Tín phán đoán cuộc duy tân tấn hóa của đồng bào ông bằng câu sau này, tôi
tưởng đúng lắm:
“Phàm vật gì trắng tinh sạch
sẽ thì chất của nó dễ cảm hóa chịu đựng. Người Nhật nhờ có tinh thần thanh tịnh
sẵn sàng, cho nên đến lúc tiếp rước đặng văn minh ngoại bang đem lại, là có thể
xem thấy chỗ tốt đẹp mà lựa chọn bắt chước liền, chứ không nghi nan do dự chút
nào. Tâm não người Nhật không chứa cái tính cố chấp của nhà tôn giáo, thành ra
như nước trong suốt, đựng trong cái bình bằng pha lê cũng trong suốt, nay lấy
màu sắc mà rót vào, tự nhiên thấy vẻ hồng hào tốt đẹp lộ ra được ngay. Sở dĩ
người Nhật dễ tấn tới về vật chất và tinh thần là tại vậy đó”.
❀ ❀ ❀
[1] . Quân Nguyên thời ấy
hùng cường vậy đó mà xâm lăng Nhật bị Nhật đánh thua, kéo qua đánh nước Nam ta
cũng bị ta đuổi chạy. Hai phen vị anh hùng Trần Hưng Đạo ta đại thắng binh
Nguyên, ấy là một việc võ công vẻ vang nhất cho lịch sử và nòi giống ta, chắc đồng
bào đều ghi nhớ, mà cũng nên có chỗ cảm thán vô cùng.
2. Địa lý giúp người
Ngoài ra, quan niệm cao
xa của người Nhật kính thần tin thần, như đoạn trên đã nói, tới địa lý cũng là
một sức mạnh tự nhiên, nó giúp công góp lợi vào cuộc phát triển tấn hóa của họ
một cách lạ lùng, ta không nên không xét.
ĐỊA LỢI VÀ THIÊN THỜI
Mạnh Tử cho thiên thời, địa
lợi, nhân hòa là ba việc cần dùng lợi ích cho một dân tộc có thể hưng vượng,
thì ra Nhật Bản có đủ cả ba.
Nhật Bản hiệp liền nhiều
cù lao lớn nhỏ liền khít nhau mà thành ra một nước ở riêng hẳn ngoài biển, cách
biệt đại lục (大陸, continent) vừa
chừng, không xa quá mà cũng không gần quá. Nước Nhật chiếm được địa lợi đó rất
hay.
Nhất là cù lao chính, chỗ
đóng quốc đô, khí hậu bình thường mà ở cách đại lục khá xa; còn nơi ở gần đại lục
hơn hết, chỉ là mấy cù lao bé nhỏ Nhất Kỳ (壱岐
Ikino) và Đối Mã (対馬 Tsushima)
ngó ngay qua đồi đất Cao Ly. Tuy gọi là gần, nhưng cũng không đến đỗi quá gần,
như là Hồng Mao[1] đảo quốc gần với đại lục Âu châu: Hai bên phân cách nhau do
một khu biển nhỏ hẹp, thành ra hôm nào trời quang mây tạnh, bờ bên này có thể
ngó thấy rõ bờ bên kia.
Bởi địa thế Hồng Mao ở gần
khít đại lục, cho nên thuở xưa thường bị các dân tộc ở đại lục tràn qua chinh
phục. Còn Nhật Bản thì ở xa cách đại lục, không ngó thấy nhau được, mà chính
khoảng phân cách lại là biển rộng sóng to, không phải hẹp hòi êm lặng như biển
Manche kia, cho nên thuở xưa người Nhật mới đầu lập quốc, dân ở đại lục kéo qua
thực dân, rồi đồng hóa với Nhật thì có, chứ đem binh qua chinh phục thì không.
Xưa kia Nhật Bản có thể
khóa “cửa” đất nước họ lại mà tự trị tự tồn, cũng có chỗ quan hệ bởi gió thổi
mà ra. Ven biển xứ họ, hằng năm tới kỳ xuân hạ có gió mùa thổi mạnh, làm cho biển
dậy sóng lớn, ghe thuyền không lui tới đặng. Qua mùa đông mới êm; lúc ấy mới có
ghe thuyền của người Âu châu và người Tàu ra vào buôn bán. Đời nay, nghề hàng hải
có tàu bè máy móc vừa mạnh vừa mau, chẳng kể gì sóng gió, chứ đời xưa, sóng gió
đối với cuộc sinh tồn của Nhật Bản có quan hệ lớn lắm. Bởi nhờ có sóng gió
ngoài biển mà làm bức thành ngăn cản ngoại địch, nên chi mỗi năm họ chỉ phải lo
giữ gìn đất nước trong sáu tháng mà thôi. Còn sáu tháng kia đã có sóng gió giữ
giùm, họ được yên tâm lo việc sinh tồn giáo hóa trong nước vậy.
NHIỀU THỨ MÁU TRỘN
CHUNG MÀ THÀNH GIỐNG NGƯỜI NHẬT
Thế giới có hai đảo quốc
đều hùng cường là Hồng Mao và Nhật Bản; cả hai có gốc phát tích về chủng tộc thật
là giống nhau: Hai đàng cũng do những dân tộc ở đại lục tràn qua cù lao mà sinh
nhai đồng hóa rồi sinh ra một giống người riêng.
Chỉ có chỗ khác nhau là một
đàng trộn ít máu, còn một đàng trộn rất nhiều máu. Hồng Mao chỉ có mấy giống
dân Normands, Saxons và Celtes ở đại lục qua xâm lược, lâu ngày mấy giống đó
dung hợp rồi đồng hóa với nhau thành ra dân tộc Hồng Mao gọi là “Ăng lô Sắc
xông” (Anglo Saxons) hùng cường ở thế giới ngày nay; còn dân tộc Nhật Bản thì
phát nguyên bởi cả chục giống người kết hợp lại mà hóa ra.
Đời Thượng cổ, chính giống
người Ái Nô (靉奴 Ainos) là thổ dân
ở rải rác khắp các cù lao Nhật Bản. Sau có các dân tộc ở ngoài tới xâm chiếm đất
đai, đánh giết người Ái Nô bị tiêu diệt lần mòn, còn sót lại bao nhiêu thì phải
thụt lùi mãi về mấy cù lao ở phía Bắc (Bắc Hải Đạo 北海道 [Hokkaido]). Bây giờ ở đó còn sót lại
chừng vài muôn người giống Ái Nô mà thôi.
Thuở xưa có nhiều giống
dân từ đại lục và đất xa tới sinh tụ khai thác đất Nhật Bản, nhưng kể mấy giống
trọng yếu thì là người Hàn, người Mã Lai [Malaysia], người Ấn Độ, người Mãn
Châu, người Mông Cổ. Xưa kia việc giao thông hàng hải, biết bao nguy hiểm, gian
nan, thế mà mấy giống người đó dám vượt biển, qua thực dân ở cù lao Nhật Bản, ấy
đều là hạng người giàu lòng mạo hiểm, có tài kinh doanh, chứ không phải là bọn
tầm thường xiêu dạt đâu.
Chắc họ đã biết quần đảo
Nhật Bản có địa lợi thiên thời rất thuận tiện, rừng biển đất đai có vật sản rất
phong phú, nên chi họ mới kéo nhau qua khai khẩn sinh nhai. Ban đầu mỗi giống
dân còn chia ra từng bộ lạc riêng, rồi lần hồi về sau họ hỗn hợp lại, họ đồng
hóa với nhau. Giống người gọi là Nhật Bản dân tộc chính do cuộc hỗn hợp đồng
hóa lâu đời của các giống kia mà đẻ ra. Nói rằng nhiều thứ máu trộn chung lại
mà đúc ra giống dân Nhật là vậy đó.
Người Nhật vẫn cho sự hỗn
hợp mà thành ra dân tộc họ, có cái cớ quan hệ bởi địa lý là nhiều hơn hết.
Chính địa lý đã lựa lọc lấy những tính chất và tinh thần tốt của các giống người
kia mà rèn đúc ra tính chất và tinh thần tốt của dân tộc Nhật Bản trải 26 thế kỷ
nay.
Họ Đại Ôi nói
cái dũng khí của người Nhật là tự giống Mông Cổ di truyền. Người Nhật có máu
dũng cảm của Thành Cát Tư Hãn (成吉思汗
Genghis Khan), nhưng lại khéo hóa mất thói tàn nhẫn, nham hiểm của Mông Cổ đi,
chỉ có tinh thần thượng võ và mạnh bạo hăng hái với giống nòi quốc gia thì vẫn
giữ y. Như hồi đánh nhau với Nga là một nước cường đại gấp mấy Nhật, thế mà người
Nhật có tinh thần dũng cảm để thắng trận được, ấy là tính khí kiên cường thượng
võ của giống Mông Cổ đời xưa truyền cho vậy. Người Nhật lại có tính khí mạo hiểm
của giống Mã Lai, nhưng biến hóa được cái gốc dữ dằn độc ác. Xem lúc sửa soạn
duy tân, không biết bao nhiêu là chí sĩ thanh niên Nhật nô nức mạo hiểm đi qua
các nước Thái Tây để học lấy những cái hay của người ta rồi về đóng góp vào
công cuộc duy tân cho được mau thành; nếu không phải là giống người vốn sẵn có
tính mạo hiểm thì đâu có thành công rực rỡ tự cường hăng hái được như thế!
TINH THẦN DUNG HÒA
Người Nhật thấy kẻ khác
có tài gì hay, làm sự gì phải, họ liền học theo bắt chước cũng làm được như vậy
ấy là nhờ nơi giống họ có tinh thần dung hòa mau lắm.
Tinh thần ấy, vốn họ có sẵn
từ xưa.
Thuở họ lập quốc được ít
lâu rồi, phải giao thông với Trung Hoa đại lục, tự nhiên cũng chịu ảnh hưởng của
văn hóa Trung Quốc như nước Nam mình. Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo cho đến các
lễ nghĩa pháp luật của Trung Quốc, món nào Nhật Bản cũng đón rước tiếp thu về xứ
họ. Song họ khéo dung hòa lựa lọc chỗ hay của người cho thành ra chỗ hay riêng
của họ, thích hợp với sự cần dùng của họ, chứ họ không nhắm mắt theo càn, hễ
văn hóa người ta thế nào thì cứ rước y về mà thờ, mà dùng thế ấy, không dám
thay đổi chút nào! Bởi vậy cùng là đám học trò văn hóa Trung Quốc như nhau, mà
cậu học trò Nhật Bản khéo dung hòa, về sau thành đạt vẻ vang; còn mấy cậu khác
là Việt Nam và Cao Ly thì lại cùng ông thầy học Trung Quốc tới nay đang còn yếu
hèn xui xẻo một lũ!
Trên đường lịch sử mấy
ngàn năm xưa, Nhật Bản trước đã dung hòa được các dân tộc đến ở xứ họ, sau lại
dung hòa cả học vấn nghệ thuật từ đại lục đem qua nữa. Coi nội một chỗ họ dùng
Hán tự mà thay đổi và bổ thêm ra thế nào, thì đủ thấy họ có tinh thần dung hòa
ra thế nào?
Ai cũng đã biết dân tộc
Nhật Bản là do mấy giống người Mã Lai, Mông Cổ, Mãn Châu… hỗn hợp lại mà đẻ ra
nhưng thử hỏi tiếng nói của Nhật có phải là tiếng nói của một giống người nào
trong đó chăng? Không! Các giống dân ngụ cư đã bị dung hòa mà sinh ra dân tộc
Nhật Bản rồi đến tiếng nói của họ cũng bị dung hòa mà lập riêng ra thứ tiếng
nói Nhật Bản nữa. Còn sót lại chăng là ít nhiều tiếng Cao Ly, tiếng Ái Nô, tiếng
Thát Đát[2], có trộn lẫn vào trong tiếng Nhật, giúp cho văn học Nhật được phát
đạt.
Tiếng Nhật và tiếng Tàu
điệu nói khác hẳn nhau. Từ hồi có Hán tự truyền sang, thì văn chương bằng chữ
Hán liền dùng theo, nhưng rồi sau có chữ âm (音字
Onji) phát minh ra, gọi là “Giả tự 仮字”,
chính là chữ riêng của Nhật bày ra, dùng xen lộn với chữ Tàu chứ họ không dùng
đặc Hán tự mà chỉ đọc khác âm như nước Nam ta xưa nay. Đã vậy mà phép làm văn đặt
câu, họ cũng sửa theo cách thức riêng của họ nữa. Ta cầm cuốn sách hay tờ báo
Nhật bây giờ, thấy chữ Tàu có xen lộn lối chữ viết những nét cong co nhấp nháy,
ấy là chữ riêng của Nhật đó.
Chữ riêng đó khắp nước đều
hiểu đều dùng, thành ra cuộc thống nhất và việc giáo hóa ở nước Nhật được dễ
dàng lợi tiện quá.
Ta xem họ học chữ của người
mà khéo biến cải thành ra một lối chữ riêng của họ như thế, có phải họ có tinh
thần dung hòa hay lắm giỏi lắm không?
Chức Điền Tín Trường 織田信長 [Oda Nobunaga] (1534 - 1582)
Ông là tướng quân trong
thời kỳ Chiến Quốc ở Nhật, là người có công rất lớn trong việc thống nhất Nhật
Bản, chấm dứt thời kỳ chiến loạn kéo dài trên khắp cả nước.
Bất cứ học vấn nghệ thuật
gì của các nước ngoài mà họ bắt chước và thâu thập, họ cũng dung hòa hết thảy.
Cuối thế kỷ XVI, có giáo sĩ Tây phương qua truyền đạo Cơ Đốc, tướng quân cầm
quyền nước Nhật bấy giờ là Chức Điền Tín Trường 織田信長 [Oda Nobunaga] cho phép truyền đạo tự do.
Không bao lâu mà số người Nhật chịu phép rửa tội có đến mấy trăm muôn. Hồi ấy
những môn học của Tây phương như vũ khí, dùng binh, làm thuốc, thiên văn, công
nghệ, người Nhật đã từng học tập ít nhiều. Ví dụ nhiều nơi trong xứ có thành
quách giống kiểu Tây, chính là người Nhật học kiểu xây thành đắp lũy của người
Y Pha Nho [Tây Ban Nha] và người Bồ Đào Nha truyền cho mà xây đắp lên vậy. Coi
vậy đủ thấy giống dân Nhât biết học theo chỗ hay của người ngoài một cách mau
chóng chứ không e ngại cố chấp gì cả.
Về sau, người Ý, người Bồ,
chung cả người Tây dương bị Nhật Bản “khóa nước” cấm vào, cũng là có một duyên
cớ.
Vì các cố đạo Thiên Chúa
thừa lúc người Nhật theo đạo hăm hở nô nức quá rồi các ông ỷ sức làm càn, đốt
phá hết nhiều miếu thần chùa Phật, để cho những người không phải giáo đồ sinh
lòng tức giận. Phần thì bởi người Tây phương thấy dân Nhật theo đạo mau lẹ dễ
dàng, bèn có âm mưu muốn chiếm trị Nhật Bản. Thấy người ngoài có ý chẳng tốt
như thế, cho nên Mạc Phủ nước Nhật liền ra lệnh khóa nước cấm đạo và sinh lòng
ngờ vực ngoại nhân. Họ nói bởi ngoại nhân bao tàng họa tâm[3], tự nhiên buộc họ
phải làm cái chính sách “đóng cửa” để giữ mình vậy.
Chứ chi ngoại nhân có
lòng ngay tốt bụng thì Nhật Bản đã chẳng khóa nước cấm đạo, mà có lẽ Nhật Bản
đã sớm duy tân từ hồi thế kỷ XVII hay XVIII rồi không chừng. Đến giữa thế kỷ
XIX, phong trào “tỏa quốc, bài dương”[4] đang sôi nổi trong nước, nhưng
khi có ông Đề đốc Perry nước Mỹ đem một đoàn tàu binh tới nơi tử tế, xin Nhật Bản
mở cửa thông thương, người Nhật xét ra thật có hảo ý, tức khắc tấm lòng phấn
khích của dân tiêu tan đi lần lần, và hiểu ngay sự duy tân tự cường là sự cần
dùng cấp bách. Rồi tới vua Minh Trị lên ngôi, hạ lệnh cải cách, kỷ nguyên mới mẻ
của Nhật Bản từ đó mở ra. Nếu người Nhật không có tinh thần dung hòa sâu xa lâu
đời, thì họ không biết người biết mình một cách mạnh bạo như thế.
❀ ❀ ❀
[1] . Hồng Mao tức nước
Anh (Theo cách gọi của người Trung Hoa).
[2] . Thát Đát 韃靼 một giống người Mãn Châu và Mông Cổ hồi
xưa. Con cháu Thành Cát Tư Hãn chiếm cứ nước Tàu làm vua, dựng lên nhà Nguyên 元, chính là dòng dõi Thát Đát. Bởi vậy khi
binh Nguyên qua xâm lấn nước ta, hồi vua nhà Trần, ông Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo
Vương) ra tay quyết đánh, và muốn làm mạnh lòng quân, thề trừ giặc nước, nên
chi ông bắt mỗi tên quân, đều thích vào tay hai chữ “sát thát” (殺韃), nghĩa là giết giặc Thát.
[3] . Ôm ấp ý đồ, âm mưu
xấu xa. (BT)
[4] . 鎖国俳洋 Tỏa quốc bài dương: Khóa cửa biển lại
không cho người Tây phương ra vào lui tới.
3. Phong kiến mài dũa tài
trí của nhân dân
Không ai không bảo chế độ
phong kiến của xã hội loài người khi xưa là chế độ độc hại. Nó bóc lột, đè nén,
ức hiếp, hành hà người ta đủ cách; bao nhiêu kẻ làm dân phải tháo mồ hôi, đổ
máu mắt ra để cung phụng một giai cấp ở trên, đến đỗi họ làm mọi trọn đời không
lúc nào cất đầu yên xác được. Bây giờ người ta nhắc lại chuyện cũ, nhớ tới dấu
xưa, ai cũng lắc đầu trề môi, cho là gớm ghiếc.
Xã hội Nhật Bản từ thuở
có lịch sử mà đi, chính là một xã hội phong kiến, y như Âu châu cổ thời và nhiều
xã hội khác. Song, ngày nay người Âu châu hay là ai đâu nhắc lại dấu tích phong
kiến của xã hội mình ngày xưa thì giận hờn và lên án nọ kia, chứ người Nhật thì
khác hẳn: Họ cảm ơn mến đức của chế độ Phong kiến ở xứ họ trải mấy ngàn năm mới
kỳ!
Thật vậy, họ nói:
“Phong kiến có công mài
dũa tài trí của dân tộc chúng tôi, trau dồi tính cách của dân tộc chúng tôi, trở
nên khôn ngoan, mạnh bạo lâu đời, đến khi tiếp xúc với phong trào mới mà chúng
tôi lấn lướt theo kịp ngay, là nhờ vậy đó”.
Thế thì lai lịch phong kiến
của Nhật Bản ra sao, ta nên xét qua; nhất là xem thử chế độ Phong kiến đã nảy nở,
dùi mài cho dân tộc họ có những tài trí và năng lực gì?
Chế độ Phong kiến Nhật Bản
chia ra hai thời đại trước sau nối tiếp:
1. Cổ phong kiến (古封建), bắt đầu từ lúc có lịch sử cho đến đời
ĐiểuVũ (鳥羽) Thiên hoàng, nhằm
cuối thế kỷ XII của Tây lịch. Thời đại này trải qua một ngàn mấy trăm năm.
2. Tân phong kiến (新封建), khởi từ hồi võ tướng Nguyên Lại
Triều 源頼朝 [Minamoto no
Yoritomo], dựng lên Mạc Phủ, xưng chức tướng quân, nắm trọn đại quyền nhà
nước, lấy tiếng thiên tử để sai khiến chư hầu. Từ lúc có Mạc Phủ thì Thiên
hoàng chỉ là hư vị thôi, không có quyền hành gì hết. Họ này làm tướng quân ít
lâu thất bại, tới họ khác lên kế, mãi đến đời MinhTrị 明治 [Meiji] Thiên hoàng thì Mạc Phủ mới dứt.
Thời đại này có dư 700 năm.
Trải hai thời đại, cộng lại
trên 2000 năm, tức là gần trọn cả lịch sử Nhật Bản, có nhiều cuộc trị loạn hưng
vong, có nhiều việc chính trị giáo hóa, có khi vương quyền suy mà chư hầu thịnh,
có khi vương quyền thịnh mà chư hầu suy, kể cả lai lịch thì rất là rắc rối dài
dòng, vả lại không phải là chủ ý của đoạn này. Ngó theo đề mục, đoạn này chỉ cốt
trưng bày ít nhiều cái đặc sắc do những thời đại phong kiến đã sản sinh ra cho
dân tộc Nhật Bản thôi.
THỜI ĐẠI CỔ PHONG KIẾN
Địa thế Nhật Bản, do nhiều
cù lao góp lại thành nước, tự nhiên có chỗ thích hiệp sẵn sàng cho những cuộc
chia xé chiếm cứ nho nhỏ. Nhứt là lúc ban đầu, có những ngoại tộc mới tới thực
dân và khai thác. Nền phong kiến ở Nhật Bản xây đắp lên ngay từ đó.
Mỗi miền, mỗi ấp, đều có
người làm đầu, xưng là quân trưởng (君長) hay
tù trưởng (酋長). Hạng trên là
dòng dõi của Thần, đàn ông gọi là Ngạn (彦) giữ việc cai trị, đàn bà gọi là Viên (媛) làm tế chủ, lo việc kỉnh thần. Còn hạng dưới là
giống người thường, gọi là Khôi Soái (魁師),
hay Hộ Bạn (戸畔),
đều rèn tập cung tên gươm giáo, hay ganh đua việc vũ dũng để tranh giành quyền
lực với nhau.
Thế là gốc gác dân tộc từ
hồi Thượng cổ, đã có tinh thần chuộng võ. Tinh thần ấy, do sự dùi mài, tranh cạnh,
về sau càng ngày càng mở mang ham chuộng, cho đến thành ra một cái đạo về việc
võ, gọi là võ sĩ đạo (武士道 Bushidou).
Đàn bà cũng có địa vị tôn
trọng rất sớm; bởi vậy, trong đời “Tiểu phong kiến” nói đây có chỗ do đàn bà
làm quân trưởng, và cũng ưa việc vũ dũng, mặc dầu giống họ vốn có cái thiên
tính nhu mì hiền hậu. Đàn bà Nhật Bản từ cổ thời đã vậy, hèn chi về sau ở trong
lịch sử họ, có mấy đời Thiên hoàng là đàn bà và có tay nữ anh hùng như bà Thần
Công hoàng hậu (神功皇后
- Jinguu Kougou) tự đem binh vượt biển, đánh bắc dẹp đông, nghĩ không nên
lấy gì làm lạ.
Đời “Tiểu phong kiến”, từng
huyện nhỏ ấp con, có người xưng hùng làm chúa, lấy võ lực để tranh giành lẫn
nhau thì có, nhưng không ai thống thuộc ai. Đến lúc đức Thần Võ là chánh tông của
thần, lãnh ba món thần khí, lên ngôi Thiên hoàng, dựng quốc đô ở đất Đại Nụy[1],
nghĩa là lúc Nhật Bản lập thành quốc gia quân chủ và lịch sử bắt đầu từ đây,
thì các ông chúa nhỏ kia đều phải tòng phục về Thiên hoàng. Ai không chịu phục
thì Thiên hoàng ra oai đi đánh. Bởi vậy các tù trưởng phải đem dân mình mà quy
hóa hết thảy, trừ ra có mấy giống dân ở miệt đông bắc và miệt tây là cứng
cỏi chống cự lại. Nhất là giống người Ái Nô. Thành ra trải mấy thế kỷ, người Nhật
phải tranh cạnh và chinh phục mấy giống thổ dân cứng đầu cho kỳ được mới thôi.
Ví dụ đuổi tuốt giống Ái Nô phải dồn mãi về cù lao ở tận phía bắc, đến nay giống
ấy đã lần mòn tiêu diệt, chỉ còn lại có vài muôn người.
Nhờ có các cuộc chinh phục
như thế, mà từ xưa người Nhật đã dùi mài được cái tinh thần chiến đấu tranh
hùng, có thể nói họ là giống người cứng cỏi, hăng hái từ trong trứng đẻ ra.
Theo tục từ xưa, dân tộc
Nhật Bản chia ra làm ba bực: Một là quý tộc, hai là sĩ tộc, ba là bình dân.
Quý tộc là con cháu của
các vị quân trưởng đời Thượng cổ; dòng dõi của thần cũng là quý tộc. Mỗi nhà
quý tộc đều có họ riêng. Sĩ tộc là hạng dân có chức nghiệp, phần nhiều làm nghề
nông. Còn hạng lao công điền tốt cùng là bọn người làm việc khó nhọc nặng nề,
thì đều thuộc về bình dân.
Tuy có sự chia rẽ giai cấp
như thế, nhưng mà tính cách dân tộc và phong tục xã hội có chỗ rất tốt, là mấy
giai cấp không khinh khi bức sách lẫn nhau. Trái lại họ nương dựa lấy nhau, một
đằng có quyền, một đằng có sức, để lo việc khai thác sinh tồn. Mỗi giai cấp có
sự cạnh tranh thứ nhất, là cạnh tranh nhau về danh dự. Vì danh dự mà ai nấy đều
gắng gổ về mọi việc công tác kinh doanh, thành ra sự phân biệt giai cấp đã
không hại gì, lại còn có cái sức thúc giục quốc dân, khiến cho ruộng đất mở
mang, chức nghiệp mở mang, và xây dựng lên cái văn hóa của mỗi giai cấp, cùng
ngày càng phát đạt thêm mãi.
Thì chính vì chỗ cạnh
tranh danh dự của hạng quý tộc và sĩ tộc, đua nhau làm nhà cửa cho sang trọng,
bận y phục cho tốt đẹp, bày ra yến hội luôn luôn, thành ra từ văn nghệ, ca nhạc,
cho đến nghề dệt và nghề kiến trúc, đều được mở mang, tấn tới.
Sĩ tộc và bình dân, ngoài
công việc chức nghiệp của họ, lại ganh đua nhau luyện tập võ nghệ, đến đỗi
hương thôn nhiều nơi hóa ra trường giảng võ, và nông phu cũng có lắm người rành
giỏi nghề võ, gây nên cái phong trào thượng võ, ở khắp xã hội, rồi có phái mới
là phái võ sĩ nổi lên.
Lúc này, chế độ Phong kiến
kiểu xưa đã biến đổi rồi, không phải mỗi huyện ấp nhỏ có người làm chủ như trước
nữa. Giờ trong xứ đã đông dân, đất nước đã mở rộng, mà quyền nhà vua cũng mạnh
lên, triều đình bèn đổi cách xưa tổ chức quốc huyện (國縣) ra làm quốc quận (国郡); họp nhiều huyện nhỏ thành một quận lớn,
hết thảy đều thống thuộc về triều đình. Việc sửa đổi này nhằm đời Thiên Trí
Thiên hoàng 天智天皇 [Tenji
Tennou], giữa năm 671 của Tây lịch.
Tuy chế độ phong kiến xưa
đã bãi đi, nhưng lại có chế độ phong kiến mới bắt đầu nẩy chồi đâm gốc ra.
Tân phong kiến dựng lên bởi
quý tộc yếu mà sĩ tộc mạnh.
THỜI ĐẠI TÂN PHONG KIẾN
NGUYÊN LẠI TRIỀU 源頼朝 [Minamoto no Yoritomo] (1147-1199) - Người
dựng lên chế độ Mạc Phủ, thế kỷ XII.
Thời đại này là thời đại
các võ gia tranh hùng, kế tiếp nhau xưng là tướng quân, mở ra Mạc Phủ, giành hết
quyền chính của Thiên hoàng mà thống trị mấy trăm chư hầu trong nước. Chư hầu
cũng đều là võ gia nổi lên, mỗi người chiếm cứ một nơi xưng hầu xưng bá, lắm
lúc tranh quyền ỷ mạnh, đánh nhau lung tung. Có lúc Nhật Bản chia ra thành hai
chính phủ, gọi là Nam triều, Bắc triều; có lúc chư hầu phân ra làm hai phe đảng,
gọi là Đông quốc, Tây quốc. Thời đại nầy nước Nhật có những cuộc binh tranh nội
loạn luôn luôn, xem y như đời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu vậy. Chính người Nhật
cũng đặt tên cho cái chặng lịch sử này của họ là “Chiến Quốc thời đại”.
Trên kia đã nói bởi quý tộc
yếu, sĩ tộc mạnh, mà dựng lên chế độ Tân phong kiến.
Quý tộc yếu là vì dòng
dõi họ hay vui chơi yến ẩm, rất mực xa hoa, sau phải mang nghèo, phần nhiều
không còn giữ được nghiệp nhà nữa. Trò đời, dòng sang trọng thế mấy, hễ đã mang
nghèo thất thế, thì tự nhiên phải suy yếu đi có lạ gì.
Trong khi phần nhiều quý
tộc ham vui xài sướng, thì sĩ tộc cặm cụi khai phá ruộng đất và chịu khó tìm
tòi bươi móc ra đủ mọi nguồn giàu mạch lợi. Họ lại chăm chỉ tập rèn những thuật
bắn cung cưỡi ngựa, đấu kiếm múa dao để cho được ra làm quan ở triều đình, phục
dịch với quý tộc; nhân vậy mà họ xây dựng được nghiệp nhà của họ cũng truyền nối
vẻ vang. Họ tự xưng là võ sĩ, dựng lên gia nghiệp gọi là võ gia (武家 Buke), đối với dòng dõi quan quyền
quý tộc tức là công gia (公家
Kuge).
Võ gia ban đầu ở trong xã
hội có phần thấp hèn sánh với công gia, song về sau công gia tuy sang trọng mà
hơi nghèo, còn võ gia thì giàu có lớn, thành ra võ gia có thế lực mạnh, tranh
hàng với công gia, lấn lướt cả công gia. Huống chi tinh thần thượng võ trong nước
lúc này nồng nàn sôi nổi, ai cũng tập võ, ai cũng kính mến võ sĩ, làm cho võ
gia càng được vẻ vang lừng lẫy hơn nữa.
Người Nhật thuở xưa chuộng
võ, mà có sự tin tưởng, sự tu luyện một cách cao xa, coi việc võ gần như nhà
tôn giáo coi Trời Phật, và dựng lên cái đạo gọi là “Võ sĩ đạo” (武士道 Bushido).
Ta nên xét sơ cho biết
cái tinh hoa của Võ sĩ đạo, vì nó chẳng những là đặc sắc và căn cơ của thời đại
tân phong kiến đang nói chuyện đây mà thôi. Chính nó là hương thơm, là vẻ đẹp
thứ nhất của tinh thần dân tộc Nhật Bản xưa nay. Ta thấy họ hùng cường tấn hóa
như bây giờ, và có những cử chỉ yêu nước khác thường, dũng cảm khác thường, ấy
là do nơi tinh thần Võ sĩ đạo từ xưa đã cảm hóa un đúc mà ra vậy.
Cả dân tộc Nhật Bản có
cái hồn chung hồn nước là Đại Hòa hồn 大和魂 [Yamato
Damashii]; hồn ấy, mỗi người làm dân nước Nhật phải tâm niệm, kính thờ, giữ
gìn, thao luyện. Nước Nhật đời cổ, có một cái danh hiệu là Đại Hòa; bởi vậy,
lối chữ riêng của Nhật, ta thấy ở sách vở báo chí của họ xen lộn chữ Hán vào
đó, người ta thường gọi là Hòa văn 和文 [Wabun],
Đại Hòa hồn tức là quốc túy tinh thần của dân tộc Đại Hòa, chính dân Nhật Bản.
Hồn này ở trong tâm não người Nhật cũng thiêng liêng cao quý như Thượng đế ở
trong tâm não nhà tôn giáo.
Chỗ tốt đẹp của Đại Hòa hồn
là ở những tính cách này: trung trực, bác ái, chuộng võ, giữ mình trong sạch,
có lòng nghĩa hiệp và biết sỉ nhục, có khí tượng rộng rãi hào phóng, hăng hái
quả quyết, ở đời sấn bước đi tới, gặp việc nguy hiểm không từ… Từ xưa, về đạo xử
thế lập thân, người Nhật lấy Đại Hòa hồn làm mực thước mà tự tu tỉnh và khuyên
răn nhau, tức là gìn giữ trau dồi những đức tính tốt đẹp như thế.
Võ sĩ ở trong xã hội Nhật
Bản, chính là hạng “nêu cao gương sáng” của Đại Hòa hồn hơn hết.
Không phải hễ là kẻ sức mạnh
bắn tài, liều mình dám chết thì đủ gọi là võ sĩ đâu. Võ sĩ có riêng đạo của võ
sĩ tôn nghiêm cao thượng; trước hết phải trau dồi đầy đủ những đức tính của Đại
Hòa hồn, rồi lại có những sự giữ gìn thao luyện riêng nữa mới thiệt là võ sĩ.
Cần nhất võ sĩ phải giữ
tròn danh dự nhiều phía: Danh dự thân mình, danh dự nước mình, danh dự của gia
môn mình bây giờ, danh dự của con cháu mình mai sau. Mỗi cái cử chỉ ở đời, võ
sĩ phải suy nghĩ sao bảo tồn danh dự trước hết, chớ không nên tiếc gì cái sinh
mạng có chừng có hạn, mà để nhơ danh xấu tiếng về muôn đời. Song, sinh mạng
mình chỉ có một, không có hai, bởi vậy phải đắn đo cân nhắc cái chết cho nhằm
thời lợi việc thì mới hữu danh; nếu để mất sinh mạng mình vào lúc không đáng chết,
thì cũng không đủ làm cho rỡ ràng danh dự được. Thành ra, phàm là võ sĩ, tất phải
giữ gìn tâm chí mình thẳng ngay sốt sắng luôn luôn, không thể sơ sót chậm trễ
được bao giờ.
Sự tranh cạnh phấn đấu của
võ sĩ, không những là lựa chọn chỗ chết mà thôi, lại phải làm sao cho chết thật
trong sạch xứng đáng, có vậy mới làm vẻ vang được tiếng tăm nhà mình.
Võ sĩ làm việc rất quang
minh chính đại; lúc bình thường đối với kẻ thù, không hề tỏ ra vẻ gì giận hờn
ganh ghét; lúc chiến đấu thì dũng cảm, đánh ngay trước mặt người ta, chứ không
chịu dùng những ngón hèn nhát là đánh ngầm giết lén. Ra chiến trường bao giờ
cũng ung dung vui vẻ; thắng trận thì bảnh bao hớn hở, nổi tiếng anh hùng dũng
sĩ đã đành, còn rủi có bị thua mang nhục mà chết, thì cũng chết một cách thái
nhiên, gọi là “chết có vẻ anh đào” 死有櫻色,
nghĩa là chết mà nét mặt vẫn tươi tắn hồng hào như bông anh đào khi rụng xuống
cũng giữ cái sắc thiên nhiên của nó vậy.
Người võ sĩ Nhật Bản phải
có tinh thần phong thể đại khái như vậy đó.
Sự thiệt, võ sĩ đạo là
tinh anh luân lý của Nhật Bản, chính nó un đúc ra cái nguyên khí quốc dân. Vận
nước nhờ đó mà rỡ ràng, thói dân nhờ đó mà cứng cỏi; nội những dấu tích gì sáng
tỏ vẻ vang ở trong lịch sử Nhật Bản, đều do từ gốc nguồn võ sĩ đạo mà
phát ra tất cả. Bởi vậy sẵn dịp tôi muốn nói qua về lai lịch võ sĩ đạo, tưởng
không phải là chuyện dư. Phải, chỉ nói qua mà thôi, nếu muốn nói kỹ về vấn đề
này thì mấy cuốn sách e cũng chưa đủ.
Nói cho đúng, thì gốc
tích võ sĩ đạo thật là phát nguyên từ “đời thần” 神代 [Kamiyo], nghĩa là đời còn thần làm
chủ) mà đi. Nào sùng bái tổ tiên, nào kính sợ vua chúa, nào vũ dũng, nào thành
tín, nào giản dị chất phác, ấy đều là tính riêng của giống người Nhật ở đời Thượng
cổ. Ngay đời đó người ta đã ưa mang gươm dao bên mình và lấy việc vũ dũng làm
danh dự.
Xuống đến “đời người” 人代 [Hitoyo], nghĩa là đời do người làm chủ,
kể từ Thần Võ Thiên hoàng 神武天皇
[Jinmu Tennou] là vua khai sáng nước Nhật, chủ nghĩa chuộng võ càng thịnh.
Trong triều ngoài quận, trên vua dưới dân, ai cũng chuộng võ, cả nước là binh.
Đấng thiên tử làm nguyên soái, các quan đại thần làm phó tướng. Chính Thần Võ
Thiên hoàng mới lên làm vua, dựng ra nước Nhật, đã đem quân đi đánh đông dẹp
tây, mở mang bờ cõi, rồi từ đó về sau không mấy triều vua mà không dùng binh
chuộng võ, rất đỗi đàn bà là Thần Công hoàng hậu 神功皇后 [Jingu
Kougou] cũng đem quân vượt biển đánh tới Tam Hàn (三韓), làm cho Nhật thêm rộng bản đồ, vang
danh oai võ. Từ xưa, giống người Nhật chinh phục được những bộ lạc man di và nổi
tiếng tới đại lục, chính là nhờ có cái tinh thần thượng võ vậy.
Lúc Nho giáo truyền sang,
càng giúp cho tinh thần thượng võ được phấn chấn thêm, vì nghĩa lý đạo nho cùng
với tinh thần thượng võ của người Nhật rất là thích hợp.
Lần lần đến đời hai họ
Nguyên (Lại Triều), Bình (Thanh Thịnh) giành nhau cái ngôi bá chủ, lấy võ lực
đua tài, dùng binh đao đấu sức; họ nào cũng có đảng phe, tử đệ, chăm lo rèn tập
việc võ, bấy giờ trong xứ mới thành ra có giai cấp gọi là võ gia (武家 Buke), có danh hiệu gọi là võ sĩ (武士 Bushi). Vẫn biết dân tộc Nhật Bản sẵn có
tinh thần tư tưởng chuộng võ từ xưa, nhưng mà thiệt đến đời này thì việc võ mới
dựng ra có cách giáo dục huấn luyện riêng, có luân lý đạo đức riêng. Nhất là đời
này, bọn quan văn hủ bại đáo để, mà nhà võ sĩ thì có căn bản giáo dục gọi là sự
đạo đức, cho nên giữa lúc thiên hạ loạn lạc đảo điên, gọi là hạng người trung
dũng, nhân từ, thẳng ngay, lẫm liệt, có thể vãn hồi thế đạo nhân tâm, chỉ duy
có võ gia mà thôi, võ sĩ đạo bởi đó mà dựng lên vậy.
Sau Nguyên Lại Triều 源頼朝 [Minamoto no Yoritomo] đánh thắng
Bình Thanh Thịnh 平清盛
[Taira no Kiyomori], mở ra Bá Phủ ở đất Kiêm Xương (Mạc Phủ 幕府 [Bakufu] bắt đầu tạo lập ra từ lúc này,
nhằm cuối thế kỷ 12 của Tây lịch), rồi thi hành lối chính trị võ gia, bày đặt
ra chế độ riêng của võ sĩ, bây giờ võ sĩ đạo xây dựng lên một cách
hoàn thành.
Các đức tốt là: trung,
dũng, tiết, nghĩa, hiếu hạnh, quả cảm, liêm sỉ, cương trực, khoan nhân, bác ái,
kiệm cần, chăm chỉ, ngay thẳng, thật thà…, đều là những đạo đức mà nhà võ phải
trau dồi dạy dỗ con cháu từ hồi còn thơ. Chính nhà võ sĩ, cả đời cũng phải giữ
gìn những mỹ đức ấy.
Ta nên biết rằng gọi
là Võ sĩ đạo (武士道 Bushidou),
chữ “đạo” 道 có
nghĩa là một nền giáo dục, lại cũng có nghĩa là một nền tôn giáo, một con đường
đi nữa.
Do theo họ Nguyên xướng
xuất, phàm là con nhà võ thì phải thờ vị thần Bát Phan (八幡神 Hachiman no Kami) hết sức cung
kính. Họ Nguyên dựng đền thờ thần ấy ở tại Kiêm Xương là kinh đô của mình, để
làm vị thần thủ hộ cho toàn thể võ gia trong nước. Ngày nay di tích vẫn còn.
Nguyên là trước đó có vị
cao tăng đắc đạo thành Phật, lúc sinh bình ông là người cao khiết, giản dị, thường
dạy người đời đừng thèm sợ chết. Cách tu tâm dưỡng tính của vị cao tăng này rất
hợp với sở nguyện sở hành của con nhà võ, cho nên họ Nguyên tôn lên làm thần
của võ gia. Giữa đời đó nước Nhật có chuyện loạn ly chiến đấu luôn luôn, nếu
như người ta không giác ngộ về lẽ sống chết cho hẳn hoi, thì không lấy gì làm gốc
cho sự can đảm hùng cường được. Bởi thần Bát Phan khuyên dạy thế nhân đừng
thèm sợ chết, thật là trúng vào trái tim khối óc của võ gia, cho nên võ gia
càng hoan nghênh thờ phụng rất mực. Ngoài đền thờ chính ở Kiêm Xương, khắp nơi
trong nước, nơi nào cũng dựng đền nguy nga đồ sộ để thờ thần ấy. Nhờ vậy mà võ
sĩ đạo thêm vững gốc nguồn, nâng cao tôn chỉ.
Về sau, tới hồi nước Nhật
chia hai: Nam triều, Bắc triều, có vị anh hùng là Nam Mộc Chính Thành 楠木正成 [Kusunoki Masashige], trung quân ái quốc
một cách tuyệt đối; người Nhật cho Nam Mộc chính là người đại biểu rất cao của võ
sĩ đạo, có chi tiết sự nghiệp ghi chép sử xanh, đến nay ai nhắc tới cũng tỏ
lòng cung kính. Sinh thời, Nam Mộc đủ hết mọi đức tính nhân từ dũng cảm và có
gan to chí lớn, thấy triều đình có kẻ gian thần hại nước hiếp vua, Nam Mộc
không thể nào dương mắt ngồi ngó được, bèn đem cả con cháu họ hàng mình lập
thành một đạo quân, thề trừ quốc tặc cho đến chết mới thôi. Người Nhật cho Nam
Mộc là bậc trung dũng nghĩa liệt, chính đại quang minh, trong thiên hạ không ai
sánh kịp và chính Nam Mộc treo gương vũ dũng đạo đức cho muôn đời soi chung.
Kế đó, có những người như
Tân Điền 新田 [Nitta], Cúc
Trì 菊池 [Kikuchi], Danh Hòa
名和 [Nawa]… đều là hạng
liệt sĩ kế tiếp nhau nổi lên, tỏ ra cái tư cách của nhà võ sĩ chân chính, có ảnh
hưởng tới dân tâm sĩ khí của Nhật Bản xưa nay. Hồi Nhật Nga chiến tranh
(1904-1905), có những kẻ liều mình cự giặc như hạng Quảng Lại Võ Phu 広瀬武夫 [Hirose Takeo], tử trận ở cửa Lữ Thuận 旅順 [Ryojun], hay là hồi Nhật Hoa chiến
tranh ở Thượng Hải, đạo binh 19 của Tàu chống cự mạnh quá, binh Nhật không thể
nào phá được trận địa của họ ở Miếu Hàng trấn, lúc ấy có ba tên lính Nhật liều
chết ôm lấy viên đạn cốt mìn mà xông đại vào, mới bắn phá được trận địa ấy và
đuổi được đạo binh 19 phải lui, đại khái những tay anh hùng vì nước quyên sinh
như thế, người Nhật bảo là noi dấu võ sĩ đạo của hạng Nam Mộc hồi xưa
cả đó.
Từ đời Nguyên Lại Triều
xướng lập võ sĩ đạo cho tới ngày nay trên 800 năm, trong lịch sử Nhật
Bản có những vị anh hùng lẫm liệt, thương nước bỏ mình, tỏ ra tinh thần võ
sĩ đạo, nhiều thật là nhiều, không thể kể hết được.
Trên kia đã nói Đại
Hòa hồn 大和魂 [Yamato
Damashii] cái hồn thiêng của dân tộc Nhật Bản, phàm là người Nhật đều phải
gìn giữ kính thờ. Hồn ấy ký thác ở Võ sĩ đạo, hiển linh ở Võ sĩ đạo.
Bởi vậy có người cho Đại Hòa hồn và Võ sĩ đạo là một mà
thôi.
Đàn bà con gái, cũng là
tín đồ Võ sĩ đạo vô số. Phụ nữ Nhật đời Thượng cổ, chính họ cũng thượng
võ, và khuyến khích yêu mến hạng con trai vũ dũng. Ví dụ như bà Thần Công hoàng
hậu 神功皇后 [Jinguu Kougou] tự đem
binh đi đánh giặc, đủ tỏ ra đàn bà có khí phách anh hùng ra làm sao! Sau
có Võ sĩ đạo nổi lên thịnh hành, bọn phụ nữ nhà võ cũng lo trau dồi
huấn luyện những đức tính dũng cảm, kiên trinh, hòa nhã, tiết nghĩa, không thua
gì đàn ông. Bởi vậy hạng liệt phụ hiền nữ ở trong lịch sử Nhật Bản có số nhiều,
chẳng thua gì nước nào khác, có lẽ còn nhiều hơn nữa. Rất đỗi vợ con võ gia đều
ganh đua tập võ, đeo gươm giữ mình, và khi con gái xuất giá, lấy con dao thanh
kiếm, là đồ cưới quý trọng hơn hết. Tục này đến lúc đầu duy tân cũng còn.
Ta coi lai lịch và tinh
thần Võ sĩ đạo như thế, bảo Võ sĩ đạo là nguyên khí của quốc
gia, luân lý của dân tộc Nhật Bản chính là sự thiệt vậy.
* * *
Nãy giờ, mê man theo
bóng Võ sĩ đạo mà chúng ta đi xa đường quá: giờ ta nên quay về mục
đích, là câu chuyện tân phong kiến.
Dân tộc Nhật Bản, ngay từ
khi hỗn hợp thành giống riêng, tạo lập ra một nước, đã có sự sinh tồn phấn đấu,
khiến họ có tinh thần thượng võ tự nhiên rồi. Về sau, cuộc sinh tồn phấn đấu
càng ngày càng phải dồn dập cần dùng, thì tinh thần thượng võ lại càng ngày
càng mở mang rộng lớn. Đến đời tân phong kiến, chính do tay võ sĩ dựng
ra, Võ sĩ đạo rất là thịnh hành, đào tạo cho lịch sử Nhật Bản có một
kỷ nguyên mới, một đặc sắc mới, chẳng những có ảnh hưởng lợi ích ở đương thời
mà thôi, lại có ảnh hưởng lợi ích cho cuộc duy tân tấn hóa về sau nữa. Thiệt vậy,
đến đời Minh trị, từ Đức Xuyên Khánh Hỉ 徳川慶喜
[Tokugawa Yoshinobu] từ bỏ Mạc Phủ mà đem quốc gia đại quyền dâng trả lại Thiên
hoàng, cho đến những anh hùng hào kiệt, chí sĩ cao nhân, ai nấy ra sức hô hào
thúc giục mà giúp vào cuộc duy tân mau làm mau xong, nhất thiết đều có dũng khí
và di phong của Võ sĩ đạo khi xưa truyền lại cả.
Tân phong kiến là thế
nào?
Tóm tắt chế độ ấy như vầy:
Lúc võ gia nổi lên chống với công gia tức là sĩ tộc tranh quyền quý tộc – mà được
thắng thế rồi, một người trong đám võ gia, có binh dũng tướng mạnh sức lớn
oai to hơn hết, bèn lấy thế lực ấy mà tự xưng là tướng quân, mở ra Mạc Phủ, đoạt
quyền Thiên hoàng, và sai khiến cai trị tất cả mấy trăm chư hầu lớn nhỏ trong
nước. Nói về quyền bính, gần giống như cách “vua Lê chúa Trịnh” ở nước ta thuở
xưa; nói về danh nghĩa, thì không khác gì tình thế của đời Xuân Thu Chiến Quốc
nước Tàu; bọn Tề Hoàn, Tấn Văn lấy sức mạnh tự xưng là bá chủ, làm bộ nâng đỡ
thiên tử nhà Chu để sai khiến hiếp đáp chư hầu cho dễ.
Thiệt vậy, lúc nước Nhật
có Mạc Phủ dựng lên, chính là lúc Thiên hoàng mất quyền, chỉ còn ở ngôi vua cho
có vị vậy thôi, bao nhiêu quốc gia đại chính đều do ông tướng quân nắm giữ hết;
chư hầu tuy vẫn chiếu lệ triều cống Thiên hoàng, nhưng họ phụ thuộc về Mạc Phủ
và kiêng sợ Mạc phủ hơn.
Đó là chế độ tân phong kiến.
Chế độ này bắt đầu dựng
lên hồi cuối thế kỷ XII theo Tây lịch, hai võ gia thế lực là Nguyên Lại Triều 源頼朝 [Minamoto no Yoritomo] và Bình
Thanh Thịnh 平清盛 [Taira no
Kiyomori] cùng nhau giành giật Thiên hoàng, tranh cướp chính phủ; rốt cuộc họ
Bình bị bại diệt, họ Nguyên thắng trận rồi mở ra Mạc phủ ở đất Kiêm Thương,
xưng là tướng quân, thâu trọn quyền binh mã cả nước vào trong tay, và bắt chư hầu
phải tòng phục mình. Mạc phủ dựng lên từ đó, nhằm giữa năm Tây lịch 1186.
Mỗi vị tướng quân làm
chúa như thế, truyền được ít đời con cháu, rồi có họ võ gia khác mạnh thế thừa
cơ nổi lên đánh bại họ võ gia trước mà giành ngôi tướng quân. Khởi từ họ
Nguyên, trải qua mấy họ Bắc Điều 北條 [Houjou],
Túc Lợi 足利 [Ashikaga], Thượng Sam 上杉 [Uesugi], truyền nối mãi cho đến họ Đức
Xuyên 徳川 [Tokugawa], là dòng Mạc
phủ chót hết, nước Nhật ở trong thời kỳ chế độ tân phong kiến này có trên 700
năm. Riêng họ Đức Xuyên làm chúa được lâu bền hơn cả, cha truyền con nối, có dư
250 năm, tới giữa thế kỷ 19 vừa rồi, tướng quân chót hết của họ Đức Xuyên là
Khánh Hỉ nạp trả đại chính cho Thiên hoàng, thế là Mạc phủ dứt, tức là chế
độ Tân phong kiến dứt. Rồi đó Minh Trị Thiên hoàng ra tay duy tân cải cách, đưa
nước Nhật vào cõi văn minh hùng cường tới ngày nay.
Thời kỳ tân phong kiến
hơn 700 năm, do sự Mạc phủ thay quyền đổi họ, tướng quân mạnh được yếu thua,
khiến cho nước Nhật trải lắm phen nội loạn lung tung. Có mấy lần trong nước
đánh nhau thê thảm đến hàng đôi ba chục năm mới dứt; nào là triều Nam triều Bắc,
nào là nước Đông nước Tây, chia rẽ tranh giành, hợp rồi tan, tan rồi hợp, trị kế
loạn, loạn kế trị. Có phen rối loạn, tưởng là ngôi Thiên hoàng đến phải rung
rinh, đổ ngã, nhưng rồi lại khôi phục tôn nghiêm như xưa, bởi vậy dân Nhật càng
tin rằng vua là con cháu chính tông của Thần, không thể nào suy vi hay thay đổi
được.
Dầu sao mặc lòng, thời kỳ
này dân Nhật mở mang tấn hóa dữ lắm. Chính nhờ sự tương tranh tương đấu không
ngơi, mà dân tộc họ từ trên xuống dưới, dùi mài được tinh thần năng lực thêm
hay thêm giỏi ra không biết bao nhiêu. Lạ nhất là khi loạn cứ loạn mà đám bình
dân vẫn yên tâm về mọi việc kinh doanh khai thác của họ. Văn học, nghệ thuật,
công nghiệp, nông tang... nhất thiết đều được tấn tới thịnh vượng, chứ không vì
sụ nội loạn mà phải suy sút ngưng trệ gì; đó là nhờ dân họ mạnh chí tấn thủ lắm
mới được như vậy.
Các triều Mạc phủ cũng có
công lao khai hóa với quốc dân nhiều lắm. Nhất là triều Đức Xuyên lo sắp đặt
giáo dục, mở mang văn hóa, rất dày công phu. Nhờ họ Đức Xuyên mà cuối thế kỷ
XVIII, đầu thế kỷ XIX, nước Nhật đã biết cái lợi giao thiệp buôn bán với Âu
châu, nhất là với Hòa Lan, và đã biết thâu thái ít nhiều học thức của Thái Tây,
nhất là y học. Xem đại khái như vậy, thì nói rằng chế độ Phong kiến có cái lợi
un đúc tinh thần, có cái công dùi mài trí hóa cho dân tộc Nhật Bản, chẳng phải
là đúng với sự thật lắm sao?
Tóm lại, dân tộc Nhật Bản
trước hết nhờ sự tin tưởng mình là Thần quốc mà được bền bỉ lâu dài, ai nấy có
óc tự tôn, xưa nay không bị ngoại hoạn; lại nhờ có địa lý nung nấu cho dân tộc
có nhiều tính chất tốt; sau hết nhờ chế độ phong kiến đắp đổi đã thao luyện
tinh thần trí hóa cho họ; ấy là ba cái đặc sắc của họ có đã lâu đời, làm căn bản
sẵn sàng, cho nên đến khi gặp thời thế, phong trào mới thúc giục, tự nhiên họ tấn
hóa tự tân được mau lẹ tốt đẹp vậy.
Chúng ta đã xét biết ba
cái nguyên do lớn này rồi, ta phải nghĩ rằng người Nhật rong ruổi có 30 năm mà
theo kịp Âu Mỹ trên đường văn minh tân thời, vẫn biết là họ anh hùng dũng cảm
đã đành, nhưng cũng là lẽ đương nhiên, không lạ. Thấy một người có gia phong,
có tài đức, nay được phú quý hiển vinh mà ta cho là đáng lắm, thì ngó thấy cuộc
duy tân hùng cường của Nhật Bản, ta có thể nào suy nghĩ khác hơn, là vì họ có một
cái dĩ vãng rỡ ràng đặc biệt từ trong trứng nở ra kia mà!
❀ ❀ ❀
[1] . 大倭, bây giờ tức là thôn Bạch Cương 白橿, quận Cao Thị (高市), xưa gọi là Cương Nguyên 橿原. Đời xưa giống người Nhật có cái tên của
Tàu đặt cho, gọi là giống người Nụy. Bởi vậy sử đời Nguyên nước Tàu chép về Nhật
Bản, kêu là Nụy Nô quốc (倭奴國),
nghĩa là nước người lùn thấp, do cái gốc của dân Ái nô (Ainos) mà ra. Chính người
Nhật tự xưng là Đại Hòa (大和
Yamato).
Chương II. MỘT ĐOÀN TÀU MỸ
Năm 1853, Nhật Bản đang
đóng cửa ngủ ngon, giữ chặt thói cũ, chính Đề đốc Perry đem một đoàn tàu Mỹ lại
thị oai mà làm cho họ giật mình tỉnh giấc, phát phẫn tự cường; Nhật Bản bước
vào kỷ nguyên duy tân khai quốc.
Ngày
nay dân tộc Nhật Bản trở nên một mối lo phiền đáo để cho Âu Mỹ, hình như Âu Mỹ
có ý buồn rầu ân hận rằng mối lo phiền đó tự họ làm ra, tự họ rước lấy.
Trước kia người Nhật đang
ngủ ngon giấc thủ cựu, ai bảo Âu Mỹ chúng ta kéo đến đấm cửa rầm rầm, đánh thức
họ dậy, cho bây giờ phải lo!
Ấy là một tiếng ân hận, gần
đây thường nghe thốt ra ở câu văn cửa miệng của nhiều văn nhân chính khách
phương Tây. Một danh sĩ Pháp là ông Maurice Dekobra mới đây qua Nhật chơi rồi về
viết cuốn Samurai huit Cylindres, cũng hơi có cái giọng than thở như thế. Ta có
thể cho là tư tưởng chung của người Tây phương giữa lúc Nhật Bản đang hồng hộc
về chính sách đế quốc và đang lấn lướt cạnh tranh về kinh tế công nghệ như là
lúc này:
“Trải bao nhiêu thế kỷ,
Nhật Bản vẫn ở biệt tịch một mình, người Âu châu “không biết tới”. Duy có ít
người Hòa Lan được ở tạm trong một cù lao Nhật Bản để mua bán với dân họ. Sự
thiệt, thuở ấy họ có muốn biết ta (Tây phương), họ có muốn làm quen với ta, với
văn hóa của ta đâu.
Khi không Đề đốc Perry
Hoa Kỳ đem một đoàn tàu chiến đến bờ biển Nhật mà “bắn súng đại bác nổ đùng
đùng” để bảo cho Nhật biết rằng Hoa Kỳ không chịu cho họ ở biệt tịch, chẳng
giao thiệp gì với nước ngoài.
Những kẻ thù nghịch với
Nhật bây giờ thử suy nghĩ coi cái cử chỉ của Đề đốc Perry thuở đó phải hay là
không? Chúng ta có quyền gì được tự phụ rằng văn minh của chúng ta tốt đẹp hơn
hết (chứng cớ gì đâu), rồi tới khuấy rầy Nhật Bản, buộc họ “phải tiếp rước ta,
bắt họ phải ký những tờ điều ước mà bản tâm họ không muốn ký” chút nào.
Theo gương “tốt” đó của
Hoa Kỳ, tới Anh, Pháp, Hòa Lan và gần hết các nước Âu châu, ùn ùn kéo qua Nhật
Bản, giơ sức mạnh ra mà chiếm tô giới nọ, đòi hoa lợi kia. Con vi trùng đế quốc
đi theo tàu trận của phương Tây mà truyền vô nước Nhật đó…”
Thiệt sự, tới năm 1853,
Nhật Bản đang đóng cửa ngủ ngon, giữ chặt thói cũ, chính tự Đề đốc Perry đem một
đoàn tàu Mỹ lại thị oai mà làm cho họ giật mình tỉnh giấc, phát phẫn[1] tự cường;
Nhật Bản bước vào kỷ nguyên mới, bắt đầu từ đó. Cũng bởi thế, nên tôi lấy “Một
đoàn tàu Mỹ” mà mệnh đề cho chương này, nói về cái lai lịch duy tân khai
quốc của Nhật Bản.
Nghĩ lại, có lẽ ông Hóa
Công là tác giả cuốn Lịch sử nhân loại, khéo sắp đặt biên chép để chỉ tỏ ra chỗ
nên hư hay dở của loài người cũng kỳ. Cùng là một việc đem tàu lại thị oai: Năm
1853, đoàn tàu Mỹ vào cửa biển Phố Hạ, làm cho Nhật Bản tỉnh ngộ tự tân; năm
1858, đoàn tàu Pháp tới cửa Đà Nẵng, giúp cho nước Nam ta trở nên lãnh thổ bảo
hộ của Pháp quốc. Chớ chi thuở đó vua quan mình giỏi, dân tộc mình khôn, thì có
lẽ nước Nam đã nhờ Pháp quốc có lòng tốt chạy sang đánh thức mà được tỉnh ngộ tự
tân như Nhật Bản kia rồi.
ĐỀ ĐỐC BÁ LÝ ĐEM MỘT
ĐOÀN TÀU VÔ CỬA CẤM
Lúc này đang hồi Nhật Bản
nghi kỵ người ngoài, đã ba trăm năm nay khóa chặt cửa biển, không cùng nước nào
giao thông, và không cho ghe tàu ngoại quốc ra vô buôn bán. Trừ ra có ít nhiều
người Hòa Lan và người Tàu được ở buôn bán tại cửa Trường Kỳ (長崎 Nagasaki) mà thôi. Thuở giờ cũng
chưa có nước Âu Mỹ nào ra mặt chính thức yêu cầu Nhật Bản phải mở cửa thông
thương; bắt đầu, nước Mỹ sai sứ đi tàu trận qua Nhật Bản yêu cầu việc đó trước
hết.
Triều Hiếu Minh Thiên
hoàng năm thứ 6, mùng 3 tháng 6, âm lịch, nhằm ngày 8 tháng 7 năm 1853, quan Thủy
sư Đề đốc Hoa Kỳ là Bá Lý (柏理),
theo sách Nhật, còn nguyên danh Hoa Kỳ là Matthew C, Perry) dẫn 4 chiếc tàu trận
vào đậu ngay cửa biển Phố Hạ 浦賀
[Uraga], hỏi Giang Hộ tướng quân 江戸将軍 [Edo
Shougun] về việc giao thông. Hồi này chính họ Đức Xuyên làm tướng quân, đóng ở
thành Giang Hộ (Edo, tức là Đông Kinh bây giờ), cho nên gọi là Giang Hộ tướng
quân.
Bấy giờ tại cửa Phố Hạ,
có chức quan Phụng hành 奉行
[Bugyo] của Mạc phủ đặt ra để xem xét các ghe tàu ra vô trong vịnh biển Giang Hộ
(tức là vịnh Đông Kinh). Phàm tàu ngoại quốc, dầu cho là tàu chiến đưa sứ quan
nước nào đi tới, cũng chỉ được vô cửa Trường Kỳ, chớ ngoài cửa ấy ra thì đều bị
cự, không tiếp. Công cuộc mua bán của ngoại nhân cũng chỉ được phép mở ra tại
Trường Kỳ, vả lại chỉ có người hai nước Hòa Lan và Trung Hoa được phép ấy thôi.
Giữa lúc Nhật Bản hạn chế
người ngoài rất nghiêm, canh phòng cửa biển rất kỹ, thế mà tàu binh Mỹ quốc bỗng
dưng ở đâu chạy vô ngay cửa Phố Hạ được, làm cho trên Mạc phủ, dưới quốc dân, đều
sửng sốt hãi kinh, xôn xao rúng động, coi như một cách thình lình có giặc ngoài
tới đánh nước mình vậy. Lập tức Mạc phủ và chư hầu sắp đặt võ bị sẵn sàng,
phòng rủi có biến; còn các quan đương đạo thì đều diễu võ dương oai, để tiếp kiến
Đề đốc Mỹ quốc.
Tại sao tàu Mỹ lại vào Phố
Hạ?
Nguyên là Đề đốc Bá Lý
trước khi chưa sang nước Nhật đã từng dọ xét kỹ càng nội tình của Nhật mà biết
rằng Nhật đãi người ngoài, chỉ cho vô cửa Trường Kỳ mà thôi, chớ không chịu cho
vô cửa nào khác hơn. Lúc ấy có một vị thầy thuốc Hòa Lan ở ngụ tại Trường Kỳ đã
lâu, nghe tin Đề đốc Bá Lý sắp tới, ý muốn dâng công, bèn viết thư nói cho đề đốc
hay rằng nếu như sứ quan Mỹ quốc do cửa Trường Kỳ mà vô, thì mình đây giúp làm
thông ngôn, và giới thiệu với chính phủ Nhật Bản được. Tuy vậy trong óc Đề đốc
Bá Lý đã tính toán đâu đó sẵn sàng rồi, nên chi ông không vô cửa Trường Kỳ mà lại
đến ngay Phố Hạ. Trong ý ông ta chẳng muốn theo đuôi Hòa Lan, làm nhẹ thể Mỹ quốc
đi; ông muốn tới ngay Mạc phủ Nhật Bản mà đòi phải mở cửa biển khác cho Mỹ giao
thông ra vào. Mỹ đòi thương nghị yêu cầu như thế, thật là khó lòng cho Nhật, vì
xưa nay chưa bị nước nào đòi gắt thế ấy bao giờ. Đề đốc Bá Lý biết trước rằng
thế nào Mạc phủ cũng không chịu nghe, cho nên ông ta cho đoàn tàu trận chạy tuốt
vào cửa Phố Hạ là cửa cấm và bắn súng đại bác chỉ thiên đùng đùng, ấy là để ra
oai với Nhật vậy.
Tuy ra oai như thế mặc
lòng, đến việc yêu cầu thương nghị thì Đề đốc Bá Lý lại dùng cái ngón hưởng đãi
khoan thai, rất là khôn khéo. Có mấy người thông ngôn của ông đem theo, đều giỏi
Hán văn và tiếng Hòa Lan, thành ra sự giao thiệp với người Nhật được thuận tiện
dễ dàng lắm.
Quan Phụng hành trấn phủ
Phố Hạ, vâng lệnh của Mạc phủ bảo Đề đốc Bá Lý rằng nên đưa tàu trận chạy tới cửa
Trường Kỳ rồi sẽ nói chuyện.
Đề đốc Bá Lý dư hiểu từ
trước rằng thế nào Nhật cũng có lời nói đó, nhưng ông trả lời không chịu bỏ đi
đâu hết. Luôn dịp, ông nói bắn tin cho Mạc phủ biết rằng: “Vạn quốc giao thông
với nhau, ấy là sự tự nhiên của đạo người lẽ trời phải thế. Bây giờ thế giới đã
thay đổi khác xưa, không dung cho nước nào một mình đóng chặt cửa ngõ lại được.
Nếu Nhật cầm cự không nghe, chẳng trái với đạo người lẽ trời lắm sao?”.
Rồi đó ông ngỏ ý nhất định
cứ đậu tàu chiến tại Phố Hạ, chờ Mạc phủ thương thuyết, chớ không chịu đi.
Mạc phủ đành chịu, vì
không biết lấy cách gì chống cự, xua đuổi cho nổi, chỉ nói thối thác rằng: “Việc
đổi lệnh quốc cấm để mở đường giao thông, là việc rất quan trọng, nói chuyện với
nhau hấp tấp không được. Vả chăng hiện nay Tướng quân nước tôi đang đau bệnh nặng,
không thể quyết định việc lớn mau rồi được đâu”.
Thiệt vậy, lúc bấy giờ Mạc
phủ Tướng quân là Đức Xuyên Gia Khánh 徳川家慶 [Tokugawa
Ieyoshi] mới mất, mà Nhật giấu kín, không dám phát tang, chắc là phòng sợ Mỹ quốc
thừa cơ Nhật Bản vô chủ mà bức sách gì chăng!
Đề đốc Bá Lý bèn giao hẹn:
“Vậy thì để sang năm tôi
sẽ trở lại cùng quý quốc thương thuyết cũng không muộn gì. Tới lúc đó xin chớ
có chần chờ thối thác chi nữa”.
Đoạn ông đưa ra bức quốc
thư của đại Tổng thống Mỹ quốc cùng các tặng phẩm, trao cho quan Nhật trấn thủ
Phố Hạ chuyển dâng về Mạc phủ giùm, rồi ông sai cả đoàn tàu nhổ neo kéo đi.
Cái cử chỉ của Đề đốc Mỹ
thật là ngộ nghĩnh, thật là quân tử; đã đem cả đoàn tàu vào đại cửa cấm, bắn
súng ra oai, thế mà lại bỏ đi, ước hẹn năm khác, để cho Nhật Bản có ngày giờ
suy xét sự lợi hại, chớ không phải thấy người ta yếu mà ép càn hay là ăn hiếp
ngay. Về sau người Nhật mỗi khi nhắc nhở tới, vẫn cảm phục cái trí lực chín
chắn tử tế của Đề đốc Bá Lý, và cho ông là người mở mối duy tân khai quốc cho
Nhật Bản vậy.
NÊN HÒA? NÊN ĐÁNH? CẢ NƯỚC
XÔN XAO
“Biết người, biết mình”,
là sự cần dùng ở đời cho một người, cũng như là cần dùng sinh tử cho một nước.
Một nước không tự xét mình yếu hèn, không rõ tình thế thiên hạ, bỗng dưng có
ngoại nhân lại muốn giao thiệp tử tế với mình, mà mình cự tuyệt và chống cự người
ta, ấy là một cách ngu dại, tự rước lấy cái bại cái chết vào thân vậy.
Nhật Bản khôn ngoan,
không phải một nước như thế.
Hồi đó, ngoại quốc tới cầu
giao thông với họ, không phải chỉ có một mình Mỹ quốc thôi đâu. Cũng trong năm
Hiếu Minh thứ sáu, ngày 17 tháng 7 (Tây lịch ngày 21 tháng 8 năm 1853), tức là
cách sau việc Đề đốc Mỹ quốc đem tàu binh vào Phố Hạ như đã nói ở trên đúng một
tháng 13 ngày, có một vị Đề đốc Nga quốc cũng dẫn 4 chiếc tàu binh vô cửa Trường
Kỳ, yêu cầu mở đường Nga Nhật giao thông.
Đề đốc Nga gửi quốc thư
trình Mạc phủ và xin Mạc phủ cử Toàn quyền đại thần mau mau xuống Trường Kỳ
thương thuyết. Trong khi chờ đợi, Đề đốc Nga ở Trường Kỳ muốn lên trên bộ,
nhưng quan Trấn thủ Nhật cản ngăn khôn khéo, không cho người Nga lên bờ. Nga đợi
hoài không thấy tin tức, nên ngày 23 tháng 10 năm đó (Tây lịch 23 tháng 11), cả
đoàn tàu Nga nhổ neo kéo đi.
Trong lúc này, Nhật Bản
nhờ có người nước Hòa Lan (和蘭
Hollande) cư ngụ trong xứ mà được biết công việc và tình thế nước ngoài. Những
người Nhật nào biết đọc sách Hòa Lan và cùng người Hòa Lan giao du thân cận, mà
được nghe lóm một hai chuyện ngoại giao bí mật, thì cũng biết sơ về tình thế
các nước Âu Mỹ ít nhiều. Ngoài ra, hết thảy dân chúng không ai hiểu biết lòng dạ
mặt mũi ngoại nhân và công việc của nước ngoài ra sao? Nếu có một hai người
nào tinh khôn lanh lợi mà hơi rõ tình thế ngoại bang chăng nữa, lại cũng không
hiểu việc ngoại giao là cái quái gì?
Bởi vậy, sau khi đoàn tàu
Mỹ đã nhổ neo đi rồi, có nhiều người Nhật suy nghĩ vơ vẩn rằng nước Mỹ là nước ở
ngoài ngàn muôn dặm, xa xôi cách trở quá đi, họ bảo sang năm lại tới, làm sao
mà tới cho kịp; vả lại biết chắc đâu họ có trở lại hay không?
Còn Mạc phủ thì tự hỏi: Nếu
như sang năm, sứ Mỹ trở lại thiệt, thì nước ta trả lời với họ thế nào được đây?
Bấy giờ Mạc phủ bèn hỏi
khắp chư hầu lớn nhỏ về sự nên hòa hay nên đánh. Dư luận trong nước rất là xôn
xao, kẻ bàn vầy, người nói khác, bối rối phân vân, không ai biết nhất định thế
nào được hết. Vừa gặp giữa lúc Tướng quân Gia Định 家定 [Iesada] lên nối ngôi, việc nội
chính còn đang bộn bề, rắc rối, thành ra Mạc phủ vậy, dư luận cũng vậy, chưa có
ai rảnh trí mà suy nghĩ tới việc mở nước thương cho đặng.
Nói về Đề đốc Bá Lý, sau
khi nhổ neo ở Phố Hạ ra đi, đem cả đoàn tàu chạy về Thượng Hải, rồi đậu luôn tại
đó. Chỉ phái một chiếc tàu chạy về Mỹ quốc để báo cáo vể việc hẹn hò với Nhật Bản
ra sao. Ông lại tính trước về sự qua năm Nhật Bản e còn chần chừ dây dưa, nên
ông tăng số tàu trận thêm nhiều hơn nữa, và sửa soạn để đợi đúng ngày hẹn ước lại
đi.
Qua năm, giữa hồi tháng 2
năm 1854, nhằm tháng giêng năm đầu của niên hiệu An Chính nước Nhật, Đề đốc Bá
Lý lại kéo đoàn tàu trận vào cửa Phố Hạ. Nhưng vì Phố Hạ ở cách thủ đô của Mạc
phủ là Giang Hộ hơi xa, nên chi lần này Bá Lý cho tàu chạy tuốt vô tới vịnh biển
Giang Hộ, nhắc lại chuyện năm ngoái, yêu cầu sao cho năm nay cũng phải thương
thuyết để ký điều ước Nhật Mỹ thông thương giao hảo cho rồi.
Mạc phủ bày tỏ nông nỗi
khó khăn, và nói về sự tàu Mỹ vô tới Giang Hộ như thế là không nên. Đoạn, Mạc
phủ ngỏ ý muốn cùng Bá Lý mở cuộc thương nghị ở Phố Hạ như năm trước, nhưng Bá
Lý một hai không nghe. Sau Mạc phủ năn nỉ hoài, Bá Lý mới chịu lấy Hoành Tân
làm chỗ thương nghị.
Hai bên bàn bạc thỏa thuận
rồi ký tờ điều ước Nhật Mỹ giao hảo thông thương; Nhật Bản gọi là “Bá Lý Thần Nại
Xuyên ước chương, 柏理神奈川約章”
nghĩa là tờ điều ước của Bá Lý ký với Nhật tại Thần Nại Xuyên (Kanagawa).
Tờ ước này ký ngày 3
tháng 3 niên hiệu An Chính nguyên niên của Nhật, tức ngày 31 tháng 3 năm 1854. Ấy
là ngày mở mối duy tân tự cường cho nước Nhật vậy.
Đây nên nhắc lại hồi
tháng 11 năm trước, Đề đốc Nga chờ đợi tin tức của Mạc phủ không thấy, thì bỏ
Trường Kỳ đem đoàn tàu trận đi qua Thượng Hải, gặp Đề đốc Mỹ tại đây, bàn tính
rằng cả hai đội chiến thuyền Nga Mỹ hiệp lại ra oai, bắt buộc Nhật Bản phải mở
cửa thông thương, chắc là Nhật sợ hoảng hồn mà vâng lời ngay. Song, Đề đốc Bá
Lý không nghe cái mưu đó, vì không muốn hiếp bức Nhật Bản quá. Rồi đó một mình
ông dẫn đoàn tàu Mỹ đến Giang Hộ, kết quả cùng Nhật ký xong thương ước một cách
êm đềm tử tế.
Sau, tàu Nga lại đến Trường
Kỳ rồi lại bỏ đi nữa. Mãi đến ngày 11 tháng 7 niên hiệu An Chính thứ 5, tức là
ngày 7 tháng 8 năm 1858, Nga mới tới Giang Hộ cùng Nhật thương nghị xong và ký
tờ ước như là Nhật đã ký với Mỹ.
Thế là Mỹ thông hảo với
Nhật trước, rồi sau mới tới Nga, bởi vậy Nhật cho Mỹ có công đầu hết trong cuộc
duy tân khai quốc của mình, và có lòng cảm mến tin yêu Mỹ lắm. Thật là nhờ có
Bá Lý lúc đó sắp đặt tử tế khôn ngoan, có phước cho Nhật lắm vậy. Ngày nay, Nhật
có hờn Mỹ ghét Mỹ cũng chỉ để trong bụng thôi, chớ bề ngoài vẫn ân cần niềm nở,
vì họ nhớ ơn xưa của Mỹ đã làm cho họ phát phẫn tự cường đó.
BÊN TRONG TỜ ĐIỀU ƯỚC THẦN
NẠI XUYÊN
Phải biết thuở ấy Nhật Bản
cự tuyệt người ngoài và đã trải qua một thời kỳ cấm đạo giết đạo không vừa gì,
nếu như một nước nào khác đã đem tàu trận tới trước hết, chắc là ỷ mạnh ăn hiếp
Nhật Bản nọ kia và thừa cơ Nhật đang hèn yếu mà ra tay chiếm đoạt không chừng!
Song nước Mỹ lúc bấy giờ đối với Nhật thiệt là quân tử, chỉ muốn giao hảo thông
thương chớ không muốn ỷ mạnh ăn hiếp chút nào, xem ngay việc đề đốc Nga rủ hiệp
sức ra oai bức bách mà đề đốc Mỹ không nghe, đủ biết Mỹ thành tâm và có độ lượng
với Nhật ra thế nào?
Ngay đến tờ điều ước Mỹ
nài Nhật ký tên, cũng chẳng có khoản nào là Mỹ dành lấy miếng béo phần ngon mà
hiếp bức gì Nhật trong đó.
Thiệt vậy, tờ ước Thần Nại
Xuyên chỉ có 12 khoản rất là vắn tắt đơn sơ, chưa có bàn định giao ước gì về việc
bán buôn đổi chác giữa hai nước; Mỹ chỉ xin Nhật mở hai cửa biển Hạ Điền và
Sương Quán cho tàu bè của người Mỹ lui tới ra vào; còn cách đối đãi với
người Mỹ thì xin Nhật đừng có gay gắt như là đối đãi người Hòa Lan kia. Sự thiệt,
lúc ấy tiếng là người Hòa Lan được Nhật để cho ở buôn bán tại Trường Kỳ, nhưng
không khác là bị Nhật cấm cố chút nào.
Tờ ước Nhật Mỹ nói đây lấy
sự thân ái giao thông của người hai nước làm tôn chỉ cốt yếu, mà không phân biệt
sang hèn mạnh yếu gì hết. Hai bên đối đãi nhau bình đẳng. Nếu nước này gặp lúc
ghe tàu nước kia bị nạn, thì phải cứu vớt giúp đỡ cho nhau, hễ họ muốn mua sắm
các thức cần dùng chi cũng không bị ngăn trở…
Đại khái tờ ước chỉ có vậy
đó thôi.
Tuy lúc này Nhật đang
khóa cửa, không thích mua bán giao thiệp với ngoại bang, nhưng đến việc cứu nạn
phò nguy là việc nhân đức, không lẽ nào Nhật từ chối cho được. Đề đốc Bá Lý chỉ
lấy có chỗ đó cảm lòng người Nhật, chớ không kiếm chác hay thắt ngặt những chuyện
khó khăn rắc rối gì, thành ra Mỹ được Nhật vui lòng mở cửa thông thương ngay, lại
có chỗ nhớ công mến đức của Mỹ nữa là khác.
MẤY ÔNG CỐ ĐẠO LÀM CHO NHẬT SINH
NGHI GHÉT NGƯỜI ÂU CHÂU
Xem qua đoạn trên, ta đã
biết rằng giữa thế kỷ XIX là lúc năm châu qua lại, bốn biển giao thông rồi, mà
nước Nhật cũng như nước Nam mình, cản ngăn chém giết Thiên Chúa giáo đồ và cố
giữ cái chính sách “đóng cửa nhà, cự người lạ”, cho đến đỗi nước Mỹ sau Nga đem
tàu trận tới hăm dọa một cách khôn ngoan, tỏ bày về chỗ lợi hại, kèo nài mãi,
Nhật mới chịu mở cửa thông thương.
Tại sao vậy?
Tại sao đến lúc bấy giờ,
Nhật còn trốn tránh ngoại giao và cố giữ chính sách khóa cửa?
Có phải là dân họ ngu dại
dã man, không biết sự thông thương giao hảo với nước ngoài là có lợi
chăng?
Nếu thiệt họ khờ khạo
không biết cái lợi đó thì sao cách ít lúc sau họ biết mở tung cửa ngõ ra cùng
người ngoài giao thông, rồi họ nhảy vọt lên một cái, là được duy tân hùng cường,
ngang vai bằng lứa với các nước giàu mạnh nhất nhì trong thế giới?
Vậy thì ở trong tất phải
có những duyên cớ gì, ta không nên không xét. Ta nên trở lại chỗ dĩ vãng của Nhật
Bản một chút mà xem thực tình, tự nhiên câu hỏi trên đây được tiếng trả lời
minh bạch lắm vậy.
Kể tới hồi bắt đầu duy
tân cải cách, Nhật Bản có lịch sử đã trên 2500 năm, vốn là một nước từng thâu
góp được văn hóa của đại lục đưa sang mà dùi mài tô điểm, thành ra có một cái đặc
sắc bày tỏ rõ rệt rồi. Tức như sau đời Trung cổ trở đi, bao nhiêu học thuật kỹ
xảo của mấy nước ở đại lục như Trung Hoa, Ấn Độ, Triều Tiên đều truyền qua Nhật
Bản rồi tiêm nhiễm biến hóa mà trở nên một nền học thuật kỹ xảo riêng của Nhật
Bản.
Đến tư tưởng tính tình,
tuy là dân Nhật chịu sự cảm hóa của người đại lục, nhưng mà về sau dân Nhật
cũng tự thay màu đổi vẻ, khác hẳn người đại lục. Thế là giống người Nhật có cái
tính cách riêng, tự họ sáng tạo ra cái đặc sắc của họ vậy.
Khi có tàu Mỹ vô cửa Phố
Hạ, là khi Nhật Bản đã sẵn có những nền tôn giáo, luân lý, văn học, chính trị,
luật pháp, mỹ thuật, công nghệ, thảy thảy đều tấn tới khá lắm rồi, chớ không phải
là xứ man mọi gì đâu. Lúc ấy mà có người Tây Âu coi thường xem khinh Nhật Bản, tưởng
đâu nước này giống như mấy cù lao ở Nam dương kia, ấy là người Tây Âu tối mắt lắm.
Vậy mà sao Nhật Bản cứ
khư khư ôm chặt cái chính sách khóa cửa ngồi nhà, không ngó ngàng cần thiết chi
tới cuộc ngoại giao với ai?
Câu hỏi đó chính người Nhật
họ trả lời như vầy:
“Nào có phải lỗi tự Nhật
Bản chúng tôi đâu; kỳ thiệt là tại người Âu Tây thuở trước vụng tính mà ra. Phải
biết rằng người Âu bắt đầu để chân vào nước Nhật trên 360 năm trước kia, chớ phải
tới giữa thế kỷ XIX thì đất nước chúng tôi mới thấy có bóng người Âu châu sao!
Nếu như họ muốn thành tâm giao hảo với chúng tôi thì chúng tôi có cự tuyệt ngoại
giao hay khóa kín cửa ngõ làm chi!”
Lời người Nhật nói vậy
đúng với chân tình thiệt sự lắm.
Phải, xem sử Nhật Bản, ta
thấy từ đầu thế kỷ XVI, đã có người Tây phương lui tới đất nước của giống dân Đại
Hòa rồi. Trước hết là người Bồ Đào Nha (Portugals) sang Nhật vào hồi 1541, kế đến
người Y Pha Nho. Rồi sau tới người Hòa Lan, người Hồng Mao nối gót nhau vào nước
Nhật, hoặc truyền đạo, hoặc bán buôn. Đông nhất là hai nước Bồ và Y. Lúc đó,
thiệt Nhật Bản không cự ngoại nhân ra vô buôn bán và cũng chẳng cấm cản gì về sự
truyền đạo.
Song vì mấy ông cố đạo Bồ,
Y truyền giáo được thong thả thịnh vượng rồi thì ỷ y lạm dụng cái thế lực của
tín đồ. Lăm le muốn can phạm đến chính quyền trong xứ. Chính phủ Nhật dò xét ý
tứ của bọn ngoại nhân truyền giáo muốn thừa cơ xâm lấn đất nước của Nhật, vì đó
mới có cái tư tưởng ngờ ghét xua đuổi người ngoài nổi rùm lên khắp nước.
Sự thiệt, bọn này có phải
chuyên tâm giảng đạo mà thôi đâu, phần nhiều ỷ mình và được trớn rồi thò ra lắm
cái cử chỉ âm hiểm ngang tàng, làm cho Mạc phủ Nhật phải nghi, nhân dân Nhật phải
giận. Nào là phá hoại những chùa phật miếu thần và chê bai công kích tôn giáo của
Nhật sẵn có từ xưa; nào là cậy mình có thế lực mà hay ăn hiếp dân không theo đạo,
sinh chuyện thưa kiện lên tới cửa quan hoài. Vì đó mà chính phủ Nhật phải để ý
ngờ vực người Tây phương và lo ngại giáo đồ Cơ Đốc có âm mưu phản trắc.
Lúc bấy giờ, tuy cùng là
người Âu châu đi kiếm ăn phương xa với nhau, nhưng mà người Hòa Lan và người Y
Pha Nho đang có chuyện xích mích; về cuộc buôn bán ở Ấn Độ và ở Nam Dương, người
hai nước Bồ Đào Nha và Y Pha Nho cũng đang giành ăn với nhau kịch liệt. Đã vậy,
lại về tôn giáo, đàng thì theo Cơ Đốc tân giáo (Protestantisme), đàng thì theo
La Mã cựu giáo (Catholicisme), tuy là cùng gốc mà khác nhành như thế, thành ra
như lửa hồng nước lạnh không đụng được nhau. Bọn giáo sĩ qua truyền đạo Thiên
Chúa ở Nhật thuở ấy, chính là phe La Mã cựu giáo, và phần đông là người Bồ, người
Ý.
Người Hòa Lan khôn lanh
quá; họ thấy Mạc phủ Nhật Bản có ý lo ngại mấy vị cố đạo Bồ, Y, thì họ càng đâm
thọc thêm, nói rằng phe đạo La Mã bạo tàng họa tâm. Mạc phủ nghe lời, bèn hạ lệnh
cấm. Thế là người Hòa Lan trừ được kẻ nghịch của họ mà thâu hết mối lợi buôn
bán ở nước Nhật vào trong tay.
Cái lệnh cấm đạo gây nên
sự rối loạn một lúc, Mạc phủ thấy rõ cái ảnh hưởng của La Mã cựu giáo có hại,
nên chi lại càng nghiêm cấm hơn nữa. Nhân muốn phòng ngừa sự lo về sau, Mạc phủ
chỉ cho riêng người hai nước Hòa Lan và Trung Quốc được ở Trường Kỳ mà thôi,
còn thì nhất thiết ngoại nhân đều bị ngăn cấm, không được tới lui buôn bán gì hết.
Ta xem sơ lai lịch như thế,
đủ rõ cái nguyên nhân chỉ tại mấy người giáo sĩ Bồ, Y ngang tàng nham hiểm, mới
khiến cho Nhật Bản phải lo thân mà cấm đoán ngoại nhân, tuyệt đường giao thiệp,
làm hại lây cho những người chuyên nghề bán buôn; chớ ban đầu Nhật Bản có ngăn
cản người ngoài vào xứ họ thông thương và truyền giáo đâu.
Hai vị Mạc phủ tướng quân
đã thi hành chính sách “khóa nước” đó, trước là Phong Thần Tú Cát 豊臣秀吉 [Toyotomi Hideyoshi], sau là Đức
Xuyên Gia Khang 徳川家康 [Tokugawa
Ieyasu]. Tới nay, người Nhật không hề chê trách gì hai ông trước kia khóa nuớc
là sai lầm thất kế chút nào. Trái lại, họ nhìn nhận là sự đương nhiên, và so
sánh công cuộc của hai vị tướng quân Phong Thần cùng Đức Xuyên đã làm đó, cũng
như thuở Anh quốc, nữ hoàng Elizabeth đã đánh đuổi người Y-pha-nho và cấm
nghiêm cựu giáo kia vậy. Việc làm hai đàng tuy có khác nhau nhưng đến bản ý
cũng thế mà thôi.
Nhật Bản khóa nước bắt đầu
từ họ Phong Thần làm Tướng quân, kế tới họ Đức Xuyên lên thay quyền nối ngôi,
cha truyền con nối mấy đời, cứ giữ mãi cái chính sách ấy, trước sau luôn 250
năm. Mãi tới năm 1854, Đề đốc Bá Lý nước Mỹ tới gõ cửa lần thứ hai, rồi cùng Nhật
Bản ký điều ước Thần Nại Xuyên, như trên đây đã nói, bấy giờ Nhật mới mở cửa ra
thông thương giao hảo với các nước ngoài vậy.
- Đức Xuyên Gia Khang 徳川家康 [Tokugawa Ieyasu] (1543 - 1616)
- Ông là người sáng lập và cũng là vị Shōgun (Tướng quân) đầu tiên của
Mạc phủ Tokugawa
- * Phong Thần Tú
Cát 豊臣秀吉 [Toyotomi
Hideyoshi] (1537 - 1598) - Được coi là người thứ hai thống nhất Nhật
Bản
[1] . Uất ức, tự nổi giận
với chính mình. (BT)
Chương III. TRONG LÚC
KHAI QUỐC
Trên từ chư hầu dưới khắp
quốc dân, bỗng chốc đều sáng trí tỉnh hồn, bao nhiêu cái khí khái “khóa nước cự
di” đang sục sục như lửa cháy dầu sôi, nay bắt đầu lần hồi tiêu tan đi hết, mà
đổi thay chói rạng bằng cái khí khái “duy tân tự cường”.
Nhật
Bản nhìn nhận cái ngày Đề đốc Bá Lý đem tàu binh tới ra oai gõ cửa, bắt họ ký tờ
ước ở Thần Nại Xuyên, ấy là ngày mở mối duy tân tự cường cho nước họ. Nghĩa là
Nhật Bản có kỷ nguyên lịch sử mới, bắt đầu từ ngày ấy mà đi.
Kể về tinh thần thì phải,
nhưng về thiệt sự thì chưa. Thiệt sự đến năm 1868, Minh Trị Thiên hoàng 明治天皇 [Meiji Tennou] đem văn võ bá quan tế cáo
trời đất tổ tiên thề nguyền 5 khoản, rồi hạ lệnh nhất thiết cải cách duy tân, bấy
giờ mới thiệt là ngày Nhật Bản bước vào kỷ nguyên mới.
Cái thời kỳ 13 năm, từ
1854 đến 1867, nội tình quốc sự của Nhật Bản có lắm việc biến động đổi dời, tức
là những việc khơi nguồn đắp móng cho cuộc duy tân tự cường của họ. Bởi vậy,
trong thời kỳ này, chính thể, quốc tình Nhật Bản ra sao, cùng là ảnh hưởng trí
thức của ngoại nhân đối với những hạng duy tân chí sĩ ở Nhật ra sao, ta cũng
nên xét qua cho biết.
BỌN NHÀ NHO OÁN
TRÁCH MẠC PHỦ VỀ VIỆC MỞ NƯỚC
Như trong khoản dưới
chương I đã nói: về đời cận cổ, Nhật Bản sinh ra chế độ phong kiến mới, là Mạc
phủ tướng quân, kéo dài một hơi đến 700 năm. Bắt đầu từ Nguyên Lại Triều dựng
lên chế độ ấy (Tây lịch 1986).
Ông đại tướng quân thay mặt
Thiên hoàng, nắm lấy thực quyền chính trị nước Nhật, tự lập ra chính phủ riêng
có thực lực, gọi là Bá phủ 覇府
[Hafu] hay Mạc phủ 幕府
[Bakufu] rồi phong cho các tướng sĩ thân tín của mình, mỗi người làm chúa một
châu quận tức là chư hầu; hết thảy ở dưới quyền thống thuộc của đại tướng quân.
Họ Nguyên là ông tổ của chế độ Mạc phủ vậy.
Từ đó về sau, trải qua
nhiều cuộc trị loạn hưng vong, có mấy lần Mạc phủ thay dòng đổi họ, theo lẽ mạnh
được yếu thua. Trong khi đó, Thiên hoàng vẫn truyền nối một hệ thống từ xưa,
nhưng ngài chỉ ở ngôi báu làm vì, chớ quyền hành thì không có.
Hồi Đề đốc Bá Lý đem tàu
binh vô gõ cửa Nhật Bản, và ký tờ ước Nhật Mỹ ở Thần Nại Xuyên 神奈川 [Kanagawa], chính là hồi Mạc phủ lập ở
Giang Hộ 江戸 [Edo], dòng dõi họ
Đức Xuyên 徳川 [Tokugawa] làm tướng
quân. Chính Đức Xuyên tướng quân đã thuận ký tờ ước Nhật Mỹ vậy. Lúc này trên
tướng quân có đức Thiên hoàng ngồi hư vị ở kinh đô, còn dưới tướng quân thì có
300 chư hầu lớn nhỏ, chia nhau cai trị nước Nhật, tình thế rõ ràng là nước
phong kiến như Trung Quốc đời Chu, hay là như Âu châu cổ thời.
Họ Đức Xuyên nối nhau làm
tướng quân, cầm chính quyền Nhật Bản luôn 250 năm. Trong hai thế kỷ rưỡi đó, chỉ
duy có lúc hạ lệnh khóa nước, đuổi các giáo sĩ Bồ và Y, rồi bọn tín đồ Thiên
Chúa ở trong xứ nổi lên làm loạn ít lâu, ấy là lúc có nội loạn khiến cho Mạc phủ
phải dùng binh lực đánh dẹp mà thôi, ngoài việc ấy ra, cả nước được yên ổn rất
lâu dài, ta có thể nói rằng cổ kim đông tây chưa có nước nào được một lúc thái
bình vô sự lâu quá như thế.
Nhưng thái bình lâu lắm
cũng có chỗ hại; từ tướng quân chư hầu đến sĩ tốt nhân dân, trên dưới đều thong
thả vui chơi, luôn mấy trăm năm, không phải động binh luyện võ, thành ra tướng
quân vốn lấy võ lực oai trị thiên hạ mà võ lực ấy lâu ngày không dùng, tự nhiên
phải suy yếu đi. Thình lình đến lúc có ngoại nhân đem tàu trận tới gõ cửa ra
oai, bắt phải khai cảng thông thương, thì Mạc phủ đành phải vâng theo, chớ
không thể chống cự mà giữ riết cái chánh sách khóa nước hơn 200 năm nay được nữa.
Bấy giờ cả nước náo động
kinh hoàng, nghị luận nổi lên như sấm vang bão dậy; ai cũng xôn xao trách oán Mạc
phủ sao có sái phép tổ tiên, bỏ lệ quốc cấm, cho ngoại nhân tới lui buôn bán, để
gây điều tai vạ hiểm nghèo cho quốc gia? Dân cho Mạc phủ chuyên quyền làm vậy
là bất trung với vua, có tội với nước.
Nhất là đám nhà nho thủ cựu
càng quai mỏ già hàm thống trách Mạc phủ hơn hết.
Phải, cùng trong thuở ấy,
nước Nhật cũng không khác chi nước Nam mình đây, có đám nhà nho chỉ bo bo thủ cựu,
thích rung đùi ngâm thơ, ngoài Nghiêu Thuấn Khổng Mạnh ra họ không biết việc
thiên hạ là gì hết. Huống chi Nhật Bản còn có cái tình thế đặc biệt, là trải
hai trăm mấy chục năm trời đóng chặt cửa ngõ, cấm tuyệt ngoại nhân, thành ra
tình thế bên ngoài ra sao, trong xứ ít có ai hay biết. Lúc ấy quốc dân vẫn đang
say mê chuyện đọc sách Tàu, đang sùng bái những Nghiêu Thuấn Khổng Mạnh, mà giữ
thói cô lập tự tôn, coi nhỏ thiên hạ, tưởng trên đời không còn có ai và cũng
không ai bảnh bao hơn mình. Bỗng chốc có việc ở Phố Hạ phát ra, Mạc phủ nhượng
bộ, khác nào một tiếng sét đánh vang lừng, đám nhà nho nghe phải chát tai nhức
óc, rồi túa lên bi thương phẫn khích nọ kia, nhưng nhắm lại đó cũng là lý thế tự
nhiên, không có chi lạ!
Trái lại, Mạc phủ nắm
chính quyền ở trong tay, thường có dịp cùng người Hòa Lan trú ngụ tại Trường Kỳ
chuyện trò hỏi han, nhờ vậy mà hơi rõ tình thế Âu Mỹ văn minh ra thế nào, cho
nên Mạc phủ tự biết việc khai quốc là nên, là cần, không sao đóng cửa từ khách
được nữa.
Song, khốn nỗi lúc này Mạc
phủ đã yếu thế đi rồi, chẳng những không đủ sức để cản ngăn làn sóng quốc dân
chống chọi oán trách mình, lại cũng không dám công nhiên ra mặt để mở mang cuộc
ngoại giao cho thiệt hẳn hoi rộng rãi mới là đúng chỗ cần dùng lợi ích cho nước
nhà. Té ra Mạc phủ đã thiếu lòng tự tin, mà cũng không trí dũng đoán, cho nên
tiếng rằng mở cửa ngoại giao, chẳng qua chỉ là việc do sự thế bắt buộc vậy
thôi, Mạc phủ chập chờn lỡ dở ở giữa khoảng nửa úp nửa mở, nửa làm, nửa không,
có hại cho đại cuộc nước Nhật vô số, nếu không thì Nhật có lẽ được duy tân tự
cường sớm hơn mươi năm trước rồi.
Ví dụ hồi năm 1854, Mạc
phủ đã cùng Đề đốc Bá Lý ký tờ hiệp ước tại Thần Nại Xuyên rồi, trên kia đã nói
tờ ước này nội dung rất là giản dị, chỉ nói sơ về khoản ghe tàu đi biển có gặp
hoạn nạn trôi dạt vô bờ, thì người hai nước cứu giúp lẫn nhau mà thôi, chớ chưa
đả động gì đến việc giao thông mậu dịch. Mới vậy mà nghị luận phản kháng đã nổi
lên trong dân gian um sùm, làm cho Mạc phủ lính quýnh. Cách hai năm sau, (1856)
viên tổng lãnh sự Mỹ là Cáp Lợi Tư (Harry, theo sách Nhật: 哈利斯) đến tận Giang Hộ yết kiến tướng quân xin
đổi lại tờ ước trước kia, mà ký tờ ước hòa thân và mậu dịch cho phân minh; luôn
dịp ông ta khuyên Mạc phủ nên mở toang cửa ngõ ngoại giao với tất cả các nước.
Rồi đó hai bên ký tờ ước mới, gọi là tờ ước Giang Hộ.
Lúc này, làn sóng phản
kháng càng nổi lên cao, Mạc phủ lo sợ quốc luận ồn ào, liền sai sứ đem tờ ước
trên đây về kinh đô dâng lên Thiên hoàng ngự lãm và xin Ngài phê chuẩn cho.
Song bao nhiêu lâu nay triều đình đã xa cách với thực quyền chính sự, còn các vị
công khanh đại thần trong triều cũng không có ông mô hiểu biết sự tình hải ngoại
ra thế nào; thành ra triều đình không biết sao mà phê chuẩn tờ ước, để mặc tướng
quân nhận lấy trách nhiệm. Vả lại, các ông chư hầu có quyền to thế mạnh, đang
muốn dựa oai triều đình để chống phá cái chính sách khai quốc của Mạc phủ, vì họ
không chịu thay đổi lệ cũ phép xưa, họ càng tâu bày xúi giục triều đình đừng có
phê chuẩn tờ ước.
Bởi mấy lẽ đó, sứ thần của
tướng quân phải bồi hồi thất ý ở kinh đô, rồi đành trở về Giang Hộ tay không. Mạc
phủ càng thêm lúng túng lo sợ, chẳng biết day trở thế nào! Thiệt, hồi này là hồi
nội tình Nhật Bản rắc rối khó khăn: Trên thì có cái triều đình không quen thuộc
chính sự, dưới thì có đám chư hầu không thông hiểu ngoại tình, còn quốc dân lại
hầu hết thủ cựu, chí sĩ đua nhau hô hào nghị luận vang rùm, bao nhiêu mũi tên đều
nhắm cả vào Mạc phủ mà bắn. Võ lực của Mạc phủ đã vì sự thái bình lâu đời mà
suy yếu rồi, nay muốn đè ép quốc luận để tự quyền làm việc lợi cho nước nhà,
cũng là không đủ sức mới khổ!
Bên trong bị có tình thế
khó khăn như vậy, còn bên ngoài thì các nước Âu Mỹ hằng ngày tới thúc giục Mạc
phủ mau mau ký điều ước với họ và mở hết các hải cảng ra. Trong lúc đó, quan
ngoại giao của Mạc phủ gặp gỡ tiếp rước người ngoài càng nhiều, thì càng biết rằng
việc khai quốc là việc phải làm, chớ không thể nào chần chờ thối thác được. Chỉ
tiếc rằng Mạc phủ không dám công nhiên tỏ bày lợi hại để hiệu triệu quốc nhân,
thống nhất quốc luận, thành ra việc làm vẫn cứ phải làm, mà không dám làm mạnh
bạo và bị nghị luận xôn xao công kích hoài!
Dầu sao mặc lòng, ta cũng
phải nhìn nhận rằng Mạc phủ cam chịu quốc luận xôn xao công kích, nhưng cứ xóa
bỏ chính sách khóa nước đã mấy trăm năm, mạnh bạo mở cửa ra cùng Âu Mỹ giao
thông mậu dịch, ấy là Mạc phủ có công lao ở trong cái cơ sở khai quốc của Nhật
vậy. Cơ sở này có biết bao là hạng danh nhân chí sĩ, hoặc lấy tri thức, hoặc lấy
khí khái, đóng góp tài năng tâm lực vào mà xây dựng lên; có lắm người lấy máu
thịt mà đóng góp vào nữa là khác.
MẤY ÔNG CÁC LÃO VỚI VIỆC NGOẠI
GIAO KHAI QUỐC
Giữa lúc Đề đốc Bá Lý mới
đến Phố Hạ yêu cầu Nhật Bản mở cửa thông thương, thì vừa gặp nhằm lúc Mạc phủ Đức
Xuyên có tang sự: Tướng quân Gia Khánh 家慶
[Ieyoshi) mang bệnh qua đời (1853), con là Gia Định 家定 [Iesada) lên nối ngôi, chưa quen việc
chính, kế vài năm cũng mất (1858). Tới Gia Mậu 家茂 [Iemochi), tuy còn nhỏ tuổi, nhưng vì là
dòng chính, nên được lên nối chức tướng quân cho đến năm 1866 tạ thế. Vậy là
trước sau 13 năm trời, ngôi tướng quân ba lần đổi chủ, mà hết hai đời chủ là trẻ
con, thành ra bao việc chính đều ủy thác quan hệ ở trong tay mấy ông các lão (閣老 [Kakuro], bực đại thần lão quan của Mạc
phủ) gánh vác lo liệu hết thảy. Cũng may có mấy ông này là hạng tuấn kiệt, nặng
lòng ưu quốc, rõ biết thời cơ; chính tay mấy ông vun đắp lên cơ sở khai quốc buổi
đầu, chớ nếu Nhật Bản gặp phải bọn lão thần ngu muội như tình cảnh một vài xứ
khác ở phương Đông này cùng trong lúc đó, thì e vận mạng nước Nhật cũng xui xẻo
như ai rồi không chừng. Thế mới biết cuộc hưng vong suy thịnh của một nước,
khôn nhờ, dại chịu, có quan hệ ở hạng người chấp chính lắm thay!
Các lão của Mạc phủ lúc bấy
giờ đương đầu với cuộc ngoại giao khó khăn và tự nhậm công việc quốc gia trọng
đại, cả thảy có bốn người là: A Bộ Chánh Hoằng 阿部正弘 [Abe Masahiro], Quật Điền Chánh Mục 堀田正睦 [Hotta Masayoshi], Tỉnh Y Trực Bật 井伊直弼 [Ii Naosuke] và An Đằng Tín Chính 安藤信正 [Andou Nobumasa].
A Bộ Chánh Hoằng vốn là
người để tâm xem xét về sự tình của các nước ngoài, biết rằng Nhật Bản đến lúc
không khai quốc không xong, cho nên lúc có tàu Mỹ kéo tới ra oai ở Phố Hạ thì
chính ông ta chủ trương khai quốc, chính ông ta quyết định việc ký tờ ước Nhật
Mỹ ở Thần Nại Xuyên. Bình thời, ông hay khuyên nhủ thúc giục đám thiếu niên anh
tuấn nên đọc sách Hòa Lan, xét việc Âu Mỹ. Lại mướn thầy Hòa Lan tới chỉ vẽ cho
Nhật Bản rèn tập về lục quân và hải quân lối mới. Vì một phần gánh vác quốc gia
đại nhiệm, lo nghĩ nhọc nhằn quá, Chánh Hoằng phát đau, một phần nữa
sức yếu tuổi già rồi, gánh vác đại sự không nổi nữa, bèn tấn cử và giao phó cho
Quật Điền Chánh Mục nắm giữ then chốt ngoại giao. Lúc ấy ngoại giao
là việc quan hệ hơn hết cho quốc gia. Không bao lâu, Chánh Hoằng qua
đời thì Chánh Mục lên nối trọng chức.
Chánh Mục tuy không
tự đọc chữ Hòa Lan được, nhưng mà sai bọn gia thần hằng ngày đọc sách Hòa Lan rồi
thuật lại cho mình nghe. Nhờ vậy mà Chánh Mục cũng thông hiểu tình thế
hải ngoại nhiều lắm, mới dám mạnh bạo cùng quan tổng lãnh sự Mỹ là Cáp Lợi Tư
thương thuyết mà ký hai tờ ước khác về việc thông giao và việc thông thương,
như đoạn trên kia đã có nói qua.
Hồi đó dưới Chánh Mục,
có mấy tay văn quan anh tuấn, như bọn Nham Lại Trung Chấn 岩瀬忠震 [Iwase Tadanari], Tỉnh Thượng Thanh
Trực 井上清直
[Inoue Kiyonao], Xuyên Lộ Thánh Mô 川路聖謨
[Kawaji Toshiakira], đều là hạng có tài năng cao rộng, hiểu rõ việc ngoài. Mặc
dầu quốc luận sôi nổi công kích về việc khai quốc thế mấy, bọn này cũng cứ đốc
thúc tán thành việc đó là cần dùng cấp bách và hết sức biện bạch lợi hại cho mọi
người nghe. Họ chính là hạng tiên phong chí sĩ khai quốc vậy.
A Bộ Chánh Hoằng 阿部正弘 [Abe Masahiro] (1819 - 1857) Quật Điền
Chánh Mục 堀田正睦
[Hotta Masayoshi] (1810 - 1864) An Đằng Tín Chính 安藤信正 [Andou Nobumasa] (1820 - 1871) Tỉnh
Y Trực Bật 井伊直弼
[Ii Naosuke] (1815 - 1860)
Nhất là Nham Lại Trung Chấn
học rộng văn hay, có tài hùng biện. Tờ ước Nhật Mỹ ở Giang Hộ, chính là do tay
Trung Chấn thảo ra.
Ấy tức là tờ ước mà Mạc
phủ sai sứ đem về kinh đô tâu xin Thiên hoàng phê chuẩn, nhưng triều đình để mặc
Mạc phủ làm sao thì làm, như chuyện ở trên xa đã nói. Lúc đó Chánh Mục bị Tổng
lãnh sự Mỹ là Cáp Lợi Tư yêu cầu phải ký tờ ước này, đem về kinh đô tâu xin
Thiên hoàng phê chuẩn chưa xong thì vừa đụng có việc kế vị ở trong nhà tướng
quân xảy tới, thành ra Chánh Mục và bọn đồng chí bỗng mất quyền hành. Thế là tờ
ước Giang Hộ trên đây còn đang lôi thôi chưa biết triều đình nhất quyết lẽ nào,
thì trong ngôi các lão ở Mạc phủ đã có chuyện tan rã, thay quyền đổi tay.
Tới đây, Tỉnh Y Trực
Bật phò ấu chúa là Gia Mậu và gánh lấy đại sự, làm như thủ tướng
của Mạc phủ, có toàn quyền nhiếp chính, gọi là Đại lão 大老 [Tairou]. Lúc này cả kinh đô và toàn quốc,
những kẻ không chịu sự mở cửa giao thông, càng sôi nổi xôn xao dữ lắm. Mấy tờ ước
đã bàn định ổn thỏa rồi, phần nhiều có cơ đến phải hủy bỏ.
Nhưng Tỉnh Y là
người can cường quyết đoán, mỗi việc gì cũng hỏi han các lão là Tùng Bình
Trung Ưu 松平忠優
[Matsudaira Tadamasu] rồi tự mình gánh vác trách nhiệm nặng nề một cách rất là
mạnh bạo. Tháng 7 năm 1858, Tỉnh Y cứ việc ký tên trong tờ ước mới với
Mỹ, ấy chính là tờ ước Giang Hộ đã nói kia vậy. (Tờ ước này qua năm sau hai bên
có thêm vô mấy khoản về ngạch thuế nhập cảng, còn đại thể thì cứ giữ mãi tới
năm Minh Trị thứ 27 tức là 1894, nghĩa là lúc Nhật Bản duy tân hùng cường rồi,
tuy phải sửa lại toàn văn, mà đại ý vẫn để y cũ không đổi; vậy càng tỏ ra thuở
tân cựu giao thời, về việc ngoại giao, Nhật Bản đã có tay cứng lắm rồi).
Hồi năm 1858, sau khi tờ
ước Nhật Mỹ ở Giang Hộ đã ký rồi, có nhiều nước khác đến xin Nhật Bản ký ước với
họ, thì cũng phỏng theo kiểu mẫu của tờ ước Giang hộ này cả. Bởi vậy tờ ước
Giang Hộ đối với lịch sử duy tân của Nhật Bản là một việc trọng yếu lắm.
Lúc ấy theo chân và bắt
chước Mỹ quốc mà được cùng Nhật Bản ký kết giao ước, có Anh, Nga, Pháp và Hòa
Lan; người Nhật gọi chung là “Ngũ quốc đính ước” (五国訂約).
Tuy các nước lấy sự tử tế
mà yêu cầu Nhật Bản mở cửa nước ra cùng họ ký tờ giao hảo thông thương, chớ
trong đó họ vẫn giữ lấy phần hơn và không đãi Nhật Bản bằng cách bình đẳng. Liệt
cường đãi Nhật hồi đó cũng như kiểu đãi Trung Quốc mấy lâu nay vậy. Nghĩa là ở
trong những cửa biển Nhật Bản mở ra làm chỗ ngoại quốc thông thương, có vạch
riêng từng khu vực cho ngoại nhân ở tự do, gọi là “cư lưu địa” 居留地 [Kyoryuuchi], tức là tô giới
(concession). Thuế ở đất cư lưu, về phần ngoại nhân thu, cho tới ngoại nhân có
kiện thưa hay phạm tội gì, hoặc riêng họ với nhau, hoặc dính với người Nhật,
cũng đều do quan lãnh sự của họ xử phân, gọi là “lãnh sự tài phán quyền 領事裁判権 [Ryoujisaibanken]”, (droit
d’exterritorialité), chớ họ không chịu quyền xử phân của quan tòa Nhật, vì họ
cho pháp luật của Nhật còn non nớt thấp thỏi, không đáng xử người văn minh.
Ngay lúc bấy giờ, người
Nhật cũng biết thế là mất quyền, là nhục quốc, nhưng ban đầu đành phải cam chịu,
không biết làm sao. Đến sau khai quốc rồi, không ngày nào mà chính phủ và quốc
dân Nhật không phấn phát lo toan để xé những điều ước bất bình đẳng ấy đi. Có
cách lo toan nào khác hơn là mình tỏ ra mình mạnh; hễ mình mạnh thì tự nhiên
người ta phải nhường bước và coi mình ngang vai bằng bậc ngay. Trải mấy chục
năm Minh Trị duy tân, Nhật Bản đã tỏ ra họ mạnh, nên chi đến năm Minh Trị thứ
27 (Tây lịch 1893), đầu hết là Anh quốc cùng Nhật sửa tờ ước cũ, ký tờ ước mới,
không còn có tô giới và quyền lãnh sự tài phán nữa.
Kế tới trận Trung Nhật
chiến tranh, là đám vật lộn giữa “cậu tý hon” với “ông khổng lồ”, mà cả lục
quân, hải quân Nhật Bản bá chiến bá thắng, làm cho binh mã nhà Thanh chạy thối
bán chết, manh giáp không còn. Liệt cường thấy vậy phải nảy ra tấm lòng kiêng nể
Nhật Bản. Bấy giờ các nước Mỹ, Nga, Ý, Đức, Pháp, Áo, Hung… hết thảy đều nối
chân Anh quốc, cùng Nhật sửa lại điều ước khác hẳn. Tóm lại, đến cuối năm Minh
Trị thứ 30, tức là năm 1897, tất cả các nước Âu Mỹ đều cùng Nhật xé bỏ ước cũ,
ký lại ước mới, lấy tinh thần rất bình đẳng mà đãi Nhật; thế là bao nhiêu cái dấu
vết táng quyền nhục quốc ở trong những điều ước ký với ngoại bang bắt đầu từ
năm 1854 trở đi, tới nay Nhật Bản tỏ sức mạnh của mình ra mà bôi trơn rửa sạch
vậy.
Nhân nói chuyện “Ngũ quốc
đính ước” trong lúc Mạc phủ mới khai quốc mà cây viết kéo thẳng tới chuyện 40
năm về sau, giờ ta lại nên trở về gốc cũ mà nói tiếp theo cho biết những tay
lão thần chí sĩ của Nhật lo toan công cuộc khai quốc lúc ban đầu hết sức khổ
tâm và đến đỗi lưu huyết ra thế nào?
MÁU CỦA CÁC TƯỚNG TIÊN
PHONG KHAI QUỐC
Trên kia đã nói hồi đó
người Nhật hầu hết vẫn đang mê man Nho học, có thói tự đại tự tôn, rất mờ mịt tối
tăm về tình thế Âu Mỹ. Trừ ra có đôi ba chục người được đọc sách Hòa Lan và năm
bảy ông lão thần phò tá Mạc phủ, hơi biết sự thế ngoại quốc, là hiểu cái chỗ nước
nhà cần kíp khai quốc mà thôi. Thiệt nhờ có hạng cầm quyền và hạng có học ngoài
như thế, nước Nhật mới được mở mặt mở mày, chớ nếu họ cũng tối tăm cố chấp như
nhất ban dân chúng thì dòng giống non sông Đại Hòa đâu có vẻ vang rực rỡ như
ngày hôm nay.
Nhưng lúc ban đầu, mấy
người đi tiền đạo tiên phong mạnh bạo khai quốc, mà bị dân chúng xôn xao công
kích, thiệt họ mang lấy khổ tâm ở vào khổ cảnh, không biết sao mà nói cho cùng.
Hơn 250 năm khóa chặt hải
cảng, cấm tuyệt ngoại nhân, nay Mạc phủ tự biết là sự cần dùng lợi ích cho nước
nhà, mà mở cửa giao thông với ngoại bang, không thế không được. Song, dân chúng
cho là việc trái nghịch với phép nước lệ xưa, nổi lên la ó rầm rầm: Mạc phủ
chuyên quyền làm xằng! Mạc phủ phá hoại quốc pháp! Lúc trước, một vị các lão
phò tá tướng quân, cầm quyền Mạc phủ là Quật Điền Chánh Mục, sai sứ đem tờ
ước Giang hộ (tờ ước Nhật Mỹ thông thương) về kinh đô xin Thiên hoàng phê chuẩn
mà không xong, kế tới Tỉnh Y Trực Bật lên nối chức thế quyền, nghĩ
mình là bậc đại lão Mạc phủ, thôi thì cứ việc quyết định ký tờ ước với Mỹ cho
xong, rồi sau tâu lên cho Thiên hoàng hay cũng được, vì đó là việc ở trong chức
quyền của mình được tự tiện mà.
Song, bọn chí sĩ tôn quân
không chịu như thế; họ cho đại lão Tỉnh Y làm chuyện tự chuyên thế ấy
là thất kính với đức Thiên hoàng ở trên, và lại làm cho ấu chúa (chỉ vào tướng
quân Gia Mậu đang còn nhỏ tuổi) mang tiếng bất nghĩa. Thành ra dư luận
nổi dậy như núi đổ sấm vang, trách tội Mạc phủ đáo để, cái khí phẫn uất của dân
lúc này ồn ào nóng nảy quá, không thể nào cản được. Tuy vậy, Tỉnh Y cũng
ra sức đè nén cái làn sóng phản đối và cứ việc hô hào chủ trương khai quốc. Khốn
nỗi, phe tán thành thì hiếm hoi, còn phe phản đối thì đầy tràn trong nước. Bọn
oán trách Mạc phủ và phản đối chính sách khai quốc, đến đỗi kết phe lập hội,
dùng tới võ lực, ai tán thành khai quốc thì họ “làm thịt”. Lúc này mặc dầu có bọn
chí sĩ vì phạm tội quốc sự mà bị hạ ngục rất nhiều, nhưng phong trào phản đối vẫn
cứ nồng nàn sôi nổi.
Chính mình Tỉnh Y,
giữa ngày 24 tháng 3 năm 1860, từ nhà riêng đi vô trong thành bái yết tướng
quân, bị mười mấy người tử sĩ đón đường đâm chết. Tỉnh Y là người thứ
nhất bị thiệt mạng vì chính sách khai quốc vậy.
Nghĩ lại, bước đầu duy
tân cải cách của một quốc gia nào cũng phải có những sự rối loạn hy sinh như thế.
Người Nhật nhìn nhận rằng máu của Tỉnh Y và những kẻ tiếp theo Tỉnh
Y, chính là những tài liệu để xây dựng lên đài văn minh cường thịnh của Nhật Bản
ngày nay.
Tỉnh Y là người sáng
suốt dũng cảm, chỉ vì yêu nước, lo sự lợi ích cho nước mà bị chết oan mạng, chừng
đó oai quyền Mạc phủ càng suy, quốc luận xôn xao càng gắt. Đã vậy rồi các nước
bắt chước Mỹ quốc mà tới yêu cầu kết giao với Nhật mỗi ngày mỗi đông, làm cho Mạc
phủ ở trong cái cảnh ngộ càng thêm khó khăn bối rối hơn nữa. Nhưng đến đây, việc
nước đã làm thì đành phải làm tới, chớ không sao thụt lui được nữa. Bởi vậy Mạc
phủ thây kệ quốc luận công kích xôn xao, lại nghe lời thỉnh cầu thông thương của
nước Bồ Đào Nha, rồi cùng nước này ký một tờ ước, y như kiểu đã ký với năm nước
trước kia.
Người đứng giữa con sóng
ngoại giao, trước mũi tên quốc luận hồi này là An Đằng Tín mục. Trong nước
chê bai chính sách khai quốc của Mạc phủ càng ngày càng hồng hộc như trận bão
cơn giông, nhất là sau khi Tỉnh Y Trực Bật bị đâm chết, rồi, bọn phản
đối lại hay dùng võ lực đánh đập xâm phạm tới ngoại nhân nữa.
An Đằng ở cảnh khó
khăn như thế mà điều đình được êm thấm và không thất tín với liệt cường, thật
là có công ngoại giao nhiều lắm.
Rồi sau, An Đằng cũng
bị bọn phản đối đón đường chém cho một dao, nhưng may khỏi chết.
Bọn phản đối chính sách
ngoại giao khai quốc đây, có cái danh hiệu là Nhương Di đảng 攘夷党 [Jouitou], mục đích của họ hết sức chống
ghét ngoại nhân; nói rõ, là người Âu Mỹ, mà họ cho là hạng man di nhung địch.
Nghĩ cũng thú vị ly kỳ
cho cái thuyết Nhương Di của người Nhật hồi đó, ban đầu có một ý nghĩa, rồi sau
có một ý nghĩa khác. Ban đầu, họ khi rẻ Âu Mỹ, cho là di địch, cho nên nhất thiết
họ cự tuyệt bài trừ, không chịu cùng Âu Mỹ giao thông, không muốn cho Âu Mỹ vào
trong nước họ. Rồi một lúc sau, có dịp cho họ hoảng hồn sáng mắt, ngó thấy Âu Mỹ
rõ ràng tài, mạnh, khôn, giỏi, mình phải học theo bắt chước mới được, thì bấy
giờ mau mau họ tỉnh ngộ tự tân, cố học lấy những tài hay sức mạnh của Âu Mỹ
sinh tồn cạnh tranh, một ngày kia lấy ngay gậy ông đập vào lưng ông cho sướng!
Ấy, nhờ họ có cái tinh thần
mau tỉnh ngộ tự tân và tỉnh ngộ rồi thì rất hăm hở mạnh bạo về sự tấn hóa cho
nên cuộc duy tân tự cường của họ được mau thành công kết quả đó.
MẤY TIẾNG SÚNG
LÀM TAN MẤT KHÔNG KHÍ NHƯƠNG DI
Kể ra người Nhật coi Âu Mỹ
như di địch và có óc cự tuyệt ngoại nhân trải đã lâu đời rồi, chớ không phải đến
hồi bắt đầu khai quốc này mới có đâu. Căn do phát ra thiệt từ 300 năm trước, bọn
giáo sĩ Bồ, Y cậy thế lộng hành, gây nên một phen rối loạn trong nước, thành ra
Mạc phủ phải hạ lệnh khóa cửa, xua đuổi ngoại nhân. Ban đầu Mạc phủ lại truyền
lệnh Nhương Di khắp nước, dạy dân cư xung quanh mé biển hễ thấy ghe tàu ngoại
nhân kéo tới thì phải đánh đuổi đi. Người Nhật có lòng ngờ ghét ngoại nhân, phần
nhiều bởi đó mà ra.
Về sau Mạc phủ tuy có bớt
phép nghiêm cấm đi, nhưng mà chuyện xưa còn in sâu trong óc dân, và lại lòng
dân ngờ ghét ngoại nhân lâu ngày đã thành thói quen, chôn chặt vào trong trái
tim khối óc rồi. Bởi vậy đến lúc khai quốc lòng người nổi lên phản đối mới dữ.
Bao nhiêu đời nay nước
nhà vẫn nghiêm cấm ngoại giao, đến giờ bỗng chốc bị ngoại nhân kéo tới nài ép
phải ký điều ước nọ kia, tuy là Mạc phủ cùng ít nhiều chí sĩ thức thời tự biết
chính sách “khóa cửa cự di” là không thể ôm giữ được nữa, nhưng mà chư hầu và
quốc nhân hầu hết không hiểu tình thế ngoại bang liệt cường ra sao, thành ra họ
thấy Mạc phủ khai quốc thì túa lên, phản đối dữ dội.
Lúc này trong hai trăm
sáu chục chư hầu nước Nhật, có hai chư hầu đất lớn thế to, vào bậc cường phiên 強藩, là Tát Ma 薩摩
[Satsuma] và Trường Châu 長洲
[Choushuu] chống chọi chính sách khai quốc gắt gao hơn hết. Bao nhiêu kẻ chí sĩ
bất bình kéo đến đất nước của hai cường phiên mà âm mưu hoạt động, rồi phong
trào phản đối dữ tợn tràn lan khắp nước.
Họ nhao nhao lên cầu khẩn
đức Thiên hoàng xuống chiếu khu trừ ngoại nhân; hoặc muốn lấy thế dân tâm dân
khí mà ép buộc Mạc phủ không khai chiến với ngoại nhân không được. Nhưng Mạc phủ
và hạng chí sĩ thức thời đã dư hiểu sức mạnh của Âu Mỹ và cũng dư hiểu sự khai
quốc là sự cần dùng lợi ích cho Nhật Bản, thế thì Mạc phủ có khờ dại gì sinh sự
khai chiến với Âu Mỹ mà mang hại cho quốc gia, vả lại chống cự liệu được mấy
hơi?
Nhất là đám sĩ phu đã chịu
giáo dục Hán văn, tức là bọn nhà nho, thuở nay vẫn tự tôn tự đại, khinh rẻ người
Tây phương, cho người Tây phương là di địch, bây giờ thấy Mạc phủ chủ trương
khai quốc, tiếp rước ngoại nhân, thì họ phùng mang trợn mắt, la ó nhiều hơn ai
hết.
Họ bất bình cùng trong một
lúc kêu gào toan tính cả hai chủ nghĩa: Một là tôn vương, nghĩa là phá đổ
Mạc phủ đi, khôi phục quyền chính Thiên hoàng như 700 năm về trước; Hai là
nhương di, tức là xua đuổi nhất thiết ngoại nhân, chẳng giao hảo thông thương
gì ráo.
Năm 1861, dân tâm quốc luận
đang phực phực như lửa nóng nước sôi thế ấy, lại nhè xảy ra một việc ngoại giao
rắc rối, làm như lửa cháy còn đổ dầu thêm. Ấy là việc Nga quốc bỗng dưng đem
binh chiếm giữ lấy cù lao Đối Mã 対馬
[Tsushima], định làm một nơi đồn lũy cho đội chiến thuyền của họ đóng tại Thái
Bình Dương. Mạc phủ hết sức năn nỉ mà Nga không chịu rút binh đi, trả đất lại
cho Nhật. Sau Mạc phủ phải cậy ông công sứ Anh can thiệp gần nửa năm trời, bấy
giờ Nga mới chịu lui. Nhưng Mạc phủ cậy mượn ngoại bang cứu giúp mình như thế,
làm cho dân tâm càng thêm tức giận, và từ đó lại càng thù ghét ngoại nhân.
Tóm lại bọn thủ cựu bất
bình, trước hết còn lấy ngôn luận kêu gào, kế sau dùng tới thủ đoạn tàn sát. Hoặc
chém những người chủ trương tán thành việc khai quốc; hoặc đâm giết mấy tay lão
thần mưu quốc trong phủ tướng quân, tức như chuyện Tỉnh Y Trực Bật bị giết
chết và An Đằng Tín Mục thọ thương đó. Muốn làm cho Mạc phủ phải khai
chiến mà nguy, và muốn khiêu khích cho thành cuộc đại biến, nên họ lại tới mấy
nơi hải cảng thông thương, kiếm chuyện gây gổ với ngoại nhân rồi đập phá cửa
nhà và chém giết người ta nữa. Lúc này có nhiều ngoại nhân bị hại; đến đỗi một
quan Thông ngôn của công sứ Mỹ quốc cũng bị bọn thủ cựu bất bình đón đường đâm
chết, làm cho công sứ các nước đều phát giận, rủ nhau hạ cờ xuống, bỏ Giang Hộ
mà đi Hoành Tân.
Người các nước ở Nhật Bản
hồi này đều lấy làm nguy; hai nước Anh Pháp phải đem binh ở dưới tàu lên thành
Giang Hộ để bảo hộ dinh công sứ của họ tại đó. Vậy cũng chưa đủ, các nước suy
nghĩ tất phải ra oai trừng trị để cho bọn thủ cựu bất bình ở trong nước Nhật
khiếp vía một phen, có vậy thì sau ngoại nhân mới ở yên ổn được. Ấy là họ tính
thế ra oai giữ mình vậy thôi, chớ hẳn không dè đâu rằng mấy phát súng thần công
của họ sắp bắn ra, chính là tiếng chuông đồng hồ báo thức, làm cho người Nhật tỉnh
ngủ vùng dậy, đổi ngay đầu óc, rồi thì ba chân bốn cẳng, chạy rượt theo kịp Âu
Mỹ trên đường tấn hóa văn minh!
Các nước chủ tâm nhè mấy
cái đầu nào cứng nhất mà gõ vào ít hèo, tự nhiên toàn thân phải rúng, họ biết
lúc bấy giờ hai chư hầu Tát, Trường là hai cường phiên đứng đầu phản đối khai
quốc và thù ghét ngoại nhân hơn cả, cho nên họ quyết tới giữa nhà hai cậu này
mà trừng trị một phen cho biết mặt nhau chơi.
Năm 1863, mấy chiếc tàu
Anh kéo tới bắn phá thành trì Lộc Nhi đảo 鹿児島
[Kagoshima], là đất phong của chư hầu Tát Ma 薩摩.
Qua năm 1864, bận này lớn
chuyện hơn bốn nước Anh, Pháp, Mỹ, Hòa Lan hợp tàu binh lại thành một đại đội,
rầm rộ kéo tới Hạ Quan 下関
[Shimonoseki], là đất thuộc về chư hầu Trường Châu mà chĩa súng vào bắn phá rầm
rầm.
Hai hiệp súng này chẳng
có ý nghĩa chi là cách cừu thù đối chiến; chẳng qua chỉ như câu chuyện “trò” Nhật
mới định tựu học nhà trường văn minh mà lại có ý khinh thầy, ghét thầy, cho nên
“thầy” Âu Mỹ muốn gõ sơ một vài cây thước dằn mặt vậy thôi!
Nhưng, thiệt là hai hiệp
súng tỉnh hồn duy tân, hai hiệp súng cứu tinh độ mạng cho người Nhật được trở
nên vẻ vang tốt đẹp.
Thiệt vậy, lúc bấy giờ
hai cường phiên Tát Ma, Trường Châu và tất cả bọn nhà nho tự phụ, bọn thủ cựu bất
bình, nghe hai hiệp súng tan thành bể núi này rồi, ai nấy đều mở mắt giật mình
biết rằng ngoại nhân có súng lớn tàu to thế nọ, tài cao sức mạnh thế kia, mình
đây dễ gì đuổi xua chống cự họ được. Chống cự họ mãi sẽ đến nguy hại quốc gia
trước mắt cho coi. Trời ơi! Họ không phải là di địch đâu, ta “nhương” gì nổi? Vả
lại có muốn “nhương” họ thì ta cũng phải làm sao có những súng lớn tàu to, tài
cao sức mạnh như họ, hay là hơn họ mới được chớ. Thôi bây giờ mình phải khai quốc,
phải cùng họ giao hảo hòa thân, không còn có thể nào đừng được nữa.
Vậy rồi trên từ chư hầu
dưới khắp quốc dân, bỗng chốc đều sáng trí tỉnh hồn, bao nhiêu cái tâm não, cái
khí khái “khóa nước cự di” hôm đang sục sục như lửa cháy dầu sôi, thì nay bắt đầu
lần hồi tiêu tan đi hết, mà đổi thay chói rạng bằng cái tâm não, cái khí khái
“duy tân tự cường”, đầu dây mối nhợ thật là mở ra từ đây.
Chương IV. MỞ CUỘC DUY
TÂN
Từ nhỏ đến lớn, từ trong
ra ngoài, từ trên xuống dưới, nào là chính trị giáo dục, nào là văn hóa võ bị,
nào là công thương, lý tài, nào là cơ khí, nghệ thuật, cho đến những chuyện y
phục tầm thường, tập quán lặt vặt, chẳng sót một vấn đề nào hay một phương diện
nào mà không hóa xưa theo nay, đổi cũ ra mới.
Sự
đổi thay vận mạng của một dân tộc quốc gia, đã đành trước hết phải nhờ có bọn
đương quyền khôn ngoan sáng suốt và bọn chí sĩ thức thời làm hướng đạo tiên
phong, nhưng cũng phải nhờ nơi dân tâm dân khí có biết hăm hở tấn hóa tự cường
mới được. Đó là hai sự cần dùng cho cuộc tấn hóa, phải nương dựa lấy nhau và
cùng đi với nhau.
Nếu có bọn đương quyền và
chí sĩ sốt sắng cải cách song bị phần đông người ta còn quá ngu si thủ cựu, tự
họ không muốn khôn, muốn mạnh, hay là họ tưởng mình đã khôn lắm mạnh lắm rồi,
như vậy thì việc quốc gia lợi ích, khó lòng trông mong thi thố thành tựu gì được.
Trái lại nếu chí sĩ có, dân tâm có, nhưng vô phước mà bị đám người cầm quyền là
lũ đầu óc ngu dại, cứ ngồi lỳ trên cao, lấy quyền to sức mạnh của chúng để đè
ép cản trở ý muốn tấn hóa của dân, thì việc quốc gia đại kế cũng không trông
mong gì làm nổi. Dân tộc nào gặp cảnh ngộ thế ấy, kết quả đố khỏi hoặc là trong
nước nổi lên một phen cách mạng đổ máu gớm ghê, hoặc là bị mất nước với người
ta, nếu không cũng bị lợi dụng và yếu hèn mãi; chắc ai cũng ngó thấy nhiều quốc
gia bị lôi kéo đắm chìm vào trong cảnh dưới đó cảnh vong quốc nhiều hơn. Nhật Bản
đã có dân khá, lại không bị quan ngu, thành ra họ tấn hóa tự cường được là phải
lắm.
Tuy ban đầu Mạc phủ nhất
định chủ trương khai quốc mà dân tâm xôn xao phản đối; chẳng qua chỉ là sự hiểu
lầm chốc lát đó thôi; tới chừng có mấy hiệp súng ở Lộc Nhi đảo 鹿児島 [Kagoshima] và Hạ quan 下関 [Shimonoseki] thì cả nước tỉnh ngộ như chớp
nhoáng và mạnh bạo thay đổi tư tưởng ngay. Chớ không cố chấp. Bao nhiêu tâm lực
trước kia để vào chủ nghĩa “tỏa quốc nhương di”, nay dồn cả về một mục đích
“văn minh cải cách”, vậy rồi nền duy tân dựng lên.
ĐỨC XUYÊN MẠC PHỦ DÂNG TRẢ
CHÍNH QUYỀN
ĐỨC XUYÊN KHÁNH HỈ 徳川慶喜 [Tokugawa Yoshinobu] (1837-1913)
- Người kết thúc chế độ Mạc Phủ, năm 1867.
Sau khi các nước ra oai bắn
phá thành trì của hai cường phiên Tát, Trường rồi, thì cái tư tưởng “tỏa quốc
nhương di” của bọn thủ cựu khắp trong nước đều theo làn khói thần công đại bác
của ngoại nhân mà tiêu tan đi liền. Cuộc biến đổi tư tưởng này phát khởi từ cuối
năm 1864, chính lúc Hạ Quan vừa mới bị đoàn tàu bốn nước hợp lại ra oai bắn
phá, làm cho đảng “nhương di” giật mình hoảng vía, biết ngoại nhân có sức mạnh
ghê, nước mình không sao chống cự nổi; chống cự thì chỉ hiểm nguy thiệt hại cho
mình.
Trông người rồi ngẫm lại
ta mà cảm! Chẳng những người Nhật đã tỉnh ngộ không nên “tỏa quốc nhương di” mà
thôi, đồng thời họ lại tỉnh ngộ về chỗ sinh tử tồn vong của họ, tất nhiên phải
tấn hóa duy tân cho bằng những kẻ đã tới bắt buộc họ mở cửa thông thương và đã
giơ súng ra hăm dọa nọ kia mới được. Giờ họ xoay ra cái tư tưởng “đảo Mạc tôn
Vương” 倒幕尊王 [Sonnou Toubaku], để làm
cơ sở cho cuộc duy tân cải cách.
Năm 1866, tướng quân Đức
Xuyên Gia Mậu qua đời. Đức Xuyên Khánh Hỉ 徳川慶喜 [Tokugawa
Yoshinobu] vô ngồi Mạc phủ để nối nghiệp nhà, cầm quyền nước.
Qua năm sau 1867, Hiếu
Minh Thiên hoàng 孝明天皇
[Koumei Tennou] thăng hà, thái tử mới có 15 tuổi, lãnh ba món truyền quốc thần
khí 2500 năm mà lên nối ngôi báu. Tân quân lên kế vị năm 1867, qua năm sau 1868
đổi niên hiệu là Minh Trị nguyên niên, ấy là Minh Trị Thiên hoàng 明治天皇 [Meiji Tennou]. Viết tới đây, tôi chợt
nhớ lại câu thơ truyền tụng của Corneille[1]: “Giá cao chẳng đợi tuổi già mới
nên” (La valeur n’attend pas le nombre des années), thật đúng hết sức. Vua Minh
Trị lên ngôi tuy còn nhỏ tuổi mặc lòng, nhưng đã có tài cao trí lớn, chính ngài
ra tay cải cách duy tân, mở ra kỷ nguyên mới cho nước Nhật, đưa nước Nhật lên
cõi phú cường hạnh phúc vậy.
Trong khoảng ba bốn năm
đang nói đây, nhân tâm quốc luận hăm hở kêu gào chủ nghĩa “đảo Mạc tôn Vương” dữ
lắm. Ai cũng bảo chế độ phong kiến trên 680 năm nay là chế độ Mạc phủ cầm quyền,
bây giờ phải đến ngày kết thúc rồi. Ở đời này mà trong nước Nhật Bản còn có hai
chính phủ: Một nơi chỉ giữ lấy danh phận hư không, một nơi thì nắm trọn thực
quyền chính trị, khiến cho phép tắc chính lệnh tách ra hai ngả, thể thống quốc
gia coi chẳng ra sao. Hồi nước nhà còn khóa cửa sống riêng một mình, tuy không
hại gì cho công việc quốc gia, chớ một mai đây khai quốc tự tân, thì việc bang
giao tất phải lấy danh nghĩa Thiên hoàng để tỏ ra với liệt quốc mới được. Có
hai chính phủ cùng đứng trong một xứ, lấy danh nghĩa mà nói, là sự trái ngược
không thể nào dung. Vậy nay muốn lo quốc gia đại kế thì trước hết Mạc phủ nên
đem chính quyền dâng nạp lại triều đình, và xóa bỏ cái chế độ phong kiến bảy
trăm năm nay đi, để Thiên hoàng chủ trương, quốc gia thống nhất, có vậy thì việc
lớn mới có thể kết quả thành công được.
Ban đầu, do những nhà chí
sĩ có thanh danh kiến thức đứng lên hô hào xướng xuất chủ nghĩa “tôn Vương đảo
Mạc”, sau có nhiều ông Chúa phiên 藩主
[Hanshu] (cũng tức là chư hầu) hùng cường trong nước nghe lấy làm phải, bèn ra
sức tán thành. Tháng 4 năm 1867, triều đình vời các Chúa phiên về kinh, nhóm hội
chư hầu, để hỏi ý kiến về quốc sự, thì mấy ông Chúa phiên thế lực đều tâu nên
bãi Mạc phủ. Rồi đó mấy ông sai sứ tới khuyên tướng quân Khánh Hỉ dâng nạp quyền
chính về Thiên hoàng.
Khánh Hỉ là bậc anh hùng
quyết đoán, yêu nước kính vua, tự trong bản tâm đã có chí muốn bỏ ngôi tướng
quân của mình lâu rồi, song còn sợ giữa lúc quốc bộ gian nan mà mình bỏ chức
thì trên vua dưới dân cho là mình trốn lánh trách nhiệm chăng; nay thấy dân tâm
sôi nổi, quốc sự dập dồn, tất phải có cái quyền tôn nghiêm thống trị của đức
Thiên hoàng mới có thể sửa sang đại cuộc, lo việc duy tân được. Bởi vậy khi
nghe lời khuyên rất phải, thì Khánh Hỉ vui mừng nhận theo liền. Rồi đó Khánh Hỉ
viết biểu dâng lên triều đình, lời lẽ rất trung thành thống thiết, xin nạp lại
quyền chính về Thiên hoàng; tự mình lui về ở ẩn tại Tỉnh Cương, như là một tên
dân thường vậy.
Ấy là việc ngày 14 tháng
10 năm 1867.
Thử hỏi thế gian có mấy
người ở ngôi cao chức trọng, có oai lớn quyền to, biết vì quốc gia đại kế mà bỗng
chốc lui bước từ ngôi được một cách thái nhiên quân tử như Đức Xuyên Khánh Hỉ (徳川慶喜 Tokugawa Yoshinobu] vậy không? Nghĩ lại
có lắm quốc gia đến lúc ngửa nghiêng hầu mất, mà bọn quyền thần ngu dại, quan
trưởng hư hèn, còn ngồi lỳ bám chặt lấy cái danh vị hư vinh của chúng, không để
cho những người có tài đức thế vào, có lẽ cứu chữa được cơn nguy cuộc rối. Than
ôi! Quốc gia nguy vong mà bọn ngu hèn cố vị tham quyền, thật là đáng giận, đáng
bỉ!
Khánh Hỉ trả quyền lui bước,
thế là cái gia nghiệp tướng quân của họ Đức Xuyên trải 250 năm đến đây hạ màn,
mà cả cái chế độ Mạc phủ ở Nhật Bản dựng lên từ cuối thế kỷ XII đến đây cũng
chung cuộc.
Từ đó, toàn quốc về đức
Thiên hoàng thống trị, chính phủ mới thành lập, kỷ nguyên mới bắt đầu.
Nhân nói về chung cuộc Mạc
phủ, tưởng nên xét qua ảnh hưởng luôn thể, cho tiếp câu chuyện, rồi sẽ trở lại
công cuộc Minh Trị duy tân.
Một cái chính thể lâu đời
bền gốc, có quan hệ thâm thiết với lịch sử, với chủng tộc, với quốc gia, như là
Mạc phủ ở nước Nhật, nay bỗng dưng xóa bỏ đi, mặc dầu Khánh Hỉ tướng quân là bực
quân tử cao nhân, tự mình vui vẻ ngôi phú quý nhất đời như là thảy chiếc giày
hư vớ rách đi nữa, nhưng bề nào việc đó cũng là một việc đại biến, không có lẽ
nào không có ảnh hưởng tới thế đạo nhân tâm và quốc gia chính trị ít nhiều. Chắc
hẳn trong trí Khánh Hỉ [Yoshinobu] tưởng ai cũng kính vua, yêu nước và có độ lượng
quân tử như mình, cho nên khi thấy sự mình thoái vị là sự chính đáng cần kíp,
thì vội vàng dâng biểu phụng hoàn đại chính rồi thì xuống ngôi tìm chỗ đi ẩn
ngay, chẳng có liệu trước tương lai và sắp đặt hậu sự gì cả, vì đó mà xảy ra có
nội loạn rắc rối một hồi.
Bấy giờ trong nước chia
ra làm hai phái đông tây, một phái tôn Vua, một phái phò Mạc, xung đột nhau để
giành lại quyền thế. Phái phò Mạc là một số chư hầu ở miền đông, không muốn
khai quốc duy tân, vả lại có mang ơn Mạc phủ đã phong hầu chia đất cho, ngoài
ra còn tám muôn tướng sĩ là gia thần bộ hạ của Mạc phủ, bấy lâu họ chịu ơn cơm
áo tướng quân, tự nhiên họ phải dốc lòng trung thành ủng hộ tướng quân đến
cùng. Sau lúc Khánh Hỉ bỏ ngôi lui bước rồi, thì cả bọn chư hầu và tướng sĩ phò
Mạc nổi lên làm loạn ở nhiều nơi, nhât là ở Quan Đông 関東 [Kantou], Áo Vũ 奥羽 [Auu], và Sương Quán 箱館 [Hakodate], ra mặt chống cự với triều
đình. Ban đầu loạn đảng ép Khánh Hỉ trở về Giang Hộ một lúc để dựng Mạc phủ lại
như cũ, nhưng Khánh Hỉ không chịu. Công sứ Pháp quốc muốn lấy binh lực giúp cho
Khánh Hỉ thu hồi đại vị, Khánh Hỉ cũng không nghe, chỉ khăng khăng giữ vững cái
chí tôn Vua trả quyền, và lại ăn năn việc mình sơ sót ban đầu khiến nên có loạn.
Song, loạn đảng không có bao nhiêu người và chí hướng của họ cũng trái nghịch với
nhân tâm thời thế, thành ra không có thực lực gì. Binh triều đình chỉ mất công
đánh dẹp có hơn một năm, từ 17 tháng 1 năm 1868 tới 27 tháng 6 năm 1869, thắng
luôn bốn trận, thế là bình định được nội loạn, càng tôn thêm oai quyền của triều
đình.
Hồi đó Khánh Hỉ vẫn ở yên
tại Tỉnh Cương, lấy thú gảy đàn xem sách làm vui, trải 30 năm mới dời về Đông
Kinh; đến năm 1902, tức là năm Minh Trị thứ 35, đức Thiên hoàng triệu vô bệ kiến
và phong cho Công tước. Hình như lối 1910 hay 1911, Khánh Hỉ mới qua đời[2].
Người Nhật đối với Khánh Hỉ rất tôn kính nhớ thương, vì cái cử chỉ cao minh
quân tử của Khánh Hỉ đã từ bỏ quyền hành, phụng hoàn đại chính, kể ra cũng là
người có công với lịch sử duy tân của nước Nhật vậy. Nếu như lúc đó Khánh Hỉ
không chịu kết thúc Mạc phủ, thì nhân tâm không khỏi chia lìa, quốc thế chẳng
chịu ảnh hưởng, chẳng những là cuộc duy tân e chậm trễ khó khăn, mà lại còn sợ
có một phen cách mạng biến động gớm ghê, không tránh khỏi được.
NĂM LỜI THỀ VỚI TRỜI
ĐẤT THÁNH THẦN
Minh Trị Thiên hoàng lên
kế vị ngày 14 tháng 2 năm 1867, đến ngày 14 tháng 10 năm đó, tướng quân Khánh Hỉ
dâng biểu xin trả lại Thiên hoàng tất cả đại chính quốc gia, để ngài thống nhất
toàn quốc, thực hành duy tân. Trong tờ biểu có câu nói như vầy, tỏ ra tấc lòng
Khánh Hỉ yêu nước kính vua rất là thành thật.
“Hiện nay việc ngoại giao
càng ngày bề bộn khó khăn, trừ phi quyền chính triều đình tóm thâu về một đường,
thì mối giềng phép tắc khó lòng mà dựng lên được.
Hạ thần trộm nghĩ ngày
nay tất phải sửa hẳn lệ xưa đi, đem chính quyền dâng lại triều đình, rộng cho
quốc dân cạn lời công nghị, và muôn việc đều trông thánh thượng xem xét quyết
đoán, rồi cả nước đồng lòng hiệp sức, cùng nhau bảo hộ hoàng quốc, như thế thì
nước nhà có thể tấn tới ngang hàng với vạn bang trong thế giới đặng. Khánh Hỉ
tôi tận trung hy vọng cho quốc gia chỉ có một việc đó.”
Triều đình chuẩn y lời
tâu, liền ra tờ đại hiệu lệnh, bá cáo trong nước về việc vương chính phục cổ (王政復古 quyền vua trở lại như xưa), tóm tắt lời cốt
yếu như sau này:
“Đức Xuyên Mạc phủ tâu
xin trả lại quyền chính của triều đình đã giao phó cho từ xưa nay.
Triều đình y theo lời tâu
đó.
Vậy từ nay trở đi, chức
Nhiếp quan[3] cùng là Mạc phủ đều bỏ dứt hẳn. Bây giờ triều đình trước hết tạm
đặt ra 3 chức Tổng tài, Nghị định và Tham dự để trông coi liệu định các việc, lấy
cái tôn chỉ của đức Thần Võ lập quốc ngày xưa làm gốc. Không kể là thế tộc võ
biền, kẻ trên người dưới, phàm là quốc dân, thì ai nấy đều phải đồng lòng ra sức
lo tính việc chung.
Triều đình khuyên hết thảy
dân chúng từ đây đều nên gắng gổ tự tân, rửa cho sạch những cái thói hư tật xấu,
đem lòng sốt sắng tận trung, đặng làm việc công, giúp nhà nước…”
Ấy là mấy lời đầu hết của
Minh Trị Thiên hoàng ra hiệu lệnh duy tân vậy.
Một nước ôm giữ những
phép xưa thói cũ từ mấy ngàn năm, ngày nay bỗng chốc thay đổi sửa sang nhất thiết,
cho hợp thời thế và kịp Tây phương, thật là một việc quan hệ lớn lao hết sức.
Muốn bày tỏ chỗ quan hệ đó ra, và muốn cho dân biết những cái tôn chỉ duy tân
ra thế nào, nên chi tháng 3 năm 1868, Minh Trị Thiên hoàng bèn dẫn hết thảy triều
thần văn võ, cùng là các bậc phiên chúa chư hầu (lúc này cũng đang còn chư hầu,
hai năm sau mới bãi hẳn) làm lễ rất nghiêm trang long trọng, tế cáo trời đất tổ
tiên, đọc lời thề gồm có 5 khoản:
Mở ra hội nghị rộng rãi,
trăm công ngàn việc đều lấy theo công luận mà quyết định;
Trên dưới một lòng, ra sức
sửa sang việc nước.
Văn võ một đường, từ công
khanh đến thứ dân, đều được toại chí, khiến cho lòng người hăm hở sốt sắng.
Thảy bỏ hết những thói hư
mối tệ chất chứa lâu đời, từ đây gắng gổ duy tân tự cường, hợp theo công đạo của
trời đất.
Cầu trí thức ở thế giới,
làm cho nước nhà trở nên mạnh lớn vẻ vang.
Rồi thề sao làm vậy, 5 lời
thề này chính là chí nguyện, quy mô và chính sách của vua Minh Trị sửa sang
thay đổi nước Nhật, trước sau có chừng 30 năm, là trở nên một quốc gia văn
minh, một dân tộc hùng cường, đứng ngang hàng với các nước Âu Mỹ. Vua Minh Trị
là người sáng tạo ra nước Nhật mới vậy.
ĐẠI KHÁI CÔNG CUỘC PHÁ
CŨ ĐỔI MỚI TRONG 30 NĂM
Công cuộc Nhật Bản duy
tân vừa mau chóng mạnh bạo, vừa vĩ đại hoàn toàn, y như lời Minh Trị Thiên
hoàng đã thề với trời đất thần minh, khi đã dốc lòng ra tay biến hóa cải lương,
thì mỗi việc gì cũng biến hóa cải lương hết thảy. Từ nhỏ đến lớn, từ trong ra
ngoài, từ trên xuống dưới, nào là chính trị giáo dục, nào là văn hóa võ bị, nào
là công thương, lý tài, nào là cơ khí, nghệ thuật, cho đến những chuyện y phục
tầm thường, tập quán lặt vặt, chẳng sót một vấn đề nào hay một phương diện nào
mà không hóa xưa theo nay, đổi cũ ra mới.
Có thể ví dụ như một cái
vườn có ngàn gốc cây mọt hư khô héo, người Nhật là lão làm vườn, đã đào từng gốc
cây đó liệng đi, mà trồng cây khác mới lạ tươi tốt thế vào. Cách ít lâu, cái cảnh
nhánh khô lá rụng, tiều tụy thê lương của miếng vườn kia đều biến đi đâu hết,
giờ ta ngó thấy toàn là cây lạ bông thơm, có muốn tìm lại những dấu tích xưa
cũng không còn nữa. Thiệt, Nhật Bản trừ cựu canh tân tới vậy lận!
Dưới đây có nhiều việc
quan hệ sẽ nói riêng hẳn từng nơi, nhưng ngay bây giờ thiết tưởng cũng nên tóm
thâu cái đại quan cho biết công cuộc biến hóa của nước Nhật vừa mau chóng mạnh
bạo, vừa vĩ đại hoàn toàn ra thế nào?
Ba tay chí sĩ có công với
cuộc Duy tân:
- Đại Cửu Bảo Lợi Thông 大久保利通 [Ookubo Toshimichi] (1830-1878) (trên)
- Mộc Hộ Hiếu Doãn 木戸孝允 [Kido Takayoshi] (1833-1877) (giữa)
- Tây Hương Long Thịnh 西郷隆盛 [Saigou Takamori] (1828-1877) (dưới).
Sau khi vua Minh Trị hạ
chiếu duy tân rồi, thì nước Nhật cũ bị xô một cái, là đổ ụp xuống. Về mặt chính
trị, ngay năm Minh Trị thứ nhất, đã bãi Mạc phủ rồi, còn chư hầu tuy chưa bãi,
nhưng chẳng qua họ chỉ còn danh nghĩa vậy thôi, chớ thực quyền như trước không
có nữa. Triều đình vời các chúa phiên về kinh làm mấy chức Nghị định 議定 [Gijou] và Tham dự 参与 [Kinyo]; lại cho mỗi đất phiên lựa chọn
đôi ba người có tài về triều làm Cống sĩ 貢士
[Koushi] tức là một chức quan nghị sự. Những người này hợp lại thành như một
hội nghị để phò tá nhà vua trong việc quốc chính. Ban đầu, nhà vua làm như thế,
là cách huấn luyện và sắp đặt cho dân sau này có nghị viện cả dân công cử như ở
các nước.
Đến năm Minh Trị thứ 4
(1871), chế độ Phong kiến bãi hẳn: các Chúa phiên (les daimyos) đem hết đất nước
của mình nạp lại triều đình, đổi ra làm huyện. Tới năm Minh Trị thứ 23 (1890) mới
có Hiến pháp ban hành và có Chúng nghị viện 衆議院
[Shugiin] mở ra từ đó.
Về mặt bình dân, xưa kia
họ là hạng người lao khổ, ở dưới quý tộc và sĩ tộc, tới năm 1867, lệnh duy tân
tuyên bố hết thảy nhân dân bình đẳng; ruộng đất để tự do, người nông dân bây giờ
làm chủ ruộng mình, không phải chỉ như khi xưa họ nai lưng cày cấy làm mọi cho
Chúa phiên, cho quý tộc.
Các cửa biển đều mở toang
ra cho ngoại nhân ra vô buôn bán tự do. Trải 1000 năm, Thiên hoàng vẫn đóng đô ở
thành Kinh Đô 京都 [Kyoto], giờ vua
Minh Trị dời đô về Đông Kinh 東京
[Tokyo] tức là thành Giang Hộ của Mạc phủ Đức Xuyên trước.
Cả âm lịch, triều đình y
quan cũng bỏ cũ theo mới.
Tóm lại chỉ trong ít
tháng, bao nhiêu dấu cũ lệ xưa của Nhật Bản biến tiêu đi hết, nhường chỗ cho những
cách tây phép mới thay vô.
Sự thay cũ đổi mới của Nhật
Bản mau lẹ quá chừng, ai cũng phải kinh hoàng sửng sốt.
Mỗi việc nhỏ lớn gì cũng
phải tạo lập ra mới mẻ hết thảy, thế mà mỗi việc nhỏ lớn gì họ cũng tạo lập ra
đủ hết. Không sót cái hay nào của Tây phương mà Nhật không bắt chước; không có
cơ quan chế độ nào hữu ích của Tây phương mà Nhật không làm theo. Xe lửa, tàu
thủy, nhà băng, xưởng máy, cùng là mọi việc giáo dục, công nghệ, khoa học… thứ
nào Nhật Bản cũng tổ chức ra có đủ hết thảy trong một lúc.
Ta thử xem một vài con số
như dưới đây, sẽ biết người Nhật họ chạy phăng phăng trên con đường duy tân mau
lẹ ra thế nào?
Năm 1870, nghĩa là sau
khi quyết chí cải cách mới có ba năm, thì đã làm xong con đường xe lửa thứ nhất,
nối liền Đông Kinh với Hoành Tân, 28 cây số. Con đường này họ làm hết hai năm mới
xong, là vì họ tự làm lấy, chỉ mua tài liệu của Âu châu và mướn một vài người
Âu châu làm đốc công thôi. Đến năm 1880, đường xe lửa dài được 117 cây số. Qua
1893 được 3.010, tới 1903 lên 6.800.
Dây thép cũng tuôn ra mau
như đường sắt vậy. Liền sau khi hạ lệnh cải cách một năm, cuối năm 1868, đã có
đường dây thép thứ nhất từ Đông Kinh đi ra. Đến 1893, kéo dài được 13.576 cây số.
Việc quốc phòng cũng lo sắp
đặt ngay từ ban đầu, học theo cách luyện quân của Pháp và Đức. Xưởng đúc súng đạn
mở ra nhiều nơi. Sáu tháng đầu tiên, còn dùng người Âu châu, trông coi chỉ vẽ;
từ sáu tháng sau trở đi thì nhất thiết người Nhật làm một mình. Về hải quân
cũng vậy, trước hết họ còn mua của Âu châu một đội tàu chiến, gồm có 7 chiếc tuần
dương, 7 chiếc thiết giáp, 17 chiếc khinh hạm, 30 chiếc ngư lôi, và lại phái
nhiều thanh niên nhân tài đi qua Âu Mỹ học tập hải quân. Không bao lâu, họ tự mở
ra trường luyện tập lấy và tự mở ra xưởng đóng tàu trận một mình, không phải nhờ
cậy gì Âu Mỹ nữa.
Trong nước, từ trên xuống
dưới, khắp chợ tới quê, ai nấy đều hăng hái về việc tự tân tự cường. Các ông
Chúa phiên đã trả đất lại cho triều đình rồi thì xoay ra làm chủ ngân hàng, chủ
xưởng tàu, chủ nhà máy, còn tên tá điền lao khổ của mấy ông lúc trước thì bây
giờ ra làm thợ máy nọ kia.
Về việc kết xã lập hội để
mở mang thương mãi kỹ nghệ, người Nhật cũng làm mau như bay, như biến. Kể tới
năm 1894, nghĩa là duy tân chưa đầy 30 năm, trong xứ đã có: 1.200 công ty có vốn
tới 300 triệu; 130 nhà băng lớn; 30 công ty bảo kê sinh mạng; 17 công ty điện
khí.
Giữa thời kỳ duy tân, về
mặt công nghệ bằng cơ khí, chỉ trong vòng mươi năm, người Nhật mở ra những nhà
máy nọ nhà máy kia đầy rẫy ở các đô thị. Ngay hồi năm 1880, nghĩa là mới duy
tân có 14 năm, đã có 20 nhà máy lớn, dùng tới 20.000 thợ. Nói chi bây giờ công
nghệ cơ khí của họ phát đạt tới cực điểm, làm cho Âu Mỹ phải sợ; những ống khói
nhà máy tua tủa lên trời, riêng một châu thành Osaka, ngó như một đám ngọn cỏ
đâm cao lên trên mặt đất vậy.
Tàu buôn của họ cũng mở
mang rất sớm: Năm 1890, đã có 855 chiếc tàu buồm và 580 chiếc tàu chạy bằng máy
hơi rồi.
Việc canh nông tấn tới sửa
sang có kết quả lạ lùng: Từ nghề trồng dâu trồng trà, cho đến làm ruộng cấy
lúa, nhất thiết đều kinh doanh theo cách mới, cho nên hoa lợi thêm ra rất nhiều.
Công nho trong khoảng 20
năm đầu, tăng số thu nhập lên ba lần nhiều hơn; kho bạc mỗi năm thu vô tới 580
triệu. Số xuất cảng cũng tăng lên bốn lần trong khoảng 12 năm: Từ 347 triệu hồi
năm 1890 mà lên tới 1.326 triệu trong năm 1902; thật cổ kim đông tây chưa ai có
cái kết quả lạ lùng như thế.
Lúc đầu, Âu châu thấy Nhật
Bản bắt chước họ thì họ cười thầm và nghĩ cho là vô hại, bởi vậy họ vẫn kêu là
cậu nhỏ Nhật Bản (le petit Japon). Nhưng đến năm 1894, họ thấy cậu học trò của
họ thì phải giật mình, đổi ngay cái tư tưởng khinh thị ban sơ. Năm 1894, cậu bé
tí hon Nhật Bản dám đánh ông khổng lồ Trung Hoa, chỉ trong mấy trận, là ông khổng
lồ bị cậu bé con đánh ngã nằm ngay đơ. Trung Hoa phải để cho Nhật chiếm cứ Triều
Tiên là miếng mồi Nhật vẫn thèm muốn từ xưa; ngoài ra còn phải bồi thêm Liêu
Đông nữa. Nhưng liệt cường Âu châu ép Nhật phải trả Liêu Đông cho Tàu; Nhật
đành lấy Đài Loan thôi. Sau Tàu nhường Liêu Đông cho Nga; Nga được đất này,
trong lòng hớn hở cho là mình thắng trận ngoại giao, không dè vì đó mà ít lâu về
sau mang lấy một cái thua đại nhục.
Đến năm 1900, lại có dịp
cho người Tây phương kính phục cái giá trị của Nhật Bản hơn nữa. Năm đó, nước
Tàu có giặc Quyền Phỉ (les boxers)[4] nổi lên, chủ ý là thù nghịch đánh phá người
ngoại quốc; có trút ngàn người Âu châu bị giặc bao vây ở Bắc Kinh, không đường
tẩu thoát, mà cứu binh chưa tới, tình thế rất là hiểm nguy. Trong 8 nước cùng
ra binh để can thiệp vào cuộc nội loạn này, đội binh Nhật Bản tức tốc tấn lên Bắc
Kinh đầu hết, giải được trùng vây, nhờ đó mà những người Âu châu mới thoát nạn.
Rồi cách 4 năm sau,
1904-1905 bỗng dưng như một tiếng sét đánh rung đất vang trời, cả thế giới đều
sửng sốt ngẩn ngơ: Cậu bé Nhật Bản dám nhảy lên đấm cú một ông khổng lồ khác là
Nga La Tư [dân tộc Nga], lúc bấy giờ là một nước hùng cường đệ nhất thiên hạ.
Ai không bảo ông khổng lồ này nhai ngấu Nhật Bản như chơi. Thế mà trong 18
tháng, Nga bị bại trận thảm thê: Trên bộ thì thua về tay Nãi Mộc tướng quân 乃木将軍 [Nogi shougun], binh Nga không còn manh
giáp mà về; dưới nước thì thua về tay Đông Hương nguyên soái 東郷元師 [Tougou Heihachiro], cả đoàn tàu trận
Nga trên ba chục chiếc bị Nhật bắn chìm ở eo biển Đối Mã. Lần thứ nhất trong lịch
sử nhân loại, người da vàng đánh ngã người da trắng. Chẳng phải riêng một mình
người Nhật lấy làm khoan khoái vẻ vang, mà cả đại lục Á châu, dân tộc hoàng chủng
cũng có ý vui mừng hỉ hả nữa. Từ đó, người Tây phương bắt đầu để tâm lo nghĩ về
“cái họa da vàng” (péril jaune) mai sau. Từ đó, bắt đầu sản xuất cái vấn đề rắc
rối lo ngại, gọi là vấn đề Thái Bình Dương (Question du Pacifique), mà người Nhật
chính là chủ động!
Một vài việc làm, một vài
con số, như đã lược thuật trên đây, đủ bày chứng cớ cho ta thấy công cuộc duy
tân tự cường của Nhật Bản chỉ làm trong một thời kỳ rất ngắn, và được thành
công mau lẹ, kết quả vẻ vang là dường nào?
Một nước đang cũ hết sức
cũ, yếu hết sức yếu, bỗng chốc trong vòng chỉ có 30 năm, xoay đổi ra mới thiệt
là mới, mạnh thiệt là mạnh, cái kết quả lạ lùng đó vẫn biết là trên nhờ có bực
anh quân thánh chúa là Minh Trị Thiên hoàng, nhưng chính là do nơi cái thông
minh, cái lực lượng, cái khí khái chung cả dân tộc Nhật Bản mà nên vậy.
Viết tới đây, tôi chợt nhớ
lại bài ca Á tế Á của cụ Tán Thuật[5] có đoạn nói về cái thành tích Minh Trị
duy tân như vầy:
Mênh mông một dải Đông
Dương,
Nước non quanh quất trông
càng thêm đau.
Cờ độc lập đứng đầu phất
trước,
Nhật Bản kia vốn nước đồng
văn.
Phương Đông nổi hiệu duy
tân;
Nhật hoàng Minh Trị anh
quân ai bì?
Sức Thần Võ riêng về một
họ,
Vùng Phù Tang chói đỏ góc
trời!
Kể đời một trăm hai mươi
hai,
Năm hai ngàn rưỡi năm
mươi có thừa.
Sẵn cơ hội trời đưa lại
đó,
Chốn kinh thành Giang Hộ
dời sang.
Dẹp Mạc phủ, bỏ Phiên
bang,
Đổi dòng chánh sóc, thay
lòng y quan.
Khắp trong nước dân đoàn
xã hội;
Nhà học đường đã ngoại ba
muôn.
Việc kỹ nghệ, việc bán
buôn,
Nơi lờ nấu sắt, nơi khuôn
đúc đồng.
Trà, tơ, lụa, gai, bông,
nhung, vũ,
Mọi đồ sơn vân mẫu pha
lê.
Gươm và quạt, tán và xe,
Đủ mùi hải lục, hiệp nghề
công thương.
Đất Đại Bản mở trường đúc
súng,
Xưởng Đông Kinh riêng
cũng một nhà,
Trường Kỳ thuyền cuộc mở
ra,
Dã Tân, Tu Hạ, ấy là hải
quân.
Thuyền với pháo đã trăm lần
chấn chỉnh,
Lại ngư lôi bác đĩnh ai
tày?
Quan quân luyện tập đêm
ngày,
Một nghề so với Thái Tây
kém gì!
Duy tân rồi tới năm Giáp
Ngọ (1894), vì chuyện Cao Ly mà Nhật Bản đánh Tàu đại thắng:
Năm Giáp ngọ đùng đùng
sóng gió,
Vượt quân sang thắng trỏ
Tam Hàn.
Quân Lục áo, tướng Đại
san,
Ra tay cho biết lá gan
anh hùng.
Đông tam tỉnh đã thu
trong tay áo,
Người trắng da ngơ ngáo
giật mình.
Cuộc hòa đâu khéo thình
lình,
Chủ trương này bởi Nga
đình vẽ khôn,
Bụng ái quốc ghê hồn Nhật
Bản,
Giận xung quanh khôn cản
nghĩa đồng cừu.
Đã toan trở súng quay
tàu,
Y Đằng khen khéo mưu sâu
vãn hồi.
Nhận bồi khoản với Bánh
đài nhượng địa,
Trong mười năm rồi sẽ xem
nhau.
Nga kia lớn nước lại
giàu,
Bên giường giấc ngáy dễ hầu
chịu yên.
Tới trận Nhật Nga đại chiến
hồi 1904-1905, Nhật cũng toàn thắng:
Giáp Thìn trong tháng chạp
tây,
Chiến thư hai nước định
ngày giao tuy.
Trận thứ nhất Cao Ly lừng
tiếng,
Khắp hoàn cầu muôn miệng
đều khen.
Sa trường xung đột mấy
phen,
Ngọn cờ Áp Lục, tiếng kèn
Liêu Dương.
Hải quân nguyên soái Đông
Hương,
Lục quân Nãi Mộc, ai
đương anh hùng?
Hội liệt quốc diễn tuồng
hòa nghị.
Chấu đá voi, sự ấy cũng nực
cười.
Xem trong hòa khoản mười
hai,
Điều nào Nga cũng chịu
lui trăm phần.
Cuộc tang hải khuất thân
từng lúc,
Đám liệt cường nay cũng
chen vai.
Khen thay Nhật Bản nhân
tài,
Từ đây danh dự còn dài về
sau.
Cả bộ sử tấn hóa tự cường
của Nhật Bản, cụ Tán Thuật mô tả thâu rút vào trong khuôn khổ mấy vần thơ khéo
lắm.
CÁC NƯỚC ÂU MỸ CÓ CÔNG
GIÚP ĐỠ NHẬT BẢN DUY TÂN RA THẾ NÀO?
Vấn đề này cũng nên biết,
vì nó có ý nghĩa và có chỗ quan hệ lý thú của nó.
Có người yên trí rằng mấy
thế kỷ trước, người Âu Mỹ lần mò qua Đông phương là chỉ có mục đích “thực dân
lược địa”[6], mưu lấy sự tư lợi mà thôi, chớ họ có lòng giúp đỡ cho ai khá lên
như họ bao giờ. Với xứ nào, họ cũng dùng cách “tiên lễ hậu binh”; cho mấy
ông thầy tu qua trước rồi kế đưa binh lính tới sau, kiếm cớ kia khác choán đất
người ta thì có, khi nào giúp ai?
Sự yên trí này cũng có một
phần phải ở trong, nhưng còn một phần chưa thiệt là phải. Có xứ họ tới cốt để
lược địa thực dân, mà cũng có xứ họ tới sẵn lòng giao hảo thông thương và phò
trợ khai hóa cho; ấy là tùy nơi tình thế và lực lượng của giống người trong xứ
mà họ để chân vào. Tạo hóa đối với muôn vật, cái gì mọc lên được thì vun bón
thêm cho, cái gì nghiêng ngả thì đạp xô cho ngã; ở giữa loài người mạnh yếu với
nhau cũng có cái lẽ thường như thế. Dân mạnh tới một xứ yếu, thấy xứ này vua
hèn dân ngu, nói phải chẳng nghe, dạy khôn không hiểu, thì họ không chiếm trị
còn để làm gì? Thứ quốc gia dân tộc thế ấy chẳng mất vào tay kẻ mạnh này cũng mất
vào tay kẻ mạnh khác; sự suy vong đó đáng kiếp cho cái xứ có vua hèn dân ngu và
sự xâm lược cũng là cái quyền tự nhiên của giống mạnh.
Còn như tới xứ nào xem ra
có hạng trên trước khá, và dân cứng cỏi, thông minh, thì kẻ mạnh kia chẳng tiếc
gì mà không vừa giúp cho khá, chỉ vẽ cho hay, chớ muốn nhai muốn nuốt chưa chắc
đã trôi, chi bằng vun bón phò trợ người ta, cũng là cách kết giao cầu lợi cho
mình được.
Âu Mỹ đối với Nhật Bản
trong thế kỷ vừa qua ở vào trong cái trường hợp như vậy đó.
Trong cuộc Nhật Bản khai
quốc duy tân, cố nhiên là Nhật học theo bắt chước Âu Mỹ đã đành, nhưng chính
thiệt Âu Mỹ cũng có lòng lành ý tốt mà phò trợ cho nhiều lắm.
Giữa thế kỷ XIX, vì vấn đề
thông thương đính ước, mấy phen hầu gây ra cừu thù đại biến, mà rốt lại Nhật Bản
cũng được liệt cường Âu Mỹ ân cần vừa giúp cho được tỉnh ngộ duy tân tới cùng.
Ngay lúc đề đốc Bá Lý nước Mỹ đem đoàn tàu chiến qua bắn súng ra oai, nhưng
trong ý vẫn có lượng khoan thai tử tế, chỉ muốn cùng Nhật Bản giao hảo thông
thương mà thôi; về sau cơ nghiệp vẻ vang mới lạ của Nhật Bản dựng lên, thật là
có nguồn suối đi ra bởi đó.
Kế sau đề đốc Bá Lý, tới
Cáp Lợi Tư qua làm công sứ Mỹ ở nước Nhật, ông này rõ biết quan lại của Mạc phủ
chưa rành ngoại giao, nên chi ông thường lấy chân tình thổ lộ và giảng giải cho
nhà cầm quyền Nhật Bản lúc bấy giờ biết rõ những cái lợi khai quốc thông thương
ra thế nào. Sở dĩ Mạc phủ quyết lòng khai quốc là nhờ có sự khuyên bảo lợi ích
của công sứ Mỹ ban đầu, thây kệ dân tâm phản đối xôn xao, Mạc phủ cũng cứ khai
quốc. Cáp Lợi Tư lại khuyên Nhật Bản cần nên cấm tuyệt a phiến, kẻo có hại to
cho nòi giống; nhờ vậy mà Nhật Bản tránh hẳn được cái độc a phiến từ đó đến giờ.
Hồi trong nước nổi lên
phong trào “Nhương di” điên cuồng sôi nổi, xảy ra tới vụ đánh chết viên thông
ngôn ở dinh công sứ Mỹ, làm cho công sứ các nước phát giận, gửi thư trách hỏi
chính phủ Nhật Bản sao không hết lòng bảo hộ ngoại nhân. Duy có một mình Cáp Lợi
Tư rõ biết nội tình dân tâm Nhật Bản, và cũng lượng xét Mạc phủ có thành tâm
khai quốc lắm, thành ra chính viên Thông ngôn của ông bị hại vì tay của bọn thủ
cựu ở Nhật, mà ông làm lơ, không trách hỏi phiền hà gì. Đến đỗi công sứ các nước
khác giận quá, rủ nhau hạ quốc kỳ xuống mà bỏ đi Hoành Tân, không chịu ở Giang
Hộ nữa, vậy mà một mình ông Cáp Lợi Tư vẫn ở Giang Hộ không nhúc nhích, lại còn
vì Mạc phủ điều đình giùm cho êm vụ bất bình này.
Trong hồi Nhật Bản bắt đầu
khai quốc, mỗi việc gì người Mỹ cũng lấy lòng tử tế chỉ vẽ giúp đỡ cho, có bổ
ích cho cuộc tấn hóa của nước Nhật nhiều lắm.
Năm 1859, Nhật Bản sai sứ
qua Mỹ để trao đổi tờ ước đã ký với nhau, chính phủ Mỹ phái tàu trận ra đón rước
và nghị viện Mỹ bỏ thăm quyết nghị lấy lễ quốc tân 国賓, là lễ đãi khách chung cả nước mà tiếp
đãi Nhật sứ, khiến cho người Nhật lấy làm cảm động hết sức.
Cũng nhờ có chuyến đi sứ
này mà nhiều người Nhật Bản càng dễ hiểu biết rành rẽ về những lễ nghĩa ngoại
giao.
Cùng theo đi sứ lúc đó có
hai người chí sĩ về sau in sâu những dấu tích to lớn vẻ vang trong lịch sử Nhật
Bản duy tân, ấy là Thắng Lân Thái Lang 勝麟太郎 [Katsu
Rintarou] và Phúc Trạch Dụ Cát 福澤諭吉
[Fukuzawa Yukichi].
Thắng Lân Thái Lang 勝麟太郎 [Katsu Rintarou] (1823 - 1899)
Thắng Lân Thái Lang vốn
là người ăn lộc của Mạc phủ, mà đến lúc Minh Trị duy tân lại sốt sắng hô hào,
có công với đại nghiệp quốc gia nhiều lắm. Còn Phúc Trạch Dụ Cát thì qua xem
xét văn hóa Âu Mỹ, rồi về nước chuyên tâm vào công việc giáo dục thanh niên,
rèn đúc nhân tài; nhiều tay anh tuấn trong buổi duy tân là học trò của ông đào
tạo ra, chính ông đã mở ra một trường đại học rất lớn đến nay vẫn còn gọi là
Khánh Ứng đại học 慶応大学 [Keiou
Daigaku].
Thuở đó người Nhật xuất
dương cầu học ở các nước Âu Mỹ rất nhiều, mà chính người Âu Mỹ đem văn nghệ học
thuật của họ vô truyền bá cho Nhật Bản cũng chẳng ít; nhất là người hai nước Mỹ
và Anh đối với Nhật Bản dày công lao phò trợ hơn hết.
Ban đầu khai quốc, nhờ
Công sứ Mỹ là Cáp Lợi Tư mỗi việc bày lợi tránh hại cho Nhật, như đã nói sơ ở
trên. Sau tới Công sứ Anh là A Nhĩ Ca Quật (阿爾哥窟,
viết theo sách Nhật) khuyên bảo chỉ vẽ cho Nhật Bản đúc ra tiền tệ mới, khiến
cho Nhật Bản tránh được một mối hại to. Nguyên là hồi đó, chế độ tiền tệ của Nhật
còn lôi thôi, nên chi vàng bạc trong xứ bị lọt mất ra nước ngoài rất nhiều; quốc
dân thấy vậy kinh hoàng, nhưng không biết cách nào ngăn cản cho được. Bọn thủ cựu
càng được trớn mà oán trách Mạc phủ về sự hại mở cửa cho ngoại nhân vô thông
thương. Công sứ Anh lo giùm cho Nhật, bèn trung cáo Mạc phủ mau mau đúc ra tiền
vàng và in ra giấy bạc, nhờ đó mà cầm cản được cái hại lọt vàng ra ngoài. Người
Nhật ghi nhớ luôn luôn rằng công đức này của công sứ Anh cũng có lợi cho Nhật
như công đức của công sứ Mỹ đã khuyên bảo cấm tuyệt a phiến kia vậy.
Đến cuối năm 1867, Khánh
Hỉ tướng quân dâng nạp đại chính về Thiên hoàng Minh Trị. Chính phủ Thiên hoàng
tư giấy khắp công sứ các nước hay rằng những tờ ước do Mạc phủ lúc trước đã ký
với các nước, nay vẫn kế tiếp thi hành và việc giao hảo vẫn y như cũ. Có một bọn
chư hầu không ưng cải cách, liền chia trong nước ra làm hai phe: Đông và Tây,
xung đột với nhau. Ấy là nội loạn. Trong vòng ít tháng, binh triều dẹp yên được
loạn ở Quan Đông, Áo Vũ; rồi một năm thì loạn ở Sương Quán cũng êm. Lúc đó nhân
tâm chưa trọn lòng quy hướng triều đình, nghiệp thống nhất chưa được hoàn
thành, mà ngoại nhân đối với chính phủ cũ, tức là Mạc phủ, xem ra tình ý vẫn
còn trìu mến không phai. Nay chính phủ mới bỗng chốc nói về việc kế tiếp giao hảo,
công sứ các nước chợt nghe, dầu muốn không sinh lòng nghi ngại cũng không được.
Bởi vậy các nước còn đang dụ dự về sự nhìn nhận chính phủ mới.
Duy có công sứ Anh đứng
ra nhìn nhận chính phủ Thiên hoàng trước hết, rồi sau công sứ các nước lần lượt
nhìn nhận theo, nhờ vậy mà địa vị chính phủ mới lập ra đối với ngoại bang được
danh nghĩa nhất định. Công sứ Anh đối đãi như thế, là vì ông với mấy ông tham
tán của ông ngày thường kết giao với đám chí sĩ Nhật, rõ biết nội tình nước Nhật,
nay cho sự Mạc phủ trả quyền triều đình chính là việc duy tân cải cách, chớ
không phải là cách mạng gì mà bảo rằng không nên nhìn nhận chính phủ mới. Nhân
đó ông nói giùm với công sứ liệt quốc mà chính phủ Thiên hoàng được nhìn nhận đều
hết vậy.
Tóm lại, ban sơ khai quốc
có tình thân của nước Mỹ, trong lúc duy tân, có lòng tốt của nước Anh, người Nhật
kể ngoại bang phò trợ cho họ khai hóa tấn bộ, có hai việc đó là lớn hơn cả. Là
vì Mỹ quốc lấy tình thân thiện mà mở ra kỷ nguyên mới cho Nhật. Anh quốc thì lấy
đại nghĩa mà giúp cho việc chính của Nhật Bản được dấy lên.
Ngoài ra, còn nhờ có hai
cái thế biến cũng làm gốc nguồn cho cuộc duy tân của Nhật nữa.
Một cái thế biến từ trong
ra.
Một cái thế biến ở ngoài
vào.
Ta đã biết rằng khởi từ
năm 1853 trở đi, Nhật Bản đang là một nước thủ cựu đáo để và đóng cửa tuyệt
giao với ngoại quốc gần ba trăm năm, vụt chốc mạnh bạo khai quốc rồi mau chóng
duy tân được, là nhờ có một bọn chí sĩ từng đọc sách Hòa Lan, biết chuyện Âu Mỹ,
đứng lên kêu gào thúc giục mà ra.
Ý hẳn có nhiều độc giả phải
sửng sốt muốn hỏi điều này: Quái lạ! Từ năm 1854 trở về trước, Nhật Bản vẫn
công nhiên đóng cửa tuyệt giao, vậy chớ làm sao có bọn chí sĩ từng đọc sách Hòa
Lan biết chuyện Âu Mỹ được? Còn như anh Tàu với nước Nam mình đây, chẳng hề
đóng cửa tuyệt giao lúc nào, thế sao Tàu với mình không có ai biết chuyện của
Tây phương được mảy may cóc rác gì, thiệt là khù khờ tức tối quá! Chính nước
Nam mình, hồi đời vua Lê có lập ra một chỗ riêng gọi là Phố hiến[7] cho người
Tây phương tới cư ngụ thông thương tự do; lại sau đến đời Gia Long, đức thầy
Bá-đa-lộc có rước nhiều người Pháp kỹ sư và quân gia tới xây thành, luyện quân,
đóng thuyền, đúc súng cho vua nhà Nguyễn; ấy chính là những dịp cho ta mở mắt
ra ngó thấy tài hay của Tây phương và có thể học khôn họ được, nhưng vậy
mà chớ hề có ai biết thâu thái lấy trí thức Tây phương một chút, đáng tiếc biết
bao! Tới nay Nhật Bản hùng cường vinh diệu thế kia, còn Tàu với mình yếu hèn thấp
thỏi thế này là đáng kiếp lắm.
Phải, tôi cũng suy nghĩ
như thế.
Thuở xưa ở Nhật, Nho học
và Hán văn cũng thịnh, cũng tôn như ở các xứ chung quanh cùng chung một nguồn
văn hóa với họ, song đám sĩ phu học giả họ không quá cố chấp lỳ, tự cao bậy, hết
thảy ai cũng như ai đâu. Kỳ thiệt, trong đám nhà nho cố chấp tự cao, có nảy ra
ít nhiều người có chí, muốn hiểu rộng thấy xa, chịu khó xem xét tài khôn sức mạnh
của người ta, chớ không bo bo ôm chặt lấy những lý thuyết của Nghiêu Thuấn Khổng
Mạnh, tưởng trong trời đất không có gì hơn được nữa.
Bởi vậy, giữa đời Mạc phủ
đóng cửa tuyệt giao, trừ ra cho người Hòa Lan và người Trung Quốc là được phép
ra vô mua bán tại Trường Kỳ mà thôi, thì trong nước Nhật đã có ít nhiều nho sĩ
cầu kỳ ham học, biết cái học thuật phương tây có lắm chỗ hay. Họ bèn rủ nhau đọc
sách Hòa Lan, để nghiên cứu về những môn học luyện binh, đúc súng, chữa bệnh,
cùng là các khoa thiên văn, bác học, hóa học nữa.
Những nhà chấp chính có
trí rộng, cũng biết để tâm xem xét Tây học; hoặc tự học lấy, hoặc sai người học
rồi thuật lại cho mình nghe. Ví dụ hồi giữa thế kỷ 18, có nhà Hán học là Thanh
Mộc Văn Tàng 青木文藏 [Aoki Bunzou]
vâng lệnh Mạc phủ sai học chữ Hòa Lan, để tâu bày tình thế và học thuật Tây
phương cho tướng quân biết. Kế sau có những nhà Lan học như Tiền Dã Lương Trạch 前野良沢 [Maeno Ryotaku], như Bân Điền Huyền
Bạch 杉田玄白 [Sugita Genbaku],
đem sách thuốc Tây phương dịch ra tiếng Nhật.
Ngoài ra, có nhiều nhà
văn học, nhà chính trị, theo mấy thầy thuốc Hòa Lan học tập Tây văn. Dầu không
thông hiểu Tây văn, nhưng mà nhờ gần gũi ngoại nhân rồi cũng nghe qua học thuật
và tình thế liệt quốc, cái hạng sĩ phu đó lần hồi nảy ra cũng đông.
Ấy là giữa đời thủ cựu,
trong nước Nhật đã có một bọn người tiên giác, từng nghiên cứu học thuật phương
Tây rồi vậy.
Tới năm 1853, có đoàn tàu
trận Mỹ quốc vô cửa Phố Hạ, cả đám nhà nho thủ cựu trề môi nhún mỏ, tỏ ý khinh
khi người Mỹ là mọi rợ, nhưng riêng hạng thức giả thì không nghĩ như thế. Hạng
này tuy còn số ít mặc lòng, cũng mạnh bạo đứng ra chống cãi với tất cả dư luận
sai lầm trong xứ; ráng sức khuyên can ai nấy chớ có coi thường Tây phương là mọi
rợ mà nguy. Quốc dân hăm he muốn đánh ngoại nhân, thì hạng thức giả tỏ bày lợi
hại, bảo đừng có chọc ghẹo đánh lộn với người ta mà thua chết. Dư luận xướng
lên chủ nghĩa “Nhương di” um sùm; hạng thức giả cố giảng giải cái chỗ không thể
nào “nhương” được đâu, tất phải giao thiệp đón rước người ta, để lượm lặt lấy
những chỗ hay của họ mà bổ vào chỗ dở của mình mới đặng.
Rồi ít năm sau, vụt một
cái thời thế nhân tâm xoay đổi như chớp nhoáng, người Nhật thay đổi tư tưởng, mạnh
bạo duy tân, đó là nhờ có số ít thức giả mở trí tỉnh hồn trước mà khuyên lơn
dìu dắt hết thảy quốc dân vậy.
Cái thế biến từ trong biến
ra có nguồn gốc mối manh như vậy đó.
Người Hòa Lan, trong những
thuở có một mình họ được Mạc phủ rộng dung cho ra vô buôn bán, họ hay thân cận
với đám học thức hữu chí ở Nhật Bản và có công chỉ dẫn cho đám này về học thuật
Tây phương nhiều lắm. Đến năm 1854 trở đi, Nhật Bản khai quốc với Mỹ rồi, các
nhà truyền đạo và các nhà bác học Mỹ bắt đầu sang Nhật, phần nhiều có lòng sốt
sắng rộng rãi, giao tiếp với người Nhật một cách ôn hòa niềm nở, khiến cho bọn
chí sĩ trong nước lân la thân cận mà được mở mang về trí thức mới rất nhiều. Hạng
chí sĩ về sau ra hoạt động chính trị và có công lao lớn trong cuộc duy tân, được
phong Bá tước, như Đại Ôi 大隈[Ookuma],
như Phúc Đảo 福島
[Fukushima], như Hậu Đằng [後藤 Gotou],
đều nhờ có sự tác thành ban đầu của người Mỹ nhiều lắm.
Ngoài ra, các ông cố đạo
Thiên Chúa tầm ngầm giúp ích cho cuộc tấn hóa của Nhật Bản cũng nhiều. Ông thì
chỉ vẽ khoa học, ông thì giúp đỡ giáo dục nọ kia, đều là làm ích dạy khôn cho
người Nhật; biết bao thanh niên hữu chí, nhờ có công ơn khai đạo thế ấy mà hóa
ra bực anh tài. Lại cũng vì đó mà thành ra người Nhật không còn nghi ngờ thù
ghét đạo Thiên Chúa như xưa nữa, rồi trở nên có tục tốt tự do tín ngưỡng và ít
lâu nhảy vọt lên trên đài duy tân.
Ấy là cái thế biến ở
ngoài biến vào, làm gốc nguồn mối manh cho lịch sử nước Nhật mới vậy.
❀ ❀ ❀
[1] . Pierre Corneille
(1606-1684), nhà viết kịch, nhà thơ lớn của Pháp. (BT)
[2] . Đến giờ con cháu họ
Đức Xuyên vẫn được triều đình trọng đãi, quốc dân kính tôn. Con của Khánh Hỉ là
Đức Xuyên Gia Đạt 徳川家達
[Tokugawa Iesato] được lập tước công, hiện có một lúc làm Nghị trưởng viện Quý
tộc.
[3] . Nhiếp quan 摂官 [sekkan] hay Quan bạch 官白 [kambaku], đều là chức phẩm rất cao của
triều đình phong cho vị tướng quân Mạc phủ.
[4] . Tức cuộc nổi dậy của
Nghĩa Hòa Đoàn năm 1900. (BT)
[5] . Nguyễn Thuật, làm
chức Tán tương quân vụ ở đời vua Hàm Nghi, sau bỏ nước đi qua Nhật Bản rồi về ẩn
cư bên Tàu; tạ thế chừng ngoài mười năm nay. Cụ chính là nhạc phụ của Tôn Thất
Thuyết. [Có lẽ tác giả bị nhầm, ở đây phải là Nguyễn Thiện Thuật mới chính xác.
(BT)]
[6] . Thực dân lược địa (殖民掠地): Dời dân mình đi ở nơi khác kiếm ăn và
cướp lấy đất nước của người ta.
[7] . Phố hiến lúc đó là
tỉnh Hưng Yên ở Bắc Hà bây giờ, nhiều người các nước Hòa Lan, Y Pha Nho, Bồ Đào
Nha, Nhật Bản… tới lập tiệm bán buôn đông đảo vui vẻ. Sự phồn ba của Phố hiến
chỉ thua có thành Thăng Long tức là kinh đô Hà Nội mà thôi, bởi vậy thuở ấy ta
có câu phong dao: “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố hiến”.
Chương V. CÔNG PHU GIÁO
HÓA
Giáo hóa của lịch sử dân
tộc, giáo hóa của quan giỏi vua hiền, giáo hóa của các bậc chí sĩ tiên giác, mấy
cái nguyên tố đó chồng chất lên nhau, kết thành tinh ba rồi sinh ra đứa con quý
báu, tên là: Duy tân tự cường.
Ai
nấy đã biết tới giữa thế kỷ XIX vừa qua, dân tộc Nhật Bản vẫn đang là một dân tộc
còn hèn yếu quê mùa, bo bo thủ cựu, chẳng hơn gì những dân tộc khác ở Đông
phương này cùng trong thời đó; thế mà chỉ có một mình Nhật Bản vụt chốc đổi mặt
thay da, hăng hái nhảy vọt lên đài văn minh phú cường được, là tại sao vậy?
Chắc có nhiều người trả lời
mau mắn:
Tại dân tộc họ biết thời
thế mà tỉnh ngộ tự tân.
Chính phải vậy rồi, song
tôi tưởng câu trả lời ấy chưa đủ tỏ hết ý nghĩa, tất chưa làm thỏa lòng những
người muốn hiểu rộng biết xa được. Nếu có ai cắc cớ lại hỏi vặn ta: “Cùng ở
trong cái trình độ thấp hèn gần giống như nhau, và cùng gặp cảnh ngộ đại khái
như nhau, thế sao chỉ có một mình dân tộc Nhật Bản biết thời thế mà tỉnh ngộ tự
tân, còn các dân tộc khác thì không?”. Vậy thì ta liệu trả lời ra sao cho được
đây? Thiệt vậy cùng trong cái thời gian xấp xỉ lối đó, Đông phương có mấy xứ
cũng vì lẽ đóng cửa tuyệt giao, hay là vì lẽ chém giết tín đồ Thiên Chúa, mà
gây nên cái cớ cho liệt cường Âu Mỹ đem súng đồng tàu trận tới hỏi tội ra oai,
chớ nào phải riêng mình xứ Nhật mới có cái cảnh ngộ ấy đâu! Nhưng sao mấy dân tộc
khác đều phải chìm đắm suy vong vào trong tay người, trừ ra một mình Nhật
Bản là vẹn vẽ nguyên lành, lại mau mau đổi thay tấn tới cho kịp thời bằng người
được, vậy thì ở trong tất nhiên họ phải có một cái gốc nguồn, một cái lực lượng
sẵn sàng làm sao đó rồi tới nay họ mới nảy ra tỉnh ngộ tự tân được như thế chớ.
Ấy là một vấn đề quan hệ,
chúng ta nên tìm tòi suy xét.
Chính là vấn đề giáo hóa.
Nhật Bản trở nên một quốc
gia dân tộc như ta thấy ngày nay, có thể nói rút lại một câu, là chỉ nhờ cái
thành hiệu của việc giáo hóa khôn khéo mà ra. Giáo hóa của lịch sử dân tộc,
giáo hóa của quan giỏi vua hiền, giáo hóa của các bậc chí sĩ tiên giác, mấy cái
nguyên tố đó chồng chất lên nhau, kết thành tinh ba rồi sinh ra đứa con quý
báu, tên là: Duy tân tự cường.
Bởi vậy, nếu ta muốn biết
rõ lịch sử duy tân của Nhật Bản có gốc nguồn từ đâu phát ra, thì ta phải xét tới
công phu giáo hóa của dân tộc họ mới được.
Kể ra có hai phần quan hệ
nhất:
Một phần là công phu từ
trong lịch sử dân tộc.
Một phần là công phu của
các bậc chí sĩ tiên giác.
Chủ ý chương này cốt đem
những cái đặc sắc giáo hóa có dính dấp bồi bổ hơn hết cho cuộc duy tân của nước
Nhật mà bày tỏ ra, để cho chúng ta phải nhìn biết rằng việc giáo hóa có quan hệ
lớn lao cho cái vận mạng nhục, vinh, còn, mất của một dân tộc một nước ra thế
nào? Còn có chủ ý thứ hai là để giải nghi cho ít nhiều người mình thường băn
khoăn không hiểu tại sao bốn năm nước ở góc trời Đông phương này cũng là học
trò văn hóa Trung Quốc, nhưng rốt cuộc lại Trung Quốc, Cao Ly và Việt Nam mình
dính chùm với nhau một đám thấp kém đến nay, còn Nhật Bản kia thì trổ ra đi được
một ngả khác hết sức oai vệ vẻ vang?
VIỆC GIÁO DỤC TỪ ĐỜI
MINH TRỊ TRỞ VỀ TRƯỚC
Ngay từ khi mới kết hợp
nhau thành dân tộc, xây dựng lên quốc gia, Nhật Bản đã có cái gốc quốc dân giáo
dục rồi.
Cái gốc ấy là Thần giáo.
Thần giáo là nền tôn giáo
tự nhiên của dân tộc Nhật Bản, do nơi tư tưởng nhất định “nước là nước thần
sáng tạo, vua là con thần trị vì” mà lập nên. Bởi đó từ xưa người Nhật lấy đạo
thờ cúng tổ tiên, tôn vua yêu nước, làm cội rễ giáo dục. Tuy đời Thượng cổ chưa
có chữ nghĩa sách vở chi để làm phương pháp giáo dục, chớ trong hương tộc gia
đình, trong phong tục tập quán, người ta vẫn lấy lời lẽ truyền dạy khuyên răn
nhau về đạo xử thế lập thân cho đúng với Thần giáo. Trung hiếu, nhân nghĩa,
trong sạch, thẳng ngay, kiên cường, vũ dũng, ấy đều là những tôn chỉ tinh ba của
Thần giáo mà mỗi người Nhật nào cũng phải trau dồi gìn giữ ở đời.
Nhân vì tôn chỉ của Thần
giáo như thế, cho nên về sau lần lần giao thông với đại lục rồi có Nho giáo và
Phật giáo truyền sang Nhật Bản, càng giúp ích mở mang cho họ trở nên có văn hóa
rực rỡ và có phương pháp giáo dục hẳn hoi chớ không có chống chọi trái nghịch với
những tư tưởng sẵn có của họ một chút nào. Không như lúc sau, Cơ Đốc giáo ở Tây
phương đem qua, gây ra đến sự xung đột đổ máu rồi tới đỗi Nhật Bản đóng cửa tuyệt
giao.
Nho giáo sang Nhật nhằm đời
vua Ứng Thần Thiên hoàng 応神天皇 [Oujin
Tennou], vào khoảng năm 200 Tây lịch. Sau đó ít lâu thì tới Phật giáo.
Dưới xa, sẽ có một chương
nói riêng về Nho giáo và Phật giáo ở nước Nhật, vì là một vấn đề cần dùng quan
hệ, phải nói tách riêng mới được. Đây chỉ có ý kể sơ Nho giáo và Phật giáo có ảnh
hưởng cho việc giáo dục của Nhật Bản thế nào mà thôi.
Người Nhật rất hoan
nghênh Nho giáo Phật giáo truyền vào xứ họ, là vì họ thấy tôn chỉ đại cương của
hai giáo ấy không khác xa gì tôn chỉ Thần giáo của họ xưa nay, nghĩa là đều dạy
người ta về những đạo lý trung quân ái quốc, nhân nghĩa liêm sỉ như nhau. Nhất
là Nho giáo đem chữ Hán qua cho họ có cách giáo dục bằng sách vở chữ nghĩa rất
lợi tiện phân minh, chớ trước kia nước họ không có chữ riêng.
Bấy giờ trong nước mới mở
ra trường học có đại học tiểu học, có công lập tư lập lấy Nho học làm chính học,
và lấy Hán tự làm quốc văn.
Chủ ý giáo dục, với hạng
dưới là cốt dạy dỗ những chuyện thông thường cần biết, còn với hạng trên là cốt
rèn tập những người thông thái làm quan giúp nước.
Việc phổ thông giáo dục,
tuy có một lúc bày ra hạn chế, chỉ có mấy ông thầy chùa tu đạo Phật mà giảng đạo
Nho thì mới được mở trường dạy học, nhưng sau rồi nhà nước để dân tự do, ai muốn
mở trường dạy trẻ, nhà nào muốn nuôi thầy dạy học cũng đặng. Các trường phổ
thông này gọi là Tự Tử ốc 寺子屋 [Terakoya],
tức như mấy thầy đồ trong xóm ở xứ ta ngày xưa, mà đạo thầy trò nghiêm trang
kính mến cũng thế. Duy có cách dạy ở Nhật Bản khác: Con trẻ vô học ở Tự Tử ốc từ
tám, chín tuổi đến mười hai, mười ba tuổi, bắt đầu học Tam tự kinh trước rồi lần
hồi học tới Tứ thư, song ngoài việc học sách tập chữ ra, còn phải học làm toán,
học viết thơ, học nói chuyện và học buôn bán giao thiệp… tùy theo chức nghiệp
gia đình của đứa trẻ ra sao thì thầy đồ dạy cho môn học thích dụng đó.
Té ra về mặt tiểu học của
người Nhật đời xưa đã biết dạy lối chuyên khoa thích dụng rồi, chớ không phải
ròng dạy hư văn như ta trước kia.
Đến như đại học giáo dục
cũng đã chia riêng ra nhiều khoa: Văn chương, nghệ thuật, chính trị, pháp luật; ai
học khoa nào chuyên riêng khoa nấy, nhà nước nuôi cơm may áo cho và học sinh có
quyền mượn sách để đọc, vì đời xưa kinh sách chưa có bản in, nhà trường chỉ có
ít bộ viết bằng tay, người học phải chuyền tay nhau mà coi.
Té ra về mặt đại học ở nước
Nhật cổ thời cũng đã biết cách tổ chức hơi giống như đời nay rồi.
Dầu là bực học nào thì việc
giáo dục cũng là thu vào trong một mục đích: Hòa hồn Hán tài 和魂漢才 [Wakon Kansai].
Thế nào là Hòa hồn 和魂 [Wakon]?
Hòa hồn là tinh thần sẵn
có của quốc dân.
Thế nào là Hán tài 漢才 [Kansai]?
Hán tài là kiêm thông tri
thức của ngoại quốc.
Tóm lại tôn chỉ giáo dục,
phải lấy Hán văn Nho học làm lợi khí để mở mang học thuật, bồi bổ trí thức cho
họ, nhưng họ là dòng dõi người Đại Hòa vốn có tinh thần đặc sắc rất quý báu tốt
đẹp vậy thì tinh thần đặc sắc ấy họ phải quý chuộng gìn giữ luôn luôn, không vì
học khôn học chữ của người mà bỏ cái hay của mình đi được.
Thế là việc giáo dục ở nước
Nhật đời xưa, tuy có thâu nhập Nho học của Tàu và triết lý của Phật làm cốt,
nhưng đến cái gọi là tư tưởng tinh thần riêng của Nhật Bản đã có sẵn sàng, thì
họ vẫn còn giữ, chớ không hề để cho bị xâm phạm tiêu tan đi.
Về việc võ, thì có phép
giáo dục gọi là Võ sĩ đạo 武士道
[Bushido].
Muốn biết việc giáo dục ở
nước Nhật cổ thời, không thể nào không nói đến Võ sĩ đạo; cũng như muốn biết
giáo dục của Âu châu đời Trung cổ, thì ngoài giáo dục nhà tu ra, tất phải
nghiên cứu đến giáo dục kỵ sĩ (chevalerie) của họ nữa.
Chuộng võ vốn là tinh thần
cố cựu của dân tộc Nhật Bản, nguyên do từ trong sự tín ngưỡng Thần giáo, và lại
bởi địa lý, bởi dân chủng buộc phải phấn đấu mà ra, ở chương thứ I đã có nói
rõ. Đến giữa thế kỷ XII (Tây lịch) trở đi, có Võ sĩ đạo lập ra, tức
là nền giáo dục về việc võ. Nhà võ sĩ phải giữ gìn bản lĩnh, trau dồi nhân cách
của mình rất nghiêm rất khó; kính Thần, mộ Phật, tập võ nghệ, giảng văn học, lấy
đức thẳng ngay kiệm ước làm tôn chỉ, coi lời nói mình nặng như Thái Sơn, không
được sai chạy. Nhất là không biết tránh nguy sợ chết là gì, kẻ nào nhút nhát
tránh nguy sợ chết là kẻ trái nghịch Võ sĩ đạo.
Lúc bấy giờ, khắp nước đều
lấy việc vũ dũng khuyên răn tranh cạnh nhau, ai nấy gắng gổ làm cho rạng rỡ gia
môn của mình. Tới lúc chúa Nguyên là Hốt Tất Liệt (忽必烈) từ đất Mông Cổ dấy lên, đã thôn
tính được Trung Quốc mà làm vua rồi, liền thừa thắng đem binh ròng thuyền chiến
tràn qua đánh Nhật Bản, bọn tướng sĩ hải phòng của Nhật tuy là yếu thế, mà cũng
lăn nhào ra đánh binh Nguyên rất là can đảm, rốt lại phía Nhật chỉ còn có ba mạng
sống sót. Trận này làm rúng động tấm lòng dân Nhật đối với việc chống giặc giữ
nhà, thúc giục cho Võ sĩ đạo càng thêm phấn phát.
Từ đó, võ sĩ ráng sức tập
rèn giáo dục, bên trong lấy quan niệm sống chết để trau dồi tinh thần, bên
ngoài lấy những thuật cung mã đao kiếm để luyện tập gân cốt, trở nên hạng người
đứng trên hết tứ dân, làm bức thành đỡ ngăn che chở nhà nước. Võ sĩ tự gánh lấy
công việc dẹp loạn an dân, coi là nghĩa vụ trách nhiệm của mình, hai cây
gươm của võ sĩ đeo bên mình, là cái dấu tỏ về danh dự, sánh với sinh mạng, danh
dự còn quý báu hơn. Võ sĩ mà bị tịch thu mất hai cây gươm đó, rồi cấm mang trọn
đời, ấy là cực hình, chớ tử hình còn là hạng thứ. Nhưng đã là võ sĩ, thì ai
cũng có tinh thần dũng cảm, thà chịu bay đầu nát thân, không khi nào chịu để
cho mất song kiếm.
Võ sĩ đạo có cái cao
phong bỏ mình vì nghĩa, gan dạ xông pha, khiến cho Nhật Bản lừng lẫy oai danh ở hải
ngoại. Phong Thần Tú Cát 豊臣秀吉
[Toyotomi Hideyoshi] làm tướng quân đem binh vượt biển đánh Triều Tiên,
tung hoành oanh liệt, làm cho vua nhà Minh nước Tàu phải giật mình, chính là
cái công của Võ sĩ đạo. Lúc này người Tây dương đã bắt đầu qua Nhật, những
người Nhật có chí đang muốn thâu thái văn minh Tây dương, chẳng may bọn ngoại
nhân truyền đạo làm cho Mạc phủ sinh nghi, mới có chính sách khóa cửa từ lúc ấy
mãi cho đến đời Minh Trị duy tân, ròng rã 300 năm, nếu không vậy thì Nhật Bản
đã chịu ảnh hưởng giáo dục Tây phương sớm lắm rồi.
Tuy vậy, trận Phong Thần
Tú Cát đánh Triều Tiên cũng có ảnh hưởng lợi ích cho quốc dân Nhật, là được văn
hóa nghệ thuật của Trung Quốc do ngả Triều Tiên mà truyền sang.
Sau tới họ Đức Xuyên làm
tướng quân, nhất thống toàn quốc, thiên hạ thái bình, không phải dùng tới vũ lực
nữa, bèn ra sức mở mang về văn hóa. Thời kỳ này trải hơn hai thế kỷ rưỡi, việc
học thuật giáo dục mở mang phát đạt lắm; chẳng những về mặt cổ học mà thôi, cho
đến tân học cũng đã có một hạng người kiến thức để tâm nghiên cứu, khơi đào ra
cái nguồn khai quốc duy tân sau này.
Việc giáo dục ở Nhật Bản
hồi xưa lai lịch biến thiên đại khái là thế, ta chỉ xét sơ vậy cũng đủ, nhưng
có một vài cái đặc sắc lạ lùng kể ra sau đây, ta nên chú ý.
KHÔNG PHẢI NHƯ KHỈ THẤY
AI LÀM GÌ CŨNG BẮT CHƯỚC Y
Sự thiệt, trước khi chưa
có Hán tự truyền sang, Nhật Bản cổ thời không hề có văn tự riêng.
Có mấy nhà cổ học Nhật Bản
nói rằng xứ họ thuở xưa đã có chữ riêng gọi là chữ A Tỳ Lưu 阿比留文字 [Abiru moji], có 47 âm, hình dáng gần giống
như Ngạn văn 諺文
[Hanguru] là cổ tự nước Hàn (tức là Triều Tiên hay Cao Ly ngày nay). Người Nhật
cho thứ chữ này là “Thần đại văn tự 神代文字
[Jindai moji hoặc Kamiyo moji]”, nghĩa là thứ chữ ở đời Thần mới dựng nước trị
vì, hiện nay không còn thấy dấu tích ở đâu nữa.
Song, một nhà bác học ở đời
Duy tân là ông Đằng Cương Thắng Nhị 藤岡勝二
[Fujioka Katsuji], đã có công khảo cứu kỹ lưỡng về quốc ngữ Nhật Bản, nói rằng
cổ thời Nhật Bản không có chữ riêng nào cả. Chẳng qua đời trước, khi đã có Hán
tự truyền sang rồi, có mấy nhà học giả háo sự, lấy cớ Nhật Bản cổ thời không có
chữ riêng là sự xấu hổ, bèn đoán chừng mà bày vẻ ra chữ A Tỳ Lưu cho
có chuyện đó thôi. Dầu phải cổ thời thiệt có thứ chữ ấy đi nữa, thì nó cũng
chưa được thông dụng cho dân, mà cũng chưa thành hình thể, chưa đúng tư cách một
thứ chữ. Tóm lại, Đằng Cương nói quyết rằng thuở xưa Nhật Bản không
có văn tự riêng của mình bao giờ.
Tôi muốn nhắc tích xa xôi
như thế là để chỉ rõ ra rằng Nhật Bản bắt đầu có lịch sử trở đi, tới 900 năm
không có chữ riêng mà dùng; việc giáo dục lúc ấy chỉ là một cách mẫu giáo khẩu
truyền, đại khái cũng như nước Nam mình về đời Hùng Vương vậy. Đến lúc được
1000 năm dẫn tới (nhằm thế kỷ thứ II của Tây lịch), có Hán tự vượt biển truyền
sang thì Nhật Bản mới có văn tự.
Từ đây, sự giáo dục trong
xứ đã có phương pháp truyền bá: Họ lấy ngay Nho giáo làm quốc học, Hán tự làm
quốc văn.
Nho giáo, Hán tự của ông
thầy Trung Quốc có ba cậu học trò ruột: Cao Ly, Nhật Bản và nước Nam mình.
Nhưng mà giống người Nhật
có cái đặc tính tự lập lạ lùng; họ cần phải bắt chước ai về chuyện gì thì cứ bắt
chước, mà vẫn giữ nguyên cái đặc tính tự lập của họ, chớ không phải bắt chước
như khỉ, thấy ai làm sao thì cũng làm theo y như vậy.
Người mình học theo đạo
Nho chữ Hán, chỉ trừ ra đọc âm là khác Tàu một chút thôi, còn thì bao
nhiêu chế độ văn vật của Tàu bày đặt thế nào, mình đều rước lấy và phỏng
theo giống y như thế ấy. Từ áo mão phép tắc chốn triều đình, lễ nghĩa luật
lệ giữa dân gian, cho đến mọi việc từ chương, khoa cử, tang tế, phẩm hàm… nhất
thiết chuyện gì mình cũng in khuôn, ráp kiểu của Tàu, không sai một mảy.
Trải mấy ngàn năm, hễ Tàu vẽ vời thay đổi cái gì, ta đều bắt chước đúng y cái
đó, làm như theo đuôi dính gót người Tàu, không khác gì hình với bóng. Khổ nhất
là cúi đầu nhắm mắt mà bắt chước cả cái học vấn luân lý của bọn Tống Nho và rước
lấy cái độc hại mê mộng khoa cử, khiến cho dân khí hèn yếu, quốc vận suy vi, rồi
thì thầy sao trò vậy, dính chùm với nhau một lũ hư hèn chìm đắm như ngày nay.
Cao Ly cũng thế, vì họ cũng bắt chước Tàu một cách “chụp hình” như ta.
Nhật Bản đâu có phải vậy.
Cũng thì học trò văn hóa Trung Quốc, nhưng mà họ biết lựa lọc điều hay, xa lánh
mối tệ, để lập nên một tinh thần cốt cách riêng. Ta coi nội một chuyện học theo
chữ Hán đạo Nho đủ tỏ ra giống người Nhật có đặc tính tự lập lớn lắm.
Một là không thèm chuộng
hư văn.
Chỗ cốt yếu của họ trong
sự lợi dụng Hán tự là để làm phương pháp giáo dục, mà giáo dục chỉ chuyên thực
dụng, chớ không ham chuộng hư văn. Trong xã hội cũng có một hạng là bác học
danh nho, ưa mài dũa văn chương, ngâm nga thơ phú bằng Hán tự; còn dân chúng
thì chỉ cốt nhờ nơi Hán tự để học cho biết về lịch sử, về đạo lý, cùng là các
việc nhật dụng thường thức, nghệ thuật, chức nghiệp mà thôi; đến việc văn
chương đối với họ chỉ là dư sự, biết hay không biết cũng chẳng lấy làm khinh trọng
gì.
Sự thiệt, Nhật Bản học chữ
Hán mà không chịu nô lệ phục tòng nó quá lố như Cao Ly với nước Nam nhà mình. Bởi
vậy, khi chữ Hán đã truyền rộng ở trong dân gian rồi, ngày nào người ta cũng phải
thường viết thường dùng tới, có mấy nhà học thức cao kiến, thấy chữ Hán rằn ri
nhiều nét quá, vừa khó đọc khó viết cho người ta, và e bất tiện cho việc học vấn
giáo dục, nên chi mấy ông tìm cách sửa đổi cho giản tiện dễ dàng. Rồi đó có lối
chữ gọi là Bình giả tự và Phiến giả tự ở trong trí riêng của
họ đẻ ra. Nghĩa là họ nhân chữ Hán mà tạo thành một lối văn tự riêng của Nhật Bản
vậy.
Bình giả tự 平仮字 [Hiragana] là mượn lối chữ viết
tháu mà biến ra chữ thiệt, để viết cho đỡ tốn nét.
Phiến giả tự 片仮字 [Katakana] là lối chữ chỉ muợn lấy một
“mảnh” của chữ Tàu, hoặc một bên, hoặc một góc, hoặc trên đầu, hoặc dưới cẳng,
để viết cho được giản tiện, kẻo nguyên chữ rắc rối nhiều nét quá.
Hợp lối chữ mượn này với
một phần Hán tự còn để y nguyên, lập thành ra lối văn tự riêng của Nhật Bản, gọi
là Hòa văn 和文
[Wabun], nghĩa là chữ của dân tộc Đại Hòa. Có thể nói là “riêng” được hẳn hoi,
là vì ta thấy ngoài Hòa văn ra, những chữ Hán nào họ còn để y nguyên
mà dùng, thì khi viết ra mỗi chữ Hán ấy đều có thể chua theo âm Nhật ở bên cạnh.
Vả lại chính Hán văn người Nhật cũng viết theo thể cách mẹo luật riêng của họ,
chớ không giống như hơi văn kiểu đặc của người Tàu. Mình đây học chữ Hán, đã từng
có các cụ thơ hay văn giỏi, bóc lấy cái giọng Hán Đường khiến cho người
Tàu xem phải kính phục, nhìn nhận không thua gì họ; Nhật Bản thì khác, có người
Nhật đã nói: “Chúng tôi có lắm ông chuyên trị Hán văn, viết ra dầu hay mấy mặc
lòng, cũng vẫn có chứa cái khí vị Nhật Bản trong đó”.
Có lần tôi được tiếp chuyện
một ông lãnh sự Nhật ở Sài Gòn, là Cao Trạch Trinh Nghĩa 高沢貞義 Consul Takazawa, nhân hỏi tại sao văn
pháp chữ Hán của người Nhật viết khác người Tàu? Ông Cao Trạch nói: “Có lẽ tại
chúng tôi học chữ Hán từ đời cổ thế nào, sau vẫn tôn trọng giữ gìn thế ấy; còn
chữ Hán ở bên Tàu thì trải nhiều lớp biến thiên sửa đổi về những lề lối
dùng chữ đặt câu mới tới ngày nay, tự nhiên văn pháp hai đàng khác nhau nhiều”.
Tôi tưởng lời ông Cao Trạch
(Takazawa) có lý.
Ngay đến Hòa
văn từ xưa truyền lại, cũng từng trải nhiều phen sửa sang bồi bổ cho tới
nay, mới thành ra một thể văn hoàn toàn phổ thông. Sách văn báo chí đều biên
chép bằng lối chữ riêng đó, xen lộn với ít nhiều Hán tự, nhưng thường bên cạnh
Hán tự có chua quốc âm tức là Hòa văn, rất là lợi tiện, dễ hiểu cho dân,
đã không mất lâu công phu học tập và cũng không phải viết quá phiền phức như là
Hán tự để nguyên hình thể. Thử coi một dân tộc có tính cách tự lập đến đỗi đi
mượn chữ người ta cũng biến hóa thành ra chữ mình như thế, đáng phục biết bao!
Nói tới đây tôi chợt nhớ
lại ông bà ta xưa cũng từng dựa theo Hán tự mà đặt ra lối chữ Nôm, nhưng
chỉ vì cái óc mình quá sùng bái, quá nô lệ Hán tự, cho nên chữ Nôm không
có thể biến hóa trọng dụng mà thành ra một thể quốc văn có lợi ích cho việc học
vấn giáo dục như là Hòa văn của Nhật kia được, thật là đáng tiếc!
Hai là Nhật Bản không nhiễm
cái độc khoa cử làm quan.
Nước Tàu, từ đời Hán đường
trở đi, bày ra lề lối khoa cử thi đậu làm quan, là cốt để lung lạc cám dỗ đám
văn nhân say mê cặm cụi vào đó cho dễ cai trị, không ai còn tâm tư trí não để
nghiền ngẫm suy cứu hầu có nảy ra tư tưởng nào rộng xa, lý thuyết gì cao kỳ
được nữa. Vì bọn làm vua hầu hết những kẻ sáng nghiệp quân chủ là hạng võ nhân
rất sợ những tư tưởng cao, lý thuyết lạ, có thể làm rúng động dân tâm, bất lợi
cho cái ngai vàng của họ. Như đời Chu về trước, là đời chưa có khoa cử nhử mồi,
trói óc người ta, thành ra tư tưởng học vấn được tự do phát triển, có phải đời ấy
đã nảy ra được lắm triết lý cao, nhiều học thuyết mới, và có những bực thánh
triết hiền tài như Khổng, Mạnh, Trang, Mặc… kế tiếp nhau nổi lên đó. Thử hỏi từ
Hán Đường trở xuống, có khoa cử bày ra rồi, nước Tàu có những tư tưởng và nhân
tài như thế mọc ra nữa không?
Ai cũng phải trả lời:
“Không!”
Xét nội chỗ đó đủ thấy nọc
độc khoa cử là ghê gớm.
Nước Nam mình rước văn
hóa Tàu và rước luôn cả nọc độc ấy nữa, lại còn khéo vẽ vời châm chế cho độc
thêm, hèn chi suốt cả lịch sử dân tộc trải mấy ngàn năm, người mình không hề có
ai sáng tác xây dựng ra được một thứ gì gọi là cốt riêng, vẻ lạ; rất đỗi tới
lúc có những súng đồng tàu trận dàn ra ở trước cửa nhà mình rồi, thế mà các cụ
danh nho học giả mình cũng còn mê mộng vào khoa bảng từ chương, còn ỷ y vào cái
đạo trị quốc an dân của Nghiêu Thuấn Võ Thang mới khổ!
Đem minh chứng ra như vậy
để tỏ cho biết người Nhật là khôn.
Thiệt, họ đón rước văn
hóa chế độ của Tàu đủ thứ, chỉ trừ ra cái chế độ khoa cử là không. Nói cho phải,
thuở xưa họ cũng có đặt ra phép thi để kén hiền tài, nhưng cách thi giản tiện tự
nhiên, chớ không quá trương hoàng tô điểm như khoa cử bên Tàu để làm cho say đắm
lòng người. Vả lại theo thường, họ trọng sự tấn hiền cử tri như lối kén chọn
nhân tài đời xưa, và cũng gần giống như lối đầu phiếu tuyển cử đời nay, nghĩa
là ai phải hiền tài, thế nào quan trưởng sở tại cũng phải tâu bày tấn cử để cho
phiên chúa hay tướng quân bổ dụng.
Huống chi bản ý giáo dục
của họ, bao giờ cũng có ý cốt huấn luyện cho dân có nhân cách trước, có học thức
sau, hơn là có ý rèn tập người ta mai sau làm quan. Họ lấy tài vũ dũng ra tranh
hành phấn đấu, để làm cho rạng tỏ gia môn, lập nên công nghiệp là phần nhiều.
Có lẽ nhờ đó mà họ không vương nhằm cái độc hư văn khoa cử, và chính vì chỗ
tránh khỏi cái độc này, nên chi ngay từ hồi xưa, nghệ thuật công thương của họ
đã mở mang khá lắm.
Ba là sớm biết Hán học
thiếu sót.
Dân Nhật vốn giàu cái khí
tượng hăm hở tấn thủ luôn luôn, không chịu ngồi một nơi, đứng một chỗ. Nội một
việc bóc lột Hán văn đặt ra thứ chữ riêng, như đoạn trên đã nói, chính là một
cái khí tượng tấn thủ tỏ bày rõ ràng.
Đến đỗi sau khi Hán văn
truyền bá tới một bực cao và lại có Hòa văn đặt ra, lợi tiện cho việc học vấn
giáo dục lắm, nếu như dân tộc nào khác chắc lấy làm tự mãn tự túc rồi, nhưng
dân tộc Nhật Bản lại có ý bất mãn về Hán học đã lâu, cho là Hán học hãy còn thiếu
sót. Bởi bất mãn về Hán học, nên chi hồi xưa đã có những người chú ý chuyên tâm
về sự học khác.
Buổi đầu Mạc phủ Đức
Xuyên (trước đời Minh Trị duy tân lối 250 năm) đã có năm ba người Âu châu, nhất
là người nước Hòa Lan, lần mò sang Đông phương buôn bán, nhiều nhà trí thức ở
Nhật Bản cùng họ giao thiệp, xét biết cái học của Tây phương là hay, rồi cặm cụi
học tập với mấy người Hòa Lan đó. Ấy là Lan học 蘭学 [Rangaku]. Chớ chi lúc sau đừng có mấy
ông cố đạo làm cho Mạc phủ sinh nghi mà phải thi hành chính sách khóa cửa, thì
chắc học thuật Tây phương đã có thể tràn vô Nhật Bản từ sớm kia rồi.
Dầu sao mặc lòng, giữa đời
Đức Xuyên là đời Hán học toàn thịnh và Tây phương bị nghi, thế mà trong nước vẫn
có năm ba nhà học vấn đã sớm giác ngộ về chỗ hơn kém của hai thứ học Đông Tây,
mà biết khuynh hướng về thứ hơn, rồi lần lần giác ngộ cảm hóa khắp nước, thành
ra một nền dân gian giáo dục mới, mở đường đi và lên tiếng trước cho cuộc duy
tân khai quốc sau này. Ta nên biết cái hạng học vấn tiên giác có ảnh hưởng lợi
ích cho nước non nòi giống là vậy đó! Có đâu quá nô lệ phục tòng Hán học như
nhà nho nước mình, hèn chi có lúc Phố hiến tụ tập ngoại nhân đông đảo, là lúc
có kỹ sư Pháp đóng tàu đúc súng giùm cho vua Gia Long, chớ hề có nhà học vấn
nào biết mở mắt dòm người, động lòng tự giác một chút!
Đó, ta coi dân tộc Nhật Bản
từ xưa, về mặt văn hóa giáo dục vẫn giữ tinh thần bản chân và có tính cách tự lập,
chẳng những là bắt chước người, mà khéo cân nhắc lợi hại, lựa chọn dở hay, lại
còn mượn chữ người để đặt ra chữ riêng của mình được, ấy là một sự cổ lai hình
như chẳng thấy dân tộc nào có. Cái cơ sở Minh Trị duy tân dựng lên được mau,
chính là nhờ có sẵn cốt cách đời trước đó vậy.
ĐẠI KHÁI VIỆC GIÁO DỤC TRONG
ĐỜI MINH TRỊ
Trên đây đã có đoạn nói
sơ về sự nghiệp giáo dục của Nhật Bản cựu thời cùng là chỉ tỏ ra mấy cái đặc sắc
về văn hóa trước đời Minh Trị duy tân. Đoạn này nói về sự nghiệp giáo dục của
chính đời Minh Trị, cố nhiên cũng chỉ nói lược những điều cốt yếu mà thôi.
Trước hết, có một điều ta
nên nhìn biết ngay, là trong cái quy mô lớn lao của Minh Trị Thiên hoàng nhất định
cải cách duy tân, việc giáo dục chính là việc chú trọng đầu hết. Bởi vậy, bữa
hôm Thiên hoàng hạ chiếu duy tân, ngài ngự ra điện Tử Thần 紫宸殿 [Shishinden hoặc Shishiiden], hội các
công khanh chư hầu làm lễ tế cáo trời đất và tổ thần, rồi thề nguyền năm điều,
ta thấy hai điều quan hệ về giáo dục. Điều thứ tư thề bỏ hết những thói hư tục
lệ ngày xưa, và điều thứ năm thề phải cầu học những tri thức mới trong thế giới,
mở mang tân học cho quốc dân. Thế là tỏ ra chủ tâm của vua Minh Trị chuyên trọng
việc giáo dục lắm.
Việc giáo dục đã đành cần
phải mở mang sắp đặt cho đủ các trường các khoa như bên Âu Mỹ, nhưng ý vua Minh
Trị ân cần thứ nhất về chỗ giáo dục bình dân, hầu cho trong nước không sót một
tên dân nào mà không có học, không biết chữ. Nguyên là việc giáo dục ở nước Nhật
thuở xưa tuy có hồi đã tổ chức hẳn hoi, khá lắm, nhất là về đời cận kim, đời Mạc
phủ Đức Xuyên, văn hóa giáo dục rực rỡ đáo để, nổi lên nhiều bậc danh nho bác học
không phải là vừa, nhưng vậy mà công ơn giáo dục chỉ hạn ở trong đám hoa tộc và
sĩ tộc được hưởng nhiều thôi, chớ đám thứ dân thì quanh quẩn có mấy trường học
“thầy đồ lối xóm” gọi là “Tự Tử ốc” 寺子屋
[Terakoya] để học tập viết chữ đọc sách và làm toán, chỉ có ba món đó
thôi, ngoài ra không học trí thức cao xa gì khác. Nay vua Minh Trị muốn cho hết
thảy thứ dân đều có học thức như ai, cho nên ngài rất lưu tâm vun bón từ dưới gốc,
nghĩa là mở mang tiểu học thật rộng.
Khi công bố thể lệ việc học
ra, trong tờ dụ của Minh Trị Thiên hoàng có câu:
“Từ nay trở đi, chúng thứ
nhân dân, không kể hoa tộc sĩ tộc cùng là các hạng cày ruộng, làm nghề, đi
buôn, cho đến đàn bà con gái cũng vậy, tất sao trong làng đừng còn một nhà nào
không học, trong nhà đừng còn một người nào không học 自今而後。衆庶人民。無論華士族與農工商。至其婦女子。必期邑無不學之月。家無不學之人”.
Xuống tới chặng khác, có
câu dụ này càng tỏ ra ý vua Minh Trị hết sức ân cần về việc tiểu học:
“Duy có môn học cao xa,
là tùy theo tài năng của mỗi người, chớ như hạng tuổi nhỏ trẻ con, thì không hạn
là trai gái, tất phải cho chúng theo học tiểu học hết thảy, nếu không thế thì
trách lỗi ở những kẻ phụ huynh 惟高尚之學。各任其人之才能。至幼稚孩童。則不別男女。必當從事於小學。其不然者失在殳兄”.
Nói rồi làm liền. Việc sắp
đặt chỉ trong ít tháng, toàn quốc mở ra trường học lối mới đầy rẫy, cộng có 8
trường đại học, 256 trường trung học, 53.760 trường tiểu học. Tính ra mỗi chỗ
có chừng 600 dân cư, là có một trường tiểu học. Nghĩ coi buổi đầu duy tân mới
có năm sáu năm, mà bỗng chốc sáng lập ra trên năm muôn trường tiểu học như thế,
đủ biết Minh Trị Thiên hoàng dốc lòng về việc giáo dục lắm vậy.
Từ đó trở đi, không năm
nào chính phủ không lo mở thêm nhiều trường học, và sửa sang lại học chế (学制 [Gakusei], khuôn phép, thể lệ của việc học),
lựa lọc những cái hay Tây phương giáo dục mà bồi bổ vào, càng ngày càng hoàn
thiện. Rồi tới năm Minh Trị thứ 20, thì có các trường thực nghiệp chuyên khoa
như trường dạy đào mỏ, trường dạy công nghệ, trường dạy cơ khí, trường dạy canh
nông, thương mãi, cùng là trăm nghề ngàn nghiệp khác, mỗi mỗi đều có trường lập
ra nhan nhản, như bên Âu Mỹ. Trước sau mới có vài chục năm, mà việc giáo dục tổ
chức đầy đủ như thế, thiệt là mau chóng lạ đời!
Có một điều này ta nên
chú ý, phải chú ý một cách đặc biệt là từ đời đó, cái đời Nhật Bản mới bắt đầu
duy tân tự cường, họ đã sớm biết rằng thế giới mai sau, vấn đề kinh tế càng
ngày càng sinh tử quan hệ, cho nên ngay từ đời đó, họ đã ra sức mở mang về kinh
tế giáo dục lắm rồi. Sở dĩ trong một lúc họ lo sắp đặt phổ thông giáo dục, lại
cho sắp đặt cả thực nghiệp chuyên khoa giáo dục nữa, ấy là vì nội tình cần dùng
đã đành, mà cũng là vì biết trước đại thế thiên hạ nữa vậy.
Chắc có người không tin,
muốn hỏi:
Chứng cớ của sự tiên giác
ấy ở đâu?
Sao lại không có!
Sâm Hữu Lễ 森有礼 [Mori Arinori] làm Văn bộ đại thần
(tức là Thượng thư bộ Học) ở triều Minh Trị duy tân, từ năm Minh Trị thứ 19 đến
năm 23, vốn là tay có hoài bão xa kiến thức rộng về việc giáo dục; các trường
thực nghiệp chuyên khoa mở ra nhan nhản lúc này, chính một tay ông ta chủ
trương tổ chức. Có lần, họ Sâm nói với người ta như vầy:
“Nếu có ai cố hỏi cái chủ
nghĩa giáo dục của nước nhà nên ra làm sao, thì tôi xin đáp rằng “kinh tế
giáo dục” mà thôi”.
Sâm Hữu Lễ 森有礼 [Mori Arinori] (1847 - 1889)
- Công sứ Nhật Bản đầu tiên ở Hoa Kỳ
Đó, coi Nhật Bản có dòm
trước đại thế thiên hạ hay là không? Hèn chi ngay từ lúc mới duy tân và nhất là
từ lúc Âu chiến đến giờ, Nhật Bản cố sức mở mang kinh tế, cạnh tranh kịch liệt
với các nước Âu Mỹ: Nào công thương, nào lý tài, nào cơ khí chế tạo, nào sản vật
kinh doanh, không có thứ nào mà họ không mở mang ra có quy mô rộng lớn, có thực
lực gớm ghê. Đến đỗi mấy năm nay họ đem các đồ chế tạo của họ bày đầy trên thị
trường thế giới mà bán được cái giá rẻ mạt, làm cho các nhà chế tạo ở Âu Mỹ phải
sợ, phải rèn. Tôi nhắm kinh tế nước Nhật tấn phát như ngày nay không lạ gì, bởi
họ đã thấy trước và định trước từ 50 năm trước kia mà.
Một chỗ khác nữa, ta cũng
nên chú ý, ấy là tôn chỉ của tiểu học giáo dục ở đời Minh Trị. Ông vua minh
quân thánh chúa này xướng lên cái tôn chỉ lấy sự trau dồi đạo đức và chỉ bảo thực
dụng cho trẻ con làm gốc. Bởi vậy hồi năm Minh Trị 23 và 24, sau khi Nhật Bản
đã sửa sang lại chế độ giáo dục theo kiểu Đức quốc rồi, Minh Trị Thiên hoàng hạ
dụ đinh ninh khuyên bảo các thầy giáo tiểu học trong nước một điều quan hệ thứ
nhất, như vầy:
“Việc giáo dục nên để ý
hơn hết, là sự trau dồi uốn nắn đức tính của trẻ nhỏ. Phàm một chuyện gì quan hệ
tới đạo đức cùng là nghĩa vụ quốc dân, thì nên dạy dỗ cho khéo, cho kỹ. Thường
thường phải lựa chọn những công chuyện nào có dính líu và có lợi ích tới cuộc
sinh hoạt hằng ngày cần dùng mà dạy bảo; rồi phải nhắc nhủ rèn tập hoài, kỳ cho
thích hợp với thực dụng mới được”.
Thiếu chút nữa tôi quên
nói rằng vua Minh Trị định lệ giáo dục, rất trọng hậu cái địa vị của các thầy
giáo tiểu học. Các thầy được đối đãi tử tế, lương bổng lãnh nhiều. Trái hẳn với
nhiều nước khác, nhất là những nước bị cai trị, càng là hạng thầy giáo trường
nhỏ, dạy trẻ nhỏ chừng nào, thì càng bị bạc đãi và ít lương chừng ấy mới kỳ!
Đời Minh Trị, nhất thiết
việc gì cũng canh tân sáng tạo, kể từ việc giáo dục mà đi, cho nên công cuộc mở
mang sắp đặt giáo dục ở đời Minh Trị là một công cuộc tổ chức to lớn bộn bề
lắm, nói sao cho cùng được, ta chỉ nên biết ít nhiều điều cốt yếu đặc biệt như
trên đây là đủ.
Còn việc tư học trong đời
này cũng thịnh hành phát đạt rất mực. Tay chủ trương tư học đều là những bậc
chí sĩ anh hùng, vì thấy cuộc duy tân quan hệ ở việc giáo dục, cho nên họ đứng
ra lập nhiều trường tư, để giúp sức với nhà nước mà giáo hóa nhân dân cho mau
hùng cường tấn hóa. Sự nghiệp tư học này là sự nghiệp “dân gian giáo dục”, có
công lao có ảnh hưởng với cuộc duy tân của nước Nhật Bản lớn lắm, lát nữa sẽ
nói riêng một đoạn dưới đây.
Tư học lập ra ở đời Minh
Trị chính là để bổ vào chỗ bất túc của chính phủ và tỏ ra sự cầu học tư lập của
dân, cho nên chính phủ đối với tư học, chỉ khuyến khích thì có, chớ không hề kiếm
cớ ngăn cản, mà kiểm đốc cũng có, nhưng không bắt buộc phải học theo chương
trình nhà nước. Trừ ra chính phủ nào chẳng muốn cho dân mau khá thì mới cản
ngăn thắt ngặt tư học mà thôi.
Để cho tư học tự do mở
mang, đó cũng là một cái đặc sắc giáo dục của đời Minh Trị. Dưới đây, độc giả sẽ
coi tư học có ảnh hưởng lợi ích cho bước tấn hóa của dân tộc Nhật Bản ra thế
nào?
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC CỦA
DÂN CÒN LỚN HƠN
Ta nên biết cái lâu đài
Nhật Bản duy tân, rất ngắn ngày giờ mà dựng lên được nguy nga đồ sộ, vốn không
phải chỉ nhờ một mình sức “chính phủ giáo dục” của đời Minh Trị mà nên đâu; kỳ
thiệt, xét tới cội nguồn, thì có nhờ cả sức “dân gian giáo dục” từ trước hồi
khai quốc cho đến giữa lúc duy tân, đóng góp công phu đào tạo vào đó nhiều lắm.
Dân gian giáo dục là gì?
Dân gian giáo dục 民間教育 [Minkan kyoiku] là cuộc giáo dục
của dân tự lo tự làm lấy, không đợi gì chính phủ phải chỉ bảo lo toan. Ngó thấy
sự nào hay, việc nào phải, tự trong óc họ phát ra cái tính khôn trí sáng, chịu
khó học hỏi bắt chước, rồi lo truyền thụ cảm hóa những người khác cũng được mở
khôn sáng biết như mình, thế là tự dân họ dạy bảo khai hóa lẫn nhau; dân gian
giáo dục tóm tắt là vậy đó. Một nước muốn tấn hóa, cần phải có dân gian giáo dục
bổ thêm vào chỗ thiếu sót của chính phủ giáo dục, chớ một mình chính phủ giáo dục
không khi nào đầy đủ trọn vẹn được.
Có khi dân gian giáo dục
có công phu và có quan hệ lớn hơn là chính phủ giáo dục, tức như sự thiệt đã thấy
ở nước Nhật mà tôi đang nói đây.
Đông phương mình có hai
nước lớn là Trung Hoa và Ấn Độ, từng có văn minh rực rỡ lâu đời, thế mà ngày
nay đều lụn bại hư hèn; còn Nhật Bản là nước nhỏ xíu lại trở nên hùng cường vĩ
đại, là tại sao vậy? Tại hai cậu Trung, Ấn đều ỷ cái văn minh sẵn có lâu đời của
mình, tưởng mình thành rồi, đủ rồi, không biết thu dụng những giáo hóa hay của
ngoại quốc mới đem lại, chớ Nhật Bản thì không thế. Người họ từ xưa vốn có chí
khí tấn thủ rất mạnh, luôn luôn biết lựa lọc đón rước những cái hay của nước
khác, khiến cho hóa nên hồn nước thói nhà của họ, thành ra rốt lại họ lấy cái sức
quốc dân đồng hóa, khác hẳn người hai nước Trung, Ấn, mà dựng lên được cái cảnh
tốt đẹp vẻ vang như ngày nay. Ta có xét tới gốc nguồn, mới biết rằng không phải
hết thảy do nơi chính phủ chỉ vẽ dìu dắt mà ra đâu, chính thiệt nhờ có hạng chí
sĩ cao minh khẳng khái đã ra tay sắp đặt gây dựng phần nhiều hơn; ấy đó là công
cuộc dân gian giáo dục, hồi xưa đã vậy mà đến hồi khai quốc duy tân cũng vậy.
Chủ ý đoạn này chỉ nói về dân gian giáo dục ở đời cận kim, cùng là giữa lúc
khai quốc duy tân, cho biết cái chỗ công cao nỗi khổ của ít nhiều bậc tiền hiền chí
sĩ nước Nhật đã đón rước Tây học và tô điểm nền lịch sử Nhật Bản tân thời
ra thế nào?
BỐN ÔNG TỔ ÂU HỌC CỦA
NƯỚC NHẬT
Từ hồi thế kỷ XVI, Phong
Thần Tú Cát 豊臣秀吉
[Toyotomi Hideyoshi] làm tướng quân đã nghi bọn truyền giáo Thiên Chúa mà
cấm người Âu châu lui tới rồi, đến đời Đức Xuyên Gia Khang 徳川家康 [Tokugawa Ieyasu] dựng Mạc phủ lại
còn cấm gắt hơn nữa. Năm 1639 (Tây lịch), Mạc phủ Đức Xuyên ra lệnh “khóa nước”
thật nghiêm:
Cấm chỉ ghe tàu của người
các nước Tây dương vào đất nước Nhật Bản, trừ ra có người Hòa Lan thì được Mạc
phủ rộng phép cho vô buôn bán tại Trường Kỳ mà thôi, chớ không được đi lung
tung qua các nơi khác.
Cấm chỉ người trong nước
học chữ đọc sách Âu châu, trừ ra có phép riêng của Mạc phủ và trừ ra y học Hòa
Lan thì cho học tập.
Sau khi có lệnh nghiêm cấm
như vậy rồi, có đến ngót một trăm năm, trong nước cũng chưa có ai biết Âu học
là hay mà hòng phạm cấm, cầu học. Trong khoảng đó tuy có người làm chức Hòa Lan
thông sự (tức là thông ngôn tiếng Hòa Lan) ở Trường Kỳ, nhưng kỳ thật không hiểu
Âu văn là gì; lại có thầy thuốc xưng là biết ngoại khoa Hòa Lan, nhưng chẳng
qua chỉ nghe lóng học mót vậy thôi, chứ thiệt chưa bao giờ từng nghiên cứu y học
Hòa Lan bao giờ.
Mãi sau lâu lắm, mới có
người bắt đầu học tập Lan học, mà công phu học tập của họ buổi đầu khốn khổ biết
bao!
Khởi sự là năm 1716, hai
viên Hòa Lan thông sự ở Trường Kỳ là Thiện Tam Lang 善三郎 [Zenzaburou] và Cát Hùng Hạnh
Tác 吉雄幸作
[Yoshio Kougyuu], tiếng làm thông sự mà đều bất thông chữ Lan, bèn phát phẫn
xin được Mạc phủ cho phép học tập. Rồi Thiện Tam Lang thì xin người Lan
cho một cuốn tự điển tóm tắt, về cặm cụi học đêm ngày và tính dịch ra để cho
người sau, nhưng dịch dở dang thì chết già.
Còn Cát Hùng Hạnh
Tác thì học làm thuốc với người Lan, tuy rành nghề thuốc, trở về dạy với
600 học trò, nhưng chính Hạnh Tác cũng chưa biết chữ Lan là gì, bởi khi học
thuốc, người Lan lấy tiếng Nhật mà dạy cho.
Tới năm 1739, Mạc phủ cho
phép hai vị thuộc quan của mình là Thanh Mộc Văn Tàng 青木文藏[Aoki Bunzou] và Dã Lữ
Nguyên Trượng 野呂元丈
[Noro Genjou] học tập Lan học. Hai người cầu học một cách gian nan vô
cùng! Mỗi khi nghe tin có tàu Hòa Lan tới Giang Hộ, thì rủ nhau xuống tàu kiếm
người Lan mà hỏi dò từng tiếng rồi lẩm nhẩm học đi học lại hoài.
Học lạ buổi đầu, mà chữ
Âu khó hiểu, vả lại lúc bấy giờ mỗi năm mới có tàu Lan ghé vào Giang Hộ một
chuyến mà thôi, thành ra hai người học tập luôn ba bốn năm chỉ biết có mấy chữ
số Hòa Lan là hết. Vừa tức vừa thẹn, nên qua năm 1744, hai người rủ nhau đến tận
Trường Kỳ là chỗ có người Lan buôn bán mà dốc lòng học tập, có cả Cát Hùng
Hạnh Tác cũng đi theo học cho có bạn nữa.
Ở học luôn vài năm, mới
ghi nhớ được trên 400 tiếng Lan nhật dụng và biết điệu nói cách viết chút đỉnh,
rồi phải bỏ về Giang Hộ, không được học thêm. Tuy vậy, mỗi người cũng viết ra một
tập sách nhỏ về Lan học, hoặc về tiếng nói, hoặc dịch vị thuốc.
Người Nhật nói: “Có thể bảo Thiện
Tam Lang, Hạnh Tác, Văn Tàng, Nguyên Trượng, là bốn ông tổ giảng cầu học thuật
Âu châu trước hết ở nước Nhật vậy”.
MỘT NGÀY KỶ NIỆM VỀ CÔNG
PHU HỌC TẬP TÂN HỌC KHÔN XIẾT GIAN NAN
Đã nói Mạc phủ không cấm
sự học thuốc của Âu châu, vả lại, trong lúc này thầy lang nào học giỏi chữa
tài, thì được Mạc phủ và chư hầu kính trọng tin dùng, cho nên những người có
chí nghiên cứu học thuật Âu châu, đều đua nhau nghiên cứu y học hết thảy. Thế
là học thuật Âu châu truyền sang Nhật Bản, y khoa được đón rước trước hết, rồi
sau mới lần lần tới các khoa học khác.
Các thầy lang Nhật lúc bấy
giờ ráng học y khoa Tây phương, cốt bồi bổ vào chỗ bất cập của y khoa Trung Quốc,
để chữa bệnh cho đồng bào trước mắt, mà chính là các thầy tìm phương kiếm thuốc
chữa bệnh cho quốc gia sau này trở nên cường kiện đó vậy.
Trong hạng tiền bối đã
gia tâm học tập y khoa Âu châu rất đông, có ba người xuất sắc dị thường và
trong việc họ cầu học, có câu chuyện lạ lùng ngộ nghĩnh đáng nên thuật ra. Ấy
là Tiền Dã Lương Trạch 前野良沢
[Maeno Ryoutaku], Bân Điền Huyền Bạch 杉田玄白
[Sugita Genbaku] và Trung Xuyên Thuần Am 中川淳庵 [Nakagawa Junan].
Ba người vớ được sách thuốc
Hòa Lan mấy cuốn và một tấm hình vẽ cơ thể trong người, gọi là “Nhân thể nội cảnh
đồ 人體内景圖”, biết là vật quý, có
ích cho nghề thuốc và sự học của mình, nhưng khốn nỗi không có thầy nào chỉ vẽ,
họ bèn rủ nhau gắng gổ công phu, tự nghiên cứu lấy được mới kỳ.
Nguyên là trong ba người,
chỉ có Lương Trạch đã từng thụ nghiệp với Thanh Mộc Văn
Tàng (một nhà Lan học đầu hết, nói ở đoạn trên) mà biết được năm sáu trăm
tiếng Hòa Lan, còn Huyền Bạch và Thuần Am thì chưa biết. Cả
ba đều là y sinh, bình nhật vốn không quen biết nhau, may sao bữa đó tại Giang
Hộ có mổ thây một tên tù tử hình, ba ông cùng đến coi, mở tấm hình “nhân thể nội
cảnh” đã mua của người Hòa Lan ra đối chiếu, thấy đúng từng ly từng chút, cùng
nhau thán phục Lan học là tài, rồi đó làm quen nhau, Huyền Bạch và Thuần
Am thở than rằng mình mua được sách thuốc và hình vẽ này, nhưng tiếc vì dốt
chữ Lan, thành ra không nghiên cứu đặng, thật lấy làm tức. Lương Trạch nói:
“Tôi có chí nghiên cứu
Lan học đã lâu, nhưng tiếc nỗi không có bè bạn cùng nhau rèn tập. Trước kia tôi
có học chữ Lan chút ít, nay ba chúng ta hiệp sức nhau lại mà nghiên cứu, lý nào
không thành công. Vậy thì ngày mai, tôi mời hai anh ở lại nhà tôi, để anh em ta
ra sức rèn tập với nhau ít lâu, chắc là phải được. Hai anh nghĩ sao?”
Hai ông kia mừng rỡ lắm,
chịu liền.
Người Nhật cho cái ngày ấy
là một ngày tân học kỷ niệm; cuộc tấn hóa của nước Nhật, thiệt là phôi thai từ
ngày ấy mà ra.
Sau Huyền Bạch viết
sách tỏ bày sự Lan học buổi đầu gian nan ra thế nào, nghĩ mà đáng thương đáng
phục; trong sách có đoạn thuật chuyện như vầy:
“Qua hôm sau, anh em tụ hội
ở nhà Lương Trạch mở cuốn sách dạy sơ cách mổ xẻ ra xem, nghĩ mình
đây chẳng khác nào một chiếc thuyền, sửa soạn chèo lái chưa đủ, mà đánh liều vượt
biển ra khơi, ngó thấy trời biển mênh mông, bao xiết lo ngại. Song may
có Lương Trạch trước kia đã học chữ Lan ít nhiều, hơi biết câu văn và
cách đọc, vả lại lớn hơn anh em tới 10 tuổi, nên anh em đều tôn Lương Trạch làm
chủ tịch và thờ làm thầy học.
Huyền Bạch hăm hở
quyết học, nhưng mà 25 chữ cái cũng chưa biềt hình thù kêu gọi ra sao; bây giờ
phải gắng gổ học 25 chữ cái, rồi ít lâu mới học chữ một và năm ba tiếng nói bập
bẹ. Dầu là một câu ngắn ngủi trong sách, Huyền Bạch cũng gắng công
tìm tòi ngẫm nghĩ cho tới hiểu hết nghĩa lý mới thôi; nhiều khi một câu làm
cho Huyền Bạch ngồi cặm cụi tối ngày sáng đêm, quên ăn bỏ ngủ.
Bữa kia, đọc sách tới khoảng
nói về bộ phận cái mũi, có tiếng verheffen mà không hiểu là nghĩa gì. Thuở
đó làm gì đã có tự điển lớn đâu, chỉ có một cuốn nho nhỏ, của Lương
Trạch đã mua tại Trường Kỳ về. Chúng tôi liền mở ra tra, thấy chữ
verheffen có nghĩa là cái dấu tích của những nhành cây chặt ra, lại quét sân mà
tụ đất cát lại thành đống, cũng gọi là verheffen. Ngoài hai nghĩa này ra không
thấy chua nghĩa gì khác nữa, giờ chúng tôi suy nghĩ không biết phải hiểu nghĩa
chữ đó thế nào cho phải.
Huyền Bạch bèn tán rộng
với anh em rằng: Nhành cây chặt ra, lâu ngày thành đống, mà quét nhà rồi, đất
cát tụ lại cũng thành đống, vậy cái mũi nổi cao lên ở trên mặt người ta, thì chữ
verheffen đây cắt nghĩa là đồng, anh em liệu có được chăng?
Chúng tôi suy nghĩ phải lẽ,
rồi nhất định theo cái nghĩa đó. Lúc bấy giờ chúng tôi tự tìm tòi bàn tán ra
nghĩa chữ này rồi, ai nấy hớn hở vui mừng, xem như là khi không mà bắt được cục
ngọc Liên Thành vậy…”
Ta coi như thế, thì biết
ngày xưa bọn chí sĩ Nhật Bản nghiên cứu tân học thật là gian nan và dụng công
khắc khổ biết sao mà nói cho cùng. Ấy vậy mà họ học thét phải thành công kết quả
mới ghê! Về sau một nhà duy tân chí sĩ có danh vọng công lao nhất, là Phúc Trạch
Dụ Cát 福澤諭吉 [Fukuzawa Yukichi], mỗi
khi đem cuốn sách nói trên đây ra đọc, tới đoạn “nghĩ mình chẳng khác một chiếc
thuyền sửa soạn chèo lái chưa đủ, mà đánh liều vượt biển ra khơi, ngó thấy trời
biển mênh mông, bao xiết lo ngại” thì Phúc Trạch than rằng:
“Ta tưởng nhớ lại tiền
nhân khổ tâm như thế, bắt ta phải ghê chỗ dũng cảm, phục tấm nhiệt thành của
các cụ ngày xưa”.
Thở than vậy rồi Phúc
Trạch nhỏ sa nước mắt khóc vùi.
Than ôi! Người khổ tâm học
trước, kẻ cảm động khóc sau, chan chứa cái tinh thần và cái đặc sắc ái quốc của
dân tộc Nhật Bản biết mấy!
CÓ NGƯỜI NGỒI TÙ HAY
MỔ BỤNG VÌ TÂN HỌC
Câu chuyện vừa thuật ra
trên đây là câu chuyện tân học từ cuối thế kỷ XVIII, nghĩa là lúc tân học ở Nhật
Bản mới phôi thai.
Từ đó trở đi, số người
tiên giác nối gót nhau nghiên cứu Lan học càng ngày càng đông. Những người học
trước, chịu khó dịch sách thuốc của Hòa Lan và làm sách dạy văn tự Hòa Lan, để
truyền thụ cho những người học sau cũng nhiều.
Nhân vì giao tiếp người
Lan, nghiên cứu học Lan, tự nhiên đám chí sĩ Nhật mỗi ngày thêm nghe biết những
cái học hay sức mạnh của Tây phương, mà so sánh lo ngại cho cái thế nguy sức yếu
của mình, nên chi phong trào tân học mở tung ra lớn rộng; bây giờ không phải chỉ
có những người học tập làm thuốc lối mới như thuở nay mà thôi, lại có người xem
xét học hỏi tới các khoa vật lý, hóa học, chính trị và binh cơ của Âu châu nữa.
Muốn nghiên cứu tân học,
mà cứ học tập y khoa thì Mạc phủ dung, chớ động tới chính trị thời sự thì Mạc
phủ vẫn cấm. Là vì bọn chấp chính lúc này còn là hạng hủ nho thủ cựu. Nhưng cấm
thì cấm, vẫn có người nghiên cứu, không sợ. Cho biết thứ dân lúc họ muốn học,
muốn mạnh, muốn khôn, thì quyền thế nào cũng không cản nổi. Dầu có người nọ chết,
thì có kẻ kia nổi lên tiếp liền.
Hồi đó ở Nhật Bản có người
bị lao tù hay phải mổ bụng vì ham hố tân học.
Ví dụ hồi năm 1792, có
chí sĩ là Lâm Tử Bình (林子平
Hayashi Shihei] đến Trường Kỳ giao du dọ hỏi người Lan, biết được công việc
các nước Tây phương có cái lối đi chiếm đất thực dân. Trở về, Lâm Tử
Bình suy nghĩ tới việc nước mình không thể quên lãng phòng bị được, tức thời
viết ra cuốn sách Hải quốc binh đàm (海国兵談
Kaikoku heidan] và một cuốn khác nói về chính trị, để thức tỉnh người
trong nước. Mạc phủ cho là tà thuyết hoặc dân cũng như triều đình nước ta
xưa cho là yêu thơ, yêu ngôn đó, nên chi cấm tuyệt hai cuốn sách của Lâm Tử
Bình và giam cầm Lâm Tử Bình tới chết.
Bước qua đầu thế kỷ XIX,
có hai nhà thanh niên chí sĩ là Cao Dã Trường Anh 高野長英 [Takano Chouei] và Độ Biên Hoa
Sơn 渡辺華山
[Watanabe Kazan], viết ra nhiều sách nói về các vấn đề cứu quốc, luyện binh,
chính trị, kinh tế và kêu gào nhà nước nên mở cửa ra cho ngoại nhân vô giao
thông. Năm 1839, Mạc phủ ghét bọn Lan học dám nói động tới chính trị, bèn bắt Trường
Anh và Hoa Sơn trị tội. Trường Anh bị xử chung thân cấm cố; Hoa
Sơn ban đầu bị xử trảm, nhưng sau được giảm xuống chung thân cấm cố; ở
trong ngục ít lâu, Hoa Sơn tự vẫn chết.
Còn Trường
Anh bị giam trong ngục, bữa kia ngục phát cháy, liền thừa cơ trốn ra ngoài
được. Sau lần mò trở về Giang Hộ, biến đổi họ tên hình dáng đi, vẫn ra sức dịch
sách Tây và viết sách hô hào khai quốc. Đến năm 1850, bị lộ chuyện ra, Mạc phủ
sắp nắm đầu được thì Trường Anh tự mổ bụng ra chết rồi!
Tuy có nhiều người vì cổ
động tân học mà mang họa sát thân như ba người trên, nhưng vậy mà phong trào
tân học và chủ nghĩa khai quốc cứ bồng bột mãi.
Lòng dân đã muốn vậy, dầu
Mạc phủ có quyền lực ngăn cản thế nào cũng không lại; có giết bất quá chỉ giết
được ít nhiều người thôi, chớ cái tư tưởng ở trong đầu của cả bọn tiên giác khá
đông, làm sao mà giết nổi. Rồi qua tới năm 1853, có tàu binh Mỹ tới bắn súng ra
oai lôi đình ở Phố Hạ và sang năm sau, 1854, hai nước Nhật Mỹ ký tờ ước thông
thương, kế tới ba nước Anh, Nga, Pháp cũng đòi ký ước như thế; bấy giờ Mạc phủ
đã tỉnh ngộ, liền đổi chính sách: Trước kia “tỏa quốc nhương di” bao nhiêu, thì
bây giờ hiểu biết sự “khai quốc ngoại giao” là cần dùng bấy nhiêu. Mặc dù có
đám nhà nho thủ cựu sôi nổi phản đối, Mạc phủ cũng cứ hăng hái khai quốc, có bọn
tân học tiên giác giúp sức vào cho. Bọn này tuy có ít, nhưng là một sức rất mạnh.
Tới đây, bọn tân học kế
tiếp nhau mở ra trường tư để dạy học mới, và xướng lên “Thái Tây tân học” một
cách công nhiên.
Ấy là những chí sĩ duy
tân.
Trong đám này có những
người như Thắng Lân Thái Lang 勝麟太郎
[Katsu Rintarou hay Katsu Kaishuu; Katsu Yasuyoshi], Tự Phương Hồng
Am 緒方洪庵 [Ogata Kouan], Tá Đằng
Thái Nhiên 佐藤泰然
[Satou Taizen]… đều là những bực anh tài xuất sắc, có công lao to lớn về việc
dân gian giáo dục, tức là gốc nguồn của cuộc duy tân. Nhất là Tự Phương Hồng
Am dạy học trò rất đông, nhiều người có công danh to lớn ở thời kỳ trước
sau duy tân là học trò của Hồng Am đào tạo ra. Phúc Trạch Dụ
Cát là một.
Người này, ta nên biết
rõ: Không dự chính trị bao giờ, không có chức quyền gì hết, chỉ là ông thầy dân
gian giáo dục thôi, thế mà chính là tay thợ khai quốc duy tân, được triều đình
nhân dân đều kính tôn trọng vọng, có công nghiệp lớn với quốc gia, có thanh
danh truyền về hậu thế; người này thiệt là một nhà giáo dục ảnh hưởng cho thế đạo
nhân tâm, quan hệ tới quốc gia đại kế vậy.
PHÚC TRẠCH DỤ CÁT
PHÚC TRẠCH DỤ CÁT 福沢諭吉 [Fukuzawa Yukichi] (1835 - 1901) - Nhà cải
cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật
Bản.
Phúc Trạch Dụ
Cát sinh ra năm 1853 ở nước phiên Trung Tân 中津
[Nakatsu]; thuở nhỏ học Hán văn tới tuổi trưởng thành, nảy ra cái chí muốn cho
nước nhà được thoát chế độ Phong kiến và thống nhất tự cường, bèn bỏ Hán học mà
đi cầu Lan học, tới Đại Bản vô thụ giáo ở trường tân học của Tự Phương Hồng
Am. Phúc Trạch cố gắng công phu mấy năm, Lan học khá lắm.
Năm 1859, do theo điều ước,
Hoành Tân trở nên một đô thị chung cho 5 nước Âu Mỹ buôn bán, Phúc Trạch tới
xem sự tình buôn bán của người Tây phương, xét thấy tiếng Anh rất thiết dụng,
liền quyết ý học tiếng Anh. Nhờ sẵn thông minh, thêm có chí khí, nên chi vài
năm ra công gắng sức, Phúc Trạch học được tiếng Anh ít nhiều.
Gặp dịp Mạc phủ Đức Xuyên
sai sứ đi qua Mỹ, Phúc Trạch được cử đi theo (1860). Cách hai năm sau
(1862), Mạc phủ lại sai sứ đi sang thông hảo với các nước Âu châu, Phúc Trạch cũng
được đi theo nữa.
Hai lần được theo sứ thần
như thế, chính là cơ hội tốt cho Phúc Trạch được xem xét và ngó thấy
văn minh Âu Mỹ tận nơi. Sau khi ở Âu châu về nước, năm 1866, Phúc Trạch góp
nhóp mọi sự kiến văn của mình mà viết ra cuốn sách Tây dương sự tình 西洋事情 [Seiyou Jijou].
Cuốn sách này ra đời, làm
như một tiếng sét đánh rung động tâm hồn người Nhật. Thuở nay, trừ phái tân học
hiếm hoi ra, không ai biết rõ văn hóa và tình thế phương Tây ra thế nào; nhờ cuốn Tây
dương sự tình, người trong nước mới hiểu đại thế thiên hạ cùng là văn hóa Thái
Tây. Lúc này trong triều ngoài quận, trên quan dưới dân, ai là hạng kiến thức,
nếu bàn bạc tới những vấn đề văn minh khai quốc, thì trên án bên mình đều có một
bản Tây dương sự tình để mở ra xem, coi như là lời vàng tiếng ngọc vậy.
Qua năm sau là năm 1867,
Mạc phủ trả quyền chính về triều đình, rồi đức Minh Trị Thiên hoàng cả quyết
duy tân cải cách. Lúc bấy giờ chính phủ Minh Trị sửa sang thi thố công việc gì
cũng đều châm chước ở trong sách của Phúc Trạch. Bởi vậy, người Nhật thường
nói chính sách duy tân của đời Minh Trị, có thể cho là phôi thai ở trong bộ
sách Tây dương sự tình mà ra cũng đúng.
Tôi quên nói từ hồi năm
1858, sau khi Phúc Trạch đi nghiên cứu Lan học ở Trường Kỳ rồi trở về
Giang Hộ, tự mở ra một trường tư để dạy tân học, gọi là Khánh Ứng nghĩa thục 慶応義塾 [Keiou Gijuku]. Lấy sự lâu bền mà
nói, cùng là cách thức dạy học mới, khắp nước Nhật Bản không có trường công,
trường tư nào sánh kịp trường Khánh Ứng của Phúc Trạch được.
Ban đầu mới lập ra,
chuyên dạy Lan văn, đến khi Phúc Trạch biết Anh văn thông dụng mà tự
cặm cụi học tập rồi, năm 1863 trở đi, nhà trường thay đổi, dạy ròng Anh văn.
Mấy năm mới mở, có lối
100 học trò. Kịp đến năm 1867, Mạc phủ trả lại quyền chính, Minh Trị xuống chiếu
duy tân, trong nước có việc biến loạn xôn xao (tức là chuyện phe đảng Mạc phủ nổi
lên chống cự triều đình), vì đó mà một lúc trường Khánh Ứng giảm số học trò, chỉ
còn vỏn vẹn có 18 mống. Tuy vậy, Phúc Trạch không ngã lòng chút nào,
cứ việc dạy học như thường, lại đem cuốn Kinh tế học đã mua hồi qua Mỹ quốc mà
giảng cho học trò, tỏ ý rằng mình chỉ dốc lòng mở mang giáo dục, un đúc nhân
tài cho nước nhà mà thôi, chớ sự quyền chính đổi dời, nội tình rối loạn đi nữa,
cũng không thể ngưng việc học lại một giờ nào đặng.
Thiệt, lúc đó có việc Mạc
phủ trả quyền, Minh Trị cải cách, là một việc đại biến chưa từng thấy có ở
trong lịch sử Nhật Bản, bởi vậy phần thì dân chúng còn đang sửng sốt lao xao,
phần thì binh triều đang đánh binh loạn, thời cuộc ấy làm cho các trường công
tư đều đóng cửa nghỉ học hết thảy. Duy có Khánh Ứng nghĩa thục vẫn đứng sững một
mình, cứ việc giảng dạy tân học Thái Tây, chưa từng có một ngày nào ngưng bỏ;
xem vậy thì biết Phúc Trạch nhiệt tâm về việc dân gian giáo dục ra thế
nào?
Phúc Trạch chỉ cặm cụi
lo toan hai việc: Một là làm sách để giáo dục tất cả xã hội, hai là dạy học để
giáo dục đoàn em hậu tấn, tâm tư sự nghiệp trọn đời tiên sinh dồn cả vào hai việc
đó. Từ năm 1854, mở ra Khánh Ứng nghĩa thục, cho đến năm 1897 (năm Minh Trị thứ
34) qua đời, trước sau 43 năm, cầm một cây viết, khua ba tấc lưỡi, tự nhận lấy
công việc mở mang ra vận hội mới cho nòi giống nước non làm công việc thiêng
liêng của mình phải gánh, phải làm, mà chỉ giữ vững cái bản lĩnh của mình là
nhà giáo dục, chớ không hề bon chen vào con đường cầu danh vụ lợi một chút nào
hết. Lúc mới khai quốc, lắm người khoe tài dựa thế, cho được có quan sang chức
trọng, lấy thế làm vinh, thế mà Phúc Trạch dửng dưng, ngoài ra chỉ có
hai lần đi theo sứ thần của Mạc phủ sang Âu Mỹ làm viên thông ngôn, chẳng khi
nào dính líu tới việc chính trị. Đến đời Minh Trị duy tân trở đi, tuy là được
trên triều đình dưới quốc dân đều tôn kính nhờ cậy mặc lòng, Phúc Trạch chẳng
có giây phút nào dính tới chính quyền hay là cầu lấy danh lợi bao giờ. Phúc
Trạch thật là một nhà giáo dục chân chính, thật là một nhà giáo dục cứu quốc!
Phúc Trạch làm sách
nhiều lắm, góp lại có 50 bộ, cộng 105 cuốn, đều viết bằng lối văn rất bình thường
giản dị, không ai coi không hiểu. Năm Minh Trị thứ 4, in ra một bộ sách nhỏ, tựa
là Học văn chi khuyến (学聞之勸)[1] gồm
17 cuốn, quốc dân hoan nghênh hết chỗ nói, chỉ trong vài tháng mà bán hết 3 triệu
40 muôn bộ. Mở đầu, Phúc Trạch dạy: “Trời ở trên người, không giúp
người, lại ở dưới người, không giúp người 天在人之上。不作人。吏天在人之下。不作人”.
Câu đó tỏ ý khuyên răn quốc dân nên biết nhân quyền trời phú cho mình là đáng
tôn, đáng giữ. Muốn tôn giữ được nhân quyền ấy thì mình phải học cho bằng người
ta.
Lần hồi, Phúc Trạch đem
sự tích các anh hùng dũng sĩ ra viết sách đặt tuồng để cổ vũ nhân tâm, và bày đầu
tổ chức ra các cuộc diễn thuyết trước hết. Đến năm Minh Trị thứ 15
(1881), Phúc Trạch sáng lập ra tờ báo Thời sự tân báo 時事新報 [Jiji shimpou], mỗi ngày xuất bản, tờ báo
này tới nay vẫn còn.
Thế là Phúc Trạch tuy
không phải người ở ngôi cao, nắm quyền lớn, nhưng vậy mà dạy học, làm sách, viết
báo, là ba cơ quan trọng yếu trong xã hội, ông đều nắm đủ trong tay, cho nên có
thế lực đối với triều đình và quốc dân, có oai vọng hơn là nhà đại chính trị
nhiều. Năm Minh Trị thứ 23, ông nâng cao cái địa vị Khánh Ứng nghĩa thục lên
hàng đại học đường, dạy kiêm bốn khoa văn học, lý tài, chính trị, pháp luật. Từ
lúc mở trường này ra kể cho đến khoảng năm 1895 mà thôi, trước sau giáo dục được
tới 2 muôn học sinh. Số học sinh tốt nghiệp rồi, hoặc ra làm quan to, hoặc được
cử làm nghị viên trong hai viện Quý tộc và Chúng nghị, cùng là hạng làm tổng lý
các công ty lớn, tính lại đông không biết bao nhiêu. Vả lại, Phúc Trạch vốn
trọng tinh thần độc lập tự trị, cho nên học trò của ông bị cảm hóa nhiều, sau
khi thành tài rồi phần nhiều để chân vào trong cõi thương mãi kỹ nghệ. Nhờ vậy
mà lợi quyền thực nghiệp của Nhật Bản lúc đó tấn tới đáo để.
Mùng 3 tháng 2 năm Minh
Trị thứ 34 (nhằm 1897), Phúc Trạch tạ thế. Chúng nghị viện (tức hạ
nghị viện) hết thảy bỏ thăm chuẩn y lời ai điếu chung, để tỏ ra cả nước cảm mến
thương tiếc ông là người có đại công giáo dục dìu dắt nước Nhật lên cõi duy
tân. Nhà nước làm quốc tang, bữa tống táng có trên 2 muôn người đi đưa, ai nấy
đều sụt sùi nhớ tiếc.
Trên kia đã nói sinh bình
của Phúc Trạch chỉ ham lo có hai việc, là dạy học và làm sách. Trong
hai việc đó có nhiều dật sự thú vị, nên nhắc lại một vài chuyện mà nghe.
Thường khi cùng ai bàn bạc
về vấn đề giáo dục thì Phúc Trạch nói tối ngày không chán. Phúc
Trạch chê cái lối giáo dục xưa nay ở Đông phương là lối “dạy trên xuống
dưới” chỉ lo đào tạo ra một số ít thi đậu làm quan, còn dân chúng dốt nát
thây kệ. Nay Phúc Trạch đổi lại: “Dạy dưới lên trên”, nghĩa là
lo dạy cho nhất ban dân chúng đều có tri thức, thì nước mới văn minh tấn hóa được,
chớ một nước chỉ có nhắm mớ người giỏi mà phần đông vẫn ngu dốt, thì cuộc văn
minh tấn hóa đặt lên trên cái cơ sở nào? Phúc Trạch có tư tưởng như
thế, hèn chi cả đời cặm cụi về dân gian giáo dục.
Ngoài sự dạy học, Phúc
Trạch cũng chuyên viết báo soạn sách. Mà lạ! Mỗi khi viết cuốc sách hay
bài văn nào, Phúc Trạch cũng đọc cho bà vợ nghe và hỏi ý kiến ra sao;
vì lối văn của Phúc Trạch bao giờ cũng viết rõ ràng giản dị, cho đàn
bà con trẻ đều hiểu, hễ câu nào chữ nào, bà vợ nói chưa xuôi chưa đúng,
thì Phúc Trạch cầm viết ghi ở dưới để sau sửa lại. Có người hỏi ông
sao viết văn làm sách dạy đời, mà lại đi hỏi ý kiến đàn bà như thế, ông cười và
đáp:
“Người ta có ai cùng mình
ăn ở thân cận lâu dài và hiểu biết mình cho hơn vợ mình được chớ! Nếu một bài
văn, một cuốn sách mình viết ra mà còn có chỗ chính ngay vợ mình phải chê, hay
là không hiểu, thì bảo làm sao đời hiểu được mình và mình hòng dạy ai cho được?”
Tư tưởng của Phúc Trạch đại
khái ngộ nghĩnh kỳ khôi như thế.
Trường Khánh Ứng của ông
lập ra, sau khi ông khuất núi rồi, trường cũng vẫn còn khai giảng như thường, lại
càng ngày càng mở rộng và thêm vô nhiều khoa học khác, ngày nay vẫn còn. Chính
là Khánh Ứng đại học ở Đông Kinh bây giờ, một trường đại học có tiếng ở phương
Đông ta. Mấy năm gần đây ra sao không rõ, chớ vài chục năm trước, trong đám chí
sĩ Việt Nam qua cầu học bên Nhật, hình như có nhiều người học thành tài ở Khánh
Ứng đại học ra.
Năm 1907, ở Hà Nội ta có
một trường tư học do các cụ chí sĩ tiền bối lập ra, cũng lấy việc mở mang tân học,
thức tỉnh quốc dân làm mục đích. Các cụ đặt tên trường là Đông Kinh nghĩa thục,
chắc hẳn noi theo Khánh Ứng nghĩa thục 慶応義塾
của Phúc Trạch Dụ Cát để lo việc dân gian giáo dục. Thế mà cái vận mạng
của Đông Kinh nghĩa thục vắn vỏi quá; chỉ được một năm mấy tháng thì bị cấm mất!
MỖI NGƯỜI MỞ MANG DÂN
GIAN GIÁO DỤC CÓ MỘT Ý NGHĨA
Đã nói việc dân gian giáo
dục ở trong lịch sử Nhật Bản duy tân có địa vị to và có công phu lớn lắm. Cái ý
nghĩa thứ nhất của nó, là dân tự giáo hóa cổ lệ nhau để tự cường.
Trong thời kỳ duy tân,
sau Phúc Trạch Dụ Cát là người có công dân gian giáo dục thứ nhất,
còn có nhiều người khác cũng có công với cuộc tấn hóa không phải là nhỏ.
Các trường tư học mở ra tứ
tung; mà ngộ thiệt! Mỗi người mở ra một trường tư đều chuyên về một khoa giáo dục,
có một ý nghĩa riêng, đến cái mục đích tối cao thì ai cũng như ai: Bồi bổ vào
chỗ bất túc của chính phủ để rèn đúc nhân tài; giáo hóa quốc dân cho mau tự cường
tấn hóa.
Bây giờ nếu muốn kể ra tường
tận, thì không biết bao nhiêu giấy mục cho đủ, nên đây buộc tôi lại chỉ lược
thuật đại khái mà thôi.
Tân Đảo Tương 新島襄 [Niijima Jou] vốn là người có tính cách
võ sĩ Nhật Bản, mà theo đạo Gia tô tân giáo (Protestant), mở ra một trường học
vừa cao đẳng, vừa phổ thông gọi là Đồng Chí xã 同志社 [Doushisha], cốt dung hiệp cả hai mối đạo
nghĩa Đông Tây.
Tân Đảo Tương 新島襄 [Niijima Jou] (1843 - 1890)
- Người sáng lập Đồng Chí xã.
Đại Ôi Trọng Tín 大隈重信 [Ookuma Shigenobu] mở ra Đông Kinh
chuyên môn học hiệu 東京専門学校
[Toukyou Senmon Gakkou], để rèn đúc thanh niên về mặt chính trị ngay từ lúc đầu
Minh Trị, hầu dự bị cho quốc dân có đủ tư cách hưởng lấy chính thể lập hiến của
nhà vua sẽ ban cho vài chục năm sau. Trường này sau đổi tên là Tảo Đạo Điền đại
học 早稲田大学 [Waseda Daigaku], hiện
nay vẫn còn, vào hàng các đại học lớn ở Đông Kinh.
Trung Thôn Kính Vũ 中村敬宇 [Nakamura Keiu hay Nakamura
Masanao] mở ra Đồng Nhân xã 同人社
[Doujinsha], vừa mở mang giáo dục cho phụ nữ nhi đồng, vừa giảng giải cho quốc
dân biết Tây phương cũng có đạo đức cao quý, kẻo lúc đó nhiều người hăm hở
về văn minh vật chất, đến đỗi tưởng rằng sự tấn hóa có thể khinh thường đạo đức
cũng được.
TRUNG THÔN KÍNH VŨ 中村敬宇 [Nakamura Kein] (1832-1891)
- Người sáng lập Đồng Nhân xã.
Tân Điền Tiên 津田仙 [Tsuda Sen] mở ra Nông Học xã 農学社 [Nougakusha], và xuất bản Nông học tạp
chí để dìu dắt nông dân cải lương về nghề cày cấy trồng tỉa.
Đó là kể sơ ra một vài cơ
quan giáo dục để làm lệ chừng vậy thôi, ngoài ra còn nhiều nhà dân gian giáo dục
khác và nhiều trường tư học khác, cũng có quan hệ cho thời cuộc, công lao với
quốc gia, nói sao cho hết. Rất đỗi có người như Cát Điền Tùng Âm 吉田松陰 [Yoshida Shouin] mở trường dạy học trong
xóm mà un đúc nên nhiều nhân tài trong lúc duy tân; học trò Cát Điền sau
làm đại tướng hay được phong chức công hầu vô số. Lại cũng có người
như Tây Hương Long Thịnh 西郷隆盛
[Saigou Takamori] đang làm tới chức tướng soái mà bỏ quan về làng mở trường dạy
học. Ta có thể tóm lại một câu rằng: Nhật Bản duy tân, chính là nhờ giáo dục,
mà giáo dục mau được kết quả tốt đẹp, là nhờ nơi chính phủ và nhân dân cùng ra
tay gắng sức: Công học lo mặt phổ thông, ban bố thường thức cho dân, tư học lo
mặt chuyên môn, rèn đúc nhân tài xuất sắc.
Nhưng ta nên biết các nhà
dân gian giáo dục ở nước Nhật, có một cái tôn chỉ cao, ấy là “Học vấn độc lập”.
Ông Đại Ôi Trọng
Tín 大隈重信
[Okuma Shigenobu] muốn bày tỏ cái chủ nghĩa tư học như vầy: “Muốn cho quốc
dân có tinh thần độc lập tư trị, thì trước hết phải lo sao cho học vấn được độc
lập. Muốn học vấn được độc lập vững vàng thì ta nên mở ra một trường tư học thật
lớn, thoát hẳn sự trói buộc của quyền thế, để cho học sinh được tự do, muốn
nghiên cứu về học thuật gì cũng đặng cả. 欲使國民有獨立自治之精神。必須圖學問之獨立。欲固學問之獨立。必宜興一大私學校。脱權勢之覊絆。俾學生自由妍求其所欲須之學術”.
Ông lại chủ trương rằng học
vấn nên dùng quốc ngữ trước hết, rồi học kiêm tới văn tự ngôn ngữ của ngoại quốc.
Bởi vậy ông lại nói: “Phàm sự học vấn giáo dục của một nước, chẳng nên mỗi chuyện
đều dựa nương nhờ cậy vào chế độ của nước người ta hết thảy. Nếu cái học vấn
giáo dục không lấy quốc dân phẩm tính làm gốc, thì không thể bảo là độc lập được,
大凡一國之學問教欲不可專倚賴他國之苟無根基於其國民品性之學問教欲。不獨立”.
Mấy câu nói thống thiết và lý thú thay! Chính là cái tinh thần chung của các nhà dân gian giáo dục nước Nhật từ trước khi khai quốc cho đến giữa lúc duy tân, do cửa miệng của họ Đại Ôi phát ra vậy.
[1] Tên nguyên gốc của
tác phẩm là 学問のすゝめ
Gakumon no susume (Khuyến học). Ở đây có lẽ tác giả Đào Trinh Nhất đã chịu ảnh
hưởng của Hán học nên dịch tên tác phẩm thành Học văn chi khuyến. (BT)
4/9/2026
Đào Trinh Nhất
Theo https://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét