Người vẽ tranh bốn mùa: Phạm Thiên Thư
Nếu mùa thu trong thơ ca
truyền thống thường gắn với nỗi buồn ly biệt, với gió heo may và tiếng mưa
ngâu, thì mùa thu trong thơ Phạm Thiên Thư lại mang một vẻ đẹp rất khác: nhẹ,
xanh và trong trẻo:
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào
thiên thu
Nhà thơ Phạm Thiên Thư,
tác giả của “Ngày xưa Hoàng Thị” (tên thật: Phạm Kim Long) đã qua đời vào lúc
16h15’ ngày 7.5.2026 tại nhà riêng ở TP. Hồ Chí Minh, thọ 86 tuổi. Ông là một
cây bút tài hoa để lại dấu ấn sâu đậm trong nền văn học và âm nhạc Việt Nam với
nhiều thi phẩm nổi tiếng.
“Động hoa vàng” là một trong những thi phẩm sống mãi với thời gian của nhà thơ Phạm Thiên Thư, và có lẽ đã trở thành một miền ký ức khó phai đối với người yêu thơ miền Nam trước năm 1975. Người yêu nhạc lại càng mê đắm ca khúc “Đưa em tìm động hoa vàng” của nhạc sỹ Phạm Duy – một bản phổ nhạc được chắt lọc từ những câu thơ đẹp nhất trong thi phẩm này. Nhưng vượt lên trên sức lan tỏa của âm nhạc, “Động hoa vàng” trước hết vẫn là một hiện tượng thơ độc đáo của văn học Việt Nam hiện đại, nơi Phạm Thiên Thư tạo dựng cho mình một cõi thơ riêng: vừa bảng lảng thiền vị phương Đông, vừa phóng khoáng trong cảm thức hiện đại.
Tập thơ gồm bốn trăm câu
lục bát chia thành một trăm đoạn ngắn, nhưng gần như đoạn nào cũng thấp thoáng
một ánh sáng thi ca riêng biệt. Đặc biệt, hình tượng bốn mùa xuất hiện với tần
suất dày đặc: mùa xuân 15 lần, mùa hạ 3 lần, mùa đông 11 lần và mùa thu nhiều
nhất với 19 lần. Điều đáng nói là ở Phạm Thiên Thư, bốn mùa không chỉ là tín hiệu
thời gian mà đã trở thành một hệ mỹ cảm, một cấu trúc biểu tượng mang tính thi
pháp. Thi thoảng trong tập thơ, nhà thơ nhắc đến mùa rất tự nhiên, gần như chỉ
để ghi nhận một vòng quay đời sống. Nhưng chính sự giản dị ấy lại tạo nên cái
duyên riêng cho thơ:
Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà
uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng
uống xuân
Cái thú “uống đông”, “uống
xuân” ở đây không chỉ là thú tao nhã của người xưa mà còn gợi một quan niệm sống
mang màu sắc Đông phương: con người hòa nhập với tiết điệu của đất trời. Mùa
không đứng ngoài đời sống mà đi vào chén trà, bầu rượu, thấm vào nhịp sinh hoạt
thường ngày. Ẩn sau những câu thơ tưởng như mộc mạc ấy là tinh thần “thiên nhân
tương dữ”, nơi con người giao cảm với tự nhiên như một phần máu thịt.
Sự hồi tưởng về những
tháng ngày yêu thương vốn thường được nhiều thi sĩ gắn với tà áo thiếu nữ.
Nguyên Sa nhớ người yêu “bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”, rồi từ màu áo mà yêu
luôn cả sắc hoa, màu lá:
Áo nàng vàng tôi về yêu
hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá
sân trường…
Còn Phạm Thiên Thư lại đặt
sắc áo người yêu trong dòng chảy bốn mùa:
Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng
đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời
áo hoa
Ở đây, thời gian không
còn là khái niệm trừu tượng mà trở thành màu sắc. Mỗi mùa là một gam màu trên
thân thể người thiếu nữ. Thi pháp ấy khiến hình tượng nhân vật trữ tình mang vẻ
đẹp vừa thực vừa mộng. Nhà thơ không miêu tả trực tiếp nhan sắc mà để mùa thay
mình nói hộ. Chính sự “thi vị hóa thời gian” ấy đã làm nên nét tài hoa của Phạm
Thiên Thư.
Nếu mùa thu trong thơ ca
truyền thống thường gắn với nỗi buồn ly biệt, với gió heo may và tiếng mưa
ngâu, thì mùa thu trong thơ Phạm Thiên Thư lại mang một vẻ đẹp rất khác: nhẹ,
xanh và trong trẻo:
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành
đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót
xuân
“Thu xanh” là một sáng tạo
ngôn ngữ đặc biệt. Về logic thị giác, thu thường gắn với sắc vàng; nhưng ở đây
nhà thơ cố tình phá vỡ quán tính liên tưởng quen thuộc để tạo nên một trường
nghĩa mới. Mùa thu không tàn phai mà mang màu của tuổi trẻ, của thanh xuân chưa
úa. Chính sự chuyển đổi cảm giác ấy đã cho thấy khuynh hướng tượng trưng và
siêu thực thấp thoáng trong thơ ông.
Đến đoạn:
Chim nào hát giữa thôn
hoa
Tay nào hong giữa chiều
tà tóc bay
Lụa nào phơi nắng sông
tây
Áo xuân hạ nọ xanh hoài
thu đông
cái đẹp dường như đã đạt đến độ phi thời gian.
Một đặc điểm nổi bật khác
là nhà thơ thường đặt bốn mùa bên dòng sông. Trong thi ca Việt Nam, sông vốn là
biểu tượng của thời gian, của nỗi nhớ và sự lưu chuyển. Nhưng ở Phạm Thiên Thư,
dòng sông còn là nơi hội tụ cảm xúc thẩm mỹ:
Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong
dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ
còn ngâm
và:
Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước
chưa buồn về
Thiên nhiên trong thơ ông
luôn mang trạng thái giao cảm hiền hòa, như thể vạn vật đều có linh hồn.
Khi mùa thu hiện ra, dòng
sông lại trở nên bảng lảng cổ điển:
Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng
chuông trăng rì rào
Chỉ bằng vài nét chấm
phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có
trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm
Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông
trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng,
ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Bên cạnh hệ thống hình ảnh
giàu chất họa, nghệ thuật tu từ trong thơ ông cũng đặc biệt tinh tế. Phép đối
ngữ xuất hiện tự nhiên mà vẫn tạo được độ ngân:
Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa
dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng
cúc hoa
“Cuối xuân” đối với “sớm
thu”, “thềm hoa dại tàn” đối với “cỏ mộ vàng cúc hoa”, tất cả tạo nên một nỗi
ngậm ngùi nhẹ mà sâu. Đó không phải nỗi đau dữ dội của mất mát, mà là cảm thức
vô thường rất gần với tinh thần Phật giáo trong thơ Phạm Thiên Thư.
Dường như ông còn chủ ý
làm mới cấu trúc lục bát bằng những đảo ngữ bất ngờ:
Đón em như ngóng chim trời
Bãi xuân sớm đậu chiều dời
khói thu
“Bãi xuân”, “khói thu” được
đặt trong một trật tự cú pháp khác thường, khiến câu thơ vừa có độ chênh của hội
họa siêu thực vừa giữ được nhạc điệu mềm mại của lục bát truyền thống. Có thể
nói, Phạm Thiên Thư là một trong những người đã góp phần hiện đại hóa lục bát
mà không làm mất đi hồn cốt dân tộc của thể thơ này. Nghệ thuật nhân hóa bốn
mùa cũng là một nét đặc sắc:
Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời
xuống hoa
Nếu Nguyễn Du trong “Truyện
Kiều” từng khắc họa bốn mùa bằng bút pháp ước lệ cổ điển, thì Phạm Thiên Thư lại
vẽ bốn mùa bằng một thi pháp hiện đại hơn, giàu trực giác và cảm giác. Ông
không đi theo lối mô tả quen thuộc của thơ truyền thống. Hạ trong thơ ông không
rực lửa; thu không lá vàng hiu hắt; đông không rét buốt quạnh hiu; xuân cũng
không tràn ngập tiếng reo vui. Các mùa hiện ra như những miền cảm xúc nội tâm
hơn là những thực thể tự nhiên. Đó chính là nét riêng không thể trộn lẫn của Phạm
Thiên Thư. Ông không chỉ “tả cảnh” mà còn “tạo cảnh”. Bốn mùa trong “Động hoa
vàng” là bốn miền tâm tưởng, nơi hiện thực được gạn lọc qua cảm giác và trực
giác nghệ sĩ. Có lẽ vì thế mà thơ ông luôn đẹp như một giấc mộng, mong manh mà
ám ảnh.
Những ngày đầu mùa hạ 2026, tác giả của “Ngày xưa Hoàng Thị”, “Động hoa vàng” đã rũ bỏ nhân gian đi về miền mây trắng. Tưởng nhớ ông, xin có đôi lời về một động thi ca lục bát mang tên Phạm Thiên Thư.
Phạm Thiên Thư tên
thật là Phạm Kim Long, ông sinh ngày 1 tháng Giêng năm 1940 tại Lạc Viên, Hải
Phòng. Năm 1942, gia đình ông về sống ở Chí Linh, Hải Dương. Bố mất khi ông mới
lên mười. Năm 1954, ông theo mẹ di cư vào Nam sống ở Sài Gòn, tiếp tục học và đậu
Tú tài toàn phần năm 1963.
Trong khoảng từ năm 1964
đến năm 1973, ông xuất gia làm tu sĩ Phật giáo với Pháp danh Tuệ Không, thời
gian này ông viết rất nhiều thơ. Ông đoạt giải Nhất Văn chương toàn quốc (Sài
Gòn) năm 1973 với thi phẩm Hậu Truyện Kiều – Đoạn trường vô thanh nhưng
không nhận giải.
Sau năm 1973, ông hoàn tục,
lập gia đình, tiếp tục sáng tác thơ và mưu sinh thêm với nhiều công việc khác
nhau. Hiện nay, ông sống trong khu cư xá Bắc Hải, mở quán café Hoa vàng làm nơi
gặp gỡ bạn bè.
Tác phẩm: Thơ Phạm
Thiên Thư (1968), Ngày xưa người tình (thơ
1971), Động hoa vàng (trường thi 1971), Đạo ca, Đoạn
trường vô thanh (trường thi 1972), Kinh thơ (thi hóa
Kinh Pháp Cú), Kinh Ngọc (thi hóa Kinh Kim Cương), Quyên
từ độ bỏ thôn Đoài (thơ); Kinh Hiếu, Kinh Huyền Ngu, Hát ru Việt
sử thi (2009), Từ điển cười (với hơn 70.000 câu
thơ), Huyền ngôn xanh, Vua núi - Vua nước (truyện thơ Sơn Tinh
– Thủy Tinh), Lòng đau không tiếng.
Ông mất ngày 8-5 (22-3 âm
lịch) 2026.
Sài Gòn, 3/9/2026
Phạm Đình Thành
Nguồn:
Theo https://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét